intTypePromotion=3

Phân tích đặt điểm cấu tạo, khai thác kỹ thuật và sử dụng phanh động cơ, chương 18

Chia sẻ: Do Van Nga Te | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
71
lượt xem
15
download

Phân tích đặt điểm cấu tạo, khai thác kỹ thuật và sử dụng phanh động cơ, chương 18

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Những chỉ dẫn sau dùng khi tháo hay thay thế cánh tay đòn lực của bộ hút thu DYNOm ite. Sự lắp đặt một cánh tay đòn nặng hơn biểu thị bạn sẽ sử dụng DYNO dưới những điều kiện không tiêu chuẩn. Nhà sản xuất sẽ không chịu trách nhiệm về việc này, người lắp đặt sẽ chịu trách nhiệm cho sự bảo dưỡng và tình trạng kĩ thuật cho sự lắp đặt này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phân tích đặt điểm cấu tạo, khai thác kỹ thuật và sử dụng phanh động cơ, chương 18

  1. 1 Chương 18: Lắp đặt lại cánh tay đòn lực Những chỉ dẫn sau dùng khi tháo hay thay thế cánh tay đòn lực của bộ hút thu DYNOm ite. Sự lắp đặt một cánh tay đòn nặng hơn biểu thị bạn sẽ sử dụng DYNO dưới những điều kiện không tiêu chuẩn. Nhà sản xuất sẽ không chịu trách nhiệm về việc này, người lắp đặt sẽ chịu trách nhiệm cho sự bảo dưỡng và tình trạng kĩ thuật cho sự lắp đặt này.
  2. 2 Để tháo gỡ cánh tay đòn lực từ vỏ bộ hút thu, tháo 5 đinh vít , 5 vòng đệm khoá và hai bu lông an toàn. Chú ý vòng đệm khoá là ẩn giữa cánh tay đòn và vỏ bộ hút thu để phụ trợ như là những miếng đệm. Những đinh vít này được bảo đảm với Loc- te đỏ. Nung chúng cẩn thận với ngọn lửa propan để tránh làm gãy vỡ chúng khi tháo Để lắp lại cánh tay đòn, cẩn thận vị trí phân bổ của 5 vòng đêm khoá giữa vỏ stato bộ hút thu và cánh tay đòn lực để cho chúng đóng vai trò như những miếng đệm . Đặt một Loc-te đỏ xuống mỗi lổ ren của mỗi vít trong năm vít khung đã nói trên, lắp chúng xuyên cánh tay đòn, chắc rằng những miếng đệm khoá là không bị trượt ra ngoài. Momen xoắn của 5 vít này vào khoảng 80 inchpound. Đặt Loc-te đỏ xuống lổ ren của hai bu lông an toàn và lắp chúng xuyên cánh tay đòn, chắc rằng chúng không cọ xát vào cánh tay đòn khi nó uốn cong dưới tải trọng xoắn động cơ. Những miếng đệm khoá là không bị trượt ra ngoài. Mômen xoắn của hai vít vào khoảng 80 inchpound. Chú ý: không vượt quá momen xoắn cho phép trên hai bu lông an toàn nếu không sẽ phá huỷ chúng, vận hành mà không có hai bu lông an toàn thì bộ hút thu sẽ bổ nhào, nguy hiểm nếu cánh tay đòn rơi xuống lúc dyno đang thực hiện quá trình kiểm tra.
