BÀI MÃU SỐ 1:
Ngày 2.9.1945 một sự kiện lớn, một dấu ấn không phai mtrong lịch sử dân tc, trong
tâm trí ca người dân Việt Nam. Hơn sáu mươi năm đã trôi qua nhưng mỗi khi xem lại
những thước phim liệu chúng ta lại hồi hồi như đang đứng giữa Quảng trường Ba Đình
năm y lại ng rưng cảm giác xúc động vui sướng, tự hào khi nghe giọng Bác trầm ấm”
Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” khi đọc lời tuyên ngôn độc lập - mội văn kiện lịch sử đặc
biệt – một áng văn chính luận bất hủ.
Toàn văn bản tuyên ngôn độc lập không dài, chỉ gói gọn trong khoảng ca đầy mt ngàn
chữ những cùng chặt chẽ và súc tích. Bản Tuyên ngôn chia làm ba phần rõ rệt, mỗi phần
một ý, liền mạch với nhau theo một bố cc chặt chẽ mạch lạc.
Phần đầu, bn Tuyên ngôn nêu lên những chân về nhân quyền và dân quyền. Tác giả
trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới, bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ và bn
Tuyên ngôn Nhân quyềnDân quyền của Pháp là có dụng ý sâu sắc. Bản Tuyên ngôn Độc
lập của ra đời sau khi nước đấu tranh giành độc lập thành công. Bản Tuyên ngôn
Nhân quyền Dân quyền cũng ra đời trong chiến thắng của cách mạng Pháp, cuộc cách
mạng của những thị dân nông dân chống áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản Tuyên
ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lí, kết quả của những cuộc cách mạng có
nh chất tiên phong của nhữngớc ảnh hưởng lớn trên thế giới, khiến cho không ai
thể phủ nhn tính đúng đắn của chúng. Ta ththấy sự hiểu biết cân nhắc càng
của vị Chủ tịch khi trích dẫn những chân lí đó. Hơn thế Người còn vận dụng sáng tạo:
"Suy rộng ra câuy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân
tộc nào cũng quyền sống, quyền sung sướng quyền tự do”, người đã đi từ khái niệm
con người sang khái nim dân tộc một cách tổng quát cũng đy thuyết phục. Điu đáng
i n nữa ngay đon đầu này, ng chính lời trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân
quyền Dân quyn đã tora chiến đấu mạnh mvà tiềm tàng của hành động trái ngược
hẳn: “Thế hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng cờ tự do, bình đng, bác ái,
đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta". ràng qua cách lập luận như thế, một sự thật
được phơi y cách hiển nhiên bản chất của thực dân Pháp Việt Nam trái hẳn với nhân
đạo và chính nghĩa. Kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn dầy sức thuyết phục:
“Đó những lẽ phải không ai chối cãi được”.
VĂN M
U L
P 12
PHÂN TÍCH BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Mở rộng hơn, phần thhai liệt ngắn gọn đy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã
y ra trên đất nước ta trong suốt gần một trăm năm đô hộ. Trước tiên, chúng tước đoạt tự
do chính trị, “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”. Kế đó là “chúng
thi hành những luật pháp dã man, ngăn cản việc thống nhất nước ncủa ta, đngăn cản
dân tộc ta đoàn kết...” Cđoạn dày đc những câu liệt kê định tội rắn rỏi, tố cáo toàn din
tội ác a bọn cướp nước. Từng câu, từng chữ đã nêu bật bản chất bọn xâm lược. Thực dân
Pháp đã thi hành chính sách ngu dân, tiêu diệt văn hoá, chính muốn diệt trừ tận gc bn
sắc dân tộc, ý thức lịch sử truyền thống dân tộc bằng cách “lập ra nhà nhiều hơn
trường học”. Chúng đàn áp thẳng taydã man những người yêu ớc, "tắm các cuộc khởi
nghĩa của ta trong những bể máu", cướp đoạt trắng trợn và bt công quyền thiêng liêng nhất
của con người: quyền được sống. Đó là thực chất khai hoá, cái gọi là đem văn minh đến cho
người bn xmông muội. Chúng còn "bóc lột dân la đến xương tu... cướp không ruộng
đất, hầm mỏ, nguyên liệu... đặt ra hàng trăm thứ thuế lý, làm cho dân ta trở nên tin
cùng... chúng bóc lột công nhân ta một cách cùng n nhẫn". nh động của chúng thật
hết sức vô nhân đạo và chánh nghĩa. Hơn nữa, khi bị Nhật ớc khí giới, chúng đã bỏ chạy,
đầu hàng, bán nước hai lần cho Nhật. Đó là thực chất bảo hộ của chúng, sự thật lịch sử đã t
cáo bản chất dối trá, hèn nhát của bọn xâm lược.
Chỉ trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu, tác giả đã toang chiêu bài "khai hoá, bo
hộ" giả dối bịp bợm mà bây lâu chúng dùng để che đậy những việc làm xu xa độc ác. Tác
giả dùng liên tiếp những sắc thái từ cao độ: hắn, tuyệt đối không cho, man, thẳng tay
chém giết, tắm... trong những bmáu, bóc lt đến tận xương tu.... ngôn ngữ linh hoạt, sắc
bén, đầy hình ảnh cụ thể, chính xác, gợi tả, tthái độ căm gin sâu sắc trước những tội ác
man rợ đó. Điệp từ chúng xuất hiện dày đặc, lồng trong những câu song hành, đồng nghĩa,
như những nhát búa đập thng vào lớp vỏ bc hoa bọn thực dân vẫn tuôn ra bấy lâu, tạo
những âm vang sóng dội, nhn mạnhtrở đi trở lại, nkhắc sâu ghi nhớ, như kết án luận
tội đồng thời tỏ ra sức mạnh của chúng ta, sức mạnh của chính nghĩa. Đối lập với nhng
hành động phi nhân đó của thực dân Pháp cuộc đấu tranh đầy nhân đạo chính nghĩa của
nhân dân ta. Từ những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp như khủng bố Việt Minh, giết
chính trị phạm, tác giả dẫn dắt chúng ta đến những hành động nhân đạo, khoan hồng của
quân dân ta: giúp nhiều người Pháp chạy qua biên thu, cứu nhiều người Pháp ra khỏi
nhà giam Nhật, bo vệ tính mng tài sản cho họ. Điệp ngữ S thật là... đã khẳng định
chiến thắng ca ta: ta đã lấy lại đất nước ttrong tay Nhật, đất nước mà thực dân Pháp đã
cướp lấy rồi bán cho phát xít Nhật. Chúng ta chiến đấu chống phái xít, đứng vphía mặt
trận dân chủ chống phát xít, vai trò vị trí xứng đáng trước thế giới chính do sức mạnh
tự chủ tự thân của dân tộc. Như vậy các nước tiến bộ trên thế giới phải đồng tình ủng hộ
quyền được hưởng tự do độc lập một cách chính đáng của dân tc ta. Câu tuyên bố “Pháp
chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” ngắn gọnc tích, nghe như một lời reo vui. Câu
y cũng có thể làm một ví dụ tiêu biểu cho văn phong Hồ Chí Minh là ngắn gọn chuẩn xác
đầy uy lực, giàu ý nghĩa. Tuyên b với thế giới về việc thành lập của một đất nước mới
nhưng đã phải chịu nhiều đau thương, tác giđã rất đanh thép triệt để khi dùng những
cụm từ thoát li hẳn, xoá bỏ hết, Xóa bỏ tất cả để nhn mạnh sự phủ định tuyệt đi mọi quan
hệ lệ thuộc với Pháp, chặt nốt những mắt xích cuối cùng ràng buộc Việt Nam, để đất nước
y đứng lên trong tự do hoàn toàn, y dựng một chế độ mới.
Tự do vừa giành được thật vô giá. Để được , nhân dân ta đã phải đánh đổi bằng bao
nhu hi sinh, bao nhiêu xương máu tâm huyết. Thế mà vẫn còn bao nhu thù trong giặc
ngoài lúc y giờ đang lăm le bóp chết sự sống mi hình thành của nước Việt Nam non trẻ.
Hiểu được điều đó, Chủ tịch HChí Minh đã thay mặt nhân dân nêu n lời tuyên bố trịnh
trọng và quyết liệt “Nước Việt Nam quyền ởng tự do độc lập sự thật đã thành một
ớc tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần lực lượng nh
mạng của cải đgiữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Đó chính là tinh thn của cmột
dân tộc anh hùng quyết hi sinh tất cả đgiữ lấy đc lập, tự do. Cụm ttự do độc lập
được lặp lại ba lần, như khắc sâu vào tâm trí muôn triệu người dân Việt, vang lên mạnh mẽ
và rung động như tiếng kèn xung trận hào hùng. Lời tuyên bố nghe như một lời thề sắt đá và
thiêng liêng, vừa khích lệ nhân dân la vừa cảnh báo kè thù.
Đây là bản Tuyên ngôn độc lập lần đầu tiên tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một nhà
ớc mới, đánh du một kỉ nguyên mi, kỉ nguyên độc lp tự do cho một dân tộc bất khuất
kiên cường. đánh dấu thắng lợi đầu tiên của một nước châu Á. Mặt khác, bn Tuyên
ngôn còn một áng văn chính luận mẫu mực, đanh thép và lôi cuốn ở lí lẽ và lập luận chặt
chẽ, từ ngữ, hình ảnh dcảm, chính xác, mạnh m. câu văn gọn mà sắc, giản d
hùng hồn, đã vừa cảnh o, vạch mặt kẻ thù, vừa khích lệ, động viên tinh thần nhân dân
tranh thủ sự đồng tình quốc tế.
Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch H Chí Minh vừa kế thừa đưc
những chân cùa lịch sử dân tộc thế giới vừa mang tính thời đại. Bản tuyên ngôn còn
đồng thời mang tính nh lịch sử mang tính văn chương. Bởi thế mãi mãi áng văn
bất hủ, là nim tự hào của mỗi người Việt Nam yêu nước.
BÀI MÃU SỐ 2:
Trong sự nghiệp sáng tác của HChí Minh, thơ và truyện chchiếm một phần nhỏ còn chủ
yếu văn nghị luận, những tác phẩm chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp chính trị cuả Người.
Trong snhững tác phẩm của Bác những kiệt tác sánh ngang với các thn cổ hùng văn
của dân tộc thì Tuyên ngôn Đc lập là tác phm tiêu biểu nhất.
Tác phẩm có giọng văn hùng hồn thống thiết, có lí luận chặt chẽ sắc bén, có sức thuyết phục
cao đối với người đọc và người nghe- Bản Tuyên ngôn Độc lập kết qucủa bao nhiêu
máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những con người anh hùng Việt Nam trong
nhà tù, trong trại tập trung trong những hải đảo xa i, trên y chém, trên chiến trường.
“Bản tuyên ngôn Độc lập” kết qucủa bao nhiêu hi vong, gắng sức tin tưởng của hơn
hai mươi triệu nhân dân Việt Nam (Trần Dân Tiên).
Tuyên ngôn Đc lập mở đầu nêu thẳng vấn đề. Người nêu những căn cứ pháp lí, “những
lẽ phải không ai chi cãi được”. Đó là những câu tuyên bố nổi tiếng được c rút ra từ hai
bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mĩ. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ:
“Tất cả mọi người đều sinh ra… mưu cầu hạnh phúc”. Để m nổi bật nh phổ biến của
những lẽ phải, Người còn nêu những li trong Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền của
Pháp m 1791: “Người ta sinh ra… về quyn lợi). Cách nêu dẫn chứng như thế vừa khéo
léo vừa kiên quyết. Khéo léo tỏ ra tôn trọng chân chung chân y của các ớc
đang kthù y ra. Cách nêu dn chứng y cũng hàm chứa một sự phê phán. Thực dân
Pháp và đế quốc Mĩ- những kẻ xâm lược đã chà đạp lên chân lí, chà đạp lên lương tâm và lý
tưởng của cha ông chúng. Đó là cách dùng lí lẽ của kẻ thù để chống lại kẻ thù, dùng gậy ông
đập lưng ông. Hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đều nhấn mnh quyền con người, Bác nói
thêm vquyn dân tộc. Câu nói của Người mở đầu cho trào lưu giải phóng dân tộc trên
khp thế giới. Đồng thời, đặt Bản tuyên ngôn của nước ta ngang hàng với hai bản tuyên
ngôn đã nêu.
Bác lập luận như vậy là để kết tội thực dân Pháp. Những lời bất hủ trong hai bản tuyên ngôn
của Pháp và Mĩ đã trở thành cơ sở pháp để Bác kết tội thực dân Pháp. “Thế mà đã hơn 80
năm naynhân đạo chính nghĩa” Sau khi kết thúc một cách khai quát ác ca thực
dân Pháp, bản tuyên ngôn nêu lên những dẫn chứng cụ thể đlật mật n“bảo hộca thực
dân Pháp trước toàn thnhân loại: “Về chính trị, chúng tuyt đi không chodân chủ
nào”. Lời ktội của tác giả ng hồn và đanh thép. ch lập luận trùng điệp như: “Chúng
thi hành…”, “Chúng lập ra…”. “Chúng thẳng tay chém giết…” thể hiện được tội ác chồng
chất ca thực n Pháp đi với nhân dân ta. ch dùng hình ảnh của tác giả làm nổi bật sự
tàn bạo ca thực dân Pháp: “Chúng thẳng tay chém giết những người yêuc… chúng tắm
các cuộc… bể máu”.
Về kinh tế, Bác cũng kết tội thực dân Pháp tkhái quát đến cụ thể “Chúng c lột dân ta
đến… tiêu điều”. Bác quan tâm đến những hạng người như: “dân y dân buôn trở nên
bần cùng”, “chúng không cho các nhà sản ta ngóc đầu n”. Lập lun như vậy Bác
muốn tranh thủ sự ủng hộ của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc bo vệ nền Độc
lập. Cả đon văn tác giả chỉ dùng một chủ ngữ “chúng” đ chỉ thực dân Pháp, nhưng vị ng
thì luôn thay đổi: “thi hành”, “lập ra”, “thẳng tay chém giết”, “tắm”… chỉ một ke thù là thực
dân Pháp nhưng tội ác của chúng gây ra trên đất nước ta cùng nhiều. Cách lập lụân đanh
thép cùng với những dn chứng cụ thể khiến kẻ thết đường ln tránh tội ác.
Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp y ra nạn đói khủng khiếp năm 1945: “Mùa thu năm
1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương đmthêm căm cứ đánh đồng minh thì
thực dân Pháp quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nht. Từ đó, nhân dân ta chịu hai
tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối
năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói”.
Tác giả ng không bỏ xót nhữung tội ác khác của bọn thực dân Pháp như “trong năm năm
chung bán… cho Nhật”, tội thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, tội “giết nốt số đông tù
chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Người kết tội thc dân Pháp một cách hùng hồn đanh thép nvậy nhm phơi y bản
chất tan bo, man của thực dân Pháp, lột mặt nkhai hoá’, bảo hộcủa chúng trước
nhân dân thế giới, khơI lòng căm thù của nhân dân ta với thực dân Pháp. Tác gibiếu dương
sức mạnh dân tộc tỏngcông cuộc chống thực dân phong kiến giành lấy nền Độc lập
“Pháp chạy, Nhật hàng…chế độ dân chcộng hoà”. Đoạn văn này diễn tả đy hào khí. Chỉ
9 chữ “Pháp chy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, Bác dựng lại cả một giai đoạn lịch
sử đy biến động và cực oanh liệt của dân tộc ta. Biểu dương truyền thống bất khuất của
dân tộc, tác giả nhằm ch thích tinh thần tự hào dân tc, kích thích ý chí chiến đu để nhân
dân ta quyết tâm chống lại âm mưu của thực dân Pháp.
Tiếp theo, Người nêu sở chính nghĩa của việc thành lập nước Việt Nam mi. Việt Minh
tổ chức cách mng của toàn bộ dân tộc Việt Nam. Việt minh đã đứng về phe đồng minh,
đã chống lại thực dân Pháp phát xít Nhật đã giành chính quyền từ tay Nhật. Hai lần
Người nhấn mạnh nền Độc lập của đất nước bng những câu văn điệp ngữ mạnh mẽ: “Sự
thật là…”.
Trên cơ sở ấy, Người tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố thoát li
hẳn quan h với thực dân Pháp, xoá bỏ trên đất nước Việt Nam…”
Cuối cùng thay mặt cho cmột dân tộc vừa giành được tự do độp lập. Người nêu lời th
“quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cảI để giữ vững quyền tự do Độc
lập y”- Tuyên ngôn Độc lập là kiệt tác ca H Chí Minh. Bằng tâm huyết và tài hoa, Người
đã thể hiện được khí phách của một dân tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực dân phong