Những tấm gương thành công trong cuộc sống
Dale Carnegie
5
Albert Einstein
Một ngày cách đây mấy năm, tôi đi chơi trong một châu thành nh tại miền
Nam nước Đức, thì một ông bạn cùng đi với tôi bỗng đứng lại, chỉ một cửa sổ
trên lầu một tiệm tạp hoá bảo:"Anh thấy căn phòng nh trên kia không?
Einstein ra đời tại đó".
Chiều tối hôm đó tôi gặp Einstein tại nhà một ông chú của ông, và tôi không có
cảm tưởng rằng ông là một bậc siêu quần. Điều đó không có gì l, vì ngay hồi nhỏ
cũng không ai tin rằng ông tài ln. Bây giờ người ta nhận rằng ông là một
tuyệt thế thông minh, một vị khổng lồ của thế hệ này, một trong những nhà tư
tưởng sâu sắc nhất cổ kim, vậy mà năm chục năm trước ông là em nhỏ chậm chạp,
nhút nhát, đần độn, tập nói một cách cực kkhó khăn. Ông tối dạ đến nỗi thầy học
của ông phải bực mình và song thân ông s rằng ông vào hạng hạ nhân.
Ít năm trước đây một buổi sáng, ông thức dậy ngạc nhiên thấy mình thành danh
nhân bực nhất thế giới, không thể tin được rằng một giáo toán lại được o
chí khắp toàn cầu in tên bằng chlớn lên trang đầu như vậy. Ông là một nhà khoa
học chứ đâu phải là một nhà quyn thuật hạng Jack Dempsey. Ông thú rằng không
thhiểu được điều đó. Mà cũng không ai hiểu được điều đó. Vì một chuyện như
vậy chưa hề xảy ra trong lịch sử loài người.
Con người của ông cũng lạ lùng như thuyết Tương đối của ông vậy. Ông khinh
những cái mà phần đông loài người ước như danh vọng, của cải, xa hoa.
Chẳng hạn thuyền trưởng một chiếc tàu biển nọ dành cho ông dãy phòng sang
trọng nhất dưới tàu, ông tchối, bảo rằng đi hạng chót còn thích hơn nhận bất
kỳ một đặc ân gì.
Ngày ngũ tuần của ông, chính phủ Đức ban cho ông đủ các ân huệ, dựng một
tượng bán thân của ông Potsdam, tặng ông một dinh thvà một chiếc tàu bum,
gọi là tỏ lòng quý mến và ngưỡng mộ bất tuyệt của dân tộc.
Nhưng chỉ ít m sau, người ta lấy lại hết những cái đó và ông s, không dám
trở về quê quán nữa. Trong mấy tuần lễ, ông trốn trong một ngôi nhà, cửa song sắt
ở nước Bỉ và đ êm nào cũng có một người lính canh cho ông ngủ.
Khi ông ti Nữu Ước để làm giáo toán trường đại học Princeton, ông sợ
các nhà báo phỏng vấn và dân chúng hoan hô, nên các bạn thân của ông phải
mật cho ông xuống thuyền đưa lên bờ trước khi tàu ghé bến rồi chở ông đi bằng xe
hơi.
Ông nói rằng khắp thế giới chỉ mười hai người hiểu được Thuyết tương đối
của ông, mặc dầu đã có trên chín trăm cuốn sách giảng giải nó.
Chính ông giải thuyết đó bằng thí dụ dễ dàng m hỉnh này: "Khi anh ngi
với một mỹ nhân, thì một giờ anh tưởng chừng chỉ bằng một phút, nhưng khi ngồi
trên một lò lửa nóng thì mới một chút anh coi là một giờ".
Tương đối là vậy, chứ gì đâu. Tôi cho đúng, còn nếu bạn ngờ sai thì
bạn cứ thí nghiệm, nhưng xin bạn ngồi trên lò nóng còn để tôi ngồi với mnhân
nhé.
Einstein nói rằng bà không hiểu thuyết tương đối là cái quái cả, nhưng
hiểu một cái gì quan trọng đối với đàn bà hơn, là hiểu chồng bà.
Một đôi khi có khách khứa lại uống trà và bà lên lầu mời Giáo sư xuống chuyện
trò ít lâu. Ông la b nhà nhà lên: "Không! Không! Tôi không xuống! Không
xuống! Tôi phải đi khỏi nhà này mới được. Làm việc đây không được. Cấm đấy,
không được làm ngưng công việc của tôi như vậy được nữa đa".
Bông la như vậy bà cđiềm tỉnh, để ông phát hết cơn giận của ông ra, rồi bà
khéo léo ngoại giao làm sao ông cũng xuống nhà dưới uống trà xhơi một
chút. Bà làm vậy chỉ vì thấy ông làm việc quá mà muốn cho ông nghỉ.
bảo rằng chồng bà thích sthứ ttrong tư tưởng không thích sthứ tự
trong đời sống. Ông muốn làm cái m, chẳng kể giờ giấc gì cả. Ông hành
động chỉ theo hai quy tắc. Quy tắc thứ nhất là không có quy tắc nào cả. Và quy tắc
thứ nhì là bất chấp dư luận.
Ông sống cực kỳ giản dị, đi đâu ng chbận áo cũ, nhàu nát, ít khi đội nón;
vào phòng tm thì ca hát, huýt còi vang lên. bông đtắm thì ông dùng để cạo
râu. Con người ráng giải quyết những ẩn phức tạp nhất của trụ đó, bảo rằng
dùng hai thxà bông chm cho đời thêm phức tạp. Nhìn ông tôi cm tưởng
rằng ông rất sung sướng. Triết về hạnh phúc của ông giúp cho tôi nhiều hơn
thuyết tương đối của ông. Mà tôi cho rng triết hạnh phúc đó rất cao đẹp. Ông
bảo rằng ông sung sướng vì ông không cần một thứ gì của bất kỳ người nào. Ông
không cần tiền, không cần chức tước, không cần lời khen. Ông tìm hnh phúc cho
ông trong những việc rất giản dị là làm việc, chơi vĩ cầm và thả thuyền.
y đờn cầm làm cho ông vui nhất. Ông bảo rằng ông thường suy nghĩ bằng
âm nhạc, và mơ mộng bằng âm nhạc.
Một lần, đi xe điện Linh, ông bảo người bán giấy đã tính lộn khi thối tiền
cho ông. Người đó đếm lại thấy đúng, đưa tiền cho ông, bảo: "cái tai hại của ông
là ông không biết đọc con số".
Question Upton Sinclair
Upton Sinclair đã viết bốn mươi tám cuốn sách bán ra trên m trăm bài châm
biếm. Sách của ông đã bán được hai triệu cuốn Đức, ba triệu cuốn ở Nga. Những
truyện tính cách cấp tiến của ông lẽ đã giúp cho ch mạng Nga thành công.
Mặc dầu ông người Mỹ mà ch của ông được hoan nghênh châu Âu nhiều
hơn Mỹ. lần tôi vào một tiệm sách nhmiền Nice, thấy sách của Upton
Sinclair còn nhiều hơn sách của hết thảy các tác giả Anh, Mỹ khác nhập lại. Tác
phẩm của ông đã được dịch ra bốn mươi bốn thứ tiếng và lần ông bảo tôi rằng
chính ông cũng không biết hết những tiếng đó là tiếng gì nước nào. Khắp thế
giới, ông là nhà văn còn sống mà được nhiều người đọc nhất.
y giông sáu mươi m tuổi ông đã viết trên m chục năm, từ hồi ông
ời sáu. Ông đã viết hàng tỉ chữ, hơn số chữ trong Cựu và Tân Ước hợp lại.
Vmặt ông hao hao như ông Woodrow Wilson ông hăng hái nuôi một
tưởng. Ông muốn diệt con ma nghèo, vì kinh nghim đã cho ông biết nỗi cay đắng
của cảnh nghèo. Ông bảo tôi rằng có lần, luôn trong sáu năm trường, gần như ngày
nào ông cũng bị cái đói gậm nhắm.
Thân phông là một người bán rượu Whisky và nghiện rượu, và hồi nhỏ, khi ở
Baltimore, rồi sau Nữu Ước, cứ đ êm đ êm, ông thường đi kiếm cụ ông khắp
các tửu quán, rồi đỡ cvề nhà, khiêng vào ờng, còn cbà thì móc túi chồng để
lấy tiền giấu đi, phải vậy thì hôm sau mới có tiền đi chợ. Gia đình đó nghèo tới nỗi
họ phải sống trong những nhà cho mướn rẻ tiền nhơ nhớp đầy muỗi, rệp, nghèo ti
nỗi phải dời nhà hoài, vì thiếu tiền trả, bị chủ đuổi.
Upton Sinclair nhiệt liệt chủ trương scấm bán rượu mạnh. Ai vào cảnh ông
không vậy. Rượu mạnh đã tàn phá gia đình ông và m cho tui thơ của ông
khô héo cằn cỗi. Ông bảo rằng rượu mạnh đã làm cho hai người bạn thân nhất của
ông chết yểu, tức Jack London và Eugene V. Debs. Ông cũng không uống trà
cà phê mà cũng không hút thuốc.
Mãi ti hồi mười tuổi, ông mới được tới trường nhưng đã thọc và biết đọc, và
trước khi trường thì ông đã ngấu nghiến hết c tác phẩm của Dickens và của
Thackeray, lại đọc mấy chục cuốn sách khác và một phần lớn bộ Bách khoa t
điển. Mới vô trtường được hai năm, ông đã đủ sức theo ban đại học rồi.
Hồi vào đại học, ông không có lấy một xu mà lại phải nuôi mẹ nữa. Vì vậy, ông
phải vừa học vừa viết những truyện cười ngăn ngắn cho các tạp chí rẻ tiền, để lấy
tiền ăn học tại City College Nữu Ước trường đại học Columbia. Mỗi đ êm
ông đọc cho người khác chép một truyện dài tám ngàn chữ, nghĩa là mỗi tháng