Ong mật vàc dụng chữa bệnh!
Càng ngày các nhà y học và nuôi ong ng phát hiện thêm nhng tính chất chữa
bệnh qu của sản phẩm ttổ ong: mật ong, sữa ong chúa, keo ong, nọc ong và
phấn hoa. Vì vy, ngày nay, các sn phẩm từ tổ ong kng chđược dùng trong y
học ctruyền của một số nước mà n được sdụng ngày ng nhiu trong y học
hiện đại
Mật ong
Y học ngày nay đã thừa nhn mt ong có tính kng khuẩn và chống nm, nhưng
không tác dụng chống u, bướu. Dù nguồn gốc thế nào, các loại mật ong khác
nhau đều có những đặc tính chung là cung cấp năng lượng, phục hồi sức khoẻ và
chống stress. Ngoài ra, mi loại mật ong còn có tính chọn lựa đối với từng cơ quan
để đạt được tác dụng chữa bệnh tốt n.
Gần đây, c nhà nuôi ong y học phương y nhận xét rằng mật ong từ hoa
Cxạ hương có tác dụng kháng sinh mạnh. Tác dụng đó chủ yếu đối với đường
tiêu hoá, n mật ong từ y Oải hương lại được đặc biệt chỉ định trong các bệnh
đường hấp và ngoài da. Rồi người ta biết thêm rng mật ong thoa cây Xương
rồng, cây Thầu dầu y Đi kích được khuyên dùng trong bnh thấp khớp của
bệnh nhân nhậy cảm đối với lạnh, mật ong từ cây Quyết minh rất ích cho người
mắc bệnh đường tiết niệu (thận và ng quang).
Theo các nghiên cu gần đây ở nước ngoài, mật ong từ hoa cây Tràm, Bạch đàn có
tác dụng tốt cho đường hấp và thầy thuốc khuyên dùng trong các bệnh cảm
cúm, viêm phế quản, ho, viêm xoang, hen phế quản. Mật ong từ hoa Cam, Quýt
tác dụng tốt đi với hệ thần kinh, được xem một loại thuốc an thần tuyệt hảo.
Mật ong thoa Hướng dương tác dụng hấp thu Cholesterol dư thừa trong u
là v thuốc quý cho bệnh nhân xơ vữa động mạch và huyết áp cao.
Một nhà nuôi ong giàu kinh nghim Đà Nẵng đã sdụng Mật ong để chữa bệnh
sỏi thận và si bàng quang có hiu quả: bệnh nhân được cho uống 10g mt ong hoà
vào dịch một quả chanh tươi với một ít nước đun i để nguội. Ngày ung hai lần
như vậy vào buổi sáng và ti. Ông cũng đã chữa khỏi chứng rối loạn tiền đình cho
bệnh nhân và bn thân mình vi liều 1 thìa canh mật ong, 3 lần trong ngày khối
lượng mật ong s dụng là 2 lít.
Keo ong
Các nhà khoa học Nga đã phát hiện tác dng qcủa keo ong là kìm m s ng
nhanh của tế o ung thư, khi u. Họ sdụng keo ong dưới dạng dung dịch nước
rượu 40% 96% đnghiên cu trên c vi trường nuôi cy tế bào Phoblastoid
(tế bào khi u lâm ba Burkitt) và nhn thấy dung dịch rượu 40% của keo ong có tác
động kìm hãm sng sinh của các tế o ung trõ nhất và làm ngng sự ng
sinh của các tế bào ung ty c nồng độ 50mkg/ ml cao hơn, gần với các
nồng độ hoạt tính ca các thuốc chống ung t Cyclophosphan 5 -
Eulaoricacyl. Để tiến hành các thí nghim trên động vật trên m ng, m
1976 và năm 1989, các thầy thuốc Liên (cũ) dùng dung dịch chiết xuất tkeo
ong đã thu được những kết quả dương tính trong việc kìm m tăng sinh tế bào
khối u. Các tác gicũng đã khuyến cáo việc dphòng và điều trị u hạch quanh
niệu đạo và ung ttuyến tiền liệt bằng cách sử dụng có hệ thống kéo dài rượu
keo ong 40% hay chứa 10-15% keo ong vi liều một thìa ptrước khi đi
ngđã cho được kết quả tốt. Tác dụng điều trị y được ng lên khi kết hợp với
uống nước sắc các cây thuốc có tác dụng chống ung thư như rễ cây Mu đơn, y
Bạch chỉ, rễ y Đại hồi hương, quả y Đỗ tùng, rhoành y Bạch chỉ, cXạ
hương bò, hoa cây Cam cúc thường ...
m 1995, trong i viết “Sức khoẻ của con người và các sn phẩm của tổ ong”,
Tiến Nga Hakim đã cho rng c gốc tự do” là nhng chất thải của quá trình
trao đổi chất và stấn công ADN tế bào bởi các gốc tự do thể là ngun gốc của
các bnh ung thư, những rối loạn chuyển hoá và sphát triển cứng động mạnh
và sgià ci của tổ chức. Keo ong và các sản phẩm của tổ ong (sữa ong chúa, thức
ăn khô của ong, phấn hoa, mật ong) là nhng chất có tính chất quan trọng bảo vệ tế
bào bi tác dụng chống oxy hoá và chng các gốc tự do.