BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VŨ LƯU CHINH

DỰ ÁN ĐẦU TƯ: CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN BẢO LÂM - HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:

PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN

Hà Nội – Năm 2012

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học,

độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và

có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

1

Vũ Lưu Chinh

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy giáo, cô

giáo Viện Kinh tế và Quản lý, Viện đào tạo sau đại học - Trường Đại học

Bách Khoa Hà Nội. Xin cảm ơn sự trực tiếp hướng dẫn tận tình của TS.

Phạm Thu Hà trong suốt quá trình làm luận văn này. Cảm ơn sự đóng góp

2

của các đồng nghiệp, của gia đình để bản báo cáo này được hoàn thiện hơn.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Nghĩa của cụm từ viết tắt

Phương thức xây dựng – vận hành – chuyển giao 1 BOT

3 CSĐT Cơ sở đào tạo

4 ĐTXD Đầu tư xây dựng

5 GĐ Giai đoạn

6 HSSV Học sinh sinh viên

7 NĐ- CP Nghị định của Chính phủ

8 NCTKT Nghiên cứu tiền khả thi

9 NCKT Nghiên cứu khả thi

10 ISO Tiêu chuẩn quản lý chất lượng Quốc tế

11 ODA Vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp

12 QĐ-BXD Quyết định Bộ Xây dựng

13 QĐ-BCN Quyết định Bộ Công nghiệp

14 QHĐTPT Quy hoạch đầu tư phát triển

15 TCCN Trung cấp chuyên nghiệp

16 TKKT Thiết kế kỹ thuật

17 TKKTTC Thiết kế kỹ thuật thi công

18 TT-BTC Thông tư của Bộ Tài chính

19 TT-BXD Thông tư Bộ Xây dựng

20 TW Trung ương

21 UBND Uỷ ban nhân dân

3

22 XDCB Xây dựng cơ bản

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. 1

LỜI CẢM ƠN................................................................................................... 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................ 3

MỤC LỤC......................................................................................................... 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU............................................................................... 6

LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................... 6

CHƯƠNG 1 .................................................................................................... 10

CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG .................................................................................................... 10

1.1 Dự án đầu tư ...........................................................................................10

1.1.1 Khái niệm dự án...............................................................................10

1.1.2 Khái niệm dự án đầu tư ...................................................................11

1.2 Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả đầu tư dự án.....................................13

1.3 Phát triển bền vững và nguyên tắc chung .............................................19

1.3.1 Khái niệm chung về phát triển bền vững .........................................19

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững .......................................25

1.3.3 Các đặc điểm của Thủy điện ảnh hưởng đến phát triển bền vững 31

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN

BẢO LÂM....................................................................................................... 37

2.1 Tổng quan về nguồn điện hiện nay tại Việt Nam. .................................37

2.2 Sơ lược về Thủy điện ở Việt Nam ..........................................................38

2.3 Tổng quan về dự án thủy điện Bảo Lâm ...............................................43

2.3.1 Giới thiệu chung.................................................................................43

2.3.2 Các thông số chính của dự án Thủy điện Bảo Lâm .............................44

2.3.2 Ý nghĩa của việc đầu tư của công trình thuỷ điện Bảo Lâm. ...............48

2.4 Phân tích hiệu quả tài chính dự án thủy điện Bảo Lâm.......................52

4

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN

BẢO LÂM VÀ PHÂN TÍCH DỰ ÁN DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁT TRIỂN BỀN

VỮNG ............................................................................................................. 59

3.1 Tổng quan về kinh tế – xã hội ................................................................59

3.1.1 Hiện trạng phát triển kinh tế Việt Nam...............................................59

3.1.2 Các kịch bản phát triển kinh tế...........................................................63

3.2 Phân tích tổng quan hệ thống năng lượng Việt Nam............................73

3.2.1 Tương quan năng lượng – kinh tế giai đoạn quy hoạch trước............73

3.2.2. Tổng quan về cung cầu năng lượng trong giai đoạn 1990-2009 ........77

3.2.3. Tổng quan về cung cầu năng lượng trong giai đoạn 2011-2030 ........82

3.3 Đánh giá phân tích hiệu quả kinh tế dự án: ..........................................89

3.4 Các tính toán đảm bảo đầu tư gắn với phát triển bền vững.................93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................ 97

5

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.3.1 Các thông số chính của Thuỷ điện Bảo Lâm ............................... 45

Bảng 2.3.2 Một số các chỉ tiêu đánh giá PTBV của Thuỷ điện Bảo Lâm ...... 50

Bảng 3.1 Tăng trưởng GDP phân theo các ngành kinh tế.............................. 59

Bảng 3.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động ................... 63

Bảng 3.3 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (tăng trưởng nhanh) ................ 66

Bảng 3.4 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (tăng trưởng chậm) ................. 68

Bảng 3.5 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (Phương án cơ sở)................... 71

Bảng 3.6 Tổng hợp chi tiêu kinh tế - năng lượng Việt Nam 2000-2009 ........ 75

Bảng 3.7 Diễn biến khai thác giai đoạn 1990-2009....................................... 76

Bảng 3.8 Diễn biến khai thác dầu thô trong giai đoạn 1990-2009 ................. 77

Bảng 3.9 Khai thác khí giai đoạn 1995-2009 ................................................ 77

Bảng 3.10 Diễn biến xuất nhập khẩu năng lượng giai đoạn 1990-2009......... 78

Bảng 3.11 Diễn biến tiêu thụ năng lượng sơ cấp........................................... 79

Bảng 3.12 Diễn biến tiêu thụ từng loại nhiên liệu cho sản xuất điện ............. 79

Bảng 3.13 Diễn biến tiêu thụ năng lượng cuối cùng...................................... 80

Bảng 3.14 Đánh giá ảnh hưởng của dòng chảy lũ trong các hệ thống sông đến

đồng bằng sông Hồng................................................................................... 93

Bảng 3.15 Tổ hợp W lũ 8 ngày các trận lũ lớn - lũ lịch sử trên lưu vực sông Hồng

..................................................................................................................... 93

6

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Liên tục trong các năm gần đây, sản lượng điện các nhà máy thủy

điện, nhiệt điện Việt Nam không đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế - xã hội,

đặc biệt là vào mùa nắng nóng. Nhu cầu điện năng của Việt Nam là rất lớn,

việc đầu tư xây dựng công trình sẽ bổ sung đáng kể nguồn năng lượng cho

hệ thống điện quốc gia, góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng khoảng 17 

22% /năm của phụ tải cũng như là tiền đề để phát triển kinh tế với tốc độ

tăng trưởng GDP hàng năm là 8,5 – 9%/năm. Xuất phát từ nhu cầu trên nên

hiện nay Chính phủ đang khuyến khích các doanh nghiệp, thành phần kinh

tế đầu tư xây dựng phát triển nguồn điện.

Công trình thủy điện Bảo Lâm với công suất lắp đặt 190MW, hàng

năm sẽ cung cấp điện lượng 761,67 triệu kWh cho hệ thống, sẽ đáp ứng

một phần nhu cầu điện năng trong khu vực, giảm bớt tình hình thiếu hụt

điện năng của hệ thống, đặc biệt là trong giờ cao điểm.

Sau khi xây dựng công trình sẽ tạo ra hồ chứa lớn, góp phần cải thiện

khí hậu môi trường khu vực, tạo cảnh quan du lịch và thúc đẩy phát triển

các ngành du lịch dịch vụ vốn đang là một tiềm năng lớn của tỉnh Cao

Bằng, phát triển ngành nghề nuôi trồng thuỷ sản.

Vì vậy, trên cơ sở kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn trong phạm vi

hiểu biết của mình tôi đã chọn đề tài : “Phân tích đánh giá dự án đầu tư

Công trình thuỷ điện Bảo Lâm tỉnh Hà Giang dưới góc độ bền vững”.

2. Mục đích nghiên cứu

 Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết cơ bản về dự án đầu

7

tư và phát triển bền vững

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

 Thứ hai, phân tích đánh giá hiệu quả dự án và phân tích rủi ro của

dự án Công trình thuỷ điện Bảo Lâm tỉnh Hà Giang dưới góc độ bền

vững

 Thứ ba, phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thủy điện và đề

xuất các giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững thuỷ điện Bảo

Lâm tỉnh Hà Giang

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những lý luận cơ bản về dự án

đầu tư và phát triển bền vững .

 Phạm vi nghiên cứu: dự án Công trình thuỷ điện Bảo Lâm tỉnh Hà

Giang hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thủy điện . Từ đó, đề xuất về

phát triển bền vững thuỷ điện Bảo Lâm tỉnh Hà Giang.

4. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các

học thuyết kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng

hợp, phương pháp so sánh.

Thu thập số liệu: các báo cáo, tài liệu của dự án thủy điện, thông tin trên

báo chí và internet.

5. Những đóng góp của luận văn

Về lý luận : Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận của quản

lý dự án

Về thực tiễn : Xuất phát từ thực trạng dự án Công trình thuỷ điện

Bảo Lâm tỉnh Hà Giang và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thủy điện .Từ

đó, đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững thuỷ điện Bảo

Lâm tỉnh Hà Giang.

6. Kết cấu của luận văn

8

Ngoài phần mở đầu với kết luận, luận văn chia làm 3 chương:

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Chương 1 : Cơ sở phương pháp luận về dự án đầu tư và phát triển bền

vững

Chương 2 : Phân tích và đánh giá hiệu quả dự án Thủy điện Bảo Lâm

Chương 3 : Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Thủy điện Bảo

Lâm, Một số giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững phát triển bền

9

vững của thủy điện.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

CHƯƠNG I

CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG

1.1 Dự án đầu tư

1.1.1 Khái niệm dự án

Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra

sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất trong khoản thời gian xác định với sự

ràng buộc về nguồn lực trong bối cảnh không chắc chắn.

- Các công việc và tổng thể các công việc cần được thực hiện trong một

thời hạn xác định. Dự án có điểm bắt đầu và điểm kết thúc.

- Các nguồn lực để thực hiện các công việc và tổng thể công việc là giới

hạn. Mỗi dự án thường tiêu phí các nguồn lực. Các nguồn lực này càng bị

ràng buộc chặt chẽ khi chi phí cho dự án là một số thành công then chốt.

- Các hoạt động của dự án diễn ra trong môi trường không chắc chắn.

Môi trường của dự án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường

tương lai.

Như vậy, dự án và các hoạt động đang tiến hành có những điểm

chung. Cả hai đều do con người thực hiện và bị giới hạn về nguồn lực, cả

hai đều được lên kế hoạch, thực hiện và kiểm tra. Sự khác biệt ở chỗ các

hoạt động đang được tiến hành có tính chất lặp lại, còn dự án thì có thời

hạn và là duy nhất.

Hoạt động theo dự án là một hoạt động có kế hoạch, được kiểm tra để

đảm bảo cho một tiến trình chung với các nguồn lực và môi trường đã

được tính toán nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định. Dự án là điều

kiện, tiền đề của sự đổi mới và phát triển. Những năm gần đây, số lượng

các dự án tăng lên. Dự án sinh ra nhằm giải quyết những “vấn đề” trên con

10

đường phát triển của một doanh nghiệp, một quốc gia, một khu vực thậm

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

chí trên phạm vi toàn cầu. Dự án cho phép hướng mọi sự nỗ lực có thời

hạn để tạo ra sản phẩm dịch vụ mong muốn. Nhu cầu muốn trở thành hiện

thực phải thông qua hoạt động của con người. Hoạt động khôn ngoan là

hoạt động theo dự án, những hoạt động đã được lên kế hoạch và đủ nguồn

lực để đảm bảo sự thành công.

Các dự án đều có chu trình 4 giai đoạn: Xác định và xây dựng dự án

-Lập kế hoạch - Quản lý thực hiện - Kết thúc dự án.

Công việc trong giai đoạn đầu tiên là nghiên cứu tính khả thi của dự

án nhằm xác định rõ ràng các mục tiêu dự án, xây dựng cơ bản đề xuất dự

án. Đây cũng chính là nội dung của đề tài nghiên cứu: Dự án đầu tư Thuỷ

điện Bảo Lâm tỉnh Hà Giang.

1.1.2 Khái niệm dự án đầu tư

Theo luật đầu tư thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn

trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể,

trong khoảng thời gian xác định.

Như vậy dự án đầu tư có thể xét từ nhiều góc độ khác nhau:

- Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một

cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch

để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định

trong tương lai.

- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử

dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội

trong một thời gian dài.

- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế

hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển

kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ.

- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có

11

liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông

qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.

 Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ

bản sau:

- Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quá

trình nghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội

dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ

kỹ thuật. Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu

tư cần có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn

- Tính thực tiễn: các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xác

định trên cơ sở xtôi xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và

hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư.

- Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù

hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước. Muốn vậy phải nghiên

cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên

quan đến hoạt động đầu tư.

- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của

các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục

đầu tư. Với các dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung

mang tính quốc tế.

 Phân loại dự án đầu tư

 Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư

* Đối với dự án đầu tư trong nước: Để tiến hành quản lý và phân

cấp quản lý, tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án

đầu tư trong nước được phân theo 3 nhóm A, B và C. Có hai tiêu thức

được dùng để phân nhóm là dự án thuộc ngành kinh tế nào? Dự án có

tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ? Trong các nhóm thì nhóm A là quan

12

trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phức tạp hơn

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

cả. Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất,

mặt nước, mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có).

* Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm

A, B và loại được phân cấp cho địa phương.

 Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án: Theo trình tự (hoặc

theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại:

- Nghiên cứu tiền khả thi (hay còn gọi là báo cáo đầu tư)

- Nghiên cứu khả thi ( Hay còn gọi là dự án đầu tư)

 Theo nguồn vốn: Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát,

tín dụng, các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn

nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp

nước ngoài FDI).

1.2 Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả đầu tư dự án

Bản chất của các dự án đầu tư là lợi ích và chi phí của chúng thường

xảy ra vào các giai đoạn khác nhau. Bởi vì một số tiền có được hiện tại

được coi là có giá trị cao hơn cùng một số tiền như vậy nhận được trong

tương lai, các chi phí và lợi ích đến sớm hơn về mặt thời gian cần phải

được được coi như có trọng lượng lớn hơn và các chi phí và lợi ích đến

muộn hơn có trọng lượng thấp hơn. Sở dĩ giá trị lớn hơn được đặt vào có

lợi ích và chi phí hiện tại hơn là tương lai là bởi vì tiền có được bây giờ

cho phép sử dụng để đầu tư có lãi hay tiêu dùng trong khoảng thời gian

giữa hiện tại và tương lai. Do đó, người đi vay sẵn sàng trả lãi suất

dương để có thể sử dụng được vốn, còn người cho vay đòi phải trả được

lãi.

Trong quá khứ, có nhiều tiêu chuẩn khác nhau đã được dùng để đánh

giá kết quả dự kiến của các dự án đầu tư. Nhưng tựu chung lại có bốn

tiêu chuẩn chính. Cụ thể là: tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng, tỷ số lợi ích

13

- chi phí, thời kỳ hoàn vốn, và nội suất thu hồi vốn. Trong bốn tiêu chuẩn

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

này, tiêu chuẩn lợi ích ròng là tiêu chuẩn thỏa mãn nhất, mặc dù tiêu

chuẩn này đôi khi có thể phải điều chỉnh chút ít để tính tới các cưỡng chế

đặc biệt.

Tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng (Net Present Value, NPV)

NPV (Net present value) được dịch là Hiện giá lợi ích ròng hoặc Giá

trị hiện tại ròng, có nghĩa là giá trị tại thời điểm hiện nay của toàn bộ

dòng tiền dự án trong tương lai được chiết khấu về hiện tại. Giá trị hiện

tại ròng của một dự án đầu tư là sự chênh lệch giữa tổng giá trị khấu

hao của các dòng tiền trong tương lai phát sinh từ dự án đầu tư so với giá

trị vốn đầu tư.

NPV = giá trị hiện tại của dòng tiền vào (thu) - giá trị hiện tại của

dòng tiền ra (chi), giá trị này được diễn tả bằng đại số như sau:

Trong đó: n là thời gian hoạt động của dự án. Biểu thức 1/(1+r)t thường

được gọi là hệ số chiết khấu cho năm thời gian.

Khi đánh giá hiệu quả dự án đầu tư bằng Tiêu chuẩn hiện giá lợi ích

ròng (NPV), cần lưu ý:

Quy tắc 1: "không chấp nhận một dự án nào trừ phi dự án này có

hiện giá lợi ích ròng dương khi được chiết khấu bằng chi phí cơ hội của

vốn."

Tuy nhiên nếu xét về mặt lợi ích quốc gia, sự kết hợp giữa kinh tế

và xã hội thì quy tắc trên cần phải được cân nhắc trong điều kiện phát

14

triển bền vững.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Hạn chế của ngân sách

Thông thường chính quyền không thể có đủ vốn ở một mức chi phí cố

định để thực hiện tất cả các dự án có hiện giá lợi ích ròng dương. Khi tình

thế như vậy xảy ra, ta cần phải lựa chọn giữa các dự án để quyết định một

nhóm các dự án mà sẽ tối đa hóa hiện giá lợi ích ròng của các công trình

đầu tư nằm trong giới hạn của ngân sách. Như thế, cách diễn tả thứ hai

của tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng là:

Quy tắc 2: "Trong giới hạn của một ngân sách đã được ấn định, cần

phải chọn trong số các dự án hiện có nhóm dự án nào có thể tối đa hoá

hiện giá lợi ích ròng."

Bởi vì hạn chế ngân sách không đòi hỏi tất cả kinh phí phải được sử

dụng hết, nên quy tắc này ngăn chặn việc thực hiện một dự án có hiện giá

lợi ích ròng âm. Ngay cả khi tất cả vốn của ngân sách không được sử

dụng hết, NPV do số vốn ngân sách này mang lại sẽ tăng lên nếu dự án

có NPV âm bị loại bỏ.

So sánh các dự án loại trừ lẫn nhau

Rất nhiều khi trong công tác thẩm định dự án ta gặp phải những tình

huống phải lựa chọn giữa những dự án thay thế nhau có nghĩa là nếu thực

hiện dự án này thì phải bỏ dự án kia. Vì lý do kỹ thuật, có thể không thể

thực hiện được cả hai dự án. Ví dụ, khi làm một con đường nối hai thị

trấn, có nhiều mức chất lượng khác nhau của con đường này; tuy nhiên

người ta chỉ có thể làm một con đường. Tương tự như vậy, một miếng đất

xây dựng không thể dùng cho hai mục đích khác nhau vào cùng một lúc.

Do đó, vấn đề mà nhà phân tích đầu tư gặp phải là phải lựa chọn trong

những dự án loại trừ lẫn nhau một dự án mang lại hiện giá lợi ích ròng

lớn nhất. Điều này có thể diễn tả dưới dạng quy tắc sau:

Quy tắc ba: "Trong tình huống không bị giới hạn ngân sách, nhưng ta

15

phải chọn một dự án trong số các phương án loại trừ lẫn nhau, ta luôn

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

luôn cần phải chọn dự án sinh ra hiện giá lợi ích ròng lớn nhất."

Giả sử ta phải lựa chọn giữa ba dự án loại trừ lẫn nhau sau:

Dự án I: Hiện giá chi phí đầu tư là 1 triệu đô-la, NPV là $300.000

Dự án J: Hiện giá chi phí đầu tư là 4 triệu đô-la, NPV là $700.000

Dự án K: Hiện giá chi phí đầu tư là 1,5 triệu đô-la, NPV là $600.000

Trong tình huống này cả ba dự án đều có tiềm năng tốt, vì tất cả

đều có hiện giá lợi ích ròng dương. Tuy nhiên, ta chỉ có thể thực hiện

một dự án. Mặc dù phí tổn của phương án J là lớn nhất, nhưng hiện giá

lợi ích ròng NPV của nó cũng là lớn nhất; bởi thế ta cần chọn phương án

này. Mặc dù dự án K có NPV lớn nhất tính trên mỗi đô-la vốn đầu tư,

nhưng điều này không quan hệ gì nếu suất chiết khấu đã phản ánh chi phí

cơ hội của vốn đó. Nếu ta chọn dự án J thay vì dự án K, với phần đầu tư

trội lên 2,5 triệu đô-la, hiện giá lợi ích ròng sẽ tăng thêm $100.000 sau

khi đã tính chi phí cơ hội của giá trị đầu tư trội lên này. Do đó, chọn dự án

J thì tốt hơn.

Khi tiến hành dự án I thay thế dự án J, người ta giả thiết rằng

chúng ta chỉ hy vọng thu được một hiện giá lợi ích ròng bằng 0 khi đtôi

đầu tư số vốn còn lại vào một dự án L nào đó. Việc sử dụng chi phí cơ

hội của vốn làm suất chiết khấu đã tất yếu bao hàm giả thiết này. Do đó,

sự kết hợp của dự án I và một dự án "L" khác sẽ phải tốn 4 triệu thế mà

NPV của kết hợp này sẽ chỉ là $300.000.

Giới hạn khi lựa chọn giữa các dự án có thể thay thế nhau khi áp

dụng tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng.

Hiện giá lợi ích ròng của một dự án không chỉ là một chỉ số để xếp

hạng các dự án, mà nó còn mang ý nghĩa đáng kể hơn. Nó đo lường giá

trị hay thặng dư giá trị do một dự án tạo ra ngoài những gì mà những

nguồn vốn này có thể mang lại nếu chúng không được sử dụng trong các

16

dự án đầu tư này của khu vực công.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Trong một số trường hợp, việc đầu tư vào một phương tiện như một

con đường có thể được thực hiện thông qua một loạt các dự án ngắn hạn

hoặc một hay nhiều dự án dài hạn hơn. Nếu lợi ích thu về từ việc mở

rộng phương tiện này trong toàn bộ đời hữu dụng của nó như thể là một

cơ hội đầu tư có hiện giá lợi ích ròng dương, nó sẽ là không có ý nghĩa

gì khi ta đtôi so sánh hiện giá lợi ích ròng của một dự án cung cấp các

dịch vụ đường sá trong toàn bộ đời hữu dụng của dự án với hiện giá lợi

ích ròng của một dự án cung cấp các dịch vụ đường sá chỉ cho một thời

gian ngắn nếu ta dự kiến rằng dự án ngắn này sẽ được lặp đi lặp lại.

Vấn đề tương tự như vậy cũng nảy sinh trong việc thẩm định các

chiến lược đầu tư khác nhau cho việc sản xuất điện năng. Sẽ là không

đúng khi ta so sánh hiện giá lợi ích ròng của một nhà máy tua-bin khí có

tuổi thọ 10 năm với một nhà máy dùng than có tuổi thọ 30 năm, nếu ta dự

kiến rằng trong suốt thời gian 30 năm này, sự khan hiếm của các nhà máy

điện sẽ dẫn đến suất thu hồi cao hơn bình thường của đầu tư vào năng

suất. Trong trường hợp như vậy, chúng ta phải so sánh các chiến lược đầu

tư có thời gian hoạt động xấp xỉ nhau. Ta có thể so sánh một chuỗi dự án

nhà máy điện tua-bin khí tiếp theo là nhà máy điện loại khác mà chúng có

tổng thời gian hữu dụng bằng tuổi thọ của nhà máy điện dùng than.

Trong hầu hết các tình huống thẩm định dự án, người ta không cho

rằng sự kết thúc của một dự án ngắn hạn sẽ mang lại cho những dự án

tiếp theo đó những cơ hội với suất thu hồi vốn cao hơn bình thường.

Trong trường hợp như vậy, cách thích hợp là so sánh các dự án có thời

gian hữu dụng khác nhau với các biên dạng lợi ích kinh tế ròng của tất cả

các dự án đtôi chiết khấu theo chi phí cơ hội kinh tế của vốn công quỹ.

Khi người ta cho rằng các dự án với đời hữu dụng ngắn sẽ dẫn tới

các dự án kế tiếp có siêu lợi nhuận, thì việc so sánh các dự án có thể thay

17

thế cho nhau với đời hữu dụng khác nhau mà sẽ cung cấp những dịch vụ

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

như nhau vào một thời điểm nhất định sẽ đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh

chiến lược đầu tư của chúng ta để chúng trải dài cùng một khoảng thời

gian xấp xỉ bằng nhau. Một trong những hình thức điều chỉnh như thế là

xtôi xét cùng một dự án được lặp lại theo thời gian cho tới khi các chiến

lược đầu tư thay thế khác có cùng những khoảng thời gian hữu dụng

tương tự.

Ví dụ, giả sử chúng ta muốn làm một con đường và phải xét 3 loại

mặt bề mặt đường:

Phương án Đời hữu dụng của đường

Phương án A Đường rải đá 3 năm

Phương án B Đường tráng nhựa nóng 5 năm

Phương án C Đường tráng nhựa lạnh 15 năm

Nếu ta phải so sánh hiện giá lợi ích ròng của 3 phương án này với đời

hữu dụng 3, 5 và 15 năm thì kết quả sẽ dẫn đến sai lệch. Tuy nhiên, ta có

thể thực hiện một sự so sánh đúng đắn về những dự án này nếu ta xây

dựng một dự án hay chiến lược đầu tư bao gồm 5 dự án đường rải đá, mỗi

dự án được tiến hành vào một thời điểm trong tương lai khi công trình

trước nó đã hư mòn. Do đó, chúng ta có thể so sánh 5 dự án đường rải đá

kéo dài 15 năm, với 3 dự án đường tráng nhựa nóng và với 1 dự án đường

tráng nhựa lạnh có thời gian hữu dụng 15 năm. Cách so sánh này có thể

Chiến lược đầu tư

Đời hữu dụng của đường

Ký hiệu

(a)

15 năm

NPV (A+A+A+A+A) (1-3,4-6,7-9,10-12,13-15)

(b)

15 năm

NPV (B+B+B) (1-5,6-10,11-15)

(c)

15 năm

NPV (C) (1-15)

18

được viết như sau:

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Hay với một cách khác tốt hơn, ta có thể xtôi xét các chiến lược đầu

tư được cấu thành bởi sự kết hợp các dự án với các loại mặt đường theo

thời gian, chẳng hạn như:

Ký hiệu

Đời hữu dụng của đường

(d)

29 năm

(e)

28 năm

Chiến lược đầu tư (A+A+A+B+C) (1-3,4-6,7-9,10-14,15-29) (A+B+B+C) (1-3,4-8,9-13,14-28)

Trong trường hợp này, ta cần phải điều chỉnh thêm chiến lược 29 năm

(d) để làm cho nó có thể so sánh được với chiến lược (e) mà thời gian hữu

dụng dự kiến là 28 năm. Việc điều chỉnh này có thể làm như sau: tính

hiện giá lợi ích ròng của dự án sau khi trừ lợi ích có được vào năm

29 ra khỏi phần tính toán hiện giá lợi ích ròng, đồng thời giảm hiện giá

của chi phí đi một khoản bằng tỷ lệ PVB29/PVB (trong đó: PVB là hiện

giá của tất cả các lợi ích của toàn bộ chiến lược, bao gồm cả năm thứ 29,

và PVB29 là hiện giá của lợi ích có được trong năm thứ 29). Bằng cách

này, hiện giá của chi phí của dự án được giảm bớt đi theo một tỷ lệ

ngang với tỷ lệ dùng để giảm bớt hiện giá của các lợi ích. Do đó, dự án

sẽ thành ra so sánh được về mặt chi phí và lợi ích với chiến lược đầu tư

có đời hữu dụng ngắn hơn.

1.3 Phát triển bền vững và nguyên tắc chung

1.3.1 Khái niệm chung về phát triển bền vững

Trong các xã hội công nghiệp, với sự phát hiện những nguồn

năng lượng mới, vật liệu mới và kỹ thuật sản xuất tiến bộ hơn nhiều,

con người đã tác động mạnh mẽ vào tài nguyên thiên nhiên và môi

trường, can thiệp một cách trực tiếp và nhiều khi thô bạo vào các hệ

thiên nhiên. Để “chế ngự” thiên nhiên, con người nhiều khi đã tạo nên

những mâu thuẫn sâu sắc giữa mục tiêu phát triển của xã hội loài người

19

với các quá trình diễn biến của tự nhiên. Để đạt tới những năng suất cao

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

trong sản xuất nông nghiệp, con người đã chuyển đổi các dòng năng

lượng tự nhiên, cắt nối các mắt xích thức ăn vốn có của thiên nhiên, đơn

điệu hoá các hệ sinh thái, sử dụng năng lượng bổ sung to lớn để duy trì

những cân bằng nhân tạo mong manh.

Đặc biệt là trong nửa cuối thế kỷ 20, sau những năm hồi phục

hậu quả của thế chiến lần thứ hai, hàng loạt nước tư bản chủ nghĩa cũng

như xã hội chủ nghĩa tiếp tục đi sâu vào công nghiệp hoá, nhiều nước

mới được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũng có điều kiện phát triển

mạnh mẽ nền kinh tế của mình. Một số nhân tố mới như cách mạng

khoa học và kỹ thuật, sự bùng nổ dân số, sự phân hoá các quốc gia về

thu nhập đã tạo nên nhiều nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài

nguyên thiên nhiên và can thiệp vào môi trường. Trật tự bất hợp lý về

kinh tế thế giới đã tạo nên hai loại ô nhiễm: “ô nhiễm do thừa thãi” tại

các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và: “ô nhiễm do đói nghèo” tại các

nước chậm phát triển về kinh tế. Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ

phát triển. Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể

ngừng tiến hoá và ngừng sự phát triển của mình. Đó là qui luật của sự

sống, của tạo hoá mà vạn vật đều phải tuân theo một cách tự giác hay

không tự giác. Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và

phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển

không tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Phát triển đương nhiên

sẽ biến đổi môi trường, nhưng làm sao cho môi trường vẫn làm đầy đủ

các chức năng: đảm bảo không gian sống với chất lượng tốt cho con

người, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần thiết, tái xử lý các

phế thải của hoạt động của con người, giảm nhẹ tác động bất lợi của thiên

20

tai, duy trì các giá trị lịch sử văn hoá, khoa học của loài người. Hay nói

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

một cách khác đó là: phát triển bền vững (PTBV).

Phát triển bền vững thường được định nghĩa là sự phát triển thoả

mãn nhu cầu hiện tại không làm ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng

nhu cầu của các thế hệ tương lại (Báo cáo của Uỷ ban về Môi trường và

Phát triển Thế giới năm 1987). Phát triển bền vững đòi hỏi sự tích hợp của

ba hợp phần: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường như

các hợp phần phụ thuộc và tăng cường lẫn nhau.

Phát triển bền vững là một phương hướng phát triển được các

quốc gia trên thế giới ngày nay hướng tới, đó là niềm hy vọng lớn của

toàn thể loài người.

PTBV có đặc điểm: 1- Sử dụng đúng cách nguồn tài nguyên thiên

nhiên mà không làm tổn hại hệ sinh thái và môi trường; 2- Tạo ra các

nguồn vật liệu và năng lượng mới; 3- ứng dụng công nghệ sạch, công

nghệ phù hợp với hoàn cảnh địa phương; 4- Tăng sản lượng lương thực,

thực phẩm; 5- Cấu trúc và tổ chức lại các vùng sinh thái nhân văn để

phong cách và chất lượng cuộc sống của ngươì dân đều thay đổi theo

hướng tích cực.

Khía cạnh môi trường: Phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì

sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài

nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức

độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép

môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật

sống trên trái đất.

Môi trường sống có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn

tại và phát triển của từng cá thể con người cũng như toàn thể loài người.

Theo Lê Thạc Cán (2002), môi trường có ba chức năng chính: là không

gian sống của con người, là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho

21

cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, và cũng là nơi chứa

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

đựng và xử lý phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt

động sản xuất.

Để bảo đảm bền vững về môi trường trước hết cần phải bảo đảm bền

vững về không gian sống cho con người. Muốn vậy thì dân số phải không

được vượt quá khả năng chịu tải của không gian; Chất lượng môi trường

được duy trì ở mức tốt hơn hoặc tối thiểu phải bằng tiêu chuẩn cho

phép; Lượng xả thải phải không vượt quá khả năng tự xử lý, phân huỷ

tự nhiên của môi trường. Sự bền vững về tài nguyên thiên nhiên thể

hiện ở chỗ lượng sử dụng phải nhỏ hơn hoặc bằng lượng khôi phục tái

tạo được với tài nguyên tái tạo, hoặc lượng thay thế với tài nguyên không

tái tạo

Khía cạnh xã hội : Phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự

phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh

vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển

tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.

Tính bền vững xã hội của một quốc gia được đánh giá thông qua

các tiêu chí và chỉ thị như: chỉ thị phát triển con người (HDI- Human

Development Index), chỉ thị bất bình đẳng về thu nhập, tiêu chí về

giáo dục, dịch vụ y tế và các hoạt động văn hóa.

Chỉ thị phát triển con người HDI là chỉ số tổng hợp của tuổi

thọ trung bình của người dân (l), học vấn trung bình của người dân (e),

và khả năng về kinh tế thể hiện qua sức mua tương đương (Purchase

Parity Power - PPP/người).

HDI = f (PPP/người, l, e)

Chỉ số HDI < 0,500 là chậm phát triển, HDI từ 0,501 - 0,799 phát triển

trung bình, HDI > 0,800 phát triển cao. Một quốc gia muốn phát triển

bền vững thì phải đạt điều kiện HDI tăng trưởng và HDI đạt trên mức

22

trung bình.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Chỉ số bình đẳng thu nhập (hệ số Gini). Đây được xtôi là một tiêu

chí về tính bền vững xã hội của một quốc gia vì bất công bằng trong phân

phối thu nhập là nguyên nhân cơ bản của bất ổn xã hội, gây ảnh hưởng

tới sự phát triển bền vững. Hệ số Gini bằng không trong trường hợp

công bằng tuyệt đối trong thu nhập. Hệ số Gini càng lớn chứng tỏ mức

mất công bằng càng cao.

Tiêu chí về giáo dục đào tạo (thường được cụ thể hóa thành

những chỉ thị như tỉ lệ người biết chữ theo độ tuổi, tỉ lệ trẻ tôi học tiểu

học, trung học, số sinh viên trên 10.000 dân, số học sinh/giáo viên,

ngân sách nhả nước chi cho giáo dục bằng % tổng ngân sách v.v.)

Tiêu chí về dịch vụ y tế xã hội, thường được cụ thể hóa thành

các chỉ thị như: số bác sĩ trên 1000 dân, số giường bệnh trên 1000 dân,

tỷ lệ % dân được hưởng dịch vụ y tế xã hội, tỷ lệ % dân được sử dụng

nước sạch, tỉ lệ trẻ tôi dưới 12 tháng tuổi được tiêm chủng đầy đủ, ngân

sách nhà nước chi cho dịch vụ xã hội về y tế bằng % tổng ngân sách,

hoặc tổng GDP

Tiêu chí về hoạt động văn hóa thường khó xác định hơn và được cụ thể

hóa bằng số tờ báo, ấn phẩm được phát hành cho 1000 dân, số thư

viện trên 10.000 dân, số người trên 1 tivi, số kết nối internet/1000 dân,

số thuê bao điện thoại/1000 dân. Một xã hội phát triển bền vững về giáo

dục, y tế, và văn hóa phải có sự tăng trưởng của các chỉ số nêu trên. Trên

đây là các tiêu thí và chỉ thị cơ bản. Ngoài ra, Lê Trình và cộng sự (2002)

cũng đề xuất 35 chỉ thị cụ thể nhằm đánh giá phát triển bền vững về mặt

xã hội của một quốc gia. Các chỉ thị này đo lường tính bền vững của tám

vấn đề xã hội: nghèo đói, việc làm, dân số, y tế, giáo dục, nhà ở, an ninh

trật tự xã hội và văn hóa

Yếu tố kinh tế: Phát triển bền vững đòi hỏi sự phát triển của hệ

23

thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên

nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Khẳng

định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất

nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố được chú

trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ

tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của

hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con

người.

Bền vững về kinh tế có thể được đánh giá thông qua giá trị và

mức ổn định của các chỉ số tăng trưởng kinh tế truyền thống như:

Tổng sản phẩm trong nước GDP, tổng sản phẩm quốc gia GNP, GDP

hay GNP bình quân đầu người, mức tăng trưởng GDP, cơ cấu GDP...

GDP hoặc GNP cho biết khả năng sản xuất và dịch vụ của một

quốc gia. Chỉ tiêu này cho phép so sánh mức độ phát triển kinh kế của

một quốc gia ở những thời điểm khác nhau cũng như so sánh sự phát

triển của các quốc gia khác nhau trên thế giới. GDP thường được điều

chỉnh bằng sức mua thực của GDP, gọi tắt là PPP (Purchase Parity

Power). GDP/đầu người là giá trị trung bình về sản xuất và dịch vụ mà

một người dân trong quốc gia đó có thể làm ra. Chỉ thị này thể hiện

quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức gia tăng dân số. Căn cứ vào

GDP/người mà các tổ chức quốc tế thường phân các quốc gia trên thế

giới thành các nhóm: thu nhập thấp; thu nhập trung bình thấp; thu nhập

trung bình cao; và thu nhập cao (Lê Thạc Cán,2002).

Tăng trưởng GDP thể hiện lượng tăng của GDP trong một năm cụ

thể so với GDP năm trước, tính bằng %. Một quốc gia phát triển bền vững

về kinh tế phải bảo đảm tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người

cao. Các nước thu nhập thấp có mức tăng trường GDP vào khoảng 5%.

24

Nếu có mức tăng trưởng GDP cao nhưng GDP bình quân đầu người

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

thấp thì vẫn xtôi là chưa đạt tới mức bền vững (Nguyễn Đắc Hy, 2003).

Ngoài ra, nền kinh tế của một quốc gia thường gồm các lĩnh vực khác

nhau như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Mỗi một lĩnh vực có khả

năng sinh lợi khác nhau, nhưng thông thường thì lĩnh vực dịch vụ và

công nghiệp sinh lợi nhiều hơn nông nghiệp. Do đó, cùng một GDP như

nhau nhưng nền kinh tế nào có cơ cấu GDP với tỉ lệ dịch vụ và công

nghiệp cao thì có khả năng tăng trưởng nhanh hơn.

Chỉ tiêu bền vững mới về kinh tế được thiết lập trên cơ sở điều

chỉnh các bất hợp lý trong cách tính truyền thống: Chỉ tiêu tổng sản phẩm

quốc nội điều chỉnh ANP (Anderson, 1991) được tính bằng cách lấy GNP

trừ vốn đầu tư, tổn thất tài nguyên thiên nhiên, cộng giá của lao động gia

đình và dịch vụ thương mại không trả tiền; Chỉ số phúc lợi kinh tế bền

vững ISEW (Daly và Cobb, 1989) được tính bằng thu nhập cá nhân có bổ

sung giá trị lao động tại gia đình, giá của các dịch vụ tập thể công cộng,

suy thoái môi trường và suy giảm các giá trị liên quan tới an toàn của

con người

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững

Xã hội Chỉ tiêu năng lượng

Nội dung Ngành

Phân ngành Tiếp cận SOC1

Cân đối

25

Tỷ lệ hộ (tỷ lệ dân số) không có điện hay năng lượng thương phụ hay mại, thuộc nhiều vào các dạng năng lượng phi thương mại. Tỷ trọng thu nhập của hộ dân cư - Số hộ (hay dân số) không có điện hay năng thương lượng mại, hay phụ thuộc nhiều vào các dạng năng phi lượng thương mại - Tổng số hộ hay dân số. Thu nhập của hộ gia đình chi cho nhiên Khả năng đáp ứng. SOC2

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

(affordability)

dành cho nhiên liệu và điện

khác SOC3

Sự biệt

(5 nhóm

Sử dụng năng lượng của hộ gia trong mỗi định nhóm thu nhập và tương ứng với hỗn hợp nhiên liệu

(5 nhóm

An toàn SOC4

Sức khỏe tai nạn chết dây trong

lượng năng

liệu và điện - Thu nhập cả một hộ gia đình (tổng và và của 20% dân số nghèo nhất nước) - Năng lượng sử dụng trong mỗi hộ gia đình đối với mỗi nhóm thu nhập - quintiles). - Thu nhập của mỗi hộ gia đình trong mỗi nhóm thu nhập - Tiêu hao nhiên liệu trong mỗi nhóm thu nhập - quintiles). - Số người chuyền nhiên liệu - Sản lượng hàng năm

nạn chết Tai trên mỗi người đơn năng vị lượng sản xuất ra trong dây chuyền nhiên liệu

Phân ngành Nội dung

tổng

Kinh tế Chỉ tiêu năng lượng ECO1 Năng lượng đầu

Sử dụng thể người

tiêu

Ngành Mô hình sản xuất và sử dụng

Năng suất tổng thể

ECO2 Tiêu hao năng lượng trong 1 đơn vị GDP

26

Sử dụng năng - lượng (tổng cung cấp năng lượng sơ cấp, thụ cuối tổng cùng và sử dụng điện năng) - Tổng dân số Sử dụng năng lượng (tổng cung cấp năng lượng sơ cấp, tổng tiêu thụ cuối cùng và

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Hiệu quả cung cấp

ECO3 Hiệu quả của quá trình biến đổi và phân phối năng lượng

Sản xuất ECO4 Tỷ lệ trữ lượng so

với sản xuất

ECO5 Tỷ lệ tài nguyên

so với sản xuất

thụ cuối

Tiêu cùng

ECO6 Cường độ năng lượng của ngành công nghiệp

theo

ECO7 Cường độ năng lượng của ngành nông nghiệp

ECO8 Cường độ năng lượng của khối thương mại dịch vụ

ECO9 Cường độ năng lượng của hộ dân cư

27

sử dụng điện năng) - GDP - Tổn thất trong cả hệ thống sản xuất bao gồm sản xuất, truyền tải và phân phối - Trữ lượng đã được chứng minh - Tổng năng lượng sản xuất ra - Tài nguyên được đánh giá - Tổng năng lượng sản xuất ra - Năng lượng tiêu hao công ngành trong nghiệp và theo từng phân ngành. - Giá trị gia tăng của ngành công nghiệp và và từng phân ngành - Năng lượng tiêu hao trong nông nghiệp. - Giá trị gia tăng của nông nghiệp - năng lượng tiêu hao trong ngành thương mại và dịch vụ - Giá trị gia tăng của khối thương mại dịch vụ - Năng lượng tiêu hao trong hộ dân cư và theo sử dụng cuối cùng cơ bản. - Số hộ dân cư, tầng

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

ECO10 Cường độ năng lượng của ngành giao thông

lớp, số người trong hộ, các thiết bị - Năng lượng tiêu hao trong vận tải hành khách và hàng hóa và theo các phương thức vận tải. - Số hành khách – km và số tấn - km và theo các phương thức vận tải. - Cung

Sự đa dạng hóa. (hỗn hợp nhiên liệu)

-

trọng nhiên ECO11 Tỷ liệu trong năng lượng và điện năng

- Cung

ECO12 Tỷ

-

trọng năng lượng không có phần thành trong cacbon lượng và năng điện năng

28

năng cấp lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng cuối sản cùng, lượng điện và năng lực sản xuất theo từng dạng nhiên liệu. Tổng cấp cung năng lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng cuối cùng, sản lượng điện và năng lực sản xuất. năng cấp lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng cuối sản cùng, lượng điện và năng lực sản xuất bằng các nguồn năng không lượng cacbon Tổng cấp cung năng lượng sơ cấp, sản lượng điện và

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

- Cung

ECO13 Tỷ

tái

-

trọng năng tạo lượng trong năng lượng và điện năng

Giá cả

năng lực sản xuất. năng cấp lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng sản cùng, cuối lượng điện và năng lực sản xuất theo năng lượng tái tạo. Tổng cấp cung năng lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng cuối cùng, sản lượng điện và năng lực sản xuất. - Giá năng lượng (có và không có thuế hay trợ giá) lượng theo liệu

- Nhập khẩu năng

ECO14 Giá năng cuối cùng dạng nhiên và theo lĩnh vực

Nhập khẩu

- Tổng cung cấp sơ

lượng An ninh

ECO15 Sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu

cấp

ECO16 Dự

- Dự trữ năng nhiên liệu chiến lược ( ví dụ dầu khí…)

trữ năng chiến

- Tiêu thụ nhiên liệu.

Dự lượng lược

trữ năng lượng chiến lược theo đối với mỗi loại nhiên liệu tiêu thụ Môi trường

ENV1

- Phát thải GHG từ năng xuất sản lượng và sử dụng năng lượng - Dân số và GDP

Không khí Biến đổi khí hậu

- Mức độ tập trung

29

Phát thải GHG từ sản xuất năng sử lượng và dụng năng lượng theo đầu trên người và mỗi vị đơn GDP lượng ENV2 Mức tập độ Chất

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

không khí không khí ô nhiễm

- Phát thải các chất ô nhiễm không khí

ENV3

- Sự phát

ENV4 lượng

gây Nước Chất nước

tán các chất gây ô nhiêm dưới dạng lỏng

- Các vùng bị axit

lỏng

Đất Chất lượng đất ENV5

- Mức độ cho phép

hóa

- Khu vực trong hai khác

Rừng

thời điểm nhau

- Sử

trung không khí ô nhiễm ở các khu vực thành thị thải các Phát chất ô nhiễm không khí từ hệ năng thống lượng Sự phát tán các ô chất dưới nhiêm dạng từ thống các hệ năng lượng bao gồm cả dầu mỏ Các vùng đất nơi có mức độ axit hóa vượt qua mức cho phép ENV6 Mức độ phát quang rừng để phục vụ sản xuất năng lượng năng

- Tổng

dụng lượng sinh khối

lượng phát ENV7

- Sản

thải rắn

lượng năng Sản xuất các thải rắng chất và quản lý

lượng

- Lượng chất thải rắn

ENV8

- Tổng

được xử lý

lượng chất

thải rắn

- Tổng các chất thải

ENV 9

30

Hệ số sản xuất các chất thải rắn trên mỗi đơn vị lượng năng được sản xuất Tỷ lệ các chất thải rắn được xử lý trong tổng số chất thải rắn Tỷ lệ các chất thải phóng xạ phóng xạ rắn

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

- Sản

lượng năng

- Lượng chất

lượng

thải phóng xạ rắn chờ xử lý - Tổng lượng chất

phóng xạ thải rắn

rắn trên mỗi đơn vị năng lượng được sản xuất ENV10 Tỷ lệ các chất thải phóng xạ rắn chờ xử lý tổng số trong chất rắn thải phóng xạ

1.3.3 Các đặc điểm của Thủy điện ảnh hưởng đến phát triển bền

vững

Đi tìm sự hài hòa giữa phát triển thủy điện với tăng trưởng kinh tế và

bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách. Nó không chỉ đặt ra ở tầm quốc gia,

khu vực mà mang ý nghĩa hợp tác toàn cầu. Bởi mỗi con sông, mỗi dòng

chảy lớn đã không còn là vấn đề hạn hẹp của một quốc gia

Thủy điện xuất hiện các đây trên 70 năm và trở thành niềm hy vọng

của nhân loại. Trong cung cấp điện năng, thủy điện là nguồn cung ứng linh

hoạt bởi khả năng điều chỉnh công suất. So với nhiệt điện, thủy điện cung

cấp một nguồn năng lượng sạch, không phát khí thải gây hiệu ứng nhà

kính. Nhờ lợi thế có được, trong vòng 50 năm, cộng đồng quốc tế đã xây

dựng trên 40 vạn đập, tạo hệ thống hồ chứa nước trên diện tích rộng hơn

400.000km2. Đập thủy điện lớn nhất hành tinh là Akasombo xây dựng trên

sông Volta ở Gana, hình thành hồ chứa nước rộng tới 4% diện tích của đất

nước này.

Do hiệu quả đầu tư thủy điện mang lại khá cao, người ta thường ít

chú ý đến hiểm họa môi trường. Ngân hàng Thế giới (WB) cảnh báo, trên

58% số dự án thủy điện được xây dựng đã không tính hết tác động môi

31

trường. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã làm rõ tác động bất lợi của thủy

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

điện trên các mặt sinh thái, giảm thiểu đa dạng sinh học và hiệu quả kinh tế

đảo ngược từ việc cải tạo môi trường tự nhiên.

Điều dễ thấy là, những hồ chứa nước thủy điện đã nhấn chìm không

ít khu rừng đầu nguồn. Giới phân tích cho biết, để tạo 1MW công suất thủy

điện, phải mất đi từ 10 - 30ha rừng và để có 1.000ha hồ chứa nước cũng

cần san phẳng, giải phóng từ 1.000 - 2.000ha đất ở phía thượng nguồn. Về

phía hạ lưu, do dòng chảy cạn kiệt, nhiều vùng bị xâm thực, nước biển

dâng cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống.

Từ xa xưa, các hệ động, thực vật đều dựa vào dòng chảy để sinh sản,

di trú và lũ hàng năm cũng đưa một lượng khổng lồ chất dinh dưỡng bồi

đắp cho những đồng bằng trù phú. Việc xây dựng đập làm thay đổi dòng

chảy đến các cửa sông, được coi là nguyên nhân làm sụt giảm nghiêm trọng

nguồn cá tại vùng vịnh Mexico, Biển Đen, Caspien hoặc San Francisco...

Cũng theo các nhà sinh học, khoảng 20% loài sinh vật nước ngọt trên bờ

vực tuyệt chủng do tác động của những con đập ngăn các dòng sông.

Ngoài gây sụt giảm sinh vật, đập chặn còn ngăn dòng trầm tích chảy

xuống hạ lưu, khiến nhiều bờ sông suy yếu và sụt đáy sông. Sau 9 năm đập

nước Hoover trên sông Calorado (Mỹ) đi vào hoạt động, đáy sông bị thấp

đi 4m. Trên vùng Cận Đông, sông Nile hàng năm mang theo hàng trăm

triệu tấn trầm tích ra cửa sông và bồi đắp cho đồng bằng ở phía hạ lưu. Khi

đập Aswan hoạt động, lượng trầm tích của sông bị đọng lại tới 98%. Tương

tự, đập nước Akasombo cắt đứt nguồn trầm tích của sông Volta, làm cho

đường bờ biển Togo và Benin hàng năm đều bị xói mòn từ 10 - 15m.

Hậu quả bất lợi về môi trường và tài nguyên sinh vật, buộc Chính

phủ nhiều nước phải xem xét thận trọng hơn chiến lược phát triển thủy điện

và có giải pháp chính sách điều chỉnh thích hợp. Tại Mỹ, việc phá đập ngăn

nước trả lại dòng chảy cho những con sông ngày càng mở rộng. Tính từ

32

năm 1999, trong tổng số 5.500 đập nước xây dựng, đã có trên 430 đập được

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

dỡ bỏ. Do đập thủy điện trên sông Klamath gây hàng loạt vấn đề về môi

trường bức xúc và cản trở sự di trú của các loài thủy sinh, tháng 10/2009,

28 tổ chức của Mỹ đã đi đến thỏa thuận phá bỏ 4 đập thủy điện lớn nhất để

trả lại nguyên vẹn dòng sông dài 420km, chảy dọc theo ranh giới của bang

California và Oregon.

Đập thủy điện trên sông Klamath được thiết kế nhằm tưới cho những

cánh đồng lúa mì, chạy tuốc bin thủy điện và tạo thuận lợi cho giao thông

thủy. Thế nhưng, dự án đã không lường trước được sự giảm sụt nhanh

chóng của giống cá hồi mà chính quyền liên bang đã phải bỏ ra trên 8 tỉ

USD để tìm cách cứu vãn. Theo Stave Rothert, Giám đốc Group American

Rivers, loại bỏ 4 đập nước trên thượng lưu Klamath là dự án phá bỏ đập

thủy điện lớn nhất thế giới. Khôi phục dòng sông lịch sử này không chỉ

giúp cho dòng sông khỏe mạnh mà còn là lấy lại sức sống cho các cộng

đồng dân cư.

Trên địa bàn Đông Nam Á, lưu vực Mekong được coi là nơi tập

trung các loài thủy sinh lớn thứ 2 thế giới với trên 1.000 loài. Các nhà phân

tích nhận xét, mỗi con đập ngăn ở đây có thể hủy diệt đến 70% lượng cá di

cư có thể đánh bắt. Một phúc trình của Liên Hợp Quốc đã thể hiện mối

quan ngại khi Trung Quốc xây dựng quá nhiều đập nước ở thượng nguồn

Mekong. Kế hoạch tham vọng của quốc gia này đã tập trung vào 8 đập lớn

với Tiểu Loan cao nhất thế giới (292m), trở thành mối đe dọa lớn đối với

dòng chảy của con sông dài 4.800km đi qua 6 nước; trong đó, Việt Nam ở

phía cuối nguồn.

Số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy, thượng nguồn Mekong chiếm

khoảng 60% dung tích lưu vực. Với tổng dung lượng hồ chứa Trung Quốc

xây dựng tương đương với tất cả hồ chứa nước của Đông Nam á, khi lượng

nước thượng nguồn ở đây bị chặn, về mùa khô cạn kiệt ở phía hạ lưu là

33

điều khó tránh. Ngược lại, trong mùa mưa, việc xả nước đột ngột của hồ

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

đập thượng nguồn cũng sẽ tạo nên không ít trận lũ kinh hoàng. Theo giới

quan sát, khi những con đập thượng lưu đi vào hoạt động, ở phía cuối

nguồn, Việt Nam sẽ là nước gánh chịu hậu quả nặng nề, đặc biệt là ở đồng

bằng sông Cửu Long.

Những tổn thất lớn do cơn bão Ketsana và Mirial gây ra ở miền

Trung và Tây Nguyên vào tháng 11/2009 cho thấy khá rõ mối quan hệ giữa

phát triển thủy điện với rừng, môi trường và vai trò của nhà quản lý. Theo

đó, các công trường xây dựng thủy điện lấn rừng gây suy thoái môi trường

và nhiều thảm họa được lộ diện. "Toàn bộ hồ chứa thủy điện ở miền Trung

không đủ dung tích phòng lũ, không có nhiệm vụ chống lũ cho hạ du mà

chủ yếu để phát điện", GS.TS Ngô Đình Tuấn, Chủ tịch Hội đồng khoa học

Viện Tài nguyên nước và môi trường Đông Nam Á từng trao đổi trên

Vnexpress.

Những năm gần đây, câu chuyện “thủy điện xả lũ, dân lãnh đủ” liên

tục diễn ra ở miền Trung. Thực tế không phải có thủy điện thì làm tăng lũ.

Lũ tăng do các nguyên nhân như biến đổi khí hậu, mặt đệm tức là lớp phủ

bị tàn phá. Mặt khác, khi không có quy trình vận hành liên hồ chứa hoặc

quy trình vận hành độc lập, hợp lý thì xả nước sẽ gây lũ chồng lũ. Nếu có

quy trình vận hành liên hồ thì sẽ hạn chế thấp nhất. Tuy nhiên, điều này

còn phụ thuộc vào độ chính xác của dự báo lũ, dự báo tốt thì mới khống

chế được, không để xảy ra lũ chồng lũ.

Thực tế, toàn bộ công trình hồ chứa thủy điện ở miền Trung không

đủ dung tích phòng lũ. Chỉ có 2 hồ thủy lợi có dung tích phòng lũ đáng kể

là hồ Phú Ninh (Tam Kỳ - Quảng Nam) 300 triệu m3 và Tả Trạch (Thừa

Thiên - Huế) 500 triệu m3, nhưng chưa xây dựng xong. Các công trình

thủy điện ở miền Trung không có nhiệm vụ chống lũ cho hạ du mà chỉ làm

34

thế nào bảo vệ an toàn hồ chứa trong khi vận hành và hiệu quả phát điện

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

cao nhất, tức là đảm bảo dung tích luôn ở mực nước dâng bình thường

Thủy điện sông Tranh 2 xả lũ với lưu lượng từ 3.500 đến 5.000 m3/s đã gây thiệt hại nặng cho

vùng hạ lưu Quảng Nam. Ảnh: Trí Tín.

(luôn đầy).

Trong mối quan hệ giữa thủy điện với phát triển kinh tế - xã hội và

bảo vệ môi trường, những gì diễn ra trong xu thế phát triển toàn cầu đã

minh chứng, cách làm chủ quan, nóng vội và thiếu cân nhắc trong đánh giá

tác động môi trường đều phải trả giá quá đắt cho những thảm họa khôn

lường của những năm sau. Tổn hại thay đổi dòng chảy và những quy luật tự

nhiên có thể dẫn đến thiên tai khủng khiếp, đa dạng sinh học bị hủy diệt

làm nghiêm trong thêm những vấn đề môi trường và điều kiện sống của

con người.

Đi tìm sự hài hòa giữa phát triển thủy điện với tăng trưởng kinh tế

và bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách. Nó không chỉ đặt ra ở tầm quốc

gia, khu vực mà mang ý nghĩa hợp tác toàn cầu. Bởi mỗi con sông, mỗi

dòng chảy lớn đã không còn là vấn đề hạn hẹp của một quốc gia. Việc

35

nghiên cứu đánh giá việc đầu tư thủy điện Bảo lâm tỉnh Hà Giang trong

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

khía cạnh đặt giữa hiệu quả kinh tế xã hội và phát triển bền vững sẽ được

36

đề cập sâu hơn ở phần II của bài viết này.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

CHƯƠNG II

PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN BẢO LÂM

2.1 Tổng quan về nguồn điện hiện nay tại Việt Nam.

Tổng công suất đặt các nguồn điện hệ thống điện quốc gia tính đến hết

năm 2011 là 24.559MW (bao gồm 23.559MW công suất các nhà máy điện

và 1000MW nhập khẩu từ Trung Quốc), trong đó thủy điện chiếm tỷ trọng

cao nhất (41,2%), nhiệt điện khí chiếm tỷ trọng thấp nhất (1,9%) Trong

23.559 MW tổng công suất các nhà máy điện, EVN sở hữu 100% vốn hoặc

giữ cổ phần chi phối các nhà máy điện có tổng công suất là 14.026 MW,

chiếm 57,1%; các nguồn điện BOT nước ngoài là 2.265 MW, chiếm

khoảng 9,2%, và các nguồn IPP trong nước (do các Tổng công ty, Tập đoàn

nhà nước, các nhà đầu tư tư nhân nhỏ lẻ khác) là 7.269 MW, chiếm tỷ trọng

33,7%. Cụ thể, phân loại nguồn điện loại hình và theo chủ sở hữu như hình

sau:

37

Hình 2.1 Phân loại nguồn điện theo loại hình sản xuất

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Hình 2.2 Phân loại nguồn điện theo loại hình chủ sở hữu

2.2 Sơ lược về Thủy điện ở Việt Nam

Việt Nam có 2360 con sông với chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó

có 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực từ 10.000 km2. Mật độ sông suối

trung bình trên toàn lãnh thổ là 0,6km/km2. Có 10 hệ thống sông lớn có

tiềm năng phát triển thủy điện.

Tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch thuỷ điện ở nước ta cho thấy

tổng trữ năng lý thuyết của các con sông đựơc đánh giá đạt 300 tỷ

KWh/năm, công suất lắp máy được đánh giá khoảng 34.647MW.

Trữ năng kinh tế - kỹ thuật đựơc đánh giá khoảng 80-84 tỷ

KWh/năm, công suất lắp máy được đánh giá khoảng 19.000MW -

21.000MW. Hơn nửa thế kỷ qua, công cuộc phát triển thủy điện ở nước ta

đã trải qua một chặng đường đầy khó khăn, gian khổ nhưng đã mang lại

hiệu quả vô cùng to lớn cho nền kinh tế quốc dân.

Các công trình thủy điện đưa vào vận hành có vai trò to lớn trong

sản xuất điện năng, phòng chống lũ, cấp nước v.v. phục vụ phát triển kinh

tế-xã hội. So với các nguồn điện năng khác (nhiệt điện, điện hạt nhân hay

điện chạy bằng tua bin khí và diezel ...), thì thủy điện là nguồn năng lượng

38

tái sinh, rẻ tiền và sạch (ít gây hiệu ứng nhà kính), đồng thời đóng góp tích

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

cực vào việc cung cấp điện năng đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế

đất nước.

Những thập kỷ qua, Việt Nam đã xây dựng hàng loạt các công trình

thuỷ điện và hiệu quả kinh tế mang lại rất lớn như công trình Thuỷ điện

Thác Bà trên sông Chảy, Thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà, Thuỷ điện Trị

An trên sông Đồng Nai, Thuỷ điện Ialy trên sông Sê San, Thuỷ điện Bản

Vẽ, Thuỷ điện Đại Ninh, Thuỷ điện Bắc Bình, Thuỷ điện Tuyên Quang,

Thủy điện Sơn La... Điều đó khẳng định vai trò to lớn của thuỷ điện đối

với phát triển điện năng của đất nước.

Để đáp ứng yêu cầu sử dụng điện ngày càng tăng của các ngành kinh

tế và sinh hoạt của nhân dân trong cả nước, Tập đoàn Điện lực Việt Nam

đã xây dựng Qui hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 20062015

có xét triển vọng đến năm 2025, gọi tắt là qui hoạch điện VI. Qui hoạch

điện VI đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số

110/2007/QĐ-TTg ngày 18/07/2007. Theo qui hoạch điện VI đã được phê

duyệt:

- Về dự báo phụ tải:

Đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với mức tăng

GDP khoảng 8,5% - 9%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và cao hơn, dự báo nhu

cầu điện nước ta tăng ở mức 17% năm (phương án cơ sở), 20% năm

(phương án cao) trong giai đoạn 2006 - 2015, trong đó xác định phương án

cao là phương án điều hành, chuẩn bị phương án 22% năm cho trường hợp

tăng trưởng đột biến.

- Về phát triển nguồn điện:

+ Phát triển nguồn điện phải đáp ứng nhu cầu phụ tải nêu trên. Đảm

bảo thực hiện tiến độ xây dựng các nhà máy thủy điện có các lợi ích tổng

hợp như: chống lũ, cấp nước, sản xuất điện; phát triển hợp lý có hiệu quả

39

các nguồn nhiệt điện khí; đẩy mạnh xây dựng nhiệt điện than; phát triển

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

thủy điện nhỏ, năng lượng mới và tái tạo cho các vùng sâu, vùng xa, miền

núi, biên giới, hải đảo; chủ động trao đổi điện năng có hiệu quả với các

nước trong khu vực; đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển

bền vững.

+ Phát triển phù hợp các trung tâm điện lực ở các khu vực trong cả

nước nhằm đảm bảo tin cậy cung cấp điện tại chỗ và giảm tổn thất kỹ thuật

trên hệ thống điện quốc gia cũng như đảm bảo tính kinh tế của các dự án,

góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho từng vùng và cả nước.

+ Phát triển nguồn điện mới phải tính toán với các phương án đầu tư

chiều sâu và đổi mới công nghệ các nhà máy đang vận hành; đáp ứng tiêu

chuẩn môi trường; sử dụng công nghệ hiện đại đối với các nhà máy điện

mới.

+ Phát triển các nguồn điện theo các hình thức đã được nhà nước quy

định, Bộ Công nghiệp xác định tỷ lệ hợp lý các dự án áp dụng hình thức

đầu tư BOT, BOO.

- Về phát triển lưới điện:

+ Phát triển lưới điện truyền tải và phân phối một cách đồng bộ với

chương trình phát triển nguồn điện. Thực hiện việc hiện đại hóa và từng

bước ngầm hóa lưới điện các thành phố, thị xã hạn chế tác động xấu đến

cảnh quan, môi trường. Áp dụng các biện pháp giảm tổn thất điện năng

theo quy định.

QHĐ VI đã đưa danh sách đầu tư xây dựng 24 NM thuỷ điện giai

đoạn 2006 – 2010 với tổng công suất trên 4200MW và 25 NMTĐ giai đoạn

2011 – 2015 với tổng công suất trên 6300MW. Đến tháng 6/2010 đã có 13

công trình đã vào vận hành với tổng công suất trên 1800MW và 22 công

trình đang được xây dựng. Dự kiến đến cuối năm 2010 sẽ có thêm 8

NMTĐ hoặc tổ máy TĐ được đưa vào vận hành, trong đó có tổ máy 1 TĐ

40

Sơn La. Như vậy giai đoạn 2006 – 2010 ước có 21 NMTĐ được đưa vào

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

trong tổng 24 NMTĐ được phê duyệt kế hoạch. Nói chung tiến độ các

NMTĐ chậm so với lịch trình phê duyệt của QHĐ VI, một số công trình

chậm từ 1 – 2 năm.

Có một số dự án thuỷ ðiện trong quá trình triển khai ðã ðýợc tạm

dừng hoặc thay ðổi quy mô, tiến ðộ do các nguyên nhân khác nhau… Cụ

thể:

- TĐ Thác Mơ mở rộng 75MW đang tạm dừng vì chỉ tiêu hiệu quả

kinh tế thấp;

- TĐ Bảo Lạc 190MW (Lào Cai) do diện tích ngập lớn, ảnh hưởng

tới môi trường, di dân nên nay đang nghiên cứu giảm mức công suất xuống

khoảng 120 MW và dự kiến sẽ lùi tiến độ đến khoảng 2018-2020.

- TĐ Bắc Mê 70MW cũng vì lý do tương tự phải giảm công suất và

lùi tiến độ.

Hiện nay EVN cũng đang cho nghiên cứu một phương án mở rộng

NMTĐ Hoà Bình thêm 1-:- 3 tổ máy để tận dụng nước trong mùa lũ.

Miền Trung hiện nay cũng có một vài ðịa ðiểm thuận lợi cho xây

dựng TÐTN như: TĐTN Đà Nẵng (do Công ty cổ phần thuỷ ðiện Geruco

Sông Côn khảo sát nghiên cứu, địa ðiểm nằm liền kề khu vực nhà máy thuỷ

ðiện nhỏ Sông Nam – Sông Bắc, cách trạm 500kV Ðà Nẵng khoảng 25km

về phía tây, quy mô từ 1.000-:-1.200 MW; TĐTN A Vương (do Cty CP

thuỷ điện A Vương nghiên cứu đề xuất). Tuy miền Trung có tỷ trọng thuỷ

ðiện áp ðảo và ðến nãm 2020 vẫn có tỷ trọng thuỷ ðiện trên 70%, có thể

ðảm bảo phủ ðỉnh biểu ðồ phụ tải, nhýng trên cả nýớc số vị trí các TÐTN

không nhiều thì cần cho phép nghiên cứu thêm các dự án này về quy mô

thích hợp và thời điểm phát triển, nhất là giai đoạn khi miền Trung sẽ xây

dựng các NMÐHN.

41

Trong khi ðó, với tỷ trọng thuỷ ðiện nhỏ và tỷ trọng nhiệt ðiện than,

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

ÐHN lớn, TÐTN miền Nam ðýợc lựa chọn vào vận hành từ 2018 – 2019 và

ðến nãm 2030 có thể phát triển ðýợc tổng công suất 3600-:-4500MW. Các

ðịa ðiểm ðang ðýợc nghiên cứu bao gồm:TĐTN Bác Ái (Ninh Thuận) và

TĐTN Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) là 2 dự án ðang lập DAÐT; các địa

điểm tiếp theo đang được đề xuất là TĐTN Đơn Dương (Lâm Đồng) và

Ninh Sơn (Ninh Thuận). Mỗi địa điểm dự kiến quy mô từ 1.200 – 2400

MW.

Theo định hướng phát triển ngành điện Việt Nam, với mục tiêu ưu

tiên phát triển các nguồn thủy điện, đặc biệt là các dự án có lợi ích tổng

hợp: Chống lũ, cấp nước, sản xuất điện. Việt Nam hướng tới mục tiêu nâng

tổng công suất các nguồn thủy điện từ 9200MW lên 17.400MW vào năm

2020.

Như vậy, trong tương lai gần việc đầu tư xây dựng các nhà máy Thủy

điện vẫn là hướng đi đúng đắn và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế

xã hội tại Việt Nam. Phát triển thủy điện theo hướng phát triển bền vững sẽ

mang lại lợi ích kinh tế xã hội cao. Tận dụng nguồn năng lượng tái tạo với

địa hình nhiều sông suối đặc trưng, phát triển thủy điện không chỉ bổ sung

cho sự thiếu hụt nguồn điện hiện nay, giảm bớt áp lực nhập khẩu điện năng

hướng tới sự chủ động trong an ninh năng lượng. Phát triển thủy điện gắn

với phát triển dân sinh, kinh tế, cải thiện đời sống xã hội của khu vực dân

cư trên địa bàn thực hiện.

Thủy điện với các đặc trưng cơ bản như:

· Công nghệ phát triển khá hoàn chỉnh

· Năng lượng sạch & tái tạo

· Nhiều ưu điểm khi hoà mạng · Thuận lợi khi tạo nguồn năng lượng độc lập

42

· Chi phí quản lý thấp

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

· Hồ chứa mang lại nhiều lợi ích tổng hợp

· Tiềm năng sẵn có ở những nơi cần

Việc nghiên cứu đầu tư các dự án thủy điện hiện nay là vấn đề thiết thực

gắn với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Trong khuôn khổ xem xét đầu

tư dự án thủy điện gắn với phát triển bền vững , người viết muốn đi sâu hơn

với đầu tư dự án Thủy điện Bảo Lâm, tỉnh Hà Giang Công suất 190MW

hàng năm cung cấp 1 sản lượng điện năng vào khoảng 761,215 triệu Kwh.

2.3 Tổng quan về dự án thủy điện Bảo Lâm

2.3.1 Giới thiệu chung.

Sông Gâm là một nhánh cấp I nằm bên bờ trái của sông Lô, đồng thời

là nhánh cấp II của sông Hồng. Sông Gâm bắt nguồn từ vùng núi Vân

Nam của Trung Quốc có cao độ trên 1600m. Diện tích toàn bộ lưu vực sông Gâm là 17200km2, phần nằm trên lãnh thổ Trung Quốc 7420km2

chiếm 43%. Chiều dài sông 297km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt nam

217km.

Công trình thủy điện Bảo Lâm (tên gọi cũ là Thuỷ điện Bảo Lạc) dự

kiến xây dựng nằm tại xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, tuyến

công trình nằm cách điểm nhập lưu của sông Nho Quế với sông Gâm

khoảng 2 km về phía hạ lưu.

Toạ độ địa lý tuyến công trình.

22o55’05’’  22o56’07’’ vĩ độ Bắc

105o31’55’’  105o32’30’’ kinh độ Đông.

Dự án thủy điện Bảo Lâm (tên cũ là thủy điện Bảo Lạc) có trong Quy

hoạch điện VI và Quy hoạch bậc thang thủy điện trên sông Gâm (Báo cáo

hiệu chỉnh) được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) phê duyệt

43

tháng 08 năm 2007.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Báo cáo Dự án đầu tư - thiết kế cơ sở Thuỷ điện Bảo Lâm được lập

trên các cơ sở pháp lý sau:

- Căn cứ vào Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/07/2007 của

Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực

quốc gia giai đoạn 20062015 có xét đến 2025 (Quy hoạch VI), trong đó

công trình thuỷ điện Bảo Lâm (tên cũ là Bảo Lạc) công suất 190 MW,

được đầu tư theo hình thức nhà máy điện độc lập (IPP) dự kiến vận hành

năm 2013.

- Căn cứ vào Quyết định số 2704/QĐ-BCN ngày 02 tháng 08 năm

2007 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) về việc phê duyệt

Quy hoạch bậc thang thuỷ điện sông Gâm.

- Căn cứ vào văn bản số 6569/BKH-KTCN ngày 11 tháng 09 năm

2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc đầu tư dự án thuỷ điện Bảo Lâm

trong đó đề nghị Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chọn Tổng công ty

Sông Đà làm chủ đầu tư dự án thuỷ điện Bảo Lâm.

- Căn cứ vào văn bản số 1599/UBND-TH ngày 20 tháng 09 năm 2007

của UBND tỉnh Cao Bằng về chủ trương đầu tư xây dựng dự án thuỷ điện

Bảo Lâm, trong đó thống nhất lựa chọn Tổng công ty Sông Đà làm chủ

đầu tư dự án thuỷ điện Bảo Lâm.

2.3.2 Các thông số chính của dự án Thủy điện Bảo Lâm

Trên cơ sở quy mô công trình thuỷ điện Bảo Lâm theo quy hoạch thuỷ

điện sông Gâm đã được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) phê

duyệt tháng 08/2007, và kết quả khảo sát địa hình, địa chất, điều tra thiệt

hại lòng hồ, di dân và tái định cư. Thủy điện Bảo Lâm được nghiên cứu

tính toán lựa chọn các thông số công trình cụ thể: Chuẩn xác Tuyến đập,

MNDBT, MNC,... phù hợp với qui mô khai thác, đảm bảo chi phí xây dựng

44

và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án hợp lý nhất.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Với tổng mức đầu tư khoảng hơn 6230 tỷ VNĐ, công trình cấp I -

Nhóm A trong đầu tư xây dựng cơ bản, Thủy điện Bảo Lâm được xét đến

với các thông số kỹ thuật đã qua phân tích lựa chọn như sau:

Bảng số 2.3.1: Các thông số chính của Thủy điện Bảo Lâm

STT CÁC THÔNG SỐ ĐƠN VỊ TRỊ SỐ

I Cấp công trình

1 Các đặc trưng thuỷ văn

Diện tích lưu vực tính đến tuyến 1.1 km2 10.356 công trình

1.2 Lượng mưa bình quân năm 1.287,0

1.3 Mô đun dòng chảy năm mm l/s/km2 17,96

Chuẩn dòng chảy năm Qo tính đến 1.4 m3/s 186,0 tuyến CT

5.856,06 1.5 Tổng lượng dòng chảy năm Wo

1.6 Dòng chảy năm thiết kế P= 90% triệu m3 m3/s 156,95

2 Hồ chứa

Diện tích lòng hồ ứng với 2.1 km2 32,66 MNDBT

2.2 Mực nước dâng bình thường m 230

2.3 Mực nước chết m 200

Mực nước gia cường ứng với lũ 2.4 m 229.01 th/kế (P = 0,1%)

2.5 Mực nước lũ kiểm tra (P = 0,02%) 233.12

2.6 Dung tích toàn bộ 937,06

2.7 Dung tích phòng lũ 500

45

2.8 Dung tích hữu ích m 106m3 106m3 106m3 675,26

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

STT CÁC THÔNG SỐ ĐƠN VỊ TRỊ SỐ

106m3 261,81 2.9 Dung tích chết

3 Lưu lượng

54,57 3.1 Lưu lượng đảm bảo Qđb m3/s

Lưu lượng phát điện lớn nhất 3.2 m3/s 311,40 Qmax

8.515,2 3.3 Lưu lượng lũ thiết kế QP=0,1%

11.508,9 3.4 Lưu lượng lũ kiểm tra QP=0,02% m3/s m3/s

Thông số cột nước và năng 4 lượng

m 69,36 4.1 Cột nước tính toán Htt

MW 190 4.2 Công suất lắp máy Nlm

MW 39,75 4.3 Công suất đảm bảo Nđb

Điện lượng bình quân nhiều năm 4.4 106 KWh 761,215 Enn

Số giờ sử dụng công suất lắp máy 4.5 Giờ 4006,4 HsdNlm

5 Cụm đầu mối

5.1 Đập dâng

Bản mặt bê Loại đập tông

Chiều cao đập m 99

Cao trình đỉnh đập m 234.0

Cao trình đỉnh tường chắn sóng m 235.0

5.2 Đập tràn xả mặt

46

Hình thức tràn Có cửa van

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

STT CÁC THÔNG SỐ ĐƠN VỊ TRỊ SỐ

điều tiết

Cao trình ngưỡng m 216.0

Số khoang tràn Khoang 4

Kích thước một khoang BxH m 13x14

Tổng chiều rộng tràn m 52

Độ dốc dốc nước % 12

Chiều dài dốc nước theo phương m 205,3 ngang

5.3 Tràn xả sâu

Kích thước mặt cắt ngang nxBxH m 8x4,5x5,0

Cao trình ngưỡng m 195.0

6 Cửa nhận nước

6.1 Cao trình ngưỡng CNN m 185.0

6.2 Kích thước cửa vào BxH 2x6,5x10

6.3 Lưu lượng max m m3/s 311,40

7 Đường hầm dẫn nước

7.1 Số lượng hầm hầm 2

7.2 Tổng chiều dài m 502,0

7.3 Đường kính trong của hầm m 6

8 Nhà máy thuỷ điện

8.1 Loại tua bin Francis

8.2 Số tổ máy 2

8.3 Cao trình lắp máy m 143.0

8.4 Cao trình sàn lắp ráp m 164.0

47

MW 190 8.5 Công suất lắp máy Nlm

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

STT CÁC THÔNG SỐ ĐƠN VỊ TRỊ SỐ

Trạm phân phối 220KV mạch Trạm 1 9 kép

Km 35 10 Chiều dài đường dây 220kV

11 Tổng mức đầu tư

Tổng mức đầu tư thuần (trước 11.1 tỷ đồng 6.230,184 thuế, lãi vay)

11.2 Tổng mức đầu tư sau thuế tỷ đồng 7.167,787

2.3.2 Ý nghĩa của việc đầu tư của công trình thuỷ điện Bảo Lâm.

Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đòi hỏi yêu cầu

phát triển ngành năng lượng tạo tiền đề cho các ngành công nghiệp khác

phát triển. Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị

trường, tăng trưởng nhanh chóng trên các lĩnh vực nông nghiệp và công

nghiệp… dẫn tới nhu cầu năng lượng cũng tăng lên.

Việc đầu tư xây dựng thủy điện Bảo Lâm là cần thiết vì những lý do

sau:

Huyện Bảo Lạc là Huyện miền núi vùng cao phía Tây tỉnh Cao Bằng

cách thị xã Cao Bằng 140 km, diện tích tự nhiên 919.07 km2, có 16 đơn vị

hành chính xã và thị trấn Bảo Lạc, dân số: 47.612 người (tính đến

31/12/2007), huyện có tiềm năng phát triển chăn nuôi đại gia súc và gia

cầm, thuỷ sản.

Huyện Bảo Lâm có diện tích đất tự nhiên: 913,47km2 , có 14 đơn vị

hành chính xã, là một huyện được thành lập ngày 25 tháng 9 năm 2000, dân

số 51.780 người (tính đến 31/12/2006). Huyện có tiềm năng phát triển chăn

48

nuôi đại gia súc, gia cầm.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Việc đầu tư xây dựng công trình sẽ bổ sung đáng kể nguồn năng

lượng cho hệ thống điện quốc gia, góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng

khoảng 17  22% /năm của phụ tải. Công trình thủy điện Bảo Lâm với

công suất lắp đặt 190MW sẽ đáp ứng một phần nhu cầu điện năng trong

khu vực tỉnh Cao Bằng, Hà giang cũng như giảm bớt tình hình thiếu hụt

điện năng của hệ thống hiện nay, đặc biệt là trong giờ cao điểm. Chỉ số

năng lượng/đầu người gia tăng ECO1 đạt 8,75 Kwh/người. Dự trữ năng

lượng ECO16 đạt 761.67 triệu Kwh. Tỷ trọng năng lượng sạch gia tăng

0,75% (không có thành phần CO2 trong năng lượng – điện năng); Tổng

năng lượng tái tạo là ECO13 là 30466.8 Kwh, đảm bảo an ninh năng lượng

giảm áp lực nhập khẩu năng lượng mỗi năm là 1,2% (EVN phấn đấu sản

xuất và mua 112,6 tỷ kWh điện (tăng 15,78% so với ước thực hiện năm

2010), trong đó điện do EVN sản xuất là 48,1 tỷ kWh, điện mua ngoài là

64,5 tỷ kWh).

Chi tiết Xem bảng tính chi tiết số 02: Một số các chỉ tiêu đánh giá PTBV

thủy điện Bảo Lâm.

Hiện nay, tình hình khu vực dự án hiện tại với các cơ sở vật chất rất

nghèo nàn và lạc hậu, đường giao thông nối từ trung tâm thị xã Cao Bằng

đi Bảo Lạc và Bảo Lâm xuống cấp, điều kiện đi lại, trao đổi giao lưu với

các vùng khác trong khu vực gặp rất nhiều khó khăn, điều kiện thông tin

49

liên lạc còn rất nhiều hạn chế.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Bảng 2.3.2 : Một số các chỉ tiêu đánh giá PTBV của TĐ điện Bảo Lâm

Đơn vị Giá trị gia TT Nội dung Chỉ tiêu Ghi chú tính tăng

E = 761,67 triệu

kWh; Năng lượng / đầu 1 ECO1 kwh/ng 8,75 người Dân số: 86,963

tr.người

Đơn vị tính toán Tr.Tấn 2 giảm phát thải 2.785,620 Ghi chú: 01 CO2-e CO2 KNK*

Tỷ trọng năng 761,76/112.000

lượng không có ( tổng điện năng

4 ECO12 % 0,75% thành phần cacbon tiêu thụ của VN

trong năng lượng năm 2011 là 112

và điện năng tỷ Kwh)

761,76/64.000 Sự phụ thuộc vào (64 tỷ Kwh điện năng lượng nhập 5 ECO15 % -1,2% nhập khẩu năm khẩu 2011)

Tổng năng lượng Đời sống dự án 6 ECO13 106Kwh 30466,8 tái tạo trong năng tạm tính 40 năm lượng và điện năng

50

Ghi chú 01: Tính toán giảm phát thải khí nhà kính

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Theo kinh nghiệm tính toán từ các nghiên cứu thủy điện, trung bình

1 kWh nếu sản xuất tại nhà máy nhiệt ðiện than sẽ phát thải khoảng 3.66 kg

CO2, nếu sản xuất ðiện bằng thủy điện sẽ giảm một lượng phát thải là

3.66kg* sản lượng điện => Lượng giảm phát thải CO2 sẽ là:

761,76 x 3.66/1000 = 2.875.620 tấn CO2.

Sự ra đời của dự án sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế

khác phát triển, cải thiện cơ sở hạ tầng, giao thông khu vực và góp phần

vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho 8717 hộ/12.526 hộ và thúc đẩy phát

triển kinh tế với 47.596 đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng dự án.

Thực hiện chủ trương hiện nay Đảng và Nhà nước là phát triển kinh

tế miền núi, trung du nhằm mục tiêu khai thác, sử dụng các tiềm năng sẵn

có nhất là tài nguyên nước đang là vấn đề cấp thiết cho sự phát triển kinh tế

khu vực và ổn định đời sống của nhân dân các dân tộc miền núi.

Như vây việc đầu tư dự án thủy điện Bảo Lâm nhằm các mục

đích sau:

- Phát điện lên lưới điện quốc gia: Phát điện với công suất lắp máy 190

MW. Hàng năm dự án cung cấp một điện lượng bình quân Enn=761

triệu kWh. ( lợi ích phát điện)

- Tham gia chống lũ cho đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội với

dung tích phòng lũ Wpl = 500 triệu m3 và tạo nguồn bổ sung lưu

lượng mùa kiệt cho hạ du. (Lợi ích chống lũ)

- Tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản, cải tạo cảnh quan môi

trường, phát triển kinh tế vĩ mô, cải thiện và nâng cao chất lượng đời

sống cho 12526 hộ dân tỉnh Cao Bằng và Hà Giang. ( Lợi ích phát

triển kinh tế - xã hội).

Để đánh giá đầu tư dự án thủy điện Bảo Lâm ta đi sâu vào phân tích

hiệu ích kinh tế tài chính của dự án với các thông số đầu vào được tính toán

51

lựa chọn bởi các nghiên cứu kỹ thuật và giả định về thị trường tài chính tại

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

thời điểm hiện tại.

2.4 Phân tích hiệu quả tài chính dự án thủy điện Bảo Lâm

Phân tích kinh tế là nhằm đánh giá hiệu ích của dự án mang lại cho nền kinh tế quốc dân. Mục đích tính toán kinh tế lựa chọn thông số là nhằm so chọn các thông số chính của dự án như: MNDBT, MNC, Nlm, số tổ máy. Sau khi chọn được các thông số chính tiến hành phân tích kinh tế phương án kiến nghị.

Phân tích tài chính là nhằm đánh giá tính khả thi của dự án trên quan điểm của Chủ đầu tư dự án. Dự án khả thi về mặt tài chính là dự án có khả năng hoàn trả vốn vay, đem lại lợi nhuận cho Chủ đầu tư và các Cổ đông. Khác với phân tích kinh tế, phân tích tài chính dựa trên các chi phí và các khoản thu mà Chủ đầu tư bỏ ra và Chủ đầu tư thu được. Cơ sở phân tích kinh tế

Phân tích hiệu quả kinh tế của công trình nhằm đánh giá hiệu quả của việc đầu tư dự án trên quan điểm của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Phương pháp được áp dụng trong tính toán là phương pháp phân tích hiệu ích và chi phí.

: EIRR : B/C

Các chỉ tiêu cơ bản về hiệu ích kinh tế bao gồm: - Giá trị lợi nhuận ròng quy về thời điểm hiện tại : NPV - Hệ số hoàn vốn nội tại - Tỉ số hiệu ích / Chi phí Phương án được đánh giá là mang lại hiệu quả nếu có chỉ tiêu NPV >

0; EIRR> Ick và B/C > 1.

a) Vốn đầu tư và tiến độ giải ngân của dự án: - Tiền tệ: Đơn vị tiền tệ áp dụng trong tính toán là VNĐ (đối với chi

phí xây dựng) và USD (đối với mua sắm thiết bị).

- Tỷ lệ chiết khấu: 10% - Vốn đầu tư: Là toàn bộ chi phí cần thiết đầu tư vào công trình, bao gồm các khoản chi phí cho xây dựng, thiết bị, đền bù, tái định cư, chi phí khác và chi phí dự phòng...

- Chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M): 1,0% tổng chi phí xây dựng

+ thiết bị.

52

- Tuổi thọ của dự án: 40 năm.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Tỷ giá hối đoái: 21011 VNĐ/USD (theo tỷ giá hối đoái giữa VNĐ và

USD ở thời điểm hiện tại).

- Phân bổ vốn đầu tư theo tiến độ thi công chung của toàn công trình.

Thời gian xây dựng trong 04 năm.

Tiến độ đầu tư vốn thủy điện Bảo Lâm

1 10 4 32

tệ 2 28 10 3 30 35 55 0

Năm XD Vốn nội tệ (%) Vốn ngoại (%) b) Doanh thu của dự án: - Trong phân tích hiệu ích kinh tế tài chính không tính đến lạm phát,

trượt giá của đồng tiền (cả nội tệ và ngoại tệ).

- Doanh thu của dự án được xác định là tổng doanh thu theo giá bán

điện tại thanh cái và điện lượng thương phẩm của dự án và giá bán phát

thải khí CO2 theo cơ chế CDM (tính tương tự một số dự án đã và đang thực

hiện hiện nay).

Giá bán điện là giá đàm phán giữa EVN và chủ đầu tư. Trong phân

tích tài chính của giai đoạn này giá bán điện là giá trung bình tại thanh cái

tạm tính theo giá điện bình quân của các dự án tương đương cùng thời và tỷ

lệ trượt giá của điện năng khi công trình bắt đầu đi vào vận hành.

Kết quả phân tích kinh tế phương án kiến nghị

Để thấy rõ hiệu quả kinh tế của dự án tiến hành tính toán phân tích với

các phương án giá bán điện từ 6,4  6,7 Cent/kWh.

Kết quả tính toán phân tích các chỉ tiêu kinh tế phương án kiến nghị,

được trình bày trong bảng sau.

Chỉ tiêu kinh tế của phương án kiến nghị

Giá bán điện (UScent/kWh) EIRR % B/C -

6,4 Eo 106kWh 761,215 Vốn thuần 109đồng 6.230,184 NPV 109đồng 116,171 10,24 1,02

53

6,5 761,215 6.230,184 197,160 10,41 1,04

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

6,6 761,215 6.230,184 278,149 10,58 1,06

6,7 761,215 6.230,184 359,138 10,75 1,07

6,8 761,215 6.230,184 440,126 10,91 1,09

Kết quả phân tích kinh tế cho thấy dự án có hiệu quả kinh tế, đem lại

lợi ích cho nền kinh tế quốc dân với giá bán điện  6,4 US cent/kWh. Phân tích hiệu quả tài chính

Quan điểm phân tích hiệu quả tài chính

Theo quan điểm Chủ đầu tư (hay quan điểm Chủ sở hữu vốn góp): - Chi phí: bao gồm vốn tự có, trả gốc và lãi vay, chi phí vận hành và

bảo dưỡng (OM) và các loại thuế. - Hiệu ích: doanh thu bán điện. Các chỉ tiêu tài chính trên quan điểm này cho thấy tính khả thi của dự án dưới một điều kiện vay trả cụ thể. Nếu chỉ tiêu FIRR theo quan điểm này lớn hơn mức lãi suất mà Chủ đầu tư huy động vốn thì dự án khả thi về tài chính và dự án được coi là sinh lợi theo quan điểm của Chủ đầu tư.

Với một điều kiện vay trả cụ thể thì chỉ tiêu tài chính theo quan điểm này quyết định đến tính khả thi về tài chính của dự án và là tiêu chí để Chủ đầu tư có tiến hành thực hiện dự án hay không. Cơ sở phân tích tài chính

- Đơn vị tiền tệ: VNĐ. - Tỷ giá quy đổi ngoại tệ: 1USD = 21.011 VNĐ/USD. - Tỷ lệ chiết khấu: 10.72% - Tính bằng bình quân gia quyền của tỷ lệ

lãi suất vay vốn và hệ số mong muốn hoàn vốn của Chủ đầu tư.

- Tuổi thọ của dự án: 40 năm. - Dự án tính khấu hao theo phương pháp khấu hao tuyến tính, thời hạn

khấu hao 20 năm, sau 20 năm thay thế thiết bị.

- Trong phân tích hiệu ích kinh tế tài chính không tính đến lạm phát,

trượt giá của đồng tiền (cả nội tệ và ngoại tệ).

- Doanh thu của dự án được xác định là tổng doanh thu theo giá bán

điện tại thanh cái và điện lượng thương phẩm của dự án và giá bán phát

thải khí CO2 theo cơ chế CDM (tính tương tự một số dự án đã và đang thực

54

hiện hiện nay).

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Giá bán điện là giá đàm phán giữa EVN và chủ đầu tư. Trong phân

tích tài chính của giai đoạn này giá bán điện là giá trung bình tại thanh cái

tạm tính theo giá điện bình quân của các dự án tương đương cùng thời và tỷ

lệ trượt giá của điện năng khi công trình bắt đầu đi vào vận hành.

- Điện lượng thương phẩm của dự án ước tính tương đương với 90%

điện lượng được phát ra hàng năm (tổn thất tự dùng tạm tính là 1%). Các khoản chi phí trực tiếp trong quá trình vận hành dự án. - Chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M): Là toàn bộ các chi phí đảm bảo cho công trình vận hành liên tục và an toàn. Chi phí O&M gồm các khoản lương cho quản lý, chi phí vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ, chi phí nguyên, nhiên, vật liệu,... Chi phí O&M trong dự án được tính bằng 1,0% (Vốn XD+ Vốn TB).

- Các khoản thuế theo luật định gồm: + Thuế tài nguyên nước đối với khai thác thủy điện : 2% doanh thu. + Thuế TNDN: áp dụng nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật Thuế TNDN (Công trình thủy điện Bảo Lâm thuộc danh mục A, thực hiện ở địa bàn thuộc danh mục C được miễn thuế 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 09 năm tiếp theo. Công trình có mức thuế suất ưu đãi là 10% trong 15 năm (đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ Dự án đầu tư). Sau thời hạn này mức thuế suất phải nộp là 28%). Phương án vay vốn và kế hoạch trả nợ: Tổng mức đầu tư công trình trước thuế: 6.230,184 tỷ đồng Phương án vốn:

+ Vốn tự có 30% TMĐT + Vay NHTM trong nước : 1.869,055 tỷ đồng. : 1.072,947 tỷ đồng (lãi suất

12,5%/năm)

+ Vay NHPT : 2.554,478 tỷ đồng (lãi suất

8,4%/năm)

: 733,704 tỷ đồng (lãi suất 7%/năm)

+ Vay tín dụng nước ngoài Kế hoạch trả nợ: Trả gốc vốn vay thương mại bằng 10 năm.

55

Phân tích độ nhạy tài chính:

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Để đánh giá hiệu quả về mặt tài chính của công trình trong các trường hợp biến động về vốn và sản lượng điện hàng năm theo chiều hướng bất lợi cho công trình. Đã tiến hành tính toán phân tích độ nhạy cho phương án tài chính kiến nghị trên đây trong 3 trường hợp sau:

 Vốn đầu tư tăng 10%.  Năng lượng điện giảm 10% so với thiết kế.  Vốn đầu tư tăng 5% + năng lượng điện giảm 5% so với thiết kế.

Kết quả tính toán

Các kết quả tính toán phân tích hiệu quả tài chính công trình thủy

điện Bảo Lâm cho các trường hợp nêu trên được trình bày ở phần phụ lục.

Kết quả tính toán các chỉ tiêu tài chính của phương án kiến nghị

được trình bày ở bảng 5.5.

Thv (Năm) Giá bán điện (US Cent/kwh) Eo (106kWh) FIRR (%) B/C - Chỉ tiêu tài chính của phương án kiến nghị VĐT thuần (109đồng)

Trường hợp NPV (109đồng ) Phương án gốc

6,4 761,215 6.230,184 -19,649 9,36 1,43 -

6,5 761,215 6.230,184 60,402 9,62 1,46 12,8

6,6 761,215 6.230,184 140,454 9,88 1,49 12,6

6,7 6,8 761,215 6.230,184 208,776 10,11 761,215 6.230,184 288,362 10,37 1,51 1,54 12,4 12,2

Trường hợp Vốn tăng 10%

7,0 761,215 6.853,203 -119,956 9,22 1,40 -

7,1 761,215 6.853,203 -40,903 9,45 1,43 -

7,2 761,215 6.853,203 38,150 9,69 1,46 12,7

Trường hợp Điện năng giảm 10%

7,0 685,094 6.230,184 -92,238 9,12 1,40 -

7,1 685,094 6.230,184 -20,191 9,36 1,43 -

7,2 685,094 6.230,184 51,855 9,59 1,45 12,8

Trường hợp Vốn tăng 5% + điện năng giảm 5%

7,0 723,154 6.541,693 -100,171 9,19 1,40 -

56

7,1 7,2 723,154 6.541,693 -37,110 723,154 6.541,693 38,191 9,39 9,62 1,42 1,45 - 12,8

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Sau khi tính toán, phân tích tài chính theo phương án huy động vốn như trên ta thấy. Dự án có hiệu quả thấp do chi phí đền bù giải phóng mặt bằng và di dân tái định cư quá lớn. Dự án có hiệu quả tài chính, đem lại lợi nhuận cho chủ đầu tư với giá bán điện từ 6,5 US cent/kWh trở lên.

 Phân tích các chỉ tiêu kinh tế - tài chính trong trường hợp có sự

hồ trợ của nhà nước. Qua kết quả phân tích hiệu quả kinh tế, tài chính ở trên cho thấy dự án có tính khả thi thấp do chi phí đền bù di dân giải phóng mặt bằng quá lớn, nên đã đưa ra phương án có sự hỗ trợ của nhà nước để đánh giá lại mức độ hiệu quả của dự án. Các phương án hỗ trợ giả thiết như sau:

a/ Nhà nước hỗ trợ chi phí xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở:

745.033.870.000 đồng.

b/ Nhà nước hỗ trợ toàn bộ chi phí đền bù giải phóng mặt bằng di

dân tái định cư: 2.453.032.313.279 đồng.

Kết quả tính toán cho 2 trường hợp hỗ trợ trên xem bảng sau. Chỉ tiêu kinh tế – tài chính trường hợp nhà nước hỗ trợ chi phí xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở: 745.033.870.000 đồng. Chỉ tiêu tài chính Chỉ tiêu kinh tế

Thv (Năm) EIRR (%) B/C - FIRR (%) B/C - Giá bán điện (US Cent/kwh) NPV (109đồng )

177,239 10,43 1,04 NPV (109đồng ) -50,858 9,44 1,42 - 5,7

258,228 10,62 1,06 27,135 9,74 1,46 12,7 5,8

339,217 10,81 1,08 95,259 10,00 1,49 12,4

5,9

Chỉ tiêu kinh tế – tài chính trường hợp nhà nước hỗ trợ toàn bộ chi phí đền bù giải phóng mặt bằng di dân tái định cư: 2.453.032.313.279 đồng.

Chỉ tiêu kinh tế Chỉ tiêu tài chính

Thv (Năm) Giá bán điện (US Cent/kwh) EIRR (%) B/C - FIRR (%) B/C -

4,2 NPV (109đồng ) 402,081 11,49 1,15 NPV (109đồng ) -40,561 10,23 1,46 -

4,3 483,069 11,78 1,18 23,233 10,64 1,51 11,9

57

4,4 564,058 12,07 1,21 93,230 11,10 1,56 11,7

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Kết luận.

Công trình thủy điện Bảo Lâm với MNDBT 230m, MNC 200m, công suất lắp đặt 190MW, sẽ cung cấp cho hệ thống điện lượng trung bình hàng năm là 761,22 triệu kWh. Công trình được xây dựng sẽ đáp ứng nhu cầu điện năng trong khu vực, giảm bớt tình hình thiếu hụt điện năng của toàn hệ thống, đặc biệt là trong giờ cao điểm. Ngoài nhiệm vụ phát điện công trình còn có nhiệm vụ quan trọng là chống lũ hạ du với dung tích phòng lũ 500 triệu m3. Ngoài ra công trình thủy điện Bảo Lâm sẽ đem lại tiềm năng du lịch, kích thích các loại dịch vụ phát triển. Vì vậy sự ra đời của công trình thủy điện Bảo Lâm là hợp lý và cần thiết.

Về hiệu quả đầu tư của công trình: Do đặc thù công trình thủy điện có kết hợp phòng lũ và chi phí đền bù giải phóng mặt bằng di dân tái định cư lớn, nên đã làm giảm điện năng sản xuất và tổng vốn đầu tư xây dựng công trình tăng rất lớn. Do đó dự án có hiệu quả kinh tế và tài chính rất thấp, qua kết quả phân tích tài chính cho thấy dự án chỉ mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư với giá bán điện từ 6,5 US cent/kWh trở lên.

Nhằm đánh giá tính hiệu quả của dự án trong các trường hợp biến động bất lợi cho dự án có thể xẩy ra, phân tích độ nhạy đã được thực hiện nhằm mục đích khảo sát các tác động tới hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu tài chính của dự án khi vốn đầu tư tăng 10%, điện năng giảm 10% và trường hợp vốn tăng 5% + điện năng giảm 5%. Kết quả phân tích cho thấy dự án chỉ có hiệu quả tài chính khi xẩy ra 1 trong 3 trường hợp trên với giá bán điện từ 7,2 US cent/kWh trở lên.

58

Từ kết quả phân tích như trên cho thấy để dự án có hiệu quả thì giá bán điện  6,5 US cent/kWh là không thể có tại thời điểm hiện tại. Do đó để dự án có tính khả thi đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân và lợi nhuận cho chủ đầu tư, kiến nghị nhà nước cần hỗ trợ chi phí đền bù giải phóng mặt bằng cho dự án (khoảng 2.500 tỷ đồng).

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

CHƯƠNG III

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN BẢO LÂM

VÀ PHÂN TÍCH DỰ ÁN DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

3.1 Tổng quan về kinh tế – xã hội

3.1.1 Hiện trạng phát triển kinh tế Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006-2009

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 4 năm 2006-2009 tương đối cao và đạt

mục tiêu đề ra. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân hàng năm

đạt 7,07%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng bình quân hàng năm 4,45%

của thời kỳ 1986-1990, là thời kỳ nước ta bắt đầu thực hiện đổi mới; đồng

thời cũng cao hơn tốc độ tăng bình quân hàng năm 6,95% của 5 năm 1996–

2000 nhưng thấp hơn tốc độ tăng bình quân hàng năm 7,51%/năm của 5

năm giai đoạn 2001-2005. Trong ba khu vực kinh tế thì khu vực công

nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm cao nhất với

mức tăng 8,0%/năm; khu vực dịch vụ tăng bình quân hàng năm 7,78%; khu

vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,48%/năm.

Tăng trưởng diễn ra ở tất cả các khu vực kinh tế; tăng trưởng trong

từng khu vực đều đi đôi với chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng sản

phẩm.

Tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2009 được cho trong bảng sau:

Bảng 3. 1 Tăng trưởng GDP phân theo các ngành kinh tế

Ước KH STT Chỉ tiêu 2000 2006 2007 2008 2009 2010

273666 425373 461344 490458 516568 550145 1

59

63717 79722 82717 86587 88168 90637 GDP theo giá 1994 (tỷ đồng) 1.1 Nông - lâm, thủy sản

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Ước KH STT Chỉ tiêu 2000 2006 2007 2008 2009 2010

1.2 96913 174259 192065 203554 214799 229835

Công nghiệp - xây dựng

113036 171392 186562 200317 213601 229673 1.3 Dịch vụ

6,79 8,23 8,46 6,31 5,32 6,50 2 Tốc độ tăng GDP (%)

4,63 3,69 3,76 4,68 1,83 2,80

2.2 10,07 10,38 10,22 5,98 5,52 7,00

2.1 Nông - lâm, thủy sản Công nghiệp - xây dựng

6,63 7,50 7,37 8,85 8,29 5,32

Hình 3. 1 Tốc độ tăng GDP

2.3 Dịch vụ Nguồn: Niên giám thống kê 2009 và Bộ Kế hoạch &Đầu tư

Nhìn lại tăng trưởng của nền kinh tế trong những năm qua, chúng ta

thấy một số vấn đề cần được quan tâm trong những năm tới:

 Tăng trưởng nhìn chung chưa thực sự vững chắc. Tốc độ tăng trưởng

khá cao nhưng khoảng cách so với các nước trong khu vực chưa giảm

60

mà còn tăng lên. Điều này thể hiện hiệu quả của các chính sách trong

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

những năm qua chưa thực sự phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn

nền kinh tế để tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả

và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chậm được cải thiện. Đóng

góp vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là yếu tố vốn vật chất, giai đoạn 2001-

2007, mức đóng góp của tài sản vật chất vào tăng trưởng kinh tế là

56,7%. Mức đóng góp của lao động và tổng các yếu tố năng suất (TFP)

lần lượt là 18,52% và 24,78%. Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện ở 3

mặt kinh tế, xã hội và môi trường: sức cạnh tranh của sản phẩm và của

nền kinh tế còn hạn chế và yếu kém, năng suất lao động thấp; tiến bộ về

xã hội chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế; tình trạng ô nhiễm còn

nặng và tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá, chưa có các giải pháp khắc

phục hữu hiệu.

 Quy mô nền kinh tế còn nhỏ và nguy cơ tụt hậu còn lớn. Nãm 2009,

GDP ðạt khoảng 89,6 tỷ USD và bình quân đầu người đạt khoảng 1.042

USD, còn rất thấp so với các nước phát triển trong khu vực. Khoảng

cách giữa Việt Nam với các nước tuy có rút ngắn, nhưng nguy cơ tụt

hậu về kinh tế vẫn còn lớn.

 Tăng trưởng có được trong những năm qua phụ thuộc rất lớn vào nguồn

vốn đầu tư trong điều kiện nước ta đang thiếu vốn, yếu tố về khoa học

và công nghệ đóng góp vào tăng trưởng tuy có tăng lên, nhưng vẫn

chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong khi đó, lao động hiện vẫn tạm thời được coi

là lợi thế thì việc khai thác lợi thế đó chưa được coi trọng đúng mức, kể

cả công tác đào tạo và sử dụng, nhất là lao động khu vực nông thôn.

GDP bình quân đầu người

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, đời sống đại bộ phận dân cư

trong những năm qua đã có những bước cải thiện đáng kể. Thu nhập bình

quân đầu người của dân cư đã tăng nhanh từ 730 USD năm 2006 lên 843

61

USD năm 2007, 1052 USD năm 2008 và ước đạt 1042 USD năm 2009.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Tình trạng đói, nghèo theo tiêu chuẩn mới của Chính phủ Việt Nam

(tỷ lệ hộ nghèo được tính theo thu nhập bình quân 1 người 1 tháng giai

đoạn 2006-2010, trong đó thành thị 260 nghìn đồng, nông thôn 200 nghìn

đồng) giảm khá nhanh, từ khoảng 15,5% số hộ năm 2006 giảm xuống

14,8% năm 2007 và chỉ còn 13,4% năm 2008. Tỷ lệ đói nghèo theo tiêu

chuẩn quốc tế (tỷ lệ hộ nghèo được tính theo mức chi tiêu bình quân 1

người 1 tháng với chuẩn nghèo chung của Tổng cục Thống kê và Ngân

hàng thế giới cho các năm 2006: 213 nghìn đồng, 2008: 280 nghìn đồng)

đã giảm từ 19,5% năm 2004 xuống 16,0% năm 2006 và giảm xuống còn

14,5% năm 2008. Như vậy trong 3 năm 2006-2008 đã giảm được 2,5% số

hộ đói nghèo. Điều này càng có ý nghĩa hơn khi chuẩn đói nghèo được

nâng dần phù hợp với chuẩn nghèo chung của thế giới.

Kết quả xoá đói giảm nghèo trên đã được Ngân hàng thế giới đánh

giá là chưa một quốc gia nào lại đạt được sự giảm nghèo đói một cách

mạnh mẽ chỉ trong một thời gian ngắn như Việt Nam. Kết quả xoá đói

giảm nghèo đã trực tiếp tạo ra những phản ứng tích cực tiếp theo về giáo

dục, y tế, về tiêu dùng dinh dưỡng… trong các tầng lớp dân cư, đặc biệt là

tầng lớp dân cư nghèo. Theo xếp hạng công bố năm 2009 của UNDP, hệ số

HDI của Việt Nam được cải thiện từng bước năm 2007 HDI là 0,725 tăng

0,005 so với năm 2006 (0,720) và xếp thứ 116/182 nước. Xếp thứ 1 là Na

Uy HDI là 0,971 và xếp thứ 182 là Niger HDI bằng 0,340. Đó là thành tựu

mà không có nước nào có mức thu nhập như Việt Nam có được.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Đến năm 2009, tỷ trọng trong GDP của

khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm xuống còn 20,91%; khu vực

62

công nghiệp và xây dựng tăng lên 40,24%; khu vực dịch vụ 38,85%.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Bảng 3. 2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động (%)

Ước TT Ngành 2001 2005 2006 2007 2008 2009

100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 Cơ cấu ngành kinh tế 100,00 0 0 0 0 0

Nông, lâm nghiệp và 23,04 20,97 20,40 20,30 22,21 20,91 1 thủy sản

Công nghiệp và xây 2 38,23 41,02 41,54 41,58 39,84 40,24 dựng

3 Dịch vụ 38,73 38,01 38,06 38,12 37,95 38,85

Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế - xã hội 2001-2009, Tổng cục

Thống kê Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp đã có chuyển dịch đáng kể theo

hướng công nghiệp hoá, từng bước hiện đại hoá. Cơ cấu sản xuất và cơ cấu

sản phẩm công nghiệp đã được chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng

công nghiệp chế biến trong giá trị tăng thêm. Ngành công nghiệp chế biến

đã bước đầu khai thác được các lợi thế về nguồn nguyên liệu sản xuất trong

nước để nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu.

3.1.2 Các kịch bản phát triển kinh tế

a) Các kịch bản dự kiến

(1) Kịch bản tăng trưởng nhanh

Kịch bản này được thiết kế với những giả định như sau:

- Kinh tế thế giới thoát khỏi khủng hoảng và phục hồi tăng trưởng vào

năm 2010; quá trình cơ cấu lại (tái cấu trúc) kinh tế thế giới và của các

nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế lớn thành công và phát huy hiệu

quả;

63

- Môi trường quốc tế ổn định và thuận lợi ;

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

- Thị trường năng lượng (đặc biệt là dầu mỏ) ổn định: giá dầu mỏ tăng ổn

định ở mức hợp lý;

- Việt Nam chủ động hội nhập thành công vượt qua những thách thức của

toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; sớm thoát khỏi ảnh hưởng của

khủng hoảng kinh tế thế giới và tăng trưởng ở mức cao sau năm 2009;

- Các yếu tố trong nước được huy động ở: (i) mức cao trên cơ sở các cải

cách về thể chế, chính sách, cải cách hành chính được thực hiện tốt; (ii)

các cải cách (toàn diện) liên tục được thực hiện tạo ra khả năng huy

động các nguồn lực liên tục, ổn định và bền vững cho cả giai đoạn tới

năm 2020 và những năm tiếp theo.

- Các chính sách được hướng tới thúc dẩy phát triển nhanh các ngành

công nghiệp tạo giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ, chất xám

cao, hướng về xuất khẩu, bài toán về lao động được giải quyết thoả đáng

trên cơ sở phát triển khu vực dịch vụ chất lượng cao và các ngành công

nghiệp sử dụng nhiều lao động; hệ thống hạ tầng kỹ thuật được hình

thành cơ bản; đồng thời phát triển mạnh các ngành công nghiệp cơ bản

tạo đầu vào cho nền kinh tế vào khoảng năm 2020, tạo sự phát vững

chắc ở mức cao cho các giai đoạn tiếp theo.

(2) Kịch bản cơ sở

- Kịch bản cơ sở có các giả thiết về môi trường kinh tế thế giới, giá năng

lượng trên thế giới diễn biến tương tự như phương án cao;

- Giả thiết Việt Nam sẽ vượt ra khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế

năm 2009 và tăng trưởng trở lại sau năm (2010);

- Các yếu tố trong nước được huy động ở: (i) trung bình trên cơ sở các cải

cách về thể chế, chính sách, hành chính được thực hiện tương đối tốt;

(ii) các cải cách (toàn diện) liên tục được thực hiện tạo ra khả năng huy

động các nguồn lực liên tục, ổn định và bền vững cho cả giai đoạn tới

64

năm 2020 và những năm tiếp theo.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

- Các chính sách được hướng tới thúc đẩy phát triển nhanh các ngành

công nghiệp tạo giá trị gia tăng cao, hướng về xuất khẩu, bài toán về lao

động được giải quyết thoả đáng trên cơ sở phát triển khu vực dịch vụ và

các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động; hệ thống hạ tầng kỹ

thuật được phát triển ở mức độ vừa phải phù hợp với khả năng tích luỹ

còn hạn chế; đồng thời phát triển có chọn lọc các ngành công nghiệp cơ

bản vào khoảng năm 2020. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các ngành công

nghiệp cơ bản tiếp tục đầu tư tạo sự phát vững chắc cho các giai đoạn

tiếp theo.

(3) Kịch bản tăng trưởng không thuận lợi

- Kinh tế thế giới chưa thoát khỏi khủng hoảng vào năm 2009 và chậm

phục hồi tăng trưởng; ảnh hưởng khủng hoảng kéo dài, thậm chí tạo

hiệu ứng trì trệ hơn so với khủng hoảng tài chính Châu Á 1997;

- Môi trường quốc tế kém ổn định (thị trường, các quan hệ kinh tế quốc tế

không thật sự ổn định);

- Thị trường năng lượng (đặc biệt là dầu mỏ) không ổn định, giá dầu tăng

cao

- Việt Nam tiếp tục gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng, kinh tế trong

nước có xu hướng trì trệ giống như tác động của khủng hoảng tài chính

Châu Á 1997;

- Các yếu tố trong nước được huy động ở: (i) thấp trên cơ sở các cải cách

về thể chế, chính sách, cải cách hành chính chậm được thực hiện môi

trường trong nước không thật sự thuận lợi theo huớng phục vụ đáp ứng

nhu cầu phát triển kinh tế; (ii) các cải cách (toàn diện) được thực hiện

kéo dài và chỉ thật sự tạo ra khả năng huy động các nguồn lực liên tục,

ổn định và bền vững cho những năm sau 2020 tiếp theo.

- Các các ngành công nghiệp tạo giá trị gia tăng cao, hướng về xuất khẩu

65

phát triển ở mức vừa phải, bài toán về lao động được giải quyết chưa

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

được giải quyết thật sự; hệ thống hạ tầng kỹ thuật được phát triển ở mức

độ thấp; đồng thời phát triển có chọn lọc các ngành công nghiệp cơ bản

vào khoảng năm 2020. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các ngành công

nghiệp cơ bản tiếp tục đầu tư tạo sự phát vững chắc cho các giai đoạn

tiếp theo.

b) Kết quả dự báo1

(1) Kịch bản tăng trưởng nhanh

Kịch bản tăng trưởng nhanh được xác định với tỉ lệ 7,96% cho giai

đoạn 2011 đến năm 2015, 8,44% cho giai đoạn 2016 đến 2020. Mức bình

quân cho cả giai đoạn 2011-2020 được dự báo là 8,2%, đây là mức tăng

trưởng khá cao. Mức tăng trưởng từ 8,5-8,7% được kỳ vọng cho giai đoạn 2021 đến 2030 2.

Ngành công nghiệp và xây dựng đạt được sự gia tăng khá cao, trung

bình trên 9,0% đối với giai đoạn đến 2020 và 2030. Ngành nông nghiệp

tăng trưởng tương đối ổn định ở mức xấp xỉ từ 2,2-3,0%. Khu vực dịch vụ

tăng trưởng từ 8,6% đến 9,25% theo các giai đoạn đến năm 2030.

Vì sự tăng trưởng nhanh của các khu vực công nghiệp và xây dựng,

khu vực dịch vụ nên cơ cấu kinh tế có sự chuyển đổi mạnh. Tỷ trọng nông

nghiệp trong GDP giảm xuống còn 13,71% vào năm 2020, mặc dù khu vực

này vẫn có được tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trong khi tỷ lệ công

nghiệp và xây dựng là 43,22%; dịch vụ 42,7%. Các tỷ lệ này tương ứng vào

năm 2030 là nông nghiệp 8,29%; công nghiệp và xây dựng 44,14%; dịch

1 Chi tiết trình bày trong các bảng kèm theo 2 Với kịch bản này tỷ lệ tăng trưởng được kỳ vọng liên tục ở mức cao cho các giai đoạn đến 2050 tương ứng là: 8,30% cho giai đoạn 2031-2040, 8,02% cho giai đoạn 2041-2050. Các tỷ lệ này chỉ có giá trị tham khảo.

66

vụ 47,58%.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Tăng trưởng kinh tế dự báo có sự khác biệt đáng kể theo vùng kinh

tế (để thuận tiện cho việc nghiên cứu phát triển ngành điện, vùng kinh tế ở

đây được chia ra theo ba vùng điện lực). Theo đó, vùng I và vùng III vẫn có

mức tăng trưởng kinh tế khá cao ở giai đoạn đầu so với vùng II.

Chi tiết các dự báo phát triển trình bày trong bảng sau đây.

Bảng 3. 3 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (Tăng trưởng nhanh) TT Danh mục 2015 2020 2010 2030

102.42 Dân số (nghìn người) 86.900 91.337 96.000 1 1

Cơ cấu GDP (giá thực tế %) 100,00 100,00 100,00 100,00 2

2.1 Nông, lâm, thuỷ sản 19,90 16,59 13,71 8,29

2.2 Công nghiệp - xây dựng 40,30 41,98 43,22 44,14

2.3 Dịch vụ 39,80 41,43 42,70 47,58

Tốc độ tăng trưởng (giá 11-15 16-20 21-30 11-20 3 1994-%)

Tổng GDP 7,96 8,44 8,64 8,20

3.1 Theo ngành

3.1.1 Nông, lâm, thuỷ sản 3,00 2,20 2,20 2,60

3.1.2 Công nghiệp - xây dựng 9,00 9,26 9,11 9,13

3.1.3 Dịch vụ 8,66 9,25 9,20 8,96

3.2 Theo vùng

6,69 7,29 8,20 3.2.1 Vùng I

Nông nghiệp 3,37 1,72 1,77

Công nghiệp - xây dựng 7,49 9,02 8,98

Dịch vụ 6,92 6,87 8,37

67

5,88 6,71 7,97 3.2.2 Vùng II

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

TT Danh mục 2010 2015 2020 2030

Nông nghiệp 2,64 2,29 2,35

Công nghiệp - xây dựng 6,39 9,22 9,20

Dịch vụ 7,12 6,17 8,30

9,13 9,36 8,95 3.2.3 Vùng III

Nông nghiệp 2,90 2,44 2,39

9,16 Công nghiệp - xây dựng 10,38 9,40

Dịch vụ 10,03 10,98 9,68

4 GDP/người

GDP/người (giá thực tế-triệu 22,2 46,3 96,8 392,8 đồng) 4.1

4.2 GDP/người (giá thực tế-USD) 1.221 2.065 3.500 11.052

(2) Kịch bản tăng trưởng chậm Các tính toán phân tích cũng cho thấy rằng để duy trì được tốc độ

tăng trưởng cao là một thách thức đối với bất cứ quốc gia nào, và cụ thể

hơn là đối với Việt Nam. Đặc biệt là khả năng thoát khỏi khủng hoảng và

phục hồi tăng trưởng. Nếu không có sự quản lý, vận hành tốt hoạt động của

nền kinh tế quốc dân, môi trường chính sách không được cải thiện để

khuyến khích các hoạt động đầu tư (từ các nguồn cả trong và ngoài nước),

nội lực của nền kinh tế không được phát huy tốt, vì vậy nguồn ngoại lực

tương ứng cũng huy đông ở mức yếu kém, và các hoạt động kinh tế kém

hiệu quả, hội nhập kinh tế quốc tế không thực sự thành công. Kinh tế thế

giới chậm phục hồi ảnh hưởng nặng tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở giai

68

đoạn đầu hậu khủng hoảng.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Dự kiến nền kinh tế sẽ tăng trưởng chậm ở mức như sau3: Giai đoạn

2011-2015: 6,96%; Giai đoạn 2016-2020: 7,0%; Giai đoạn 2021-2030:

7,22%.

Theo kịch bản này cả ba khu vực: công nghiệp & xây dựng, nông

nghiệp, dịch vụ đều tăng trưởng ở mức tương đối thấp. Ngành công nghiệp

và xây dựng sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng khoảng 7,54% cho giai đoạn

2011-2015 và khoảng 7,5% cho giai đoạn 2016-2020. Ngành nông nghiệp

tăng trưởng ổn định mức thấp, bình quân 2,36% cả thời kỳ. Khu vực dịch

vụ cũng tăng trưởng ở mức thấp, bình quân 7-8% tùy theo các giai đoạn.

Tương ứng, mức tăng trưởng công nghiệp cũng chỉ duy trì ở khoảng 7,3-

7,5%, dịch vụ khoảng 7,8-8,0 và nông nghiệp khoảng 2% cho giai đoạn

2021-2030.

Cơ cấu kinh tế theo kịch bản này chuyển đổi chậm hơn, đặc trưng

bởi khu vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao vào năm 2020 (15,0%) và

khoảng 10,1% vào năm 2030.

Theo ba vùng điện lực, vùng I và vùng III vẫn có mức tăng trưởng

kinh tế khá cao ở giai đoạn đầu so với vùng II.

Bảng 3. 4 Tăng trưởng kinh tế đến năm 20304 (Phương án chậm) 2030 2020 2015 2010 TT Danh mục

102.42 1 Dân số (nghìn người) 86.900 91.337 96.000 1

2 Cơ cấu GDP (giá thực tế-%) 100,00 100,00 100,00 100,00

2.1 Nông, lâm, thuỷ sản 19,90 17,10 15,00 10,10

2.2 Công nghiệp - xây dựng 40,30 41,00 42,01 41,41

3 Các dự báo cho giai đoạn 2031-2050 dùng để tham khảo, theo đó: tốc độ tăng GDP giai đoạn 2031-2040 là 6,8%; giai đoạn 2041-2050 là 6,5-6,6%. 4 Chi tiết dự báo tăng trưởng đến năm 2050 trình bày trong Phụ Lục kèm theo.

69

2.3 Dịch vụ 39,80 41,90 43,00 48,49

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

TT Danh mục 2010 2015 2020 2030

Tốc độ tăng trưởng (giá 3 11-15 16-20 21-30 11-20 1994-%)

Tổng GDP 6,96 7,00 7,22 6,98

3.1 Theo ngành

3.1.1 Nông, lâm, thuỷ sản 2,72 2,00 2,00 2,36

3.1.2 Công nghiệp - xây dựng 7,54 7,50 7,35 7,52

3.1.3 Dịch vụ 7,96 8,00 7,95 7,98

3.2 Theo Vùng

5,72 5,89 6,72 3.2.1 Vùng I

Nông nghiệp 3,09 1,52 1,57

Công nghiệp - xây dựng 6,05 7,26 7,23

Dịch vụ 6,22 5,64 7,13

4,99 5,40 6,53 3.2.2 Vùng II

Nông nghiệp 2,36 2,09 2,15

Công nghiệp - xây dựng 4,96 7,47 7,44

Dịch vụ 6,42 4,95 7,06

8,15 7,97 7,51 3.2.3 Vùng III

Nông nghiệp 2,62 2,24 2,19

Công nghiệp - xây dựng 8,91 7,64 7,40

Dịch vụ 9,31 9,71 8,43

4 GDP/người

GDP/người (giá thực tế-triệu 4.1 22,2 44,4 86,5 308,8 đông)

70

4.2 GDP/người (giá thực tế-USD) 1.221 1.976 3.125 8.689

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Với mức độ tăng trưởng như trong kịch bản này thì Việt Nam khó có

thể đạt được những mục tiêu mong muốn và thu hẹp dần khoảng cách phát

triển với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.

Kịch bản cơ sở:

Một dự báo khác được đưa ra về sự phát triển kinh tế Việt Nam đến

giai đoạn 2020 (và sau đó là các giai đoạn tiếp theo) đó là kịch bản tăng

trưởng cơ sở. Ở kịch bản này các khu vực công nghiệp - xây dựng, dịch vụ

nhìn chung có sự phát triển thấp hơn so với mức tăng trưởng của kịch bản

tăng trưởng nhanh nhưng với tốc độ khá cao hướng tới đạt mức thu nhập

bình quân đầu người vào nhóm trung bình cao của các nước đang phát triển

(khoảng trên 3000 USD theo thời giá thực tế). Kinh tế thế giới và trong

nước phục hồi tương đối sớm sau tác động của khủng hoảng.

Theo đánh giá chung, kịch bản tăng trưởng này, nhìn chung có tính

hiện thực hơn, đặc biệt là khi xem xét đến kinh nghiệm tăng trưởng của

những năm vừa qua.

Ngành nông nghiệp duy trì được mức tăng trưởng gần giống như

trong các kịch bản khác (nhìn chung đối với nhiều dự báo kinh tế vĩ mô,

khu vực nông nghiệp có mức độ tăng trưởng ít thay đổi), trong khi khu vực

công nghiệp và dịch vụ duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao.

Dự kiến các tỷ lệ tăng trưởng như sau5: giai đoạn 2011-2015: 7,5%;

giai đoạn 2016-2020: 8,0%; giai đoạn 2021-2030: 7,83%.

Ở kịch bản này sự chuyển đổi cơ cấu ở mức vừa phải, hợp lý. Tỷ

trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế giảm dần xuống 14,33% vào năm

2020, trong khi các ngành công nghiệp và dịch vụ có tỷ trọng xấp xỉ 42-

43%. Đến năm 2030 khu vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng trên 9%,

5 Giai đoạn 2031-2040: 7,80%; Giai đoạn 2041-2050: 7,53%.

71

công nghiệp và xây dựng khoảng 42,22%, dịch vụ khoảng 48,53%.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Tương tự tăng trưởng kinh tế cũng được dự báo theo ba vùng điện

lực. Theo đó, vùng I và vùng III vẫn có mức tăng trưởng kinh tế khá cao ở

giai đoạn đầu so với vùng II. Vùng II sẽ tăng trưởng nhanh hơn trong các

giai đoạn sau so với Vùng I.

Bảng 3. 5 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (Phương án cơ sở) 2030 2015 2020 2010 TT Danh mục

86.90 Dân số (nghìn người) 91.337 96.000 102.421 1 0

100,0 100,00 100,00 100,00 2 Cơ cấu GDP (giá thực tế-%) 0

2.1 Nông, lâm, thuỷ sản 19,90 16,93 14,33 9,26

2.2 Công nghiệp - xây dựng 40,30 41,68 42,62 42,22

2.3 Dịch vụ 39,80 41,39 43,07 48,53

Tốc độ tăng trưởng (giá 3 11-15 16-20 21-30 31-40 1994-%)

Tổng GDP 7,50 8,00 7,83 7,57

3.1 Theo ngành

3.1.1 Nông, lâm, thuỷ sản 3,00 2,20 2,20 2,20

3.1.2 Công nghiệp - xây dựng 8,40 8,60 8,05 7,45

3.1.3 Dịch vụ 8,59 8,19 8,20 8,95

Theo vùng 3.2

7,38 6,23 6,84 3.2.1 Vùng I

Nông nghiệp 1,77 3,37 1,72

Công nghiệp - xây dựng 6,90 8,36 7,93

Dịch vụ 7,77 6,46 6,57

7,18 5,47 6,29 3.2.2 Vùng II

72

Nông nghiệp 2,35 2,64 2,29

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

TT Danh mục 2010 2015 2020 2030

Công nghiệp - xây dựng 5,80 8,56 8,14

Dịch vụ 6,66 5,88 7,69

8,67 8,91 8,16 3.2.3 Vùng III

Nông nghiệp 2,90 2,44 2,39

Công nghiệp - xây dựng 9,78 8,74 8,10

Dịch vụ 9,56 10,68 9,07

4 GDP/người

GDP/người (giá thực tế-triệu 4.1 22,2 45,4 92,7 351,6 đồng)

4.2 GDP/người (giá thực tế-USD) 1.221 2.023 3.350 9.891

3.2 Phân tích tổng quan hệ thống năng lượng Việt Nam

3.2.1 Tương quan năng lượng – kinh tế giai đoạn quy hoạch trước

Từ khi khởi đầu chính sách đổi mới năm 1986, nền kinh tế của Việt

Nam đã phát triển đúng hướng với tỷ lệ tăng trưởng ngoạn mục và nhu cầu

năng lượng tăng lên nhanh chóng. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn phát triển

một cách vững chắc nguồn năng lượng trong nước và nhận thức rõ sự tự

chủ về năng lượng. Hiện tại, nhu cầu năng lượng của Việt Nam, đặc biệt là

nhu cầu điện năng vẫn chưa được đáp ứng đủ và do đó khả năng rất cao là

nhu cầu năng lượng trong nước có thể tăng nhanh hơn cả trong quá khứ.

Nói một cách khác, sản lượng điện năng trong nước có thể được dự báo

tăng đến mức đỉnh. Do đó, Việt Nam phải chuyển từ xuất khẩu năng lượng

sang nhập khẩu năng lượng. Điều đó cho thấy rằng vấn đề năng lượng của

Việt Nam sẽ chuyển từ giới hạn trong phạm vi một quốc gia thành một

73

phần của thị trường quốc tế và chịu sự tác động thay đổi của nó.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giai đoạn

2000-2009 là 7,3%/năm; tổng sản phẩm quốc nội theo giá so sánh tăng từ

273,6 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 515,9 nghìn tỷ đồng năm 2009. Giai

đoạn 2000-2007 Việt Nam vẫn tiếp tục có sự tăng trưởng kinh tế cao với

7,75%/năm cho đến khi chịu ảnh hưởng của "Cuộc khủng hoảng kinh tế"

năm 2008. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 6,15% năm 2008, và

giảm xuống còn 5,32% năm 2009.

Trong giai đoạn 2000-2009, ngành sản xuất và khai thác đạt tỷ lệ tăng

trưởng cao nhất là: 9,3%, tiếp theo là ngành giao thông vận tải: 8,9%,

ngành thương mại đạt 7,8%, ngành dịch vụ và các ngành khác đạt 6,3%,

ngành nông nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng thấp nhất với 3,6%.

Tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam giảm từ

24,5% năm 2000 xuống 20,7% năm 2009, trong khi ngành sản xuất và khai

thác mỏ tăng từ 36,7% lên 40,2%. Trong cùng kỳ, ngành giao thông vận tải

tăng tỷ trọng từ 3,9% lên 4,4%, ngành thương mại tăng từ 17,5% lên

18,9%, trong khi ngành dịch vụ giảm từ 17,3% xuống 15,8%. Mặc dù tăng

trưởng từng bước, nhưng tỷ trọng của ngành giao thông vận tải vẫn còn ở

mức khiêm tốn. Bảng dưới đây thể hiện sự thay đổi cơ cấu kinh tế của Việt

74

Nam giai đoạn 2000-2009.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Hình 3. 2 cơ cấu kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2000-2009

Năm 2000 Năm 2009

Từ sự phát triển và thay đổi cơ cấu của nền kinh tế, nhu cầu năng

lượng tăng từ 26,3 triệu tấn dầu quy đổi lên 46,8 triệu tấn dầu quy đổi trong

giai đoạn 2000-2009, tương ứng nhu cầu năng lượng thương mại tăng từ

12,09 triệu tấn dầu qui đổi lên 32 triệu tấn, với tỷ lệ tăng trưởng hằng năm

đạt 11,5%. Mặc dù bị ảnh hưởng tiêu cực dẫn đến giảm sút trong giai đoạn

khủng hoảng năm 2008 nhưng hệ số đàn hồi năng lượng thương mại/GDP

vẫn đạt gần 1.6 trong giai đoạn 2000-2009.

Tỷ lệ tiêu thụ năng lượng trong các ngành công nghiệp, vận tải và

các lĩnh vực khác thay đổi từ 39:32:30 năm 2000 sang 43:32:25 năn 2009.

Tỷ trọng của ngành công nghiệp tăng lên rõ rệt, trong khi tỷ trọng của

ngành vận tải không thay đổi và các ngành khác giảm. Sự gia tăng nhanh

chóng của chỉ số tiêu thụ năng lượng phản ánh tốc độ phát triển mạnh của

ngành công nghiệp, trong khi chỉ số này của các ngành khác tăng không

đáng kể. Tuy nhiên, các ngành đều có sự tăng trưởng lớn trong tiêu thụ

năng lượng đã phản ánh sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Hình sau phản

ánh tương quan của phát triển kinh tế và xu hướng nhu cầu năng lượng của

75

Việt nam.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Hình 3. 3 Tương quan của phát triển kinh tế và xu hướng nhu cầu

năng lượng của Việt Nam

Cường độ năng lượng thương mại tăng từ 387 kgoe/1000USD2000 năm

2000 lên 545 kgoe/1000USD2000 năm 2009. Hệ số đàn hồi năng lượng là

1,39, và hệ số đàn hồi điện là 1,8 trong giai đoạn 2006-2009

Bảng sau thể hiện một số chỉ tiêu kinh tế và năng lượng chính của Việt

Nam

Bảng 3. 6 Tổng hợp chỉ tiêu kinh tế - năng lượng Việt Nam 2000-2009

Chỉ tiêu 2000 2005 2009

GDP-USD2000/người 402 539 685

Tiêu thụ năng lượng thương mại

(KgOE/người) 156 265 373

Tiêu thụ điện năng thương phẩm

(KWh/người) 289 567 894

Cường độ năng lượng thương mại

(KgOE/1000USD2000) 387 492 545

2000- 2006-

2005 2009

76

Hệ số đàn hồi năng lượng thương mại 1.70 1.39

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Hệ số đàn hồi điện 2.13 1.8

3.2.2. Tổng quan về cung cầu năng lượng trong giai đoạn 1990-2009

Trong gần hai thập kỷ qua, hệ thống năng lượng Việt Nam bao gồm khai

thác, sản xuất và cung cấp các dạng năng lượng sơ cấp như than đá, dầu

thô, khí đốt và đặc biệt là thủy điện, đã có những bước phát triển mạnh mẽ

và ổn định, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế và cải thiện đời sống

xã hội. Tổng quan một số lĩnh vực về khai thác và sử dụng năng lượng như

sau:

1. Hiện trạng khai thác năng lượng sơ cấp

1.1 Khai thác than

Trong suốt giai đoạn từ 1976 đến 1992 sản xuất khai thác than của Việt

Nam luôn chỉ giữ ở mức trên dưới 5 triệu tấn/năm. Bắt đầu từ năm 1993

sản lượng được nâng lên liên tục. Tốc độ tăng bình quân là 9,6 %/năm

trong giai đoạn 1991-2000, và 16,7% trong giai đoạn 2001-2008. Diễn

biến khai thác than giai đoạn 1990 – 2009 được trình bày ở bảng sau:

Bảng 3. 7 Diễn biến khai thác than giai đoạn 1990 – 2009

Năm 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 ước 2009

lượng 4,6 8,4 11,6 34,09 38,9 43,2 39,8 43,7 Sản triệu tấn

Hình 1.1. Nguồn: Tập đoàn CN than-khoáng sản, niêm giám thống

kê. 1.2 Khai thác dầu mỏ và khí đốt

Sản lượng dầu thô khai thác được trong những năm qua có nhịp tăng

trưởng cao. Nếu như năm 1986 chỉ khai thác được khoảng 40 ngàn tấn thì

đến năm 1990 đạt mức 2,7 triệu tấn và 7,6 triệu tấn năm 1995 (tốc độ tăng

trưởng giai đoạn 1991-1995 bình quân là 23 %/ năm). Đến năm 2000 dầu

thô khai thác được là 16,3 triệu tấn, cho tới những năm gần đây sản lượng

77

dầu thô khai thác có xu hướng giảm xuống. Năm 2008 sản lượng khai thác

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

đạt được là 14,85 triệu tấn. Tốc độ tăng trưởng tương ứng là 19,7 %/năm

giai đoạn 1990–2000 và -1,2 % giai đoạn 2000-2008. Toàn bộ dầu thô khai

thác được hầu hết đều dành cho xuất khẩu, năm 2008 bước đầu đã sử dụng

800 nghìn tấn dầu thô cho sản xuất thử của nhà máy lọc dầu. Diễn biến khai

thác dầu thô trong giai đoạn 1990-2009 trình bày trong bảng sau:

Bảng 3. 8 Diễn biến khai thác dầu thô trong giai đoạn 1990-2009

Năm 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 ước 2009

2,7 7,67 16,3 18,5 16,8 15,9 14,85 16,3 Sản lượng-triệu tấn

Hình 1.2. Nguồn: Petrovietnam, niêm giám thống kê.

Khí đốt (khí tự nhiên và khí đồng hành) bắt đầu được sử dụng cho phát

điện từ cuối năm 1995, khi hoàn thành đường ống dẫn khí từ mỏ dầu Bạch

Hổ đến nhà máy điện Bà Rịa. Từ năm 1999 cấp khí đến nhà máy điện Phú

Mỹ và nhà máy sản xuất khí LPG tại Dinh Cố. Năm 2000, sản lượng khí đạt 1,6 tỷ m3 và năm 2008 đạt 7,9 tỷ m3, tăng gấp 5 lần. Tốc độ tăng trưởng

bình quân trong giai đoạn 2001-2008 là 22,4 %/năm. Khai thác khí giai

đoạn 1995-2009 được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3. 9 Khai thác khí giai đoạn 1995-2009

Năm 1995 2000 2005 2006 2007 2008 ước 2009

183 1580 6890 7520 6860 7944 8100

1224 4460 4950 5050 5410 7180 182

Khai thác (triệu m3) Khí cho điện Hình 1.3. Nguồn: Petrovietnam, niêm giám thống kê, EVN

1.3 Nguồn thủy điện Thủy điện đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nguồn điện Việt Nam,

luôn chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ cơ cấu sản xuất điện. Trong giai đoạn

1990-2002, tỉ lệ này thay đổi theo từng năm, cao nhất đạt 75 % năm 1994

và thấp nhất là 51 % năm 1998. Trong các năm gần đây do các nguồn thủy

78

điện mới đưa vào vận hành ít và các nhà máy nhiệt điện mới đưa vào vận

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

hành có công suất lớn nên tỷ trọng của thủy điện trong cơ cấu công suất đặt

có xu hướng giảm xuống. Tỷ trọng này giảm từ 51.9 % năm 2000 xuống

còn 32.8% năm 2008.

1.4 Hiện trạng xuất nhập khẩu năng lượng Từ năm 1990 đến nay do việc xuất khẩu dầu thô và than tăng mạnh, cán

cân xuất nhập khẩu năng lượng đã thay đổi đáng kể. Việt Nam từ một nước

nhập khẩu trở thành một nước xuất khẩu năng lượng trong khu vực mặc dù

nhu cầu các sản phẩm dầu trong nước chủ yếu vẫn phải nhập khẩu. Về cơ

bản, các sản phẩm dầu nhập khẩu đã đáp ứng nhu cầu phát triển của các

ngành kinh tế trong các năm qua. Diễn biến xuất nhập khẩu năng lượng giai

đoạn 1990-2009 được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3. 10 Diễn biến xuất nhập khẩu năng lượng giai đoạn 1990-2009

1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 ước 2009

2888 5004 8748 9636 1189413651 13665 12680

908

khẩu 383 966 2630 3220 4102

khẩu điên 373 (1000 tấn) Năm Nhập khẩu sản phẩm dầu Xuất khẩu dầu thô 2617 7652 15423 17967 1644215062 13908 13373 789 2821 3251 17987 2930831948 19699 24992 Xuất khẩu than Nhập khẩu than điện Nhập (GWh) Xuất (GWh)

Hình 1.4. Nguồn: Niêm giám thống kê, tổng cục Hải Quan, EVN.

2. Hiện trạng tiêu thụ năng lượng 2.1 Tiêu thụ năng lượng sơ cấp

Tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp ngày càng tăng, năm 1990 là

19.564 KTOE tăng lên tới 44.247 KTOE năm 2005, và 53.364 KTOE năm

2008 đạt tốc độ 5,6% giai đoạn 1990-2005, và 6,4% giai đoạn 2006-2008.

Trong đó nhu cầu của khí đạt tốc độ tăng trưởng lớn nhất đạt 20,5 %/năm

giai đoạn 2000-2008. Diễn biến tiêu thụ từng loại năng lượng sơ cấp thể

79

hiện trong bảng sau:

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Bảng 3. 11 Diễn biến tiêu thụ năng lượng sơ cấp (KTOE)

thương 2005 2006 2007 2008 2009 8341 9030 9681 11888 12645 12336 12022 14149 14058 14635 4908 5360 5653 6533 7290 3835 4619 5213 5881 6785 14722 12421 12872 14191 14794 14767 14748 14725

321 nhập 226 277 83 33

19564 24225 32236 44247 45881 49670 53362 58370

Năm 1990 1995 2000 2212 3314 4372 Than Xăng, dầu 2860 4617 7917 1441 186 7.7 Khí Thuỷ điện 2063 3237 4314 Phi mại Điện khẩu Tổng 2.2 Tiêu thụ năng lượng cho sản xuất điện Than, dầu và khí là các dạng nhiên liệu chính cấp cho sản xuất điện. Diễn

biến tiêu thụ từng loại nhiên liệu cho sản xuất điện và tỷ trọng trong tổng

tiêu thụ nhiên liệu được thể hiện trong bảng sau.

Bảng 3. 12 Diễn biến tiêu thụ từng loại nhiên liệu cho sản xuất điện

Năm Đơn vị: KTOE 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 2009

Tổng

số 2212.2 3313.5 4372.5 8341.5 9030.4 9681.2 11888 12645

Cho

SXD 888 710 1150 2990.7 3468.0 3591.7 3727.9 3679.6

% 40.1 21.4 26.3 35.9 38.4 37.1 31.0 29.1

Tỉ lệ n a h T

Tổng

số 2859.6 4616.6 7916.9 12336.3 12022.2 14148.9 14057.8 14635.2

Cho

SXD 381 369 1310 699.7 483.1 821.0 612.3 646.2

Tỉ lệ

% 13.3 8.0 16.5 5.7 4.0 5.8 4.4 4.4

u ầ d g n ă X

80

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Năm 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 2009

Tổng

số 7.74 185.85 1441.35 4907.7 5360.4 5652.9 6533 7290

Cho

SXD 2.7 165 1102 4154.3 4636.4 4916.3 5693.0 6462

Tỉ lệ

% 34.9 88.6 76.4 84.6 86.5 87.0 87.1 88.6

í h K

Hình 1.5. Nguồn: EVN; Petro Vietnam.

2.3 Tiêu thụ năng lượng cuối cùng Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng năm 1990 là 16,76 triệu TOE, đến năm

2009 là 46,8 triệu TOE trong đó tỉ trọng tiêu thụ than tăng từ 7,9 % năm

1990 lên 19,2 năm 2009. Xăng dầu tăng từ 14,8 % năm 1990 lên 33,9%

năm 2009. Khí tăng từ 0,03 % năm 1990 lên 1,4 % năm 2009. Điện tăng từ

3,2 % năm 1990 lên 14,1 % năm 2009. Tỷ lệ năng lượng tái tạo giảm từ

74,1 % năm 1990 xuống còn 31,4 % năm 2009. Diễn biến tiêu thụ năng

lượng cuối cùng thể hiện ở bảng sau:

Bảng 3. 13 Diễn biến tiêu thụ năng lượng cuối cùng

Đơn vị: KTOE

1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 2009 Năm

1324 2603 3223 5351 5562 6089 8271 8966 Than

15851 Xăng, 2479 4247 6920 12122 12023 13713 13797 dầu

5.0 21.2 19.4 537 485 542 666 639 Khí

Điện 532 963 1927 4051 4630 5275 5834 6615

14704 NL.phi

12421 12872 14191 14780 14748 14726 14710 thương

81

mại

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Tổng số 16760 20707 26280 36841 37449 40345 43277 46774

3.2.3. Tổng quan về cung cầu năng lượng trong giai đoạn 2011-2030

1. Đánh giá tiềm năng và khả năng cung cấp các dạng năng lượng sơ

cấp giai đoạn 2011-2030

Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác than

Tổng trữ lượng than đã tìm kiếm thăm dò còn lại đến 1/1/2005 là 6,140 tỷ

tấn. Bể than Quảng Ninh là bể than lớn nhất Việt Nam. Khu vực này đã

được phát hiện và khai thác từ thời Pháp. Hiện nay và trong tương lai, công

tác khai thác than chủ yếu là ở khu vực Quảng Ninh (sản lượng than khai

thác hàng năm ở khu vực này chiếm khoảng gần 90 % sản lượng than khai

thác của toàn ngành than).

Trữ lượng than tập trung lớn tại vùng tỉnh Quảng Ninh, Đông bắc

Việt Nam. Tổng 3 vùng mỏ ở đây có trữ lượng cấp A+B+C1+C2 chiếm 67

% trữ lượng than toàn quốc.

Ngoài mỏ than Quảng Ninh còn có nhiều mỏ than nhỏ ở rải rác nhiều

tỉnh: Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu, Quảng Bình,

Quảng Nam, quy mô khai thác từ nhỏ đến rất nhỏ từ vài nghìn tấn đến vài

chục nghìn tấn.

Tham khảo dự thảo quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến

năm 2020, có xét đến năm 2030 (QH than) do TKV đang trình Bộ Công

Thương, qua một số lần điều chỉnh, tổng sản lượng than thương phẩm tăng

chậm (trung bình chỉ 2,6%/năm). Tổng sản lượng than sạch dự kiến khai

thác đến năm 2030 được trình bày trong bảng sau.

Đến năm 2020 vùng Quảng Ninh vẫn là khu vực khai thác than chủ

yếu của ngành than Việt Nam. Mỏ than đồng bằng Bắc bộ mới chỉ dự kiến

82

khai thác từ sau năm 2015 với sản lượng tương đối thấp so với tiềm năng

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

(khoảng 0,5 triệu tấn năm 2020, lên đến 1,5 triệu tấn năm 2025 và ước 10

triệu tấn năm 2030.

Dầu thô, khí

Theo đánh giá gần đây nhất, tổng trữ lượng dầu khí có thể thu hồi

của nước ta vào khoảng 3,8 – 4,2 tỷ tấn dầu quy đổi (TOE), tập trung chủ

yếu ở thềm lục địa, trong đó trữ lượng đã được xác minh vào khoảng 1,05 –

1,14 tỷ TOE với tỷ lệ khí đốt chiếm hơn 60%. Tổng hợp trữ lượng dầu khí

được cho trong bảng sau.

Các mỏ dầu và khí được phát hiện phân bố không đều. Các mỏ dầu

tập trung chủ yếu ở bể Cửu Long (thềm lục địa phía Đông Nam). Các mỏ

khí tự nhiên được phát hiện phân tán ở các bể Nam Côn Sơn, Malay-Thổ

Chu và Sông Hồng.

Các bể trầm tích nước sâu như Phú Khánh, Tư Chính và các bể trầm

tích vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng biển nước nông kế cận và vùng

trầm tính miền võng Hà Nội tuy được đánh giá là có tiềm năng dầu khí

nhưng chưa được khẳng định. So với các nước trong khu vực Đông Nam

Á, tiềm năng dầu khí của Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình, thấp

hơn Indonesia và Malaysia nhưng cao hơn các nước còn lại.

Theo chiến lược phát triển ngành dầu khí, sản lượng khai thác trung

bình dầu thô trong nước tăng đến 19 triệu tấn/năm và sản lượng dầu thô

khai thác từ nước ngoài khoảng 2-4 triệu tấn/năm trong giai đoạn từ nay tới

2010. Giai đoạn sau 2010 đến 2020, sản lượng sẽ giảm xuống, còn từ 16

đến 17 triệu tấn/năm theo 2 phương án cơ sở và cao, trong đó mức khai

thác từ nước ngoài lên tới từ 6-8 triệu tấn/năm. Dự báo khả năng khai thác

dầu thô trong giai đoạn từ nay đến năm 2025 như trong bảng sau.

Khí đốt đang được đẩy mạnh thăm dò phát hiện. Theo chiến lược

83

phát triển ngành dầu khí, khả năng khai thác khí đốt trong giai đoạn 2021-

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

2025 có thể đạt được từ 10,7-18 tỷ m3, cụ thể quy hoạch khai thác khí đốt

của ngành dầu khí theo các giai đoạn được cho trong bảng sau:

Dự báo phát triển khai thác giai đoạn sau năm 2025 sẽ đạt khoảng 20

triệu tấn dầu thô và 11 tỷ m3 khí.

Thủy năng

Theo đánh giá của chương trình nghiên cứu cấp nhà nước KHCN 09:

“Xây dựng chiến lược và chính sách năng lượng bền vững” và các cập nhật

gần đây, xem xét các yếu tố kinh tế, xã hội và tác động tới môi trường thì

tiềm năng kinh tế - kỹ thuật thuỷ điện nước ta khoảng 75-80 tỷ kWh với

công suất tương ứng 18000-20000 MW.

Trữ năng kinh tế của 10 lưu vực sông chính chiếm 85,9% trữ năng

kinh tế kỹ thuật khai thác trên toàn lãnh thổ. Qua số liệu trên đây nhận thấy

rằng tổng trữ lượng kinh tế kỹ thuật của các lưu vực sông chính là hơn

18.000MW, điện năng tương ứng khoảng 70 tỷ kWh, trong đó ở miền Bắc

khoảng 9490MW (52% tổng công suất trên các lưu vực chính), tương ứng

khoảng 36,4 tỷ kWh, miền Trung 5655MW (31,2%), tương ứng trên 22 tỷ

kWh và miền Nam – 3.000MW (16,5%) tương ứng 12 tỷ kWh.

Một phần không nhỏ trong tiềm năng thủy điện Việt Nam cần phải

tính đến là các công trình thủy điện cỡ nhỏ (công suất nhỏ hơn 30 MW).

Theo các đánh giá quy hoạch mới nhất, trên toàn quốc, tiềm năng công suất

- điện năng của các công trình thủy điện nhỏ được đánh giá khoảng gần

7000 MW với khoảng 860 MW đã được xây dựng và khảng 2600MW đang

được nghiên cứu phát triển. Tuy nhiên một số công trình ở vị trí rất khó

khai thác, nằm khá xa trung tâm tiêu thụ điện, nên sẽ không phát triển ngay

trong giai đoạn trước mắt mà chỉ có thể xây dựng đồng bộ với việc phát

triển kinh tế xã hội khu vực tại chỗ.

Về thuỷ điện tích năng, ngành điện đang có dự án đầu tư xây dựng

84

các NMTĐ tích năng với quy mô 1000 -:- 2400MW, trong đó NMTĐ tích

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

năng Đông Phù Yên (tỉnh Sơn La) và NMTĐ tích năng Bác Ái (tỉnh Ninh

Thuận) sẽ được phát triển vào khoảng năm 2018-2020. Năm 2007 tổ chức

JICA đã phối hợp với chuyên gia Việt Nam hoàn thành đề án Quy hoạch

phát triển các NMTĐ tích năng ở Việt Nam. Theo đó, trên toàn quốc có

trên 10 vị trí có địa hình có khả năng xây dựng NMTĐ tích năng với công

suất từ 400-1000 MW ở cả ba miền, tập trung nhiều ở miền Bắc. Tổng tiềm

năng thuỷ điện tích năng sơ bộ ước tính khoảng trên 10000 MW.Gần đây,

EVN đã giao các Cty TVXDĐ 4 lập DAĐT công trình TĐTN Bác Ái –

Ninh Thuận với quy mô ~1.200MW; Cty TVXDĐ 1 lập BCĐT công trình

TĐTN Mộc Châu – Sơn La. Cty TVXDĐ 2 được giao lập BCĐT công

trình TĐTN Hàm Thuận Bắc, có vị trí nằm gần NMTĐ Hàm Thuận. Dự án

NMTĐ tích năng Đông Phù Yên (tỉnh Sơn La) đã được Chính phủ giao

cho Cty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình đầu tư phát triển.

Ngoài ra, hiện có một số công trình TĐTN nằm ngoài danh mục nêu

trên: i) ở khu vực Châu Thôn-Nghệ An có một vị trí TĐTN thuận lợi, quy

mô khoảng 1.200MW đang được Cty Sơn Vũ nghiên cứu trình Bộ Công

Thương; ii) TĐTN Đà Nẵng, nằm cách trạm 500kV Đà nẵng khoảng 25km

đang được Cty cổ phần thuỷ điện Geruco Sông Côn khảo sát nghiên cứu,

cũng với quy mô khoảng 1.200MW; iii) TĐTN A Vương ~1.200 MW; iv)

TĐTN Đơn Dương (Lâm Đồng); và v) TĐTN Ninh Sơn (Ninh Thuận).

Năng lượng tái tạo

 Năng lượng mặt trời, gió Nước ta nằm trong vùng có số giờ nắng trung bình khoảng 2000-

2500 giờ/năm với tổng năng lượng bức xạ mặt trời cao, trung bình khoảng 100-175 Kcal/cm2.năm. Tuy nhiên giá thành lắp đặt các bộ pin mặt trời rất

cao, khoảng 7500-8500 USD/kWp. Tính đến năm 2009, ở nước ta có tổng

công suất các dàn pin mặt trời khoảng 1560 kWp. Theo số liệu thông kê

85

của ngành Khí tượng thuỷ văn, giá trị bức xạ mặt trời trung bình hàng năm

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

ở khu vực cao nguyên, duyên hải miền Trung, và các tỉnh phía Nam cao

hơn và ổn định hơn trong suốt cả năm so với các tỉnh phía Bắc. Như vậy,

các hệ thống được thiết kế dùng NLMT lắp đặt ở miền Bắc sẽ đắt hơn các

hệ thống lắp đặt ở miền Nam đồng thời chúng phải có công suất lớn để bù

vào các tháng mùa đông có nhiều mây.

Với hơn 3000km bờ biển và thuộc vùng khí hậu nhiệt dới gió mùa,

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng NL gió khá tốt. Cho đến

nay đã có một số nghiên cứu đánh giá tiềm năng NL gió ở Việt Nam. Gần

đây nhất là đề án “Quy hoạch tiềm năng NL gió để phát điện” do EVN

nghiên cứu (2005-2006). Theo kết quả đề án thì tổng diện tích các vùng

ước lượng cho phép khai thác gió sẽ cho lượng công suất tương đương

1785MW, trong đó: tập trung 880MW tại Quảng Bình và Bình Định;

855MW là tiềm năng NL gió ở miền Nam, tập trung chủ yếu tại Ninh

Thuận và Bình Thuận.

Năng lượng mặt trời có giá thành cao và yêu cầu bảo dưỡng khá tốn

kém. Ngay cả Nhật Bản, nước nhập khẩu tới 95 % nhiên liệu, nước dẫn đầu

thế giới về ứng dụng năng lượng mặt trời, đến nay cũng chỉ xây dựng được

tổng cộng 465 MW. Vì vậy đối với nước ta, khó phát triển các dạng NL

này ở quy mô lớn để đưa vào cân đối nguồn trong tương lai.

 Năng lượng sinh khối(NLSK) Việt Nam có nhiều loại sinh khối có thể sử dụng một cách hiệu quả

để cung cấp và đáp ứng một phần nhu cầu nhiên liệu và điện của đất nước.

Các loại sinh khối chính gồm: củi gỗ, phế thải từ cây nông nghiệp.

Tiềm năng nguồn NLSK ở Việt Nam là rất lớn, riêng phụ phẩm nông

nghiệp là trên 70 triệu tấn (quy đổi về dầu tính theo nhiệt lượng tương

đương gần 20 triệu tấn dầu). Theo phân tích, đánh giá và tính toán, trước

mắt sẽ tập trung khai thác những loại sinh khối sẵn có, tiềm năng lớn, mức

86

tập trung nguồn cao để phát điện. Có bốn loại sinh khối được khai thác là

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

trấu ở các nhà máy xay xát hoặc cụm xay xát, bã mía và lá gọn mía ở khu

vực các nhà máy đường, vỏ cà phê ở các trung tâm sản xuất cà phê (tính

cho 4 tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên), phế thải gỗ ở các cụm công nghiệp

chế biến gỗ. Tổng cộng khả năng khai thác của 2 loại năng lượng này có

thể đạt tới khoảng 9,4 triệu toe vào năm 2030, trong đó 0,7% dùng cho phát

điện còn 99,3% dùng cho tiêu dùng dân cư.

 Năng lượng sinh học(NLSH) NLSH có thể được sản xuất từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau như

các loại lương thực có hạt (gạo, ngô, khoai lang và sắn), mía và các loại

chất thải hữu cơ khác (mật đường, dầu ăn đã sử dụng, mỡ cá da trơn, kể cả

sinh khối thô).

a) Đánh giá sơ bộ trữ lượng và khả năng khai thác Urani ở Việt Nam Tài nguyên uranium trong các mỏ, điểm quặng trên lãnh thổ Việt

Nam đã được các liên đoàn địa chất thuộc liên đoàn Địa chất 10 (nay là liên

đoàn Địa chất Xạ-Hiếm) tìm kiếm, tính toán và đánh giá. Tổng tài nguyên

uranium ở Việt Nam tính đến tháng 12/2004 đạt khoảng 254.000 tấn U3O8

ứng với hàm lượng U3O8>0,015. Hầu hết các mỏ khoáng uranium đã xác

nhận ở Việt Nam có quy mô nhỏ, hàm lượng uranium thấp đến rất thấp.

Các vùng quặng uranium ở Việt Nam được đánh giá cho đến nay chưa thực

sự chi

2. Khả năng trao đổi các dạng năng lượng với các nước trong khu vực

2.1. Hiệu ích của việc liên kết hệ thống điện với các nước trong khu vực

Qua liên kết lưới điện với Lào và Campuchia, hệ thống điện Việt

Nam có thể liên kết trao đổi điện năng với các nước ASEAN như Thái Lan,

Malaixia. Việc liên kết đem lại lợi ích đáng kể cho các quốc gia, bao gồm:

giảm dự phòng chung của hệ thống điện liên kết; tăng hiệu quả vận hành hệ

87

thống điện; có thể sử dụng tổ máy có công suất lớn hơn, tạo điều kiện cho

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

khai thác hiệu quả hơn các nguồn thủy điện trong nước; vận hành linh hoạt

hơn so với phương án vận hành riêng rẽ; giảm lượng phát thải từ các nhà

máy điện vào môi trường khoảng 15-20 % so với trường hợp không có liên

kết hệ thống; góp phần đảm bảo phát triển năng lượng bền vững trong điều

kiện hội nhập quốc tế, hợp tác và liên kết khu vực.

2.2. Chương trình liên kết hệ thống điện trong khu vực GMS Năm 1998 Việt Nam và Lào đã ký hiệp định về việc Việt Nam sẽ

mua điện của Lào với quy mô công suất 2000 MW đến năm 2010. Ngày

10/1/2008 Chính phủ hai nước tiếp tục ký hiệp định hợp tác kinh tế, văn

hoá, khoa học kỹ thuật, trong đó tăng mức nhập khẩu điện về Việt Nam lên

đến trên 5000 MW vào năm 2020. Hiện đã có các đường dây trung áp 35

kV cung cấp điện từ Việt Nam sang một số vùng gần biên giới của Lào. Dự

kiến năm 2011 Việt Nam sẽ nhập khẩu điện từ nhà máy thủy điện

Sekaman3 - 250 MW, sau đó là Sekaman 1 - 290 MW và Nậm Mô - 105

MW… Trong báo cáo quy hoạch phát triển Điện lực Lào lập tháng 1 năm

2010, Lào chủ trương kêu gọi đầu tư hoặc liên doanh đầu tư các dự án thuỷ

điện tiềm năng trên đất Lào từ các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là từ các

nước láng giềng. Hầu hết các dự án này để xuất khẩu điện. Cập nhật tổng

công suất có thể nhập khẩu từ Lào là từ 3.700-:-5.000 MW, tuy nhiên tiến

độ nhập khẩu còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan, có một số công

trình sẽ đưa vào sau năm 2020.

Hiện nay Việt Nam đã bán điện cho khu vực Pnôm Pênh qua đường

dây 220 kV Châu Đốc - Tịnh Biên - Takeo - Pnôm Pênh, công suất khoảng

120 MW. Sau năm 2015 Việt Nam sẽ nhập khẩu từ một số công trình thuỷ

điện như Hạ Sê San 2 – 420 MW, Hạ Sê San 3 – 180 MW, Sê San 5 - 90

MW... Tổng công suất có thể nhập khẩu từ Campuchia khoảng 1.300-:- 2.000

88

MW.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Trong chương trình hợp tác liên kết lưới điện các nước ASEAN,

tương lai xa có thể Việt Nam sẽ liên kết với HTĐ Thái Lan và các nước

khác qua các đường dây 500kV từ Việt Nam – Lào.

Tuy vậy, tính khả thi của các dự án như trên còn phụ thuộc rất nhiều

vào tình hình phát triển kinh tế của mỗi nước, ảnh hưởng của biến động thị

trường quốc tế cũng như các chính sách thúc đẩy hợp tác song phương và

đa phương. Việt nam đang có liên kết lưới điện với các quốc gia sau:

 Chương trình liên kết lưới điện với Lào  Chương trình liên kết lưới điện với Campuchia  Chương trình liên kết lưới điện với Vân Nam (Trung Quốc) Từ các phân tích đánh giá trên, tổng khả năng nhập khẩu điện từ thị trường

khu vực có thể đạt đến 5000 - 6000 MW năm 2025 và tăng lên 8000 - 9000

MW vào giai đoạn đến năm 2030. Tuy nhiên, những tính toán trên mới chỉ

theo chủ quan, việc có nhập khẩu được không và với lượng bao nhiêu còn

phụ thuộc lớn vào quan điểm và sự đồng thuận của các nước bạn.

3.3 Đánh giá phân tích hiệu quả kinh tế dự án:

Việc xây dựng nhà máy thủy điện nói chung và nhà máy thủy điện

Bảo Lâm nói riêng đều có những tác động tới môi trường, nền kinh tế, xã

hội khu vực xây dựng nhà máy. Tác động đó là tác động tương quan hai

mặt của 1 vấn đề.

Những tác động tích cực

Vai trò tích cực của các dự án thuỷ điện Bảo Lâm trước hết là phát

huy mọi năng lực của các vùng, nhằm làm tăng khả năng đáp ứng những

yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội (KTXH) đất nước cũng như

của khu vực nơi xây dựng nhà máy. Việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện

Bảo Lâm không chỉ để sản xuất điện phục vụ người dân địa phương mà

89

còn góp phần tăng sản lượng điện của quốc gia.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Về phát triển kinh tế xã hội: Vai trò cực kỳ quan trọng của việc xây

dựng thuỷ điện Bảo Lâm là tạo ra nguồn động lực mới trong phát triển

KTXH của vùng, có tác dụng mạnh mẽ đối với chuyển đổi cơ cấu kinh tế

theo hướng CNH - HĐH, đồng thời tác động tích cực trong việc tạo ra

những điều kiện mới về kinh tế, sinh thái và nhân văn của vùng lưu vực

sông. Các nguồn lực phát triển mới sẽ nảy sinh trong vùng sau khi có thuỷ

điện, tiện lợi cho phát triển các ngành nông lâm nghiệp, giao thông, thủy

sản và du lịch dịch vụ, phát triển kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường.

Trên cơ sở này sẽ mở ra khả năng hình thành một cơ cấu tổ chức lãnh thổ

và xã hội mới, với cơ cấu kinh tế mới, thực hiện CNH - HĐH, phát triển

kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở các địa phương, tạo điều kiện

và thúc đẩy quá trình phân công lại lao động xã hội, làm tăng hiệu quả

phát triển KTXH nói chung và khu vực kinh tế hộ gia đình của vùng nói

riêng.

Việc cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ xây dựng thuỷ điện Bảo Lâm

góp phần tạo động lực phát triển mới cho vùng. Năng lực thích nghi của

nhân dân trong những điều kiện tác động của xây dựng thuỷ điện để phát

triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông - lâm nghiệp dần được CNH -

HĐH. Các tác động (trực tiếp, gián tiếp) dẫn đến biến đổi phân công lao

động và làm giảm cường độ lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên

(đất đai, rừng và các nguồn nước). Các tác động này sẽ làm biến đổi căn

bản trạng thái tổ chức, cách thức quản lý và sử dụng của cộng đồng đối với

các tài nguyên thiên nhiên sau khi xây dựng thuỷ điện. Các mô hình tổ

chức phát triển KTXH tiên tiến sẽ có thể được áp dụng và triển khai trong

các trạng thái đặc thù sinh thái - nhân văn ở từng địa phương và do đó sẽ

làm tăng hiệu quả đầu tư của dự án.

Về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường: Các tác động tích

90

cực của dự án thủy điện Bảo Lâm bao gồm các lợi ích về tài nguyên và

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

môi trường mà dự án mang lại. Lượng điện năng do thuỷ điện mang lại là

điện năng sạch. Sự có mặt của nguồn điện năng này tránh cho việc dùng

nhiệt điện chạy than, dầu làm ô nhiễm môi trường hoặc điện hạt nhân với

nhiều khả năng tai biến môi trường. Ngoài ra, sự có mặt của hồ chứa nước

và hệ thống cơ sở hạ tầng đem lại lợi ích to lớn về tài nguyên và môi

trường, như làm tăng những “kho” dự trữ nước và góp phần không nhỏ để

cải tạo các điều kiện kinh tế sinh thái cho địa phương.

Những tác động tiêu cực

Để thực hiện dự án thuỷ điện bảo lâm, phải di chuyển, thực hiện tái

định cư (TĐC) và tổ chức lại sản xuất và đời sống cho một số lượng dân

cư trong đó có gần 12.000 hộ dân đồng bào các dân tộc thiểu số Cao Bằng

và Hà Giang.

Với phương án di dời dự án và gây tác động đến môi trường. Việc

lập phương án tái định cư không chỉ cần chú trọng thuần tuý tới khối

lượng (tương quan giữa số lượng dân cư phải di chuyển với diện tích đất

đai sẽ bị ngập và diện tích cần đền bù), mà còn phải chú ý tới đặc điểm

mấu chốt về chất lượng và năng suất của đất đai (sẽ cho năng suất cây

trồng thích hợp), cũng như tính chất đặc thù của việc di chuyển và tái định

cư của số lượng dân cư tuỳ theo quy mô của dự án, trên một vùng kinh tế

lãnh thổ cũng hết sức đặc thù. Những tác động tiêu cực tiềm tàng của quá

trình Tái định được bộc lộ trước hết trong quá trình người dân phải làm

quen với quê hương mới, ổn định đời sống và tổ chức xây dựng, phát triển

sản xuất. Theo kết quả điều tra xã hội học, đại đa số những người được hỏi

đều thể hiện không muốn phải di chuyển, rời xa quê cũ, lo rằng phải xa

dòng tộc, bị phân ly và phải chung sống với những người mới. Rất khó để

người dân tộc thích nghi với điều này và sẽ dễ gây ra tác động tiêu cực đến

91

phát triển kinh tế xã hội.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Việc đầu tư thủy điện Bảo Lâm có thể ảnh hưởng tiêu cực tới phân

định và tổ chức lại kết cấu tổ chức lãnh thổ, với mạng lưới giao thông, liên

lạc đối với một số dự án có quy mô lớn, vì sẽ làm ngập nhiều đất đai,

đường xá, chia cắt giao thông, thông tin liên lạc và cả phân tách phạm vi

và quan hệ lãnh thổ của các địa phương hiện nay.

Vấn đề tranh chấp quản lý và sử dụng tài nguyên (chủ yếu là đất đai

và rừng) xuất phát từ hậu quả của những khó khăn do chưa kịp thời ổn

định cư trú và sản xuất ở nơi TĐC (làm tăng mức độ quảng canh nương

rẫy, tăng nguy cơ tái đói nghèo, bần cùng hoá mức sống và làm tăng mức

phân hoá thu nhập của nhân dân các địa phương, nhất là ở vùng TĐC và

có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội khi xây dựng một số công trình thuỷ

điện ở vùng sâu). Nhiều biến động kinh tế sẽ xảy ra với cường độ mạnh và

dồn dập do thay đổi về điều kiện sản xuất, tiếp thị, mức cung - cầu và năng

lực tiêu thụ các loại hàng hoá nông lâm sản, sẽ ảnh hưởng nặng nề đến

mức thu nhập của các hộ gia đình và cộng đồng dân cư; thay đổi về cơ cấu

lao động và số lượng việc làm trong các cộng đồng và hộ gia đình TĐC

cũng như ở các cộng đồng tiếp nhận; thay đổi về cường độ, năng suất và

mức độ sử dụng lao động, đặc biệt với lao động nữ và người già.

Xuất hiện những thay đổi về tương quan giữa tài nguyên thiên nhiên

(TNTN) và nguồn kiếm sống của dân cư. Làm tăng sức ép về dân số và

lương thực sau di chuyển và các áp lực dẫn đến gia tăng nạn phá rừng, săn

bắn bừa bãi ..., dẫn tới suy giảm TNTN nói chung và giảm tính đa dạng

sinh học nói riêng. Cần xem xét khả năng thích nghi với môi trường mới

của dân cư và các rủi ro có thể xảy ra, những thay đổi về điều kiện môi

trường tới sức khoẻ.

Những tổn thất tâm linh và các tác động làm thay đổi về phong tục,

tập quán, truyền thống, trạng thái văn hoá vật chất và tinh thần của các dân

92

tộc trong vùng. Điều này sẽ ảnh hưởng không tốt tới tinh thần và tâm lý

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

của dân cư. Những thay đổi về cơ cấu dân cư, cộng đồng, cũng như mức

tăng cơ học vừa đột ngột và quá lớn của dân số trong vùng và những va

chạm, xung đột giữa các cộng đồng trong việc quản lý và sử dụng các

TNTN có thể xảy ra giữa các cộng đồng khác nhau trong quá trình di

chuyển và TĐC do tập kết lực lượng lao động, công nhân từ nhiều vùng

khác nhau trong nước tới khu vực dự án.

Kết luận

Bên cạnh những lợi ích từ những công trình thuỷ điện, không thể

không kể đến những tác động bất lợi của công trình. Tuy nhiên, trong bối

cảnh hiện nay, cần phải cân nhắc quy mô của dự án để hài hoà những lợi

ích đem lại từ công trình thuỷ điện nhưng cũng phải giảm thiểu các tác

động có hại khi xây dựng công trình. Điều này có thể thực hiện được theo

nhiều phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào quy mô của dự án cũng như

vị trí của công trình.

3.4 Các tính toán đảm bảo đầu tư gắn với phát triển bền vững 3.4.1 Nghiên cứu phần chống lũ thủy điện Bảo Lâm như sau:

Huyện Bảo Lạc là Huyện miền núi vùng cao phía Tây tỉnh Cao Bằng cách thị xã Cao Bằng 140 km, diện tích tự nhiên 919.07 km2, có 16 đơn vị

hành chính xã và thị trấn Bảo Lạc, dân số: 47.612 người (tính đến

31/12/2007), huyện có tiềm năng phát triển chăn nuôi đại gia súc và gia

cầm, thuỷ sản.

Huyện Bảo Lâm có diện tích đất tự nhiên: 913,47km2 , có 14 đơn vị

hành chính xã, là huyện được thành lập ngày 25 tháng 9 năm 2000, dân số

51.780 người (tính đến 31/12/2006). Huyện có tiềm năng phát triển chăn

nuôi đại gia súc, gia cầm.

Sau khi xây dựng công trình thủy điện Bảo Lâm sẽ tạo ra hồ chứa

93

lớn, góp phần cải thiện khí hậu môi trường khu vực, tạo cảnh quan du lịch

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

và thúc đẩy phát triển các ngành du lịch dịch vụ vốn đang là một tiềm năng

lớn của tỉnh Cao Bằng, phát triển ngành nghề nuôi trồng thuỷ sản.

Bảng 3. 14: đánh giá ảnh hưởng của dòng chảy lũ trong các hệ thống

HT s«ng

Flv tÝnh ®Õn hîp l­u

Flv(t­¬ng øng)

% so víi S«ng L«

¶nh h­ëng hiÖn t¹i

%Flv so víi toµn hÖ thèng

W ph©n c«ng phßng lò (tû m3)

FlvS«ng L« (toµn bé)

39100

100%

27.2%

sông đến đồng bằng sông Hồng

%W trªn toµn hÖ thèng tÝnh ®Õn tr¹m S¬n T©y 27.1%

FlvS«ng G©m

17200

11.97%

11.97%

F Chiªm Ho¸ - SG©m

16500

11.48%

11.48%

44%

- Hå Tuyªn Quang

14720

10.24%

10.24%

1

8.4%

S«ng L«

- Hå B¶o L©m

10356

7.21%

7.21%

0.5

4.2%

FlvS«ng Ch¶y

6500

17%

4.52%

4.51%

0.45

3.8%

12400

32%

8.6%

8.6%

Flv thuéc nh¸nhHµ Giang ®Õn GhÒnh Gµ

Khu gi÷a cßn l¹i

3000

8%

2.1%

2.1%

S«ng Thao

Yªn B¸i

48000

33.4%

22.08%

0

0%

S«ng §µ

52600

36.6%

49.76%

S«ng §µ

- Hå S¬n La

43760

83%

30.5%

5.0

42.2%

51700

98%

36.0%

4.9

41.4%

4000

2.78%

0

0.0%

- Hå Hoµ B×nh Khu gi÷a vµ c¸c nh¸nh kh¸c

143700

100%

11.85

Tæng hîp Bảng 3.15: Tổ hợp W lũ 8 ngày các trận lũ lớn - lũ lịch sửtrên lưu vực sông Hồng (tính theo tỷ lệ %)

No

TrËn lò lÞch sö n¨m

S«ng Ch¶y

S¬n T©y (S«ng Hèng)

Hoµ B×nh (S«ng §µ)

Yªn B¸i (s«ng Thao)

Phï Ninh (S«ng L«)

Chiªm Ho¸ (S«ng G©m)

S«ng L« tõ hµ Giang

Th¸ng 8/1945

100%

54.00%

20.70%

24.70%

10.87%

4.11%

9.73%

1

Th¸ng 8/1968

100%

39.70%

28.00%

26.00%

11.44%

4.32%

10.24%

2

Th¸ng 8/1969

100%

53.30%

15.80%

30.00%

13.20%

4.99%

11.82%

3

Th¸ng 8/1971

100%

37.50%

25.10%

34.00%

14.96%

5.65%

13.39%

4

Th¸ng 8/1996

100%

64.30%

20.80%

20.80%

9.15%

3.46%

8.19%

5

Trung b×nh

49.76%

22.08%

27.10%

11.92%

4.51%

10.67%

Theo bảng tổng hợp nêu trên thì lưu vực sông Gâm chiếm 12% trên

tổng lưu vực sông suối Miền bắc tính đến tuyến Sơn Tây, tổng lượng lũ

chiếm 11,9%. Thống kê tổng lượng lũ lịch sử thấy rằng tổng lượng lũ sông

Gâm chiếm 4,1-:-5,6%.

Hồ chứa công trình thuỷ điện tuyên Quang hiện nay đã vận hành, tích

94

nước. Theo hồ sơ TKKT thuỷ điện Tuyên quang do công ty TVXD Điện 1

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Lập đã được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) phê duyệt có dung tích phòng lũ là 1tỷ m3, và có thể huy động tối đa là 1,5 tỷ m3. Hồ chứa

tuyên Quang có khả năng quyết định về điều tiết lũ trên hệ thống sông

Gâm, và Hồ chứa Bảo Lâm có nhiệm vụ kết hợp cắt giảm lũ tùy theo khả

Tính toán hiệu ích cắt giảm lũ của hồ chứa Bảo Lâm.

năng của công trình.

Trên cơ sở bố trí công trình, quy mô hồ chứa TVTK tiến hành tính

toán hiệu quả cắt lũ của hồ chứa Bảo Lâm để đánh giá hiệu quả tham gia

cắt lũ cho hạ du.

Kết quả tính toán điều tiết lũ hồ chứa Bảo Lâm

Phương án Mô hình lũ lũ

Q đến(max) (m3/s) Q xả(max) (m3/s) Hiệu quả cắt đỉnh lũ Tỷ lệ cắt đỉnh (%)

8.515 7.245 1.270 14,9

7.720 6.425 1.295 16,7

MNDBT=230 tr WPL=500 m3

6.355 4.976 1.379 21,6 1971(P= 0,1%) 1971(P= 0,2%) 1971(P= 0,5%)

Như vậy với phương án có dung tích phòng lũ WPL=500 tr m3 thì hiệu

quả cắt là giảm được khoảng (1200 m3/s) tương đương 15-:-20% đỉnh lũ.

Hồ Bảo Lâm với dung tích phòng lũ 500tr m3, sẽ làm giảm mực nước

tại Tuyên Quang khoảng 0,5m. Giảm mực nước tại Hà Nội khoảng 0,1m.

Tính toán chi tiết hiệu quả chống lũ của hồ chứa thuỷ điện Bảo Lâm

do Công ty CPTV Sông Đà kết hợp với Viện quy hoạch thuỷ lợi thực hiện.

Ngày 25/9/2002 Việt Nam tham gia ký kết Nghị định thư Kyoto.

Theo những tin tức đã công bố, đến tháng 12/2004, Việt Nam đã hoàn

thành việc hướng dẫn việc triển khai Cơ chế phát triển sạch (Clean

Development MechanismCDM). Trong khuôn khổ chương trình CDM, nếu

VN giảm được một lượng phát thải khí nhà kính thì sẽ được cấp giấy chứng

95

nhận, gọi là Giảm phát thải được xác nhận (The Certified Emissions

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Reductions - CERs). CERs có thể dùng để bán như một thứ hàng hoá mới

có giá trị và sẽ được bán cho các quốc gia, các tổ chức nước ngoài có nhu

cầu giảm phát thải khí nhà kính.

Việc buôn bán CERs trong các dự án dựa trên cơ sở giảm phát thải

theo cam kết của Nghị Định thư Kyoto đã tăng lên nhanh chóng trong

những năm vừa qua. Hiện nay, các tổ chức cũng như các nước có nhu cầu

mua CERs lớn nhất là Ngân hàng Thế giới, các công ty của Nhật Bản, Hà

Lan. Ngoài ra còn có một số nước Châu Âu cũng đang trong quá trình xúc

tiến các chương trình CDM trong những năm 2003-2004. Đây cũng là một

trong những thị trường có nhu cầu lớn về CERs. Kinh doanh buôn bán các

sản phẩm CERs là hình thức hoàn toàn mới trên thị trường. Hiện nay, giá

của CERs trên thị trường vào khoảng 4-6 USD/tấn CO2 tương đương.

Tính toán cụ thể hơn 1 kwh tương đương 3.66 kg CO2 từ đó suy ra nếu

761,67 triệu kWh sản xuất tại nhà máy nhiệt điện thì tiết kiệm được 761,76

x 3.66/1000 = 2.875.620 tấn CO2

Hiện nay, Việt Nam đang là 1 trong 10 nước được đánh giá là có

tiềm năng về CDM với 10 dự án CDM đăng ký. Tuy nhiên, đến nay mới

chỉ có 10 nhà máy thủy điện ký hợp đồng để tạo ra sự cân bằng giảm phát

thải nhà kính thông qua CDM. Dự án CDM đầu tiên trên thế giới được

thực hiện ở Brazil vào đầu tháng 12/2004. Dự án thủy điện Bảo Lâm được

đầu tư cũng không nằm ngoài khuôn khổ việc kinh doanh CDM, tạo ra cơ

chế phát triển sạch bền vững và lợi nhuận đáng kể đối với một quốc gia

đang trong đà phát triển kinh tế hiện nay. Nếu Bảo Lâm đi vào hoạt động sẽ

tạo thêm một lượng doanh thu là : 2.875.620 tấn CO2 x 6USD/tấn =

96

16.726 triệu đồng mỗi năm tính đến hết năm 2015.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Công trình thủy điện Bảo Lâm công suất lắp đặt 190 MW, sẽ cung cấp

cho hệ thống điện lượng trung bình hàng năm là 761.26 triệu kWh. Công

trình được xây dựng sẽ đáp ứng nhu cầu điện năng trong khu vực, giảm bớt

tình hình thiếu hụt điện năng của hệ thống, đặc biệt là trong giờ cao điểm.

Ngoài ra công trình thủy điện Bảo Lâm sẽ đem lại lợi ích chống lũ, tiềm

năng du lịch, kích thích các loại dịch vụ phát triển. Vì vậy sự ra đời của

công trình thủy điện Bảo Lâm là hợp lý và cần thiết.

Về hiệu quả đầu tư của công trình, các phân tích hiệu quả kinh tế và

tài chính đã khẳng định công trình hoàn toàn khả thi về mặt kinh tế mang

lại hiệu ích cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời cũng mang lại lợi nhuận

cho Chủ đầu tư.

lợi cho dự án có thể xẩy ra, phân tích độ nhạy đã được thực hiện nhằm

mục đích khảo sát các tác động tới hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu tài chính

của dự án khi vốn đầu tư tăng 5% hoặc khi năng lượng giảm 5%. Kết quả

phân tích cho thấy dự án vẫn đạt hiệu quả cao cho Chủ đầu tư.

Các kết quả tính toán cho thấy công trình thủy điện Bảo Lâm khả thi

về mặt kỹ thuật và thi công tại mức giá bán điện 6.5cent/kwh. Bên cạnh đó

công trình thủy điện Bảo Lâm khi được xây dựng sẽ tạo cơ hội để phát triển

kinh tế cho khu vực, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm

cho người dân địa phương mang lại hiệu ích về mặt chính trị, kinh tế xã hội

cho khu vực dự án. Đáng kể nhất là đem lại lợi ích chống lũ cho khu vực. Như vậy với phương án có dung tích phòng lũ WPL=500 tr m3 thì hiệu quả cắt là giảm được khoảng (1200 m3/s) tương đương 15-:-20% đỉnh lũ.

Hồ Bảo Lâm với dung tích phòng lũ 500tr m3, sẽ làm giảm mực nước

97

tại Tuyên Quang khoảng 0,5m. Giảm mực nước tại Hà Nội khoảng 0,1m.

Vũ Lưu Chinh – CH2009

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Công trình thủy điện Bảo Lâm sớm đi vào vận hành sẽ sớm mang lại

lợi ích cho nền kinh tế quốc dân và cho Chủ đầu tư. Đề nghị các cơ quan

chủ quản xem xét để báo cáo này có thể tiến hành triển khai các giai đoạn

tiếp theo.

98

.

Vũ Lưu Chinh – CH2009