BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -------------- ĐOÀN TRUNG HIẾU
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN ÁI ĐOÀN
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả trình bày trong luận văn là kết quả tự
nghiên cứu của bản thân, không sao chép từ bất kỳ tài liệu nào có trước của
những người khác.
Tác giả luận văn
ĐOÀN TRUNG HIẾU
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của một thời gian dài nghiên cứu và làm việc để áp
dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS.
Nguyễn Ái Đoàn, sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo Viện Kinh tế và Quản
lý -Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, sự hỗ trợ chân tình của Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp đang công tác Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hòa Bình, Liên
minh Hợp tác xã tỉnh Hòa Bình cùng các cơ quan hữu quan.
Với tình cảm chân thành, người viết xin gửi lời cảm ơn đến:
- PGS.TS. Nguyễn Ái Đoàn là người Thầy hướng dẫn khoa học đã rất tận tình hướng dẫn và cho những lời khuyên sâu sắc không những giúp tôi hoàn thành luận văn
mà còn truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu về nghề nghiệp.
- Các thầy cô giáo của trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình giảng
dạy, hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt hai năm học để tôi có được những kiến thức ứng
dụng trong công tác và là cơ sở thực hiện luận văn này.
- Quý thầy cô đã dành thời gian quý báu để đọc và phản biện luận văn này,
xin cảm ơn những ý kiến nhận xét sâu sắc của quý thầy cô.
- Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp đang công tác Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Hòa Bình, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Hòa Bình cùng các cơ quan
hữu quan.đã đóng góp ý kiến quý báu cho việc hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ
bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót,
tác giả rất mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy cô và các bạn đồng
nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2012
Học viên
ii
ĐOÀN TRUNG HIẾU
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT ...................................................vi
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................vii
MỞ ĐẦU .............................................................................................................viii
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ
NÔNG NGHIỆP ....................................................................................................1
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP...............1
1.1.1. Khái niệm HTX và HTX nông nghiệp ....................................................1
1.1.2. Hợp tác xã nông nghiệp và các loại hình Hợp tác xã nông nghiệp ở nước
ta hiện nay........................................................................................................5
1.1.3. Sự cần thiết phát triển Hợp tác xã nông nghiệp hiện nay.........................7
1.1.4. Hoạt động của HTX nông nghiệp ......................................................... 12
1.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP ............................................................................................................ 13
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC XÃ
NÔNG NGHIỆP ................................................................................................ 14
1.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ......................................................... 14
1.3.2. Thị trường ............................................................................................ 15
1.3.3. Vai trò của khoa học công nghệ ............................................................ 15
1.3.4. Nguồn nhân lực .................................................................................... 16
1.3.5. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ..................................... 17
1.3.6. Công tác quản lý hỗ trợ của chính quyền địa phương............................ 18
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH .................................................. 19
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH
HÒA BÌNH........................................................................................................ 19
iii
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 19
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội ........................................................................ 19
2.1.2.1. Kinh tế ........................................................................................... 19
2.1.2.2. Dân số - lao động ........................................................................... 20
2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng ................................................................................. 21
2.1.2.4. Phát triển kinh tế xã hội.................................................................. 21
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH HÒA BÌNH .................................................................................... 22
2.2.1. Đánh giá chung tình hình phát triển hợp tác nông nghiệp tỉnh Hòa Bình
....................................................................................................................... 22
2.2.1.1. Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã tỉnh Hòa Bình..................... 22
2.2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển của các hợp tác xã nông
nghiệp tỉnh Hòa Bình.................................................................................. 29
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các HTX nông nghiệp tỉnh
Hòa Bình. ....................................................................................................... 38
2.2.2.1. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên. ................................................. 38
2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng, thị trường................................................................. 41
2.2.2.3. Khoa học công nghệ....................................................................... 42
2.2.2.4. Trình độ phát triển nhân lực ........................................................... 43
2.2.2.5. Cơ chế chính sách chung của Nhà nước và của tỉnh Hòa Bình........ 44
2.2.2.6. Công tác quản lý, hỗ trợ của chính quyền các cấp trong tỉnh Hòa
Bình............................................................................................................ 47
2.3. Kết luận chung. ........................................................................................... 48
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 ................................. 51
3.1. ĐỊNH HƯỚNG NHẰM PHÁT TRIỂN HTX NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH
HÒA BÌNH ....................................................................................................... 51
3.1.1. Cơ sở của những định hướng................................................................. 51
3.1.2. Định hướng và mục tiêu nâng cao hoạt động của các hợp tác xã
iv
nông nghiệp ở tỉnh Hòa Bình ......................................................................... 53
3.1.2.1. Định hướng .................................................................................... 53
3.1.2.2. Mục tiêu phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời gian tới ....... 55
3.1.2.3. Nhiệm vụ phát triển các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hòa
Bình trong giai đoạn 2010-2015.................................................................. 56
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2010-2015 ................................... 57
3.2.1. Đổi mới tư duy về nhận thức trong phát triển Hợp tác xã nông
nghiệp ............................................................................................................ 57
3.2.2. Thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa 60
3.2.3. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hợp tác
xã nông nghiệp ............................................................................................... 62
3.2.4. Lựa chọn mô hình Hợp tác xã nông nghiệp phù hợp với đặc điểm cụ thể
của từng huyện ............................................................................................... 65
3.2.5. Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà
nước ............................................................................................................... 65
3.2.5.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý ........................................................ 65
3.2.5.2. Hoàn thiện một số chính sách vĩ mô nhằm thúc đẩy phát triển Hợp tác
xã nông nghiệp ............................................................................................ 66
3.2.5.3. Kiện toàn bộ máy nhà nước đối với Hợp tác xã nông nghiệp .......... 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................. 70
v
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Hợp tác xã
HTX
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
TLSX Tư liệu sản xuất
Công nghiệp hóa
CNH
Hiện đại hóa
HĐH
ICA Liên minh HTX quốc tế
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
NSNN
Ngân sách nhà nước
ILO
Tổ chức Lao động quốc tế
NN
Nông nghiệp
DVTH
Dịch vụ tổng hợp
DN
Doanh nghiệp
KHCN
Khoa học công nghệ
vi
Bảng 2.1. Số lượng HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình...................................... 29
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2. Diện tích đất các HTX nông nghiệp đang quản lý và sử dụng ................ 29
Bảng 2.3. Tình hình tài sản của các hợp tác xã nông nghiệp điều tra .......................... 30
Bảng 2.4. Tình hình vốn quỹ của các hợp tác xã nông nghiệp................................ 31
điều tra tính đến năm 2010 .................................................................................... 31
Bảng 2.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các Hợp tác xã nông nghiệp
giai đoạn 2008-2010 .............................................................................................. 32
Bảng 2.6. Tổng hợp trình độ của cán bộ làm công tác............................................. 34
quản lý hợp tác xã nông nghiệp đến năm 2010 ....................................................... 34
Bảng 2.7. Năng lực điều hành của cán bộ quản lý và trình độ ................................ 35
xã viên của các hợp tác xã nông nghiệp điều tra .................................................... 35
Bảng 2.8. Phân loại các hợp tác xã nông nghiệp điều tra theo................................. 38
vii
loại hình sản xuất kinh doanh................................................................................. 38
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta
đã có những bước tiến vượt bậc. Sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp vốn
được coi là thế mạnh của Việt Nam cũng được Đảng và Nhà nước tập trung nguồn
lực để tạo ra sự đột phá.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới là chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước. Song có nhiều vấn đề lớn sẽ đặt ra như: phát triển các
doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp theo hướng nào; việc phát triển
hoạt động nông nghiệp hiện nay; bảo vệ thành quả của cải cách ruộng đất…
Năm 2005 khu vực kinh tế HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình có giá trị
GDP là 13,04 tỷ đồng, năm 2010 là 13,94 tỷ đồng. Như vậy, trong 5 năm khu vực
này chỉ tăng được 0,9 tỷ đồng. Điều đó chứng tỏ, khu vực kinh tế hợp tác, HTX
nông nghiệp phát triển chưa thật sự ổn định. Xét về mặt đóng góp thì kinh tế hợp
tác, HTX nông nghiệp mới chỉ cộng vào tổng GDP của tỉnh mỗi năm khoảng 1%.
Qua một vài con số chứng minh trên đây có thể thấy, những đóng góp của
kinh tế hợp tác, HTX nông nghiệp cho địa phương còn chưa nhiều, chưa tương
xứng với vai trò là chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Có thể chỉ ra hàng loạt những
tồn tại cần phải tháo gỡ trong phát triển kinh tế hợp tác, HTX nông nghiệp : tiềm
lực kinh tế khu vực này còn yếu, tài sản vốn, quỹ ít. Số HTX hoạt động hiệu quả
chưa nhiều, trong khi số HTX yếu kém chiếm tỷ lệ cao. Trong đó, đáng lưu ý là còn
một số HTX hoạt động mang tính hình thức, chưa được củng cố hoặc phải giải thể.
Tình trạng một số HTX thành lập mới không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn mà ra
đời với mục đích để được hưởng chính sách vay vốn ưu đãi hoặc đón các chương
trình tài trợ của tỉnh còn khá nhiều. Vì thế, khi phải bước vào hạch toán độc lập thì
các HTX này tỏ ra lúng túng và bị rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng.
Từ thực tiễn trên tôi lựa chọn Đề tài nghiên cứu: Phân tích và đề xuất một số
viii
giải pháp phát triển kinh tế HTX nông nghiệp ở tỉnh Hòa Bình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp nhằm tìm ra những
tiềm năng, ưu thế và những mặt hạn chế trong quá trình sản xuất kinh doanh của các
HTX. Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các
HTX nông nghiệp tại địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về kinh tế hợp tác, HTX nói chung và HTX
nông nghiệp nói riêng.
Đánh giá thực trạng về tổ chức và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
các HTX nông nghiệp trước và sau Luật HTX năm 2003 trên cơ sở phân tích các
nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Đưa ra các giải pháp chủ yếu, định hướng phát triển nhằm xây dựng mô hình
các HTX nông nghiệp trên địa bàn phù hợp với đặc điểm, điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX
nông nghiệp.
Đối tượng khảo sát: các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung, phương thức
tổ chức hoạt động, phương thức tổ chức quản lý điều hành, phương thức tổ chức sản
xuất kinh doanh…của các HTX nông nghiệp.
Về không gian: Đề tài nghiên cứu HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
Về thời gian: Đánh giá thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp trong
thời gian từ năm 2009 - 2011 ở địa phương. Để từ đó có các định hướng và giải
ix
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các HTX nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
Đề ra các giải pháp có tính khoa học, thực tiễn về phát triển HTX nông
nghiệp tỉnh Hòa Bình nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém trong công tác tổ
chức, điều hành hoạt động của các HTX nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Đưa ra những nhận định chủ quan và những đề xuất về cơ chế, chính sách
nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định kinh tế xã hội khu vực nông thôn,
giảm khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, phát huy lợi thế, tiềm
năng sản phẩm nông nghiệp của địa phương trên thị trường trong và ngoài nước.
5. Bố cục luận văn
Ngoài 2 phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển các hợp tác xã nông nghiệp .
Chương 2: Thực trạng phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp trên
địa bàn tỉnh Hòa Bình.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển HTX nông nghiệp ở tỉnh Hòa
x
Bình trong giai đoạn 2010-2015.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN CÁC
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm HTX và HTX nông nghiệp
* Hợp tác xã
Một trong những hình thức liên kết giữa các chủ thể đó là thành lập HTX. HTX
được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã
viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần. Mỗi xã viên có quyền như
nhau đối với công việc chung. HTX là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất
và các hoạt động kinh tế, gắn liền với sự phát triển kinh tế và bị ràng buộc và quy
định bởi sự tiến triển trong quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người
và phải thích ứng với tiến trình phát triển kinh tế đó. HTX phải tạo ra xung lực tăng
năng suất lao động và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Xuất phát từ thực tiễn nước ta kinh tế HTX sẽ tồn tại và phát triển dưới nhiều
hình thức đa dạng, từ thấp đến cao. Chẳng hạn, có những HTX trở thành lĩnh vực
hoạt động chính của các thành viên. Có những HTX chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu chung
về một hay một số dịch vụ trong quá trình sản xuất hoặc chuyên sản xuất kinh doanh
một sản phẩm nhất định, thành viên tham gia chỉ đóng góp một phần vốn và lao động,
hộ gia đình vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ. HTX là kết qủa liên kết theo chiều dọc, chiều
ngang hoặc hỗn hợp, không bị giới hạn bởi địa giới hành chính và lĩnh vực kinh doanh.
Mỗi người lao động, mỗi hộ gia đình có thể tham gia đồng thời vào nhiều loại hình
kinh tế hợp tác. HTX có tư cách pháp nhân có thể nhân danh mình huy động vốn, lao
động… ở bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau để phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Xuất phát từ khái niệm kinh tế hợp tác, nhiều tổ chức và các nhà kinh tế đã
đưa nhiều khái niệm về HTX, cụ thể:
Liên minh HTX quốc tế đưa ra khái niệm như sau: “Hợp tác xã là một tổ
chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và
1
nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp
cùng sở hữu và quản lý dân chủ”.
Còn Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng: “ Hợp tác xã là sự liên kết của
những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên
kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà
họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết
những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ chịu trách nhiệm và bằng cách sử
dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất
và tinh thần chung”.
Sự giống nhau ở hai khái niệm trên đều cho rằng HTX là một tổ chức được
hình thành trên cơ sở sự liên kết tự nguyện của các thành viên, được vận hành và
quản lý trên cơ sở dân chủ và sự đồng thuận nhằm đạt mục tiêu mang lại lợi ích chung
cho các thành viên. Tuy vậy, với khái niệm do Liên minh HTX quốc tế nhấn mạnh
đến yếu tố hợp tác giữa các thành viên trong quá trình thành lập và điều hành các
HTX để phục vụ lợi ích chung, còn với khái niệm HTX do Tổ chức Lao động quốc tế
lại nhấn mạnh cơ sở của sự hợp tác giữa các thành viên là để khắc phục sự khó khăn
khi hoạt động riêng lẻ, với sự liên kết này đã mang lại lợi ích chung cho tập thể.
Theo luật của các nước cũng cho thấy một số đặc điểm cơ bản của HTX như
sau:
Thứ nhất, HTX là sự liên kết của những người cùng tham gia.
Thứ hai, HTX là một tổ chức kinh doanh.
Thứ ba, HTX là một đơn vị kinh doanh được quản lý theo nguyên tắc dân chủ.
Thứ tư, mục đích của HTX là phục vụ lợi ích chung của các xã viên và lợi ích
cộng đồng.
Ở nước ta, trong Luật HTX năm 2003 có định nghĩa như sau: “Hợp tác xã là tổ
chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã
viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của
Luật HTX để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng
giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời
2
sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp
nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều
lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.
Từ các khái niệm về HTX, có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản về HTX
như sau:
Hợp tác xã là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động kinh
tế. Mục tiêu của HTX là phát triển được sức sản xuất xã hội, tiết kiệm lao động,
tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điều
kiện mới.
Việc thành lập HTX không làm mất đi tính tự chủ vốn có của các bên tham
gia, trái lại nó tăng thêm sức mạnh tổng lực và phát triển được những ưu thế của
phương thức HTX.
Thành lập HTX là tạo ra đòn bẩy để phát triển kinh tế các chủ thể kinh tế tự
chủ. HTX là việc liên kết nhau lại giữa các chủ thể kinh tế tự chủ tạo ra sức mạnh
mới, thông qua đó phát triển được kinh tế của mình. Như vậy khi thành lập HTX
mới không phải vì kinh tế HTX mà là sự phát triển kinh tế của các thành viên. Do
đó, kinh tế HTX là tổ chức kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế tự chủ. Kinh
tế HTX thể hiện được bản chất tự do lựa chọn phương thức hoạt động kinh tế của
họ trong điều kiện kinh tế thị trường vì kinh tế thị trường thì các chủ thể kinh tế tự
chủ họ có nhiều cách để đạt tới mục đích kinh tế của mình. Như vậy, trong điều kiện
mới, các chủ thể kinh tế tự chủ họ có thể tham gia HTX hoặc không, khi HTX không
đáp ứng yêu cầu của họ.
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể nhận định rằng: Hợp tác xã là tổ
chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Hình thành HTX là một quá
trình hoàn toàn tự nhiên từ những đòi hỏi, nhu cầu thực tế của con người trong các
hoạt động kinh tế.
* Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp
Sự liên kết tự nguyện giữa các chủ thể kinh tế là nền tảng cơ bản hình
3
thành HTX. Sự liên kết được thực hiện ở tất cả các hoạt động sản xuất và kinh
doanh. Từ đó hình thành HTX ở hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân
trong đó phải kể đến sự liên kết tự nguyện trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và
hình thành các HTX nông nghiệp.
Cũng giống như bất cứ quá trình sản xuất nào trong nền kinh tế thị
trường, hoạt động sản xuất nông nghiệp đều diễn ra các khâu như: bắt đầu từ việc
nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường, đến việc chuẩn bị và kết hợp các yếu tố
đầu vào trong quá trình sản xuất, kết thúc bằng việc phân phối sản phẩm để thu
tiền về. Chính vì thế là đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ và độc lập, các HTX
nông nghiệp vẫn phải tiến hành đầy đủ các khâu trong quá trình kinh doanh nhằm
mang lại lợi ích cho mình. Tuy vậy, khi tham gia vào thị trường để nâng cao sức
cạnh tranh thì HTX phải phát huy thế mạnh của mình từ sự liên kết và hợp tác. Do
đó, xét về mặt tổ chức sản xuất các HTX sẽ phân chia các khâu của qúa trình sản
xuất để tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và kinh doanh. Trên cơ sở chuyên môn
hoá sẽ hình thành một hệ thống các HTX nông nghiệp, trong đó bao gồm các HTX
thực hiện một hoặc một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất để tạo ra lương thực
- thực phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy, có thể có các HTX tiến hành
nghiên cứu, dự báo thị trường nông sản - thực phẩm, HTX cung ứng các yếu tố phục
vụ sản xuất như: vốn, máy móc thiết bị, điện, nước, phân bón, thuốc trừ sâu… và các
HTX phục vụ việc bán hàng và phân phối hàng hoá thậm chí cả các HTX cung cấp
lao động.
Như vậy ta có thể hiểu: Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tự
chủ được các thành viên thành lập trên cơ sở tự nguyện, tiến hành các hoạt động
sản xuất hoặc cung ứng các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất nhằm tạo ra các sản
phẩm nông, lâm, thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Chính vì vậy, sự liên kết để hình thành lên HTX là các thành viên đó là các
hộ gia đình nông nghiệp hoặc các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Do sự khó khăn vì hoạt động đơn lẻ đã tự nguyện tiến hành hợp tác để có sức mạnh
tổng hợp và mong muốn đạt được lợi ích lớn hơn. Từ đó làm phát huy tinh thần
4
đoàn kết làm giàu cho gia đình và địa phương.
1.1.2. Hợp tác xã nông nghiệp và các loại hình Hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta
hiện nay
Hợp tác xã nông nghiệp là một loại hình kinh tế tập thể trong nông nghiệp do
những người nông dân tự nguyện thành lập nhằm mục đích trợ giúp các hoạt động
sản xuất nông nghiệp của họ thông qua cung cấp các dịch vụ giá rẻ do lợi thế về quy
mô và chuyên môn hoá hoạt động. “HTX nông nghiệp ra đời trên nền tảng kinh tế
hộ nông dân”.
Ngoài những đặc điểm của HTX kiểu mới nói chung, HTX nông nghiệp còn
có những đặc điểm đặc thù về kinh tế - xã hội của nông nghiệp, nông thôn như:
+ HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập hợp đông đảo nông dân chủ yếu ở
nông thôn - lực lượng lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xã hội ở các nước
đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng.
+ HTX nông nghiệp là một tổ chức kinh tế của những người hạn chế về trình
độ dân trí, vốn, cơ sở vật chất- kỹ thuật so với các loại hình doanh nghiệp khác. Do
đó, đòi hỏi sự giúp đỡ của Nhà nước về cơ sở vật chất, về tổ chức quản lý đối với
HTX nông nghiệp là một tất yếu.
+ Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi. Nên trong quá
trình hoạt động kinh doanh của mình, HTX nông nghiệp vừa bị chi phối bởi các quy
luật kinh tế, vừa bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên nên thường làm cho các HTX
nông nghiệp phải chịu rủi ro lớn, hiệu quả kinh tế và lợi nhuận thấp nên tích luỹ ít
và chậm. Qua đặc điểm này cho thấy, những lĩnh vực sản xuất, những khâu công
việc trực tiếp tác động vào cây trồng vật nuôi thì việc tổ chức sản xuất, tổ chức lao
động trong từng hộ nhìn chung là phù hợp và tỏ ra có sức sống, có hiệu quả kinh tế
cao hơn là tổ chức sản xuất tập thể trong các HTX quy mô lớn.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, HTX nông nghiệp kiểu mới
ra đời là vì kinh tế nông hộ, chứ không phải để thay thế kinh tế nông hộ, ngược lại
kinh tế nông hộ là "tế bào" là cơ sở tồn tại của kinh tế HTX nông nghiệp kiểu mới.
Tuỳ theo đặc điểm của mỗi nước và nhu cầu cụ thể của những người tham
5
gia, do đặc điểm của từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh mà
HTX được xây dựng theo một mô hình nào đó nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra, vì vậy
các loại hình HTX rất đa dạng.
Nhìn chung về loại hình HTX trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta và thực tiễn hoạt động của HTX nông nghiệp kiểu mới, chúng ta
có thể khái quát HTX nông nghiệp với các mô hình sau:
Loại thứ nhất, HTX nông nghiệp làm dịch vụ: loại hình HTX nông nghiệp
được tách hẳn để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, bao gồm dịch vụ các yếu tố
đầu vào như: HTX cung ứng vật tư (giống, phân bón, thuốc trừ sâu...); dịch vụ các
khâu cho sản xuất nông nghiệp như: dịch vụ làm đất, tưới tiêu, bảo vệ thực vật...;
dịch vụ quá trình tiếp theo của sản xuất nông nghiệp như: dịch vụ chế biến, bảo
quản, thu mua, tiêu thụ sản phẩm…
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ
nên hoạt động dịch vụ của HTX nông nghiệp là hình thức thích hợp, phổ biến có
hiệu quả thiết thực hiện nay. Tuy nhiên theo tính chất của từng ngành, từng vùng, từ
yêu cầu hợp tác và phân công lao động để lựa chọn các hình thức thích hợp.
Ngay trong mô hình HTX dịch vụ cũng được phân thành nhiều hình thức
như HTX dịch vụ chuyên khâu, HTX kinh doanh dịch vụ tổng hợp (thực hiện nhiều
khâu dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp, kể cả dịch vụ cho đời sống nông dân).
Loại thứ hai, HTX vừa làm dịch vụ vừa tổ chức sản xuất tập trung ở các
mức độ và quy mô khác nhau (thường gọi HTX sản xuất kinh doanh dịch vụ tổng
hợp).
Các HTX loại này thường tồn tại dưới dạng HTX chuyên môn hóa theo sản
phẩm. Đó là HTX chuyên ngành, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ. Loại hình
này phổ biến nhất là các HTX nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi gia súc tập trung,
trồng rừng... Còn trong lĩnh vực trồng trọt, phổ biến hiện nay hộ nông dân trực tiếp
sản xuất, ngoài ra còn có loại HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản
phẩm.
Loại thứ ba, là các HTX sản xuất tập trung như HTX chăn nuôi hay trồng
6
trọt... Đây là loại hình HTX, trong đó các TLSX chính được tập thể hóa, lao động
được tổ chức theo hướng chuyên môn hóa dưới sự điều hành và chỉ đạo chung của
Ban Quản trị, loại hình này ở nước ta trong thời kỳ bao cấp là phổ biến, hiện nay và
trong tương lai gần đang có xu hướng giảm xuống.
Với những loại hình HTX nông nghiệp nêu trên tùy theo đặc điểm của
ngành, trình độ sản xuất các hộ nông dân, điều kiện của từng địa phương mà lựa
chọn loại hình HTX sao cho có hiệu quả, thiết thực, đặc biệt HTX thực sự là "bà
đỡ" cho kinh tế hộ phát triển, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn.
1.1.3. Sự cần thiết phát triển Hợp tác xã nông nghiệp hiện nay
+ Phát triển HTX nông nghiệp là yêu cầu khách quan và con đường phát
triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân trong nền kinh tế thị trường nước ta
Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của hộ nông dân ngày càng gắn chặt với thị
trường trong và ngoài nước. Những cơ hội lớn cho sự phát triển do hội nhập kinh tế
quốc tế mang lại diễn ra cùng với những thách thức không nhỏ như cạnh tranh
quyết liệt hơn; nguy cơ tụt hậu, nghèo đói gia tăng, cách biệt mở rộng, đặc biệt hàng
triệu hộ gia đình nông dân, cơ sở sản xuất nhỏ và kể cả không ít doanh nghiệp sẽ
đứng trước nguy cơ phá sản và bị gạt ra ngoài rìa sự phát triển. Để thích ứng với thị
trường, hộ nông dân buộc phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
trên cơ sở thường xuyên cải tiến kỹ thuật canh tác, nâng cao chất lượng sản phẩm,
đồng thời phải thâm canh, đa dạng hóa sản xuất để tránh những rủi ro của thị trường
đưa lại, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu kinh tế giữa các
vùng trong nước và nước ta với nước ngoài như hiện nay.
Những thách thức đó đã đặt ra yêu cầu đối với những người lao động riêng lẻ
nói chung và hộ nông dân nói riêng phải liên kết, hợp tác với nhau để tồn tại và phát
triển. Sản xuất hàng hóa càng phát triển bao nhiêu thì nhu cầu hợp tác càng lớn bấy
nhiêu. Sự hợp tác mang lại cho kinh tế hộ nông dân thêm vốn, nhân lực, kinh
nghiệm sản xuất, từ đó tạo ra thuận lợi để áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng
cao năng suất lao động, mở rộng thị trường… bởi lẽ đó là hình thức hiệu quả để
7
chống lại sự chèn ép mua rẻ bán đắt của tư thương, chống tình cảnh cho vay nặng
lãi của những người kinh doanh tiền tệ, chống tình trạng mua bán lúa non và các
hình thức bóc lột khác.
Trong bối cảnh đó HTX nông nghiệp đã trở thành một trong những hình thức
hợp tác hiệu quả giúp nông dân vượt qua thách thức của kinh tế thị trường. HTX
nông nghiệp là nhịp cầu đưa kinh tế hộ nông dân từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn có
sức cạnh tranh. HTX nông nghiệp là sự bổ sung cho kinh tế hộ nông dân, phục vụ
đắc lực cho sự phát triển của kinh tế hộ nông dân.
+ Phát triển hợp tác xã nông nghiệp tạo thuận lợi đẩy nhanh quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Phát triển HTX nông nghiệp tạo nên sự phân công lao động và tổ chức lao
động mới, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông
thôn, đồng thời HTX nông nghiệp trên cơ sở tích lũy vốn đủ sức hoạt động sản xuất
kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng và có điều
kiện để ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất, đặc biệt ứng dụng cơ
giới hóa, thủy lợi hóa, công nghệ sinh học, điện khí hóa, thị trường hóa, tạo điều kiện
để tăng quy mô sản xuất hàng hóa lớn thích ứng với nhu cầu thị trường, hạn chế và
khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán ở nước ta hiện nay.
+ Phát triển HTX - con đường để xóa đói, giảm nghèo bền vững ở khu vực
nông thôn
HTX với những nguyên tắc tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công
bằng và đoàn kết, với những giá trị đầy tính nhân văn như trung thực, cởi mở, trách
nhiệm với xã hội và quan tâm đến mọi người. Chính bởi những đặc điểm đó mà
HTX đặc biệt phát triển trong những lĩnh vực mang tính cộng đồng, với tinh thần
tương thân, tương ái, cùng giúp nhau thoát khỏi đói nghèo và vươn lên làm giàu cho
mình và cho xã hội.
HTX không đơn thuần hỗ trợ thành viên của mình theo kiểu giúp “con cá” mà
trao cho họ “cần câu” – đó là tạo cơ hội việc làm, hỗ trợ vốn để phát triển sản xuất
8
kinh doanh, hướng dẫn thông tin để định hướng hoạt động giúp họ và cũng tự giúp
nhau cùng vươn lên thoát khỏi đói nghèo. Đó là cách xoá đói giảm nghèo bền vững
và ổn định nhất.
Nguyên tắc thành viên tự nguyện và mở rộng có nghĩa HTX mở rộng đối với
cả người nghèo. Lợi nhuận được chia cho xã viên phần lớn là trên cơ sở mức độ sử
dụng của HTX và công sức đóng góp của họ tạo ra, có nghĩa là người nghèo là xã
viên được bình đẳng với các xã viên khác trong phân phối thu nhập. Các nguyên tắc
HTX liên quan đến quyền bỏ phiếu công bằng và lợi nhuận giới hạn về vốn có
nghĩa là HTX xem trọng nhân tố con người và quyền bình đẳng cho xã viên nghèo.
Như vậy, về mặt lý luận, HTX là “các tổ chức kinh tế coi trọng đạo đức” vì thế
HTX có nhiều lợi thế trong tham gia xóa đói giảm nghèo.
Nguyên nhân của việc đói nghèo có nhiều, trong đó có những nguyên nhân mà
chính các HTX có khả năng giải quyết được tận gốc, đó là: thiếu vốn lưu động, rủi
ro vì không được bảo hiểm, thiếu thông tin, thiếu kỹ năng quản lý tài sản chung,
thiếu hiểu biết về pháp luật... Thực tế từ kết quả của phong trào thi đua “HTX tiên
phong trong xóa đói giảm nghèo” do Liên minh HTX phát động đã cho thấy đây là
mô hình có vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn. Hơn
bất cứ tổ chức nào, HTX là tổ chức duy nhất có khả năng tiếp cận trực tiếp tới
người dân, nắm bắt được nhu cầu của họ và cung cấp cho họ những dịch vụ phù hợp
nhất, với chi phí thấp nhất. Thông qua các hoạt động tài chính vi mô, các HTX đã
giúp xã viên thoát khỏi tình trạng đi vay nặng lãi, tín dụng “chợ đen”, qua đó có vốn
sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề, đẩy lùi nghèo đói và vươn lên khá giả.
HTX tạo thêm việc làm và thu nhập cho người nghèo; tổ hợp tác, HTX có số
lượng lớn và phân bổ rộng khắp các vùng dân cư, vùng miền của cả nước, là khu
vực tạo ra hàng chục triệu việc làm ổn định cho người lao động, với đòi hỏi không
khắt khe về chuyên môn, kỹ thuật, năng lực, phương tiện đi lại, phương tiện làm
việc. Do vậy, người lao động nghèo có nhiều cơ hội tham gia để tạo việc làm, có thu
nhập, giải quyết đói nghèo và tiến tới làm giàu chính đáng.
HTX góp phần nâng cao năng lực sản xuất cho người nghèo về trình độ kỹ
9
thuật, công nghệ sản xuất; hướng dẫn các hộ xã viên ứng dụng khoa học, công nghệ
mới vào sản xuất, áp dụng công nghệ kỹ thuật cao để phát triển sản xuất theo chiều
sâu. HTX tạo ra phong cách sản xuất mới ở khu vực nông thôn đó là quá trình
chuyên môn hóa và hiện đại hóa, hình thành các HTX chuyên canh, chuyên ngành
(HTX trồng rau sạch, HTX trái cây, HTX chăn nuôi...) để sản xuất gắn với nhu cầu
thị trường, tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế và xóa bỏ cung cách làm ăn riêng lẻ,
“tự cung, tự cấp”, từ đó xóa nghèo bền vững hơn. HTX cũng là cơ hội cho các hộ
nghèo phát triển ngành nghề thông qua quá trình tập trung vốn và mở rộng sản xuất,
dạy nghề cho người lao động, cũng như tạo việc làm và thu nhập cho họ nhờ tổ
chức sản xuất các ngành nghề mới.
HTX bảo đảm an sinh xã hội và bình đẳng giới cho người nghèo; hỗ trợ người
nghèo tiếp cận các dịch vụ về an sinh xã hội; tạo cơ hội cho phụ nữ tiếp cận các
nguồn lực, tạo việc làm và phát triển kinh doanh.
+ Phát triển hợp tác xã nông nghiệp tạo điều kiện để xây dựng nông thôn mới
Kinh tế tập thể là hình thức tổ chức kinh tế mang tính xã hội hóa cao hơn
kinh tế cá thể hộ gia đình, là nhân tố quan trọng để xây dựng xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, giáo dục ý thức tập thể và đoàn kết cộng đồng.
Ngoài mục tiêu kinh tế, HTX nông nghiệp còn thực hiện các mục tiêu xã hội
quan trọng. Hợp tác xã góp phần xây dựng tình đoàn kết xóm làng, tinh thần tương
thân tương ái, xây dựng cộng đồng xã hội tốt đẹp ở nông thôn, góp phần xoá đói
giảm nghèo, bảo vệ an ninh trật tự xã hội, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa
tốt đẹp của dân tộc. HTX là hình thức tổ chức kinh tế quan trọng để người lao động,
hộ xã viên tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhà nước, liên kết với doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế, thực hiện liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng trong
tiến trình đi lên xây dựng XHCN.
Ngoài ra, nhờ phát triển hợp tác xã nông nghiệp mới tạo ra quy mô sản xuất
hàng hóa lớn thích ứng với nhu cầu của thị trường, hạn chế và khắc phục dần tình
trạng sản xuất nhỏ, phân tán, manh mún, mang nặng tính tự cung, tự cấp của kinh tế
hộ còn đang phổ biến ở nước ta hiện nay. Đồng thời, Hợp tác xã nông nghiệp là một
10
tổ chức kinh tế của nông dân đồng thời là một trường học thực tế để nâng cao trình
độ của người lao động và đào tạo, rèn luyện những cán bộ quản trị kinh doanh đáp
ứng yêu cầu của kinh tế thị trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
+ Hợp tác xã là kiểu làm kinh tế phổ biến của nhiều nước trên thế giới
Lâu nay khi nói đến vấn đề kinh tế HTX người ta lầm tưởng rằng đây là loại
hình kinh tế riêng có của XHCN. Nước nào đi lên XHCN thì phải phát triển kinh tế
HTX. Do đó, Việt Nam là nước phát triển theo định hướng XHCN nên phát triển
theo loại hình này.
Thực tế đã chứng minh rằng, HTX đầu tiên trên thế giới đã ra đời vào năm
1761 tại Anh, rồi đến Đức vào năm 1846, Ấn Độ 1889 và ở Thái Lan vào năm
1915. Mặc dù HTX ra đời trước XHCN hiện thực, nhưng được coi là một loại hình
kinh tế của XHCN và được áp dụng ở Việt Nam nó là một trong những hình thức
phù hợp để thực hiện xã hội hoá đối với sản xuất nhỏ nói chung và sản xuất nhỏ
trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng.
Thực tiễn cho thấy kinh tế HTX trên thế giới đã ra đời và tồn tại gần 20 năm,
lúc mới hình thành HTX thường chỉ là những người nghèo ít vốn, sản xuất nhỏ, một
mình kinh doanh khó khăn, giá cả cao, khả năng cạnh tranh thấp, họ muốn hợp tác
lại với nhau để tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường... Nhưng về sau
HTX phát triển lên trở thành những tập đoàn kinh tế mạnh. Theo báo cáo của Liên
minh HTX quốc tế (ICA) hiện nay trên thế giới đã có 95 nước có phong trào HTX,
HTX có ở tất cả các châu lục và đã có 95 nước là thanh viên của ICA.
Như vậy, sự hợp tác của những người sản xuất nhỏ, những người làm ăn
riêng lẻ để phát triển lực lượng sản xuất, phục vụ lợi ích cộng đồng, tăng sức cạnh
tranh, chống lại sự chèn ép của các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế thị trường là
một quy luật phổ biến của tất cả các nước trên thế giới.
Tóm lại: Phát triển kinh tế hợp tác và HTX không phải chỉ để giúp những
người sản xuất nhỏ có đủ sức cạnh tranh, chống lại sự chèn ép của doanh nghiệp lớn
mà về lâu dài cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc
11
dân. Phát triển kinh tế hợp tác và HTX không chỉ vì mục đích kinh tế, mà còn có
mục đích xã hội là tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, tương trợ giúp
đỡ nhau trong cuộc sống, góp phần xây dựng nông thôn mới.
1.1.4. Hoạt động của HTX nông nghiệp
* Mục đích
Làm tốt dịch vụ cho sản xuất phát triển, góp phần nâng cao thu nhập cho
nông dân và tích lũy để xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn.
Nâng cao tốc độ tăng trưởng, đưa kinh tế tập thể cùng với kinh tế các thành
viên và kinh tế hộ xã viên đóng góp ngày càng cao trong tỷ trọng nền kinh tế.
Góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời sống
vật chất, tinh thần của các thành viên và cộng đồng dân cư địa phương, nhất là
vùng nông thôn.
* Các nguồn lực của HTX
Hiện nay, cả nước có 13,8 triệu hộ nông thôn, trong đó 9,8 triệu hộ nông,
lâm, ngư nghiệp; 1,37 triệu hộ tiểu thủ công nghiệp, xây dựng; 2,04 triệu hộ thương
nghiệp, vận tải và dịch vụ khác; trong số hộ nông dân có 1,3 - 1,5 triệu hộ kiêm
ngành nghề. ở thành thị, có trên 4,72 triệu hộ; trong đó có hàng triệu hộ sản xuất,
kinh doanh nhỏ, hàng triệu người lao động tự do trong các lĩnh vực tiểu thủ công
nghiệp, xây dựng, vận tải, thương mại, dịch vụ. Phát triển hợp tác xã cần tiếp tục
chú trọng vào những tầng lớp và đối tượng này, để họ cùng giúp nhau làm ăn, tạo
việc làm, tăng thu nhập, phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong
điều kiện kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, các hộ sản xuất hàng hóa, các cơ sở
kinh doanh nhỏ và vừa trong mọi lĩnh vực, ngành nghề đang và sẽ phát triển nhanh,
thay thế dần các hộ gia đình hoạt động kinh tế theo lối tự cung tự cấp. Ngoài ra,
trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và hội nhập, nhu cầu hợp tác sẽ trở thành cấp
thiết đối với họ. Do vậy, phát triển hợp tác xã cũng cần phải hướng tới liên kết rộng
rãi các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp cực nhỏ, nhỏ và vừa thuộc mọi
12
lĩnh vực, thành phần kinh tế.
* Hình thức tổ chức quản lý ở các Hợp tác xã nông nghiệp
Các HTX nông nghiệp thực hiện quản lý dựa trên việc hình thành ba định
chế cơ bản đi từ dân chủ đến tập trung đó là: Đại hội xã viên, ban quản trị, ban kiểm
soát. Trong đó đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất và thực hiện quyền lực
của mình dựa trên nguyên tắc dân chủ tổng hợp quyền lực của các xã viên, thể hiện
ở chỗ có quyền quyết định mọi vấn đề về tổ chức, hoạt động của HTX, có quyền lập
ra ban quản trị, ban kiểm soát, chủ nhiệm HTX cũng như các chức danh quan trọng
khác.
Ban quản trị HTX nông nghiệp có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thực hiện
kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ huy động vốn trong HTX nông nghiệp. Ban
quản trị có quyền lựa chọn kế toán trưởng, cơ cấu tổ chức và các bộ phận nghiệp vụ,
chuyên môn HTX
Ban kiểm soát thực hiện quyền giám sát, kiểm tra ban quản trị và xã viên
trong việc thực hiện nghị quyết của đại hội xã viên.
Chủ nhiệm HTX đại diện trước pháp luật để quan hệ đối ngoại, chủ động
điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, được quyền triệu tập các
cuộc họp ban quản trị để thảo luận và quyết định các vấn đề phát sinh.
1.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP
Mục đích của các HTX nông nghiệp là làm tốt dịch vụ cho sản xuất phát
triển, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân và tích lũy để xây dựng cơ sở hạ
tầng ở nông thôn. Qua đó góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm,
cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của các thành viên và cộng đồng dân cư địa
phương, nhất là vùng nông thôn. Việc đánh giá sự phát triển của các HTX nông
nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
- Quy mô và các kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh mà các HTX nông
nghiệp đang thực hiện.
- Lĩnh vực tổ chức quản lý: bộ máy tổ chức hoạt động Ban quản trị
13
HTX; trình độ chuyên môn, năng lực của cán bộ HTX…
- Lĩnh vực kinh tế: chỉ tiêu vốn, mức tăng trưởng, doanh thu, lợi nhuận, thu
nhập bình quân…
+ Mức vốn góp bình quân của 1 HTX.
+ Giá trị sản xuất kinh doanh thu được/HTX .
+ Lãi bình quân/HTX.
+ Kết quả hoạt động kinh doanh (doanh thu) của HTX.
+ Mức thu nhập bình quân/lao động/năm)
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC
XÃ NÔNG NGHIỆP
1.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Mỗi vùng có những đặc điểm riêng về trình độ phát triển nền nông nghiệp
hàng hoá, trình độ dân trí, tập quán canh tác, điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu
mật độ dân cư … từ góc độ này cho phép nhận thấy rõ sự khác nhau không chỉ
trong sản xuất nông nghiệp, mức sống vật chất của dân cư, mà còn tạo nên sự khác
nhau về quá trình hình thành, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông
nghiệp nông thôn. Đồng thời với những tác động nói trên, đặc điểm truyền thống
văn hoá, tâm lý … cũng ảnh hưởng không nhỏ tạo nên những nét đặc trưng về kinh
tế hợp tác ở mỗi vùng.
Về tự nhiên: Các vùng nói trên phần lớn do địa hình hiểm trở, phức tạp lại
bị chia cắt bởi núi non, sông suối, đất đai, có độ dốc lớn, đất canh tác bị chia nhỏ,
ruộng bậc thang, đất trống, đồi trọc chiếm tỷ lệ cao.
Về xã hội: Dân cư đa dạng phân tán gồm nhiều dân tộc dẫn đến nhiều tập
quán phong tục khác nhau cũng ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng tổ chức kinh tế
hợp tác, HTX .
Trình độ kinh tế xã hội thấp so với các khu vực khác. Sản xuất còn mang
nặng tính tự cấp, tự túc. Sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu, mặc dù nó còn ở mức
thấp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng một cách máy móc các mô hình
14
HTX của miền xuôi ở đây, không phù hợp kém hiệu quả.
1.3.2. Thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của các HTX là một tất
yếu khách quan mang tính phổ biến. Bởi vì khi kinh tế thị trường phát triển, tính
cạnh tranh ngày càng gay gắt thì nhu cầu hợp tác, liên kết của những người sản xuất
hàng hóa ngày càng trở nên bức thiết hơn. Trong bối cảnh đó HTX tập hợp những
người sản xuất cá thể nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp và giải quyết những bế tắc về
vốn, về thị trường. Đồng thời tạo ra những điều kiện quan trọng trong việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế, tăng tích lũy đối
với việc thực hiện tái sản xuất mở rộng. Đó là những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự
phát triển lực lượng sản xuất.
Ở nước ta hiện nay, sự tồn tại và phát triển của HTX không chỉ xuất phát từ
đòi hỏi khách quan của nền kinh tế mà còn là điều kiện quan trọng cho nền kinh tế
thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chính vì vậy, phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX đang là một
trong những hướng ưu tiên của Đảng và nhà nước ta. Thúc đẩy kinh tế hợp tác,
HTX phát triển nhanh và bền vững sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội chung của đất nước đặc biệt là đối với lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp và khu vực kinh tế nông thôn.
1.3.3. Vai trò của khoa học công nghệ
Trước hết, khoa học góp phần nâng cao dân trí nói chung và tri thức sản xuất
cho nông dân nói riêng, trong đó bao hàm các kiến thức về tổ chức và quản lý sản
xuất, các quy trình sản xuất tiên tiến, các yêu cầu về hội nhập tiêu chuẩn chất lượng
cũng như thị trường sản phẩm...
Khoa học và công nghệ cũng tích cực hỗ trợ HTX nông nghiệp, nông dân,
doanh nghiệp xây dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng các thành tựu khoa học
vào sản xuất, đặc biệt là các mô hình sản xuất các sản phẩm sạch gắn với việc tiết
giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, các
mô hình kinh tế tổng hợp nhằm khai thác một cách hiệu quả, hợp lý các tiềm năng
15
và lợi thế so sánh của địa phương.
Khoa học và công nghệ cũng hỗ trợ HTX nông nghiệp, nông dân nâng cao
năng lực cạnh tranh của sản phẩm (nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, xây
dựng quảng bá thương hiệu, định hướng và xúc tiến thị trường...) phù hợp xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế.
Khoa học và công nghệ cũng tham gia một cách tích cực vào việc nghiên
cứu giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, CNH, HĐH và đô thị hoá nông nghiệp và nông thôn cũng như đời
sống nông dân như (xoá đói giảm nghèo, phân tầng xã hội, công bằng và phúc lợi xã
hội, chuyển dịch lao động....)
1.3.4. Nguồn nhân lực
Vấn đề quan trọng nhất là cán bộ quản lý HTX nông nghiệp phải có năng
lực, tâm huyết, gắn bó với HTX, dám làm, dám chịu trách nhiệm… Trong các tham
luận của các HTX mạnh, HTX điển hình tiên tiến, vấn đề này cũng được hầu hết các
HTX rút ra. Ban quản trị, nhất là người đứng đầu phải có lý tưởng và niềm đam mê
với mô hình HTX, dám dấn thân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Người
đứng đầu phải có tố chất kinh doanh, năng động, sáng tạo, linh hoạt và phải biết tận
dụng thời cơ, không trông chờ ỷ thế và chống cơ chế "xin- cho".
HTX nông nghiệp phải nỗ lực để trở thành mái nhà chung của xã viên, thu
hút sự tham gia tích cực của xã viên vào các công việc của HTX. Xã viên phải gắn
bó với HTX, tâm huyết và coi trọng các giá trị của HTX về trung thực, đoàn kết,
trách nhiệm với xã hội và quan tâm đến mọi người, có hiểu biết đầy đủ quyền và
nghĩa vụ của mình với HTX, trăn trở với mỗi bước phát triển của HTX. Chỉ có như
vậy HTX nông nghiệp mới thực sự trở thành mô hình phát triển bền vững.
Đội ngũ cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ trong HTX cũng đòi hỏi phải có kiến
thức chuyên ngành vững, có kinh nghiệm, chuyên môn phù hợp với điều kiện của
từng HTX, biết bám sát các mục tiêu đặt ra, luôn có cách thức làm việc khoa học,
quan tâm sử dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới… yêu cầu: Phải tập hợp, huy
động và đào tạo được đội ngũ cán bộ chủ chốt HTX có năng lực và phẩm chất, tận
16
tâm và nhiệt tình với sự nghiệp phát triển HTX. Quan tâm bồi dưỡng, giáo dục xã
viên, hộ xã viên, thành viên lý tưởng HTX, về các nguyên tắc và giá trị đạo đức
trong HTX.
1.3.5. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
Thực tế cho thấy những thành công trong phát triển HTX nông nghiệp ở
nước ta thời gian qua có nguyên nhân rất lớn từ việc ban hành và thực thi các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế tập thể, thể hiện thông qua:
- Sự phát triển HTX được Nhà nước ta thể chế hoá kịp thời ở các cấp độ luật
pháp khác nhau. Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở những chủ trương, đường lối lớn
của Đảng, đã khẳng định: kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản
xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân
chủ, cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các HTX hoạt động
có hiệu quả. Điều đó là kết quả của một thời gian dài vận động thực tiễn và tổng kết
lý luận của Đảng và Nhà nước ta về HTX. Sự khẳng định của Hiến pháp năm 1992
đã tạo đà cho sự đổi mới không ngừng về cơ chế quản lý phát triển HTX của Nhà
nước.
Trên cơ sở những điều mà Hiến pháp năm 1992 viết về kinh tế tập thể, ngày
20/3/1996, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá 9, Luật HTX được thông qua, mở ra một
trang sử mới cho công tác tổ chức, quản lý và phát triển kinh tế tập thể nói chung,
HTX nói riêng. Luật HTX 1996 ban hành là cơ sở pháp lý bước đầu cho việc
chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới. Theo đó Chính phủ
đã ban hành một loạt các văn bản dưới luật như: (1) Nghị định 15/CP ngày
21/1/1997 quy định chính sách khuyến khích phát triển HTX; (2) Nghị định 16CP
ngày 21/2/1997 về xử lý công nợ của HTX cũ chuyển đổi sang hoạt động theo luật;
và (3) Thông tư số 14/BKH ngày 29/3/1997 của Bộ kế hoạch và Đầu tư về hướng
dẫn việc chuyển đổi và đăng ký gia đình HTX. Dưới sự điều chỉnh của hệ thống các
luật và văn bản dưới luật trên, quá trình phát triển HTX ở nước ta diễn ra theo hai
hình thức sau: chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới và
thành lập mới các HTX với chức năng chủ yếu là cung cấp dịch vụ cho hộ xã viên
17
cho cộng đồng và tạo việc làm cho những người lao động dễ bị tổn thương trong cơ
chế kinh tế thị trường.
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội khoá XI
thông qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004. Luật
đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận lợi và
thông thoáng hơn cho các HTX phát triển. Theo Luật, HTX có được khung khổ pháp
lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc tế.
Phạm vi hoạt động của các HTX đã được mở rộng, không chỉ giới hạn trong
ngành nông nghiệp mà đã lan rộng sang các ngành và các lĩnh vực kinh tế khác
trong nền kinh tế
Nếu chỉ xét riêng lĩnh vực nông nghiệp, khu vực có nhiều HTX nhất đang
hoạt động, thì hầu hết các HTX đã đảm nhiệm nhiều dịch vụ nông nghiệp phục vụ
các hộ xã viên và cạnh tranh với các cơ sở dịch vụ khác trên cùng địa bàn. Bên cạnh
đó, các HTX đã không chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong nội bộ ngành
mà đã mở rộng sang cung cấp dịch vụ tổng hợp cho các xã viên của mình và cho thị
trường.
1.3.6. Công tác quản lý hỗ trợ của chính quyền địa phương
Bên cạnh việc vận dụng tốt những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà
nước thì sự phát triển của HTX nông nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều và công tác
quản lý, hỗ trợ của chính quyền địa phương. Có thể nói chính quyền địa phương là
nơi gần với các HTX nông nghiệp nhất và là nơi trực tiếp thực hiện, cụ thể hóa và
đưa những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các HTX nông
nghiệp một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Vì vậy HTX nông nghiệp có hoạt
động hiệu quả hay không phụ thuộc không nhỏ vào cách thức quản lý và hỗ trợ của
18
chính quyền địa phương.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH
HÒA BÌNH
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hòa Bình là một tỉnh vùng núi ở cực nam khu vực Tây Bắc, cận kề trung du và
đồng bằng Bắc bộ, có diện tích tự nhiên là 459.635,15 ha, chiếm 1,41% diện tích Việt
Nam. Hòa Bình có 10 huyện, 1 thành phố, bao gồm 191 xã, 11 thị trấn và 8 phường,
trong đó có 23 xã vùng An toàn khu.
Ranh giới phía bắc Hòa Bình là tỉnh Phú Thọ; phía nam giáp 2 tỉnh Hà Nam và
Ninh Bình; phía đông giáp Thủ đô Hà Nội và phía tây giáp các tỉnh Sơn La và Thanh
Hóa.
Tuy là một tỉnh miền núi, nhưng mạng lưới giao thông của Hòa Bình rất phát
triển, có đường Quốc lộ 6, cung đường Hồ Chí Minh chạy qua và mạng lưới đường
quốc lộ, tỉnh lộ, liên huyện khá tốt đến tất cả các huyện và hầu hết các xã trong tỉnh.
Nhờ có công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà nên Hòa Bình có nguồn điện lực,
nguồn dự trữ nước rất lớn và mạng lưới giao thông đường thủy từ Hòa Bình đi Sơn
La rất thuận lợi.
Vì vậy Hòa Bình không chỉ có vị trí quân sự quan trọng trong chiến lược
phòng thủ miền Tây Bắc của đất nước mà còn có khá nhiều điều kiện cần và đủ để
tham gia vào vùng phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội
2.1.2.1. Kinh tế
* Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP) của tỉnh đạt mức khá cao, bình quân 5
năm (2006-2010) là 7,9 %/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm
trước, các ngành kinh tế đều tăng trưởng khá và ổn định. Tuy nhiên tốc độ tăng
19
trưởng khu vực dịch vụ còn thấp so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Trong các năm 2009 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt
10,5%/năm. Giá trị của GDP tăng dần qua các năm.. Đây là những thành công đáng
kể của tỉnh Hoà Bình trong việc phát triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu đề ra.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh đã chuyển dịch theo hướng tích cực,
tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng khu vực nông - lâm - ngư
nghiệp, đã có những cải thiện trong cơ cấu của từng ngành sản phẩm, cơ cấu thành
phần kinh tế, xuất hiện những sản phẩm mới với công nghệ tiên tiến hơn trong công
nghiệp, dịch vụ ; chuyển đổi cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp cũng có những
bước tiến nhất định.
Về cơ cấu theo thành phần kinh tế, tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước có xu
hướng giảm, khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
tăng nhưng sự chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
còn quá nhỏ.
2.1.2.2. Dân số - lao động
Hòa Bình được tổ chức thành 11 huyện và thành phố, bao gồm 191 xã và 19
phường, thị trấn. Dân số toàn tỉnh năm 2010 là 832.543 người.
Có 84,2% dân số sống ở khu vực nông thôn, cao hơn nhiều so với trung bình
của cả nước. Điều này cho thấy việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và xóa đói
giảm nghèo nói riêng phải được tập trung ở khu vực nông thôn. Số người trong độ
tuổi lao động chiếm 67% là yêu cầu cấp bách để giải quyết các vấn đề việc làm.
Hòa Bình là một tỉnh đa dạng về sắc tộc và văn hóa với 6 dân tộc cùng chung
sống, trong đó:
Dân tộc Mường chiếm 63% cư trú tập trung chủ yếu tại các huyện Kim Bôi,
Tân Lạc, Lương Sơn, Yên Thủy, Cao Phong và Kỳ Sơn.
Dân tộc Kinh trên 28% cư trú chủ yếu tại thành phố Hòa Bình, huyện Lạc
Sơn, Yên Thủy, Lương Sơn.
Dân tộc Thái chiếm 4% cư trú chủ yếu tại huyện Mai Châu.
20
Dân tộc Tày chiếm 2,7% cư trú tập trung tại huyện Đà Bắc.
Dân tộc Dao chiếm 1,7% cư trú tại Kim Bôi, Đà Bắc, Cao Phong.
Dân tộc Mông chiếm 0,6 % cư trú tại 2 xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu.
Với đặc điểm dân số và dân tộc học đa dạng, đồng bào các dân tộc thiểu số
chiếm đại đa số lại làm cho nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo của Hòa Bình nặng thêm.
2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông thuận lợi tạo điều kiện cho Hòa Bình đẩy mạnh giao
lưu kinh tế, văn hóa - xã hội với các địa phương khác trong vùng và cả nướcTuy là
một tỉnh miền núi, đường Quốc lộ 6, cung đường Hồ Chí Minh chạy qua và mạng
lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên huyện khá tốt đến tất cả các huyện và hầu hết các xã
trong tỉnh. Nhờ có công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà nên Hòa Bình có
nguồn điện lực, nguồn dự trữ nước rất lớn và mạng lưới giao thông đường thủy từ
Hòa Bình đi Sơn La rất thuận lợi.
Với vị trí là cửa ngõ Tây Bắc Hòa Bình không chỉ có vị trí quân sự quan trọng
trong chiến lược phòng thủ miền Tây Bắc của đất nước mà còn có khá nhiều điều kiện
cần và đủ để tham gia vào vùng phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội. Đó là
những tiền đề, những tiềm năng quan trọng giúp Hòa Bình phát triển kinh tế trong
hiện tại và tương lai.
2.1.2.4. Phát triển kinh tế xã hội
Tốc độ tăng trưởng GDP trong những năm gần đây luôn ở mức cao hơn so với
trung bình của cả nước. Năm 2010 tốc độ tăng GDP đạt 8,29%. Trong đó, nông lâm
thủy sản là 4,39%, công nghiệp xây dựng là 8,38% và dịch vụ tăng 13,56%. Điều này
cho thấy Hòa Bình đang duy trì tốt đà tăng trưởng kinh tế.
Nền kinh tế đang dịch chuyển theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Nhưng sản
xuất nông lâm nghiệp vẫn đóng góp gần 30% GDP và có xu hướng tăng tỷ trọng
trong những năm gần đây. Tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ có chiều hướng gia
tăng là tín hiệu đáng mừng. tuy nhiên đóng góp của ngành công nghiệp xây dựng lại
có chiều hướng giảm. Như vậy vấn đề đặt ra là công nghiệp tuy phát triển nhưng chưa
thực sự tạo ra sức hút để giải quyết vấn đề dư thừa lao động nông thôn chiếm tới 67%
21
tổng dân số.
Sự chênh lệch thu nhập giữa lao động nông nghiệp và các ngành khác còn khá
lớn. Nếu không tính nhà máy thủy điện Hòa Bình thì đóng góp của nông nghiệp cho
nền kinh tế lên tới 46%, dịch vụ 33% và công nghiệp chỉ có 21%. Điều này cho thấy
sự mất cân đối về thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị và càng làm tăng tính
phức tạp trong xóa đói giảm nghèo.
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
2.2.1. Đánh giá chung tình hình phát triển hợp tác nông nghiệp tỉnh Hòa Bình
Khu vực kinh tế tập thể ở Hòa Bình tồn tại nhiều năm bao gồm HTX nông
nghiệp, HTX phi nông nghiệp. Quá trình hoạt động trong cơ chế thị trường, sự tác
động từ các chủ trương, chính sách trong các năm qua cũng như vai trò quản lý nhà
nước đối với kinh tế tập thể qua các thời kỳ sát nhập, chia tách, thành lập mới (tỉnh,
huyện, xã…) đã có ảnh hưởng tác động sâu sắc đến kinh tế tập thể, đa số HTX phi
nông nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ, tự giải thể. Đối với HTX nông nghiệp
có sự biến đổi tích cực, không có hiện tượng giải thể hàng loạt, nhiều HTX khó
khăn, tồn tại trên hình thức đã dần dần từng bước tháo gỡ khó khăn và hoạt động ổn
định, khẳng định vị trí trong cơ chế thị trường, đặc điểm này thể hiện sự kiên trì và
kịp thời đổi mới trong các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, thể hiện nguyện
vọng của đa số nông dân trên địa bàn tỉnh cần có nhu cầu hợp tác trong sản xuất
nông nghiệp.
2.2.1.1. Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã tỉnh Hòa Bình
* Thời kỳ trước năm 1975:
Đây là giai đoạn của thời kỳ cải tạo quan hệ sản xuất gắn với xây dựng HTX,
tổ hợp tác. Giai đoạn này có hai đặc điểm quan trọng là xóa bỏ tư hữu tư liệu sản
xuất và HTX được tổ chức theo kiểu quan hệ công xã, người nông dân làm công ăn
lương ngay trên mảnh đất của mình. Giai đoạn này có mặt tích cực nhờ ruộng đất
được tập trung dẫn đến năng xuất ngày càng tăng. Nguồn nhân lực được quan tâm
22
đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn.
Ngay từ đầu năm 1958 Tỉnh ủy thực hiện từng bước vững chắc cải tạo xã hội
chủ nghĩa trong tỉnh. Trên cơ sở các tổ đổi công, tháng 5/1958 HTX nông nghiệp
đầu tiên được thành lập tại xóm Nội – Hạ Bì huyện Kim Bôi thu hút 23 hộ nông
dân. Đến cuối năm 1960 về cơ bản sự nghiệp hợp tác hóa hoàn thành với 1.078
HTX được thành lập, thu hút 31.737 hộ nông dân xã viên (chiếm 86,37% tổng số hộ
nông dân trong toàn tỉnh). Công tác thủy lợi được quan tâm, kỹ thuật sản xuất được
cải tiến, sản lượng tăng nhanh năm 1960 toàn tỉnh đạt 138.450 tấn thóc, sản xuất thủ
công, tiểu thương cũng được cải tạo đến năm 1960 có 76,9% số hộ tiểu thương
tham gia tổ HTX.
Nông nghiệp được coi là cơ sở nền kinh tế của tỉnh do vậy được quan tâm
chỉ đạo và đầu tư. Cuối năm 1963 có đến 96% hộ nông dân lao động vào HTX nông
nghiệp, các tư liệu sản xuất chủ yếu như trâu, bò, công cụ chính hầu hết thuộc
quyền sở hữu tập thể. Cùng với phong trào phát triển HTX nhiều nơi, tỉnh Hòa Bình
cũng đã bước đầu thành lập các HTX với số lượng đông xã viên tham gia thay đổi
quy mô sản xuất từ cá thể sản xuất nhỏ bé nay sản xuất tập thể theo quy mô lớn.
Bước đầu mô hình HTX phát triển theo hướng tập thể hóa lực lượng sản xuất, quản
lý tập trung đã được xây dựng rộng khắp trên địa bàn tỉnh.
* Thời kỳ 1975 – 1990:
Sau năm 1975 phong trào HTX đã lan rộng khắp cả nước, tổ đổi công tăng
lên chóng mặt. Tỉnh Hòa Bình hợp nhất với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình. Việc hợp nhất hai tỉnh có ý nghĩa rất lớn. Với diện tích 6.860km2, dân số gần 2 triệu
người, tỉnh Hà Sơn Bình sẽ có điều kiện tốt hơn trong việc quy hoạch, phân vùng
kinh tế, cơ hội cho tăng trưởng kinh tế HTX. Năm 1976 thành phần kinh tế tập thể
tăng từ 65,6% lến 74,6%. Thành phần kinh tế cá thể giảm rõ rệt từ 13% năm 1975
xuống còn 5,5% năm 1976.
Vào những năm 80, theo trào lưu của cả nước. Hòa Bình cũng ồ ạt hợp nhất
các HTX với quy mô liên thôn hoặc toàn xã với ý tưởng sản xuất lớn đi lên XHCN,
ví dụ điển hình như: HTX Ba Vó ở Lạc Sơn; Thanh Hối ở Tân Lạc, Dũng Phong ở
23
Cao Phong, Hạ Bì ở Kim Bôi, Nhuận Trạch ở Lương Sơn... tuy nhiên việc thực hiện
các nhiệm vụ kinh tế, xã hội chưa tìm được hướng đi thích hợp; thiên tai liên tiếp
xảy ra, năng lượng và vật tư cấp cho sản xuất ngày càng khó khăn hơn, vốn sản xuất
thiếu, tiền mặt căng thẳng, thị trường biến động (nhất là 2 năm 1983 và 1984), các
chế độ, chính sách còn đang trong giai đoạn đổi mới chưa đồng bộ, sản xuất bước
đầu hạn chế.
Trong giai đoạn này bắt đầu xuất hiện dấu hiệu trì trệ, tiêu cực trong quản lý,
hiện tượng “xé rào” diễn ra phổ biến. Sau giải phóng, chúng ta rất cần có một lượng
lương thực lớn để cứu đói nên tập hợp ruộng đất vào HTX. Nhưng HTX lúc đó theo
kiểu cũ, nông dân đưa đất vào coi như mất đất nên sản xuất kém hiệu quả. Một số
đông xã viên không trụ được đã rời bỏ HTX. Một số ít xã viên còn lại, bám trụ và
cùng nhau hoạt động để thoát nghèo, tạo dựng tài sản cho HTX bằng cách làm việc,
lao động, sản xuất kinh doanh để có lãi, tích lũy vào quỹ của HTX. Giai đoạn này
được tác động từ các chính sách (Nghị quyết 10, luật đất đau ban hành...). Cơ chế
quản lý HTX có sự thay đổi. HTX không quản lý tập trung đất đai, lao động, tư liệu
sản xuất mà giao cho hộ xã viên, hộ trở thành đơn vị kinh tế tự chủ. Chỉ thị số 100
của Ban Bí thư TW (tháng 10/1981) cho phép thực hiện chế độ khoán sản phẩm đến
nhóm người lao động đã tạo ra động lực mới làm cho người nông dân và xã viên
hăng hái tham gia sản xuất. Chỉ thị 100 của Ban Bí thư đã có tác dụng tạo nền móng
cho quá trình đổi mới mô hình HTX kiểu cũ, đồng thời chặn đứng tình trạng sa sút
của sản xuất nông nghiệp thời kỳ cuối những năm 70 của thế kỷ XX. Tiếp đó,
Chính phủ ban hành Nghị định 64/CP giao quyền sử dụng và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là một bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới.
Thời gian này HTX nông nghiệp hoạt động có sự thay đổi về bản chất so với
HTX cũ (1985 về trước), HTX chuyển sang làm dịch vụ cho hộ xã viên, tự hạch
toán kinh tế để có tích lũy và trả thù lao cho bộ máy hoạt động, xóa bỏ bao cấp
trong HTX, quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối đã được phân định
rõ ràng giữa HTX và xã viên. Hai chủ thể kinh tế có sự bình đẳng, độc lập trong
24
mối quan hệ kinh tế.
Tuy có sự đổi mới về quản lý kinh tế, song các HTX nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh hoạt động trong giai đoạn thời này giữa cơ chế bao cấp và cơ chế thị
trường cũng gặp nhiều khó khăn lúng túng. Động lực của chỉ thị 100 đã nhanh
chóng bị triệt tiêu và bộc lộ những hạn chế của nó: Hoạt động quản lý yếu kém,
phân phối bình quân bao cấp cho nhiều đối tượng, hiện tượng rong công, phóng
điểm, chi phí bất hợp lý... Hoạt động quản lý của HTX ngày càng yếu kém, bất hợp
lý, tệ nạn tham ô, mất dân chủ và những nhược điểm trong phân phối không được
khắc phục. Do vậy lợi ích của người lao động bị vi phạm nghiệm trọng. Kết quả là
lòng tin, sự gắn bó của xã viên với HTX giảm sút. Nhiều HTX chưa thích ứng với
cơ chế mới hoạt đông cầm chừng, làm ăn thua lỗ. Một số HTX còn vốn chuyển sang
làm dịch vụ song hiệu qủa thấp, số HTX làm ăn năng động chiếm khoảng 25% còn
phần đông các HTX hoạt động trì trệ tồn tại hình thức. Đóng góp của HTX nông
nghiệp giai đoạn này là bắt đầu chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế HTX thích ứng
dần với cơ chế thị trường, bước đầu cho một số kinh nghiệm hoạt động dịch vụ đáp
ứng kinh tế hộ xã viên phát triển.
* Giai đoạn 1991 – 2003:
Ngày 01/10/1991 tỉnh Hòa Bình được tái lập. Đây là sự kiện đánh dấu một
thời kỳ mới trong tiến trình đi lên của nhân dân các dân tộc của tỉnh thực hiện công
cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tỉnh ủy Hòa Bình đã quán triệt
và triển khai đường lối, chính sách đổi mới của Đảng với những mục tiêu trọng tâm
là ổn định và đẩy nhanh phát triển KT-XH; giả phóng năng lực sản xuất, khai thác
có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương; từng bước chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bằng việc phát triển mạnh mẽ
kinh tế HTX.
Tính đến cuối tháng 12 năm 1996 các tổ chức HTX kiểu cũ đã tan rã hoàn
toàn hoặc còn lại chỉ là hình thức, thực tế chúng không hoạt đông và không đem lại
lợi ích cho kinh tế hộ. Do đó các hoạt động tập thể hóa với quy mô toàn xã không
đạt được hiệu quả. Thực hiện Luật HTX 1996, toàn tỉnh đã triển khai tiếp tục đổi
25
mới HTX, đảm bảo mục tiêu cơ bản của kinh tế HTX nông nghiệp, đẩy mạnh và
phát triển, phát huy có hiệu quả, phục vụ, hỗ trợ kinh tế hộ gia đình, từng bước thực
hiện Luật HTX khuyến khích phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại tập trung là
khai thác sử dụng quỹ đất bãi bồi ven sông, thùng đào, thùng đấu...để sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn, đã triển khai dồn điền, đổi thửa hạn chế tình trạng manh mún ruộng đất
trong nông nghệp hoàn thiện quy hoạch đồng ruộng, hình thành quy hoạch mới thúc
đẩy phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế trang trại...
Cơ chế bao cấp trong quản lý HTX cũng không còn đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao của xã hội, dẫn tới tình trạng “dong công, phóng điểm” trong điều
hành sản xuất cảu HTX không còn phát huy tác dụng. Trong bối đó. Luật HTX năm
2003 ra đời, các HTX bắt đầu chuyển đổ theo quy định. Đồng thời tỉnh đã thực hiện
nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địa
phương, trong đó chỉ thị 68 của Ban bí thư Trung ương Đảng luật HTX, Nghị quyết
Trung ương V (khóa IX) về phát triển kinh tế tập thể vv... Dưới sự lãnh đạo của
Chính quyền địa phương nhiều HTX đã có kết quả ban đầu, từng bước đưa HTX
hoạt động ổn định tạo công ăn việc làm cho xã viên có thu nhập ổn định. Các HTX
chuyển hướng từ hoạt động nông nghiệp thuần túy sang các hoạt động kinh doanh
tổng hợp. Qua sàng lọc của kinh tế thị trường, nhiều HTX nông nghiệp mới ra đời,
tổ chức đa dạng theo các mô hình khác nhau như: nông - công - thương - tín, dịch
vụ kỹ thuật, liên kết với các doanh nghiệp... Các HTX trong các nghề mới sẽ tăng
về số lượng như HTX dịch vụ môi trường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, quản lý
kinh doanh chợ, dịch vụ trường học, nhà ở...
Trong giai đoạn này kinh tế hợp tác và HTX có những biến đổi rõ rệt từ hình
thức hợp tác, nội dung đến phương thức hoạt động.Tuy nhiên, cùng với những biến
đổi đó là sự giảm sút về số lượng và sự thay đổi căn bản trong các quan hệ sản xuất
sử hữu, phân phối và quản lý. Các HTX ra đời bước đầu phát triển song không đạt
hiệu quả cao do không tiếp cận được các nguồn vốn, nhận thức còn sai lầm về bản
chất HTX và công tác quản lý chưa có hệ thống nên kinh tế là bước ngoặt về phát
26
triển kinh tế HTX của địa phương, nhưng đóng góp cho NSNN không đáng kể,
những dấu hiệu trì trệ đã bắt đầu lan sang các HTX khác chứng tỏ HTX kiểu cũ
chưa phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX.
* Giai đoạn 2004 đến nay:
Khu vực KTTT đã có những chuyển biến đáng kể. Phần lớn các HTX đã
thực hiện chuyển đổi theo những quy định, thích ứng với cơ chế mới, từng bước
khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Các cơ sở kinh tế HTX với các hình
thức tổ chức hoạt động đa dạng được phát triển và hoạt động có hiệu quả trong các
ngành, lĩnh vực kinh tế, đồng thời đóng góp thiết thực vào giải quyết các vấn đề xã
hội. Các HTX được củng cố một bước về tổ chức quản lý, vốn quỹ về trách nhiệm
và quan hệ giữa các xã viên với HTX. Hoạt động của các HTX được đổi mới thiết
thực, gắn liền với lợi ích của xã viên và nhìn chung đã tuân thủ các nguyên tắc, quy
định của Luật HTX. HTX nông nghiệp đã làm được các dịch vụ cơ bản phục vụ sản
xuất, số lượng HTX nông nghiệp hoạt động dịch vụ có xu hướng tăng và hoạt động
hiệu quả hơn. Theo báo cáo của Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình và Chi cục Phát
triển nông thôn, nhiều HTX trong tỉnh đã trở thành cầu nối kinh tế giữa các hộ nông
dân với các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp Nhà nước và cả doanh nghiệp
ngoài quốc doanh, góp phần tăng cường năng lực sản xuất hàng hóa ở khu vực nông
nghiệp nông thôn và kinh tế hộ gia đình. Trong thời gian qua, hầu hết các đơn vị
chủ yếu tổ chức thực hiện quy hoạch, phân vùng và bố trí hướng dẫn chuyển giao
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều HTX thực hiện khá tốt vai trò khuyến
nông, dịch vụ thủy lợi, bảo vệ thực vật, trông coi đồng ruộng và an ninh ở nông
thôn...
Đối với các HTX chuyển đổi: Đa số các HTX cũ được đăng ký lại hoạt động
theo luật HTX. Trên cơ sở xác định lại tài sản, tài chính, công nợ, xác định vốn góp
xã viên (chủ yếu từ nguồn vốn HTX cũ), đăng ký lại xã viên. Xây dựng điều lệ
HTX, phương án sản xuất - kinh doanh - dịch vụ, hạch toán lỗ từng khâu dịch vụ...
Quá trình hoạt động của các HTX đã khắc phục dần các mặt yếu kém. Công tác
27
quản lý HTX có nhiều cố gắng, các khâu dịch vụ đáp ứng chất lượng phục vụ cho
các hộ xã viên, quản lý tài chính có sự đổi mới, tiết kiệm chi phí đảm bảo lấy thu bù
chi, số HTX làm ăn thua lỗ ở mức thấp.
Đối với HTX thành lập kiểu mới: HTX thành lập mới đều có đặc trưng
chung: Tự nguyện, cùng góp vốn, tự chủ, cùng có lợi, tài chính công khai, mọi xã
viên đều có trách nhiệm cao. HTX thành lập theo nhóm hộ, sản xuất chuyên sâu, đòi
hỏi kỹ thuật, vốn đầu tư, liên kết với nhau, tận dụng đất đai, ao hồ, sản phẩm phụ
trong sản xuất để sản xuất kinh doanh các sản phẩm có giá trị, dễ tiêu thụ trên thị
trường.
Hiện nay, cả tỉnh mới chỉ có trên 10% HTX được cấp đất, trong đó có
khoảng 4% được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi đó, vốn góp
của xã viên được phân bổ từ vốn, quỹ của HTX cũ chuyển sang mang tính hình
thức. Bên cạnh đó, tài sản trong HTX chưa rõ ràng về sở hữu, đây là sở hữu tập thể,
đâu là sở hữu cá nhân, đâu là sở hữu chung nên không khuyến khích được xã viên
góp thêm vốn. Đồng thời các ngân hàng rất khó thực hiện được cơ chế đảm bảo tiền
vay để tiến hành cho vay. Đến nay các địa phương hầu hết đã sử lý số nợ tồn đọng
của các HTX từ năm 1996 về trước theo hình thức xóa bỏ nợ cũ. Vấn đề khó khăn
nhất trong việc sử lý nợ chính là sự phát sinh nợ mới ở khá nhiều HTX, nhất là nợ
thủy lợi phí và thủy nông nội đồng. Bởi vậy theo luật các tổ chức tín dụng và các
quy định pháp lý hiện hành, các ngân hàng khó mà có thể cho vay vốn tiếp được.
Tình hình hoạt động của các HTX thời gian qua đã tự chủ, năng động phát
huy nội lực vươn lên làm ăn hiệu quả, khẳng định được vai trò vị trí kinh tế tập thể
trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của
các HTX còn chậm, chưa đáp ứng được các nguyên tắc theo quy định của luật
HTX, quy mô còn nhỏ lẻ, nguồn nội lực yếu, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu,
28
năng lực đội ngũ cán bộ quản lý yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp
2.2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp
tỉnh Hòa Bình
* Về số lượng HTX
Bảng 2.1. Số lượng HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình
ĐVT: HTX
TT Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
1 140 133 135
Năm 2008 toàn tỉnh Hòa Bình có 140 HTX nông nghiệp tuy nhiên đến cuối
năm 2008 do 4 xã của huyện Lương Sơn chuyển về thành phố Hà Nội nên số lượng
HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình tại thời điểm đầu năm 2009 chỉ còn lại 133
HTX nông nghiệp. Và đến cuối năm 2009 có thêm 2 HTX nông nghiệp mới thành
lập tại huyện Đà Bắc và Cao Phong vì vậy đến năm 2010 toàn tỉnh có 135 HTX
nông nghiệp. Trong 135 HTX nông nghiệp có 17 HTX quy mô toàn xã; 96 HTX xóm,
bản và 22 HTX liên thôn. Nhìn chung, các HTX có quy mô toàn xã, liên thôn hoạt động,
thuận lợi, hiệu quả hơn các HTX quy mô xóm bản do các HTX này có thị trường phục vụ
lớn, quy mô tổ chức dịch vụ, sản xuất đa dạng hơn.
* Tài sản vốn quỹ, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp
tác xã nông nghiệp
* Cơ sở hạ tầng
Về đất đai:
Bảng 2.2. Diện tích đất các HTX nông nghiệp đang quản lý và sử dụng
ĐVT: ha
Trong đó
TT Tổng diện tích Đất lâm Đất nông nghiệp Ao hồ nghiệp
1 9.388 8.318 814 256
Hiện diện tích đất các HTX nông nghiệp đang quản lý sử dụng là: 9.388ha,
29
trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 8.318ha; đất lâm nghiệp là: 814ha; ao
hồ 256 ha. Hầu hết số diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Về tài sản:
Bảng 2.3. Tình hình tài sản của các hợp tác xã nông nghiệp điều tra
Trụ sở Nhà xưởng Cửa hàng Nhà kho TT Huyện, TP, TX Số HTX
SL DTm2 SL DTm2 SL DTm2 SL DTm2
Lạc Thủy 21 12 2.651 1 36 6 925 4 170 1
Yên Thủy 3 2 0 0 0 0 1 40 2 145
Lạc Sơn 2 1 9 2.500 1 100 1 150 3 600
TP Hòa Bình 9 2 1 130 2 38 2 190 4 213
Kỳ Sơn 2 0 0 0 0 0 0 0 5 0
Kim Bôi 1 5 0 0 1 90 1 100 6 700
Mai Châu 3 2 3 1000 1 30 2 120 7 150
6 Lương Sơn 13 3 320 2 135 2 160 8 525
Đà Bắc 7 0 0 0 0 0 0 0 9 0
Tân Lạc 5 1 1 80 1 150 0 0 10 200
Cao Phong 4 2 1 200 1 70 2 250 11 500
Hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có trụ sở riêng chỉ đạt 47% còn lại phải mượn
Tổng cộng 70 33 5.684 19 4.266 15 1.538 15 1.180
tạm phòng làm việc trong trụ sở UBND xã, một số thuê địa điểm hoặc nhờ địa điểm tại
nhà của một cán bộ HTX để làm việc. Các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và có
khả năng sinh lợi như các cửa hàng vật tư, cơ sở dịch vụ, ao hồ nuôi trồng thuỷ sản… cơ
bản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vậy làm cho HTX phụ thuộc
30
nhiều vào sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, thiếu tính độc lập, tự chủ trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
* Vốn quỹ của các hợp tác xã nông nghiệp
Bảng 2.4. Tình hình vốn quỹ của các hợp tác xã nông nghiệp
điều tra tính đến năm 2010
Đvt: triệu đồng
Số Tổng số Vốn bq 1 Tổng Vốn góp TT Huyện, TP, TX HTX vốn của HTX số vốn xã viên bq
Lạc Thủy 21 2.781,55 132,454 1.720,93 81,9 1
692,7 230,9 554,7 184,9 Yên Thủy 3 2
210,3 276 420,6 Lạc Sơn 2 552 3
122,7 884,15 98,2 TP Hòa Bình 9 1.105 4
119,35 143,5 71,75 Kỳ Sơn 2 238,7 5
125,8 43,5 43,5 Kim Bôi 1 125,8 6
3 Mai Châu 500,623 166,87 134,56 44,85 7
1.953 Lương Sơn 13 150,2 1.275,7 98,1 8
Đà Bắc 7 270,9 38,7 80,7 8,96 9
Tân Lạc 5 495,7 99,14 380,6 76,12 10
Cao Phong 4 2.180 545 486,7 81,12 11
10.895,97 2.007,11 6.125,64 999,7 Tổng cộng 70
Tổng số vốn của 70 HTX nông nghiệp là trên 10 tỷ đồng và chủ yếu là cơ
sở vật chất như: nhà cửa, máy móc thiết bị, công trình thuỷ lợi...
Tổng số vốn góp của xã viên là 6,1 tỷ đồng chiếm 56,2% trên tổng số vốn,
như vậy tính bình quân với số vốn lưu động để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh
doanh của các HTX nông nghiệp là tương đối đảm bảo trong việc chủ đồng điều
hành sản xuất kinh doanh.
Duy trì và phát triển của các HTX tất yếu phải cần một lượng vốn đủ
31
lớn để đáp ứng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả
trong nền kinh tế thị trường. Nhìn chung mức góp vốn của xã viên chưa cao
dù đã được bổ sung qua các năm, nguyên nhân là HTX chưa thực sự tạo được
niềm tin với xã viên v à người lao động, kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của HTX chưa thuyết phục do vậy việc huy động vốn góp của xã viên
chưa cao.
* Kết quả hoạt động kinh doanh:
Bảng 2.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các Hợp tác xã
nông nghiệp giai đoạn 2008-2010
ĐVT: Triệu đồng
TT Huyện, TP Tổng Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
số
Doanh Lợi Doanh Lợi Doanh Lợi HTX
thu nhuận thu nhuận thu nhuận
1 Lạc Thủy 21 2.315,2 578,8 2.454,0 687,1 2.525 808,0
2 Yên Thủy 273,6 3 294,5 82,4 315 100,8 68,4
3 Lạc Sơn 184,2 2 190 53,2 207 66,2 46,1
4 TP Hòa Bình 820,8 205,2 249,2 1.002 320,6 9 890
5 Kỳ Sơn 125 2 137,5 38,5 151 48,3 31,3
6 Kim Bôi 81,2 1 92,8 26,0 102,8 32,9 20,3
7 Mai Châu 284,6 3 304,6 85,3 326 104,3 71,2
8 Lương Sơn 13 1.105,6 276,4 1.190,6 333,4 1.223 391,4
9 Đà Bắc 170 7 191,5 53,6 215 68,8 42,5
10 Tân Lạc 315 5 355,5 99,5 394 126,1 78,8
4 578,7 162,0 669 213,9 11 Cao Phong 532,6 133,2
Tổng cộng 70 6.208 1.552 6.680 1.870 7.129 2.281
Tổng doanh thu năm 2010 là 7.129 triệu đồng tăng 921 triệu đồng so với
năm 2008. Lợi nhuận bình quân của các HTX đạt 2.281 triệu đồng tăng 729 triệu
32
đồng so với năm 2008. Trong đó điển hình nhất là HTX dịch vụ nông nghiệp Đồng
Tâm I, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy và HTX dịch vụ nông nghiệp Dân Chủ, xã Dân
Chủ, thành phố Hòa Bình, tổng doanh thu hàng năm của 2 HTX này đạt trên 1 tỷ
đồng, lãi từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng. Hoạt động hiệu quả chỉ tập chung ở
17 HTX có lãi chỉ chiếm có 24,28%. Còn lại 53 HTX hoạt động bảo toàn được nguồn
vốn và có tình trạng thua lỗ (75,72%). Kết quả thu được như trên là thấp, còn nhiều
HTX chỉ làm được dịch vụ đầu vào, còn bỏ trống nhiều khâu như: tiêu thụ, chế biến,
cung cấp tín dụng cho xã viên..., chưa mạnh dạn liên doanh liên kết để mở rộng thêm
ngành nghề mới. Những HTX yếu kém chưa có chuyển biến rõ rệt về nội dung và
hiệu quả hoạt động. Do vậy khó khuyến khích thu hút nguồn nhân lực có trình độ
tham gia vào HTX đồng thời không tạo được động lực để xã viên góp vốn, góp sức để
cùng nhau phát triển HTX nông nghiệp nói riêng và sự phát triển của kinh tế tập thể
trên địa bàn nói chung.
Bên cạnh đó nhìn vào bảng số liệu ta thấy lợi nhuận của các HTX nông
nghiệp chiếm 1 phần rất nhỏ của doanh thu, như vậy chi phí để sản xuất chiếm một
tỷ lệ rất lớn (năm 2010 là trên 60%). Điều này cho thấy hiệu quả kinh tế của HTX
nông nghiệp là chưa cao, sức hấp dẫn của HTX nông nghiệp kiểu mới chưa nhiều,
yếu tố tác động tích cực của HTX đối với kinh tế hộ chưa cao. Không ít nơi vẫn tồn
tại HTX nông nghiệp thuần tuý, chưa phát triển HTX theo hướng không giới hạn
bởi quy mô, lĩnh vực và địa bàn, thậm chí có nơi còn chia nhỏ theo cảm tính, các
HTX nông nghiệp phát triển chậm "cầm chừng” nhất là HTX ngành nghề, chế biến,
dịch vụ, thương mại. Nhiều HTX sau chuyển đổi có chuyển biến, nhưng về chất
lượng không chuyển được bao nhiêu, còn tình trạng hình thức "bình mới rượu cũ”,
HTX “xã viên cả làng”, vốn góp ít, lợi nhuận thấp, thu nhập chính không phải từ
sản xuất kinh doanh của HTX.
* Mức thu nhập bình quân/lao động/năm
Thu nhập của xã viên trong các HTX còn thấp. Các HTX vẫn còn đang trong
quá trình chuyển đổi từ mô hình kiểu cũ sang mô hình kiểu mới, tập quán sản xuất
kinh doanh vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của cơ chế cũ nên chưa năng động, tích
33
cực trong tìm kiếm nguồn thu nhập mới. Điều đó đã hạn chế rất nhiều trong việc
nâng cao thu nhập cho HTX nói chung, cán bộ xã viên nói riêng. Đến nay thu nhập
bình quân của một cán bộ quản lý HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình khoảng
500-650 nghìn đồng/người/tháng, đây là mức thu nhập rất thấp nếu chúng ta đem so
sánh với các lao động quản lý của doanh nghiệp tại các thành phần kinh tế khác.
Thu nhập của lao động xã viên và HTX còn thấp nên tính ưu việt của mô hình HTX
kiểu mới còn chưa được thể hiện rõ. Kết quả là HTX gặp nhiều khó khăn trong con
đường phát triển của mình.
* Về công tác tổ chức quản lý và trình độ cán bộ trong các HTX nông nghiệp:
Tuy có những chuyển biến tích cực nhưng cũng phải thừa nhận rằng các
HTX vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém, còn nhiều khó khăn và bất cập lớn
về chất lượng nguồn lực.
Phần lớn đội ngũ cán bộ trong các HTX nông nghiệp thiếu kiến thức
chuyên môn cần thiết để có thể quản lý điều hành HTX hoạt động một cách có hiệu
quả. Đa số cán bộ đảm nhiệm chức vụ quản lý điều hành của các HTX nông nghiệp
đều trên cơ sở uy tín và kinh nghiệm tích luỹ từ những hoạt động thực tế chứ chưa
từng qua đào tạo, bồi dưỡng trước đó.
Bảng 2.6. Tổng hợp trình độ của cán bộ làm công tác
quản lý hợp tác xã nông nghiệp đến năm 2010
ĐVT: người
Thành phần Đại học, Trung cấp
Ban quản trị cao đẳng 13 26
Năng lực tổ chức, quản lý kinh tế và hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý
HTX nông nghiệp còn chưa đáp ứng được với yêu cầu phát triển của HTX trong cơ
chế thị trường. Bên cạnh đó các HTX lại chưa chú trọng xây dựng kế hoạch bồi
dưỡng các đội ngũ kế cận và chưa cụ thể hoá các tiêu chuẩn, chức danh cho đội
ngũ cán bộ Ban quản trị, Ban kiểm soát, kế toán HTX và nguồn tài chính để đáp
ứng nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực.
Trong thời gian qua, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước, các cấp chính
34
quyền địa phương rất quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và đặc
biệt là cán bộ chủ chốt cho các HTX nông nghiệp, thông qua Chi cục HTX và
Phát triển nông thôn đã tổ chức mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản
lý, điều hành và nghiệp vụ cho Ban quản trị, Ban kiểm soát, kế toán HTX. Tuy
nhiên số lượng cán bộ HTX tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng rất ít và hiệu quả
thực tế không cao do các chính sách đào tạo chưa phù hợp (thời gian tập huấn, bồi
dưỡng ngắn ngày; về giáo trình; trình độ nhận thức của cán bộ HTX còn hạn chế;
chế độ đãi ngộ cho cán bộ đi học...) chưa thực sự hấp dẫn, khuyến khích được cán
bộ HTX yên tâm học tập, đào tạo. Bên cạnh đó hầu hết đội ngũ giúp việc cho các
HTX nông nghiệp chưa được đào tạo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ do vậy
mà công tác tham mưu, giúp việc cho HTX gặp rất nhiều khó khăn.
Bảng 2.7. Năng lực điều hành của cán bộ quản lý và trình độ
xã viên của các hợp tác xã nông nghiệp điều tra
Khả năng điều hành của Ban quản trị HTX Trình độ cán bộ xã viên tham gia hoạt động trực tiếp HTX Huyện, TP, TX Số HTX TT Yếu CĐ Số người ban quản trị Tốt Trung bình Đại học Trung cấp
Lạc Thủy 14 2 1 0 17 Chưa qua đào tạo 183 1 5 21 84
Yên Thủy 2 1 0 0 0 0 2 0 3 12
Lạc Sơn 0 1 16 0 4 10 3 0 2 8
TP Hòa Bình 5 2 2 2 10 162 4 2
Kỳ Sơn Kim Bôi Mai Châu 2 4 1 0 0 2 0 2 2 2 0 4 4 7 8 3 26 105 5 6 7 0 0 0 9 2 1 3 36 8 4 12
Lương Sơn 5 7 0 0 0 105 8 1 52 13
Đà Bắc 0 0 0 0 9 7 12 0
Tân Lạc 5 2 2 3 0 2 4 3 10 5 20 0
Cao Phong 1 3 0 11
Tổng cộng 597 4 70 16 280 41 23 2 25 5 15 12 62 0 8
Qua số liệu trên, tình hình nguồn nhân lực và đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt
của các HTX trên địa bàn tỉnh có chất lượng thấp. Số lượng Ban quản trị HTX có
35
trình độ đại học, cao đẳng là 13 người/280 người chiếm tỷ lệ thấp 4,6%; trung cấp 26
người/265 người chiếm 9,2%; chưa qua đào tạo chiếm đến 86,2%. Đây là những con
số phản ánh đội ngũ nguồn nhân lực của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn
yếu, chậm đổi mới, nó phản ánh thực chất sự trì trệ yếu kém của hệ thống HTX nông
nghiệp trong thời gian qua.
Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản
lý và cán bộ nghiệp vụ của các HTX nông nghiệp là rất cần thiết và cấp bách, tăng
cường công tác đào tạo bồi dưỡng những kiến thức mới về quản lý kinh tế, tài
chính và vận dụng một cách khoa học sáng tạo trong sản xuất kinh doanh nhằm
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
*Về hình thức tổ chức sản xuất :
Sự phát triển của hệ thống HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
trong những năm qua tuy đã có những bước phát triển nhưng vẫn còn bộc lộ một số
tồn tại chủ yếu sau:
Sự thành lập và hoạt động của các HTX nông nghiệp chưa thực hiện đầy
đủ các giá trị và nguyên tắc HTX đã được tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Liên
minh HTX quốc tế (ICA) khuyến cáo trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát triển
HTX trên thế giới trong gần 200 năm qua.Tuy hệ thống HTX nông nghiệp đã có
những chuyển biến quan trọng phục vụ kinh tế và đời sống xã viên, tuy nhiên các
dịch vụ mà HTX nông nghiệp cung ứng cho xã viên còn chiếm tỷ trọng rất thấp
trong kết quả kinh doanh của HTX so với nhu cầu thực tế mà bà con xã viên kỳ
vọng. Chưa thể hiện đầy đủ bản chất của HTX nhằm trước hết vào đáp ứng nhu
cầu chung của mọi xã viên HTX, hỗ trợ cho sự phát triển của kinh tế xã viên HTX
và góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng và của đất nước
nói chung.
Không ít các HTX nông nghiệp chưa thực sự mở cho cho đông đảo thành
viên tham gia, thậm chí còn hạn chế kết nạp thành viên mới. Luật HTX năm 2003
đã khẳng định mọi hoạt động của HTX được tuân theo Luật Doanh nghiệp, tuy
nhiên hầu hết các HTX nông nghiệp trong tỉnh vẫn hoạt động theo cơ chế cũ, cơ
36
chế được Nhà nước bao cấp, chính vì vậy việc tuân thủ Luật trong hoạt động sản
xuất kinh doanh chưa được thực hiện tốt. Mặt khác xuất phát từ chính kết quả sản
xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp, số HTX nông nghiệp làm ăn hiệu quả thì
không nhiều, hầu hết trong tình trạng hoà vốn hoặc thua lỗ, do vậy tâm lý “tỵ nạnh”
cũng khiến cho các hoạt động theo Luật không thực hiện được. Quan hệ phân phối
lợi ích trong HTX chưa được thực hiện đúng theo nguyên tắc HTX.
Đa số các HTX nông nghiệp hiện nay được chuyển đổi từ HTX kiểu cũ, tuy
nhiên việc chuyển đổi được thực hiện trên giấy tờ cho phù hợp với quy định của Luật
HTX. Trên thực tế, không có sự huy động vốn góp từ xã viên trên cơ sở tự nguyện
bình đẳng mà chia tài sản cũ của HTX thành cổ phần cho xã viên.
Mô hình HTX nông nghiệp chưa rõ bản sắc riêng cũng chưa thoát khỏi hẳn
mô hình HTX kiểu cũ như: Các hộ không phải là xã viên nhưng vẫn được hưởng
dịch vụ của HTX với giá, chi phí như xã viên, nhiều hoạt động kinh doanh không
xuất phát từ nhu cầu chung của xã viên mà xuất phát từ lợi ích của một nhóm cán
bộ quản lý HTX nông nghiệp. Nhiều HTX nông nghiệp chuyển đổi còn mang
tính hình thức, không chỉ tồn tại về mặt danh nghĩa: cho thuê mặt bằng, ngành
nghề hoạt động chính đã đăng ký khác với ngành nghề hoạt động.
Qua thu thập số liệu của 70 HTX nông nghiệp, trong đó có tới 62 HTX vẫn
tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ tổng hợp, một lĩnh vực hoạt động kinh
doanh mang lại lợi nhuận thấp và đa số các HTX xã này làm khâu trung gian cung
cấp dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp để hưởng trích phần trăm hoa hồng, có thể nói
đây là một hạn chế, các HTX chưa mạnh dạn thay đổi phương thức hoạt động sản
xuất kinh doanh. Bên cạnh đó các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp khác chiếm tỷ lệ
thấp và rất thấp như: nông nghiệp trồng lúa và chế biến nông sản 1 HTX chiếm 1,4%;
nông nghiệp và chăn nuôi gia súc gia cầm 3 HTX chiếm 4,3%; nông nghiệp trồng
rau và cây ăn quả 4 HTX chiếm 5,7%; Tuy nhiên các lĩnh vực này cũng còn tuỳ
thuộc vào điều kiện tự nhiên và khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của các
HTX. Đây là một trong những vấn đề mà các HTX nông nghiệp cần phải xem xét, tuy
là những lĩnh vực không mới nhưng nó tạo ra mức lợi nhuận tốt hơn, là cầu nối để
37
gắn kết quá trình sản xuất với quá trình tiêu thụ và các yếu tố khác trong nền kinh tế
thị trường và chính thông qua các lĩnh vực này mà nông sản phẩm mới gia tăng giá
trị, tạo ra những sản phẩm mới phong phú và đa dạng để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Bảng 2.8. Phân loại các hợp tác xã nông nghiệp điều tra theo
loại hình sản xuất kinh doanh
Loại hình sản xuất kinh doanh
T T Huyện, TP, TX Số HTX
Loại hình khác NN và DV TH NN và DV môi trường
1 NN trồng lúa và CB nông NN trồng rau và cây ăn NN và chăn nuôi gia súc gia cầm 1 NN và nuôi trồng thủy hải sản NN và s/xuất hàng thủ công mỹ Lạc Thủy 21 20
2 Yên Thủy 3 3
3 Lạc Sơn 2 2
4 TP Hòa Bình 9 8 1
5 Kỳ Sơn 2 2
6 Kim Bôi 1 1
7 Mai Châu 3 3
8 Lương Sơn 13 11 1 1
9 Đà Bắc 7 6 1
10 Tân Lạc 5 4 1
11 Cao Phong 4 2 2
Tổng cộng 70 62 1 4 3
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các HTX nông nghiệp tỉnh Hòa
Bình.
2.2.2.1. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam với một thành phố
tỉnh lỵ và 10 huyện, nhưng lại giáp danh với cả trung du, đồng bằng Bắc bộ cách
38
thủ đô Hà Nội 73 km. Mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy của Hòa Bình
tương đối phát triển so với các địa phương lân cận, đặc biệt là giao thông liên tỉnh. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.595 km2, chiếm 1,4% tổng diện tích cả nước, thời
gian chiếu nắng trong năm khá lớn nên nền nhiệt độ cũng khá, tổng lượng mưa của
tỉnh khá dồi dào là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho phát triển HTX nông
nghiệp và phát triển chăn nuôi, trồng trọt, lâm nghiệp.
* Địa hình, thổ nhưỡng
Hoà Bình có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía Tây Bắc
có độ cao trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm
44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía Đông Nam, diện tích 262.202
ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ
dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung bình từ 100 – 200 m.
Như vậy có thể đánh giá, Hòa Bình với các dạng địa hình nêu trên có điều
kiện mặt bằng khá thuận lợi trong các quy hoạch khai thác sử dụng đất cho các mục
đích phát triển các hợp tác xã nông lâm nghiệp (với hướng chủ yếu là các cây hoa
màu lương thực, các cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp dài
ngày và các cây lâm nghiệp...).
* Khí hậu, thuỷ văn
Hoà Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè
nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 230C. Tháng 7 có nhiệt độ
cao nhất trong năm, trung bình 27 – 290C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình
15,5 – 16,50C.
Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh được phân bố tương đối
đồng đều với các sông lớn là sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Lạng, sông Bùi.
Mưa, bão tập trung từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với lượng mưa trung
39
bình hàng năm là 1800 - 2200 mm. Các hiện tượng gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy ra. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,70C; cao nhất 41,20C; thấp nhất 1,90C. Tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ trung bình từ 27-290C; tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình 15,5-16,50C. Tần suất sương muối xảy ra: 0,9
ngày/năm.
* Tài nguyên, khoáng sản
Tài nguyên đất:
Tỉnh Hòa Bình có 466.252,86 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó: Diện tích
đất nông nghiệp là 66.759 ha, chiếm 14,32%; diện tích đất lâm nghiệp là 194.308
ha, chiếm 41,67%; diện tích đất chuyên dùng là 27.364 ha, chiếm 5,87%; diện tích
đất ở là 5.807 ha, chiếm 1,25%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là
172.015 ha, chiếm 36,89%.
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 45.046 ha,
chiếm 67,48%, trong đó diện tích trồng lúa là 25.356 hecta, chiếm 60,51% diện tích
đất trồng cây hàng năm; diện tích đất trồng cây lâu năm là 4.052 ha, chiếm 6,06%;
diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 900 ha.
Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 135.010 ha; diện tích đất bằng
chưa sử dụng là 3.126 ha; diện tích đất có mặt nước chưa sử dụng là 6.385 ha.
Tài nguyên rừng:
Tính đến năm 2010, diện tích đất có rừng của tỉnh Hòa Bình là 196.049 ha,
trong đó: Rừng tự nhiên là 146.844 ha; rừng trồng là 49.205 ha.
Trữ lượng gỗ khai thác khoảng 4,75 triệu m3 gỗ và 128,7 triệu cây nứa,
luồng; động vật rừng có một số loài thú như: Gấu, lợn rừng, khỉ, cày, cáo, rùa núi,
nai rừng nhưng số lượng không lớn.
Các khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh gồm có 3 khu bảo tồn thiên nhiên với
tổng diện tích là 18.435 ha, trong đó có rừng là 15.565 ha, đất trống có khả năng
nông, lâm nghiệp là 2.870 ha.
Tài nguyên, khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản có 12 loại. Khoáng sản là nguyên liệu vật liệu xây
dựng và nguyên liệu làm sứ: Ðất sét, đá vôi, đá granít, đá cócđoa...; khoáng sản kim
loại như: Quặng sắt mỏ nhỏ trữ lượng ít chưa xác định, sắt, quặng đa kim (đồng,
chì, kẽm, thuỷ ngân, antimoan), vàng sa khoáng, khoáng sản phi kim loại như pirít,
40
photphorít, cao lanh...; khoáng sản than đã được khai thác rải rác ở huyện Kim Bôi,
Lạc Thuỷ, Lạc Sơn, có nhiều vỉa lộ thiên để khai thác với trữ lượng 1 triệu tấn.
Tài nguyên du lịch:
Tỉnh Hòa Bình có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như: Ðộng Tiên, huyện Lạc
Thủy, động Tiên Phi thị xã Hòa Bình, các khu bảo tồn thiên nhiên, suối nước
khoáng Kim Bôi, hồ sông Ðà và nhà máy thủy điện Hoà Bình lớn nhất Đông Nam
Á; bản làng văn hóa truyền thống các dân tộc trong tỉnh như bản Giang Mỗ dân tộc
Mường huyện Kỳ Sơn, bản Lác, bản Văn dân tộc Thái huyện Mai Châu, Xóng
Dướng dân tộc Dao huyện Ðà Bắc...; khu du lịch Suối Ngọc-Vua bà huyện Lương
Sơn và nhiều di tích lịch sử, di tích văn hóa, kiến trúc, ngành nghề truyền thống, lễ
hội, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian của nhiều dân tộc trong tỉnh phong
phú, đa dạng, độc đáo là những sản phẩm của nền "Văn hóa Hòa Bình.
2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng, thị trường
Trên địa bàn tỉnh có các tuyến đường quốc lộ quan trọng chạy qua. Vị trí địa
lý và giao thông đã tạo cho Hòa Bình những điểm thuận lợi: thứ nhất, đó là cửa ngõ
của khu vực Tây Bắc, là điểm giao thương với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và cả
phía nam thông qua hệ thống đường bộ phát triển. Điều này sẽ giúp mở rộng thị trường
hàng hóa, kích thích phát triển sản xuất trong nền kinh tế tập thể. Thứ hai, vị trí tiếp
giáp với thủ đô Hà Nội tạo điều kiện cho Hòa Bình có thể thu hút và tiếp cận được các
nguồn vốn đầu tư, khoa học công nghệ và lao động có chất lượng cao qua đó góp phần
nâng cao năng lực hoạt động cho các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Các kết cấu hạ tầng khác phục vụ phát triển kinh tế và đời sống như đường
giao thông, trường học, trạm y tế, các công trình thủy lợi đầu mối (trạm bơm tiêu
úng, cống đầu mối, hệ thống cống qua đê…) chủ yếu do các doanh nghiệp có đủ
điều kiện năng lực thực hiện, HTX đã thực hiện chức năng là một tổ chức đại diện
của xã viên, cùng với các tổ chức khác và chính quyền làm tốt công tác huy động
nguồn lực địa phương, giám sát thi công, quản lý sử dụng khai thác tốt các công
trình kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Hoạt động
dịch vụ của HTX gắn liền với cơ sở hạ tầng chung đã đáp ứng các nhu cầu dịch vụ
41
công (như tưới tiêu, thời vụ, dự báo sâu bệnh…, hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển sản
xuất đạt hiệu quả cao). Kết cấu hạ tầng KT-XH được tăng cường, nhất là thủy lợi,
giao thông…góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt
kinh tế địa phương.
HTX là đơn vị kinh tế tự chủ, có tư cách pháp nhân, hoạt động không giới
hạn vi phạm hành chính. Thực tiễn các HTX quan hệ với kinh tế hộ thông qua hợp
đồng kinh tế, bằng nghị quyết, bàn bạc công khai dân chủ; phần lớn các HTX nông
nghiệp có quan hệ ít nhiều với các doanh nghiệp cung ứng vật tư giống, phân bón,
thuốc trừ sâu, một số ít HTX đã từng bước thực hiện việc liên doanh liên kết với
các doanh nghiệp sản xuất tiêu thụ sản phẩm hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình phát
triển sản xuất.
2.2.2.3. Khoa học công nghệ
Những năm qua, được sự quan tâm và tập trung đầu tư của tỉnh, khoa học và
công nghệ đã góp phần tạo sự chuyển biến sâu sắc về nông nghiệp, nông thôn và
nông dân.
Khoa học và công nghệ đã tích cực hỗ trợ HTX nông nghiệp, nông dân, xây
dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, đặc
biệt là các mô hình sản xuất các sản phẩm sạch gắn với việc tiết giảm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, việc sử dụng cây trồng có
khả năng chịu hạn, chống sâu bệnh, năng xuất cao..nhờ vậy giảm đáng kể lượng
thuốc trừ sâu. Bên cạnh đó là việc hướng dẫn, hỗ trợ sử dụng các mô hình kinh tế
tổng hợp nhằm khai thác một cách hiệu quả, hợp lý các tiềm năng và lợi thế so sánh
của địa phương.
Giúp HTX nông nghiệp, nông dân nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
phẩm (nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, xây dựng quảng bá thương hiệu,
định hướng và xúc tiến thị trường...) phù hợp xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Khoa học và công nghệ cũng tham gia một cách tích cực vào việc nghiên
cứu giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, CNH, HĐH và đô thị hoá nông nghiệp và nông thôn cũng như đời
42
sống nông dân như (xoá đói giảm nghèo, phân tầng xã hội, công bằng và phúc lợi xã
hội, chuyển dịch lao động....)
2.2.2.4. Trình độ phát triển nhân lực
Hoạt động hiệu quả của HTX nông nghiệp Hòa Bình phụ thuộc vào nhiều
yếu tố, một trong những yếu tố quyết định là chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn
nhân lực bao gồm cả lao động quản lý và lao động hoạt động trực tiếp và gián tiếp
trong quá trình sản xuất – kinh doanh của các HTX nông nghiệp. Thiếu cán bộ có
năng lực quản lý và điều hành các hoạt động dịch vụ, trình độ học vấn, chuyên
môn nghiệp vụ của hầu hết cán bộ HTX đều ở mức thấp, trên 70% cán bộ HTX
chưa qua đào tạo một cách hệ thống, bài bản và chưa có nhiều kinh nghiệm khi
tiếp cận với thương trường theo cơ chế thị trường. Kết quả là việc xây dựng
chiến lược sản xuất kinh doanh dịch vụ còn nhiều lúng túng, nhất là trong các
HTX sản xuất thuần nông. Số lao động được đào tạo có tay nghề kỹ thuật còn
quá ít. Cán bộ, xã viên phần lớn thiếu thông tin về pháp luật, thị trường, khoa
học - công nghệ. Qua thực tế cho thấy những HTX nông nghiệp loại khá, hoạt
động có hiệu quả là những HTX có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cao, tâm huyết với HTX và ngược lại.
Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
HTX chưa được quan tâm. Mặt khác, vịêc lựa chọn bố trí cán bộ HTX còn mang
tính áp đặt từ chính quyền địa phương, cấp uỷ Đảng, nên chưa thực sự lựa chọn
những người có năng lực vào Ban quản trị HTX. Một yếu tố khác không kém phần
quan trọng là chế độ phụ cấp cho cán bộ HTX quá thấp, không đủ để tái sản xuất
sức lao động, (cụ thể ở Hòa Bình lương bình quân chủ nhiệm chỉ 500.000 – 650.000
đ/tháng những HTX yếu kém lương chủ nhiệm chỉ 300.000 -400.000đ/tháng), vì
vậy nhiều cán bộ HTXNN tìm cách xin chuyển sang công việc chính quyền hay mở
DN tư nhân. Nếu có làm thì mang hình thức chiếu lệ "được chăng hay chớ".
Bên cạnh đó trình độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ hay có tay nghề kỹ
thuật cao của các xã viên HTX nông nghiệp còn rất thấp do tỉnh Hòa Bình là một
43
tỉnh miền núi với phần đông là đồng bào dân tộc thiểu số ít người nên trình độ
học vấn chuyên môn cũng như sự hiểu biết về khoa học và kỹ thuật còn tương
đối hạn chế.
Nếu được đào tạo cơ bản về kiến thức, giáo dục thường xuyên về đạo đức, kỹ
năng nghề nghiệp cho người lao động, việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu
quả lao động sẽ được duy trì và phát triển. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng, người lao
động hiểu được bản chất công việc, thành thạo các kỹ năng nghiệp vụ, làm việc có
trách nhiệm, gắn bó với doanh nghiệp và dĩ nhiên hiệu suất lao động tăng, thu nhập
của nông dân ổn định, HTX nông nghiêp phát triển bền vững.
Chất lượng nguồn nhân lực là lợi thế so sánh hàng đầu của HTX nông nghiệp
bởi vì nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì và
phát triển của HTX nông nghiệp.
Hơn nữa để thực hiện tốt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông
thôn mới mà việc phát triển HTX nông nghiệp làm ăn có hiệu quả là một trong
những tiêu chí để các xã đạt nông thôn mới thì đào tạo nguồn nhân lực cho HTX
nông nghiệp và bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ HTX lớn mạnh, có năng lực,
trình độ và phẩm chất, uy tín cao, sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững và góp phần phát triển HTX nông
nghiệp và thắng lợi trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, hội nhập quốc tế.
2.2.2.5. Cơ chế chính sách chung của Nhà nước và của tỉnh Hòa Bình
*Về phía nhà nước:
Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở những chủ trương, đường lối lớn của Đảng,
đã khẳng định: kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh
doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng
có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các HTX hoạt động có hiệu
quả. Điều đó là kết quả của một thời gian dài vận động thực tiễn và tổng kết lý luận
của Đảng và Nhà nước ta về HTX. Sự khẳng định của Hiến pháp năm 1992 đã tạo
đà cho sự đổi mới không ngừng về cơ chế quản lý phát triển HTX của Nhà nước.
Trên cơ sở những điều mà Hiến pháp năm 1992 viết về kinh tế tập thể, ngày
44
20/3/1996, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá 9, Luật HTX được thông qua, mở ra một
trang sử mới cho công tác tổ chức, quản lý và phát triển kinh tế tập thể nói chung,
HTX nói riêng. Luật HTX 1996 ban hành là cơ sở pháp lý bước đầu cho việc
chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới. Theo đó Chính phủ
đã ban hành một loạt các văn bản dưới luật như: (1) Nghị định 15/CP ngày
21/1/1997 quy định chính sách khuyến khích phát triển HTX; (2) Nghị định 16CP
ngày 21/2/1997 về xử lý công nợ của HTX cũ chuyển đổi sang hoạt động theo luật;
và (3) Thông tư số 14/ BKH ngày 29/3/1997 của Bộ kế hoạch và Đầu tư về hướng
dẫn việc chuyển đổi và đăng ký gia đình HTX. Dưới sự điều chỉnh của hệ thống các
luật và văn bản dưới luật trên, quá trình phát triển HTX ở nước ta diễn ra theo hai
hình thức sau: chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới và
thành lập mới các HTX với chức năng chủ yếu là cung cấp dịch vụ cho hộ xã viên
cho cộng đồng và tạo việc làm cho những người lao động dễ bị tổn thương trong cơ
chế kinh tế thị trường.
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội khoá XI
thông qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004. Luật
đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận lợi và
thông thoáng hơn cho các HTX phát triển. Theo Luật, HTX có được khung khổ
pháp lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc tế.
Nếu chỉ xét riêng lĩnh vực nông nghiệp, khu vực có nhiều HTX nhất đang
hoạt động, thì hầu hết các HTX đã đảm nhiệm nhiều dịch vụ nông nghiệp phục vụ
các hộ xã viên và cạnh tranh với các cơ sở dịch vụ khác trên cùng địa bàn. Bên cạnh
đó, các HTX đã không chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong nội bộ ngành
mà đã mở rộng sang cung cấp dịch vụ tổng hợp cho các xã viên của mình và cho thị
trường.
Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 800/QĐ-TTg về
phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-
2020. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương trình
lớn, được triển khai trên địa bàn cấp xã, nhằm phát triển nông thôn toàn diện, bao
45
gồm nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi
trường, hệ thống chính trị cơ sở. Và một trong những tiêu chí để các xã đạt nông
thôn mới là phải có HTX nông nghiệp hoạt động và làm ăn có hiệu quả. Đây là một
nội dung rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của HTX nông nghiệp tại Việt
Nam
* Về phía tỉnh Hòa Bình:
Là tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế bởi lợi thế về tài nguyên, du lịch, lực
lượng lao động dồi dào… tuy nhiên Hoà Bình vẫn là tỉnh nghèo, hàng năm ngân
sách Trung Ương phải bổ sung trên 80%. Để thay đổi bộ mặt của tỉnh, Hoà Bình đã
thực hiện chủ trương “trải thảm đỏ để thu hút đầu tư”
Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chỉ thị 20-CT/TW của Ban Bí thư
Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo thực hiện Nghị quyết số 13, Hội nghị
TW5 (Khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể;
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò quản lý của nhà nước trong việc
ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể. Phối hợp
với các sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh và các huyện, thành phố tích cực tổ chức các
hoạt động tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước
về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; phổ biến các văn bản pháp
luật về HTX, vận động và hướng dẫn thành lập mới các tổ hợp tác, HTX. Duy trì
giới thiệu các mô hình HTX mới, các điển hình kinh tế tập thể tiên tiến trên chuyên
mục về kinh tế hợp tác, HTX trên Báo Hòa Bình, Đài Phát thanh và Truyền hình
tỉnh. Thông qua công tác tuyên truyền đã góp phần làm cho các cấp ủy Đảng, chính
quyền từng bước nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí, hiệu quả của mô hình kinh tế
tập thể, hợp tác xã đối với phát triển kinh tế nói chung ở địa phương. Hàng năm,
thông qua Liên minh HTX tỉnh xây dựng chương trình phối hợp với Hiệp hội doanh
nghiệp tỉnh tạo điều kiện cho đại diện các HTX được gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với
lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo các sở, ngành về những thuận lợi, khó khăn trong sản
xuất, kinh doanh và đề xuất, kiến nghị các chính sách đối với phát triển kinh tế tập
thể, HTX; đồng thời, đây cũng là dịp để phát động phong trào thi đua hằng năm tới
46
các thành viên, xã viên tạo động lực thúc đẩy sản xuất – kinh doanh hiệu quả.
Thường xuyên tham gia phối hợp giữa các ngành liên quan tư vấn, giúp đỡ
các đơn vị thành viên sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật; nghiên cứu, đinh hướng
giải quyết các khó khăn, vướng mắc, đơn thư, khiếu nại ở các cơ sở thành viên đảm
bảo quyền lợi công bằng, hợp pháp cho các hợp tác xã, xã viên và người lao động
theo đúng quy định của pháp luật. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, chi nhánh
ngân hàng các huyện kiểm tra, hướng dẫn các dự án sử dụng vốn vay đúng mục
đích, có hiệu quả, hoàn trả vốn đúng kỳ hạn; Qua việc hỗ trợ vay vốn, các thành
viên HTX đã từng bước mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực
cạnh tranh trong và ngoài tỉnh.
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của khu vực kinh tế
tập thể, tỉnh cần tiếp tục nâng cao hơn nữa năng lực tư vấn, hỗ trợ có hiệu quả cho
các HTX, triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế
tập thể, nắm bắt tình hình, thực trạng các tổ hợp tác, HTX, đề xuất với các cấp bộ
ngành trung ương kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các HTX, phối
hợp với các ngành xây dựng các mô hình HTX điển hình tiên tiến, các HTX mới để
lực lượng kinh tế tập thể phát huy tối đa sức mạnh nội lực cùng với các thành phần
kinh tế khác đưa nền kinh tế của tỉnh ngày càng phát triển vững chắc./.
2.2.2.6. Công tác quản lý, hỗ trợ của chính quyền các cấp trong tỉnh Hòa Bình
Tỉnh Hòa Bình luôn thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ về dạy nghề, đào tạo
cán bộ quản lý; trợ giúp, chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật, xúc tiến đầu tư,
thương mại… đối với các loại hình kinh tế tập thể, nhất là hợp tác xã.
Các cơ quan chức năng của tỉnh như Sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Sở Công thương… hàng năm đã
mở hàng trăm lớp tập huấn cho hàng ngàn đối tượng là các bộ HTX nông nghiệp
trong tỉnh. Bên cạnh đó phối hợp với các tỉnh bạn đưa những sản phẩm của các
HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình bày bán tại các hội chợ thương mại trong cả
nước…
Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, vốn hoạt động của HTX. Gắn sản xuất
47
với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về kinh tế tập thể.
Chú trọng việc nghiên cứu tổng kết các mô hình tiên tiến để nhân rộng. Tạo
điều kiện cho các HTX tham gia vào triển khai các chương trình, dự án phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương, các chương trình Quốc gia về xoá đói, giảm nghèo,
xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề về an sinh xã
hội.
Tóm lại: Bên cạnh những kết quả đạt được, các HTX nông nghiệp ở tỉnh còn
bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế, trong đó khó khăn lớn nhất về vốn, ngành nghề dịch
vụ, cán bộ quản lý. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chậm.
Kinh tế hợp tác và phong trào xây dựng HTX kiểu mới, nhất là đối với HTX trong
lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chưa được đầu tư đúng mức, chất lượng chuyển
đổi trong hoạt động của các HTX còn nặng hình thức, hiệu quả chưa cao
Vấn đề đặt ra là phải tìm tòi những mô hình thích hợp, những giải pháp có
tính khả thi để phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp mà nòng cốt là HTX kiểu
mới tương xứng với vị trí, vai trò trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn trên địa bàn tỉnh.
2.3. Kết luận chung.
Tóm lại thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của
các HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình có thể thấy rằng sự phát triển của các
HTX nông nghiệp tỉnh Hòa Bình còn rất thấp so với mặt bằng của các tỉnh miền
núi trung du phía bắc.
Từ những thành công cũng như những thất bại của các HTX nông nghiệp
trên địa bàn tỉnh có thể rút ra bài học kinh nghiệm sau:
- Cho dù là mô hình HTX nông nghiệp nào thì cũng phải đáp ứng được
lợi ích thiết thực của bà con xã viên; HTX nông nghiệp phải thể hiện là tổ chức
kinh tế tự chủcủa dân, tự dân tổ chức, quản lý đáp ứng cho nhu cầu chung.
Không được nhầm lẫn mô hình HTX nông nghiệp với mô hình doanh nghiệp,
48
công ty hoạt động theo Luật doanh nghiệp, giữa HTX nông nghiệp với tổ chức xã
hội, từ thiện. Đồng thời phải ngăn ngừa hiện tượng lợi dụng HTX nông nghiệp để
hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước và trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Phải thực hiện đầy đủ các chủ trương, chính sách, pháp luật và đảm
bảo phải có sự lãnh chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đới với sự phát triển của kinh
tế HTX nông nghiệp. Đảng đã có chủ trương, đường lối và giải pháp đúng đắn,
Nhà nước đã có chính sách cụ thể, tạo khung khổ pháp lý cơ bản cho quá trình đổi
mới và phát triển HTX nông nghiệp . Tuy nhiên cần phải có sự quan tâm thực sự,
thích đáng trong chỉ đạo, có biện pháp tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời các chủ
trương, đường lối, chính sách đó. Từ thực tế cho thấy, nơi nào các cấp uỷ, chính
quyền quan tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo, có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí
của kinh tế tập thể nói chung và kinh tế HTX nông nghiệp nói riêng thì nơi đó các
HTX nông nghiệp có điều kiện thuận lợi để phát triển.
- Các HTX nông nghiệp phải tự vươn lên từ nội lực của mình, chủ động
thích nghi với cơ chế thị trường luôn biến động và khó lường. Đổi mới thực sự cả
về lối nghĩ và cách làm, cả về cung cách quản lý để tổ chức lại hoạt động dịch vụ,
sản xuất kinh doanh gắn liền với lợi ích của các xã viên, cả lợi ích kinh tế và lợi ích
xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực cho các HTX nông nghiệp là nhân tố có ý nghĩa
quan trọng, quyết định đến sự thành bại của các HTX nông nghiệp , đặc biệt là cán
bộ chủ chốt phải là những người thực sự có năng lực, tâm huyết, và gắn bó với
sự nghiệp phát triển HTX nông nghiệp . Coi trọng khâu tuyên truyền và xây dựng
phát triển HTX nông nghiệp, đặc biệt là nghiên cứu, tổng kết, xây dựng và nhân
rộng các mô hình HTX nông nghiệp điển hình tiến tiến, mạnh dạn áp dụng những
tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất.
- Đối với những HTX nông nghiệp không chỉ phát triển có hiệu quả trên cơ sở
làm tốt những dịch vụ đã có mà còn phải mở rộng các ngành nghề kinh doanh, tích
cựctham gia liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác để tạo ra sức mạnh
tổng hợp, giảm áp lực cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Đồng thời phải không
ngừng chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho các HTX nông nghiệp khác, chủ
49
động tìm kiếm thị trường mới, huy động nguồn vốn để khai thác các tiềm năng sẵn có,
lợi thế so sánh của địa phương.
- Vấn đề cán bộ là nhân tố quan trọng quyết định đến hoạt động của HTX
nông nghiệp . Vì vậy cần phải có đội ngũ cán bộ quản lý HTX nông nghiệp có năng
lực, có kiến thức về quản lý kinh tế, sản xuất kinh doanh, nhạy bén trong nền kinh
tế thị trường. Cán bộ chủ chốt của HTX nông nghiệp phải dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm và đặc biệt phải có phẩm chất đạo đức tốt và được xã viên tin tưởng,
tín nhiệm.
- Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương bên cạnh việc ban hành
các chủ trương, chính sách và pháp luật còn phải tăng cường kiểm tra, giám sát đồng
thời hướng dẫn các đơn vị, địa phương chưa thực hiện đầy đủ để hướng dẫn các chính
sách đó thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả cao nhất.
- Liên minh HTX tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như
các Sở, ban, ngành trong tỉnh cần bám sát các chương trình phát triển kinh tế xã
hội của đất nước, của tỉnh để vận dụng vào trong các hoạt động của mình góp phần
thúc đẩy kinh tế tập thể phát triển bền vững. Tham mưu cho các cấp, các ngành các ý
kiến, đề xuất các hoạt động thiết thực cho các HTX nông nghiệp nhằm thực hiện tốt
các chủ trương chính sách, tuyên truyền vận động và tư vấn cho các HTX nông
nghiệp thành viên để hệ thống các HTX nông nghiệp có phương hướng, đường lối
50
phát triển đúng đắn
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
Ở TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
3.1. ĐỊNH HƯỚNG NHẰM PHÁT TRIỂN HTX NÔNG NGHIỆP Ở
TỈNH HÒA BÌNH
3.1.1. Cơ sở của những định hướng
Hiện nay kinh tế nông thôn đang chịu áp lực chung cho cả 2 hướng:
chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp nông thôn lạc hậu, chậm phát triển sang kinh
tế thị trường phát triển và quá trình này thúc đẩy bởi tiến trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá. Hai quá trình này diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà phải
hoà nhập vào nền kinh tế thế giới và chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách
mạng khoa học công nghệ cao, hiện đại. Đây cũng là thời cơ và thách thức và cũng
là tác nhân góp sức, thúc đẩy kinh tế nông dân, nông thôn có sự thay đổi sâu sắc
cả trên bình diện rộng và sâu, làm thay đổi căn bản trong phương thức sản xuất và
nhận thức sản xuất kinh tế nông thôn đang hình thành phương thức sản xuất công
nghiệp, phương thức kinh doanh hướng thị trường, theo đuổi mục tiêu tăng trưởng
cao.
Xã hội nông thôn, nông dân đang bị phân hoá, tầng lớp giàu và nghèo. Bên
cạnh đó, tiến trình kinh tế nông thôn đang có sự phân hoá kinh tế nông dân theo
nghề nghiệp kinh tế nông dân chuyển theo hướng đa canh, đa ngành và một phần
chuyển mạnh sang hướng chuyên môn hoá và công nghiệp dịch vụ, tức là hoạt
động phi nông nghiệp tăng lên. Điểm nữa là, kinh tế nông thôn đang trong quá
trình thị trường hoá. Các hoạt động nông nghiệp nông thôn càng ngày càng gắn
vào thị trường và bị lôi cuốn vào thị trường. Các hộ nông dân đã chuyển sang kinh
doanh và hoạt động kinh tế đang gắn với nhu cầu thị trường. Các vấn đề kinh tế
đang được giải quyết trên nhu cầu thị trườ ng (như vốn, vật tư nông nghiệp, lao
động, thị trường hàng hoá, dịch vụ v.v…). Các vấn đề này cho thấy hoạt động kinh
tế của các chủ thể kinh tế tự chủ chủ yếu thiên về các quan hệ dịch vụ, hàng hoá,
51
nếu họ tham gia HTX thì sẽ là các loại hình HTX dịch vụ, mua bán, vật tư, hay
các hiệp hội tiêu thụ nông sản,..
Chính vì thế, đổi mới hoạt động của các HTX nông nghiệp xuất phát từ những
sự thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn mà tâm điểm
đó lại bắt nguồn từ kinh tế hộ gia đình ở nông thôn. Cần phải đưa ra các biện pháp
để đẩy mạnh sự đi lên của kinh tế hộ, thay đổi cơ bản phương thức sản xuất của loại
hình này tạo đà chuyển đổi cách thức sản xuất theo hướng thị trường và đây cũng là
những hạt nhân để xây dựng những đơn vị sản xuất kinh doanh tại nông thôn – đó
chính là các HTX nông nghiệp.
Thực hiện Luật HTX năm 2003 và Nghị quyết số 13 NQ/TW hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa IX) về kinh tế tập thể, Chính
phủ đã ban hành hệ thống các chính sách về phát triển kinh tế tập thể. Các bộ,
ngành cũng đã có thông tư hướng dẫn. Tỉnh Hòa Bình đã tổ chức các hoạt động
hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp trong khung khổ các chương trình, dự án
khuyến nông, khuyến công và phát triển ngành nghề nông thôn; nước sạch và vệ
sinh môi trường nông thôn; kiên cố hóa kênh mương; đào tạo tập huấn cán bộ...
Đồng thời, tổ chức các hội nghị quán triệt, sơ kết Nghị quyết Trung ương về kinh
tế tập thể, tổ chức hội thảo, diễn đàn bàn về các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho
các HTX nông nghiệp.
Công tác tổ chức, quản lý HTX tiếp tục được củng cố và đổi mới theo
hướng nâng cao hiệu quả hoạt động; khắc phục tình trạng nhiều HTX thua lỗ kéo
dài; đưa số HTX làm ăn có lãi ngày một tăng. Đặc biệt đã có nhiều HTX vươn lên,
vượt qua khó khăn, mở rộng nhiều hoạt động và đa dạng lĩnh vực sản xuất - kinh
doanh, dịch vụ như: hoạt động tín dụng nội bộ; tiêu thụ sản phẩm; phát triển ngành
nghề; nước sạch nông thôn; vệ sinh môi trường...
Số lượng HTX thành lập mới năm sau nhiều hơn năm trước và các HTX đã đa
dạng về tổ chức, cũng như nội dung hoạt động: HTX dịch vụ nông nghiệp, HTX
chuyên ngành chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, HTX rau an toàn...
Trong phong trào thi đua thực hiện Nghị quyết Trung ương về phát triển
52
kinh tế tập thể, đã xuất hiện nhiều HTX làm ăn giỏi, thực sự là những nhân tố cho
phong trào phát triển HTX ở mỗi địa phương. Sự thành công của các HTX điển
hình tiên tiến trước hết là sự cố gắng của xã viên HTX, sự nhiệt tình, năng động của
cán bộ quản lý HTX.
3.1.2. Định hướng và mục tiêu nâng cao hoạt động của các hợp tác xã nông
nghiệp ở tỉnh Hòa Bình
3.1.2.1. Định hướng
Phát triển HTX thời gian qua đang còn hạn chế và không đồng đều giữa các
vùng, còn có nhiều xã chưa có HTX, nhất là ở các vùng miền núi; các HTX điển
hình, tiên tiến, nhân tố mới chưa được nhân rộng; số hợp HTX trung bình, yếu kém
còn nhiều. Do vậy, để tháo gỡ khó khăn cho HTX và phát triển HTX nông nghiệp
trong thời gian tới cần có các giải pháp đồng bộ từ chính sách hỗ trợ đến công tác
chỉ đạo và định hướng xây dựng mô hình phát triển HTX nông nghiệp chung cho cả
tỉnh và mô hình cụ thể cho từng vùng.
Thứ nhất: Phát triển kinh tế hợp tác, HTX với các hình thức đa dạng, trình độ
phát triển từ thấp đến cao, không giới hạn về quy mô, lĩnh vực địa bàn. Phát triển
các HTX, Liên hiệp HTX chuyên ngành và đa ngành. Hướng dẫn tạo điều kiện để
các HTX cùng ngành nghề, cùng địa bàn, quy mô nhỏ (nhất là các HTX trong
nông nghiệp quy mô thôn, xóm, bản), liên kết, hợp nhất, sáp nhập thành những
HTX có quy mô lớn hơn, để tăng tiềm lực tài chính, quy mô hoạt động của HTX
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo đúng các nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của HTX.
Thứ hai: Phát triển HTX phải trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế
trang trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển. Kinh tế hợp
tác, HTX lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và
lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên góp phần xoá
đói giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên và phát triển cộng đồng.
Thứ ba: Đẩy mạnh việc củng cố, nâng cao năng lực các HTX và phát triển HTX
mới. Chỉ đạo chuyển đổi dứt điểm các HTX kiểu cũ còn khả năng chuyển đổi, còn
53
những HTX nào không có khả năng chuyển đổi hoặc đã chuyển đổi mà hoạt động
hình thức không có hiệu quả thì chỉ đạo cho giải thể kịp thời.
Thứ tư: Quan tâm tạo điều kiện cho các tổ hợp tác phát triển như là một bộ
phận cấu thành quan trọng của kinh tế tập thể, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các tổ
hợp tác phát triển thành các HTX khi có đủ điều kiện.
Tùy theo điều kiện cụ thể ở mỗi địa phương, việc xây dựng mô hình HTX
nông nghiệp theo các hướng cụ thể sau:
Phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp, HTX chủ yếu thực hiện các hoạt động tổ
chức và hướng dẫn xã viên thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thực hiện dịch vụ
đầu vào và hoạt động giúp đỡ nhau mang tính cộng đồng. Cụ thể:
+ Tổ chức hướng dẫn xã viên, nông dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản
xuất. Làm tốt việc tổ chức sản xuất, hướng dẫn nông dân, xã viên cùng nhau hợp
tác trồng cây gì, nuôi con gì, một cách có hiệu quả, xác định cơ cấu mùa vụ, cơ
cấu cây trồng và cơ cấu kinh tế hợp lý, ... tạo ra vùng sản xuất sản phẩm tập trung
có khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn.
+ Tổ chức dịch vụ sản xuất kinh tế hộ. Tùy theo điều kiện cụ thể từng vùng,
từng HTX tổ chức các hoạt động dịch vụ như: tưới tiêu, vật tư, làm đất, bảo vệ thực
vật, thú y, giống cây trồng, vật nuôi, tiêu thụ nông sản phẩm...
+ Liên kết với doanh nghiệp chế biến trong việc tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp theo các mô hình liên kết.
+ Theo quy mô và phạm vi hoạt động của mình mà HTX tổ chức bộ máy
quản lý thích hợp (tổ dịch vụ làm đất, tổ dịch vụ vật tư, tổ dịch vụ tín dụng, tổ
khoa học - kỹ thuật, tổ tiêu thụ sản phẩm,...).
- Phát triển HTX nông nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ tổng hợp.
Ngoài việc HTX tổ chức, thực hiện những nội dung của mô hình HTX dịch vụ, còn
tổ chức sản xuất kinh doanh như: chế biến nông, lâm sản; sản xuất tiểu thủ công
nghiệp; cung cấp dịch vụ cho đời sống xã viên và người dân.
- Phát triển HTX nông nghiệp chuyên ngành như: HTX chăn nuôi bò, chăn
nuôi lợn, nuôi trồng thủy sản, trồng rau an toàn; HTX chế biến nông, lâm sản...
54
phát triển ở những vùng sản xuất tập trung, có phong trào, gần thành phố và
các trung tâm huyện.
Phát triển HTX nông nghiệp trong thời gian tới phải gắn với việc đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; trong đó, HTX đóng
vai trò tích cực trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất, thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ kinh tế hộ
phát triển sản xuất hàng hóa; phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ; hướng dẫn công
tác khuyến nông, khuyến lâm; phát triển thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh
tế hộ phát triển. Trước mắt, thực hiện lồng ghép các chương trình phát triển nông
nghiệp, nông thôn với mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể.
Tập trung chỉ đạo giải quyết những tồn tại của HTX sau chuyển đổi. Đây là biện pháp
nhằm phát huy nội lực của HTX. Đồng thời, tăng cường vai trò quản lý nhà nước
đối với kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn cùng với tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối
với phát triển kinh tế tập thể.
3.1.2.2. Mục tiêu phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời gian tới
Với mục tiêu tổng quát đề ra cho khu vực kinh tế tập thể là đẩy mạnh việc
đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể đồng thời nâng cao tốc độ tăng
trưởng, đưa kinh tế tập thể cùng các thành phần kinh tế khác và kinh tế hộ xã
viên đóng góp ngày càng cao trong tỷ trọng nền kinh tế, góp phần xoá đói giảm
nghèo, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của các thành viên
và cộng đồng dân cư địa phương nhất là vùng nông thôn.
Mục tiêu cụ thể:
Củng cố tổ chức ổn định bộ máy quản lý điều hành hoạt động nhằm nâng
cao hiệu quả của các HTX nông nghiệp. Giảm tỷ lệ HTX nông nghiệp yếu kém
bình quân từ 7-10%/năm, nâng tỷ lệ các hợp tác xã làm ăn khá giỏi bình quân từ
10% lên 12%/năm.
Tạo điều kiện cho các HTX nông nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh dịch vụ để thu hút các hộ nông dân trên địa bàn nông thôn sử dụng các hoạt
55
động dịch vụ của HTX.
Khuyến khích các tổ hợp tác có đủ điều kiện đăng ký thành lập HTX, phấn
đấu bình quân mỗi năm phát triển từ 5 đến 7 HTX. Số xã viên HTX mỗi năm
tăng từ 200 đến 300 người. Số lượng tổ hợp tác tăng bình quân 4%/năm, số
lượng thành viên tổ hợp tác tăng 5%/năm.
Phấn đấu đến năm 2015 mỗi huyện, thành phố phát triển được ít nhất từ 1- 2
HTX nông nghiệp điển hình vững mạnh toàn diện.
Đến năm 2015 nâng số cán bộ quản lý hợp tác xã có trình độ đại học lên
khoảng 5-7%, trung cấp 20%. 100% cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp
vụ các HTX nông nghiệp được đào tạo các khoá tập huấn, bồi dưỡng kiến thức
quản lý kinh tế ít nhất 1 lần. Thu nhập bình quân của lao động trong các HTX nông
nghiệp tăng gấp 2,5 lần so với năm 2009 (năm 2009 thu nhập bình quân ở
500.000đ/người/tháng).
3.1.2.3. Nhiệm vụ phát triển các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hòa Bình
trong giai đoạn 2010-2015
Nâng cao hiệu quả hoạt động các HTX nông nghiệp trong sản xuất kinh
doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá nông nghiệp của xã viên và các hộ nông dân.
Tiếp tục xây dựng mới các tổ hợp tác, HTX nông nghiệp theo mô hình kinh
doanh đa ngành. Tạo điều kiện và cơ chế chính sách cho các HTX mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh.
Liên kết, sáp nhập các HTX quy mô nhỏ thành các HTX quy mô lớn. Kết nạp
xã viên, các hộ nông dân và nâng mức đóng góp vốn của xã viên để có vốn phát triển
sản xuất kinh doanh, mở rộng và đa dạng các dịch vụ như: chuyển giao khoa học
công nghệ, khuyến nông khuyến lâm, khuyến ngư, bảo vệ thực vật, thú y, vật tư,
phân bón, thức ăn chăn nuôi, sản xuất và cung ứng giống vật nuôi, cây trồng, tiêu thụ
sản phẩm, chế biến nông sản, cung ứng dịch vụ thuỷ lợi...
Mở rộng loại hình tín dụng nội bộ để tạo vốn cho xã viên và các hộ nông
56
dân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2010-2015
Với quyết tâm thực hiện mục tiêu từ nay cho đến năm 2015 đưa kinh tế tập
thể mà bộ phận chủ yếu là các HTX nông nghiệp thoát khỏi những yếu kém khó
khăn hiện nay, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao, tỷ trọng tổng sản phẩm của
khu vực kinh tế tập thể chiếm trung bình khoảng 10- 12% GDP toàn tỉnh thì trong
chiến lước phát triển kinh tế tập thể đến năm 2015 mà đặc biệt là HTX nông nghiệp
cần phải đưa ra những biện pháp nhằm củng cố, phát triển các HTX nông nghiệp
hiện nay trên địa bàn trên cơ sở thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
3.2.1. Đổi mới tư duy về nhận thức trong phát triển Hợp tác xã nông nghiệp
Nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí
HTX đối với nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ hiện nay chưa đầy đủ, rõ
ràng. Một bộ phận cán bộ các cấp, các ngành chưa thực sự tin tưởng vào vai trò,
vị trí và xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế . Mặc dù Đảng và Nhà nước
đã có nhiều chính sách tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác, HTX phát triển,
nhưng cho đến nay vẫn thiếu các văn bản hướng dẫn hoặc có nhưng chưa thực sự
sát thực. Một số cơ chế, chính sách trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng
mắc, thể hiện tập trung nhất ở những chính sách liên quan đến lĩnh vực đất đai,
thuế, tín dụng, bảo hiểm xã hội. Trong những năm qua Ủy ban nhân dân tỉnh
Hòa Bình đã ban hành nhiều quy định về cơ chế, chính sách thông thoáng cho
khu vực kinh tế tập thể và đặc biệt là các HTX nông nghiệp trên cơ sở vận
dụng linh hoạt các hướng dẫn của Trung ương, nhưng tính hiệu lực còn yếu
bởi các ngànhchức năng lại chờ những hướng dẫn cụ thể của các Bộ, ngành
chủ quản cấp trên nên việc triển khai thực hiện vẫn rất trì trệ.
Sự phát triển của các HTX nông nghiệp luôn luôn tồn tại trong những điều
kiện kinh tế- xã hội cụ thể, nó phản ánh nhận thức chủ quan của con người về thực
tế khách quan. Nếu sự nhận thức đó của con người không phản ánh đầy đủ và chân
thực thực tế khách quan về các quy luật trong nền kinh tế… thì khó có thể kích
57
thích HTX nông nghiệp phát triển được và ngược lại sự phát triển của HTX nông
nghiệp chỉ có thể tồn tại bền vững được nếu như đáp ứng được nhu cầu của thị
trường luôn biến động thay đổi cả về số lượng, chất lượng và chủng loại của nông
sản phẩm… đòi hỏi các HTX nông nghiệp phải thường xuyên nắm bắt thị hiếu, nhu
cầu của người tiêu dùng để có những sự điều chỉnh một cách kịp thời, khoa học, đáp
ứng ngày một tốt hơn nhu cầu luôn biến động trong nền kinh tế.
Một trong những vấn đề cấp bách trong những năm tới là phải hướng vào đổi
mới mạnh mẽ nhận thức về lợi ích, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các HTX
nông nghiệp trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; đổi mới nhận
thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan,
các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể các cấp đối với quá trình phát triển HTX
nông nghiệp; nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, của xã viên HTX về chủ
trương, đường lối của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước về phát
triển HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng .
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng
CNH, HĐH, các HTX nông nghiệp có vai trò quan trọng, thông qua HTX nông
nghiệp mà các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà
nước đối với nông nghiệp nông thôn được triển khai, thực hiện. Các HTX nông
nghiệp là sản phẩm của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, đồng thời sự ra
đời và phát triển của các HTX nông nghiệp lại thúc đẩy nền nông nghiệp hàng hoá
phát triển hơn nữa. Do vậy phải thấy rằng, việc thúc đẩy nông nghiệp sản xuất hàng
hoá phát triển là điều kiện tiên quyết để phát triển các HTX nông nghiệp.
Phát triển HTX nông nghiệp là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay. Chủ trương đó xuất phát từ yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá theo cơ
chế thị trường định hướng XHCN. Trong những năm tới theo định hướng phát triển
của Quốc gia, của Tỉnh thì vai trò và vị trí của HTX nông nghiệp trong cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần ở nước ta không những không giảm đi mà ngược lại được tăng
cường và củng cố. Phát triển HTX nông nghiệp là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước,
các ngành các cấp và đặc biệt là của toàn bộ hộ nông dân trong giai đoạn đẩy mạnh
58
CNH, HĐH, bởi lẽ một chủ trương chính sách hoàn toàn đúng đắn, phù hợp như nếu
không có sự tham gia, ủng hộ, hưởng ứng và đặc biệt là triển khai thực hiện trong
thực tế thì chủ trương, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, của Tỉnh cũng trở nên vô
nghĩa.
Các HTX nông nghiệp thực hiện tổ chức sản xuất vừa đáp ứng được yêu cầu
sản xuất quy mô lớn vừa đáp ứng được yêu cầu xã hội, tạo điều kiện các hộ nông
dân hợp tác cùng nhau phát triển sản xuất nâng cao đời sống, giảm bớt được những
hạn chế của sản xuất theo từng hộ nhỏ lẻ, nhất là đối với những nông dân nghèo
còn thiếu kinh nghiệm, trình độ sản xuất và vốn đầu tư. Chính vì vậy, muốn các hệ
thống HTX nông nghiệp phát triển trong tiến trình CNH, HĐH phải thực hiện cho
tốt các bước sau:
- Đi nhanh trong việc chuyển từ hệ kinh tế thị trường cổ điển sang hệ
kinh tế thị trường hiện đại. Chuyển đổi từ nền kinh tế chậm phát triển thành nền
kinh tế thị trường phát triển.
- Đi tắt, bắt kịp với công nghệ hiện đại, tiên tiến của các quốc gia trong khu
vực và trên thế giới.
- Biến ngoại lực thành nội lực trong quá trình hội nhập.
- Mở cửa, hội nhập với tiến trình phát triển hiện đại trên thế giới.
- Tăng cường bản lĩnh dân tộc, phát triển bền vững và xem đây là nền tảng
của sự phát triển hiện đại.
Phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới ở nước ta là xu hướng có tính quy luật
trong nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên quá trình phát triển đó cần
có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể các cấp trên
nhiều phương diện: tạo hành lang pháp lý cho HTX nông nghiệp kiểu mới ra
đời và hoạt động; hỗ trợ về tài chính; hỗ trợ về khoa học công nghệ, hỗ trợ về
đào tạo nguồn nhân lực HTX; hỗ trợ về chính sách thị trường, tuyên truyền, vận
động về HTX…
Các HTX nông nghiệp đều chịu sự quản lý nhà nước của chính quyền các
cấp. Tuy nhiên sự quản lý đó không được biến thành sự cản trở hay can thiệp quá
59
sâu vào những hoạt động sản xuất kinh doanh mà HTX nông nghiệp với tư cách là
tổ chức kinh tế tự chủ, được toàn quyền quyết định theo quy định của pháp luật.
Hầu hết cán bộ cơ sở và xã viên nhận thức về HTX kiểu mới và Luật HTX
2003 chưa thấu đáo và đầy đủ, mặt khác trên thực tế việc chuyển đổi và thành lập
mới HTX còn mang nặng tính hình thức và thiếu những mô hình hoạt động
thực sự hiệu quả và có tính thuyết phục, hầu hết họ đều quen với mô hình HTX
nông nghiệp được Nhà nước bao cấp, giúp đỡ và được phép đòi hỏi các quyền
lợi…Chính vì vậy họ không thấy hết được quyền lợi và trách nhiệm của họ đối
với HTX. Thậm chí một số lớn xã viên sau khi đóng cổ phần cũng không quan
tâm đến nghĩa vụ của mình mà phó thác trách nhiệm cho ban quản lý, thờ ơ
trong mọi hoạt động.
Đối với các cán bộ chủ chốt của hệ thống HTX nông nghiệp, cần có những
chính sách hỗ trợ đào tạo để họ có điều kiện tiếp thu những kiến thức về quản
lý kinh tế, quản trị kinh doanh, khoa học kỹ thuật mới, tiên tiến của các nhà khoa
học trong và ngoài nước để triển khai, áp dụng trên địa bàn các HTX nông nghiệp.
Đặc biệt cần có những chính sách thu thút khuyến khích những các cá nhân có
năng lực, có trình độ chuyên môn được đào tạo vào làm việc ở các HTX nông
nghiệp và có chính sách ưu đãi để khi đã làm việc thì yên tâm, dồn mọi sức lực,
tâm trí vào công tác.
Đối với xã viên HTX nông nghiệp, các cấp các ngành cũng như HTX
nông nghiệp phải tuyên truyền phổ biến tới tận hộ gia đình xã viên để cho họ
nhận thức đúng đắn về sự cần thiết phải tham gia vào HTX nông nghiệp và nó là
nhu cầu tất yếu của chính bản thân các hộ xã viên.Tuy nhiên, công tác tuyên
truyền, vận động phải được đặc biệt coi trọng và được đảm bảo về kinh phí, phải
đa dạng về hình thức và phương pháp để đối tượng được vận động, tuyên truyền dễ
hiểu nhất, dễ tiếp thu nhất.
3.2.2. Thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa
Đây là một trong những giải pháp tạo tiền đề cho sự hình thành các
HTX nông nghiệp kiểu mới. Đặc biệt với những tiềm năng sẵn có về điều
60
kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Hòa Bình sẽ có rất nhiều thuận lợi khi triển khai thực
hiện phát triển HTX nông nghiệp trong giai đoạn tới. Tuy nhiên trong những năm
tới, để thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, thì
theo ý kiến chủ quan của tôi, các cấp các ngành các đơn vị có liên quan phải triển
khai thực hiện một số việc cơ bản sau:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa theo
hướng lợi thế so sánh, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương. Thúc đẩy quá trình
chuyển đổi cơ cấu sản xuất, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung theo
hướng chuyên môn hoá gắn với công nghiệp chế biến theo yêu cầu thị trường, tạo ra
các nhu cầu về hợp tác.
Đối với Tỉnh, cần có quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững cho
từng huyện, xác định cây trồng, vật nuôi, sản phẩm hàng hoá chính, cơ cấu sản
xuất nông nghiệp một cách hợp lý theo hướng phát huy tiềm năng và lợi thế so
sánh của từng huyện.
Ngoài ra để thực sự thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản
xuất hàng hóa thì rất cần có mối liên kết giữa hệ thống các HTX nông nghiệp trong
tỉnh với nhau, giữa hệ thống các HTX nông nghiệp trong và tỉnh ngoài, HTX
nông nghiệp với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau để phối
kết hợp trong quá trình tổ chức các hoạt động dịch vụ, kinh doanh của HTX tạo
hệ một hệ thống các chuỗi liên kết giữa các bên nhằm khơi thông dòng chảy của
sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế thị trường sao tiết kiệm tối đa chi phí vận
chuyển, lưu thông, giảm thiểu thời gian lưu thông của nông sản phẩm, hạn chế
tới mức tối đa những thiệt hại do tính mau hỏng, thời vụ của nông sản phẩm sao
cho đem lại hiệu quả kinh tế cho các bên là cao nhất.
Tuy nhiên để khuyến khích HTX và đặc biệt là HTX nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh phát triển, Nhà nước cần bổ sung, ban hành thêm một số chính sách và
thực hiện một số giải pháp mang tính hỗ trợ về kinh tế, để khuyến khích, tạo thuận
lợi cho HTX nông nghiệp phát triển:
- Đổi mới chính sách tài chính tín dụng nhằm tạo điều kiện cho hộ nông dân
61
được tiếp cận các nguồn vốn dễ dàng hơn, được vay vốn lớn hơn và dài hơn theo
chu kỳ sản xuất kinh doanh cây, con cụ thể.
- Đổi mới chính sách đất đai nhằm tạo điều kiện cho sản xuất nông
nghiệp hàng hoá quy mô lớn theo hướng đẩy nhanh tiến độ giao đất, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, đẩy mạnh dồn điền đổi thửa nhằm khắc phục tình
trạng manh mún về đất đai, tạo điều kiện đẩy mạnh cơ giới hoá, áp dụng triệt để
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, giảm các chi phí canh tác…
- Đổi mới chính sách thị trường đối với lĩnh vực nông nghiệp theo hướng
bình ổn giá một số vật tư nông nghiệp quan trọng như phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật, giống…; xây dựng hệ thống cung cấp thông tin về thị trường, yếu tố đầu vào
đầu ra của sản xuất nông nghiệp và đưa ra những dự báo chính xác về thị trường
nông sản phẩm trong nước và thế giới để các HTX nông nghiệp có hướng điều
chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh cho phù hợp.
- Đổi mới chính sách và các hoạt động khoa học công nghệ liên quan đến lĩnh
vực nông nghiệp theo hướng tăng cường hoạt động khuyến nông, đầu tư hơn nữa
cho công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông
nghiệp; Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí cho các hộ nông dân, trang trại, HTX
nông nghiệp, doanh nghiệp trong việc cung ứng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản
xuất nông nghiệp.
- Đổi mới chính sách đầu tư đối với nông nghiệp nông thôn và các lĩnh vực
liên quan trực tiếp tới nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển kết cấu hạ tầng
ở nông thôn như đường giao thông, điện, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống thông tin liên
lạc, hệ thống chợ…; đầu tư phát triển các ngành công nghiệp chế biến phục vụ
cho nhu cầu dân sinh tại chỗ , bảo quản nông sản phẩm và gắn kết với thị trường
tiêu thụ.
3.2.3. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hợp tác xã
nông nghiệp
Hiện nay, tổ chức bộ máy cán bộ trong các HTX nông nghiệp là một vấn
đề nổi cộm không chỉ riêng với tỉnh Hòa Bình cần phải được xem xét, giải quyết
62
thấu đáo. Nhiều HTX nông nghiệp vẫn còn rất lúng túng trong việc sắp xếp đội ngũ
cán bộ, cán bộ đã gắn bó lâu năm với HTX thì lại hạn chế về chuyên môn, trình độ,
hạn chế trong cách tiếp cận với cơ chế thị trường còn đội ngũ nguồn nhân lực có
trình độ được đào tạo bài bản, mạnh dạn trong cách tiếp cận với cơ chế thị
trường lại không mặn mà làm việc trong các HTX nông nghiệp dẫn đến cán bộ ở
các HTX nông nghiệp vừa yếu vừa thiếu do vậy hiệu quả hoạt động của các HTX
nông nghiệp là rất thấp. Chính vì vậy để giải quyết vấn đề trên cần thực hiện các
giải pháp sau:
- Quy hoạch phát triển cán bộ HTX nông nghiệp: Trước hết phải xây
dựng quy hoạch cán bộ lấy đó làm cơ sở thực hiện công tác cán bộ HTX
nông nghiệp trong những năm tới, hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng, thu hút và sử dụng đội ngũ cán bộ HTX nông nghiệp.
HTX nông nghiệp là tổ chức được tự chủ trong mọi hoạt động của mình theo
quy định của pháp luật, trong đó có công tác cán bộ. Chính vì vậy, rất cần có sự
quan tâm chỉ đạo của các cấp các ngành trong việc định hướng chiến lước phát
triển nguồn nhân lực cho các HTX nông nghiệp nhưng cũng cần có sự độc lập
tương đối, quyền tự chủ trong việc bầu chọn của xã viên với những người thực
sự có năng lực, tinh thần và trách nhiệm với HTX.
Sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp các ngành và trực tiếp là sự chỉ đạo của
Uỷ ban nhân dân Tỉnh phối kết hợp với Liên minh HTX, chi cục Phát triển nông
thôn và phòng nông nghiệp các huyện, phòng kinh tế thành phố đối với công tác
cán bộ của các HTX nông nghiệp được thể hiện thông qua các hình thức tập
huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, tuyên truyền, giáo dục nâng cao
dân trí nói chung và trình độ văn hoá, nhận thức của cán bộ HTX nông nghiệp nói
riêng; hỗ trợ tài chính cho các đơn vị và tổ chức đào tạo cho công tác cán bộ HTX
nông nghiệp, phối hợp xây dựng quy hoạch cán bộ, kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng…cán bộ HTX nông nghiệp trong những năm tới.
- Coi trọng công tác đào tạo, bồi bưỡng cán bộ HTX nông nghiệp.
Cần phải có sự phân công rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm trong đào tạo,
63
bồi dưỡng cán bộ HTX nông nghiệp giữa các đơn vị liên quan để các bên chủ động
bố trí, triển khai các chương trình kế hoạch đào tạo cụ thể tránh chồng chéo nhau
gây ra lãng phí về tài chính và hiệu quả thu về không cao.
Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh cần có sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời thể hiện
bằng những cơ chế chính sách thông thoáng về vốn, về đất đai, về con người… để
tạo điều kiện khuyến khích cán bộ HTX nông nghiệp và bà con xã viên thực sự
tâm huyết với HTX.
Đối với Chi cục Phát triển nông thôn, Liên minh HTX của tỉnh kết hợp với nhau
để triển khai thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh để mở những lớp
tập huấn ngắn hạn, dài hạn cho từng đối tượng: Chủ nhiệm HTX nông nghiệp,
Trưởng ban kiểm soát, Kế toán trưởng…để bổ sung cho họ những thông tin kiến thức
mới về quản lý kinh tế, kinh tế thị trường… phục vụ cho quá trình quản lý điều hành
hoạt động của HTX nông nghiệp được tốt hơn.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX nông nghiệp phải được thực hiện
theo phương châm thường xuyên, liên tục, kết hợp giữa đào tạo với bồi dưỡng, ưu
tiên đào tạo, bồi dưỡng các cán bộ chủ chốt của HTX nông nghiệp. Đa dạng hoá các
hình thức, lựa chọn địa điểm đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của
HTX nông nghiệp và người học.
Trên thực tế, kinh tế tập thể và đặc biệt là hệ thống các HTX nông nghiệp là tổ chức
của tầng lớp dân cư đông đảo nhất của tỉnh nhưng hiệu quả kinh tế đạt đuợc là không cao,
nếu xét về giá trị đóng góp vào giá trị tổng sản phẩm vào cơ cấu chung của tỉnh là rất thấp
nhưng nếu xét về khiá cạnh xã hội mà HTX nông nghiệp mang lại là rất lớn, thông qua
hệ thống HTX nông nghiệp đã phần nào giải quyết được công ăn việc làm cho người lao
động, góp phần giải quyết an ninh lương thực quốc gia và đặc biệt là ổn định tình hình an
ninh trật tự xã hội ở địa phương. Chính vì vậy, Tỉnh cần phải thực sự đầu tư hơn nữa cho
công tác đạo tào, bồi dưỡng cho cán bộ các HTX nông nghiệp để hệ thống các HTX
nông nghiệp trong Tỉnh ngày một lớn mạnh và tương xứng với quy mô của nó và ngang
64
tầm với các thành phần kinh tế khác trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2.4. Lựa chọn mô hình Hợp tác xã nông nghiệp phù hợp với đặc điểm cụ thể của
từng huyện
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh và
các HTX nông nghiệp trên phạm vi cả nước, từ đó đưa ra một số mô hình điển hình phù
hợp với điềukiện từng huyện để trên cơ sở đó các HTX nông nghiệp ở từng huyện tuỳ vào
đặc điểm, điều kiện mà có sự lựa chọn phù hợp trên cơ sở lựa chọn có chọn lọc những mặt
mạnh, điểm yếu của các mô hình HTX nông nghiệp tham khảo. Cho dù mỗi huyện có thể
lựa chọn có cải tiến cho mình một mô hình cụ thể tuy nhiên cho dù lựa chọn mô hình nào đi
chăng nữa vẫn phải quán triệt được các yêu cầu cụ thể sau:
- Mô hình phát triển HTX nông nghiệp phải gắn chặt với mục tiêu CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn và CNH, HĐH đất nước nói chung nhằm đưa
đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
- Mô hình phát triển HTX nông nghiệp phải được đặt trong bối cảnh xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN, đặc biệt rất cần có sự hỗ trợ của
Nhà nước.
- Mô hình phát triển HTX nông nghiệp phải được đặt trên nền tảng kinh tế hộ
nông dân, phát huy hơn nữa vai trò tự chủ, tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng, lâu
dài của kinh tế hộ nông dân.
- Mô hình phát triển HTX nông nghiệp phải quán triệt chủ trương, đường lối của
Đảng và Nhà nước về phát triển HTX nông nghiệp, tinh thần của Luật HTX, đồng
thời tuân thủ các nguyên tắc HTX mà Liên minh HTX quốc tế đã đề ra.
3.2.5. Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước
3.2.5.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
Trên cơ sở tôn trọng bản chất của HTX, các giá trị và nguyên tắc cơ bản của
HTX, trong những năm tới cần phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều
kiện cho hệ thống HTX nông nghiệp phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt
Nam :
65
- Tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn thiện Luật HTX sát với yêu cầu của thực
tế và tâm tư nguyện vọng của đa số hộ nông dân trong điều kiện hộ là đơn vị
kinh tế tự chủ, có quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, tạo nền tảng vững chắc cho
HTX nông nghiệp phát triển.
- Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, thể chế cho HTX nông nghiệp thành lập
và hoạt động theo đúng nguyên tắc hợp tác, đảm bảo cho HTX nông nghiệp vươn
lên phát triển và cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế thị trường.
- Làm rõ lợi thế, tiềm năng riêng có và lợi ích của mô hình HTX nông
nghiệp để từ đó có những hướng hỗ trợ, khuyến khích phát triển và ngược lại
sẽ có những biện pháp khắc phục, tháo gỡ- Ban hành hướng dẫn thực hiện việc
đóng bảo hiểm bắt buộc cho cán bộ, xã viên và cá nhân người lao động làm
việc thường xuyên cho các HTX nông nghiệp theo quy định của Bộ Luật lao
động để khuyến khích và tạo sự yên tâm, gắn bó hơn với HTX cho các cán bộ có
công lao, gắn bó thường xuyên với HTX.
3.2.5.2. Hoàn thiện một số chính sách vĩ mô nhằm thúc đẩy phát triển Hợp tác xã
nông nghiệp
* Chính sách tài chính- tín dụng
Trước hết Nhà nước cần kiên quyết và giải quyết triệt để các khoản nợ đọng kéo
dài mà các HTX nông nghiệp chuyển đổi phải kế thừa từ các HTX nông nghiệp
trước đây nhằm lành mạnh hoá tài chính của các HTX nông nghiệp Đối với khoản
HTX nông nghiệp nợ doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức đoàn thể và các khoản nợ khác
có đủ điều kiện xử lý thì được xử lý theo các quy định cụ thể tuy nhiên, việc rà soát số
nợ và thực hiện xoá nợ cho các HTX nông nghiệp cần được tiến hành cẩn trọng nhằm
tránh những tiêu cực phát sinh. Cụ thể là :
Các khoản nợ đọng của HTX nông nghiệp với doanh nghiệp nhà nước cần thực
hiện hoàn chỉnh hồ sơ gửi Cục thuế để xem xét, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết
định xóa nợ theo quy định. Trường hợp doanh nghiệp nhà nước đã áp dụng các biện
pháp dùng quỹ dự phòng phải thu khó đòi để bù đắp mà vẫn gặp khó khăn về tài chính
thì Uỷ ban nhân dân tỉnh sử dụng ngân sách tỉnh để hỗ trợ.
66
Đối với các khoản nợ đọng của HTX nông nghiệp nợ tổ chức, đoàn thể và các
đối tượng khác, Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định xoá nợ cho các HTX nông
nghiệp. Các tổ chức đoàn thể khi xoá nợ cho cho các HTX nông nghiệp nếu gặp khó
khăn về tài chính thì ngân sách tỉnh sẽ hỗ trợ cho các tổ chức, đoàn thể.
Trường hợp HTX nông nghiệp nợ xã viên mà HTX nông nghiệp đã giải thể
hoặc còn hoạt động nhưng gặp nhiều khó khăn về tài chính, không có khả năng trả nợ
thì ngân sách Tỉnh có hướng để bố trí để trả xã viên. Nếu ngân sách tỉnh có khó khăn
không cân đối đủ thì báo cáo Bộ tài chính tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ.
Tăng cường phát huy nội lực, giải quyết những khó khăn về vốn trong qúa
trình sản xuất bằng cách huy động vốn tại chỗ, cho vay tại chỗ, đầu tư tại chỗ, hiệu
quả tại chỗ vừa tăng tính cộng đồng vừa tạo được sự gắn kết gần gũi hơn với xã
viên với các tổ chức của HTX nông nghiệp.
Đề xuất về chính sách bảo hiểm sản xuất, xây dựng quỹ hỗ trợ rủi ro cho các
HTX nông nghiệp trong đó một phần kinh phí được nhà nước hỗ trợ, một phần do
HTX nông nghiệp tự trích. Bởi lẽ, sản xuất nông nghiệp thường chịu rủi ro do
thiên tai, dịch hại và sự biến động bất thường của thời tiết chính vì vậy việc thành
lập quỹ bảo hiểm, quỹ dự phòng sẽ giảm thiểu được những rủi ro xảy ra, tránh
được những thiệt hại trong quá trình sản xuất.
* Chính sách đất đai.
Cơ quan chức năng cần phải có những hướng dẫn về giao đất và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp trong đó phải nêu rõ các thủ
tục, các loại giấy tờ cần thiết và quy định thời hạn xét duyệt áp dụng cho từng loại
đất cụ thể mà HTX đang quản lý và sử dụng
Khuyến khích và tạo điều kiện cho hộ nông dân chuyển đổi, dồn điền đổi
thửa ruộng đất để phát triển sản xuất hàng hoá theo hướng quy mô lớn,
chuyên môn hoá, mở rộng ngành nghề nông thôn, đa dạng hoá chủng loại... thuận
tiện cho quá trình phát triển sản xuất.
Hướng dẫn cụ thể việc thực hiện chính sách giao đất, cho thuê đất để các
HTX nông nghiệp làm trụ sở, nhà kho...Mở rộng mức độ, thời hạn và đối
67
tượng HTX nông nghiệp được hưởng chế độ ưu đãi về thuê đất, đồng thời phải có
những cơ chế quản lý chặt chẽ để tránh tình trạng sử dụng đất lãng phí và các tiêu
cực khác về đất đai.
* Chính sách thị trường. Tỉnh cần xây dựng hệ thống thông tin, dự báo về thị trường trong nước và
quốc tế các yếu tố đầu ra, đầu vào của quá trình sản xuất để từ đó có những thông
tin kịp thời cho các HTX nông nghiệpvà trên cơ sở đó các HTX nông nghiệp có
nhữnghướng điều chỉnh cho phù hợp và hiệu quả. Tuy nhiên, những thông tin có
được phải được cung cấp cho các HTX nông nghiệp một cách kịp thời, chính
xác và đầy đủ tránh tình trạng nguồn thông tin sai lệch, cung cấp muộn gây thiệt
hại cho các HTX nông nghiệp.
Phát triển các mạng lưới chợ nông thôn, các trung tâm giới thiệu sản phẩm cho
các HTX nông nghiệp, phát triển đa dạng hoá các loại hình tiêu thụ. Đặc biệt phát
huy vai trò của HTX làm dịch vụ tiêu thụ nông sản phẩm cho kinh tế hộ, kinh tế
trang trại.
Mỗi HTX nông nghiệp cần được hỗ trợ của các cấp, các ngành để thành lập
một weside để giới thiệu sản phẩm của HTX nông nghiệp sang các tỉnh thành khác
và các quốc gia khác trên thế giới. Đây là một kênh thông tin quan trọng để quảng
bá sản phẩm và xúc tiến thương mại thực sự có hiệu quả nhất là trong xu hướng
hội nhập và mở cửa của nền kinh tế toàn cầu.
* Chính sách hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
Tỉnh cần tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
khoa học phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Cần có những chính sách khuyến khích,
đãi ngộ thoả đáng cho những các nhân, tập thể có kết quả nghiên cứu thực sự hữu
ích, làm lợi cho các HTX nông nghiệp.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác ứng
dụng, tuyên truyền, phổ biến các tiến bộ KHCN phục vụ sản xuất nông
nghiệp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ HTX nông nghiệp, họ là những người
thực sự gắn bó với HTX nông nghiệp và qua họ những kiến thức về KHCN
68
sau khi được đào tạo sẽ được triển khai rộng rãi trên các HTX nông nghiệp
bởi họ chính là cầu nối giữa tổ chức KHCN và người sản xuất nông nghiệp.
Tỉnh cần có những đầu tư thích đáng cho công tác nghiên cứu, ứng dụng
KHCN trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp từ khâu sản xuất giống đến phương pháp
canh tác, đồng thời hỗ trợ một phần kinh phí cho các HTX nông nghiệp trong việc
đầu tư ứng dụng tiến bộ KHCN trong sản xuất nông nghiệp để các HTX nông
nghiệp mạnh dạn hơn trong việc triển khai, áp dụng KHCN vào sản xuất xây dựng
cơ chế khuyến khích chuyển giao nhanh các tiến bộ KHCN vào sản xuất nông nghiệp,
tạo điều kiện cho quá trình liên kết giữa các HTX nông nghiệp và các tổ chức KHCN
thực sự thuận lợi, chặt chẽ và có hiệu quả hơn.
3.2.5.3. Kiện toàn bộ máy nhà nước đối với Hợp tác xã nông nghiệp
Kiện toàn bộ máy tổ chức, quản lý của các HTX nông nghiệp theo hướng
biên chế cán bộ tinh giản, gọn nhẹ nhưng hiệu quả hoạt động cao. Quy định rõ
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ của hệ thống quản lý HTX nông
nghiệp để từ đó các cán bộ nhận thấy vai trò trách nhiệm và có hướng phấn đầu
vươn lên.
Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo bồi dưỡng các cán bộ chủ
chốt của HTX nông nghiệp về cả chuyên môn, quản lý nhà nước, nhận thức chính
trị để quán triệt chủ trương, đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước về kinh tế
tập thể vào cuộc sống.
Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp các ngành trong việc thực hiện chủ
trương, đường lối và pháp luật của Nhà nước về kinh tế tập thể và đặc biệt là HTX
nông nghiệp. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn Đảng,
toàn dân tạo nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của kinh tế tập thể nói chung và
hệ thống HTX nông nghiệp nói riêng.
Tăng cường sự phối kết hợp giữa các tổ chức đoàn thể và đặc biệt là Liên
69
minh HTX tỉnh để triển khai cụ thể các hoạt động tới các HTX nông nghiệp.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Phát triển HTX cần phải tôn trọng những điều kiện thực tế, đồng thời áp
dụng những kinh nghiệm phát triển HTX phù hợp với hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể:
lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu chính; trong đổi mới và phát triển kinh tế
HTX cần hết sức coi trọng các nguyên tắc, giá trị của HTX, đặc biệt là nguyên tắc
dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi của những thành viên tham gia, kết hợp hài hòa
lợi ích của xã viên với lợi ích của HTX và cộng đồng; bảo đảm và phát huy tính
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bản thân các HTX; phát triển vững chắc các
HTX kiểu mới, tổng kết thực tiễn và nhân rộng những mô hình mới, điển hình
tiên tiến, xuất sắc.
Phát triển HTX gắn bó mật thiết, phục vụ thực hiện thắng lợi đường lối và
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Phát triển HTX đáp ứng được những nhu cầu kinh tế, văn hóa, xã hội của
đông đảo các tầng lớp xã hội, liên kết rộng rãi mọi loại hình và tổ chức kinh tế,
đặc biệt chú trọng đối tượng là người lao động, các hộ kinh tế cá thể, những đối
tượng yếu thế trong cạnh tranh thị trường.
Phát triển HTX cần được mở rộng trong mọi lĩnh vực, ngành nghề mà người
dân có nhu cầu, trước hết tập trung phát triển HTX trong khu vực nông nghiệp,
nông thôn, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm và nội dung quan trọng trong chiến
lược phát triển HTX ở địa phương.
Phát triển HTX cũng cần phải quan tâm đến đặc điểm, điều kiện và thế
mạnh của từng vùng, từng khu vực của tỉnh.
Phát triển HTX linh hoạt, đa dạng về hình thức, với nhiều trình độ phát triển
từ thấp đến cao, từ làm dịch vụ sản xuất, đời sống cho các hộ thành viên, xã viên,
đến mở mang ngành nghề, sản xuất kinh doanh tổng hợp.
Thông qua quá trình nghiên cứu, trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình
phát triển, những thuận lợi, khó khăn cũng như phân tích để chỉ ra những điểm
70
mạnh, điểm yếu của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Đề tài nêu
ra một số giải pháp: về phương thức tổ chức và công tác cán bộ; công tác tuyên
truyền Luật HTX, về phát triển kinh tế hợp tác, đặc biệt là trong lĩnh vực nông
nghiệp; tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chỉ đạo của các cấp
chính quyền, đoàn thể; chính sách hỗ trợ công tác chuyển đổi và thành lập mới
HTX; chính sách về đất đai đối với HTX nông nghiệp; chính sách thuế; chính
sách tín dụng; chính sách giải quyết nợ tồn đọng của các HTX; xúc tiến thương
mại; ứng dụng khoa học công nghệ; giải pháp về thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát
triển; giải pháp quản lý tài chính trong các HTX nông nghiệp; giải pháp về đào tạo,
nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý HTX, cán bộ chuyên môn
nghiệp vụ HTX... từ đó, nhằm góp phần nhỏ vào sự phát triển của các HTX nông
nghiệp và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
2. KIẾN NGHỊ
2.1. Kiến nghị Trung ương
- Tăng cường sự chỉ đạo đối với các cấp uỷ đảng trong việc triển khai thực
hiện Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá IX nhằm chuyển biến và nâng cao nhận thức của cán bộ,
đảng viên và quần chúng nhân dân về vị trí vai trò của kinh tế tập thể.
- Đề nghị Quốc hội tăng cường công tác giám sát việc thực hiện chính sách
phát triển kinh tế tập thể.
- Đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý, hỗ trợ
phát triển HTX; cơ chế hỗ trợ thông tin định hướng phát triển thị trường tiêu thụ
sản phẩm hàng hoá cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân;xây dựng hệ
thống khuyến công, khuyến nông cơ sở và ban hành chính sách hỗ trợ hệ thống
này thực hiện thành công việc chuyển giao khoa học công nghệ về nông thôn.
- Chính phủ tăng cường chỉ đạo các bộ ngành, các địa phương hướng dẫn thực
hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể đã ban hành.
- Đề nghị Liên minh HTX Việt Nam, trường cán bộ HTX tổ chức tập huấn
bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, chuyên viên theo dõi về phát triển kinh tế hợp tác,
71
HTX của Liên minh HTX, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương.
2.2. Kiến nghị với UBND tỉnh Hòa Bình
- Kịp thời rà soát các văn bản, sửa đổi các quy định chưa phù hợp trong quá
trình tổ chức thực hiện, điều chỉnh kịp thời những vấn đề phát sinh trên thực tế phù
hợp với các văn bản quy định của hệ thống văn bản pháp luật về phát triển kinh tế
tập thể và chính sách đối với các HTX nông nghiệp, tính nhất quán của chính
sách, tính đồng bộ, khả thi trong tổ chức thực hiện.
- Tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể.
- Xác định rõ và phân nhiệm cụ thể cơ quan quản lý nhà nước về HTX và
các cơ quan khác đối với khu vực kinh tế hợp tác của địa phương.
- Chỉ đạo các ban ngành liên quan tuỳ theo chức năng nhiệm vụ của
mình có những hoạt động cụ thể để hỗ trợ các HTX nông nghiệp của địa
phương. Phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện đề án “Tiếp tục đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế hợp tác, HTX tỉnh Hòa Bình giai đoạn
20010-2015”. Bố trí cán bộ, chuyên viên chuyên trách về phát triển kinh tế hợp
tác, HTX ở các huyện, thành phố, thị xã.
- Chú trọng trong việc tổ chức thực hiện các chính sách giao đất và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX; đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ HTX và các
hoạt động thông tin tuyên truyền về HTX; hướng dẫn bảo hiểm xã hội; lồng ghép
các chương trình, dự án; vấn đề tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp…
- Thành lập “Quỹ hỗ trợ phát triển HTX tỉnh Hòa Bình”, “Quỹ tín dụng
nhân dân” nhằm giúp các HTX nông nghiệp về vốn phát triển sản xuất kinh doanh
dịch vụ...
- Thường xuyên tổ chức các diễn đàn lắng nghe các khó khăn vướng mắc
của các HTX nông nghiệp và bàn các giải pháp tháo gỡ.
2.3. Kiến nghị với sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên
minh HTX tỉnh Hòa Bình
Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ và người
72
dân về thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phát
triển kinh tế tập thể.
Chủ động, thực hiện triệt để các chính sách về phát triển kinh tế hợp tác,
HTX đặc biệt chú trọng đối với các HTX nông nghiệp nhằm đảm bảo quyền và
lợi ích của HTX và xã viên, người lao động.
Phát huy tiềm năng và thế mạnh của địa phương, thực hiện tốt việc lồng ghép
các chương trình dự án nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao của khu vực kinh tế tập
73
thể.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Michael E. Porter (2008), Lợi thế cạnh tranh quốc gia và Lợi thế cạnh
tranh, NXB Trẻ.
2. Michael E. Porter (2008), Chiến lược cạnh tranh, NXB Trẻ.
3. Dương Ngọc Dũng (2009), Chiến lược cạnh tranh theo lí thuyết của
Michael Porter, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Chu Thị Hảo, Naoto Imagawa (năm 2003), Quá trình phát triển của
hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam, NXB nông nghiệp.
5. Niên giám thống kê Tỉnh Vĩnh phúc năm 2008, 2009, 2010.
6. PGS.TS Phạm Thị Cần, TS Vũ Văn Phúc, PGS.TS Nguyễn Văn Kỷ
và tập thể tác giả (năm 2002), Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta
hiện nay, NXB chính trị quốc gia.
7. GS.TS. Hồ Văn Vĩnh- TS Nguyễn Quốc Thái (2005), Mô hình phát
triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam, NXB nông nghiệp.
8. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996), Luật
Hợp tác xã, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật
Hợp tác xã, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 –
2020.
11. Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban
hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
12. Nghị quyết 5 năm Đại hội Đảng bộ lần thứ XV của tỉnh Hòa Bình.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHIẾU ĐIỀU TRA
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HTX NÔNG NGHIỆP
TỈNH HÒA BÌNH
Số phiếu……..
Hợp tác xã:…………………………………………………………………… Họ
tên chủ nhiệm HTX……………………………………………………....
Xóm:………………………………………………………………………….
Xã:……………………………………………………………………………
Huyện:……………………………………………………....Tỉnh Hòa Bình
Thực hiện năm 2010
PHẦN I - TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HTX
1. Tên HTX:……………………………………………………………………
2. HTX thành lập mới (1)…………… HTX chuyên đổi (2)...………………...
3.Xã:……………………………Huyện:…….…………Tỉnh Hòa Bình.
4. Họ và tên chủ nhiệm HTX:…………………………………………………
5. Tổng số hộ………………….hộ. Tổng số đảng viên……….……đảng viên.
6. Tổng số khẩu:…………………………………………...khẩu.
7. Tổng số lao động:…………………………………...lao động.
8. Đại diện hộ xã viên:……………………………………….hộ.
9. Đại diện lao động là xã viên:……………………….lao động.
10. HTX xếp loại (Khá, Trung bình, Yếu):…………………............................
11. Quy mô HTX:…………………(1 - Toàn xã; 2 - Liên xóm; 3 - Xóm, bản)
12.Ngày tháng năm thành lập (Chuyển đổi):………………………………….
13. Ngày tháng năm được cấp phép đăng ký kinh doanh:…………………….
14. Nếu chưa được cấp lý do:…………………………………………………
………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
15. Ngày tháng năm đi vào hoạt động………………………………………...
Biểu số 1
Tình hình đất đai của HTX
STT Danh mục Đvt 2008 2009 2010
m2
I 1 Tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích trồng cây lâu năm
- Diện tích đất 1 vụ m2
- Diện tích đất 2 vụ m2
m2 - Diện tích đất HTX quản lý cho đấu thầu Diện tích trồng cây lâu năm
- Diện tích cây công nghiệp m2
- Diện tích cây ăn quả m2
m2 - Diện tích cây lâu năm HTX quản lý đấu thầu Diện tích ao hồ đầm
Diện tích HTX quản lý cho thầu m2
Tổng diện tích đất đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ)
II 1 2 3 4 5 m2 m2 m2 m2 m2 m2
Tổng diện tích đất lâm nghiệp Diện tích rừng tự nhiên Diện tích rừng trồng Diện tích đất trống đồi núi trọc Diện tích HTX quản lý cho đấu thầu Diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ)
B i ể u s ố 2
Bộ máy quản lý của HTX
1. Ban quản trị HTX:…………..người.
2. Ban kiểm soát HTX:…………người.
3. Đội trưởng đội sản xuất:……………………..người.
4. Tổ trưởng tổ dịch vụ:………….người.
5. Cán bộ giúp việc cho HTX:…………..người.
6. Hệ thống sổ sách kế toán HTX (Sổ đơn hay kép)………………..
STT Danh mục Ban quản trị Ban kiểm soát Đội trưởng đội sản xuất Xã viên HTX Tổ trưởng tổ dịch vụ
I Chính trị Đảng viên
II 1 2 Trình độ lý luận chính trị Sơ cấp lý luận chính trị Trung cấp lý luận chính trị
III Công việc kiêm nhiệm
IV 1 2 3 Trình độ văn hoá Tiểu học Trung học cơ sở Phổ thông trung học
Trình độ nghiệp vụ Chưa được bồi dưỡng, tập huấn Bồi dưỡng tập huấn ngắn ngày Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học V 1 2 3 4 5 6
Biểu số 3
PHẦN II - TÀI SẢN, VỐN QUỸ, CÔNG NỢ CỦA HTX
Tài sản của HTX
STT Tên tài sản Số lượng Đơn giá Thành tiền
1
2
3
4
Tổng giá trị TSCĐ của HTX Vật kiến trúc - Nhà làm việc - Nhà kho - Sân phơi - Cửa hàng - Các kiến trúc khác Máy móc thiết bị - Trạm điện - Máy xay xát - Trạm bơm (điện) - Trạm bơm (xăng, dầu) - Dây dẫn điện - Máy móc thiết bị khác Các công trình thuỷ lợi - Hồ đập - Kênh mương - Đập .......
Biểu số 4
Vốn quỹ của HTX
ĐVT: Đồng
STT Danh mục nguồn vốn Số tiền Ghi chú
Tổng giá trị TSCĐ Tổng vốn của HTX 1
- Vốn tự có
- Vốn đi vay
- Vốn khác
Tổng số vốn lưu động
- Vốn tự có 2
- Vốn đi vay
- Vốn khác
3 Tổng số vốn do xã viên đóng góp
- Vốn cũ của HTX
- Vốn góp cổ phần của xã viên
4 Tổng các quỹ của HTX
- Quỹ đầu tư phát triển sản xuất
- Quỹ khen thưởng
- Quỹ phúc lợi
- Quỹ dự phòng
- Quỹ khác
Biểu số 5
Công nợ của HTX
Đ V T : n g h ì n đ ồ n g
STT Danh mục Thời điểm nợ Ghi chú Lý do nợ
Số nợ trước chuyển đổi hoặc thành lập mới HTX
Số nợ sau chuyển đổi hoặc thành lập mới HTX
I 1
Nợ HTX phải trả Tổng số nợ HTX phái trả - Nợ thuế nhà nước - Nợ ngân hàng - Nợ các doanh nghiệp NN khác - Nợ xã viên - Nợ khác Đã được khoanh nợ Khả năng thực tế trả nợ
II 1
Nợ HTX phải thu Tổng số nợ phải thu của HTX - Xã viên nợ HTX + Xã viên nợ trước chuyển đổi + Xã viên nợ sau chuyển đổi - Các đối tượng khác nợ HTX + Nợ cũ trước chuyển đổi + Nợ mới sau chuyển đổi - Khả năng thực tế thu hồi nợ - Đề nghị Nhà nước xoá nợ + Xoá nợ thuế + Xoá nợ ngân hàng + Xoá nợ doanh nghiệp nhà nước khác
Biểu số 6
PHẦN III - KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG HTX
Kết quả sản xuất, kinh doanh dịch vụ và phân phối trong HTX
Đvt: đồng
Danh mục Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 STT
1
2
3 4
Tổng doanh thu - Thu trích từ sản lượng lương thực - Thu từ các diện tích cho đấu thầu - Thu từ dịch vụ thuỷ lợi - Thu từ dịch vụ vật tư nông nghiệp - Thu từ dịch vụ làm đất - Thu từ dịch vụ xay xát - Thu từ dịch vụ bảo vệ đồng ruộng - Thu bảo vệ thực vật - Thu từ dịch vụ điện - Thu khác Tổng chi phí - Chi phí trực tiếp - Chi phí gián tiếp Lãi hoặc lỗ Phân phối - Xử lý các khoản lỗ năm trước (nếu có) - Trích các loại quỹ - Chia vốn góp - Chia mức độ sử dụng - Chia cho mức độ sử dụng dịch vụ Tham gia BHXH 5
Biểu số 7 Thù lao cho cán bộ HTX
Đ V T : đ ồ n g
Mức thù lao được hưởng STT Chức danh Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Chủ nhiệm 1
Phó chủ nhiệm 2
Uỷ viên Ban quản trị 3
Trưởng ban kiểm soát 4
Kế toán trưởng 5
Thủ quỹ 6
Thủ kho 7
Đội trưởng đội sản xuất 8
Đội phó đội sản xuất 9
10 Tổ trưởng tổ dịch vụ 11 Tổ phó tổ dịch vụ 12 Nhân viên bán hàng
Tổng cộng
CHỦ NHIỆM HTX NGƯỜI ĐIỀU TRA
(Ký tên, đóng dấu) (Ký, ghi rõ học tên)
1 2

