intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Những khác biệt và tương đồng trong văn hóa và việc dạy học ngoại ngữ

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
3
lượt xem
0
download

Những khác biệt và tương đồng trong văn hóa và việc dạy học ngoại ngữ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kiến thức văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc dạy học ngoại ngữ. Trong quá trình dạy học ngoại ngữ, kiến thức văn hóa vừa là mục đích vừa là phương tiện. Thực tế chứng minh có những tương đồng và khác biệt ở cách sử dụng ngôn ngữ là do có sự khác biệt và tương đồng về văn hóa. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị trong việc dạy học ngoại ngữ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những khác biệt và tương đồng trong văn hóa và việc dạy học ngoại ngữ

  1. VĂN HÓA - VĂN HỌC v NHỮNG KHÁC BIỆT VÀ TƯƠNG ĐỒNG TRONG VĂN HÓA VÀ VIỆC DẠY HỌC NGOẠI NGỮ TS. VŨ THÀNH CÔNG1 1 Học viện Báo chí và Tuyên truyền ✉ congvt59@yahoo.com Ngày nhận: 16/12/2016; Ngày hoàn thiện: 20/01/2017; Ngày duyệt đăng: 26/01/2017 Phản biện khoa học: PGS.TS. VÕ ĐẠI QUANG TÓM TẮT Kiến thức văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc dạy học ngoại ngữ. Trong quá trình dạy học ngoại ngữ, kiến thức văn hóa vừa là mục đích vừa là phương tiện. Thực tế chứng minh có những tương đồng và khác biệt ở cách sử dụng ngôn ngữ là do có sự khác biệt và tương đồng về văn hóa. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị trong việc dạy học ngoại ngữ. Từ khóa: dạy học, khác biệt, ngoại ngữ, tương đồng, văn hóa. 1. KIẾN THỨC VĂN HOÁ, VĂN MINH VỪA LÀ MỤC suốt, là hiểu được người đối thoại với mình. Với cách ĐÍCH VỪA LÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC NGOẠI NGỮ hiểu đó, các kiến thức văn hoá, văn minh của một dân tộc cũng chính là mục đích của việc học ngoại ngữ. Văn hoá, văn minh là cái hồn của một dân tộc. Cái hồn đó được thể hiện, được chuyển tải qua ngôn ngữ. Mặt khác, trong quá trình dạy học ngoại ngữ, chúng Ngôn ngữ không chỉ là cái vỏ tư duy của một dân tộc, ta sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để dạy học ngôn ngữ còn là thứ chuyển tải cái hồn, cái tinh tuý ngoại ngữ. Để người học hình thành, hoàn thiện của một dân tộc. Ngôn ngữ cũng như một cơ thể sống những kỹ năng ngoại ngữ nào đó, người dạy cần huy vậy. Có sinh ra, có lớn lên và có mất đi. Nghĩa là nó có động mọi phương tiện để kích thích ham muốn học những quy luật phát triển riêng. Các quy luật ngữ âm, tập, ham muốn chinh phục, khám phá một lĩnh vực từ vựng, ngữ pháp của một ngôn ngữ phản ánh nền mới, một môn học mới, một cách thức giao tiếp mới văn hóa của một dân tộc. Các nghĩa của từ, các nghi nhằm nắm vững một ngoại ngữ. Ở cách nhìn này, văn thức lời nói, các cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ hoá, văn minh chính là phương tiện hữu hiệu trong chính là sự thể hiện của một nền văn hóa. Như vậy, việc dạy học ngoại ngữ. văn hoá không chỉ được chuyển tải bằng ngôn ngữ, mà ngôn ngữ cũng chính là văn hoá, là một phần của 2. KHÁC BIỆT, TƯƠNG ĐỒNG TRONG VĂN HOÁ VÀ một nền văn hoá. VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ Chúng ta đều rõ, dạy học ngoại ngữ là làm sao để Các nền văn hoá khác nhau sẽ có những đặc điểm người học có thể sử dụng ngoại ngữ như một công khác nhau, vì mỗi dân tộc có những giá trị riêng của cụ giao tiếp. Nghĩa là người học phải trao đổi được tư mình, có phương thức tư duy riêng, có phong tục tập tưởng, tình cảm của mình với người đối thoại bằng quán riêng. Những đặc điểm đó ảnh hưởng tới kết ngoại ngữ. Như vậy, người học không những phải cấu ngôn ngữ của dân tộc, ảnh hưởng tới cách thức được trang bị kiến thức về một ngôn ngữ nào đó mà sử dụng ngôn ngữ. Vì vậy, những khác biệt giữa các còn được rèn luyện những kỹ năng ngôn ngữ cụ thể ngôn ngữ dưới góc độ văn hoá là tất yếu. Chính vì có để đạt được mục đích cuối cùng là giao tiếp thông những khác biệt đó mà người học tiếng nước ngoài KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 05 - 01/2017 63
  2. v VĂN HÓA - VĂN HỌC gặp khó khăn. Nhiệm vụ của người dạy là chỉ rõ cho Ở Việt Nam ta, khi gặp ai đó, những câu hỏi kiểu như: người học cái khác biệt đó để họ hiểu và ứng xử phù “Bác đi đâu đấy”, “Bác làm gì thế”… là những câu hợp với nền văn hóa của dân tộc nói thứ tiếng mình được tiếp nhận bình thường như một lời chào hỏi. học. Có như vậy thì quá trình giao tiếp mới thông suốt. Thế nhưng, đối với người châu Âu, những câu hỏi “Куда вы едете?”, “Что вы делаете ?”, “Where are you Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nhận định của các going?”, “How old are you?” trong những tình huống tác giả “Bách khoa thư tiếng Anh” rằng: “… Mô thức cụ thể lại không được hoan nghênh lắm vì bị coi là văn hoá của các nước phương Tây là ý thức về bản thóc mách, là xía vào đời tư, vào việc riêng. thân, cho nên chủ nghĩa cá nhân nhấn mạnh tính độc lập hoặc tự do cá tính, tự chủ lựa chọn, tôn trọng Người châu Âu thiên về sự rành mạch, rõ ràng, chính điều riêng tư.” (Nguyễn Thị Hồng Hà, Nguyễn Thị xác, vì vậy họ thường nói ra ngay cái họ muốn. Ngược Thu Nguyệt, Nguyễn Thị Tố Mai dịch, 2001, tr.484)… lại, người Á Đông thường kín đáo, tế nhị, thâm trầm. Nền văn hoá Anh vốn lấy cái tôi làm trung tâm, nhấn Họ thường mượn cái khác để nói ra ý mình. Họ hay mạnh sự độc lập của cá thể và tác dụng của chủ thể. dùng phép ẩn dụ hơn. Khi quan sát và suy nghĩ về vấn đề tất nhiên người ta lấy chủ thể làm trung tâm, từ cá thể đi tới tập thể, từ Để tỏ tình, người châu Âu nói: “I want you, I need you, nhỏ tới lớn, từ gần tới xa, từ phân tích cá thể tới khái I love you”. (Bernard Hartney and Peter Viney, 1990, quát trừu tượng”... “Trái lại, các nước phương Đông tr. 40) thì nhấn mạnh chủ nghĩa tập thể.” (Nguyễn Thị Hồng Nhưng người Việt lại dùng cách khác: Hà, Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Nguyễn Thị Tố Mai dịch, 2001, tr.484) … nêu bật tập thể, đặt tập thể lên trên …Áo anh sứt chỉ đường tà cá thể. Vì thế, khi quan sát vấn đề và suy nghĩ về vấn Vợ thì chưa có mẹ già chưa khâu đề người ta thường bắt đầu từ chỗ to tát, từ to đi vào Áo anh sứt chỉ đã lâu nhỏ, từ tập thể đi vào cá thể, từ trừu tượng đi tới cụ Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng. thể, tiến hành tổng hợp tập thể.”… “Ý thức quyền lợi Khâu rồi anh sẽ trả công về những điều riêng tư của cá nhân bị coi nhẹ. Vì thế, Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho có nhiều việc mà chúng ta coi là có thể công khai thì Giúp em một thúng xôi vò người Anh và người Mỹ lại coi là điểm riêng tư của cá Một con lợn béo, một vò rượu tăm nhân, không nên đưa ra công khai hoặc không nên Giúp cho đôi chiếu em nằm hỏi đến, nếu không sẽ bị cho là xâm phạm quyền lợi cá Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo nhân.” (Nguyễn Thị Hồng Hà, Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Giúp em quan tám tiền cheo Nguyễn Thị Tố Mai dịch, 2001, tr.484). Mặt khác, ngôn Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau ngữ là công cụ để giao tiếp. Quá trình giao tiếp cũng (Văn học 10 – tập 1) là quá trình học hỏi lẫn nhau. Nền văn hoá này tiếp thu, học hỏi, chấp nhận những cái hay, cái đẹp, cái Hay là: tinh tuý của nền văn hoá kia là chuyện bình thường. Các nền văn hoá khác nhau đều có những điểm Anh không xứng là biển xanh tương đồng là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng ….. Ngôn ngữ là bộ phận quan trọng của một nền văn Anh xin làm sóng biếc hóa. Các ngôn ngữ khác nhau cũng sẽ có những điểm Hôn mãi cát vàng em khác biệt và tương đồng. Dưới đây, chúng ta sẽ xem Hôn thật khẽ thật êm xét một số điểm khác biệt và tương đồng trong việc Hôn êm đềm mãi mãi sử dụng tiếng Việt và một số thứ tiếng khác. Điều đó Đã hôn rồi, hôn lại chắc chắn sẽ giúp chúng ta nhiều trong quá trình dạy Cho đến mãi muôn đời học ngoại ngữ. Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt…. 2.1. Một số khác biệt Cũng có khi ào ạt Như nghiền nát bờ em Rõ ràng là, nếu muốn tỏ ý đồng ý với ai đó ở Bungari, Là lúc triều yêu mến mà ta lại gật đầu thì hiệu quả giao tiếp sẽ ngược lại Dâng ngập bến ngày đêm hoàn toàn. (Biển – Xuân Diệu) KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 64 Số 05 - 01/2017
  3. VĂN HÓA - VĂN HỌC v Do cách suy nghĩ có khác nhau và tư duy có những Điều đó có thể được giải thích là tính chủ thể được đề điểm khác biệt nên xuất hiện những khác biệt trong cao trong cộng đồng người châu Âu. sử dụng ngôn ngữ giữa người nói tiếng Anh và người nói tiếng Việt. Đại từ sở hữu cũng hay được sử dụng đối với người Anh. Người Anh có câu: Câu hỏi phủ định trong tiếng Anh được sử dụng khi người nói chờ đợi hoặc hy vọng một câu trả lời khẳng “Don’t put your hands in your pockets” là rất tự nhiên. định (A.J. Thomson , A.V. Martinet, 1985, tr.130). Nhưng người Việt lại thường nói: “Đừng cho tay vào Một phụ nữ hỏi: “Don’t you like my new dress?” và chờ túi quần”. Vì vậy người Việt thường nói thiếu đại từ sở câu trả lời: Yes, I do. It is very nice. hữu trong câu tiếng Anh: “Don’t put hand in pockets”. Còn người Anh lại nói thừa đại từ trong câu tiếng Việt: Thế nhưng, một người Việt do không nắm được quy tắc “Đừng thọc tay anh vào túi của anh”. này lại trả lời“No, I don’t”.Thế là hỏng cả quá trình giao tiếp. Người Nga nói: “У меня есть книга”. Còn người Việt Một số câu hỏi khác tương tự: nói: “Tôi có quyển sách” và hay diễn đạt sai bằng tiếng Nga như sau: “Я есть книга”. - Haven’t you finished yet? - Couldn’t you wait a little longer? 2.2. Những điểm tương đồng - Can’t I stay up till the end of the programme? - Couldn’t I pay by checque? Bên cạnh những khác biệt trong cách sử dụng ngôn - Couldn’t you wait for five minutes? (A.J. Thomson , ngữ của người Á Đông và người Tây Âu, chúng ta còn A.V. Martinet, 1985, tr. 247). chứng kiến một xu hướng nữa. Đó là xu hướng hội nhập về văn hoá, hội nhập về ngôn ngữ, xu hướng Đối với câu hỏi: học hỏi lẫn nhau, chắt lọc những cái tinh tuý của nhau để làm giàu ngôn ngữ của mình. Xu hướng đó - What size are you? (1) thể hiện ở sự tương đồng trong cách sử dụng ngôn - What is your weight? (2) ngữ của hai dân tộc. - What is your height? (3) Ta thấy cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt đều có một số thành Người Việt ít khi trả lời được ngay là: ngữ tương đương. Phải chăng cách suy nghĩ, cách nhìn nhận thế giới của họ có những điểm tương đồng. - I am 36 (1) - I am 65 kilos (2) From start to finish Từ đầu đến cuối - I am 1.65 metres (3) Mà hay nói: From year to year Từ năm này qua năm - My size is 36 (1) khác - My weight is 65 kilos (2) Spend money like water Tiêu tiền như nước - My height is 1.65 metres (3) Where there is life, there Còn sống thì có hy vọng is hope Trong tiếng Anh, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số Easy to speak but Nói thì dễ, làm thì khó nhiều là “we”, trong tiếng Nga là “Мы”, nhưng trong difficult to do tiếng Việt đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều lại phân ra “chúng tôi”, “chúng ta”. Vì không thể hiểu Trong một số trường hợp cách ứng xử của người Anh được điều đó mà một sinh viên nước ngoài đã mời và người Việt cũng giống nhau. Thật thú vị khi ta đọc giáo sư Nguyễn Tài Cẩn: “Ngày mai, chúng ta làm lễ được câu: “Because I am new, I have to make tea”. (Vì thành hôn, mời thầy tới dự” (Trịnh Mạnh, 2005, tr.108). tôi là người mới đi làm, tôi luôn phải pha trà) (Bernard Hartney and Peter Viney, 1990, tr.79). Khi liệt kê những người trong gia đình, người Anh nói: There are 4 people in my family: father, mother, Trong cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh đều có loại câu có brother and I (me). hình thức như câu hỏi, nhưng thực chất lại không dùng để hỏi: Nhưng người Việt lại thường nói: Có 4 người trong gia đình tôi: Tôi, anh tôi, mẹ tôi và bố tôi. Could you pass the salt, plaease? KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 05 - 01/2017 65
  4. v VĂN HÓA - VĂN HỌC Anh có thể đưa giúp tôi lọ muối được không? Tài liệu tham khảo: Đây thực chất là câu đề nghị một cách lịch sự. Thế mới 1. A.A. Akisina, N.I. Phormanopxcaia (2003), Nghi thức biết các thứ tiếng khéo gặp nhau ở cái hay, cái đẹp, cái lịch sự. lời nói Nga, NXB Thế giới, Hà Nội. Câu tồn tại ở tiếng Anh, Nga và tiếng Việt cũng có 2. Vũ Thành Công (2008), Vài suy nghĩ về việc sử dụng những nét tương đồng về trật tự: kiến thức văn hoá, văn minh vào việc dạy học ngoại Long – long ago lived an old man. ngữ, Kỉ yếu tham luận hội thảo tại khoa Ngoại Ngữ Давным-давно жили-были старуха и дочка. Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ có một cụ già và HVBCTT, Hà Nội. cô con gái. 3. Nguyễn Thị Hồng Hà, Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Câu có từ “if … would” ở trong tiếng Anh và “nếu như” ở tiếng Việt đều có ý nghĩa lịch sự. Ví dụ: Nguyễn Thị Tố Mai dịch (2001), Bách khoa thư tiếng Anh, NXB Văn hoá-Thông tin, Hà Nội. Thật là thiếu sót nếu ta không nhắc tới đóng góp của đồng chí A trong lĩnh vực giáo dục. 4. Bernard Hartney and Peter Viney (1990), Streamline I would be very grateful if you would make the English, NXB TP Hồ Chí Minh. arrangements for me. Từ những thí dụ trên ta thấy, tiếng Việt và tiếng Anh, 5. Trịnh Mạnh (2005), Tiếng Việt lí thú, NXB Giáo dục, tiếng Nga có những điểm tương đồng và khác biệt. Hà Nội. Những điểm tương đồng và khác biệt đó có nguồn gốc từ các nền văn hoá khác nhau. Đối với người Việt 6. A.J. Thomson , A.V. Martinet (1985), A Practical học tiếng Nga hoặc tiếng Anh thì hiểu rõ những nét văn hoá tinh tuý của thứ tiếng mình học sẽ làm cho English Grammar, Oxford University Press. quá trình giao tiếp thông suốt, dễ dàng và tinh tế hơn. Từ suy nghĩ đó chúng tôi xin kiến nghị một số vấn đề trong việc dạy học ngoại ngữ như sau: DIFFERENCES AND SIMILARITIES IN 3. MỘT VÀI KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC DẠY HỌC CULTURES AND TEACHING FOREIGN NGOẠI NGỮ LANGUAGES Trong quá trình dạy học ngoại ngữ, cần xác định mục VU THANH CONG đích của dạy học ngoại ngữ không chỉ là trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng, mà là tiếp thu có chọn lọc Abstract: Cultural knowledge plays một nền văn hoá mới. Từ đó cần xác định rõ nội dung important role in teaching foreign văn hoá trong chương trình. Tiếp theo, cần thiết kế languages. In teaching foreign chương trình, biên soạn sách giáo khoa theo hướng languages cultural knowledge trên. Sách giáo khoa, sách giáo viên cần có mục nói functions as the aim and the means of về các kiến thức văn hoá, văn minh. Sách công cụ (từ this process. There are similarities and điển, sách giáo viên…) cần được biên soạn có tính differences in using languages ​​because đến sự khác biệt và tương đồng giữa hai thứ tiếng. Có of the differences and similarities in nghĩa là, cần so sánh cách sử dụng ngôn ngữ dưới tác the cultures. Then, some proposals in động của các nền văn hoá khác nhau. Ở các khóa học teaching foreign languages have been cao hơn, trong giáo trình về văn hoá, văn minh cần có suggested. những chương, những bài hoặc chuyên đề riêng để so sánh đối chiếu sự khác biệt và tương đồng trong Keywords: teaching, differences, foreign việc sử dụng ngôn ngữ dưới ảnh hưởng của các nền languages, similarities, culture. văn hoá, văn minh khác nhau./. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 66 Số 05 - 01/2017

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản