BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VŨ LƯU CHINH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ: CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN BẢO LÂM - HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Hà Nội – Năm 2012
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học,
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
1
Vũ Lưu Chinh
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy giáo, cô
giáo Viện Kinh tế và Quản lý, Viện đào tạo sau đại học - Trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội. Xin cảm ơn sự trực tiếp hướng dẫn tận tình của TS.
Phạm Thu Hà trong suốt quá trình làm luận văn này. Cảm ơn sự đóng góp
2
của các đồng nghiệp, của gia đình để bản báo cáo này được hoàn thiện hơn.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Nghĩa của cụm từ viết tắt
Phương thức xây dựng – vận hành – chuyển giao 1 BOT
3 CSĐT Cơ sở đào tạo
4 ĐTXD Đầu tư xây dựng
5 GĐ Giai đoạn
6 HSSV Học sinh sinh viên
7 NĐ- CP Nghị định của Chính phủ
8 NCTKT Nghiên cứu tiền khả thi
9 NCKT Nghiên cứu khả thi
10 ISO Tiêu chuẩn quản lý chất lượng Quốc tế
11 ODA Vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp
12 QĐ-BXD Quyết định Bộ Xây dựng
13 QĐ-BCN Quyết định Bộ Công nghiệp
14 QHĐTPT Quy hoạch đầu tư phát triển
15 TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
16 TKKT Thiết kế kỹ thuật
17 TKKTTC Thiết kế kỹ thuật thi công
18 TT-BTC Thông tư của Bộ Tài chính
19 TT-BXD Thông tư Bộ Xây dựng
20 TW Trung ương
21 UBND Uỷ ban nhân dân
3
22 XDCB Xây dựng cơ bản
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. 1
LỜI CẢM ƠN................................................................................................... 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................ 3
MỤC LỤC......................................................................................................... 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU............................................................................... 6
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1 .................................................................................................... 10
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG .................................................................................................... 10
1.1 Dự án đầu tư ...........................................................................................10
1.1.1 Khái niệm dự án...............................................................................10
1.1.2 Khái niệm dự án đầu tư ...................................................................11
1.2 Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả đầu tư dự án.....................................13
1.3 Phát triển bền vững và nguyên tắc chung .............................................19
1.3.1 Khái niệm chung về phát triển bền vững .........................................19
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững .......................................25
1.3.3 Các đặc điểm của Thủy điện ảnh hưởng đến phát triển bền vững 31
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN
BẢO LÂM....................................................................................................... 37
2.1 Tổng quan về nguồn điện hiện nay tại Việt Nam. .................................37
2.2 Sơ lược về Thủy điện ở Việt Nam ..........................................................38
2.3 Tổng quan về dự án thủy điện Bảo Lâm ...............................................43
2.3.1 Giới thiệu chung.................................................................................43
2.3.2 Các thông số chính của dự án Thủy điện Bảo Lâm .............................44
2.3.2 Ý nghĩa của việc đầu tư của công trình thuỷ điện Bảo Lâm. ...............48
2.4 Phân tích hiệu quả tài chính dự án thủy điện Bảo Lâm.......................52
4
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN
BẢO LÂM VÀ PHÂN TÍCH DỰ ÁN DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG ............................................................................................................. 59
3.1 Tổng quan về kinh tế – xã hội ................................................................59
3.1.1 Hiện trạng phát triển kinh tế Việt Nam...............................................59
3.1.2 Các kịch bản phát triển kinh tế...........................................................63
3.2 Phân tích tổng quan hệ thống năng lượng Việt Nam............................73
3.2.1 Tương quan năng lượng – kinh tế giai đoạn quy hoạch trước............73
3.2.2. Tổng quan về cung cầu năng lượng trong giai đoạn 1990-2009 ........77
3.2.3. Tổng quan về cung cầu năng lượng trong giai đoạn 2011-2030 ........82
3.3 Đánh giá phân tích hiệu quả kinh tế dự án: ..........................................89
3.4 Các tính toán đảm bảo đầu tư gắn với phát triển bền vững.................93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................ 97
5
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.3.1 Các thông số chính của Thuỷ điện Bảo Lâm ............................... 45
Bảng 2.3.2 Một số các chỉ tiêu đánh giá PTBV của Thuỷ điện Bảo Lâm ...... 50
Bảng 3.1 Tăng trưởng GDP phân theo các ngành kinh tế.............................. 59
Bảng 3.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động ................... 63
Bảng 3.3 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (tăng trưởng nhanh) ................ 66
Bảng 3.4 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (tăng trưởng chậm) ................. 68
Bảng 3.5 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (Phương án cơ sở)................... 71
Bảng 3.6 Tổng hợp chi tiêu kinh tế - năng lượng Việt Nam 2000-2009 ........ 75
Bảng 3.7 Diễn biến khai thác giai đoạn 1990-2009....................................... 76
Bảng 3.8 Diễn biến khai thác dầu thô trong giai đoạn 1990-2009 ................. 77
Bảng 3.9 Khai thác khí giai đoạn 1995-2009 ................................................ 77
Bảng 3.10 Diễn biến xuất nhập khẩu năng lượng giai đoạn 1990-2009......... 78
Bảng 3.11 Diễn biến tiêu thụ năng lượng sơ cấp........................................... 79
Bảng 3.12 Diễn biến tiêu thụ từng loại nhiên liệu cho sản xuất điện ............. 79
Bảng 3.13 Diễn biến tiêu thụ năng lượng cuối cùng...................................... 80
Bảng 3.14 Đánh giá ảnh hưởng của dòng chảy lũ trong các hệ thống sông đến
đồng bằng sông Hồng................................................................................... 93
Bảng 3.15 Tổ hợp W lũ 8 ngày các trận lũ lớn - lũ lịch sử trên lưu vực sông Hồng
..................................................................................................................... 93
6
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Liên tục trong các năm gần đây, sản lượng điện các nhà máy thủy
điện, nhiệt điện Việt Nam không đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế - xã hội,
đặc biệt là vào mùa nắng nóng. Nhu cầu điện năng của Việt Nam là rất lớn,
việc đầu tư xây dựng công trình sẽ bổ sung đáng kể nguồn năng lượng cho
hệ thống điện quốc gia, góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng khoảng 17
22% /năm của phụ tải cũng như là tiền đề để phát triển kinh tế với tốc độ
tăng trưởng GDP hàng năm là 8,5 – 9%/năm. Xuất phát từ nhu cầu trên nên
hiện nay Chính phủ đang khuyến khích các doanh nghiệp, thành phần kinh
tế đầu tư xây dựng phát triển nguồn điện.
Công trình thủy điện Bảo Lâm với công suất lắp đặt 190MW, hàng
năm sẽ cung cấp điện lượng 761,67 triệu kWh cho hệ thống, sẽ đáp ứng
một phần nhu cầu điện năng trong khu vực, giảm bớt tình hình thiếu hụt
điện năng của hệ thống, đặc biệt là trong giờ cao điểm.
Sau khi xây dựng công trình sẽ tạo ra hồ chứa lớn, góp phần cải thiện
khí hậu môi trường khu vực, tạo cảnh quan du lịch và thúc đẩy phát triển
các ngành du lịch dịch vụ vốn đang là một tiềm năng lớn của tỉnh Cao
Bằng, phát triển ngành nghề nuôi trồng thuỷ sản.
Vì vậy, trên cơ sở kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn trong phạm vi
hiểu biết của mình tôi đã chọn đề tài : “Phân tích đánh giá dự án đầu tư
Công trình thuỷ điện Bảo Lâm tỉnh Hà Giang dưới góc độ bền vững”.
2. Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết cơ bản về dự án đầu
7
tư và phát triển bền vững
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Thứ hai, phân tích đánh giá hiệu quả dự án và phân tích rủi ro của
dự án Công trình thuỷ điện Bảo Lâm tỉnh Hà Giang dưới góc độ bền
vững
Thứ ba, phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thủy điện và đề
xuất các giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững thuỷ điện Bảo
Lâm tỉnh Hà Giang
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những lý luận cơ bản về dự án
đầu tư và phát triển bền vững .
Phạm vi nghiên cứu: dự án Công trình thuỷ điện Bảo Lâm tỉnh Hà
Giang hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thủy điện . Từ đó, đề xuất về
phát triển bền vững thuỷ điện Bảo Lâm tỉnh Hà Giang.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các
học thuyết kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng
hợp, phương pháp so sánh.
Thu thập số liệu: các báo cáo, tài liệu của dự án thủy điện, thông tin trên
báo chí và internet.
5. Những đóng góp của luận văn
Về lý luận : Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận của quản
lý dự án
Về thực tiễn : Xuất phát từ thực trạng dự án Công trình thuỷ điện
Bảo Lâm tỉnh Hà Giang và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thủy điện .Từ
đó, đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững thuỷ điện Bảo
Lâm tỉnh Hà Giang.
6. Kết cấu của luận văn
8
Ngoài phần mở đầu với kết luận, luận văn chia làm 3 chương:
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Chương 1 : Cơ sở phương pháp luận về dự án đầu tư và phát triển bền
vững
Chương 2 : Phân tích và đánh giá hiệu quả dự án Thủy điện Bảo Lâm
Chương 3 : Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Thủy điện Bảo
Lâm, Một số giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững phát triển bền
9
vững của thủy điện.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
CHƯƠNG I
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG
1.1 Dự án đầu tư
1.1.1 Khái niệm dự án
Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra
sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất trong khoản thời gian xác định với sự
ràng buộc về nguồn lực trong bối cảnh không chắc chắn.
- Các công việc và tổng thể các công việc cần được thực hiện trong một
thời hạn xác định. Dự án có điểm bắt đầu và điểm kết thúc.
- Các nguồn lực để thực hiện các công việc và tổng thể công việc là giới
hạn. Mỗi dự án thường tiêu phí các nguồn lực. Các nguồn lực này càng bị
ràng buộc chặt chẽ khi chi phí cho dự án là một số thành công then chốt.
- Các hoạt động của dự án diễn ra trong môi trường không chắc chắn.
Môi trường của dự án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường
tương lai.
Như vậy, dự án và các hoạt động đang tiến hành có những điểm
chung. Cả hai đều do con người thực hiện và bị giới hạn về nguồn lực, cả
hai đều được lên kế hoạch, thực hiện và kiểm tra. Sự khác biệt ở chỗ các
hoạt động đang được tiến hành có tính chất lặp lại, còn dự án thì có thời
hạn và là duy nhất.
Hoạt động theo dự án là một hoạt động có kế hoạch, được kiểm tra để
đảm bảo cho một tiến trình chung với các nguồn lực và môi trường đã
được tính toán nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định. Dự án là điều
kiện, tiền đề của sự đổi mới và phát triển. Những năm gần đây, số lượng
các dự án tăng lên. Dự án sinh ra nhằm giải quyết những “vấn đề” trên con
10
đường phát triển của một doanh nghiệp, một quốc gia, một khu vực thậm
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
chí trên phạm vi toàn cầu. Dự án cho phép hướng mọi sự nỗ lực có thời
hạn để tạo ra sản phẩm dịch vụ mong muốn. Nhu cầu muốn trở thành hiện
thực phải thông qua hoạt động của con người. Hoạt động khôn ngoan là
hoạt động theo dự án, những hoạt động đã được lên kế hoạch và đủ nguồn
lực để đảm bảo sự thành công.
Các dự án đều có chu trình 4 giai đoạn: Xác định và xây dựng dự án
-Lập kế hoạch - Quản lý thực hiện - Kết thúc dự án.
Công việc trong giai đoạn đầu tiên là nghiên cứu tính khả thi của dự
án nhằm xác định rõ ràng các mục tiêu dự án, xây dựng cơ bản đề xuất dự
án. Đây cũng chính là nội dung của đề tài nghiên cứu: Dự án đầu tư Thuỷ
điện Bảo Lâm tỉnh Hà Giang.
1.1.2 Khái niệm dự án đầu tư
Theo luật đầu tư thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn
trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể,
trong khoảng thời gian xác định.
Như vậy dự án đầu tư có thể xét từ nhiều góc độ khác nhau:
- Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một
cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch
để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định
trong tương lai.
- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử
dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội
trong một thời gian dài.
- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế
hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển
kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ.
- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có
11
liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông
qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ
bản sau:
- Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quá
trình nghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội
dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ
kỹ thuật. Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu
tư cần có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn
- Tính thực tiễn: các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xác
định trên cơ sở xtôi xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và
hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư.
- Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù
hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước. Muốn vậy phải nghiên
cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên
quan đến hoạt động đầu tư.
- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của
các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục
đầu tư. Với các dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung
mang tính quốc tế.
Phân loại dự án đầu tư
Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
* Đối với dự án đầu tư trong nước: Để tiến hành quản lý và phân
cấp quản lý, tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án
đầu tư trong nước được phân theo 3 nhóm A, B và C. Có hai tiêu thức
được dùng để phân nhóm là dự án thuộc ngành kinh tế nào? Dự án có
tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ? Trong các nhóm thì nhóm A là quan
12
trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phức tạp hơn
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
cả. Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất,
mặt nước, mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có).
* Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm
A, B và loại được phân cấp cho địa phương.
Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án: Theo trình tự (hoặc
theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại:
- Nghiên cứu tiền khả thi (hay còn gọi là báo cáo đầu tư)
- Nghiên cứu khả thi ( Hay còn gọi là dự án đầu tư)
Theo nguồn vốn: Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát,
tín dụng, các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn
nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp
nước ngoài FDI).
1.2 Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả đầu tư dự án
Bản chất của các dự án đầu tư là lợi ích và chi phí của chúng thường
xảy ra vào các giai đoạn khác nhau. Bởi vì một số tiền có được hiện tại
được coi là có giá trị cao hơn cùng một số tiền như vậy nhận được trong
tương lai, các chi phí và lợi ích đến sớm hơn về mặt thời gian cần phải
được được coi như có trọng lượng lớn hơn và các chi phí và lợi ích đến
muộn hơn có trọng lượng thấp hơn. Sở dĩ giá trị lớn hơn được đặt vào có
lợi ích và chi phí hiện tại hơn là tương lai là bởi vì tiền có được bây giờ
cho phép sử dụng để đầu tư có lãi hay tiêu dùng trong khoảng thời gian
giữa hiện tại và tương lai. Do đó, người đi vay sẵn sàng trả lãi suất
dương để có thể sử dụng được vốn, còn người cho vay đòi phải trả được
lãi.
Trong quá khứ, có nhiều tiêu chuẩn khác nhau đã được dùng để đánh
giá kết quả dự kiến của các dự án đầu tư. Nhưng tựu chung lại có bốn
tiêu chuẩn chính. Cụ thể là: tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng, tỷ số lợi ích
13
- chi phí, thời kỳ hoàn vốn, và nội suất thu hồi vốn. Trong bốn tiêu chuẩn
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
này, tiêu chuẩn lợi ích ròng là tiêu chuẩn thỏa mãn nhất, mặc dù tiêu
chuẩn này đôi khi có thể phải điều chỉnh chút ít để tính tới các cưỡng chế
đặc biệt.
Tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng (Net Present Value, NPV)
NPV (Net present value) được dịch là Hiện giá lợi ích ròng hoặc Giá
trị hiện tại ròng, có nghĩa là giá trị tại thời điểm hiện nay của toàn bộ
dòng tiền dự án trong tương lai được chiết khấu về hiện tại. Giá trị hiện
tại ròng của một dự án đầu tư là sự chênh lệch giữa tổng giá trị khấu
hao của các dòng tiền trong tương lai phát sinh từ dự án đầu tư so với giá
trị vốn đầu tư.
NPV = giá trị hiện tại của dòng tiền vào (thu) - giá trị hiện tại của
dòng tiền ra (chi), giá trị này được diễn tả bằng đại số như sau:
Trong đó: n là thời gian hoạt động của dự án. Biểu thức 1/(1+r)t thường
được gọi là hệ số chiết khấu cho năm thời gian.
Khi đánh giá hiệu quả dự án đầu tư bằng Tiêu chuẩn hiện giá lợi ích
ròng (NPV), cần lưu ý:
Quy tắc 1: "không chấp nhận một dự án nào trừ phi dự án này có
hiện giá lợi ích ròng dương khi được chiết khấu bằng chi phí cơ hội của
vốn."
Tuy nhiên nếu xét về mặt lợi ích quốc gia, sự kết hợp giữa kinh tế
và xã hội thì quy tắc trên cần phải được cân nhắc trong điều kiện phát
14
triển bền vững.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Hạn chế của ngân sách
Thông thường chính quyền không thể có đủ vốn ở một mức chi phí cố
định để thực hiện tất cả các dự án có hiện giá lợi ích ròng dương. Khi tình
thế như vậy xảy ra, ta cần phải lựa chọn giữa các dự án để quyết định một
nhóm các dự án mà sẽ tối đa hóa hiện giá lợi ích ròng của các công trình
đầu tư nằm trong giới hạn của ngân sách. Như thế, cách diễn tả thứ hai
của tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng là:
Quy tắc 2: "Trong giới hạn của một ngân sách đã được ấn định, cần
phải chọn trong số các dự án hiện có nhóm dự án nào có thể tối đa hoá
hiện giá lợi ích ròng."
Bởi vì hạn chế ngân sách không đòi hỏi tất cả kinh phí phải được sử
dụng hết, nên quy tắc này ngăn chặn việc thực hiện một dự án có hiện giá
lợi ích ròng âm. Ngay cả khi tất cả vốn của ngân sách không được sử
dụng hết, NPV do số vốn ngân sách này mang lại sẽ tăng lên nếu dự án
có NPV âm bị loại bỏ.
So sánh các dự án loại trừ lẫn nhau
Rất nhiều khi trong công tác thẩm định dự án ta gặp phải những tình
huống phải lựa chọn giữa những dự án thay thế nhau có nghĩa là nếu thực
hiện dự án này thì phải bỏ dự án kia. Vì lý do kỹ thuật, có thể không thể
thực hiện được cả hai dự án. Ví dụ, khi làm một con đường nối hai thị
trấn, có nhiều mức chất lượng khác nhau của con đường này; tuy nhiên
người ta chỉ có thể làm một con đường. Tương tự như vậy, một miếng đất
xây dựng không thể dùng cho hai mục đích khác nhau vào cùng một lúc.
Do đó, vấn đề mà nhà phân tích đầu tư gặp phải là phải lựa chọn trong
những dự án loại trừ lẫn nhau một dự án mang lại hiện giá lợi ích ròng
lớn nhất. Điều này có thể diễn tả dưới dạng quy tắc sau:
Quy tắc ba: "Trong tình huống không bị giới hạn ngân sách, nhưng ta
15
phải chọn một dự án trong số các phương án loại trừ lẫn nhau, ta luôn
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
luôn cần phải chọn dự án sinh ra hiện giá lợi ích ròng lớn nhất."
Giả sử ta phải lựa chọn giữa ba dự án loại trừ lẫn nhau sau:
Dự án I: Hiện giá chi phí đầu tư là 1 triệu đô-la, NPV là $300.000
Dự án J: Hiện giá chi phí đầu tư là 4 triệu đô-la, NPV là $700.000
Dự án K: Hiện giá chi phí đầu tư là 1,5 triệu đô-la, NPV là $600.000
Trong tình huống này cả ba dự án đều có tiềm năng tốt, vì tất cả
đều có hiện giá lợi ích ròng dương. Tuy nhiên, ta chỉ có thể thực hiện
một dự án. Mặc dù phí tổn của phương án J là lớn nhất, nhưng hiện giá
lợi ích ròng NPV của nó cũng là lớn nhất; bởi thế ta cần chọn phương án
này. Mặc dù dự án K có NPV lớn nhất tính trên mỗi đô-la vốn đầu tư,
nhưng điều này không quan hệ gì nếu suất chiết khấu đã phản ánh chi phí
cơ hội của vốn đó. Nếu ta chọn dự án J thay vì dự án K, với phần đầu tư
trội lên 2,5 triệu đô-la, hiện giá lợi ích ròng sẽ tăng thêm $100.000 sau
khi đã tính chi phí cơ hội của giá trị đầu tư trội lên này. Do đó, chọn dự án
J thì tốt hơn.
Khi tiến hành dự án I thay thế dự án J, người ta giả thiết rằng
chúng ta chỉ hy vọng thu được một hiện giá lợi ích ròng bằng 0 khi đtôi
đầu tư số vốn còn lại vào một dự án L nào đó. Việc sử dụng chi phí cơ
hội của vốn làm suất chiết khấu đã tất yếu bao hàm giả thiết này. Do đó,
sự kết hợp của dự án I và một dự án "L" khác sẽ phải tốn 4 triệu thế mà
NPV của kết hợp này sẽ chỉ là $300.000.
Giới hạn khi lựa chọn giữa các dự án có thể thay thế nhau khi áp
dụng tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng.
Hiện giá lợi ích ròng của một dự án không chỉ là một chỉ số để xếp
hạng các dự án, mà nó còn mang ý nghĩa đáng kể hơn. Nó đo lường giá
trị hay thặng dư giá trị do một dự án tạo ra ngoài những gì mà những
nguồn vốn này có thể mang lại nếu chúng không được sử dụng trong các
16
dự án đầu tư này của khu vực công.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Trong một số trường hợp, việc đầu tư vào một phương tiện như một
con đường có thể được thực hiện thông qua một loạt các dự án ngắn hạn
hoặc một hay nhiều dự án dài hạn hơn. Nếu lợi ích thu về từ việc mở
rộng phương tiện này trong toàn bộ đời hữu dụng của nó như thể là một
cơ hội đầu tư có hiện giá lợi ích ròng dương, nó sẽ là không có ý nghĩa
gì khi ta đtôi so sánh hiện giá lợi ích ròng của một dự án cung cấp các
dịch vụ đường sá trong toàn bộ đời hữu dụng của dự án với hiện giá lợi
ích ròng của một dự án cung cấp các dịch vụ đường sá chỉ cho một thời
gian ngắn nếu ta dự kiến rằng dự án ngắn này sẽ được lặp đi lặp lại.
Vấn đề tương tự như vậy cũng nảy sinh trong việc thẩm định các
chiến lược đầu tư khác nhau cho việc sản xuất điện năng. Sẽ là không
đúng khi ta so sánh hiện giá lợi ích ròng của một nhà máy tua-bin khí có
tuổi thọ 10 năm với một nhà máy dùng than có tuổi thọ 30 năm, nếu ta dự
kiến rằng trong suốt thời gian 30 năm này, sự khan hiếm của các nhà máy
điện sẽ dẫn đến suất thu hồi cao hơn bình thường của đầu tư vào năng
suất. Trong trường hợp như vậy, chúng ta phải so sánh các chiến lược đầu
tư có thời gian hoạt động xấp xỉ nhau. Ta có thể so sánh một chuỗi dự án
nhà máy điện tua-bin khí tiếp theo là nhà máy điện loại khác mà chúng có
tổng thời gian hữu dụng bằng tuổi thọ của nhà máy điện dùng than.
Trong hầu hết các tình huống thẩm định dự án, người ta không cho
rằng sự kết thúc của một dự án ngắn hạn sẽ mang lại cho những dự án
tiếp theo đó những cơ hội với suất thu hồi vốn cao hơn bình thường.
Trong trường hợp như vậy, cách thích hợp là so sánh các dự án có thời
gian hữu dụng khác nhau với các biên dạng lợi ích kinh tế ròng của tất cả
các dự án đtôi chiết khấu theo chi phí cơ hội kinh tế của vốn công quỹ.
Khi người ta cho rằng các dự án với đời hữu dụng ngắn sẽ dẫn tới
các dự án kế tiếp có siêu lợi nhuận, thì việc so sánh các dự án có thể thay
17
thế cho nhau với đời hữu dụng khác nhau mà sẽ cung cấp những dịch vụ
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
như nhau vào một thời điểm nhất định sẽ đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh
chiến lược đầu tư của chúng ta để chúng trải dài cùng một khoảng thời
gian xấp xỉ bằng nhau. Một trong những hình thức điều chỉnh như thế là
xtôi xét cùng một dự án được lặp lại theo thời gian cho tới khi các chiến
lược đầu tư thay thế khác có cùng những khoảng thời gian hữu dụng
tương tự.
Ví dụ, giả sử chúng ta muốn làm một con đường và phải xét 3 loại
mặt bề mặt đường:
Phương án Đời hữu dụng của đường
Phương án A Đường rải đá 3 năm
Phương án B Đường tráng nhựa nóng 5 năm
Phương án C Đường tráng nhựa lạnh 15 năm
Nếu ta phải so sánh hiện giá lợi ích ròng của 3 phương án này với đời
hữu dụng 3, 5 và 15 năm thì kết quả sẽ dẫn đến sai lệch. Tuy nhiên, ta có
thể thực hiện một sự so sánh đúng đắn về những dự án này nếu ta xây
dựng một dự án hay chiến lược đầu tư bao gồm 5 dự án đường rải đá, mỗi
dự án được tiến hành vào một thời điểm trong tương lai khi công trình
trước nó đã hư mòn. Do đó, chúng ta có thể so sánh 5 dự án đường rải đá
kéo dài 15 năm, với 3 dự án đường tráng nhựa nóng và với 1 dự án đường
tráng nhựa lạnh có thời gian hữu dụng 15 năm. Cách so sánh này có thể
Chiến lược đầu tư
Đời hữu dụng của đường
Ký hiệu
(a)
15 năm
NPV (A+A+A+A+A) (1-3,4-6,7-9,10-12,13-15)
(b)
15 năm
NPV (B+B+B) (1-5,6-10,11-15)
(c)
15 năm
NPV (C) (1-15)
18
được viết như sau:
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Hay với một cách khác tốt hơn, ta có thể xtôi xét các chiến lược đầu
tư được cấu thành bởi sự kết hợp các dự án với các loại mặt đường theo
thời gian, chẳng hạn như:
Ký hiệu
Đời hữu dụng của đường
(d)
29 năm
(e)
28 năm
Chiến lược đầu tư (A+A+A+B+C) (1-3,4-6,7-9,10-14,15-29) (A+B+B+C) (1-3,4-8,9-13,14-28)
Trong trường hợp này, ta cần phải điều chỉnh thêm chiến lược 29 năm
(d) để làm cho nó có thể so sánh được với chiến lược (e) mà thời gian hữu
dụng dự kiến là 28 năm. Việc điều chỉnh này có thể làm như sau: tính
hiện giá lợi ích ròng của dự án sau khi trừ lợi ích có được vào năm
29 ra khỏi phần tính toán hiện giá lợi ích ròng, đồng thời giảm hiện giá
của chi phí đi một khoản bằng tỷ lệ PVB29/PVB (trong đó: PVB là hiện
giá của tất cả các lợi ích của toàn bộ chiến lược, bao gồm cả năm thứ 29,
và PVB29 là hiện giá của lợi ích có được trong năm thứ 29). Bằng cách
này, hiện giá của chi phí của dự án được giảm bớt đi theo một tỷ lệ
ngang với tỷ lệ dùng để giảm bớt hiện giá của các lợi ích. Do đó, dự án
sẽ thành ra so sánh được về mặt chi phí và lợi ích với chiến lược đầu tư
có đời hữu dụng ngắn hơn.
1.3 Phát triển bền vững và nguyên tắc chung
1.3.1 Khái niệm chung về phát triển bền vững
Trong các xã hội công nghiệp, với sự phát hiện những nguồn
năng lượng mới, vật liệu mới và kỹ thuật sản xuất tiến bộ hơn nhiều,
con người đã tác động mạnh mẽ vào tài nguyên thiên nhiên và môi
trường, can thiệp một cách trực tiếp và nhiều khi thô bạo vào các hệ
thiên nhiên. Để “chế ngự” thiên nhiên, con người nhiều khi đã tạo nên
những mâu thuẫn sâu sắc giữa mục tiêu phát triển của xã hội loài người
19
với các quá trình diễn biến của tự nhiên. Để đạt tới những năng suất cao
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
trong sản xuất nông nghiệp, con người đã chuyển đổi các dòng năng
lượng tự nhiên, cắt nối các mắt xích thức ăn vốn có của thiên nhiên, đơn
điệu hoá các hệ sinh thái, sử dụng năng lượng bổ sung to lớn để duy trì
những cân bằng nhân tạo mong manh.
Đặc biệt là trong nửa cuối thế kỷ 20, sau những năm hồi phục
hậu quả của thế chiến lần thứ hai, hàng loạt nước tư bản chủ nghĩa cũng
như xã hội chủ nghĩa tiếp tục đi sâu vào công nghiệp hoá, nhiều nước
mới được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũng có điều kiện phát triển
mạnh mẽ nền kinh tế của mình. Một số nhân tố mới như cách mạng
khoa học và kỹ thuật, sự bùng nổ dân số, sự phân hoá các quốc gia về
thu nhập đã tạo nên nhiều nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài
nguyên thiên nhiên và can thiệp vào môi trường. Trật tự bất hợp lý về
kinh tế thế giới đã tạo nên hai loại ô nhiễm: “ô nhiễm do thừa thãi” tại
các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và: “ô nhiễm do đói nghèo” tại các
nước chậm phát triển về kinh tế. Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ
phát triển. Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể
ngừng tiến hoá và ngừng sự phát triển của mình. Đó là qui luật của sự
sống, của tạo hoá mà vạn vật đều phải tuân theo một cách tự giác hay
không tự giác. Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và
phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển
không tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Phát triển đương nhiên
sẽ biến đổi môi trường, nhưng làm sao cho môi trường vẫn làm đầy đủ
các chức năng: đảm bảo không gian sống với chất lượng tốt cho con
người, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần thiết, tái xử lý các
phế thải của hoạt động của con người, giảm nhẹ tác động bất lợi của thiên
20
tai, duy trì các giá trị lịch sử văn hoá, khoa học của loài người. Hay nói
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
một cách khác đó là: phát triển bền vững (PTBV).
Phát triển bền vững thường được định nghĩa là sự phát triển thoả
mãn nhu cầu hiện tại không làm ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng
nhu cầu của các thế hệ tương lại (Báo cáo của Uỷ ban về Môi trường và
Phát triển Thế giới năm 1987). Phát triển bền vững đòi hỏi sự tích hợp của
ba hợp phần: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường như
các hợp phần phụ thuộc và tăng cường lẫn nhau.
Phát triển bền vững là một phương hướng phát triển được các
quốc gia trên thế giới ngày nay hướng tới, đó là niềm hy vọng lớn của
toàn thể loài người.
PTBV có đặc điểm: 1- Sử dụng đúng cách nguồn tài nguyên thiên
nhiên mà không làm tổn hại hệ sinh thái và môi trường; 2- Tạo ra các
nguồn vật liệu và năng lượng mới; 3- ứng dụng công nghệ sạch, công
nghệ phù hợp với hoàn cảnh địa phương; 4- Tăng sản lượng lương thực,
thực phẩm; 5- Cấu trúc và tổ chức lại các vùng sinh thái nhân văn để
phong cách và chất lượng cuộc sống của ngươì dân đều thay đổi theo
hướng tích cực.
Khía cạnh môi trường: Phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì
sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức
độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép
môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật
sống trên trái đất.
Môi trường sống có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn
tại và phát triển của từng cá thể con người cũng như toàn thể loài người.
Theo Lê Thạc Cán (2002), môi trường có ba chức năng chính: là không
gian sống của con người, là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho
21
cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, và cũng là nơi chứa
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
đựng và xử lý phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt
động sản xuất.
Để bảo đảm bền vững về môi trường trước hết cần phải bảo đảm bền
vững về không gian sống cho con người. Muốn vậy thì dân số phải không
được vượt quá khả năng chịu tải của không gian; Chất lượng môi trường
được duy trì ở mức tốt hơn hoặc tối thiểu phải bằng tiêu chuẩn cho
phép; Lượng xả thải phải không vượt quá khả năng tự xử lý, phân huỷ
tự nhiên của môi trường. Sự bền vững về tài nguyên thiên nhiên thể
hiện ở chỗ lượng sử dụng phải nhỏ hơn hoặc bằng lượng khôi phục tái
tạo được với tài nguyên tái tạo, hoặc lượng thay thế với tài nguyên không
tái tạo
Khía cạnh xã hội : Phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự
phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh
vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển
tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.
Tính bền vững xã hội của một quốc gia được đánh giá thông qua
các tiêu chí và chỉ thị như: chỉ thị phát triển con người (HDI- Human
Development Index), chỉ thị bất bình đẳng về thu nhập, tiêu chí về
giáo dục, dịch vụ y tế và các hoạt động văn hóa.
Chỉ thị phát triển con người HDI là chỉ số tổng hợp của tuổi
thọ trung bình của người dân (l), học vấn trung bình của người dân (e),
và khả năng về kinh tế thể hiện qua sức mua tương đương (Purchase
Parity Power - PPP/người).
HDI = f (PPP/người, l, e)
Chỉ số HDI < 0,500 là chậm phát triển, HDI từ 0,501 - 0,799 phát triển
trung bình, HDI > 0,800 phát triển cao. Một quốc gia muốn phát triển
bền vững thì phải đạt điều kiện HDI tăng trưởng và HDI đạt trên mức
22
trung bình.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Chỉ số bình đẳng thu nhập (hệ số Gini). Đây được xtôi là một tiêu
chí về tính bền vững xã hội của một quốc gia vì bất công bằng trong phân
phối thu nhập là nguyên nhân cơ bản của bất ổn xã hội, gây ảnh hưởng
tới sự phát triển bền vững. Hệ số Gini bằng không trong trường hợp
công bằng tuyệt đối trong thu nhập. Hệ số Gini càng lớn chứng tỏ mức
mất công bằng càng cao.
Tiêu chí về giáo dục đào tạo (thường được cụ thể hóa thành
những chỉ thị như tỉ lệ người biết chữ theo độ tuổi, tỉ lệ trẻ tôi học tiểu
học, trung học, số sinh viên trên 10.000 dân, số học sinh/giáo viên,
ngân sách nhả nước chi cho giáo dục bằng % tổng ngân sách v.v.)
Tiêu chí về dịch vụ y tế xã hội, thường được cụ thể hóa thành
các chỉ thị như: số bác sĩ trên 1000 dân, số giường bệnh trên 1000 dân,
tỷ lệ % dân được hưởng dịch vụ y tế xã hội, tỷ lệ % dân được sử dụng
nước sạch, tỉ lệ trẻ tôi dưới 12 tháng tuổi được tiêm chủng đầy đủ, ngân
sách nhà nước chi cho dịch vụ xã hội về y tế bằng % tổng ngân sách,
hoặc tổng GDP
Tiêu chí về hoạt động văn hóa thường khó xác định hơn và được cụ thể
hóa bằng số tờ báo, ấn phẩm được phát hành cho 1000 dân, số thư
viện trên 10.000 dân, số người trên 1 tivi, số kết nối internet/1000 dân,
số thuê bao điện thoại/1000 dân. Một xã hội phát triển bền vững về giáo
dục, y tế, và văn hóa phải có sự tăng trưởng của các chỉ số nêu trên. Trên
đây là các tiêu thí và chỉ thị cơ bản. Ngoài ra, Lê Trình và cộng sự (2002)
cũng đề xuất 35 chỉ thị cụ thể nhằm đánh giá phát triển bền vững về mặt
xã hội của một quốc gia. Các chỉ thị này đo lường tính bền vững của tám
vấn đề xã hội: nghèo đói, việc làm, dân số, y tế, giáo dục, nhà ở, an ninh
trật tự xã hội và văn hóa
Yếu tố kinh tế: Phát triển bền vững đòi hỏi sự phát triển của hệ
23
thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên
nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Khẳng
định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất
nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố được chú
trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ
tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của
hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con
người.
Bền vững về kinh tế có thể được đánh giá thông qua giá trị và
mức ổn định của các chỉ số tăng trưởng kinh tế truyền thống như:
Tổng sản phẩm trong nước GDP, tổng sản phẩm quốc gia GNP, GDP
hay GNP bình quân đầu người, mức tăng trưởng GDP, cơ cấu GDP...
GDP hoặc GNP cho biết khả năng sản xuất và dịch vụ của một
quốc gia. Chỉ tiêu này cho phép so sánh mức độ phát triển kinh kế của
một quốc gia ở những thời điểm khác nhau cũng như so sánh sự phát
triển của các quốc gia khác nhau trên thế giới. GDP thường được điều
chỉnh bằng sức mua thực của GDP, gọi tắt là PPP (Purchase Parity
Power). GDP/đầu người là giá trị trung bình về sản xuất và dịch vụ mà
một người dân trong quốc gia đó có thể làm ra. Chỉ thị này thể hiện
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức gia tăng dân số. Căn cứ vào
GDP/người mà các tổ chức quốc tế thường phân các quốc gia trên thế
giới thành các nhóm: thu nhập thấp; thu nhập trung bình thấp; thu nhập
trung bình cao; và thu nhập cao (Lê Thạc Cán,2002).
Tăng trưởng GDP thể hiện lượng tăng của GDP trong một năm cụ
thể so với GDP năm trước, tính bằng %. Một quốc gia phát triển bền vững
về kinh tế phải bảo đảm tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người
cao. Các nước thu nhập thấp có mức tăng trường GDP vào khoảng 5%.
24
Nếu có mức tăng trưởng GDP cao nhưng GDP bình quân đầu người
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
thấp thì vẫn xtôi là chưa đạt tới mức bền vững (Nguyễn Đắc Hy, 2003).
Ngoài ra, nền kinh tế của một quốc gia thường gồm các lĩnh vực khác
nhau như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Mỗi một lĩnh vực có khả
năng sinh lợi khác nhau, nhưng thông thường thì lĩnh vực dịch vụ và
công nghiệp sinh lợi nhiều hơn nông nghiệp. Do đó, cùng một GDP như
nhau nhưng nền kinh tế nào có cơ cấu GDP với tỉ lệ dịch vụ và công
nghiệp cao thì có khả năng tăng trưởng nhanh hơn.
Chỉ tiêu bền vững mới về kinh tế được thiết lập trên cơ sở điều
chỉnh các bất hợp lý trong cách tính truyền thống: Chỉ tiêu tổng sản phẩm
quốc nội điều chỉnh ANP (Anderson, 1991) được tính bằng cách lấy GNP
trừ vốn đầu tư, tổn thất tài nguyên thiên nhiên, cộng giá của lao động gia
đình và dịch vụ thương mại không trả tiền; Chỉ số phúc lợi kinh tế bền
vững ISEW (Daly và Cobb, 1989) được tính bằng thu nhập cá nhân có bổ
sung giá trị lao động tại gia đình, giá của các dịch vụ tập thể công cộng,
suy thoái môi trường và suy giảm các giá trị liên quan tới an toàn của
con người
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững
Xã hội Chỉ tiêu năng lượng
Nội dung Ngành
Phân ngành Tiếp cận SOC1
Cân đối
25
Tỷ lệ hộ (tỷ lệ dân số) không có điện hay năng lượng thương phụ hay mại, thuộc nhiều vào các dạng năng lượng phi thương mại. Tỷ trọng thu nhập của hộ dân cư - Số hộ (hay dân số) không có điện hay năng thương lượng mại, hay phụ thuộc nhiều vào các dạng năng phi lượng thương mại - Tổng số hộ hay dân số. Thu nhập của hộ gia đình chi cho nhiên Khả năng đáp ứng. SOC2
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
(affordability)
dành cho nhiên liệu và điện
khác SOC3
Sự biệt
(5 nhóm
Sử dụng năng lượng của hộ gia trong mỗi định nhóm thu nhập và tương ứng với hỗn hợp nhiên liệu
(5 nhóm
An toàn SOC4
Sức khỏe tai nạn chết dây trong
lượng năng
liệu và điện - Thu nhập cả một hộ gia đình (tổng và và của 20% dân số nghèo nhất nước) - Năng lượng sử dụng trong mỗi hộ gia đình đối với mỗi nhóm thu nhập - quintiles). - Thu nhập của mỗi hộ gia đình trong mỗi nhóm thu nhập - Tiêu hao nhiên liệu trong mỗi nhóm thu nhập - quintiles). - Số người chuyền nhiên liệu - Sản lượng hàng năm
nạn chết Tai trên mỗi người đơn năng vị lượng sản xuất ra trong dây chuyền nhiên liệu
Phân ngành Nội dung
tổng
Kinh tế Chỉ tiêu năng lượng ECO1 Năng lượng đầu
Sử dụng thể người
tiêu
Ngành Mô hình sản xuất và sử dụng
Năng suất tổng thể
ECO2 Tiêu hao năng lượng trong 1 đơn vị GDP
26
Sử dụng năng - lượng (tổng cung cấp năng lượng sơ cấp, thụ cuối tổng cùng và sử dụng điện năng) - Tổng dân số Sử dụng năng lượng (tổng cung cấp năng lượng sơ cấp, tổng tiêu thụ cuối cùng và
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Hiệu quả cung cấp
ECO3 Hiệu quả của quá trình biến đổi và phân phối năng lượng
Sản xuất ECO4 Tỷ lệ trữ lượng so
với sản xuất
ECO5 Tỷ lệ tài nguyên
so với sản xuất
thụ cuối
Tiêu cùng
ECO6 Cường độ năng lượng của ngành công nghiệp
theo
ECO7 Cường độ năng lượng của ngành nông nghiệp
ECO8 Cường độ năng lượng của khối thương mại dịch vụ
ECO9 Cường độ năng lượng của hộ dân cư
27
sử dụng điện năng) - GDP - Tổn thất trong cả hệ thống sản xuất bao gồm sản xuất, truyền tải và phân phối - Trữ lượng đã được chứng minh - Tổng năng lượng sản xuất ra - Tài nguyên được đánh giá - Tổng năng lượng sản xuất ra - Năng lượng tiêu hao công ngành trong nghiệp và theo từng phân ngành. - Giá trị gia tăng của ngành công nghiệp và và từng phân ngành - Năng lượng tiêu hao trong nông nghiệp. - Giá trị gia tăng của nông nghiệp - năng lượng tiêu hao trong ngành thương mại và dịch vụ - Giá trị gia tăng của khối thương mại dịch vụ - Năng lượng tiêu hao trong hộ dân cư và theo sử dụng cuối cùng cơ bản. - Số hộ dân cư, tầng
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
ECO10 Cường độ năng lượng của ngành giao thông
lớp, số người trong hộ, các thiết bị - Năng lượng tiêu hao trong vận tải hành khách và hàng hóa và theo các phương thức vận tải. - Số hành khách – km và số tấn - km và theo các phương thức vận tải. - Cung
Sự đa dạng hóa. (hỗn hợp nhiên liệu)
-
trọng nhiên ECO11 Tỷ liệu trong năng lượng và điện năng
- Cung
ECO12 Tỷ
-
trọng năng lượng không có phần thành trong cacbon lượng và năng điện năng
28
năng cấp lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng cuối sản cùng, lượng điện và năng lực sản xuất theo từng dạng nhiên liệu. Tổng cấp cung năng lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng cuối cùng, sản lượng điện và năng lực sản xuất. năng cấp lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng cuối sản cùng, lượng điện và năng lực sản xuất bằng các nguồn năng không lượng cacbon Tổng cấp cung năng lượng sơ cấp, sản lượng điện và
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
- Cung
ECO13 Tỷ
tái
-
trọng năng tạo lượng trong năng lượng và điện năng
Giá cả
năng lực sản xuất. năng cấp lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng sản cùng, cuối lượng điện và năng lực sản xuất theo năng lượng tái tạo. Tổng cấp cung năng lượng sơ cấp và tiêu thụ năng lượng cuối cùng, sản lượng điện và năng lực sản xuất. - Giá năng lượng (có và không có thuế hay trợ giá) lượng theo liệu
- Nhập khẩu năng
ECO14 Giá năng cuối cùng dạng nhiên và theo lĩnh vực
Nhập khẩu
- Tổng cung cấp sơ
lượng An ninh
ECO15 Sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu
cấp
ECO16 Dự
- Dự trữ năng nhiên liệu chiến lược ( ví dụ dầu khí…)
trữ năng chiến
- Tiêu thụ nhiên liệu.
Dự lượng lược
trữ năng lượng chiến lược theo đối với mỗi loại nhiên liệu tiêu thụ Môi trường
ENV1
- Phát thải GHG từ năng xuất sản lượng và sử dụng năng lượng - Dân số và GDP
Không khí Biến đổi khí hậu
- Mức độ tập trung
29
Phát thải GHG từ sản xuất năng sử lượng và dụng năng lượng theo đầu trên người và mỗi vị đơn GDP lượng ENV2 Mức tập độ Chất
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
không khí không khí ô nhiễm
- Phát thải các chất ô nhiễm không khí
ENV3
- Sự phát
ENV4 lượng
gây Nước Chất nước
tán các chất gây ô nhiêm dưới dạng lỏng
- Các vùng bị axit
lỏng
Đất Chất lượng đất ENV5
- Mức độ cho phép
hóa
- Khu vực trong hai khác
Rừng
thời điểm nhau
- Sử
trung không khí ô nhiễm ở các khu vực thành thị thải các Phát chất ô nhiễm không khí từ hệ năng thống lượng Sự phát tán các ô chất dưới nhiêm dạng từ thống các hệ năng lượng bao gồm cả dầu mỏ Các vùng đất nơi có mức độ axit hóa vượt qua mức cho phép ENV6 Mức độ phát quang rừng để phục vụ sản xuất năng lượng năng
- Tổng
dụng lượng sinh khối
lượng phát ENV7
- Sản
thải rắn
lượng năng Sản xuất các thải rắng chất và quản lý
lượng
- Lượng chất thải rắn
ENV8
- Tổng
được xử lý
lượng chất
thải rắn
- Tổng các chất thải
ENV 9
30
Hệ số sản xuất các chất thải rắn trên mỗi đơn vị lượng năng được sản xuất Tỷ lệ các chất thải rắn được xử lý trong tổng số chất thải rắn Tỷ lệ các chất thải phóng xạ phóng xạ rắn
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
- Sản
lượng năng
- Lượng chất
lượng
thải phóng xạ rắn chờ xử lý - Tổng lượng chất
phóng xạ thải rắn
rắn trên mỗi đơn vị năng lượng được sản xuất ENV10 Tỷ lệ các chất thải phóng xạ rắn chờ xử lý tổng số trong chất rắn thải phóng xạ
1.3.3 Các đặc điểm của Thủy điện ảnh hưởng đến phát triển bền
vững
Đi tìm sự hài hòa giữa phát triển thủy điện với tăng trưởng kinh tế và
bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách. Nó không chỉ đặt ra ở tầm quốc gia,
khu vực mà mang ý nghĩa hợp tác toàn cầu. Bởi mỗi con sông, mỗi dòng
chảy lớn đã không còn là vấn đề hạn hẹp của một quốc gia
Thủy điện xuất hiện các đây trên 70 năm và trở thành niềm hy vọng
của nhân loại. Trong cung cấp điện năng, thủy điện là nguồn cung ứng linh
hoạt bởi khả năng điều chỉnh công suất. So với nhiệt điện, thủy điện cung
cấp một nguồn năng lượng sạch, không phát khí thải gây hiệu ứng nhà
kính. Nhờ lợi thế có được, trong vòng 50 năm, cộng đồng quốc tế đã xây
dựng trên 40 vạn đập, tạo hệ thống hồ chứa nước trên diện tích rộng hơn
400.000km2. Đập thủy điện lớn nhất hành tinh là Akasombo xây dựng trên
sông Volta ở Gana, hình thành hồ chứa nước rộng tới 4% diện tích của đất
nước này.
Do hiệu quả đầu tư thủy điện mang lại khá cao, người ta thường ít
chú ý đến hiểm họa môi trường. Ngân hàng Thế giới (WB) cảnh báo, trên
58% số dự án thủy điện được xây dựng đã không tính hết tác động môi
31
trường. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã làm rõ tác động bất lợi của thủy
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
điện trên các mặt sinh thái, giảm thiểu đa dạng sinh học và hiệu quả kinh tế
đảo ngược từ việc cải tạo môi trường tự nhiên.
Điều dễ thấy là, những hồ chứa nước thủy điện đã nhấn chìm không
ít khu rừng đầu nguồn. Giới phân tích cho biết, để tạo 1MW công suất thủy
điện, phải mất đi từ 10 - 30ha rừng và để có 1.000ha hồ chứa nước cũng
cần san phẳng, giải phóng từ 1.000 - 2.000ha đất ở phía thượng nguồn. Về
phía hạ lưu, do dòng chảy cạn kiệt, nhiều vùng bị xâm thực, nước biển
dâng cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống.
Từ xa xưa, các hệ động, thực vật đều dựa vào dòng chảy để sinh sản,
di trú và lũ hàng năm cũng đưa một lượng khổng lồ chất dinh dưỡng bồi
đắp cho những đồng bằng trù phú. Việc xây dựng đập làm thay đổi dòng
chảy đến các cửa sông, được coi là nguyên nhân làm sụt giảm nghiêm trọng
nguồn cá tại vùng vịnh Mexico, Biển Đen, Caspien hoặc San Francisco...
Cũng theo các nhà sinh học, khoảng 20% loài sinh vật nước ngọt trên bờ
vực tuyệt chủng do tác động của những con đập ngăn các dòng sông.
Ngoài gây sụt giảm sinh vật, đập chặn còn ngăn dòng trầm tích chảy
xuống hạ lưu, khiến nhiều bờ sông suy yếu và sụt đáy sông. Sau 9 năm đập
nước Hoover trên sông Calorado (Mỹ) đi vào hoạt động, đáy sông bị thấp
đi 4m. Trên vùng Cận Đông, sông Nile hàng năm mang theo hàng trăm
triệu tấn trầm tích ra cửa sông và bồi đắp cho đồng bằng ở phía hạ lưu. Khi
đập Aswan hoạt động, lượng trầm tích của sông bị đọng lại tới 98%. Tương
tự, đập nước Akasombo cắt đứt nguồn trầm tích của sông Volta, làm cho
đường bờ biển Togo và Benin hàng năm đều bị xói mòn từ 10 - 15m.
Hậu quả bất lợi về môi trường và tài nguyên sinh vật, buộc Chính
phủ nhiều nước phải xem xét thận trọng hơn chiến lược phát triển thủy điện
và có giải pháp chính sách điều chỉnh thích hợp. Tại Mỹ, việc phá đập ngăn
nước trả lại dòng chảy cho những con sông ngày càng mở rộng. Tính từ
32
năm 1999, trong tổng số 5.500 đập nước xây dựng, đã có trên 430 đập được
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
dỡ bỏ. Do đập thủy điện trên sông Klamath gây hàng loạt vấn đề về môi
trường bức xúc và cản trở sự di trú của các loài thủy sinh, tháng 10/2009,
28 tổ chức của Mỹ đã đi đến thỏa thuận phá bỏ 4 đập thủy điện lớn nhất để
trả lại nguyên vẹn dòng sông dài 420km, chảy dọc theo ranh giới của bang
California và Oregon.
Đập thủy điện trên sông Klamath được thiết kế nhằm tưới cho những
cánh đồng lúa mì, chạy tuốc bin thủy điện và tạo thuận lợi cho giao thông
thủy. Thế nhưng, dự án đã không lường trước được sự giảm sụt nhanh
chóng của giống cá hồi mà chính quyền liên bang đã phải bỏ ra trên 8 tỉ
USD để tìm cách cứu vãn. Theo Stave Rothert, Giám đốc Group American
Rivers, loại bỏ 4 đập nước trên thượng lưu Klamath là dự án phá bỏ đập
thủy điện lớn nhất thế giới. Khôi phục dòng sông lịch sử này không chỉ
giúp cho dòng sông khỏe mạnh mà còn là lấy lại sức sống cho các cộng
đồng dân cư.
Trên địa bàn Đông Nam Á, lưu vực Mekong được coi là nơi tập
trung các loài thủy sinh lớn thứ 2 thế giới với trên 1.000 loài. Các nhà phân
tích nhận xét, mỗi con đập ngăn ở đây có thể hủy diệt đến 70% lượng cá di
cư có thể đánh bắt. Một phúc trình của Liên Hợp Quốc đã thể hiện mối
quan ngại khi Trung Quốc xây dựng quá nhiều đập nước ở thượng nguồn
Mekong. Kế hoạch tham vọng của quốc gia này đã tập trung vào 8 đập lớn
với Tiểu Loan cao nhất thế giới (292m), trở thành mối đe dọa lớn đối với
dòng chảy của con sông dài 4.800km đi qua 6 nước; trong đó, Việt Nam ở
phía cuối nguồn.
Số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy, thượng nguồn Mekong chiếm
khoảng 60% dung tích lưu vực. Với tổng dung lượng hồ chứa Trung Quốc
xây dựng tương đương với tất cả hồ chứa nước của Đông Nam á, khi lượng
nước thượng nguồn ở đây bị chặn, về mùa khô cạn kiệt ở phía hạ lưu là
33
điều khó tránh. Ngược lại, trong mùa mưa, việc xả nước đột ngột của hồ
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
đập thượng nguồn cũng sẽ tạo nên không ít trận lũ kinh hoàng. Theo giới
quan sát, khi những con đập thượng lưu đi vào hoạt động, ở phía cuối
nguồn, Việt Nam sẽ là nước gánh chịu hậu quả nặng nề, đặc biệt là ở đồng
bằng sông Cửu Long.
Những tổn thất lớn do cơn bão Ketsana và Mirial gây ra ở miền
Trung và Tây Nguyên vào tháng 11/2009 cho thấy khá rõ mối quan hệ giữa
phát triển thủy điện với rừng, môi trường và vai trò của nhà quản lý. Theo
đó, các công trường xây dựng thủy điện lấn rừng gây suy thoái môi trường
và nhiều thảm họa được lộ diện. "Toàn bộ hồ chứa thủy điện ở miền Trung
không đủ dung tích phòng lũ, không có nhiệm vụ chống lũ cho hạ du mà
chủ yếu để phát điện", GS.TS Ngô Đình Tuấn, Chủ tịch Hội đồng khoa học
Viện Tài nguyên nước và môi trường Đông Nam Á từng trao đổi trên
Vnexpress.
Những năm gần đây, câu chuyện “thủy điện xả lũ, dân lãnh đủ” liên
tục diễn ra ở miền Trung. Thực tế không phải có thủy điện thì làm tăng lũ.
Lũ tăng do các nguyên nhân như biến đổi khí hậu, mặt đệm tức là lớp phủ
bị tàn phá. Mặt khác, khi không có quy trình vận hành liên hồ chứa hoặc
quy trình vận hành độc lập, hợp lý thì xả nước sẽ gây lũ chồng lũ. Nếu có
quy trình vận hành liên hồ thì sẽ hạn chế thấp nhất. Tuy nhiên, điều này
còn phụ thuộc vào độ chính xác của dự báo lũ, dự báo tốt thì mới khống
chế được, không để xảy ra lũ chồng lũ.
Thực tế, toàn bộ công trình hồ chứa thủy điện ở miền Trung không
đủ dung tích phòng lũ. Chỉ có 2 hồ thủy lợi có dung tích phòng lũ đáng kể
là hồ Phú Ninh (Tam Kỳ - Quảng Nam) 300 triệu m3 và Tả Trạch (Thừa
Thiên - Huế) 500 triệu m3, nhưng chưa xây dựng xong. Các công trình
thủy điện ở miền Trung không có nhiệm vụ chống lũ cho hạ du mà chỉ làm
34
thế nào bảo vệ an toàn hồ chứa trong khi vận hành và hiệu quả phát điện
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
cao nhất, tức là đảm bảo dung tích luôn ở mực nước dâng bình thường
Thủy điện sông Tranh 2 xả lũ với lưu lượng từ 3.500 đến 5.000 m3/s đã gây thiệt hại nặng cho
vùng hạ lưu Quảng Nam. Ảnh: Trí Tín.
(luôn đầy).
Trong mối quan hệ giữa thủy điện với phát triển kinh tế - xã hội và
bảo vệ môi trường, những gì diễn ra trong xu thế phát triển toàn cầu đã
minh chứng, cách làm chủ quan, nóng vội và thiếu cân nhắc trong đánh giá
tác động môi trường đều phải trả giá quá đắt cho những thảm họa khôn
lường của những năm sau. Tổn hại thay đổi dòng chảy và những quy luật tự
nhiên có thể dẫn đến thiên tai khủng khiếp, đa dạng sinh học bị hủy diệt
làm nghiêm trong thêm những vấn đề môi trường và điều kiện sống của
con người.
Đi tìm sự hài hòa giữa phát triển thủy điện với tăng trưởng kinh tế
và bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách. Nó không chỉ đặt ra ở tầm quốc
gia, khu vực mà mang ý nghĩa hợp tác toàn cầu. Bởi mỗi con sông, mỗi
dòng chảy lớn đã không còn là vấn đề hạn hẹp của một quốc gia. Việc
35
nghiên cứu đánh giá việc đầu tư thủy điện Bảo lâm tỉnh Hà Giang trong
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
khía cạnh đặt giữa hiệu quả kinh tế xã hội và phát triển bền vững sẽ được
36
đề cập sâu hơn ở phần II của bài viết này.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN BẢO LÂM
2.1 Tổng quan về nguồn điện hiện nay tại Việt Nam.
Tổng công suất đặt các nguồn điện hệ thống điện quốc gia tính đến hết
năm 2011 là 24.559MW (bao gồm 23.559MW công suất các nhà máy điện
và 1000MW nhập khẩu từ Trung Quốc), trong đó thủy điện chiếm tỷ trọng
cao nhất (41,2%), nhiệt điện khí chiếm tỷ trọng thấp nhất (1,9%) Trong
23.559 MW tổng công suất các nhà máy điện, EVN sở hữu 100% vốn hoặc
giữ cổ phần chi phối các nhà máy điện có tổng công suất là 14.026 MW,
chiếm 57,1%; các nguồn điện BOT nước ngoài là 2.265 MW, chiếm
khoảng 9,2%, và các nguồn IPP trong nước (do các Tổng công ty, Tập đoàn
nhà nước, các nhà đầu tư tư nhân nhỏ lẻ khác) là 7.269 MW, chiếm tỷ trọng
33,7%. Cụ thể, phân loại nguồn điện loại hình và theo chủ sở hữu như hình
sau:
37
Hình 2.1 Phân loại nguồn điện theo loại hình sản xuất
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Hình 2.2 Phân loại nguồn điện theo loại hình chủ sở hữu
2.2 Sơ lược về Thủy điện ở Việt Nam
Việt Nam có 2360 con sông với chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó
có 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực từ 10.000 km2. Mật độ sông suối
trung bình trên toàn lãnh thổ là 0,6km/km2. Có 10 hệ thống sông lớn có
tiềm năng phát triển thủy điện.
Tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch thuỷ điện ở nước ta cho thấy
tổng trữ năng lý thuyết của các con sông đựơc đánh giá đạt 300 tỷ
KWh/năm, công suất lắp máy được đánh giá khoảng 34.647MW.
Trữ năng kinh tế - kỹ thuật đựơc đánh giá khoảng 80-84 tỷ
KWh/năm, công suất lắp máy được đánh giá khoảng 19.000MW -
21.000MW. Hơn nửa thế kỷ qua, công cuộc phát triển thủy điện ở nước ta
đã trải qua một chặng đường đầy khó khăn, gian khổ nhưng đã mang lại
hiệu quả vô cùng to lớn cho nền kinh tế quốc dân.
Các công trình thủy điện đưa vào vận hành có vai trò to lớn trong
sản xuất điện năng, phòng chống lũ, cấp nước v.v. phục vụ phát triển kinh
tế-xã hội. So với các nguồn điện năng khác (nhiệt điện, điện hạt nhân hay
điện chạy bằng tua bin khí và diezel ...), thì thủy điện là nguồn năng lượng
38
tái sinh, rẻ tiền và sạch (ít gây hiệu ứng nhà kính), đồng thời đóng góp tích
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
cực vào việc cung cấp điện năng đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế
đất nước.
Những thập kỷ qua, Việt Nam đã xây dựng hàng loạt các công trình
thuỷ điện và hiệu quả kinh tế mang lại rất lớn như công trình Thuỷ điện
Thác Bà trên sông Chảy, Thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà, Thuỷ điện Trị
An trên sông Đồng Nai, Thuỷ điện Ialy trên sông Sê San, Thuỷ điện Bản
Vẽ, Thuỷ điện Đại Ninh, Thuỷ điện Bắc Bình, Thuỷ điện Tuyên Quang,
Thủy điện Sơn La... Điều đó khẳng định vai trò to lớn của thuỷ điện đối
với phát triển điện năng của đất nước.
Để đáp ứng yêu cầu sử dụng điện ngày càng tăng của các ngành kinh
tế và sinh hoạt của nhân dân trong cả nước, Tập đoàn Điện lực Việt Nam
đã xây dựng Qui hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 20062015
có xét triển vọng đến năm 2025, gọi tắt là qui hoạch điện VI. Qui hoạch
điện VI đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số
110/2007/QĐ-TTg ngày 18/07/2007. Theo qui hoạch điện VI đã được phê
duyệt:
- Về dự báo phụ tải:
Đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với mức tăng
GDP khoảng 8,5% - 9%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và cao hơn, dự báo nhu
cầu điện nước ta tăng ở mức 17% năm (phương án cơ sở), 20% năm
(phương án cao) trong giai đoạn 2006 - 2015, trong đó xác định phương án
cao là phương án điều hành, chuẩn bị phương án 22% năm cho trường hợp
tăng trưởng đột biến.
- Về phát triển nguồn điện:
+ Phát triển nguồn điện phải đáp ứng nhu cầu phụ tải nêu trên. Đảm
bảo thực hiện tiến độ xây dựng các nhà máy thủy điện có các lợi ích tổng
hợp như: chống lũ, cấp nước, sản xuất điện; phát triển hợp lý có hiệu quả
39
các nguồn nhiệt điện khí; đẩy mạnh xây dựng nhiệt điện than; phát triển
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
thủy điện nhỏ, năng lượng mới và tái tạo cho các vùng sâu, vùng xa, miền
núi, biên giới, hải đảo; chủ động trao đổi điện năng có hiệu quả với các
nước trong khu vực; đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển
bền vững.
+ Phát triển phù hợp các trung tâm điện lực ở các khu vực trong cả
nước nhằm đảm bảo tin cậy cung cấp điện tại chỗ và giảm tổn thất kỹ thuật
trên hệ thống điện quốc gia cũng như đảm bảo tính kinh tế của các dự án,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho từng vùng và cả nước.
+ Phát triển nguồn điện mới phải tính toán với các phương án đầu tư
chiều sâu và đổi mới công nghệ các nhà máy đang vận hành; đáp ứng tiêu
chuẩn môi trường; sử dụng công nghệ hiện đại đối với các nhà máy điện
mới.
+ Phát triển các nguồn điện theo các hình thức đã được nhà nước quy
định, Bộ Công nghiệp xác định tỷ lệ hợp lý các dự án áp dụng hình thức
đầu tư BOT, BOO.
- Về phát triển lưới điện:
+ Phát triển lưới điện truyền tải và phân phối một cách đồng bộ với
chương trình phát triển nguồn điện. Thực hiện việc hiện đại hóa và từng
bước ngầm hóa lưới điện các thành phố, thị xã hạn chế tác động xấu đến
cảnh quan, môi trường. Áp dụng các biện pháp giảm tổn thất điện năng
theo quy định.
QHĐ VI đã đưa danh sách đầu tư xây dựng 24 NM thuỷ điện giai
đoạn 2006 – 2010 với tổng công suất trên 4200MW và 25 NMTĐ giai đoạn
2011 – 2015 với tổng công suất trên 6300MW. Đến tháng 6/2010 đã có 13
công trình đã vào vận hành với tổng công suất trên 1800MW và 22 công
trình đang được xây dựng. Dự kiến đến cuối năm 2010 sẽ có thêm 8
NMTĐ hoặc tổ máy TĐ được đưa vào vận hành, trong đó có tổ máy 1 TĐ
40
Sơn La. Như vậy giai đoạn 2006 – 2010 ước có 21 NMTĐ được đưa vào
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
trong tổng 24 NMTĐ được phê duyệt kế hoạch. Nói chung tiến độ các
NMTĐ chậm so với lịch trình phê duyệt của QHĐ VI, một số công trình
chậm từ 1 – 2 năm.
Có một số dự án thuỷ ðiện trong quá trình triển khai ðã ðýợc tạm
dừng hoặc thay ðổi quy mô, tiến ðộ do các nguyên nhân khác nhau… Cụ
thể:
- TĐ Thác Mơ mở rộng 75MW đang tạm dừng vì chỉ tiêu hiệu quả
kinh tế thấp;
- TĐ Bảo Lạc 190MW (Lào Cai) do diện tích ngập lớn, ảnh hưởng
tới môi trường, di dân nên nay đang nghiên cứu giảm mức công suất xuống
khoảng 120 MW và dự kiến sẽ lùi tiến độ đến khoảng 2018-2020.
- TĐ Bắc Mê 70MW cũng vì lý do tương tự phải giảm công suất và
lùi tiến độ.
Hiện nay EVN cũng đang cho nghiên cứu một phương án mở rộng
NMTĐ Hoà Bình thêm 1-:- 3 tổ máy để tận dụng nước trong mùa lũ.
Miền Trung hiện nay cũng có một vài ðịa ðiểm thuận lợi cho xây
dựng TÐTN như: TĐTN Đà Nẵng (do Công ty cổ phần thuỷ ðiện Geruco
Sông Côn khảo sát nghiên cứu, địa ðiểm nằm liền kề khu vực nhà máy thuỷ
ðiện nhỏ Sông Nam – Sông Bắc, cách trạm 500kV Ðà Nẵng khoảng 25km
về phía tây, quy mô từ 1.000-:-1.200 MW; TĐTN A Vương (do Cty CP
thuỷ điện A Vương nghiên cứu đề xuất). Tuy miền Trung có tỷ trọng thuỷ
ðiện áp ðảo và ðến nãm 2020 vẫn có tỷ trọng thuỷ ðiện trên 70%, có thể
ðảm bảo phủ ðỉnh biểu ðồ phụ tải, nhýng trên cả nýớc số vị trí các TÐTN
không nhiều thì cần cho phép nghiên cứu thêm các dự án này về quy mô
thích hợp và thời điểm phát triển, nhất là giai đoạn khi miền Trung sẽ xây
dựng các NMÐHN.
41
Trong khi ðó, với tỷ trọng thuỷ ðiện nhỏ và tỷ trọng nhiệt ðiện than,
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
ÐHN lớn, TÐTN miền Nam ðýợc lựa chọn vào vận hành từ 2018 – 2019 và
ðến nãm 2030 có thể phát triển ðýợc tổng công suất 3600-:-4500MW. Các
ðịa ðiểm ðang ðýợc nghiên cứu bao gồm:TĐTN Bác Ái (Ninh Thuận) và
TĐTN Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) là 2 dự án ðang lập DAÐT; các địa
điểm tiếp theo đang được đề xuất là TĐTN Đơn Dương (Lâm Đồng) và
Ninh Sơn (Ninh Thuận). Mỗi địa điểm dự kiến quy mô từ 1.200 – 2400
MW.
Theo định hướng phát triển ngành điện Việt Nam, với mục tiêu ưu
tiên phát triển các nguồn thủy điện, đặc biệt là các dự án có lợi ích tổng
hợp: Chống lũ, cấp nước, sản xuất điện. Việt Nam hướng tới mục tiêu nâng
tổng công suất các nguồn thủy điện từ 9200MW lên 17.400MW vào năm
2020.
Như vậy, trong tương lai gần việc đầu tư xây dựng các nhà máy Thủy
điện vẫn là hướng đi đúng đắn và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế
xã hội tại Việt Nam. Phát triển thủy điện theo hướng phát triển bền vững sẽ
mang lại lợi ích kinh tế xã hội cao. Tận dụng nguồn năng lượng tái tạo với
địa hình nhiều sông suối đặc trưng, phát triển thủy điện không chỉ bổ sung
cho sự thiếu hụt nguồn điện hiện nay, giảm bớt áp lực nhập khẩu điện năng
hướng tới sự chủ động trong an ninh năng lượng. Phát triển thủy điện gắn
với phát triển dân sinh, kinh tế, cải thiện đời sống xã hội của khu vực dân
cư trên địa bàn thực hiện.
Thủy điện với các đặc trưng cơ bản như:
· Công nghệ phát triển khá hoàn chỉnh
· Năng lượng sạch & tái tạo
· Nhiều ưu điểm khi hoà mạng · Thuận lợi khi tạo nguồn năng lượng độc lập
42
· Chi phí quản lý thấp
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
· Hồ chứa mang lại nhiều lợi ích tổng hợp
· Tiềm năng sẵn có ở những nơi cần
Việc nghiên cứu đầu tư các dự án thủy điện hiện nay là vấn đề thiết thực
gắn với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Trong khuôn khổ xem xét đầu
tư dự án thủy điện gắn với phát triển bền vững , người viết muốn đi sâu hơn
với đầu tư dự án Thủy điện Bảo Lâm, tỉnh Hà Giang Công suất 190MW
hàng năm cung cấp 1 sản lượng điện năng vào khoảng 761,215 triệu Kwh.
2.3 Tổng quan về dự án thủy điện Bảo Lâm
2.3.1 Giới thiệu chung.
Sông Gâm là một nhánh cấp I nằm bên bờ trái của sông Lô, đồng thời
là nhánh cấp II của sông Hồng. Sông Gâm bắt nguồn từ vùng núi Vân
Nam của Trung Quốc có cao độ trên 1600m. Diện tích toàn bộ lưu vực sông Gâm là 17200km2, phần nằm trên lãnh thổ Trung Quốc 7420km2
chiếm 43%. Chiều dài sông 297km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt nam
217km.
Công trình thủy điện Bảo Lâm (tên gọi cũ là Thuỷ điện Bảo Lạc) dự
kiến xây dựng nằm tại xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, tuyến
công trình nằm cách điểm nhập lưu của sông Nho Quế với sông Gâm
khoảng 2 km về phía hạ lưu.
Toạ độ địa lý tuyến công trình.
22o55’05’’ 22o56’07’’ vĩ độ Bắc
105o31’55’’ 105o32’30’’ kinh độ Đông.
Dự án thủy điện Bảo Lâm (tên cũ là thủy điện Bảo Lạc) có trong Quy
hoạch điện VI và Quy hoạch bậc thang thủy điện trên sông Gâm (Báo cáo
hiệu chỉnh) được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) phê duyệt
43
tháng 08 năm 2007.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Báo cáo Dự án đầu tư - thiết kế cơ sở Thuỷ điện Bảo Lâm được lập
trên các cơ sở pháp lý sau:
- Căn cứ vào Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/07/2007 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực
quốc gia giai đoạn 20062015 có xét đến 2025 (Quy hoạch VI), trong đó
công trình thuỷ điện Bảo Lâm (tên cũ là Bảo Lạc) công suất 190 MW,
được đầu tư theo hình thức nhà máy điện độc lập (IPP) dự kiến vận hành
năm 2013.
- Căn cứ vào Quyết định số 2704/QĐ-BCN ngày 02 tháng 08 năm
2007 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) về việc phê duyệt
Quy hoạch bậc thang thuỷ điện sông Gâm.
- Căn cứ vào văn bản số 6569/BKH-KTCN ngày 11 tháng 09 năm
2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc đầu tư dự án thuỷ điện Bảo Lâm
trong đó đề nghị Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chọn Tổng công ty
Sông Đà làm chủ đầu tư dự án thuỷ điện Bảo Lâm.
- Căn cứ vào văn bản số 1599/UBND-TH ngày 20 tháng 09 năm 2007
của UBND tỉnh Cao Bằng về chủ trương đầu tư xây dựng dự án thuỷ điện
Bảo Lâm, trong đó thống nhất lựa chọn Tổng công ty Sông Đà làm chủ
đầu tư dự án thuỷ điện Bảo Lâm.
2.3.2 Các thông số chính của dự án Thủy điện Bảo Lâm
Trên cơ sở quy mô công trình thuỷ điện Bảo Lâm theo quy hoạch thuỷ
điện sông Gâm đã được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) phê
duyệt tháng 08/2007, và kết quả khảo sát địa hình, địa chất, điều tra thiệt
hại lòng hồ, di dân và tái định cư. Thủy điện Bảo Lâm được nghiên cứu
tính toán lựa chọn các thông số công trình cụ thể: Chuẩn xác Tuyến đập,
MNDBT, MNC,... phù hợp với qui mô khai thác, đảm bảo chi phí xây dựng
44
và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án hợp lý nhất.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Với tổng mức đầu tư khoảng hơn 6230 tỷ VNĐ, công trình cấp I -
Nhóm A trong đầu tư xây dựng cơ bản, Thủy điện Bảo Lâm được xét đến
với các thông số kỹ thuật đã qua phân tích lựa chọn như sau:
Bảng số 2.3.1: Các thông số chính của Thủy điện Bảo Lâm
STT CÁC THÔNG SỐ ĐƠN VỊ TRỊ SỐ
I Cấp công trình
1 Các đặc trưng thuỷ văn
Diện tích lưu vực tính đến tuyến 1.1 km2 10.356 công trình
1.2 Lượng mưa bình quân năm 1.287,0
1.3 Mô đun dòng chảy năm mm l/s/km2 17,96
Chuẩn dòng chảy năm Qo tính đến 1.4 m3/s 186,0 tuyến CT
5.856,06 1.5 Tổng lượng dòng chảy năm Wo
1.6 Dòng chảy năm thiết kế P= 90% triệu m3 m3/s 156,95
2 Hồ chứa
Diện tích lòng hồ ứng với 2.1 km2 32,66 MNDBT
2.2 Mực nước dâng bình thường m 230
2.3 Mực nước chết m 200
Mực nước gia cường ứng với lũ 2.4 m 229.01 th/kế (P = 0,1%)
2.5 Mực nước lũ kiểm tra (P = 0,02%) 233.12
2.6 Dung tích toàn bộ 937,06
2.7 Dung tích phòng lũ 500
45
2.8 Dung tích hữu ích m 106m3 106m3 106m3 675,26
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
STT CÁC THÔNG SỐ ĐƠN VỊ TRỊ SỐ
106m3 261,81 2.9 Dung tích chết
3 Lưu lượng
54,57 3.1 Lưu lượng đảm bảo Qđb m3/s
Lưu lượng phát điện lớn nhất 3.2 m3/s 311,40 Qmax
8.515,2 3.3 Lưu lượng lũ thiết kế QP=0,1%
11.508,9 3.4 Lưu lượng lũ kiểm tra QP=0,02% m3/s m3/s
Thông số cột nước và năng 4 lượng
m 69,36 4.1 Cột nước tính toán Htt
MW 190 4.2 Công suất lắp máy Nlm
MW 39,75 4.3 Công suất đảm bảo Nđb
Điện lượng bình quân nhiều năm 4.4 106 KWh 761,215 Enn
Số giờ sử dụng công suất lắp máy 4.5 Giờ 4006,4 HsdNlm
5 Cụm đầu mối
5.1 Đập dâng
Bản mặt bê Loại đập tông
Chiều cao đập m 99
Cao trình đỉnh đập m 234.0
Cao trình đỉnh tường chắn sóng m 235.0
5.2 Đập tràn xả mặt
46
Hình thức tràn Có cửa van
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
STT CÁC THÔNG SỐ ĐƠN VỊ TRỊ SỐ
điều tiết
Cao trình ngưỡng m 216.0
Số khoang tràn Khoang 4
Kích thước một khoang BxH m 13x14
Tổng chiều rộng tràn m 52
Độ dốc dốc nước % 12
Chiều dài dốc nước theo phương m 205,3 ngang
5.3 Tràn xả sâu
Kích thước mặt cắt ngang nxBxH m 8x4,5x5,0
Cao trình ngưỡng m 195.0
6 Cửa nhận nước
6.1 Cao trình ngưỡng CNN m 185.0
6.2 Kích thước cửa vào BxH 2x6,5x10
6.3 Lưu lượng max m m3/s 311,40
7 Đường hầm dẫn nước
7.1 Số lượng hầm hầm 2
7.2 Tổng chiều dài m 502,0
7.3 Đường kính trong của hầm m 6
8 Nhà máy thuỷ điện
8.1 Loại tua bin Francis
8.2 Số tổ máy 2
8.3 Cao trình lắp máy m 143.0
8.4 Cao trình sàn lắp ráp m 164.0
47
MW 190 8.5 Công suất lắp máy Nlm
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
STT CÁC THÔNG SỐ ĐƠN VỊ TRỊ SỐ
Trạm phân phối 220KV mạch Trạm 1 9 kép
Km 35 10 Chiều dài đường dây 220kV
11 Tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư thuần (trước 11.1 tỷ đồng 6.230,184 thuế, lãi vay)
11.2 Tổng mức đầu tư sau thuế tỷ đồng 7.167,787
2.3.2 Ý nghĩa của việc đầu tư của công trình thuỷ điện Bảo Lâm.
Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đòi hỏi yêu cầu
phát triển ngành năng lượng tạo tiền đề cho các ngành công nghiệp khác
phát triển. Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị
trường, tăng trưởng nhanh chóng trên các lĩnh vực nông nghiệp và công
nghiệp… dẫn tới nhu cầu năng lượng cũng tăng lên.
Việc đầu tư xây dựng thủy điện Bảo Lâm là cần thiết vì những lý do
sau:
Huyện Bảo Lạc là Huyện miền núi vùng cao phía Tây tỉnh Cao Bằng
cách thị xã Cao Bằng 140 km, diện tích tự nhiên 919.07 km2, có 16 đơn vị
hành chính xã và thị trấn Bảo Lạc, dân số: 47.612 người (tính đến
31/12/2007), huyện có tiềm năng phát triển chăn nuôi đại gia súc và gia
cầm, thuỷ sản.
Huyện Bảo Lâm có diện tích đất tự nhiên: 913,47km2 , có 14 đơn vị
hành chính xã, là một huyện được thành lập ngày 25 tháng 9 năm 2000, dân
số 51.780 người (tính đến 31/12/2006). Huyện có tiềm năng phát triển chăn
48
nuôi đại gia súc, gia cầm.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Việc đầu tư xây dựng công trình sẽ bổ sung đáng kể nguồn năng
lượng cho hệ thống điện quốc gia, góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng
khoảng 17 22% /năm của phụ tải. Công trình thủy điện Bảo Lâm với
công suất lắp đặt 190MW sẽ đáp ứng một phần nhu cầu điện năng trong
khu vực tỉnh Cao Bằng, Hà giang cũng như giảm bớt tình hình thiếu hụt
điện năng của hệ thống hiện nay, đặc biệt là trong giờ cao điểm. Chỉ số
năng lượng/đầu người gia tăng ECO1 đạt 8,75 Kwh/người. Dự trữ năng
lượng ECO16 đạt 761.67 triệu Kwh. Tỷ trọng năng lượng sạch gia tăng
0,75% (không có thành phần CO2 trong năng lượng – điện năng); Tổng
năng lượng tái tạo là ECO13 là 30466.8 Kwh, đảm bảo an ninh năng lượng
giảm áp lực nhập khẩu năng lượng mỗi năm là 1,2% (EVN phấn đấu sản
xuất và mua 112,6 tỷ kWh điện (tăng 15,78% so với ước thực hiện năm
2010), trong đó điện do EVN sản xuất là 48,1 tỷ kWh, điện mua ngoài là
64,5 tỷ kWh).
Chi tiết Xem bảng tính chi tiết số 02: Một số các chỉ tiêu đánh giá PTBV
thủy điện Bảo Lâm.
Hiện nay, tình hình khu vực dự án hiện tại với các cơ sở vật chất rất
nghèo nàn và lạc hậu, đường giao thông nối từ trung tâm thị xã Cao Bằng
đi Bảo Lạc và Bảo Lâm xuống cấp, điều kiện đi lại, trao đổi giao lưu với
các vùng khác trong khu vực gặp rất nhiều khó khăn, điều kiện thông tin
49
liên lạc còn rất nhiều hạn chế.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Bảng 2.3.2 : Một số các chỉ tiêu đánh giá PTBV của TĐ điện Bảo Lâm
Đơn vị Giá trị gia TT Nội dung Chỉ tiêu Ghi chú tính tăng
E = 761,67 triệu
kWh; Năng lượng / đầu 1 ECO1 kwh/ng 8,75 người Dân số: 86,963
tr.người
Đơn vị tính toán Tr.Tấn 2 giảm phát thải 2.785,620 Ghi chú: 01 CO2-e CO2 KNK*
Tỷ trọng năng 761,76/112.000
lượng không có ( tổng điện năng
4 ECO12 % 0,75% thành phần cacbon tiêu thụ của VN
trong năng lượng năm 2011 là 112
và điện năng tỷ Kwh)
761,76/64.000 Sự phụ thuộc vào (64 tỷ Kwh điện năng lượng nhập 5 ECO15 % -1,2% nhập khẩu năm khẩu 2011)
Tổng năng lượng Đời sống dự án 6 ECO13 106Kwh 30466,8 tái tạo trong năng tạm tính 40 năm lượng và điện năng
50
Ghi chú 01: Tính toán giảm phát thải khí nhà kính
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Theo kinh nghiệm tính toán từ các nghiên cứu thủy điện, trung bình
1 kWh nếu sản xuất tại nhà máy nhiệt ðiện than sẽ phát thải khoảng 3.66 kg
CO2, nếu sản xuất ðiện bằng thủy điện sẽ giảm một lượng phát thải là
3.66kg* sản lượng điện => Lượng giảm phát thải CO2 sẽ là:
761,76 x 3.66/1000 = 2.875.620 tấn CO2.
Sự ra đời của dự án sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế
khác phát triển, cải thiện cơ sở hạ tầng, giao thông khu vực và góp phần
vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho 8717 hộ/12.526 hộ và thúc đẩy phát
triển kinh tế với 47.596 đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng dự án.
Thực hiện chủ trương hiện nay Đảng và Nhà nước là phát triển kinh
tế miền núi, trung du nhằm mục tiêu khai thác, sử dụng các tiềm năng sẵn
có nhất là tài nguyên nước đang là vấn đề cấp thiết cho sự phát triển kinh tế
khu vực và ổn định đời sống của nhân dân các dân tộc miền núi.
Như vây việc đầu tư dự án thủy điện Bảo Lâm nhằm các mục
đích sau:
- Phát điện lên lưới điện quốc gia: Phát điện với công suất lắp máy 190
MW. Hàng năm dự án cung cấp một điện lượng bình quân Enn=761
triệu kWh. ( lợi ích phát điện)
- Tham gia chống lũ cho đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội với
dung tích phòng lũ Wpl = 500 triệu m3 và tạo nguồn bổ sung lưu
lượng mùa kiệt cho hạ du. (Lợi ích chống lũ)
- Tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản, cải tạo cảnh quan môi
trường, phát triển kinh tế vĩ mô, cải thiện và nâng cao chất lượng đời
sống cho 12526 hộ dân tỉnh Cao Bằng và Hà Giang. ( Lợi ích phát
triển kinh tế - xã hội).
Để đánh giá đầu tư dự án thủy điện Bảo Lâm ta đi sâu vào phân tích
hiệu ích kinh tế tài chính của dự án với các thông số đầu vào được tính toán
51
lựa chọn bởi các nghiên cứu kỹ thuật và giả định về thị trường tài chính tại
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
thời điểm hiện tại.
2.4 Phân tích hiệu quả tài chính dự án thủy điện Bảo Lâm
Phân tích kinh tế là nhằm đánh giá hiệu ích của dự án mang lại cho nền kinh tế quốc dân. Mục đích tính toán kinh tế lựa chọn thông số là nhằm so chọn các thông số chính của dự án như: MNDBT, MNC, Nlm, số tổ máy. Sau khi chọn được các thông số chính tiến hành phân tích kinh tế phương án kiến nghị.
Phân tích tài chính là nhằm đánh giá tính khả thi của dự án trên quan điểm của Chủ đầu tư dự án. Dự án khả thi về mặt tài chính là dự án có khả năng hoàn trả vốn vay, đem lại lợi nhuận cho Chủ đầu tư và các Cổ đông. Khác với phân tích kinh tế, phân tích tài chính dựa trên các chi phí và các khoản thu mà Chủ đầu tư bỏ ra và Chủ đầu tư thu được. Cơ sở phân tích kinh tế
Phân tích hiệu quả kinh tế của công trình nhằm đánh giá hiệu quả của việc đầu tư dự án trên quan điểm của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Phương pháp được áp dụng trong tính toán là phương pháp phân tích hiệu ích và chi phí.
: EIRR : B/C
Các chỉ tiêu cơ bản về hiệu ích kinh tế bao gồm: - Giá trị lợi nhuận ròng quy về thời điểm hiện tại : NPV - Hệ số hoàn vốn nội tại - Tỉ số hiệu ích / Chi phí Phương án được đánh giá là mang lại hiệu quả nếu có chỉ tiêu NPV >
0; EIRR> Ick và B/C > 1.
a) Vốn đầu tư và tiến độ giải ngân của dự án: - Tiền tệ: Đơn vị tiền tệ áp dụng trong tính toán là VNĐ (đối với chi
phí xây dựng) và USD (đối với mua sắm thiết bị).
- Tỷ lệ chiết khấu: 10% - Vốn đầu tư: Là toàn bộ chi phí cần thiết đầu tư vào công trình, bao gồm các khoản chi phí cho xây dựng, thiết bị, đền bù, tái định cư, chi phí khác và chi phí dự phòng...
- Chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M): 1,0% tổng chi phí xây dựng
+ thiết bị.
52
- Tuổi thọ của dự án: 40 năm.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Tỷ giá hối đoái: 21011 VNĐ/USD (theo tỷ giá hối đoái giữa VNĐ và
USD ở thời điểm hiện tại).
- Phân bổ vốn đầu tư theo tiến độ thi công chung của toàn công trình.
Thời gian xây dựng trong 04 năm.
Tiến độ đầu tư vốn thủy điện Bảo Lâm
1 10 4 32
tệ 2 28 10 3 30 35 55 0
Năm XD Vốn nội tệ (%) Vốn ngoại (%) b) Doanh thu của dự án: - Trong phân tích hiệu ích kinh tế tài chính không tính đến lạm phát,
trượt giá của đồng tiền (cả nội tệ và ngoại tệ).
- Doanh thu của dự án được xác định là tổng doanh thu theo giá bán
điện tại thanh cái và điện lượng thương phẩm của dự án và giá bán phát
thải khí CO2 theo cơ chế CDM (tính tương tự một số dự án đã và đang thực
hiện hiện nay).
Giá bán điện là giá đàm phán giữa EVN và chủ đầu tư. Trong phân
tích tài chính của giai đoạn này giá bán điện là giá trung bình tại thanh cái
tạm tính theo giá điện bình quân của các dự án tương đương cùng thời và tỷ
lệ trượt giá của điện năng khi công trình bắt đầu đi vào vận hành.
Kết quả phân tích kinh tế phương án kiến nghị
Để thấy rõ hiệu quả kinh tế của dự án tiến hành tính toán phân tích với
các phương án giá bán điện từ 6,4 6,7 Cent/kWh.
Kết quả tính toán phân tích các chỉ tiêu kinh tế phương án kiến nghị,
được trình bày trong bảng sau.
Chỉ tiêu kinh tế của phương án kiến nghị
Giá bán điện (UScent/kWh) EIRR % B/C -
6,4 Eo 106kWh 761,215 Vốn thuần 109đồng 6.230,184 NPV 109đồng 116,171 10,24 1,02
53
6,5 761,215 6.230,184 197,160 10,41 1,04
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
6,6 761,215 6.230,184 278,149 10,58 1,06
6,7 761,215 6.230,184 359,138 10,75 1,07
6,8 761,215 6.230,184 440,126 10,91 1,09
Kết quả phân tích kinh tế cho thấy dự án có hiệu quả kinh tế, đem lại
lợi ích cho nền kinh tế quốc dân với giá bán điện 6,4 US cent/kWh. Phân tích hiệu quả tài chính
Quan điểm phân tích hiệu quả tài chính
Theo quan điểm Chủ đầu tư (hay quan điểm Chủ sở hữu vốn góp): - Chi phí: bao gồm vốn tự có, trả gốc và lãi vay, chi phí vận hành và
bảo dưỡng (OM) và các loại thuế. - Hiệu ích: doanh thu bán điện. Các chỉ tiêu tài chính trên quan điểm này cho thấy tính khả thi của dự án dưới một điều kiện vay trả cụ thể. Nếu chỉ tiêu FIRR theo quan điểm này lớn hơn mức lãi suất mà Chủ đầu tư huy động vốn thì dự án khả thi về tài chính và dự án được coi là sinh lợi theo quan điểm của Chủ đầu tư.
Với một điều kiện vay trả cụ thể thì chỉ tiêu tài chính theo quan điểm này quyết định đến tính khả thi về tài chính của dự án và là tiêu chí để Chủ đầu tư có tiến hành thực hiện dự án hay không. Cơ sở phân tích tài chính
- Đơn vị tiền tệ: VNĐ. - Tỷ giá quy đổi ngoại tệ: 1USD = 21.011 VNĐ/USD. - Tỷ lệ chiết khấu: 10.72% - Tính bằng bình quân gia quyền của tỷ lệ
lãi suất vay vốn và hệ số mong muốn hoàn vốn của Chủ đầu tư.
- Tuổi thọ của dự án: 40 năm. - Dự án tính khấu hao theo phương pháp khấu hao tuyến tính, thời hạn
khấu hao 20 năm, sau 20 năm thay thế thiết bị.
- Trong phân tích hiệu ích kinh tế tài chính không tính đến lạm phát,
trượt giá của đồng tiền (cả nội tệ và ngoại tệ).
- Doanh thu của dự án được xác định là tổng doanh thu theo giá bán
điện tại thanh cái và điện lượng thương phẩm của dự án và giá bán phát
thải khí CO2 theo cơ chế CDM (tính tương tự một số dự án đã và đang thực
54
hiện hiện nay).
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Giá bán điện là giá đàm phán giữa EVN và chủ đầu tư. Trong phân
tích tài chính của giai đoạn này giá bán điện là giá trung bình tại thanh cái
tạm tính theo giá điện bình quân của các dự án tương đương cùng thời và tỷ
lệ trượt giá của điện năng khi công trình bắt đầu đi vào vận hành.
- Điện lượng thương phẩm của dự án ước tính tương đương với 90%
điện lượng được phát ra hàng năm (tổn thất tự dùng tạm tính là 1%). Các khoản chi phí trực tiếp trong quá trình vận hành dự án. - Chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M): Là toàn bộ các chi phí đảm bảo cho công trình vận hành liên tục và an toàn. Chi phí O&M gồm các khoản lương cho quản lý, chi phí vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ, chi phí nguyên, nhiên, vật liệu,... Chi phí O&M trong dự án được tính bằng 1,0% (Vốn XD+ Vốn TB).
- Các khoản thuế theo luật định gồm: + Thuế tài nguyên nước đối với khai thác thủy điện : 2% doanh thu. + Thuế TNDN: áp dụng nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật Thuế TNDN (Công trình thủy điện Bảo Lâm thuộc danh mục A, thực hiện ở địa bàn thuộc danh mục C được miễn thuế 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 09 năm tiếp theo. Công trình có mức thuế suất ưu đãi là 10% trong 15 năm (đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ Dự án đầu tư). Sau thời hạn này mức thuế suất phải nộp là 28%). Phương án vay vốn và kế hoạch trả nợ: Tổng mức đầu tư công trình trước thuế: 6.230,184 tỷ đồng Phương án vốn:
+ Vốn tự có 30% TMĐT + Vay NHTM trong nước : 1.869,055 tỷ đồng. : 1.072,947 tỷ đồng (lãi suất
12,5%/năm)
+ Vay NHPT : 2.554,478 tỷ đồng (lãi suất
8,4%/năm)
: 733,704 tỷ đồng (lãi suất 7%/năm)
+ Vay tín dụng nước ngoài Kế hoạch trả nợ: Trả gốc vốn vay thương mại bằng 10 năm.
55
Phân tích độ nhạy tài chính:
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Để đánh giá hiệu quả về mặt tài chính của công trình trong các trường hợp biến động về vốn và sản lượng điện hàng năm theo chiều hướng bất lợi cho công trình. Đã tiến hành tính toán phân tích độ nhạy cho phương án tài chính kiến nghị trên đây trong 3 trường hợp sau:
Vốn đầu tư tăng 10%. Năng lượng điện giảm 10% so với thiết kế. Vốn đầu tư tăng 5% + năng lượng điện giảm 5% so với thiết kế.
Kết quả tính toán
Các kết quả tính toán phân tích hiệu quả tài chính công trình thủy
điện Bảo Lâm cho các trường hợp nêu trên được trình bày ở phần phụ lục.
Kết quả tính toán các chỉ tiêu tài chính của phương án kiến nghị
được trình bày ở bảng 5.5.
Thv (Năm) Giá bán điện (US Cent/kwh) Eo (106kWh) FIRR (%) B/C - Chỉ tiêu tài chính của phương án kiến nghị VĐT thuần (109đồng)
Trường hợp NPV (109đồng ) Phương án gốc
6,4 761,215 6.230,184 -19,649 9,36 1,43 -
6,5 761,215 6.230,184 60,402 9,62 1,46 12,8
6,6 761,215 6.230,184 140,454 9,88 1,49 12,6
6,7 6,8 761,215 6.230,184 208,776 10,11 761,215 6.230,184 288,362 10,37 1,51 1,54 12,4 12,2
Trường hợp Vốn tăng 10%
7,0 761,215 6.853,203 -119,956 9,22 1,40 -
7,1 761,215 6.853,203 -40,903 9,45 1,43 -
7,2 761,215 6.853,203 38,150 9,69 1,46 12,7
Trường hợp Điện năng giảm 10%
7,0 685,094 6.230,184 -92,238 9,12 1,40 -
7,1 685,094 6.230,184 -20,191 9,36 1,43 -
7,2 685,094 6.230,184 51,855 9,59 1,45 12,8
Trường hợp Vốn tăng 5% + điện năng giảm 5%
7,0 723,154 6.541,693 -100,171 9,19 1,40 -
56
7,1 7,2 723,154 6.541,693 -37,110 723,154 6.541,693 38,191 9,39 9,62 1,42 1,45 - 12,8
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Sau khi tính toán, phân tích tài chính theo phương án huy động vốn như trên ta thấy. Dự án có hiệu quả thấp do chi phí đền bù giải phóng mặt bằng và di dân tái định cư quá lớn. Dự án có hiệu quả tài chính, đem lại lợi nhuận cho chủ đầu tư với giá bán điện từ 6,5 US cent/kWh trở lên.
Phân tích các chỉ tiêu kinh tế - tài chính trong trường hợp có sự
hồ trợ của nhà nước. Qua kết quả phân tích hiệu quả kinh tế, tài chính ở trên cho thấy dự án có tính khả thi thấp do chi phí đền bù di dân giải phóng mặt bằng quá lớn, nên đã đưa ra phương án có sự hỗ trợ của nhà nước để đánh giá lại mức độ hiệu quả của dự án. Các phương án hỗ trợ giả thiết như sau:
a/ Nhà nước hỗ trợ chi phí xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở:
745.033.870.000 đồng.
b/ Nhà nước hỗ trợ toàn bộ chi phí đền bù giải phóng mặt bằng di
dân tái định cư: 2.453.032.313.279 đồng.
Kết quả tính toán cho 2 trường hợp hỗ trợ trên xem bảng sau. Chỉ tiêu kinh tế – tài chính trường hợp nhà nước hỗ trợ chi phí xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở: 745.033.870.000 đồng. Chỉ tiêu tài chính Chỉ tiêu kinh tế
Thv (Năm) EIRR (%) B/C - FIRR (%) B/C - Giá bán điện (US Cent/kwh) NPV (109đồng )
177,239 10,43 1,04 NPV (109đồng ) -50,858 9,44 1,42 - 5,7
258,228 10,62 1,06 27,135 9,74 1,46 12,7 5,8
339,217 10,81 1,08 95,259 10,00 1,49 12,4
5,9
Chỉ tiêu kinh tế – tài chính trường hợp nhà nước hỗ trợ toàn bộ chi phí đền bù giải phóng mặt bằng di dân tái định cư: 2.453.032.313.279 đồng.
Chỉ tiêu kinh tế Chỉ tiêu tài chính
Thv (Năm) Giá bán điện (US Cent/kwh) EIRR (%) B/C - FIRR (%) B/C -
4,2 NPV (109đồng ) 402,081 11,49 1,15 NPV (109đồng ) -40,561 10,23 1,46 -
4,3 483,069 11,78 1,18 23,233 10,64 1,51 11,9
57
4,4 564,058 12,07 1,21 93,230 11,10 1,56 11,7
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Kết luận.
Công trình thủy điện Bảo Lâm với MNDBT 230m, MNC 200m, công suất lắp đặt 190MW, sẽ cung cấp cho hệ thống điện lượng trung bình hàng năm là 761,22 triệu kWh. Công trình được xây dựng sẽ đáp ứng nhu cầu điện năng trong khu vực, giảm bớt tình hình thiếu hụt điện năng của toàn hệ thống, đặc biệt là trong giờ cao điểm. Ngoài nhiệm vụ phát điện công trình còn có nhiệm vụ quan trọng là chống lũ hạ du với dung tích phòng lũ 500 triệu m3. Ngoài ra công trình thủy điện Bảo Lâm sẽ đem lại tiềm năng du lịch, kích thích các loại dịch vụ phát triển. Vì vậy sự ra đời của công trình thủy điện Bảo Lâm là hợp lý và cần thiết.
Về hiệu quả đầu tư của công trình: Do đặc thù công trình thủy điện có kết hợp phòng lũ và chi phí đền bù giải phóng mặt bằng di dân tái định cư lớn, nên đã làm giảm điện năng sản xuất và tổng vốn đầu tư xây dựng công trình tăng rất lớn. Do đó dự án có hiệu quả kinh tế và tài chính rất thấp, qua kết quả phân tích tài chính cho thấy dự án chỉ mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư với giá bán điện từ 6,5 US cent/kWh trở lên.
Nhằm đánh giá tính hiệu quả của dự án trong các trường hợp biến động bất lợi cho dự án có thể xẩy ra, phân tích độ nhạy đã được thực hiện nhằm mục đích khảo sát các tác động tới hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu tài chính của dự án khi vốn đầu tư tăng 10%, điện năng giảm 10% và trường hợp vốn tăng 5% + điện năng giảm 5%. Kết quả phân tích cho thấy dự án chỉ có hiệu quả tài chính khi xẩy ra 1 trong 3 trường hợp trên với giá bán điện từ 7,2 US cent/kWh trở lên.
58
Từ kết quả phân tích như trên cho thấy để dự án có hiệu quả thì giá bán điện 6,5 US cent/kWh là không thể có tại thời điểm hiện tại. Do đó để dự án có tính khả thi đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân và lợi nhuận cho chủ đầu tư, kiến nghị nhà nước cần hỗ trợ chi phí đền bù giải phóng mặt bằng cho dự án (khoảng 2.500 tỷ đồng).
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
CHƯƠNG III
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN BẢO LÂM
VÀ PHÂN TÍCH DỰ ÁN DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
3.1 Tổng quan về kinh tế – xã hội
3.1.1 Hiện trạng phát triển kinh tế Việt Nam
Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006-2009
Tốc độ tăng trưởng kinh tế 4 năm 2006-2009 tương đối cao và đạt
mục tiêu đề ra. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân hàng năm
đạt 7,07%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng bình quân hàng năm 4,45%
của thời kỳ 1986-1990, là thời kỳ nước ta bắt đầu thực hiện đổi mới; đồng
thời cũng cao hơn tốc độ tăng bình quân hàng năm 6,95% của 5 năm 1996–
2000 nhưng thấp hơn tốc độ tăng bình quân hàng năm 7,51%/năm của 5
năm giai đoạn 2001-2005. Trong ba khu vực kinh tế thì khu vực công
nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm cao nhất với
mức tăng 8,0%/năm; khu vực dịch vụ tăng bình quân hàng năm 7,78%; khu
vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,48%/năm.
Tăng trưởng diễn ra ở tất cả các khu vực kinh tế; tăng trưởng trong
từng khu vực đều đi đôi với chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng sản
phẩm.
Tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2009 được cho trong bảng sau:
Bảng 3. 1 Tăng trưởng GDP phân theo các ngành kinh tế
Ước KH STT Chỉ tiêu 2000 2006 2007 2008 2009 2010
273666 425373 461344 490458 516568 550145 1
59
63717 79722 82717 86587 88168 90637 GDP theo giá 1994 (tỷ đồng) 1.1 Nông - lâm, thủy sản
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Ước KH STT Chỉ tiêu 2000 2006 2007 2008 2009 2010
1.2 96913 174259 192065 203554 214799 229835
Công nghiệp - xây dựng
113036 171392 186562 200317 213601 229673 1.3 Dịch vụ
6,79 8,23 8,46 6,31 5,32 6,50 2 Tốc độ tăng GDP (%)
4,63 3,69 3,76 4,68 1,83 2,80
2.2 10,07 10,38 10,22 5,98 5,52 7,00
2.1 Nông - lâm, thủy sản Công nghiệp - xây dựng
6,63 7,50 7,37 8,85 8,29 5,32
Hình 3. 1 Tốc độ tăng GDP
2.3 Dịch vụ Nguồn: Niên giám thống kê 2009 và Bộ Kế hoạch &Đầu tư
Nhìn lại tăng trưởng của nền kinh tế trong những năm qua, chúng ta
thấy một số vấn đề cần được quan tâm trong những năm tới:
Tăng trưởng nhìn chung chưa thực sự vững chắc. Tốc độ tăng trưởng
khá cao nhưng khoảng cách so với các nước trong khu vực chưa giảm
60
mà còn tăng lên. Điều này thể hiện hiệu quả của các chính sách trong
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
những năm qua chưa thực sự phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn
nền kinh tế để tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả
và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chậm được cải thiện. Đóng
góp vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là yếu tố vốn vật chất, giai đoạn 2001-
2007, mức đóng góp của tài sản vật chất vào tăng trưởng kinh tế là
56,7%. Mức đóng góp của lao động và tổng các yếu tố năng suất (TFP)
lần lượt là 18,52% và 24,78%. Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện ở 3
mặt kinh tế, xã hội và môi trường: sức cạnh tranh của sản phẩm và của
nền kinh tế còn hạn chế và yếu kém, năng suất lao động thấp; tiến bộ về
xã hội chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế; tình trạng ô nhiễm còn
nặng và tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá, chưa có các giải pháp khắc
phục hữu hiệu.
Quy mô nền kinh tế còn nhỏ và nguy cơ tụt hậu còn lớn. Nãm 2009,
GDP ðạt khoảng 89,6 tỷ USD và bình quân đầu người đạt khoảng 1.042
USD, còn rất thấp so với các nước phát triển trong khu vực. Khoảng
cách giữa Việt Nam với các nước tuy có rút ngắn, nhưng nguy cơ tụt
hậu về kinh tế vẫn còn lớn.
Tăng trưởng có được trong những năm qua phụ thuộc rất lớn vào nguồn
vốn đầu tư trong điều kiện nước ta đang thiếu vốn, yếu tố về khoa học
và công nghệ đóng góp vào tăng trưởng tuy có tăng lên, nhưng vẫn
chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong khi đó, lao động hiện vẫn tạm thời được coi
là lợi thế thì việc khai thác lợi thế đó chưa được coi trọng đúng mức, kể
cả công tác đào tạo và sử dụng, nhất là lao động khu vực nông thôn.
GDP bình quân đầu người
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, đời sống đại bộ phận dân cư
trong những năm qua đã có những bước cải thiện đáng kể. Thu nhập bình
quân đầu người của dân cư đã tăng nhanh từ 730 USD năm 2006 lên 843
61
USD năm 2007, 1052 USD năm 2008 và ước đạt 1042 USD năm 2009.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Tình trạng đói, nghèo theo tiêu chuẩn mới của Chính phủ Việt Nam
(tỷ lệ hộ nghèo được tính theo thu nhập bình quân 1 người 1 tháng giai
đoạn 2006-2010, trong đó thành thị 260 nghìn đồng, nông thôn 200 nghìn
đồng) giảm khá nhanh, từ khoảng 15,5% số hộ năm 2006 giảm xuống
14,8% năm 2007 và chỉ còn 13,4% năm 2008. Tỷ lệ đói nghèo theo tiêu
chuẩn quốc tế (tỷ lệ hộ nghèo được tính theo mức chi tiêu bình quân 1
người 1 tháng với chuẩn nghèo chung của Tổng cục Thống kê và Ngân
hàng thế giới cho các năm 2006: 213 nghìn đồng, 2008: 280 nghìn đồng)
đã giảm từ 19,5% năm 2004 xuống 16,0% năm 2006 và giảm xuống còn
14,5% năm 2008. Như vậy trong 3 năm 2006-2008 đã giảm được 2,5% số
hộ đói nghèo. Điều này càng có ý nghĩa hơn khi chuẩn đói nghèo được
nâng dần phù hợp với chuẩn nghèo chung của thế giới.
Kết quả xoá đói giảm nghèo trên đã được Ngân hàng thế giới đánh
giá là chưa một quốc gia nào lại đạt được sự giảm nghèo đói một cách
mạnh mẽ chỉ trong một thời gian ngắn như Việt Nam. Kết quả xoá đói
giảm nghèo đã trực tiếp tạo ra những phản ứng tích cực tiếp theo về giáo
dục, y tế, về tiêu dùng dinh dưỡng… trong các tầng lớp dân cư, đặc biệt là
tầng lớp dân cư nghèo. Theo xếp hạng công bố năm 2009 của UNDP, hệ số
HDI của Việt Nam được cải thiện từng bước năm 2007 HDI là 0,725 tăng
0,005 so với năm 2006 (0,720) và xếp thứ 116/182 nước. Xếp thứ 1 là Na
Uy HDI là 0,971 và xếp thứ 182 là Niger HDI bằng 0,340. Đó là thành tựu
mà không có nước nào có mức thu nhập như Việt Nam có được.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Đến năm 2009, tỷ trọng trong GDP của
khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm xuống còn 20,91%; khu vực
62
công nghiệp và xây dựng tăng lên 40,24%; khu vực dịch vụ 38,85%.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Bảng 3. 2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động (%)
Ước TT Ngành 2001 2005 2006 2007 2008 2009
100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 Cơ cấu ngành kinh tế 100,00 0 0 0 0 0
Nông, lâm nghiệp và 23,04 20,97 20,40 20,30 22,21 20,91 1 thủy sản
Công nghiệp và xây 2 38,23 41,02 41,54 41,58 39,84 40,24 dựng
3 Dịch vụ 38,73 38,01 38,06 38,12 37,95 38,85
Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế - xã hội 2001-2009, Tổng cục
Thống kê Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp đã có chuyển dịch đáng kể theo
hướng công nghiệp hoá, từng bước hiện đại hoá. Cơ cấu sản xuất và cơ cấu
sản phẩm công nghiệp đã được chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng
công nghiệp chế biến trong giá trị tăng thêm. Ngành công nghiệp chế biến
đã bước đầu khai thác được các lợi thế về nguồn nguyên liệu sản xuất trong
nước để nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu.
3.1.2 Các kịch bản phát triển kinh tế
a) Các kịch bản dự kiến
(1) Kịch bản tăng trưởng nhanh
Kịch bản này được thiết kế với những giả định như sau:
- Kinh tế thế giới thoát khỏi khủng hoảng và phục hồi tăng trưởng vào
năm 2010; quá trình cơ cấu lại (tái cấu trúc) kinh tế thế giới và của các
nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế lớn thành công và phát huy hiệu
quả;
63
- Môi trường quốc tế ổn định và thuận lợi ;
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
- Thị trường năng lượng (đặc biệt là dầu mỏ) ổn định: giá dầu mỏ tăng ổn
định ở mức hợp lý;
- Việt Nam chủ động hội nhập thành công vượt qua những thách thức của
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; sớm thoát khỏi ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế thế giới và tăng trưởng ở mức cao sau năm 2009;
- Các yếu tố trong nước được huy động ở: (i) mức cao trên cơ sở các cải
cách về thể chế, chính sách, cải cách hành chính được thực hiện tốt; (ii)
các cải cách (toàn diện) liên tục được thực hiện tạo ra khả năng huy
động các nguồn lực liên tục, ổn định và bền vững cho cả giai đoạn tới
năm 2020 và những năm tiếp theo.
- Các chính sách được hướng tới thúc dẩy phát triển nhanh các ngành
công nghiệp tạo giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ, chất xám
cao, hướng về xuất khẩu, bài toán về lao động được giải quyết thoả đáng
trên cơ sở phát triển khu vực dịch vụ chất lượng cao và các ngành công
nghiệp sử dụng nhiều lao động; hệ thống hạ tầng kỹ thuật được hình
thành cơ bản; đồng thời phát triển mạnh các ngành công nghiệp cơ bản
tạo đầu vào cho nền kinh tế vào khoảng năm 2020, tạo sự phát vững
chắc ở mức cao cho các giai đoạn tiếp theo.
(2) Kịch bản cơ sở
- Kịch bản cơ sở có các giả thiết về môi trường kinh tế thế giới, giá năng
lượng trên thế giới diễn biến tương tự như phương án cao;
- Giả thiết Việt Nam sẽ vượt ra khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
năm 2009 và tăng trưởng trở lại sau năm (2010);
- Các yếu tố trong nước được huy động ở: (i) trung bình trên cơ sở các cải
cách về thể chế, chính sách, hành chính được thực hiện tương đối tốt;
(ii) các cải cách (toàn diện) liên tục được thực hiện tạo ra khả năng huy
động các nguồn lực liên tục, ổn định và bền vững cho cả giai đoạn tới
64
năm 2020 và những năm tiếp theo.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
- Các chính sách được hướng tới thúc đẩy phát triển nhanh các ngành
công nghiệp tạo giá trị gia tăng cao, hướng về xuất khẩu, bài toán về lao
động được giải quyết thoả đáng trên cơ sở phát triển khu vực dịch vụ và
các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động; hệ thống hạ tầng kỹ
thuật được phát triển ở mức độ vừa phải phù hợp với khả năng tích luỹ
còn hạn chế; đồng thời phát triển có chọn lọc các ngành công nghiệp cơ
bản vào khoảng năm 2020. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các ngành công
nghiệp cơ bản tiếp tục đầu tư tạo sự phát vững chắc cho các giai đoạn
tiếp theo.
(3) Kịch bản tăng trưởng không thuận lợi
- Kinh tế thế giới chưa thoát khỏi khủng hoảng vào năm 2009 và chậm
phục hồi tăng trưởng; ảnh hưởng khủng hoảng kéo dài, thậm chí tạo
hiệu ứng trì trệ hơn so với khủng hoảng tài chính Châu Á 1997;
- Môi trường quốc tế kém ổn định (thị trường, các quan hệ kinh tế quốc tế
không thật sự ổn định);
- Thị trường năng lượng (đặc biệt là dầu mỏ) không ổn định, giá dầu tăng
cao
- Việt Nam tiếp tục gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng, kinh tế trong
nước có xu hướng trì trệ giống như tác động của khủng hoảng tài chính
Châu Á 1997;
- Các yếu tố trong nước được huy động ở: (i) thấp trên cơ sở các cải cách
về thể chế, chính sách, cải cách hành chính chậm được thực hiện môi
trường trong nước không thật sự thuận lợi theo huớng phục vụ đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế; (ii) các cải cách (toàn diện) được thực hiện
kéo dài và chỉ thật sự tạo ra khả năng huy động các nguồn lực liên tục,
ổn định và bền vững cho những năm sau 2020 tiếp theo.
- Các các ngành công nghiệp tạo giá trị gia tăng cao, hướng về xuất khẩu
65
phát triển ở mức vừa phải, bài toán về lao động được giải quyết chưa
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
được giải quyết thật sự; hệ thống hạ tầng kỹ thuật được phát triển ở mức
độ thấp; đồng thời phát triển có chọn lọc các ngành công nghiệp cơ bản
vào khoảng năm 2020. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các ngành công
nghiệp cơ bản tiếp tục đầu tư tạo sự phát vững chắc cho các giai đoạn
tiếp theo.
b) Kết quả dự báo1
(1) Kịch bản tăng trưởng nhanh
Kịch bản tăng trưởng nhanh được xác định với tỉ lệ 7,96% cho giai
đoạn 2011 đến năm 2015, 8,44% cho giai đoạn 2016 đến 2020. Mức bình
quân cho cả giai đoạn 2011-2020 được dự báo là 8,2%, đây là mức tăng
trưởng khá cao. Mức tăng trưởng từ 8,5-8,7% được kỳ vọng cho giai đoạn 2021 đến 2030 2.
Ngành công nghiệp và xây dựng đạt được sự gia tăng khá cao, trung
bình trên 9,0% đối với giai đoạn đến 2020 và 2030. Ngành nông nghiệp
tăng trưởng tương đối ổn định ở mức xấp xỉ từ 2,2-3,0%. Khu vực dịch vụ
tăng trưởng từ 8,6% đến 9,25% theo các giai đoạn đến năm 2030.
Vì sự tăng trưởng nhanh của các khu vực công nghiệp và xây dựng,
khu vực dịch vụ nên cơ cấu kinh tế có sự chuyển đổi mạnh. Tỷ trọng nông
nghiệp trong GDP giảm xuống còn 13,71% vào năm 2020, mặc dù khu vực
này vẫn có được tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trong khi tỷ lệ công
nghiệp và xây dựng là 43,22%; dịch vụ 42,7%. Các tỷ lệ này tương ứng vào
năm 2030 là nông nghiệp 8,29%; công nghiệp và xây dựng 44,14%; dịch
1 Chi tiết trình bày trong các bảng kèm theo 2 Với kịch bản này tỷ lệ tăng trưởng được kỳ vọng liên tục ở mức cao cho các giai đoạn đến 2050 tương ứng là: 8,30% cho giai đoạn 2031-2040, 8,02% cho giai đoạn 2041-2050. Các tỷ lệ này chỉ có giá trị tham khảo.
66
vụ 47,58%.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Tăng trưởng kinh tế dự báo có sự khác biệt đáng kể theo vùng kinh
tế (để thuận tiện cho việc nghiên cứu phát triển ngành điện, vùng kinh tế ở
đây được chia ra theo ba vùng điện lực). Theo đó, vùng I và vùng III vẫn có
mức tăng trưởng kinh tế khá cao ở giai đoạn đầu so với vùng II.
Chi tiết các dự báo phát triển trình bày trong bảng sau đây.
Bảng 3. 3 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (Tăng trưởng nhanh) TT Danh mục 2015 2020 2010 2030
102.42 Dân số (nghìn người) 86.900 91.337 96.000 1 1
Cơ cấu GDP (giá thực tế %) 100,00 100,00 100,00 100,00 2
2.1 Nông, lâm, thuỷ sản 19,90 16,59 13,71 8,29
2.2 Công nghiệp - xây dựng 40,30 41,98 43,22 44,14
2.3 Dịch vụ 39,80 41,43 42,70 47,58
Tốc độ tăng trưởng (giá 11-15 16-20 21-30 11-20 3 1994-%)
Tổng GDP 7,96 8,44 8,64 8,20
3.1 Theo ngành
3.1.1 Nông, lâm, thuỷ sản 3,00 2,20 2,20 2,60
3.1.2 Công nghiệp - xây dựng 9,00 9,26 9,11 9,13
3.1.3 Dịch vụ 8,66 9,25 9,20 8,96
3.2 Theo vùng
6,69 7,29 8,20 3.2.1 Vùng I
Nông nghiệp 3,37 1,72 1,77
Công nghiệp - xây dựng 7,49 9,02 8,98
Dịch vụ 6,92 6,87 8,37
67
5,88 6,71 7,97 3.2.2 Vùng II
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
TT Danh mục 2010 2015 2020 2030
Nông nghiệp 2,64 2,29 2,35
Công nghiệp - xây dựng 6,39 9,22 9,20
Dịch vụ 7,12 6,17 8,30
9,13 9,36 8,95 3.2.3 Vùng III
Nông nghiệp 2,90 2,44 2,39
9,16 Công nghiệp - xây dựng 10,38 9,40
Dịch vụ 10,03 10,98 9,68
4 GDP/người
GDP/người (giá thực tế-triệu 22,2 46,3 96,8 392,8 đồng) 4.1
4.2 GDP/người (giá thực tế-USD) 1.221 2.065 3.500 11.052
(2) Kịch bản tăng trưởng chậm Các tính toán phân tích cũng cho thấy rằng để duy trì được tốc độ
tăng trưởng cao là một thách thức đối với bất cứ quốc gia nào, và cụ thể
hơn là đối với Việt Nam. Đặc biệt là khả năng thoát khỏi khủng hoảng và
phục hồi tăng trưởng. Nếu không có sự quản lý, vận hành tốt hoạt động của
nền kinh tế quốc dân, môi trường chính sách không được cải thiện để
khuyến khích các hoạt động đầu tư (từ các nguồn cả trong và ngoài nước),
nội lực của nền kinh tế không được phát huy tốt, vì vậy nguồn ngoại lực
tương ứng cũng huy đông ở mức yếu kém, và các hoạt động kinh tế kém
hiệu quả, hội nhập kinh tế quốc tế không thực sự thành công. Kinh tế thế
giới chậm phục hồi ảnh hưởng nặng tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở giai
68
đoạn đầu hậu khủng hoảng.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Dự kiến nền kinh tế sẽ tăng trưởng chậm ở mức như sau3: Giai đoạn
2011-2015: 6,96%; Giai đoạn 2016-2020: 7,0%; Giai đoạn 2021-2030:
7,22%.
Theo kịch bản này cả ba khu vực: công nghiệp & xây dựng, nông
nghiệp, dịch vụ đều tăng trưởng ở mức tương đối thấp. Ngành công nghiệp
và xây dựng sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng khoảng 7,54% cho giai đoạn
2011-2015 và khoảng 7,5% cho giai đoạn 2016-2020. Ngành nông nghiệp
tăng trưởng ổn định mức thấp, bình quân 2,36% cả thời kỳ. Khu vực dịch
vụ cũng tăng trưởng ở mức thấp, bình quân 7-8% tùy theo các giai đoạn.
Tương ứng, mức tăng trưởng công nghiệp cũng chỉ duy trì ở khoảng 7,3-
7,5%, dịch vụ khoảng 7,8-8,0 và nông nghiệp khoảng 2% cho giai đoạn
2021-2030.
Cơ cấu kinh tế theo kịch bản này chuyển đổi chậm hơn, đặc trưng
bởi khu vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao vào năm 2020 (15,0%) và
khoảng 10,1% vào năm 2030.
Theo ba vùng điện lực, vùng I và vùng III vẫn có mức tăng trưởng
kinh tế khá cao ở giai đoạn đầu so với vùng II.
Bảng 3. 4 Tăng trưởng kinh tế đến năm 20304 (Phương án chậm) 2030 2020 2015 2010 TT Danh mục
102.42 1 Dân số (nghìn người) 86.900 91.337 96.000 1
2 Cơ cấu GDP (giá thực tế-%) 100,00 100,00 100,00 100,00
2.1 Nông, lâm, thuỷ sản 19,90 17,10 15,00 10,10
2.2 Công nghiệp - xây dựng 40,30 41,00 42,01 41,41
3 Các dự báo cho giai đoạn 2031-2050 dùng để tham khảo, theo đó: tốc độ tăng GDP giai đoạn 2031-2040 là 6,8%; giai đoạn 2041-2050 là 6,5-6,6%. 4 Chi tiết dự báo tăng trưởng đến năm 2050 trình bày trong Phụ Lục kèm theo.
69
2.3 Dịch vụ 39,80 41,90 43,00 48,49
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
TT Danh mục 2010 2015 2020 2030
Tốc độ tăng trưởng (giá 3 11-15 16-20 21-30 11-20 1994-%)
Tổng GDP 6,96 7,00 7,22 6,98
3.1 Theo ngành
3.1.1 Nông, lâm, thuỷ sản 2,72 2,00 2,00 2,36
3.1.2 Công nghiệp - xây dựng 7,54 7,50 7,35 7,52
3.1.3 Dịch vụ 7,96 8,00 7,95 7,98
3.2 Theo Vùng
5,72 5,89 6,72 3.2.1 Vùng I
Nông nghiệp 3,09 1,52 1,57
Công nghiệp - xây dựng 6,05 7,26 7,23
Dịch vụ 6,22 5,64 7,13
4,99 5,40 6,53 3.2.2 Vùng II
Nông nghiệp 2,36 2,09 2,15
Công nghiệp - xây dựng 4,96 7,47 7,44
Dịch vụ 6,42 4,95 7,06
8,15 7,97 7,51 3.2.3 Vùng III
Nông nghiệp 2,62 2,24 2,19
Công nghiệp - xây dựng 8,91 7,64 7,40
Dịch vụ 9,31 9,71 8,43
4 GDP/người
GDP/người (giá thực tế-triệu 4.1 22,2 44,4 86,5 308,8 đông)
70
4.2 GDP/người (giá thực tế-USD) 1.221 1.976 3.125 8.689
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Với mức độ tăng trưởng như trong kịch bản này thì Việt Nam khó có
thể đạt được những mục tiêu mong muốn và thu hẹp dần khoảng cách phát
triển với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Kịch bản cơ sở:
Một dự báo khác được đưa ra về sự phát triển kinh tế Việt Nam đến
giai đoạn 2020 (và sau đó là các giai đoạn tiếp theo) đó là kịch bản tăng
trưởng cơ sở. Ở kịch bản này các khu vực công nghiệp - xây dựng, dịch vụ
nhìn chung có sự phát triển thấp hơn so với mức tăng trưởng của kịch bản
tăng trưởng nhanh nhưng với tốc độ khá cao hướng tới đạt mức thu nhập
bình quân đầu người vào nhóm trung bình cao của các nước đang phát triển
(khoảng trên 3000 USD theo thời giá thực tế). Kinh tế thế giới và trong
nước phục hồi tương đối sớm sau tác động của khủng hoảng.
Theo đánh giá chung, kịch bản tăng trưởng này, nhìn chung có tính
hiện thực hơn, đặc biệt là khi xem xét đến kinh nghiệm tăng trưởng của
những năm vừa qua.
Ngành nông nghiệp duy trì được mức tăng trưởng gần giống như
trong các kịch bản khác (nhìn chung đối với nhiều dự báo kinh tế vĩ mô,
khu vực nông nghiệp có mức độ tăng trưởng ít thay đổi), trong khi khu vực
công nghiệp và dịch vụ duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao.
Dự kiến các tỷ lệ tăng trưởng như sau5: giai đoạn 2011-2015: 7,5%;
giai đoạn 2016-2020: 8,0%; giai đoạn 2021-2030: 7,83%.
Ở kịch bản này sự chuyển đổi cơ cấu ở mức vừa phải, hợp lý. Tỷ
trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế giảm dần xuống 14,33% vào năm
2020, trong khi các ngành công nghiệp và dịch vụ có tỷ trọng xấp xỉ 42-
43%. Đến năm 2030 khu vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng trên 9%,
5 Giai đoạn 2031-2040: 7,80%; Giai đoạn 2041-2050: 7,53%.
71
công nghiệp và xây dựng khoảng 42,22%, dịch vụ khoảng 48,53%.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Tương tự tăng trưởng kinh tế cũng được dự báo theo ba vùng điện
lực. Theo đó, vùng I và vùng III vẫn có mức tăng trưởng kinh tế khá cao ở
giai đoạn đầu so với vùng II. Vùng II sẽ tăng trưởng nhanh hơn trong các
giai đoạn sau so với Vùng I.
Bảng 3. 5 Tăng trưởng kinh tế đến năm 2030 (Phương án cơ sở) 2030 2015 2020 2010 TT Danh mục
86.90 Dân số (nghìn người) 91.337 96.000 102.421 1 0
100,0 100,00 100,00 100,00 2 Cơ cấu GDP (giá thực tế-%) 0
2.1 Nông, lâm, thuỷ sản 19,90 16,93 14,33 9,26
2.2 Công nghiệp - xây dựng 40,30 41,68 42,62 42,22
2.3 Dịch vụ 39,80 41,39 43,07 48,53
Tốc độ tăng trưởng (giá 3 11-15 16-20 21-30 31-40 1994-%)
Tổng GDP 7,50 8,00 7,83 7,57
3.1 Theo ngành
3.1.1 Nông, lâm, thuỷ sản 3,00 2,20 2,20 2,20
3.1.2 Công nghiệp - xây dựng 8,40 8,60 8,05 7,45
3.1.3 Dịch vụ 8,59 8,19 8,20 8,95
Theo vùng 3.2
7,38 6,23 6,84 3.2.1 Vùng I
Nông nghiệp 1,77 3,37 1,72
Công nghiệp - xây dựng 6,90 8,36 7,93
Dịch vụ 7,77 6,46 6,57
7,18 5,47 6,29 3.2.2 Vùng II
72
Nông nghiệp 2,35 2,64 2,29
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
TT Danh mục 2010 2015 2020 2030
Công nghiệp - xây dựng 5,80 8,56 8,14
Dịch vụ 6,66 5,88 7,69
8,67 8,91 8,16 3.2.3 Vùng III
Nông nghiệp 2,90 2,44 2,39
Công nghiệp - xây dựng 9,78 8,74 8,10
Dịch vụ 9,56 10,68 9,07
4 GDP/người
GDP/người (giá thực tế-triệu 4.1 22,2 45,4 92,7 351,6 đồng)
4.2 GDP/người (giá thực tế-USD) 1.221 2.023 3.350 9.891
3.2 Phân tích tổng quan hệ thống năng lượng Việt Nam
3.2.1 Tương quan năng lượng – kinh tế giai đoạn quy hoạch trước
Từ khi khởi đầu chính sách đổi mới năm 1986, nền kinh tế của Việt
Nam đã phát triển đúng hướng với tỷ lệ tăng trưởng ngoạn mục và nhu cầu
năng lượng tăng lên nhanh chóng. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn phát triển
một cách vững chắc nguồn năng lượng trong nước và nhận thức rõ sự tự
chủ về năng lượng. Hiện tại, nhu cầu năng lượng của Việt Nam, đặc biệt là
nhu cầu điện năng vẫn chưa được đáp ứng đủ và do đó khả năng rất cao là
nhu cầu năng lượng trong nước có thể tăng nhanh hơn cả trong quá khứ.
Nói một cách khác, sản lượng điện năng trong nước có thể được dự báo
tăng đến mức đỉnh. Do đó, Việt Nam phải chuyển từ xuất khẩu năng lượng
sang nhập khẩu năng lượng. Điều đó cho thấy rằng vấn đề năng lượng của
Việt Nam sẽ chuyển từ giới hạn trong phạm vi một quốc gia thành một
73
phần của thị trường quốc tế và chịu sự tác động thay đổi của nó.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giai đoạn
2000-2009 là 7,3%/năm; tổng sản phẩm quốc nội theo giá so sánh tăng từ
273,6 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 515,9 nghìn tỷ đồng năm 2009. Giai
đoạn 2000-2007 Việt Nam vẫn tiếp tục có sự tăng trưởng kinh tế cao với
7,75%/năm cho đến khi chịu ảnh hưởng của "Cuộc khủng hoảng kinh tế"
năm 2008. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 6,15% năm 2008, và
giảm xuống còn 5,32% năm 2009.
Trong giai đoạn 2000-2009, ngành sản xuất và khai thác đạt tỷ lệ tăng
trưởng cao nhất là: 9,3%, tiếp theo là ngành giao thông vận tải: 8,9%,
ngành thương mại đạt 7,8%, ngành dịch vụ và các ngành khác đạt 6,3%,
ngành nông nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng thấp nhất với 3,6%.
Tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam giảm từ
24,5% năm 2000 xuống 20,7% năm 2009, trong khi ngành sản xuất và khai
thác mỏ tăng từ 36,7% lên 40,2%. Trong cùng kỳ, ngành giao thông vận tải
tăng tỷ trọng từ 3,9% lên 4,4%, ngành thương mại tăng từ 17,5% lên
18,9%, trong khi ngành dịch vụ giảm từ 17,3% xuống 15,8%. Mặc dù tăng
trưởng từng bước, nhưng tỷ trọng của ngành giao thông vận tải vẫn còn ở
mức khiêm tốn. Bảng dưới đây thể hiện sự thay đổi cơ cấu kinh tế của Việt
74
Nam giai đoạn 2000-2009.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Hình 3. 2 cơ cấu kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2000-2009
Năm 2000 Năm 2009
Từ sự phát triển và thay đổi cơ cấu của nền kinh tế, nhu cầu năng
lượng tăng từ 26,3 triệu tấn dầu quy đổi lên 46,8 triệu tấn dầu quy đổi trong
giai đoạn 2000-2009, tương ứng nhu cầu năng lượng thương mại tăng từ
12,09 triệu tấn dầu qui đổi lên 32 triệu tấn, với tỷ lệ tăng trưởng hằng năm
đạt 11,5%. Mặc dù bị ảnh hưởng tiêu cực dẫn đến giảm sút trong giai đoạn
khủng hoảng năm 2008 nhưng hệ số đàn hồi năng lượng thương mại/GDP
vẫn đạt gần 1.6 trong giai đoạn 2000-2009.
Tỷ lệ tiêu thụ năng lượng trong các ngành công nghiệp, vận tải và
các lĩnh vực khác thay đổi từ 39:32:30 năm 2000 sang 43:32:25 năn 2009.
Tỷ trọng của ngành công nghiệp tăng lên rõ rệt, trong khi tỷ trọng của
ngành vận tải không thay đổi và các ngành khác giảm. Sự gia tăng nhanh
chóng của chỉ số tiêu thụ năng lượng phản ánh tốc độ phát triển mạnh của
ngành công nghiệp, trong khi chỉ số này của các ngành khác tăng không
đáng kể. Tuy nhiên, các ngành đều có sự tăng trưởng lớn trong tiêu thụ
năng lượng đã phản ánh sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Hình sau phản
ánh tương quan của phát triển kinh tế và xu hướng nhu cầu năng lượng của
75
Việt nam.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Hình 3. 3 Tương quan của phát triển kinh tế và xu hướng nhu cầu
năng lượng của Việt Nam
Cường độ năng lượng thương mại tăng từ 387 kgoe/1000USD2000 năm
2000 lên 545 kgoe/1000USD2000 năm 2009. Hệ số đàn hồi năng lượng là
1,39, và hệ số đàn hồi điện là 1,8 trong giai đoạn 2006-2009
Bảng sau thể hiện một số chỉ tiêu kinh tế và năng lượng chính của Việt
Nam
Bảng 3. 6 Tổng hợp chỉ tiêu kinh tế - năng lượng Việt Nam 2000-2009
Chỉ tiêu 2000 2005 2009
GDP-USD2000/người 402 539 685
Tiêu thụ năng lượng thương mại
(KgOE/người) 156 265 373
Tiêu thụ điện năng thương phẩm
(KWh/người) 289 567 894
Cường độ năng lượng thương mại
(KgOE/1000USD2000) 387 492 545
2000- 2006-
2005 2009
76
Hệ số đàn hồi năng lượng thương mại 1.70 1.39
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Hệ số đàn hồi điện 2.13 1.8
3.2.2. Tổng quan về cung cầu năng lượng trong giai đoạn 1990-2009
Trong gần hai thập kỷ qua, hệ thống năng lượng Việt Nam bao gồm khai
thác, sản xuất và cung cấp các dạng năng lượng sơ cấp như than đá, dầu
thô, khí đốt và đặc biệt là thủy điện, đã có những bước phát triển mạnh mẽ
và ổn định, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế và cải thiện đời sống
xã hội. Tổng quan một số lĩnh vực về khai thác và sử dụng năng lượng như
sau:
1. Hiện trạng khai thác năng lượng sơ cấp
1.1 Khai thác than
Trong suốt giai đoạn từ 1976 đến 1992 sản xuất khai thác than của Việt
Nam luôn chỉ giữ ở mức trên dưới 5 triệu tấn/năm. Bắt đầu từ năm 1993
sản lượng được nâng lên liên tục. Tốc độ tăng bình quân là 9,6 %/năm
trong giai đoạn 1991-2000, và 16,7% trong giai đoạn 2001-2008. Diễn
biến khai thác than giai đoạn 1990 – 2009 được trình bày ở bảng sau:
Bảng 3. 7 Diễn biến khai thác than giai đoạn 1990 – 2009
Năm 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 ước 2009
lượng 4,6 8,4 11,6 34,09 38,9 43,2 39,8 43,7 Sản triệu tấn
Hình 1.1. Nguồn: Tập đoàn CN than-khoáng sản, niêm giám thống
kê. 1.2 Khai thác dầu mỏ và khí đốt
Sản lượng dầu thô khai thác được trong những năm qua có nhịp tăng
trưởng cao. Nếu như năm 1986 chỉ khai thác được khoảng 40 ngàn tấn thì
đến năm 1990 đạt mức 2,7 triệu tấn và 7,6 triệu tấn năm 1995 (tốc độ tăng
trưởng giai đoạn 1991-1995 bình quân là 23 %/ năm). Đến năm 2000 dầu
thô khai thác được là 16,3 triệu tấn, cho tới những năm gần đây sản lượng
77
dầu thô khai thác có xu hướng giảm xuống. Năm 2008 sản lượng khai thác
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
đạt được là 14,85 triệu tấn. Tốc độ tăng trưởng tương ứng là 19,7 %/năm
giai đoạn 1990–2000 và -1,2 % giai đoạn 2000-2008. Toàn bộ dầu thô khai
thác được hầu hết đều dành cho xuất khẩu, năm 2008 bước đầu đã sử dụng
800 nghìn tấn dầu thô cho sản xuất thử của nhà máy lọc dầu. Diễn biến khai
thác dầu thô trong giai đoạn 1990-2009 trình bày trong bảng sau:
Bảng 3. 8 Diễn biến khai thác dầu thô trong giai đoạn 1990-2009
Năm 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 ước 2009
2,7 7,67 16,3 18,5 16,8 15,9 14,85 16,3 Sản lượng-triệu tấn
Hình 1.2. Nguồn: Petrovietnam, niêm giám thống kê.
Khí đốt (khí tự nhiên và khí đồng hành) bắt đầu được sử dụng cho phát
điện từ cuối năm 1995, khi hoàn thành đường ống dẫn khí từ mỏ dầu Bạch
Hổ đến nhà máy điện Bà Rịa. Từ năm 1999 cấp khí đến nhà máy điện Phú
Mỹ và nhà máy sản xuất khí LPG tại Dinh Cố. Năm 2000, sản lượng khí đạt 1,6 tỷ m3 và năm 2008 đạt 7,9 tỷ m3, tăng gấp 5 lần. Tốc độ tăng trưởng
bình quân trong giai đoạn 2001-2008 là 22,4 %/năm. Khai thác khí giai
đoạn 1995-2009 được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3. 9 Khai thác khí giai đoạn 1995-2009
Năm 1995 2000 2005 2006 2007 2008 ước 2009
183 1580 6890 7520 6860 7944 8100
1224 4460 4950 5050 5410 7180 182
Khai thác (triệu m3) Khí cho điện Hình 1.3. Nguồn: Petrovietnam, niêm giám thống kê, EVN
1.3 Nguồn thủy điện Thủy điện đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nguồn điện Việt Nam,
luôn chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ cơ cấu sản xuất điện. Trong giai đoạn
1990-2002, tỉ lệ này thay đổi theo từng năm, cao nhất đạt 75 % năm 1994
và thấp nhất là 51 % năm 1998. Trong các năm gần đây do các nguồn thủy
78
điện mới đưa vào vận hành ít và các nhà máy nhiệt điện mới đưa vào vận
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
hành có công suất lớn nên tỷ trọng của thủy điện trong cơ cấu công suất đặt
có xu hướng giảm xuống. Tỷ trọng này giảm từ 51.9 % năm 2000 xuống
còn 32.8% năm 2008.
1.4 Hiện trạng xuất nhập khẩu năng lượng Từ năm 1990 đến nay do việc xuất khẩu dầu thô và than tăng mạnh, cán
cân xuất nhập khẩu năng lượng đã thay đổi đáng kể. Việt Nam từ một nước
nhập khẩu trở thành một nước xuất khẩu năng lượng trong khu vực mặc dù
nhu cầu các sản phẩm dầu trong nước chủ yếu vẫn phải nhập khẩu. Về cơ
bản, các sản phẩm dầu nhập khẩu đã đáp ứng nhu cầu phát triển của các
ngành kinh tế trong các năm qua. Diễn biến xuất nhập khẩu năng lượng giai
đoạn 1990-2009 được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3. 10 Diễn biến xuất nhập khẩu năng lượng giai đoạn 1990-2009
1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 ước 2009
2888 5004 8748 9636 1189413651 13665 12680
908
khẩu 383 966 2630 3220 4102
khẩu điên 373 (1000 tấn) Năm Nhập khẩu sản phẩm dầu Xuất khẩu dầu thô 2617 7652 15423 17967 1644215062 13908 13373 789 2821 3251 17987 2930831948 19699 24992 Xuất khẩu than Nhập khẩu than điện Nhập (GWh) Xuất (GWh)
Hình 1.4. Nguồn: Niêm giám thống kê, tổng cục Hải Quan, EVN.
2. Hiện trạng tiêu thụ năng lượng 2.1 Tiêu thụ năng lượng sơ cấp
Tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp ngày càng tăng, năm 1990 là
19.564 KTOE tăng lên tới 44.247 KTOE năm 2005, và 53.364 KTOE năm
2008 đạt tốc độ 5,6% giai đoạn 1990-2005, và 6,4% giai đoạn 2006-2008.
Trong đó nhu cầu của khí đạt tốc độ tăng trưởng lớn nhất đạt 20,5 %/năm
giai đoạn 2000-2008. Diễn biến tiêu thụ từng loại năng lượng sơ cấp thể
79
hiện trong bảng sau:
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Bảng 3. 11 Diễn biến tiêu thụ năng lượng sơ cấp (KTOE)
thương 2005 2006 2007 2008 2009 8341 9030 9681 11888 12645 12336 12022 14149 14058 14635 4908 5360 5653 6533 7290 3835 4619 5213 5881 6785 14722 12421 12872 14191 14794 14767 14748 14725
321 nhập 226 277 83 33
19564 24225 32236 44247 45881 49670 53362 58370
Năm 1990 1995 2000 2212 3314 4372 Than Xăng, dầu 2860 4617 7917 1441 186 7.7 Khí Thuỷ điện 2063 3237 4314 Phi mại Điện khẩu Tổng 2.2 Tiêu thụ năng lượng cho sản xuất điện Than, dầu và khí là các dạng nhiên liệu chính cấp cho sản xuất điện. Diễn
biến tiêu thụ từng loại nhiên liệu cho sản xuất điện và tỷ trọng trong tổng
tiêu thụ nhiên liệu được thể hiện trong bảng sau.
Bảng 3. 12 Diễn biến tiêu thụ từng loại nhiên liệu cho sản xuất điện
Năm Đơn vị: KTOE 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng
số 2212.2 3313.5 4372.5 8341.5 9030.4 9681.2 11888 12645
Cho
SXD 888 710 1150 2990.7 3468.0 3591.7 3727.9 3679.6
% 40.1 21.4 26.3 35.9 38.4 37.1 31.0 29.1
Tỉ lệ n a h T
Tổng
số 2859.6 4616.6 7916.9 12336.3 12022.2 14148.9 14057.8 14635.2
Cho
SXD 381 369 1310 699.7 483.1 821.0 612.3 646.2
Tỉ lệ
% 13.3 8.0 16.5 5.7 4.0 5.8 4.4 4.4
u ầ d g n ă X
80
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Năm 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng
số 7.74 185.85 1441.35 4907.7 5360.4 5652.9 6533 7290
Cho
SXD 2.7 165 1102 4154.3 4636.4 4916.3 5693.0 6462
Tỉ lệ
% 34.9 88.6 76.4 84.6 86.5 87.0 87.1 88.6
í h K
Hình 1.5. Nguồn: EVN; Petro Vietnam.
2.3 Tiêu thụ năng lượng cuối cùng Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng năm 1990 là 16,76 triệu TOE, đến năm
2009 là 46,8 triệu TOE trong đó tỉ trọng tiêu thụ than tăng từ 7,9 % năm
1990 lên 19,2 năm 2009. Xăng dầu tăng từ 14,8 % năm 1990 lên 33,9%
năm 2009. Khí tăng từ 0,03 % năm 1990 lên 1,4 % năm 2009. Điện tăng từ
3,2 % năm 1990 lên 14,1 % năm 2009. Tỷ lệ năng lượng tái tạo giảm từ
74,1 % năm 1990 xuống còn 31,4 % năm 2009. Diễn biến tiêu thụ năng
lượng cuối cùng thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3. 13 Diễn biến tiêu thụ năng lượng cuối cùng
Đơn vị: KTOE
1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008 2009 Năm
1324 2603 3223 5351 5562 6089 8271 8966 Than
15851 Xăng, 2479 4247 6920 12122 12023 13713 13797 dầu
5.0 21.2 19.4 537 485 542 666 639 Khí
Điện 532 963 1927 4051 4630 5275 5834 6615
14704 NL.phi
12421 12872 14191 14780 14748 14726 14710 thương
81
mại
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Tổng số 16760 20707 26280 36841 37449 40345 43277 46774
3.2.3. Tổng quan về cung cầu năng lượng trong giai đoạn 2011-2030
1. Đánh giá tiềm năng và khả năng cung cấp các dạng năng lượng sơ
cấp giai đoạn 2011-2030
Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác than
Tổng trữ lượng than đã tìm kiếm thăm dò còn lại đến 1/1/2005 là 6,140 tỷ
tấn. Bể than Quảng Ninh là bể than lớn nhất Việt Nam. Khu vực này đã
được phát hiện và khai thác từ thời Pháp. Hiện nay và trong tương lai, công
tác khai thác than chủ yếu là ở khu vực Quảng Ninh (sản lượng than khai
thác hàng năm ở khu vực này chiếm khoảng gần 90 % sản lượng than khai
thác của toàn ngành than).
Trữ lượng than tập trung lớn tại vùng tỉnh Quảng Ninh, Đông bắc
Việt Nam. Tổng 3 vùng mỏ ở đây có trữ lượng cấp A+B+C1+C2 chiếm 67
% trữ lượng than toàn quốc.
Ngoài mỏ than Quảng Ninh còn có nhiều mỏ than nhỏ ở rải rác nhiều
tỉnh: Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu, Quảng Bình,
Quảng Nam, quy mô khai thác từ nhỏ đến rất nhỏ từ vài nghìn tấn đến vài
chục nghìn tấn.
Tham khảo dự thảo quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến
năm 2020, có xét đến năm 2030 (QH than) do TKV đang trình Bộ Công
Thương, qua một số lần điều chỉnh, tổng sản lượng than thương phẩm tăng
chậm (trung bình chỉ 2,6%/năm). Tổng sản lượng than sạch dự kiến khai
thác đến năm 2030 được trình bày trong bảng sau.
Đến năm 2020 vùng Quảng Ninh vẫn là khu vực khai thác than chủ
yếu của ngành than Việt Nam. Mỏ than đồng bằng Bắc bộ mới chỉ dự kiến
82
khai thác từ sau năm 2015 với sản lượng tương đối thấp so với tiềm năng
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
(khoảng 0,5 triệu tấn năm 2020, lên đến 1,5 triệu tấn năm 2025 và ước 10
triệu tấn năm 2030.
Dầu thô, khí
Theo đánh giá gần đây nhất, tổng trữ lượng dầu khí có thể thu hồi
của nước ta vào khoảng 3,8 – 4,2 tỷ tấn dầu quy đổi (TOE), tập trung chủ
yếu ở thềm lục địa, trong đó trữ lượng đã được xác minh vào khoảng 1,05 –
1,14 tỷ TOE với tỷ lệ khí đốt chiếm hơn 60%. Tổng hợp trữ lượng dầu khí
được cho trong bảng sau.
Các mỏ dầu và khí được phát hiện phân bố không đều. Các mỏ dầu
tập trung chủ yếu ở bể Cửu Long (thềm lục địa phía Đông Nam). Các mỏ
khí tự nhiên được phát hiện phân tán ở các bể Nam Côn Sơn, Malay-Thổ
Chu và Sông Hồng.
Các bể trầm tích nước sâu như Phú Khánh, Tư Chính và các bể trầm
tích vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng biển nước nông kế cận và vùng
trầm tính miền võng Hà Nội tuy được đánh giá là có tiềm năng dầu khí
nhưng chưa được khẳng định. So với các nước trong khu vực Đông Nam
Á, tiềm năng dầu khí của Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình, thấp
hơn Indonesia và Malaysia nhưng cao hơn các nước còn lại.
Theo chiến lược phát triển ngành dầu khí, sản lượng khai thác trung
bình dầu thô trong nước tăng đến 19 triệu tấn/năm và sản lượng dầu thô
khai thác từ nước ngoài khoảng 2-4 triệu tấn/năm trong giai đoạn từ nay tới
2010. Giai đoạn sau 2010 đến 2020, sản lượng sẽ giảm xuống, còn từ 16
đến 17 triệu tấn/năm theo 2 phương án cơ sở và cao, trong đó mức khai
thác từ nước ngoài lên tới từ 6-8 triệu tấn/năm. Dự báo khả năng khai thác
dầu thô trong giai đoạn từ nay đến năm 2025 như trong bảng sau.
Khí đốt đang được đẩy mạnh thăm dò phát hiện. Theo chiến lược
83
phát triển ngành dầu khí, khả năng khai thác khí đốt trong giai đoạn 2021-
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
2025 có thể đạt được từ 10,7-18 tỷ m3, cụ thể quy hoạch khai thác khí đốt
của ngành dầu khí theo các giai đoạn được cho trong bảng sau:
Dự báo phát triển khai thác giai đoạn sau năm 2025 sẽ đạt khoảng 20
triệu tấn dầu thô và 11 tỷ m3 khí.
Thủy năng
Theo đánh giá của chương trình nghiên cứu cấp nhà nước KHCN 09:
“Xây dựng chiến lược và chính sách năng lượng bền vững” và các cập nhật
gần đây, xem xét các yếu tố kinh tế, xã hội và tác động tới môi trường thì
tiềm năng kinh tế - kỹ thuật thuỷ điện nước ta khoảng 75-80 tỷ kWh với
công suất tương ứng 18000-20000 MW.
Trữ năng kinh tế của 10 lưu vực sông chính chiếm 85,9% trữ năng
kinh tế kỹ thuật khai thác trên toàn lãnh thổ. Qua số liệu trên đây nhận thấy
rằng tổng trữ lượng kinh tế kỹ thuật của các lưu vực sông chính là hơn
18.000MW, điện năng tương ứng khoảng 70 tỷ kWh, trong đó ở miền Bắc
khoảng 9490MW (52% tổng công suất trên các lưu vực chính), tương ứng
khoảng 36,4 tỷ kWh, miền Trung 5655MW (31,2%), tương ứng trên 22 tỷ
kWh và miền Nam – 3.000MW (16,5%) tương ứng 12 tỷ kWh.
Một phần không nhỏ trong tiềm năng thủy điện Việt Nam cần phải
tính đến là các công trình thủy điện cỡ nhỏ (công suất nhỏ hơn 30 MW).
Theo các đánh giá quy hoạch mới nhất, trên toàn quốc, tiềm năng công suất
- điện năng của các công trình thủy điện nhỏ được đánh giá khoảng gần
7000 MW với khoảng 860 MW đã được xây dựng và khảng 2600MW đang
được nghiên cứu phát triển. Tuy nhiên một số công trình ở vị trí rất khó
khai thác, nằm khá xa trung tâm tiêu thụ điện, nên sẽ không phát triển ngay
trong giai đoạn trước mắt mà chỉ có thể xây dựng đồng bộ với việc phát
triển kinh tế xã hội khu vực tại chỗ.
Về thuỷ điện tích năng, ngành điện đang có dự án đầu tư xây dựng
84
các NMTĐ tích năng với quy mô 1000 -:- 2400MW, trong đó NMTĐ tích
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
năng Đông Phù Yên (tỉnh Sơn La) và NMTĐ tích năng Bác Ái (tỉnh Ninh
Thuận) sẽ được phát triển vào khoảng năm 2018-2020. Năm 2007 tổ chức
JICA đã phối hợp với chuyên gia Việt Nam hoàn thành đề án Quy hoạch
phát triển các NMTĐ tích năng ở Việt Nam. Theo đó, trên toàn quốc có
trên 10 vị trí có địa hình có khả năng xây dựng NMTĐ tích năng với công
suất từ 400-1000 MW ở cả ba miền, tập trung nhiều ở miền Bắc. Tổng tiềm
năng thuỷ điện tích năng sơ bộ ước tính khoảng trên 10000 MW.Gần đây,
EVN đã giao các Cty TVXDĐ 4 lập DAĐT công trình TĐTN Bác Ái –
Ninh Thuận với quy mô ~1.200MW; Cty TVXDĐ 1 lập BCĐT công trình
TĐTN Mộc Châu – Sơn La. Cty TVXDĐ 2 được giao lập BCĐT công
trình TĐTN Hàm Thuận Bắc, có vị trí nằm gần NMTĐ Hàm Thuận. Dự án
NMTĐ tích năng Đông Phù Yên (tỉnh Sơn La) đã được Chính phủ giao
cho Cty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình đầu tư phát triển.
Ngoài ra, hiện có một số công trình TĐTN nằm ngoài danh mục nêu
trên: i) ở khu vực Châu Thôn-Nghệ An có một vị trí TĐTN thuận lợi, quy
mô khoảng 1.200MW đang được Cty Sơn Vũ nghiên cứu trình Bộ Công
Thương; ii) TĐTN Đà Nẵng, nằm cách trạm 500kV Đà nẵng khoảng 25km
đang được Cty cổ phần thuỷ điện Geruco Sông Côn khảo sát nghiên cứu,
cũng với quy mô khoảng 1.200MW; iii) TĐTN A Vương ~1.200 MW; iv)
TĐTN Đơn Dương (Lâm Đồng); và v) TĐTN Ninh Sơn (Ninh Thuận).
Năng lượng tái tạo
Năng lượng mặt trời, gió Nước ta nằm trong vùng có số giờ nắng trung bình khoảng 2000-
2500 giờ/năm với tổng năng lượng bức xạ mặt trời cao, trung bình khoảng 100-175 Kcal/cm2.năm. Tuy nhiên giá thành lắp đặt các bộ pin mặt trời rất
cao, khoảng 7500-8500 USD/kWp. Tính đến năm 2009, ở nước ta có tổng
công suất các dàn pin mặt trời khoảng 1560 kWp. Theo số liệu thông kê
85
của ngành Khí tượng thuỷ văn, giá trị bức xạ mặt trời trung bình hàng năm
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
ở khu vực cao nguyên, duyên hải miền Trung, và các tỉnh phía Nam cao
hơn và ổn định hơn trong suốt cả năm so với các tỉnh phía Bắc. Như vậy,
các hệ thống được thiết kế dùng NLMT lắp đặt ở miền Bắc sẽ đắt hơn các
hệ thống lắp đặt ở miền Nam đồng thời chúng phải có công suất lớn để bù
vào các tháng mùa đông có nhiều mây.
Với hơn 3000km bờ biển và thuộc vùng khí hậu nhiệt dới gió mùa,
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng NL gió khá tốt. Cho đến
nay đã có một số nghiên cứu đánh giá tiềm năng NL gió ở Việt Nam. Gần
đây nhất là đề án “Quy hoạch tiềm năng NL gió để phát điện” do EVN
nghiên cứu (2005-2006). Theo kết quả đề án thì tổng diện tích các vùng
ước lượng cho phép khai thác gió sẽ cho lượng công suất tương đương
1785MW, trong đó: tập trung 880MW tại Quảng Bình và Bình Định;
855MW là tiềm năng NL gió ở miền Nam, tập trung chủ yếu tại Ninh
Thuận và Bình Thuận.
Năng lượng mặt trời có giá thành cao và yêu cầu bảo dưỡng khá tốn
kém. Ngay cả Nhật Bản, nước nhập khẩu tới 95 % nhiên liệu, nước dẫn đầu
thế giới về ứng dụng năng lượng mặt trời, đến nay cũng chỉ xây dựng được
tổng cộng 465 MW. Vì vậy đối với nước ta, khó phát triển các dạng NL
này ở quy mô lớn để đưa vào cân đối nguồn trong tương lai.
Năng lượng sinh khối(NLSK) Việt Nam có nhiều loại sinh khối có thể sử dụng một cách hiệu quả
để cung cấp và đáp ứng một phần nhu cầu nhiên liệu và điện của đất nước.
Các loại sinh khối chính gồm: củi gỗ, phế thải từ cây nông nghiệp.
Tiềm năng nguồn NLSK ở Việt Nam là rất lớn, riêng phụ phẩm nông
nghiệp là trên 70 triệu tấn (quy đổi về dầu tính theo nhiệt lượng tương
đương gần 20 triệu tấn dầu). Theo phân tích, đánh giá và tính toán, trước
mắt sẽ tập trung khai thác những loại sinh khối sẵn có, tiềm năng lớn, mức
86
tập trung nguồn cao để phát điện. Có bốn loại sinh khối được khai thác là
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
trấu ở các nhà máy xay xát hoặc cụm xay xát, bã mía và lá gọn mía ở khu
vực các nhà máy đường, vỏ cà phê ở các trung tâm sản xuất cà phê (tính
cho 4 tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên), phế thải gỗ ở các cụm công nghiệp
chế biến gỗ. Tổng cộng khả năng khai thác của 2 loại năng lượng này có
thể đạt tới khoảng 9,4 triệu toe vào năm 2030, trong đó 0,7% dùng cho phát
điện còn 99,3% dùng cho tiêu dùng dân cư.
Năng lượng sinh học(NLSH) NLSH có thể được sản xuất từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau như
các loại lương thực có hạt (gạo, ngô, khoai lang và sắn), mía và các loại
chất thải hữu cơ khác (mật đường, dầu ăn đã sử dụng, mỡ cá da trơn, kể cả
sinh khối thô).
a) Đánh giá sơ bộ trữ lượng và khả năng khai thác Urani ở Việt Nam Tài nguyên uranium trong các mỏ, điểm quặng trên lãnh thổ Việt
Nam đã được các liên đoàn địa chất thuộc liên đoàn Địa chất 10 (nay là liên
đoàn Địa chất Xạ-Hiếm) tìm kiếm, tính toán và đánh giá. Tổng tài nguyên
uranium ở Việt Nam tính đến tháng 12/2004 đạt khoảng 254.000 tấn U3O8
ứng với hàm lượng U3O8>0,015. Hầu hết các mỏ khoáng uranium đã xác
nhận ở Việt Nam có quy mô nhỏ, hàm lượng uranium thấp đến rất thấp.
Các vùng quặng uranium ở Việt Nam được đánh giá cho đến nay chưa thực
sự chi
2. Khả năng trao đổi các dạng năng lượng với các nước trong khu vực
2.1. Hiệu ích của việc liên kết hệ thống điện với các nước trong khu vực
Qua liên kết lưới điện với Lào và Campuchia, hệ thống điện Việt
Nam có thể liên kết trao đổi điện năng với các nước ASEAN như Thái Lan,
Malaixia. Việc liên kết đem lại lợi ích đáng kể cho các quốc gia, bao gồm:
giảm dự phòng chung của hệ thống điện liên kết; tăng hiệu quả vận hành hệ
87
thống điện; có thể sử dụng tổ máy có công suất lớn hơn, tạo điều kiện cho
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
khai thác hiệu quả hơn các nguồn thủy điện trong nước; vận hành linh hoạt
hơn so với phương án vận hành riêng rẽ; giảm lượng phát thải từ các nhà
máy điện vào môi trường khoảng 15-20 % so với trường hợp không có liên
kết hệ thống; góp phần đảm bảo phát triển năng lượng bền vững trong điều
kiện hội nhập quốc tế, hợp tác và liên kết khu vực.
2.2. Chương trình liên kết hệ thống điện trong khu vực GMS Năm 1998 Việt Nam và Lào đã ký hiệp định về việc Việt Nam sẽ
mua điện của Lào với quy mô công suất 2000 MW đến năm 2010. Ngày
10/1/2008 Chính phủ hai nước tiếp tục ký hiệp định hợp tác kinh tế, văn
hoá, khoa học kỹ thuật, trong đó tăng mức nhập khẩu điện về Việt Nam lên
đến trên 5000 MW vào năm 2020. Hiện đã có các đường dây trung áp 35
kV cung cấp điện từ Việt Nam sang một số vùng gần biên giới của Lào. Dự
kiến năm 2011 Việt Nam sẽ nhập khẩu điện từ nhà máy thủy điện
Sekaman3 - 250 MW, sau đó là Sekaman 1 - 290 MW và Nậm Mô - 105
MW… Trong báo cáo quy hoạch phát triển Điện lực Lào lập tháng 1 năm
2010, Lào chủ trương kêu gọi đầu tư hoặc liên doanh đầu tư các dự án thuỷ
điện tiềm năng trên đất Lào từ các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là từ các
nước láng giềng. Hầu hết các dự án này để xuất khẩu điện. Cập nhật tổng
công suất có thể nhập khẩu từ Lào là từ 3.700-:-5.000 MW, tuy nhiên tiến
độ nhập khẩu còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan, có một số công
trình sẽ đưa vào sau năm 2020.
Hiện nay Việt Nam đã bán điện cho khu vực Pnôm Pênh qua đường
dây 220 kV Châu Đốc - Tịnh Biên - Takeo - Pnôm Pênh, công suất khoảng
120 MW. Sau năm 2015 Việt Nam sẽ nhập khẩu từ một số công trình thuỷ
điện như Hạ Sê San 2 – 420 MW, Hạ Sê San 3 – 180 MW, Sê San 5 - 90
MW... Tổng công suất có thể nhập khẩu từ Campuchia khoảng 1.300-:- 2.000
88
MW.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Trong chương trình hợp tác liên kết lưới điện các nước ASEAN,
tương lai xa có thể Việt Nam sẽ liên kết với HTĐ Thái Lan và các nước
khác qua các đường dây 500kV từ Việt Nam – Lào.
Tuy vậy, tính khả thi của các dự án như trên còn phụ thuộc rất nhiều
vào tình hình phát triển kinh tế của mỗi nước, ảnh hưởng của biến động thị
trường quốc tế cũng như các chính sách thúc đẩy hợp tác song phương và
đa phương. Việt nam đang có liên kết lưới điện với các quốc gia sau:
Chương trình liên kết lưới điện với Lào Chương trình liên kết lưới điện với Campuchia Chương trình liên kết lưới điện với Vân Nam (Trung Quốc) Từ các phân tích đánh giá trên, tổng khả năng nhập khẩu điện từ thị trường
khu vực có thể đạt đến 5000 - 6000 MW năm 2025 và tăng lên 8000 - 9000
MW vào giai đoạn đến năm 2030. Tuy nhiên, những tính toán trên mới chỉ
theo chủ quan, việc có nhập khẩu được không và với lượng bao nhiêu còn
phụ thuộc lớn vào quan điểm và sự đồng thuận của các nước bạn.
3.3 Đánh giá phân tích hiệu quả kinh tế dự án:
Việc xây dựng nhà máy thủy điện nói chung và nhà máy thủy điện
Bảo Lâm nói riêng đều có những tác động tới môi trường, nền kinh tế, xã
hội khu vực xây dựng nhà máy. Tác động đó là tác động tương quan hai
mặt của 1 vấn đề.
Những tác động tích cực
Vai trò tích cực của các dự án thuỷ điện Bảo Lâm trước hết là phát
huy mọi năng lực của các vùng, nhằm làm tăng khả năng đáp ứng những
yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội (KTXH) đất nước cũng như
của khu vực nơi xây dựng nhà máy. Việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện
Bảo Lâm không chỉ để sản xuất điện phục vụ người dân địa phương mà
89
còn góp phần tăng sản lượng điện của quốc gia.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Về phát triển kinh tế xã hội: Vai trò cực kỳ quan trọng của việc xây
dựng thuỷ điện Bảo Lâm là tạo ra nguồn động lực mới trong phát triển
KTXH của vùng, có tác dụng mạnh mẽ đối với chuyển đổi cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH - HĐH, đồng thời tác động tích cực trong việc tạo ra
những điều kiện mới về kinh tế, sinh thái và nhân văn của vùng lưu vực
sông. Các nguồn lực phát triển mới sẽ nảy sinh trong vùng sau khi có thuỷ
điện, tiện lợi cho phát triển các ngành nông lâm nghiệp, giao thông, thủy
sản và du lịch dịch vụ, phát triển kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường.
Trên cơ sở này sẽ mở ra khả năng hình thành một cơ cấu tổ chức lãnh thổ
và xã hội mới, với cơ cấu kinh tế mới, thực hiện CNH - HĐH, phát triển
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở các địa phương, tạo điều kiện
và thúc đẩy quá trình phân công lại lao động xã hội, làm tăng hiệu quả
phát triển KTXH nói chung và khu vực kinh tế hộ gia đình của vùng nói
riêng.
Việc cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ xây dựng thuỷ điện Bảo Lâm
góp phần tạo động lực phát triển mới cho vùng. Năng lực thích nghi của
nhân dân trong những điều kiện tác động của xây dựng thuỷ điện để phát
triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông - lâm nghiệp dần được CNH -
HĐH. Các tác động (trực tiếp, gián tiếp) dẫn đến biến đổi phân công lao
động và làm giảm cường độ lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên
(đất đai, rừng và các nguồn nước). Các tác động này sẽ làm biến đổi căn
bản trạng thái tổ chức, cách thức quản lý và sử dụng của cộng đồng đối với
các tài nguyên thiên nhiên sau khi xây dựng thuỷ điện. Các mô hình tổ
chức phát triển KTXH tiên tiến sẽ có thể được áp dụng và triển khai trong
các trạng thái đặc thù sinh thái - nhân văn ở từng địa phương và do đó sẽ
làm tăng hiệu quả đầu tư của dự án.
Về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường: Các tác động tích
90
cực của dự án thủy điện Bảo Lâm bao gồm các lợi ích về tài nguyên và
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
môi trường mà dự án mang lại. Lượng điện năng do thuỷ điện mang lại là
điện năng sạch. Sự có mặt của nguồn điện năng này tránh cho việc dùng
nhiệt điện chạy than, dầu làm ô nhiễm môi trường hoặc điện hạt nhân với
nhiều khả năng tai biến môi trường. Ngoài ra, sự có mặt của hồ chứa nước
và hệ thống cơ sở hạ tầng đem lại lợi ích to lớn về tài nguyên và môi
trường, như làm tăng những “kho” dự trữ nước và góp phần không nhỏ để
cải tạo các điều kiện kinh tế sinh thái cho địa phương.
Những tác động tiêu cực
Để thực hiện dự án thuỷ điện bảo lâm, phải di chuyển, thực hiện tái
định cư (TĐC) và tổ chức lại sản xuất và đời sống cho một số lượng dân
cư trong đó có gần 12.000 hộ dân đồng bào các dân tộc thiểu số Cao Bằng
và Hà Giang.
Với phương án di dời dự án và gây tác động đến môi trường. Việc
lập phương án tái định cư không chỉ cần chú trọng thuần tuý tới khối
lượng (tương quan giữa số lượng dân cư phải di chuyển với diện tích đất
đai sẽ bị ngập và diện tích cần đền bù), mà còn phải chú ý tới đặc điểm
mấu chốt về chất lượng và năng suất của đất đai (sẽ cho năng suất cây
trồng thích hợp), cũng như tính chất đặc thù của việc di chuyển và tái định
cư của số lượng dân cư tuỳ theo quy mô của dự án, trên một vùng kinh tế
lãnh thổ cũng hết sức đặc thù. Những tác động tiêu cực tiềm tàng của quá
trình Tái định được bộc lộ trước hết trong quá trình người dân phải làm
quen với quê hương mới, ổn định đời sống và tổ chức xây dựng, phát triển
sản xuất. Theo kết quả điều tra xã hội học, đại đa số những người được hỏi
đều thể hiện không muốn phải di chuyển, rời xa quê cũ, lo rằng phải xa
dòng tộc, bị phân ly và phải chung sống với những người mới. Rất khó để
người dân tộc thích nghi với điều này và sẽ dễ gây ra tác động tiêu cực đến
91
phát triển kinh tế xã hội.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Việc đầu tư thủy điện Bảo Lâm có thể ảnh hưởng tiêu cực tới phân
định và tổ chức lại kết cấu tổ chức lãnh thổ, với mạng lưới giao thông, liên
lạc đối với một số dự án có quy mô lớn, vì sẽ làm ngập nhiều đất đai,
đường xá, chia cắt giao thông, thông tin liên lạc và cả phân tách phạm vi
và quan hệ lãnh thổ của các địa phương hiện nay.
Vấn đề tranh chấp quản lý và sử dụng tài nguyên (chủ yếu là đất đai
và rừng) xuất phát từ hậu quả của những khó khăn do chưa kịp thời ổn
định cư trú và sản xuất ở nơi TĐC (làm tăng mức độ quảng canh nương
rẫy, tăng nguy cơ tái đói nghèo, bần cùng hoá mức sống và làm tăng mức
phân hoá thu nhập của nhân dân các địa phương, nhất là ở vùng TĐC và
có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội khi xây dựng một số công trình thuỷ
điện ở vùng sâu). Nhiều biến động kinh tế sẽ xảy ra với cường độ mạnh và
dồn dập do thay đổi về điều kiện sản xuất, tiếp thị, mức cung - cầu và năng
lực tiêu thụ các loại hàng hoá nông lâm sản, sẽ ảnh hưởng nặng nề đến
mức thu nhập của các hộ gia đình và cộng đồng dân cư; thay đổi về cơ cấu
lao động và số lượng việc làm trong các cộng đồng và hộ gia đình TĐC
cũng như ở các cộng đồng tiếp nhận; thay đổi về cường độ, năng suất và
mức độ sử dụng lao động, đặc biệt với lao động nữ và người già.
Xuất hiện những thay đổi về tương quan giữa tài nguyên thiên nhiên
(TNTN) và nguồn kiếm sống của dân cư. Làm tăng sức ép về dân số và
lương thực sau di chuyển và các áp lực dẫn đến gia tăng nạn phá rừng, săn
bắn bừa bãi ..., dẫn tới suy giảm TNTN nói chung và giảm tính đa dạng
sinh học nói riêng. Cần xem xét khả năng thích nghi với môi trường mới
của dân cư và các rủi ro có thể xảy ra, những thay đổi về điều kiện môi
trường tới sức khoẻ.
Những tổn thất tâm linh và các tác động làm thay đổi về phong tục,
tập quán, truyền thống, trạng thái văn hoá vật chất và tinh thần của các dân
92
tộc trong vùng. Điều này sẽ ảnh hưởng không tốt tới tinh thần và tâm lý
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
của dân cư. Những thay đổi về cơ cấu dân cư, cộng đồng, cũng như mức
tăng cơ học vừa đột ngột và quá lớn của dân số trong vùng và những va
chạm, xung đột giữa các cộng đồng trong việc quản lý và sử dụng các
TNTN có thể xảy ra giữa các cộng đồng khác nhau trong quá trình di
chuyển và TĐC do tập kết lực lượng lao động, công nhân từ nhiều vùng
khác nhau trong nước tới khu vực dự án.
Kết luận
Bên cạnh những lợi ích từ những công trình thuỷ điện, không thể
không kể đến những tác động bất lợi của công trình. Tuy nhiên, trong bối
cảnh hiện nay, cần phải cân nhắc quy mô của dự án để hài hoà những lợi
ích đem lại từ công trình thuỷ điện nhưng cũng phải giảm thiểu các tác
động có hại khi xây dựng công trình. Điều này có thể thực hiện được theo
nhiều phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào quy mô của dự án cũng như
vị trí của công trình.
3.4 Các tính toán đảm bảo đầu tư gắn với phát triển bền vững 3.4.1 Nghiên cứu phần chống lũ thủy điện Bảo Lâm như sau:
Huyện Bảo Lạc là Huyện miền núi vùng cao phía Tây tỉnh Cao Bằng cách thị xã Cao Bằng 140 km, diện tích tự nhiên 919.07 km2, có 16 đơn vị
hành chính xã và thị trấn Bảo Lạc, dân số: 47.612 người (tính đến
31/12/2007), huyện có tiềm năng phát triển chăn nuôi đại gia súc và gia
cầm, thuỷ sản.
Huyện Bảo Lâm có diện tích đất tự nhiên: 913,47km2 , có 14 đơn vị
hành chính xã, là huyện được thành lập ngày 25 tháng 9 năm 2000, dân số
51.780 người (tính đến 31/12/2006). Huyện có tiềm năng phát triển chăn
nuôi đại gia súc, gia cầm.
Sau khi xây dựng công trình thủy điện Bảo Lâm sẽ tạo ra hồ chứa
93
lớn, góp phần cải thiện khí hậu môi trường khu vực, tạo cảnh quan du lịch
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
và thúc đẩy phát triển các ngành du lịch dịch vụ vốn đang là một tiềm năng
lớn của tỉnh Cao Bằng, phát triển ngành nghề nuôi trồng thuỷ sản.
Bảng 3. 14: đánh giá ảnh hưởng của dòng chảy lũ trong các hệ thống
HT s«ng
Flv tÝnh ®Õn hîp lu
Flv(t¬ng øng)
% so víi S«ng L«
¶nh hëng hiÖn t¹i
%Flv so víi toµn hÖ thèng
W ph©n c«ng phßng lò (tû m3)
FlvS«ng L« (toµn bé)
39100
100%
27.2%
sông đến đồng bằng sông Hồng
%W trªn toµn hÖ thèng tÝnh ®Õn tr¹m S¬n T©y 27.1%
FlvS«ng G©m
17200
11.97%
11.97%
F Chiªm Ho¸ - SG©m
16500
11.48%
11.48%
44%
- Hå Tuyªn Quang
14720
10.24%
10.24%
1
8.4%
S«ng L«
- Hå B¶o L©m
10356
7.21%
7.21%
0.5
4.2%
FlvS«ng Ch¶y
6500
17%
4.52%
4.51%
0.45
3.8%
12400
32%
8.6%
8.6%
Flv thuéc nh¸nhHµ Giang ®Õn GhÒnh Gµ
Khu gi÷a cßn l¹i
3000
8%
2.1%
2.1%
S«ng Thao
Yªn B¸i
48000
33.4%
22.08%
0
0%
S«ng §µ
52600
36.6%
49.76%
S«ng §µ
- Hå S¬n La
43760
83%
30.5%
5.0
42.2%
51700
98%
36.0%
4.9
41.4%
4000
2.78%
0
0.0%
- Hå Hoµ B×nh Khu gi÷a vµ c¸c nh¸nh kh¸c
143700
100%
11.85
Tæng hîp Bảng 3.15: Tổ hợp W lũ 8 ngày các trận lũ lớn - lũ lịch sửtrên lưu vực sông Hồng (tính theo tỷ lệ %)
No
TrËn lò lÞch sö n¨m
S«ng Ch¶y
S¬n T©y (S«ng Hèng)
Hoµ B×nh (S«ng §µ)
Yªn B¸i (s«ng Thao)
Phï Ninh (S«ng L«)
Chiªm Ho¸ (S«ng G©m)
S«ng L« tõ hµ Giang
Th¸ng 8/1945
100%
54.00%
20.70%
24.70%
10.87%
4.11%
9.73%
1
Th¸ng 8/1968
100%
39.70%
28.00%
26.00%
11.44%
4.32%
10.24%
2
Th¸ng 8/1969
100%
53.30%
15.80%
30.00%
13.20%
4.99%
11.82%
3
Th¸ng 8/1971
100%
37.50%
25.10%
34.00%
14.96%
5.65%
13.39%
4
Th¸ng 8/1996
100%
64.30%
20.80%
20.80%
9.15%
3.46%
8.19%
5
Trung b×nh
49.76%
22.08%
27.10%
11.92%
4.51%
10.67%
Theo bảng tổng hợp nêu trên thì lưu vực sông Gâm chiếm 12% trên
tổng lưu vực sông suối Miền bắc tính đến tuyến Sơn Tây, tổng lượng lũ
chiếm 11,9%. Thống kê tổng lượng lũ lịch sử thấy rằng tổng lượng lũ sông
Gâm chiếm 4,1-:-5,6%.
Hồ chứa công trình thuỷ điện tuyên Quang hiện nay đã vận hành, tích
94
nước. Theo hồ sơ TKKT thuỷ điện Tuyên quang do công ty TVXD Điện 1
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Lập đã được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) phê duyệt có dung tích phòng lũ là 1tỷ m3, và có thể huy động tối đa là 1,5 tỷ m3. Hồ chứa
tuyên Quang có khả năng quyết định về điều tiết lũ trên hệ thống sông
Gâm, và Hồ chứa Bảo Lâm có nhiệm vụ kết hợp cắt giảm lũ tùy theo khả
Tính toán hiệu ích cắt giảm lũ của hồ chứa Bảo Lâm.
năng của công trình.
Trên cơ sở bố trí công trình, quy mô hồ chứa TVTK tiến hành tính
toán hiệu quả cắt lũ của hồ chứa Bảo Lâm để đánh giá hiệu quả tham gia
cắt lũ cho hạ du.
Kết quả tính toán điều tiết lũ hồ chứa Bảo Lâm
Phương án Mô hình lũ lũ
Q đến(max) (m3/s) Q xả(max) (m3/s) Hiệu quả cắt đỉnh lũ Tỷ lệ cắt đỉnh (%)
8.515 7.245 1.270 14,9
7.720 6.425 1.295 16,7
MNDBT=230 tr WPL=500 m3
6.355 4.976 1.379 21,6 1971(P= 0,1%) 1971(P= 0,2%) 1971(P= 0,5%)
Như vậy với phương án có dung tích phòng lũ WPL=500 tr m3 thì hiệu
quả cắt là giảm được khoảng (1200 m3/s) tương đương 15-:-20% đỉnh lũ.
Hồ Bảo Lâm với dung tích phòng lũ 500tr m3, sẽ làm giảm mực nước
tại Tuyên Quang khoảng 0,5m. Giảm mực nước tại Hà Nội khoảng 0,1m.
Tính toán chi tiết hiệu quả chống lũ của hồ chứa thuỷ điện Bảo Lâm
do Công ty CPTV Sông Đà kết hợp với Viện quy hoạch thuỷ lợi thực hiện.
Ngày 25/9/2002 Việt Nam tham gia ký kết Nghị định thư Kyoto.
Theo những tin tức đã công bố, đến tháng 12/2004, Việt Nam đã hoàn
thành việc hướng dẫn việc triển khai Cơ chế phát triển sạch (Clean
Development MechanismCDM). Trong khuôn khổ chương trình CDM, nếu
VN giảm được một lượng phát thải khí nhà kính thì sẽ được cấp giấy chứng
95
nhận, gọi là Giảm phát thải được xác nhận (The Certified Emissions
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Reductions - CERs). CERs có thể dùng để bán như một thứ hàng hoá mới
có giá trị và sẽ được bán cho các quốc gia, các tổ chức nước ngoài có nhu
cầu giảm phát thải khí nhà kính.
Việc buôn bán CERs trong các dự án dựa trên cơ sở giảm phát thải
theo cam kết của Nghị Định thư Kyoto đã tăng lên nhanh chóng trong
những năm vừa qua. Hiện nay, các tổ chức cũng như các nước có nhu cầu
mua CERs lớn nhất là Ngân hàng Thế giới, các công ty của Nhật Bản, Hà
Lan. Ngoài ra còn có một số nước Châu Âu cũng đang trong quá trình xúc
tiến các chương trình CDM trong những năm 2003-2004. Đây cũng là một
trong những thị trường có nhu cầu lớn về CERs. Kinh doanh buôn bán các
sản phẩm CERs là hình thức hoàn toàn mới trên thị trường. Hiện nay, giá
của CERs trên thị trường vào khoảng 4-6 USD/tấn CO2 tương đương.
Tính toán cụ thể hơn 1 kwh tương đương 3.66 kg CO2 từ đó suy ra nếu
761,67 triệu kWh sản xuất tại nhà máy nhiệt điện thì tiết kiệm được 761,76
x 3.66/1000 = 2.875.620 tấn CO2
Hiện nay, Việt Nam đang là 1 trong 10 nước được đánh giá là có
tiềm năng về CDM với 10 dự án CDM đăng ký. Tuy nhiên, đến nay mới
chỉ có 10 nhà máy thủy điện ký hợp đồng để tạo ra sự cân bằng giảm phát
thải nhà kính thông qua CDM. Dự án CDM đầu tiên trên thế giới được
thực hiện ở Brazil vào đầu tháng 12/2004. Dự án thủy điện Bảo Lâm được
đầu tư cũng không nằm ngoài khuôn khổ việc kinh doanh CDM, tạo ra cơ
chế phát triển sạch bền vững và lợi nhuận đáng kể đối với một quốc gia
đang trong đà phát triển kinh tế hiện nay. Nếu Bảo Lâm đi vào hoạt động sẽ
tạo thêm một lượng doanh thu là : 2.875.620 tấn CO2 x 6USD/tấn =
96
16.726 triệu đồng mỗi năm tính đến hết năm 2015.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Công trình thủy điện Bảo Lâm công suất lắp đặt 190 MW, sẽ cung cấp
cho hệ thống điện lượng trung bình hàng năm là 761.26 triệu kWh. Công
trình được xây dựng sẽ đáp ứng nhu cầu điện năng trong khu vực, giảm bớt
tình hình thiếu hụt điện năng của hệ thống, đặc biệt là trong giờ cao điểm.
Ngoài ra công trình thủy điện Bảo Lâm sẽ đem lại lợi ích chống lũ, tiềm
năng du lịch, kích thích các loại dịch vụ phát triển. Vì vậy sự ra đời của
công trình thủy điện Bảo Lâm là hợp lý và cần thiết.
Về hiệu quả đầu tư của công trình, các phân tích hiệu quả kinh tế và
tài chính đã khẳng định công trình hoàn toàn khả thi về mặt kinh tế mang
lại hiệu ích cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời cũng mang lại lợi nhuận
cho Chủ đầu tư.
lợi cho dự án có thể xẩy ra, phân tích độ nhạy đã được thực hiện nhằm
mục đích khảo sát các tác động tới hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu tài chính
của dự án khi vốn đầu tư tăng 5% hoặc khi năng lượng giảm 5%. Kết quả
phân tích cho thấy dự án vẫn đạt hiệu quả cao cho Chủ đầu tư.
Các kết quả tính toán cho thấy công trình thủy điện Bảo Lâm khả thi
về mặt kỹ thuật và thi công tại mức giá bán điện 6.5cent/kwh. Bên cạnh đó
công trình thủy điện Bảo Lâm khi được xây dựng sẽ tạo cơ hội để phát triển
kinh tế cho khu vực, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm
cho người dân địa phương mang lại hiệu ích về mặt chính trị, kinh tế xã hội
cho khu vực dự án. Đáng kể nhất là đem lại lợi ích chống lũ cho khu vực. Như vậy với phương án có dung tích phòng lũ WPL=500 tr m3 thì hiệu quả cắt là giảm được khoảng (1200 m3/s) tương đương 15-:-20% đỉnh lũ.
Hồ Bảo Lâm với dung tích phòng lũ 500tr m3, sẽ làm giảm mực nước
97
tại Tuyên Quang khoảng 0,5m. Giảm mực nước tại Hà Nội khoảng 0,1m.
Vũ Lưu Chinh – CH2009
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Công trình thủy điện Bảo Lâm sớm đi vào vận hành sẽ sớm mang lại
lợi ích cho nền kinh tế quốc dân và cho Chủ đầu tư. Đề nghị các cơ quan
chủ quản xem xét để báo cáo này có thể tiến hành triển khai các giai đoạn
tiếp theo.
98
.