  3. 3 Nếu lắp một cánh tay đòn mới mà chưa từng lắp trước đây với máy tính thu nhận dữ liệu. Cần phải kiểm tra việc cài đặt (và khả năng thích nghi lại của cánh tay đòn nguyên thuỷ của máy tính) ưu tiên cho định cỡ lại. Nếu bạn không thay đổi cánh tay đòn lực bạn có thể bỏ qua những bước sau. Vận hành với nguồn AC (cung cấp ổn định điện áp khi định cỡ lại) và kết nối cánh tay đòn lực tới máy tính DYNOmite. Bật máy tính DYNOmite và làm ấm nó ít nhất 15 phút (để ổn định nhiệt độ bên trong ) . Tới màn hình trình đơn “RAW TORQUE” và kiểm tra rằng momen xoắn nguyên thuỷ đang hiển thị giữa 500 tới 1200. Nếu nó không thuộc khoảng đó bạn
  4. 4 có thể bỏ qua những bước sau và tới “Maintenance-Re- calibration”. nếu không thì theo quá trình sau: Nếu momen nguyên thuỷ là vượt quá 4000. Sẽ không có cánh tay đòn lực để lắp vào. Tạm thời không cấp nguồn cho máy tính dữ liệu DYNOmite. Mở lưng vỏ máy tính bằng việc tháo các vít vặn. Cẩn thận với hai phân nữa của vỏ, làm cẩn thận không giật mạnh vào dây nối của nó. Tìm sửa lại cho đúng mômen xoắn nguyên thuỷ. Nó là một đinh vít bằng đồng nhỏ trong một lổ đường kính 3/16” trên bản mạch điện của DYNOmite- nhãn hiệu STR+/- . Lổ này bên cạnh trái của bản mạch (giữ bản mạch để có thể đọc chữ của chúng vào khoảng phần nữa bên dưới ). Cấp nguồn lại cho DYNOmite và sử dụng một trục vít dẹp nhỏ xoay con vít để cài đặt “RAW TORQUE” vào khoảng giữa 500 tới 1200. Nên xoay con vít vài vòng trước khi “RAW TORQUE” thay đổi. Việc cài đặt này không tác động tới sự chuẩn xác của DYNOmite. Cắt nguồn ú c bạn lắp lại vỏ của nó. l DYNOmite trong Đi tới mục “Maintenance-Re- calibration”. 3.5 Vấn đề hỏng hóc
  5. 5 3.5.1 Hỏi và trả lời 1.Tại sao động cơ của tôi vượt công suất dyno thậm chí với việc mở hoàn toàn van tải ? Xem phần “Nguồn cung cấp nước”. 2. Tại sao không thể duy trì rpm đều đặn với van tải (ngoại trừ tại rpm rất cao hay rất thấp). Đây là điều bình thường với động cơ công suất lớn tại gần momen xoắn cực đại của rpm. Bởi vì momen xoắn giảm xuống tại hai cạnh của đường cong rpm. Bạn xoay thật nhanh nút điều khiển tải khi đó bạn đã xuyên qua dải rpm này. Vì vậy cần đoán trước hoạt động van như yêu cầu khi bạn gần tới rpm này, tránh việc bù quá
  6. 6 mức và thói quen!. Cộng thêm nhiều lực quán tính để đường dẫn cung cấp quá nhiều. 3.Tại sao động cơ khó khởi động lại sau khi một dyno vận hành? Đảm bảo những đường tháo (nước) của bộ hút thu chạy xuống dốc mà không có bất kì một sự cản trở nào vì thế nó tháo tự nhiên trong lúc vận hành. Đảm bảo đường thông chạy lên từ bộ hút thu và ngoài ra không bị chìm để ngăn cản nước. Để cho việc tháo nước nhanh của tất cả các đường ống nên được dìm hoàn toàn dưới nước. Hơn nữa sau một phiên vận hành nặng (khắc nghiệt) động cơ quá nóng cho việc khởi động dễ dàng. 4. Tại sao số đo công suất là không phù hợp? Đảm bảo đồng hồ đo DYNOmite đang trình bày đúng rpm động cơ. Đảm bảo đã lựa chọn chính xác cánh tay đòn lực để sử dụng và đã làm “zero” cánh tay đòn lực và không cần định cỡ lại cánh tay đòn lực. Đảm bảo tỉ số truyền cho momen chuẩn xác là cài đặt chính xác (thông thường nó cài đặt ở 1.000) . Đảm bảo đệm cánh tay đòn là nguyên vẹn không bị cắt ngắn. Đảm bảo rằng bạn đã áp dụng hệ số SAE hoàn toàn chính xác. Kiểm tra nhiệt độ động cơ là phù hợp khi vận hành (điều này có thể tạo sự khác biệt lớn và là một sự giảm công suất thật sự hay ngược
  7. 7 lại). Theo dõi khí xả có trở lại đường nạp của động cơ không. Cuối cùng có lẽ những gì bạn thấy là những gì bạn có được! 5. Tại sao số đo công suất và rpm là không liên tục? Đảm bảo đồng hồ đo đang hiển thị rpm đúng của động cơ trong suốt quá trình vận hành. Nếu bạn thấy rpm không thực (sử dụng “Time” để quay lại chế độ với dữ liệu trung bình thấp nhất cho việc chuẩn đoán) khi đó điện từ bộ phận đánh lửa lan truyền (nhiễu sóng vô tuyến) chắc chắn là thủ phạm chính. Trong nguyên nhân này, chắc chắn đường nối đất của DYNOmite là thật sự trên đường nối đất gần bộ đánh lửa (thân động cơ là nơi thích hợp nhất) .
  8. 8 Ngoài ra, đảm bảo rằng động cơ có cả đầu nối điện trở, dây dẫn có vỏ bọc hay cáp. Nó có thể giúp kết nối máy tính DYNOmite và động cơ ở xa khi kiểm nghiệm. 6. Tại sao số đo momen xoắn và công suất không liên tục ? Đảm bảo rằng không có bất kì sự thiếu hụt nước trong 4 ống nối cụm cánh tay đòn lực kết nối (sự thiếu hụt này làm số đo DYNOmite thấp), sự ăn mòn trên những đầu kết nối này hay sự đứt gãy tại những dây nối cánh tay đòn lực sẽ làm DYNOmite đọc cao. Không bỏ qua những sai sót này, cần ấn định lại! Đảm bảo tỉ số truyền cho momen xoắn chuẩn xác là được cài đặt chính xác (thông thường cài đặt là 1.000). 7. Tại sao không có bất kì số đo rpm nào? Kiểm tra đường nối màu vàng có được gắn tới một nguồn rpm thích hợp. Kiểm tra rằng cầu chì ¼ ampe (được đặt tại đường nối màu vàng bộ dây DYNOmite) là không chuyển sang màu nâu do sự vượt quá điện áp. Những nhà kĩ thật Land&Sea có thể hướng dẫn một bài kiểm tra đơn giản, sử dụng bộ sạc ắc qui của DYNOmite (như là một tín hiệu rpm giả) để kiểm tra lại hệ thống thu nhận dữ liệu và bộ dây mắc. Chú ý, không dùng một cầu chì cao hơn (1/4 ampe là cực đại). Nếu không bạn
  9. 9 có thể đốt cháy bộ sạc của DYNOmite và mạch điện của máy đo tốc độ góc. 8. Tại sao có sự cảnh báo vượt quá điện áp khi vận hành tại rpm cao? Dừng quá trình kiểm nghiêm ngay lập tức hay bạn sẽ làm cháy mạch bộ sạc DYNOmite và mạch bộ đo tốc độ góc. Nếu bạn đang ghi nhận số đo tốc độ góc từ hệ thống sạc điện của động cơ, chắc rằng bộ điều chỉnh điện áp động cơ là đang hoạt động. Khi không tải hầu hết máy phát điện AC sẽ tạo điện áp quá 20V tại rpm cao. Động cơ với một ắc qui nhỏ và không tải (tức là đèn,bơm nhiên liệu…). Bạn có thể lắp đặt một hay nhiều điện trở từ 100 ohm đến 500 ohm (2watt) trên đường nối màu vàng của DYNOmite. 100 ohm (nâu- đen- nâu- vàng)
  10. 10 200 ohm (đỏ- đen- nâu- vàng) 300 ohm (cam- đen- nâu- vàng) 500 ohm (xanh- nâu- nâu- trắng) Điện trở được gồm trong bộ dụng cụ DYNOmite cho mụch đích này (chú ý: điều này có thể làm giảm khả năng sạc điện của ắc qui bên trong DYNOmite khi vận hành ở rpm thấp). 9. Tại sao không có một dữ liệu nào được ghi chép trong suốt thời gian thực hiện bài kiểm nghiệm? Đảm bảo bạn nhấn nút Test để bắt đầu quá trình kiểm tra. Trên nhánh “Run set up”, đảm bảo tốc độ động để kích hoạt ghi chép là cao hơn tốc độ nhỏ nhất để ghi chép dữ liệu tại đó. Trên nhánh “out put”, nếu bạn đã cài dữ liệu trung bình khi quay lại = 0 (cho chế độ “RPM step” thay đổi tới 1). Nếu bạn có dữ liệu cài đặt tới 1 nhưng không tại chế độ “RPM step”, điều đó có nghĩa bạn quét xuyên đường cong công suất quá nhanh để có ít nhất 12 số đo trên bất kì số gia 100 rpm. Nếu sau khi thay đổi, vẫn không có những điểm dữ liệu, bạn có lẽ bị ảnh hưởng nhiễu sóng vô tuyến. 10. Tại sao rpm thay đổi khi kiểm nghiệm nhưng momen xoắn vẫn giữ nguyê n? Đảm bảo đường nối cánh tay đòn lực được chốt vào trong
  11. 11 bộ dây và việc kết nối là sạch và khô ráo. Như một sự kiểm tra nhanh, số đo momen xoắn sẽ thay đổi nếu bạn mở và đóng sự kết nối này. Có thể đã chọn sai nguồn momen xoắn khi lắp đặt. Nếu bạn đang dùng một bộ biến đổi, đảm bảo rằng đèn LED xanh của nó là sáng và những nút trên giao diện như “high”, “low” làm việc. 11. Tại sao đỉnh MPH in ra không phù hợp với MPH giữ lại của dải có được? Bạn có thể xác lập lại hệ số chuyển đổi tốc độ phương tiện vận chuyển ở máy tính DYNOmite cho phù hợp MPH. Nên nhớ rằng nếu bạn không giữ đúng thời hạn khi bạn đi xuyên những số liệu giữ, hay nếu bạn giữ gia tốc sau khi thiết bị của dải có được đã ghi chép tốc độ của bạn, hai tốc độ sẽ không phù hợp.
  12. 12 12. Tại sao chỉ có vài dòng dữ liệu in ra (hay không có) thậm chí khi DYNOmite nói có hàng ngàn điểm dữ liệu được ghi chép? Kiểm tra rằng bạn đang quay lại dữ liệu tại chế độ “Time” không phải tại chế độ “RPM” và dữ liệu trung bình được cài đặt là một con số có nghĩa giống như 20 (1/10 lần giây). Ngoài ra, chắc rằng bạn có cài đặt tới tốc độ đủ nhanh “ tốc độ ghi chép cài đặt trước khi kiểm nghiệm” (thường là 200 ghi chép trên giây) để thu đầy đủ và nhanh chóng hơn dữ liệu làm mềm dữ liệu quay lại. 13. Tại sao không RPM trục đỡ (hay MPH phương tiện vận chuyển) nào được trình bày mặc dù trục đang xoay? Đảm bảo cảm biến từ tính là dầy khoảng 3/32” vòng đai từ và chúng đồng tâm. Nếu bạn đang sử dụng một tia hồng ngoại thu lọc bộ chuyển đổi momen xoắn “trên- bản mạch”. Đảm bảo rằng bộ thu lọc xung là tại nơi đèn LED. Kiểm tra rằng dây nối là còn nguyên vẹn. 14. Tại sao số đo những nguồn nhiệt ngẫu là chập choạng khi đang kiểm tra ? Đó là điều bình thường. Bạn phải lắp mỗi đầu dò tại mỗi nguồn thêm vào hay những ngắt những đường nối tại điểm cuối những nguồn chưa sử dụng (để giữ chúng tới một số đo nhiệt độ thấp). 15. Tại sao lưu lượng nhiên liệu và BSFC dao động khá lớn thậm chí khi
  13. 13 bài kiểm tra tiến hành đều đặn? Bởi vì những đòi hỏi đặt trưng không đều của van kim và vòi phun, nơi đặt thiết bị điều khiển nhiên liệu phân phát (đặt biệt trên động cơ có buồng cacburator rung lắc lớn). Nhiên liệu phân phát vào động cơ tại bất kì lúc nào có thể không phù hợp để được phân phát vào buồng phao. Từ máy chuyển đổi đo lường chính xác sự phân phát vào buồng phao, nó là cần thiết để trung bình lưu lượng trên một thời gian dài đủ để cho 2 lưu lượng là phù hợp. Tổng quát, lưu lượng nhiên liệu được trung bình ít hơn trên một giây là một sự biểu thị không xác thực của lượng nhiên liệu chính xác cung cấp vào động cơ. Đó không là một khả năng chính xác của DYNOmite hay bộ chuyển đổi. Động cơ phun nhiên liệu là chủ đề cho sự rung động
  14. 14 trong đường nhiên liệu, chúng có thể tạo ra những vấn đề tương tự (nhưng ít hơn vài). Trong những nguyên nhân, những số đo cho độ tin cây khi gia tăng số lần trung bình (và lưu lượng). 16. Đặt ở đâu một bộ chuyển đổi lưu lượng nếu động cơ phun nhiên liệu và có một đường hồi dầu riêng biệt ngoài máy để điều chỉnhnhiên liệu của nó? Bạn phải đặt bộ chuyển đổi giữa lối ra máy điều chỉnh nhiên liệu và vòi phun nhiên liệu. Nếu bạn lắp nó trước máy điều chỉnh nhiên liệu bạn chỉ có thể đọc được liên tiếp lưu lượng đầy đủ của bơm nhiên liệu.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản