
TRƯỜNG THPT HÀN THUYÊN
TỔ NGỮ VĂN
NỘI DUNG ÔN TẬP
MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 11 (CUỐI HỌC KÌ 1)
NĂM HỌC 2023-2024
A) GIỚI HẠN CHƯƠNG TRÌNH:Từ bài 1 đến hết bài 4 (chương trình 2018)
B) CẤU TRÚC VÀ PHƯƠNG PHÁP:Tự luận 100%
1. Về văn bản:
- Những văn bản, đoạn văn bản nằm ngoài chương trình (cùng thể loại với những văn bản đã
học).
2. Về kiến thức và kĩ năng
* HS cần: Nắm được những yêu cầu cơ bản của việc viết văn bảnnghị luận về một tác phẩm
truyện với nội dung trọng tâm là đánh giá nghệ thuật kể chuyện của tác giả
-Nhận biết và đi sâu vào việc phân tích, đánh giá tính nghệ thuật của một tác phẩm truyện,
đặc biệt là những tìm tòi của tác giả trong cách kể câu chuyện
+Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm truyện được chọn để phân tích( chú ý nêu khái quát các
phương diện làm nên tính nghệ thuật của tác phẩm mà bài viết sẽ đi sâu phân tích)
+ Nêu và phân tích một cách cụ thể, rõ ràng các phương diện nghệ thuật đặc sắc của tác
phẩm( tổ chức mạch truyện, người kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn, lời kể, giọng điệu, nhân vật…)
+ Nêu nhận định, đánh giá về tác phẩm truyện dựa trên các lí lẽ và bằng chứng thuyết
phục với những phân tích có chiều sâu, thể hiện góc nhìn mới mẻ
+ Khẳng định giá trị tác phẩm được chọn để phân tích
* HS cần: nắm được những yêu cầu cơ bản của việc viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ
với nội dung trọng tâmlà phân tích cấu tứ và hình ảnh của tác phẩm
-Nhận biết và phân tích, đánh giá được giá trị thẩm mỹ của một số yếu tố cơ bản trong thơ ( tìm
hiểu cấu tứ và hình ảnh trong tác phẩm)
+Giới thiệu ngắn gọn bài thơ ( tác giả, vị trí của bài thơ, lý do lựa chọn bài thơ)
+Xác định rõ trọng tâm vấn đề bàn luận trong bài viết ( cấu tứ độc đáo của bài thơ và sự
chi phối của nó đến hệ thống hình ảnh)
+ Xem xét vấn đề một cách toàn diện theo một cách cụ thể với những lí lẽ, bằng chứng
xác đáng
+ Đánh giá được nét đặc sắc về cấu tứ và hình ảnh của bài thơ cũng như giá trị của chúng
trong việc thể hiện những khám phá mới về con người và cuộc sống
-Nhận biết và phân tích được đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, từ đó biết sử
dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết một cách hiệu quả
+ Phân tích được việc tái tạo ngôn ngữ nói trong ngôn ngữ viết và ngược lại việc trích dẫn
ngôn ngữ viết trong ngôn ngữ nói

+ Nhận biết được các lỗi về phong cách trong văn bản nói và viết, cụ thể đồng thời chỉ ra
được hướng khắc phục
-Nhận biết và phân tích được một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường
trong sáng tác văn học và ý nghĩa của sự sáng tạo trong tác phẩm văn học ở phương diện ngôn
ngữ
+Phân tích được đặc điểm của một số hình thức phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông
thường trong sáng tác văn học và hiệu quả thẩm mĩ mà các hình thức đó đưa lại.
+Phân tích được nội dung và ý nghĩa của văn bản, mối quan hệ giữa các luận điểm, lí
lẽ và bằng chứng, quan hệ giữa luận đề, luận điểm, luận cứ, nhận biết và giải thích được sự
phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề văn bản.
+Nhận biết và phân tích được thái độ, mục đích và tình cảm của người viết; vai trò của
các yếu tố thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm trong văn bản nghị luận.
+Nhận biết được các đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói để có hướng vận
dụng phù hợp, hiệu quả.
+Viết được văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội (con người với cuộc sống xung
quanh), trình bày rõ quan điểm về hệ thống luận điểm, cấu trúc văn bản chặt chẽ, mở đầu kết
thúc gây ấn tượng, lí lẽ và bằng chứng thuyết phục.
+Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện thơ dân gian như cốt truyện,
nhân vật, người kể, bút pháp miêu tả.
+Nhận biết và phân tích được ý nghĩa, tác dụng của yếu tố tự sự trong thơ trữ tình.
+Phân tích được ý nghĩa hay tác động của văn bản văn học trong việc làm thay đổi suy
nghĩ, tình cảm, cách nhìn và cách thưởng thức đánh giá của cá nhân đối với văn học và cuộc
sống.
+Nắm bắt được các kiểu lỗi về thành phần câu, biết cách sửa lỗi và vận dụng vào việc sử
dụng tiếng Việt của bản thân.
+Viết được văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội (hình thành lối sống tích cực trong
xã hội hiện đại).
3. Cấu trúc đề :
-Thời gian: 90 phút
- Cấu trúc đề gồm: Từ 7-8 câu đọc hiểu, 01 câu nghị luận văn học.
- Phần kiểm tra năng lực đọc – hiểu, HS không trình bày dài dòng, chỉ trả lời trọng tâm vào nội
dung câu hỏi một cách ngắn gọn.
4. Một số đề luyện tập:
ĐỀ 1.
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau :
(1) Sau Tết Nguyên Đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng. Cây cối đều nhú lộc
non. Rừng xanh ngắt và ẩm ướt. Thiên nhiên vừa trang trọng vừa tình cảm. Điều ấy một phần là
do mưa xuân

(2) Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân giẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không
khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì
thật tuyệt thú. Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch
bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da.
(3) Chính dịp đó ông Diểu đi săn.
(4) Ý nghĩ đi săn nảy sinh khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai
nòng. Khẩu súng tuyệt vời, nhẹ bỗng, hệt như một thứ đồ chơi, thật nằm mơ cũng không thấy
được. Ở tuổi sáu mươi, đi săn trong rừng vào một ngày xuân kể cũng đáng sống.
…
(5) Ông Diểu thấy buồn tê tái đến tận đáy lòng. Ông nhìn cả hai con khỉ và thấy cay cay
sống mũi. Hóa ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề. « Thôi tao phóng
sinh cho mày ! » - Ông Diểu ngồi yên một lát rồi bỗng đứng dậy nhổ bãi nước bọt dưới chân
mình. Lưỡng lự giây phút rồi ông vội vã bước đi. Hình như chỉ chờ có thế, con khỉ cái vọt ngay
ra khỏi chỗ nấp, chạy vội đến con khỉ đực nằm.
(6) Ông Diểu rẽ sang một lối đi khác. Ông muốn tránh sẽ gặp người. Lối này đầy những
bụi gai ngáng đường nhưng hoa tử huyền nhiều không kể xiết. Ông Diểu dừng lại sững sờ. Loài
hoa tử huyền cứ ba chục năm mởi nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn.
Hoa này màu trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi
rừng kết muối, đấy là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc.
(Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp, Tập truyện Tình yêu, tội ác và trừng phạt, NXB Trẻ, 2012)
Thực hiện các yêu cầu :
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Ở đoạn (1), vẻ đẹp của thiên nhiên hiện lên qua những hình ảnh nào?
Câu 3 (0,5 điểm). Chỉ ra 01 phép liên kết trong những câu văn sau: Loài hoa tử huyền cứ ba
chục năm mởi nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn.
Câu 4 (1,0 điểm). Tại sao tác giả lại cho rằng: Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải
hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da ?
Câu 5 (1,0 điểm).Việc ông Diểu cầm súng đi săn gợi cho anh chị suy nghĩ gì?
Câu 6 (0,5 điểm). Theo anh/chị chi tiết: Ông Diểu thấy buồn tê tái đến tận đáy lòng. Ông nhìn
cả hai con khỉ và thấy cay cay sống mũi khắc họa tâm trạng của ông Diểu như thế nào ?
Câu 7 (0,5 điểm). Hoa tử huyền nở trên đường ông Diểu đi về theo anh/chị mang ý nghĩa gì?
Câu 8 (0,5 điểm). Từ văn bản, anh/chị hãy nêu quan điểm của bản thân về cách con người nên
ứng xử với thiên nhiên.
II. VIÊpT (4 điêqm)
Anh/ chị hãy viết một bài nghị luận phân tích, đánh giá về chủ đề và một số nét đặc sắc
nghệ thuật của đoạn truyện trong phần Đọc hiểu.
……………………………………………………………..
ĐỀ SỐ 2
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản:

VẺ ĐẸP BẤT DIỆT CỦA TÌNH NGƯỜI, CỦA KHÁT VỌNG SỐNG (Về truyện ngắn Vợ
nhặt của Kim Lân)
(PGS.TS Lê Quang Hưng)
1. Một chuyện khó khăn bậc nhất lại được thực hiện một cách nhẹ nhàng, chóng vánh bậc
nhất. Việc lẽ trang trọng vô cùng lại diễn ra trong đùa cợt lạ lùng. Ấy có lẽ là cảm nhận rõ rệt đầu
tiên khi ta đọc Vợ nhặt của Kim Lân.
Lạ và bất thường quá chứ: Một anh chàng ngụ cư nghèo khổ, xấu trai, từ thuở cha sinh
mẹ đẻ đến giờ chưa từng được một người con gái nào thèm để ý đến, thế mà bỗng dưng được
một người phụ nữ theo về nhà làm vợ hẳn hoi. Càng lạ hơn nữa là Tràng nhặt vợ về giữa những
ngày đói kém, giữa khi cái chết vì đói còn rập rình đe dọa. (...) Tính chất độc đáo của tình huống
truyện gắn với cái tên “Vợ nhặt”. Nếu đặt “Nhặt vợ” thì “nhặt” là động từ, danh từ “vợ” làm bổ
ngữ. Điều đó có tính chủ động, được tính toán, có “kế hoạch” trước. Còn “Vợ nhặt”? Động từ
“nhặt” được tính từ hóa làm chức năng định ngữ. Nó là sự bị động, không hề được biết trước. Ai
mà biết được mình sẽ nhặt được cái gì! Vợ mà lại nhặt - như tình cờ bắt được một thứ của rơi của
vãi ngoài đường. […]
Lạ và bất thường quá chứ: chỉ hai lần tình cờ gặp gỡ, chỉ mấy câu nửa đùa nửa thật mà
người đàn bà nọ đã bám chằng lấy Tràng, đã sẵn sàng trao thân gửi phận nơi người đàn ông chưa
hề biết cửa nhà, gia cảnh.(…) Viết Vợ nhặt, Kim Lân đâu nhằm tái hiện nhiều bức tranh hiện
thực đói khát thê thảm mùa xuân Ất Dậu 1945 nhưng chỉ qua một số chi tiết, hình ảnh đầy sức
ám ảnh, tác phẩm khiến người đọc khó thể quên những ngày tháng nghiệt ngã ấy. Có lẽ chưa
từng có và sẽ không bao giờ có nữa hình ảnh bữa ăn sáng đón nàng dâu thảm hại như thế. Một
nồi cháo lõng bõng, một lùm rau chuối thái rối, một ít muối… mấy thứ ấy lại bày trên một chiếc
mẹt rách.
2. Chuyện thế đã lạ. Nhưng nếu câu chuyện vợ nhặt chỉ lạ đến thế thì thiên truyện đâu đã
xứng danh là “thần bút”. Chuyện đùa cợt mà thành nghiêm túc. Tình huống ngẫu nhiên mà toát
lên vẻ tự nhiên, lẽ tất yếu - ấy là cảm nhận rất tự nhiên mà tác phẩm đem đến cho chúng ta. Theo
tôi, Vợ nhặt cùng một lúc chứa đựng hai nghịch lí thú vị: Chuyện lẽ ra nghiêm túc lại diễn ra
như một trò đùa; Chuyện đùa, “tầm phơ tầm phào” mà trở nên nghiêm túc, trang trọng, mà được
thực hiện bằng tất cả niềm vui sống, bằng khát vọng hạnh phúc chính đáng. Những con người

nghèo khổ ấy đến với nhau, cưu mang nhau một cách thât tự nhiên bằng cái đạo lí tốt đẹp ngàn
đời của dân tộc “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. […]
Nỗi lòng những người nghèo khổ trong hoàn cảnh đói khát nghiệt ngã được Kim Lân
diễn tả thật tinh tế, cảm động qua nhiều chi tiết thú vị. Nhiều khi tác phẩm “sống” nhờ chi tiết.
Một nhà văn được nhớ lắm lúc do vài chi tiết thật ấn tượng. Niềm vui của người đàn ông nghèo
khổ, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa hề được một người con gái nào thèm để ý đến bỗng
dưng được vợ toát ra trên gương mặt, nơi ánh mắt, nụ cười: “Mặt hắn có một vẻ gì phởn phơ
khác thường. Hắn tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Niềm vui trong tinh
thần hiển hiện thành cảm giác da thịt, phản ứng thân thể: “Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng
thấy ở người đàn ông ngheo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn
tay vuốt nhẹ trên sống lưng” (…) Phải chăng Kim Lân viết các chi tiết ấy bằng chính kỉ niệm, sự
từng trải của mình. Không phải là nhà văn của đồng đất nguyên thủy, gắn bó với người dân quê
từ trong máu thịt không thể viết nổi những đoạn văn như thế. […]
3. Đọc Vợ nhặt, tôi cứ “vẩn vơ” về vẻ đẹp của người phụ nữ, về thiên tính phụ nữ. Phụ
nữ là những người được tạo hóa sinh ra để yêu thương và để được thương yêu. Hiếm bà mẹ giàu
lòng bao dung, nhân hậu như bà cụ Tứ. Cũng không nhiều người phụ nữ ý tứ, biết điều như
người vợ nhặt – chị ta là người đáng thương, đáng trọng chứ không hề đáng ghét, đáng khinh.
Dù chỉ xuất hiện trên vài trang truyện ngắn, nhân vật bà cụ Tứ để lại trong chúng ta
những ấn tượng khó thể phai mờ. Phải tỉnh táo lắm, phải bao dung lắm mới có được ý nghĩ này:
người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới
có vợ được ... Vậy là bà cụ Tứ đã đặt người phụ nữ kia cao hơn anh con trai mình. Bà cụ thương
con trai thì đã đành nhưng thật vô cùng nhân hậu khi thương luôn cả người con dâu nhặt [... ]
Nói tới tình thương con sâu sắc của người mẹ nghèo, khó thể quên hình ảnh bữa cơm
ngày đói với chi tiết nồi cháo cám. (...) Chi tiết nồi cháo cám khiến ta càng thấm thía tình cảnh
đói khổ thê thảm của người dân lao động lúc bấy giờ, càng thấm thía tình thương con thật tội
nghiệp nhưng cũng thật đáng kính trọng của bà cụ Tứ.
Vẻ đẹp thiên tính nữ, cái nhìn trân trọng đối với người dân lao động nghèo khổ của Kim
Lân được thể hiện sâu sắc qua nhân vật người vợ nhặt. Xuất hiện ít thôi, nhưng nhân vật này góp
phần không nhỏ làm nên giá trị hiện thực lớn lao, ý nghĩa nhân đạo sâu sắc của thiên truyện.[…]
Nếu cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là cơn bão táp lịch sử lớn thì đêm trước cơn
bão ấy dân tộc ta phải trải qua một không khí ngột ngạt, oi nồng. Đó chính là bối cảnh hiện thực

