
Những chiến thắng nổi tiếng trong lịch sử dân tộc ta
3
Tháng 12/1287, khi đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào vùng biển An Bang
(Quảng Ninh), Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đem thuỷ quân chặn đánh,
nhưng không cản được giặc. ô Mã Nhi cho binh thuyền tiến thẳng vào cửa sông
Bạch Đằng, không chú ý đến đoàn thuyền lương nặng nề chậm chạp ở sau. Mãi
đến tháng 1/1288, đoàn thuyền lương của giặc mới tiến đến vùng đảo Vân Đồn.
Trần Khánh Dư lại đem quân tập kích. Trương Vǎn Hổ chống đỡ không nổi, đổ cả
lương thực xuống biển, trèo lên một chiếc thuyền nhỏ, trốn về Quỳnh Châu (Hải
Nam). Bấy giờ, Thoát Hoan cũng đã tiến vào Lạng Sơn, hội quân với cánh quân
thủy của ô Mã Nhi ở Vạn Kiếp. Thoát Hoan dừng lại ở đây gần một tháng, xây
dựng Vạn Kiếp thành một cǎn cứ vững chắc, mãi đến cuối tháng 1/1288 mới chia
quân tiến về Thǎng Long.
Lần thứ ba, quân dân nhà Trần lại bỏ ngỏ Thǎng Long. Quân Nguyên vào Thǎng
Long ngày 2/2/1288. Ngay sau đó, Thoát Hoan vội sai ô Mã Nhi đem chiến thuyền
ra biển đón thuyền lương của Trương Vǎn Hổ. Nhưng thuyền còn đâu nữa. Không
có lương thực, đạo quân Thoát Hoan đóng ở Thǎng Long lâm vào tình thế khốn
quẫn.Thoát Hoan phải ra lệnh rút quân về Vạn Kiếp. Trên đường rút về Vạn Kiếp,
giặc bị quân ta chặn đánh ở cửa Ba Sông, vùng Phả Lại. Kéo về đóng ở Vạn Kiếp,
đạo quân xâm lược vẫn bị quân ta tập kích ngày đêm. Trước nguy cơ bị tiêu diệt,
bọn tướng Nguyên đã nói với Thoát Hoan: ''ở Giao Chỉ, không có thành trì để giữ,

không có lương thực đủ ǎn, mà thuyền lương của bọn Trương Vǎn Hổ lại không
đến. Vả lại khí trời đã nóng nực, lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống đỡ
lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên bảo toàn quân mà về thì hơn" Trước tình
hình đó, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường: cánh quân bộ
rút qua vùng Lạng Sơn, còn cánh quân thuỷ sẽ rút ra biển theo sông Bạch Đằng.
Kế hoạch rút lui của giặc không nằm ngoài dự liệu của Trần Hưng Đạo. ông đã bố
trí chặn giặc ở vùng biên giới và chuẩn bị cho một trận quyết chiến lớn trên sông
Bạch Đằng. Từ tháng 3, quân sĩ và nhân dân đã đẵn gỗ lim, gỗ táu ở rừng về đẽo
nhọn, đóng xuống lòng sông, làm thành những bãi cọc lớn. Thuỷ quân và bộ binh
ta đã phục sẵn trong các nhánh sông và các khu rừng rậm ven sông Bạch Đằng,
chờ ngày tiêu diệt địch.
Sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch Đằng.
Khi đoàn thuyền giặc lọt vào trận địa mai phục của ta thì từ các nhánh sông, các
thuyền nhẹ của ta lao ra, đánh tạt vào sườn giặc, dồn chúng vào các bãi cọc. Giặc
định áp thuyền sát bờ, đổ quân chiếm lấy núi cao để yểm hộ cho đoàn thuyền rút,
nhưng bị bộ binh ta đánh hắt xuống. Một trận kịch chiến ác liệt đã xảy ra. Nước
triều xuống gấp, thuyền giặc to nặng, lao nhanh theo dòng nước, vướng cọc, tan
vỡ rất nhiều. Cho đến giờ dậu (5-7 giờ tối), toàn bộ đạo quân thuỷ của giặc bị tiêu
diệt. ô Mã Nhi bị bắt sống. Lần thứ ba trong lịch sử giữ nước của dân tộc, dòng
Bạch Đằng lại ghi thêm một chiến công oanh liệt. Trong khi đó, đạo quân của
Thoát Hoan cũng khốn đốn rút chạy ra biên giới. Sau khi bị phục kích ở cửa ải Nội
Bàng, chúng bỏ con đường ra ải Khâu Cấp, vòng theo đường Đan Ba (Đình Lập),

chạy tạt ra biên giới. Nhưng ở đây, chúng cũng bị quân ta chặn đánh, tướng giặc là
A Bát Xích (Abaci) bị trúng tên. Mãi đến ngày 19/4/1288, đám tàn quân của Thoát
Hoan mới về đến Tư Minh.
Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt đã chôn vùi vĩnh viễn mộng xâm lược của Hốt
Tất Liệt.
Vài nét về kết quả và nghệ thuật quân sự trận Bạch Đằng (9/4/1288)
Trong trận này, 8 vạn thuỷ quân và 400 thuyền chiến của địch đã bị ta tiêu diệt.
Nghệ thuật quân sự của quân dân thời Trần là phối hợp chặt chẽ giữa quân đội nhà
vua (chủ lực) và dân binh địa phương. Trong tác chiến đã sử dụng hình thức phục
kích để tiêu diệt địch. Về chiến lược, chiến thuật: chọn đạo quân thuỷ của địch làm
đối tượng tiến công, tiêu diệt trước và chủ yếu; đó là một quyết tâm rất chính xác
vì so với đạo bộ binh chủ lực, thì số lượng đạo quân thủy ít hơn, không giỏi chiến
đấu bằng và phải tốn nhiều công sức xây dựng.
Quãng sông Bạch Đằng, nơi được chọn làm địa điểm tác chiến là một khu vực
hiểm yếu có đủ những điều kiện cần thiết, đáp ứng được yêu cầu bố trí một trận
mai phục trên sông với quy mô lớn.
Tuy vậy, muốn khai thác triệt để những điều kiện thuận lợi trên, còn cần phải có
một nghệ thuật tác chiến rất cao, như tìm cách cô lập hoàn toàn đạo quân thuỷ của
ô Mã Nhi với đạo bộ binh chủ lực của Thoát Hoan, tách rời đạo kỵ binh đi yểm hộ
và dần dần điều động đạo quân thuỷ này từng bước lọt vào đúng trận địa mai phục,
theo đúng thời gian đã được xác định. Bởi vậy, đạo thuỷ quân địch dù đông tới 8
vạn tên, được đề phòng rất cẩn mật, nhưng vẫn gặp nhiều bất ngờ, lúng túng buộc

phải bị động đối phó từ đầu đến cuối, và kết qủa là bị tiêu diệt hoàn toàn. Chiến
thắng Bạch Đằng còn là kết quả của sự phối hợp tác chiến có hiệu quả cao giữa
thuỷ quân và bộ binh, giữa quân chủ lực với các đội dân binh, giữa các lực lượng
tham chiến về thời gian và không gian.
Thế là trong vòng ba mươi nǎm, quân dân ta đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên
Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất và hung hãn nhất của thời đó, bảo vệ quyền
độc lập tự chủ của đất nước, góp phần bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam
á.
Sức mạnh để làm nên chiến thắng là khối đoàn kết toàn dân như Trần Hưng Đạo
đã nói, đó là ''vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức". Chính
nhờ khối đoàn kết đó mà một cuộc chiến tranh nhân dân, ''cả nước đánh giặc ",
"trǎm họ là binh", mới có thể thực hiện. Và sau cùng, nguyên nhân sâu xa hơn của
chiến thắng là sự ổn định kinh tế - xã hội thời Trần, được tạo ra từ đường lối "lấy
dân làm gốc".
Nói đến những chiến công chống xâm lược thời Trần, chúng ta không thể không
nhớ tới câu nói tuyệt vời của Trần Hưng đạo: ''Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ
bền gốc, đó là thượng sách giữ nước''.
Trận Tốt Động - Chúc Động (5-7/11/1426)
Trong Bình Ngô đại cáo, bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta,
Nguyễn Trãi đã miêu tả trận đánh ở Tốt Động - Chúc Động bằng những lời đầy
hào khí của nghĩa quân Lam Sơn:
... Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh muôn dặm.

Tốt Động thây phơi đầy nội, thối đã nghìn thu...
Tốt Động - Ninh Kiều (tức Chúc Động) là nơi đã diễn ra trận đánh nồi tiếng của
nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc kháng chiến chống Minh hồi đầu thế kỷ thứ 15.
Lúc này cuộc kháng chiến đã bước sang năm thứ 8, ta càng đánh càng mạnh, càng
giành được thế chủ động, địch liên tiếp bị thất bại, đang chuyển dần sang thế
phòng ngự bị động. Chúng phải tập trung quân, co cụm về bảo vệ Đông Quan, sào
huyệt cuối cùng của quân xâm lược. Trước tình hình như vậy, nhà Mỉnh đã phải
điều động một lực lượng lớn gồm hơn 50 nghìn quân do Vương Thông chỉ huy
sang tăng viện cho Đông Quan. Với lực lượng hơn 100 nghìn tên cả mới lẫn cũ,
Vương Thông muốn dựa vào ưu thế về binh lực quyết định mở cuộc hành quân
lớn nhằm quét sạch lực lượng nghĩa quân ở vùng ngoại vi Đông Quan, giành lại
thế chủ động chiến lược, và xoay chuyển lại tình thế đang không có lợi cho chúng.
Hướng hành quân của chúng là phía Nam và Tây Nam, nơi có một bộ phận lực
lượng nghĩa quân do các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Đinh Lễ... chỉ huy đang
hoạt động.

