intTypePromotion=1

Những vấn đề quan yếu cần đặc biệt chú ý khi đối chiếu các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
13
lượt xem
2
download

Những vấn đề quan yếu cần đặc biệt chú ý khi đối chiếu các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này chỉ nêu ra một vài vấn đề mang tính quan yếu cần đặc biệt chú ý khi đối chiếu các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á làm cơ sở cho việc tiến hành nghiên cứu so sánh các ngôn ngữ cụ thể trong ngữ hệ Nam Á và các ngôn ngữ Đông Nam Á.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những vấn đề quan yếu cần đặc biệt chú ý khi đối chiếu các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á

  1. NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI v NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN YẾU CẦN ĐẶC BIỆT CHÚ Ý KHI ĐỐI CHIẾU CÁC NGÔN NGỮ NAM Á VÀ ĐÔNG NAM Á ĐOÀN HỮU DŨNG HOÀNG ANH NGUYỆN Học viện Khoa học Quân sự TÓM TẮT Tiếp xúc ngôn ngữ là một quá trình diễn ra liên tục mang tính lịch sử. Trong quá trình tiếp xúc đó, việc các ngôn ngữ có vay mượn hay ảnh hưởng lẫn nhau là một hiện tượng hoàn toàn bình thường. Việc tìm ra những điểm tương đồng hay dị biệt là giữa các ngôn ngữ hay các ngữ hệ là nhiệm vụ được đặt ra đối với ngành ngôn ngữ so sánh đối chiếu. Bài viết này chỉ nêu ra một vài vấn đề mang tính quan yếu cần đặc biệt chú ý khi đối chiếu các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á làm cơ sở cho việc tiến hành nghiên cứu so sánh các ngôn ngữ cụ thể trong ngữ hệ Nam Á và các ngôn ngữ Đông Nam Á. Từ khóa: ngôn ngữ học so sánh đối chiếu 1. ĐẶT VẤN ĐỀ ngữ cũng như hiểu sâu hơn các quy luật điều khiển các quá trình này”. Trong khuôn khổ của bài viết, Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong trào chúng tôi không thể đi vào nghiên cứu cụ thể lưu nghiên cứu so sánh chung. Nó bao quát một từng bình diện đối chiếu (như đối chiếu ngữ âm, lúc nhiều ngôn ngữ, bất luận ngôn ngữ đó cùng từ vựng, ngữ pháp hay ngữ dụng), cũng không hay khác loại hình và ngữ hệ. Song phải nói rằng, thể đi đối chiếu tất cả các ngôn ngữ hay tất cả nghiên cứu đối chiếu hình thành một cách trực các ngữ hệ trong thế giới ngôn ngữ, chúng tôi chỉ tiếp trong tiến trình tìm tòi của con người để tìm ra một vài vấn đề mang tính quan yếu khi đối nắm ngoại ngữ một cách nhanh hơn và tốt hơn chiếu các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á. [2, tr.35]. Nhà ngôn ngữ học Pháp Di Pietro đã viết trong cuốn “Cấu trúc ngôn ngữ qua đối chiếu” Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt - dân tộc rằng: “Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời từ kinh nghiệm đông người nhất trong các dân tộc sống trên đất dạy tiếng”. “Việc nghiên cứu đối chiếu giúp chúng ta Việt Nam, một quốc gia nằm trong khu vực Đông thâm nhập vào thực chất của các quá trình ngôn Nam Á lục địa của vùng Đông Nam Á. Hiện nay KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 2 - 7/2016 97
  2. v NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI khi nói về nguồn gốc của nó, dường như các nhà phương ngữ Việt Nam, đó là những cuộc di cư nghiên cứu đều đã thống nhất được với nhau của cư dân Tai từ Quí Châu, Quảng Tây xuống rằng: tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc tiểu chi phương Nam và vùng Tây Nam, đó là sự đổ bộ Việt-Mường (cũng có người gọi là tiểu chi Việt- của những người H’Mông-Miên từ miền Nam và Chứt hoặc Vietic), nằm trong khối Việt-Katu thuộc Tây Nam Trung Quốc đến Lào, Việt Nam, Thái Lan khu vực phía Đông của ngành Môn-Khme, ngữ vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Các cuộc di cư này có hệ (cũng gọi là họ ngôn ngữ) Nam Á. [2, tr.316] ảnh hưởng rất lớn đến những vấn đề xã hội học, nhân chủng học, dân tộc học, … và ngôn ngữ học Về mặt ngôn ngữ học, Đông Nam Á là một không cũng không nằm ngoài hệ quả tiếp xúc đó. Điều gian địa-ngôn ngữ học khá rộng lớn, chứa hơn này tạo nên nhiều điểm tương đồng về cấu trúc một nghìn ngôn ngữ khác nhau, không chỉ gồm ngữ pháp, hình thái và từ vựng nên đã ít nhiều những nước thuộc hiệp hội các quốc gia Đông gây nhầm lẫn là các ngôn ngữ này có quan hệ cội Nam Á (ASEAN), phân bố từ vùng Đông Bắc Ấn nguồn. Chính vì thế, khi đối chiếu các ngôn ngữ Độ đến Đông Dương, từ vùng Hymalaya và vùng Nam Á và Đông Nam Á, chúng ta không nên lệ phía Nam sông Dương Tử của Trung Quốc đến thuộc vào việc chúng có quan hệ gì về mặt nguồn tận phần cuối bán đảo Malacca. Các cộng đồng gốc, tiếp xúc hay loại hình thế nào mà nên hoàn dân tộc trong vùng này chịu nhiều ảnh hưởng rất toàn tự do lựa chọn vấn đề nghiên cứu theo từng sâu đậm của văn hóa Ấn Độ và văn hóa Hán (riêng nhu cầu và nhiệm vụ cụ thể. Việt Nam là nơi chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán mạnh nhất). Khi nói các ngôn ngữ Đông Nam Á thì 2. NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN YẾU CẦN CHÚ Ý KHI tên gọi này được hiểu là bao gồm các ngôn ngữ ĐỐI CHIẾU CÁC NGÔN NGỮ NAM Á VÀ ĐÔNG tồn tại trong khu vực địa-ngôn ngữ này. NAM Á Về quan hệ cội nguồn, các ngôn ngữ Đông 2.1. “Thiếu” những phạm trù bắt buộc Nam Á thuộc các ngữ hệ lớn là: ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian), So với các nhóm ngôn ngữ khác, trong các ngôn ngữ hệ Thái-Kađai (Tai Kadai) và ngữ hệ H’Mông- ngữ Nam Á và Đông Nam Á lục địa thường “thiếu” Miên (H’Mông Mien; ngữ hệ này cho đến gần đây các biểu hiện của các phạm trù bắt buộc. Lưu ý ở vẫn được gọi là ngữ hệ Mèo-Dao) [1]. Như vậy tên đây là “thiếu” chứ không phải không có, chính vì gọi Nam Á được dùng ở đây và trong ngôn ngữ vậy trong các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á học nói chung, là tên gọi của một ngữ hệ (cũng sẽ phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ khác còn gọi là ngữ tộc) chứ không phải chỉ là tên gọi để bù lại, mà thông thường đó là bằng phương của một vùng địa lí thông thường. tiện từ vựng. Ví dụ như, ý nghĩa biểu thị bị động thì ngôn ngữ nào cũng có, tuy nhiên trong các Ngữ hệ Nam Á được coi là một ngữ hệ lâu đời nhất ở vùng Đông Nam Á. Các ngôn ngữ thuộc những ngôn ngữ Đông Nam Á lại thường thiếu vắng các ngữ hệ khác như Thái-Kađai, Hán-Tạng,... đều là phương tiện chuyên dụng để biểu hiện ý nghĩa những kẻ mới đến sau, bao bọc lấy ngữ hệ Nam Á này như động từ phản thân trong tiếng Nga hay bản địa [6, tr.12]. Trong nội bộ ngữ hệ Nam Á, các passive voice trong tiếng Anh. Do vậy, tiếng Việt nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử của ngữ hệ này, hay các ngôn ngữ Đông Nam Á lại phải dùng chia ra hai ngành (cũng gọi là đại chi hoặc tiểu ngữ thêm các động từ tình thái mang ý nghĩa bị động hệ) là ngành Munda và ngành Môn-Khmer. Vì vậy, như được, bị, phải (trong tiếng Việt), đạy, pên, việc phân tách, sắp xếp nội bộ các ngôn ngữ Nam toong can (trong tiếng Lào, Thái Lan), ban, trôv Á khá phức tạp. ban, trôv te (trong tiếng Campuchia). Tuy cũng có các phương tiện ngữ pháp biểu hiện ý nghĩa Các ngôn ngữ Nam Á có quan hệ tiếp xúc với bị động, nhưng không phải lúc nào các ngôn nhau từ rất sớm và mạnh do hệ quả của những ngữ Nam Á và Đông Nam Á cũng có thể sử dụng cuộc di dân lớn trong lịch sử, đó là những cuộc tương đương như các nhóm ngôn ngữ khác được. Nam tiến của người Việt và quá trình hình thành Ví dụ như: KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 98 Số 2 - 7/2016
  3. NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI v Trong tiếng Nga: Эта книга читается мной. có nữa trong các ngôn ngữ Đông Nam Á lục địa không thể dịch tương đương sang các ngôn ngữ như: động từ thì có phạm trù thức, tính nội động Đông Nam Á là: hay ngoại động, hệ đối vị của thức, tính gây khiến, …; danh từ là vấn đề số, từ loại, tính sở chỉ (tính Tiếng Việt: Quyển sách này đang được đọc bởi tôi. xác định hay không xác định của quán từ, giới từ), tính quan hệ sở hữu, … Như vậy, trong các ngôn Tiếng Lào: Pưm nị căm lăng đạy an khọi. ngữ Nam Á và Đông Nam Á thường “thiếu” hẳn các chỉ tố ngữ pháp chuyên dụng, mọi phương Một phạm trù khác nữa cũng bị thiếu vắng trong tiện thể hiện ý nghĩa ngữ pháp đều cơ bản sử các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á, đó là phạm trù giống, số, cách của danh từ. Trong các ngôn dụng con đường từ vựng là chính, tức là dùng các ngữ Xlavơ (ví dụ như trong tiếng Nga) danh từ từ kết nối chỉ nghĩa trong câu. được chia theo ba giống là giống đực, giống cái và 2.2. Đơn vị hình thái học căn bản chính là âm tiết giống trung; danh từ có hai số là số ít và số nhiều; danh từ biến đổi theo sáu cách số ít và sáu cách số Các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á có đặc nhiều. Các phạm trù này không liên quan đến giới trưng chung về mặt hình thái học là: đơn vị nhỏ tính hay số lượng, mà nó hoàn toàn là các phạm nhất mang nghĩa là các âm tiết, hay nói chính trù ngữ pháp được xác định trên cơ sở vĩ tố đứng xác hơn là các đơn vị nhỏ nhất ấy trùng với âm ở cuối từ. Chẳng hạn như ngôi nhà – дом (danh từ tiết. Đặc trưng chung này được thể hiện rõ nhất giống đực, số ít, cách 1), книга (danh từ giống cái, ở tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Thái Lan, tiếng Lào, số ít, cách 1), письмо (danh từ giống trung, số ít, tiếng Khmer. cách 1), газеты (danh từ số nhiều, cách 1). Bằng trực quan, người học dễ dàng nhận diện được Âm tiết (syllable) là đơn vị phát âm tự nhiên của những phạm trù này nhờ vào vĩ tố đứng ở cuối con người. Chuỗi lời nói được con người phát ra cùng của từ như phụ âm –м, các nguyên âm -а, thành các khúc đoạn lớn nhỏ khác nhau. Ví dụ, từ -о, -ы chứ không thể nào lí giải vì sao ngôi nhà là “học sinh”: trong tiếng Việt được phát âm từ 2 âm giống đực, quyển sách là giống cái hay bức thư lại tiết là “học” và “sinh”; trong tiếng Lào “nắc hiên” là giống trung bằng cách quy theo giới tính được. được phát âm từ 2 âm tiết là “nắc” và “hiên”; trong tiếng Anh là “pupil” = “pju” + “pl”, tiếng Nga là 3 âm Tương tự như vậy, phạm trù ngôi, thời, thể của tiết: “ученик” = “у” + “че” + “ник”, ... Đặc điểm về động từ cũng bị thiếu vắng trong các ngôn ngữ cấu tạo, chức năng, vai trò âm tiết trong các ngôn ở Nam Á và Đông Nam Á. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á là các ngữ và loại hình ngôn ngữ khác nhau là không ngôn ngữ đơn tiết, không biến hình. Trong khi ở giống nhau. Đối với tiếng Việt nói riêng và các các ngôn ngữ khác các phạm trù này là bắt buộc ngôn ngữ Nam Á, Đông Nam Á nói chung, cương thì ở các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á, chúng vị ngôn ngữ học của đơn vị hình thái học căn bản được suy ra từ ngữ cảnh và khi được thể hiện thì rất đặc biệt, nó có ranh giới vật chất trùng khít với thể hiện bằng con đường từ vựng xuất hiện ở vị một âm tiết. Âm tiết của các ngôn ngữ Nam Á và trí cú pháp đặc biệt của cấu trúc, nơi chúng được Đông Nam Á vừa là đơn vị phát âm vừa có các dấu phân tích lại với tư cách là một chỉ tố ngữ pháp. Ví hiệu cơ bản của một đơn vị hình thái học căn bản, dụ, trong tiếng Nga, chỉ cần nhìn vào vỏ hình thức chúng là 2 phạm trù khác nhau chứ không thể của động từ читаю người ta dễ dàng đọc được các được gộp làm một được. Đây là điểm đặc trưng phạm trù ngữ pháp trong đó như là động từ này quan trọng cần chú ý. Chính vì vị trí của âm tiết được chia ở ngôi thứ nhất, thời hiện tại, thể chưa trong các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á như hoàn thành. Tương tự như thế, động từ goes trong vậy mà vai trò của âm vị (như nguyên âm và phụ tiếng Anh biểu thị ngôi thứ 3 số ít thời hiện tại. âm) ở trong các ngôn ngữ này chỉ có vai trò âm vị học đơn thuần, trong khi đó các đơn vị âm vị của Trên đây là một vài dẫn chứng cụ thể, ngoài ra ngôn ngữ Ấn-Âu “lại có cương vị kép” [2]: vừa là còn tồn tại một số phạm trù không bắt buộc phải cương vị âm vị học vừa là cương vị hình thái học. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 2 - 7/2016 99
  4. v NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI Một điểm đáng chú ý nữa là, ở các ngôn ngữ thuộc vào vị trí mà nó đảm nhận trong cấu trúc. Nam Á và Đông Nam Á có hình thái học của âm Nguyên nhân của hiện tượng này là do đặc điểm tiết phụ (trong mối quan hệ đối lập với các âm của các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á không tiết chính), bởi khi tiếp thu từ cội nguồn Nam Á có tính chất biến hình như các ngôn ngữ Ấn-Âu. có tồn tại các đơn vị song tiết. Các tiền âm tiết Về mặt hình thức, người ta không thể nhìn vào (presyllable) thường là các âm tiết mở, không phải đuôi từ để nhận biết ra từ loại được mà phải luôn là các âm tiết đóng. Trong quá trình tiếp xúc và sự đặt nó trong từng vị trí của câu để xác định chức hòa nhập, dần dần các âm tiết phụ này bị mất đi năng ngữ pháp của nó. Ví dụ từ cho trong tiếng và chỉ còn lại âm tiết chính, do vậy các ngôn ngữ Việt sẽ đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau Nam Á và Đông Nam Á dần chuyển sang hình thái khi đặt nó ở những vị trí khác nhau trong câu. Điều học âm tiết tính. Ví dụ, trong các văn tự tiếng Việt này xảy ra hoàn toàn đúng với từ oi trong tiếng thế kỉ XVII vẫn còn từ “la đá có nghĩa là đá” (như: Khmer và từ hay trong tiếng Lào. (Xem bảng 1) mưa la đá = mưa đá, hòn la đá = hòn đá, bàn la đá = bàn đá, la đá lửa = đá lửa, ... ). Điều này làm cho hệ 2.4. Trật tự từ hình thái của các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á không phong phú như các ngôn ngữ khác, đặc Trật tự từ là một phương thức ngữ pháp được cho biệt là các ngôn ngữ Môn-Khmer. là quan trọng hàng đầu trong các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á vì thay đổi trật tự từ sẽ dẫn đến 2.3. Có sự linh động chuyển loại thay đổi chức năng ngữ pháp của từ trong câu và làm cho câu bị biến đổi về ngữ nghĩa. Trong Trong các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á có sự tiếng Việt và một số ngôn ngữ Đông Nam Á đa linh động chuyển loại. Một từ hoàn toàn có thể phần theo quy tắc chính trước phụ sau: năm mới chuyển từ từ loại này sang từ loại khác, không bị (tiếng Việt) - pi may (tiếng Lào) - chhnam thmey hạn chế về vị trí cú pháp. Từ có thể đứng hoàn (tiếng Khmer) …, nhà mới (tiếng Việt) - hươn may toàn tự do trong câu, nó có thể đóng vai trò là (tiếng Lào) - ptias thmey (tiếng Khmer) …; trong một động từ hoặc một danh từ hay một phó từ ... khi đó tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn-Âu lại theo Tính linh động này thúc đẩy quá trình ngữ pháp quy tắc ngược lại, có nghĩa là phụ trước chính sau: hóa làm cho một đơn vị hoàn toàn thuộc từ vựng tân niên, tân gia, новый год, новый дом, new year, có được một vị trí thích hợp với các chức năng new house, …. Nếu quy tắc này bị đảo lộn, có thể ngữ pháp. Thể hiện rõ nhất là trường hợp một từ nghĩa của câu sẽ bị thay đổi, hoặc sẽ tạo ra những có thể thực hiện những chức năng khác nhau tùy tổ hợp từ vô nghĩa. Tuy nhiên, do cơ chế tiếp xúc Bảng 1. Chức năng Tiếng Việt Tiếng Lào Tiếng Khmer trong câu (cho) (hay) (oi) Làm phó vị từ (vị - Anh ấy đóng cửa cho tôi. - Lao at pa tu hay khoi. - Kwat back thwe oi từ tình thái) - Anh ấy cho tôi nhiều tiền. - Lao oau nguen hay khnhum. khoi lai. - Kwat oi khnhum lui chrơn. Làm vị từ gây - Nó làm cho tôi sợ. - Man het hay khoi - Via thvơ khnhum oi khiến - Nó làm cho anh ấy giận. nhan. khleak - Man het hay lao khiet. - Via thvơ kwat oi khâng Làm tác tử trạng - Tôi làm thế cho vui - Khoi het bep ni phaue - Khnhum thvơka oi ngữ phụ thuộc hay muon xeun. awpuk khnhum săpbaj. Làm ngữ khí từ - (Làm thế) họ nói cho. - (Het bep ni) kau xi vao - (t’wơ djang na) kê sdây tình thái hay. oi. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 100 Số 2 - 7/2016
  5. NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI v và xu thế vay mượn của các ngôn ngữ nên dần dần, quy tắc trên cũng ít nhiều bị ảnh hưởng theo. Trong tiếng Việt hiện nay xuất hiện một số từ mà thành phần trung tâm lại đứng ở đầu câu. Đó thường là những danh ngữ được cấu tạo theo mô hình danh ngữ tiếng Hán. Các trường hợp này tuy không nhiều, không phổ biến nhưng chúng được dùng ngay cả trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày, trong cả các chương trình nghị sự của quốc hội, … như là một thực thể đã được cả cộng đồng chấp nhận từ lâu, chẳng hạn như các từ: bê tông hóa, cứng hóa, cơ khí hóa, cơ chế hóa, Huynh đệ quán, Tràng An đệ nhất nhà hàng, tân bí thư, tân thủ tướng, … Điều này chỉ xảy ra trong tiếng Việt chứ không xảy ra đối với tiếng Lào, Thái Lan, tiếng Khmer. Nguyên nhân có thể là do ngôn ngữ Việt chịu ảnh hưởng của tiếng Hán rất mạnh và rất sâu sắc trong một thời gian quá dài, còn tiếng Lào, tiếng Khmer tiếp xúc với tiếng Hán ít hơn nên có sự chuyển di yếu hơn. 2.5. Loại từ Loại từ là từ chỉ ra loại mà sở chỉ của nó là một danh từ đơn vị. Các danh từ trong các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á lục địa chỉ nêu khái niệm, không biểu thị nội dung về số (như trong các ngôn ngữ Ấn- Âu) nên loại từ là để cá thể hóa, để nhấn mạnh, làm nổi tính đơn vị của vật. Vì vậy, loại từ buộc phải hiện diện cùng với số từ, ví dụ: Xuất phát từ việc phân loại, ta có thể xác định một cấp hệ như sau: Phân loại => nhận diện => các thể hóa (trong đó, tối thiểu là phải phân loại và nhận diện được các từ). Điều này có thể được tiến hành trong tất cả các ngôn ngữ toàn vùng. Ở đây có điểm đáng chú ý là cách kết hợp với số từ trong tiếng Hán và tiếng Việt là giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác so với tiếng Khmer và tiếng Lào, Thái Lan. Tiếng Hán và tiếng Việt có cùng trật tự là: số từ + loại từ [danh từ đơn vị] + danh từ [danh từ khối], ví dụ như: một cốc bia, hai con gà, ba ngôi nhà, bốn cái cốc, năm quyển sách, … nhưng trong tiếng Khmer, tiếng Lào, tiếng Thái Lan lại là bia một cốc, gà hai con, nhà ba ngôi, cốc bốn cái, sách năm quyển, … có nghĩa là đưa danh từ khối lên đầu rồi mới đến số từ và danh từ đơn vị. Ngoài yếu tố chỉ số lượng, đặc điểm chung của các loại từ [danh từ đơn vị] của các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á là: khi khái niệm đã được giới thiệu thì nó sẽ được đánh dấu như một vật đã xác định (có khi chỉ đánh dấu bằng một loại từ, có khi bằng loại từ cùng với từ chỉ xuất, đôi khi chỉ bằng từ chỉ xuất). Ví dụ: trong tiếng Việt khi thực hiện hành động mua bán ngoài chợ, người ta có thể nói “Mua một con. Mua con này.…”, tiếng Khmer là “Tinh mouy kbal hery. Tinh mouy kbal nis.”, tiếng Lào là “Seu to neung. Seu to ni.” mà không cần phải nói rõ hay lặp lại danh từ khối nữa. Đặc điểm về cách dùng loại từ là đặc điểm chung có nét khu biệt khá rõ ràng so với các ngôn ngữ khác, đặc biệt là so với các ngôn ngữ Ấn-Âu. So sánh đối chiếu loại từ trong các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á với các ngôn ngữ khác là một vấn đề rất phức tạp và khó khăn. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 2 - 7/2016 101
  6. v NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI 2.6. Chỉ tố phái sinh chỉ hướng và biểu thị thời này sẽ không còn nữa, và ta chỉ có những từ - thể - tình thái ngữ rời rạc” [5, tr.96-97]. Trong các ngôn ngữ có hình thái học, tình thái được thực hiện trước tiên Các chỉ số phái sinh từ từ vựng, để chỉ hưởng và là bằng cách dùng một hình thái “hữu tận” của biểu thị thời - thể - tình thái rất hay dùng ở khu vực vị từ. [5, tr. 97]. Các ngôn ngữ không biến hình, Đông Nam Á. Đó thường là các động từ có hướng vốn không thể diễn đạt tình thái bằng những như: đến, về, lên, xuống, sang, qua, ra, vào,… trong biến vĩ, thường có một hệ thống vị từ tình thái tiếng Việt, trong tiếng Lào là: ma, cap, ooc, nay,… rất phong phú làm trung tâm. Các động từ tình thái trong các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á Ví dụ: có tính ngữ pháp hóa rất cao và mang rất nhiều hàm ý. Chúng tham gia vào cấu trúc phát ngôn Tiếng Việt: Anh ấy đi vào nhà. biểu hiện thái độ của người nói với hiện thực. Tùy thuộc vào từng hành động và ngôn cảnh cụ Cô ấy ra chợ. thể qua sự thể hiện của các động từ tình thái mà người nói hoàn toàn có thể biểu lộ được sự đánh Ông ấy sang Việt Nam. giá về điều mong muốn hay không mong muốn, Tiếng Lào: Lao khau huon. có khả năng hay không có khả năng, hiện thực hay phi hiện thực, chắc chắn hay nghi ngờ, được Lao ooc ta lat. phép hay bị cấm, … của điều được nói trong phát ngôn. Chẳng hạn như các động từ: có thể, Lao ma Viet Nam. giao hẹn, hẹn, phải, cần, được, bị, dám, toan, định, nỡ, mong muốn, hi vọng, tin tưởng, tưởng,... trong Tiếng Khmer: Bong bros mok p’teas. tiếng Việt; sa mat, nat mai, nat, tong, tong can, yak, day, theuk, ka, ya, vang va, khuam vang, seua Bong srey tov psa. man,... trong tiếng Lào; arch, soniya, trovka, ban, trovban, bro sin ber, hean, chong, song khem, cher, Lok ta mok Vietnam. sman,... trong tiếng Khmer. Các động từ kiểu này được gọi là phó động từ Phần lớn các ngôn ngữ Nam Á và Đông Nam Á chỉ (coverbs). Các chỉ tố biểu thị thời - thể - tình thái có “chọn sử dụng” một số hàm ý, thậm chí có những thể đứng trước động từ hoặc vị trí kết thúc mệnh hàm ý bị loại hoàn toàn. Ví dụ, ở tiếng Hán động từ đề. Trong tiếng Hán, -le, -zhe, -guo, … tình thái được qui về tình thái đạo nghĩa; ở tiếng Việt động từ tình thái được qui về phạm trù khả 2.7. Động từ tình thái năng và được phép, cùng với đó là nghĩa “phải/ buộc”; trong tiếng Thái và tiếng Khmer động từ Trong ngôn ngữ, các tình thái của phát ngôn tình thái được qui về vấn đề “khả năng/cho phép” làm thành một bảng màu rất đa dạng, trong đó và “quá khứ”; tiếng H’Mong là phạm trù “quá khứ” phần lớn đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng không loại trừ hàm ý “khả năng/cho phép”. đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng, nhưng dưới nhiều sắc thái khác nhau và có nhiều 2.8. Một số hiện tượng khác cách biểu hiện khác nhau. Cao Xuân Hạo trong cuốn Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng đã Ngoài các điểm quan yếu như đã nói ở trên, trong nhận định: “Trong tiếng Việt, tình thái hiện thực quá trình tìm hiểu, so sánh đối chiếu các ngôn hay trần thuật khẳng định được diễn đạt bằng ngữ Nam Á và Đông Nam Á, chúng ta còn phải cách sắp xếp các từ ngữ biểu thị sở thuyết và các đặc biệt quan tâm đến một số vấn đề đặc trưng tham tố của nó theo trật tự được quy định cho khác, ví dụ như danh từ quan hệ (cạnh, bên [trong một câu cơ bản có cấu trúc đề - thuyết. Nếu trật tiếng Việt], now (đằng trước) [tiếng Thái] …); các tự này không được thực hiện, hoặc nếu vi phạm biểu hiện ý gây khiến bằng các động từ làm, đánh một quy tắc nào đó của các cấu tạo câu, tình thái [trong tiếng Việt], oi, thvơ [trong tiếng khmer] …); KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 102 Số 2 - 7/2016
  7. NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI v các cấu trúc có hình thức bị động như được, bị, 6. Vũ Đức Nghiệu (2011), Lược khảo lịch sử từ vựng phải + V [trong tiếng Việt], ban, trâw + V [trong tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. tiếng Khmer] …); việc thể hiện ý nghĩa cách thức, công cụ bằng thực từ lấy, dùng và hư từ bằng 7. Lê Quang Thiêm (2008), Nghiên cứu đối chiếu [trong tiếng Việt], prơ [trong tiếng Khmer] …); các ngôn ngữ, Nxb. ĐHQGHN, Hà Nội. cấu trúc so sánh dựa trên động từ có nghĩa “hơn” 8. R.J. de Pietro (1971), Language structures in [trong tiếng Việt], ciêng [trong tiếng Khmer], Thái, contrast, Ronley, Mass. Quảng Đông); … và nhiều vấn đề khác nữa. Mỗi một vấn đề đặt ra cho người nghiên cứu một nhiệm vụ riêng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể đòi hỏi sự tìm tòi nghiêm túc. IMPORTANT ISSUES IN COMPARING LANGUAGES OF THE SOUTH ASIAN AND 3. KẾT LUẬN SOUTH EAST ASIAN FAMILIES Tóm lại, nghiên cứu các ngôn ngữ Nam Á và Đông Abtract: Language contact is a continuous Nam Á lục địa có nét đặc trưng là có hiện tượng process bearing historical significance. This ngữ pháp hóa định hướng ngữ dụng, có một số process naturally creates opportunities for hiện tượng ngữ pháp hóa giống nhau, có mô languages to interract and borrow linguistic hình cú pháp, ngữ nghĩa tương tự nhau. Nguyên elements. Therefore, contrastive linguistics is do của các hiện tượng này là sự tiếp xúc cư dân tasked with finding similarities and differences lâu năm không thể tránh khỏi qui luật tiếp xúc between individual languages or language ngôn ngữ và việc phân tán các đặc điểm chung families. This article discusses several issues vào các bối cảnh ngôn ngữ riêng. Nghiên cứu đối as a case-study and makes recommendations chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á không bị cản for deep research projects on comparing and contrasting languages in the South Asian and trở bởi bất cứ lí do gì. Nhưng cần hết sức chú ý South East Asian language families. đến những đặc điểm chung, những dị điểm và hướng đồng qui do tiếp xúc ngôn ngữ lâu đời Keywords: contrastive linguistics trong vùng đem lại./. Tài liệu tham khảo: Ngày nhận: 10/5/2016 1. Bright, W, (Editor in chief ) (1992), Encyclopedia Ngày phản biện: 14/7/2016 of Linguistics, Oxford University Press. Ngày duyệt đăng: 21/7/2016 2. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 3. Trần Trí Dõi (2011), Một vài vấn đề nghiên cứu so sánh – lịch sử nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 4. I.M. Pun-ki-na (1983), Tóm lược ngữ pháp tiếng Nga, Nxb. Tiếng Nga, Mát-xcơ-va, Người dịch Dương Đức Niêm, các biên tập viên Bùi Hiền, V.I. Mê-sê-ri-a-côp. 5. Cao Xuân Hạo (2006), Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Giáo dục, Hà Nội. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 2 - 7/2016 103

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản