BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -------------- ĐOÀN TRUNG HIẾU

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN ÁI ĐOÀN

HÀ NỘI - 2012

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả trình bày trong luận văn là kết quả tự

nghiên cứu của bản thân, không sao chép từ bất kỳ tài liệu nào có trước của

những người khác.

Tác giả luận văn

ĐOÀN TRUNG HIẾU

i

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả của một thời gian dài nghiên cứu và làm việc để áp

dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS.

Nguyễn Ái Đoàn, sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo Viện Kinh tế và Quản

lý -Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, sự hỗ trợ chân tình của Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp đang công tác Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hòa Bình, Liên

minh Hợp tác xã tỉnh Hòa Bình cùng các cơ quan hữu quan.

Với tình cảm chân thành, người viết xin gửi lời cảm ơn đến:

- PGS.TS. Nguyễn Ái Đoàn là người Thầy hướng dẫn khoa học đã rất tận tình hướng dẫn và cho những lời khuyên sâu sắc không những giúp tôi hoàn thành luận văn

mà còn truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu về nghề nghiệp.

- Các thầy cô giáo của trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình giảng

dạy, hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt hai năm học để tôi có được những kiến thức ứng

dụng trong công tác và là cơ sở thực hiện luận văn này.

- Quý thầy cô đã dành thời gian quý báu để đọc và phản biện luận văn này,

xin cảm ơn những ý kiến nhận xét sâu sắc của quý thầy cô.

- Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp đang công tác Sở Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn Hòa Bình, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Hòa Bình cùng các cơ quan

hữu quan.đã đóng góp ý kiến quý báu cho việc hoàn thành luận văn này.

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ

bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót,

tác giả rất mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy cô và các bạn đồng

nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2012

Học viên

ii

ĐOÀN TRUNG HIẾU

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................i

LỜI CẢM ƠN........................................................................................................ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT ...................................................vi

DANH MỤC BẢNG ............................................................................................vii

MỞ ĐẦU .............................................................................................................viii

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ

NÔNG NGHIỆP ....................................................................................................1

1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP...............1

1.1.1. Khái niệm HTX và HTX nông nghiệp ....................................................1

1.1.2. Hợp tác xã nông nghiệp và các loại hình Hợp tác xã nông nghiệp ở nước

ta hiện nay........................................................................................................5

1.1.3. Sự cần thiết phát triển Hợp tác xã nông nghiệp hiện nay.........................7

1.1.4. Hoạt động của HTX nông nghiệp ......................................................... 12

1.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG

NGHIỆP ............................................................................................................ 13

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC XÃ

NÔNG NGHIỆP ................................................................................................ 14

1.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ......................................................... 14

1.3.2. Thị trường ............................................................................................ 15

1.3.3. Vai trò của khoa học công nghệ ............................................................ 15

1.3.4. Nguồn nhân lực .................................................................................... 16

1.3.5. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ..................................... 17

1.3.6. Công tác quản lý hỗ trợ của chính quyền địa phương............................ 18

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG

NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH .................................................. 19

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH

HÒA BÌNH........................................................................................................ 19

iii

2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 19

2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội ........................................................................ 19

2.1.2.1. Kinh tế ........................................................................................... 19

2.1.2.2. Dân số - lao động ........................................................................... 20

2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng ................................................................................. 21

2.1.2.4. Phát triển kinh tế xã hội.................................................................. 21

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH HÒA BÌNH .................................................................................... 22

2.2.1. Đánh giá chung tình hình phát triển hợp tác nông nghiệp tỉnh Hòa Bình

....................................................................................................................... 22

2.2.1.1. Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã tỉnh Hòa Bình..................... 22

2.2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển của các hợp tác xã nông

nghiệp tỉnh Hòa Bình.................................................................................. 29

2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các HTX nông nghiệp tỉnh

Hòa Bình. ....................................................................................................... 38

2.2.2.1. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên. ................................................. 38

2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng, thị trường................................................................. 41

2.2.2.3. Khoa học công nghệ....................................................................... 42

2.2.2.4. Trình độ phát triển nhân lực ........................................................... 43

2.2.2.5. Cơ chế chính sách chung của Nhà nước và của tỉnh Hòa Bình........ 44

2.2.2.6. Công tác quản lý, hỗ trợ của chính quyền các cấp trong tỉnh Hòa

Bình............................................................................................................ 47

2.3. Kết luận chung. ........................................................................................... 48

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG

NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 ................................. 51

3.1. ĐỊNH HƯỚNG NHẰM PHÁT TRIỂN HTX NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH

HÒA BÌNH ....................................................................................................... 51

3.1.1. Cơ sở của những định hướng................................................................. 51

3.1.2. Định hướng và mục tiêu nâng cao hoạt động của các hợp tác xã

iv

nông nghiệp ở tỉnh Hòa Bình ......................................................................... 53

3.1.2.1. Định hướng .................................................................................... 53

3.1.2.2. Mục tiêu phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời gian tới ....... 55

3.1.2.3. Nhiệm vụ phát triển các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hòa

Bình trong giai đoạn 2010-2015.................................................................. 56

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG

NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2010-2015 ................................... 57

3.2.1. Đổi mới tư duy về nhận thức trong phát triển Hợp tác xã nông

nghiệp ............................................................................................................ 57

3.2.2. Thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa 60

3.2.3. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hợp tác

xã nông nghiệp ............................................................................................... 62

3.2.4. Lựa chọn mô hình Hợp tác xã nông nghiệp phù hợp với đặc điểm cụ thể

của từng huyện ............................................................................................... 65

3.2.5. Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà

nước ............................................................................................................... 65

3.2.5.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý ........................................................ 65

3.2.5.2. Hoàn thiện một số chính sách vĩ mô nhằm thúc đẩy phát triển Hợp tác

xã nông nghiệp ............................................................................................ 66

3.2.5.3. Kiện toàn bộ máy nhà nước đối với Hợp tác xã nông nghiệp .......... 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................. 70

v

TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

Hợp tác xã

HTX

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

TLSX Tư liệu sản xuất

Công nghiệp hóa

CNH

Hiện đại hóa

HĐH

ICA Liên minh HTX quốc tế

KT – XH

Kinh tế - Xã hội

NSNN

Ngân sách nhà nước

ILO

Tổ chức Lao động quốc tế

NN

Nông nghiệp

DVTH

Dịch vụ tổng hợp

DN

Doanh nghiệp

KHCN

Khoa học công nghệ

vi

Bảng 2.1. Số lượng HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình...................................... 29

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.2. Diện tích đất các HTX nông nghiệp đang quản lý và sử dụng ................ 29

Bảng 2.3. Tình hình tài sản của các hợp tác xã nông nghiệp điều tra .......................... 30

Bảng 2.4. Tình hình vốn quỹ của các hợp tác xã nông nghiệp................................ 31

điều tra tính đến năm 2010 .................................................................................... 31

Bảng 2.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các Hợp tác xã nông nghiệp

giai đoạn 2008-2010 .............................................................................................. 32

Bảng 2.6. Tổng hợp trình độ của cán bộ làm công tác............................................. 34

quản lý hợp tác xã nông nghiệp đến năm 2010 ....................................................... 34

Bảng 2.7. Năng lực điều hành của cán bộ quản lý và trình độ ................................ 35

xã viên của các hợp tác xã nông nghiệp điều tra .................................................... 35

Bảng 2.8. Phân loại các hợp tác xã nông nghiệp điều tra theo................................. 38

vii

loại hình sản xuất kinh doanh................................................................................. 38

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta

đã có những bước tiến vượt bậc. Sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp vốn

được coi là thế mạnh của Việt Nam cũng được Đảng và Nhà nước tập trung nguồn

lực để tạo ra sự đột phá.

Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới là chủ trương lớn

của Đảng và Nhà nước. Song có nhiều vấn đề lớn sẽ đặt ra như: phát triển các

doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp theo hướng nào; việc phát triển

hoạt động nông nghiệp hiện nay; bảo vệ thành quả của cải cách ruộng đất…

Năm 2005 khu vực kinh tế HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình có giá trị

GDP là 13,04 tỷ đồng, năm 2010 là 13,94 tỷ đồng. Như vậy, trong 5 năm khu vực

này chỉ tăng được 0,9 tỷ đồng. Điều đó chứng tỏ, khu vực kinh tế hợp tác, HTX

nông nghiệp phát triển chưa thật sự ổn định. Xét về mặt đóng góp thì kinh tế hợp

tác, HTX nông nghiệp mới chỉ cộng vào tổng GDP của tỉnh mỗi năm khoảng 1%.

Qua một vài con số chứng minh trên đây có thể thấy, những đóng góp của

kinh tế hợp tác, HTX nông nghiệp cho địa phương còn chưa nhiều, chưa tương

xứng với vai trò là chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Có thể chỉ ra hàng loạt những

tồn tại cần phải tháo gỡ trong phát triển kinh tế hợp tác, HTX nông nghiệp : tiềm

lực kinh tế khu vực này còn yếu, tài sản vốn, quỹ ít. Số HTX hoạt động hiệu quả

chưa nhiều, trong khi số HTX yếu kém chiếm tỷ lệ cao. Trong đó, đáng lưu ý là còn

một số HTX hoạt động mang tính hình thức, chưa được củng cố hoặc phải giải thể.

Tình trạng một số HTX thành lập mới không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn mà ra

đời với mục đích để được hưởng chính sách vay vốn ưu đãi hoặc đón các chương

trình tài trợ của tỉnh còn khá nhiều. Vì thế, khi phải bước vào hạch toán độc lập thì

các HTX này tỏ ra lúng túng và bị rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng.

Từ thực tiễn trên tôi lựa chọn Đề tài nghiên cứu: Phân tích và đề xuất một số

viii

giải pháp phát triển kinh tế HTX nông nghiệp ở tỉnh Hòa Bình.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp nhằm tìm ra những

tiềm năng, ưu thế và những mặt hạn chế trong quá trình sản xuất kinh doanh của các

HTX. Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các

HTX nông nghiệp tại địa phương.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về kinh tế hợp tác, HTX nói chung và HTX

nông nghiệp nói riêng.

Đánh giá thực trạng về tổ chức và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

các HTX nông nghiệp trước và sau Luật HTX năm 2003 trên cơ sở phân tích các

nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Đưa ra các giải pháp chủ yếu, định hướng phát triển nhằm xây dựng mô hình

các HTX nông nghiệp trên địa bàn phù hợp với đặc điểm, điều kiện phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX

nông nghiệp.

Đối tượng khảo sát: các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung, phương thức

tổ chức hoạt động, phương thức tổ chức quản lý điều hành, phương thức tổ chức sản

xuất kinh doanh…của các HTX nông nghiệp.

Về không gian: Đề tài nghiên cứu HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.

Về thời gian: Đánh giá thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp trong

thời gian từ năm 2009 - 2011 ở địa phương. Để từ đó có các định hướng và giải

ix

pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các HTX nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

4. Ý nghĩa khoa học của đề tài

Phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của

HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.

Đề ra các giải pháp có tính khoa học, thực tiễn về phát triển HTX nông

nghiệp tỉnh Hòa Bình nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém trong công tác tổ

chức, điều hành hoạt động của các HTX nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

Đưa ra những nhận định chủ quan và những đề xuất về cơ chế, chính sách

nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định kinh tế xã hội khu vực nông thôn,

giảm khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, phát huy lợi thế, tiềm

năng sản phẩm nông nghiệp của địa phương trên thị trường trong và ngoài nước.

5. Bố cục luận văn

Ngoài 2 phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển các hợp tác xã nông nghiệp .

Chương 2: Thực trạng phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp trên

địa bàn tỉnh Hòa Bình.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển HTX nông nghiệp ở tỉnh Hòa

x

Bình trong giai đoạn 2010-2015.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN CÁC

HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.1.1. Khái niệm HTX và HTX nông nghiệp

* Hợp tác xã

Một trong những hình thức liên kết giữa các chủ thể đó là thành lập HTX. HTX

được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã

viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần. Mỗi xã viên có quyền như

nhau đối với công việc chung. HTX là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất

và các hoạt động kinh tế, gắn liền với sự phát triển kinh tế và bị ràng buộc và quy

định bởi sự tiến triển trong quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người

và phải thích ứng với tiến trình phát triển kinh tế đó. HTX phải tạo ra xung lực tăng

năng suất lao động và đạt hiệu quả kinh tế cao.

Xuất phát từ thực tiễn nước ta kinh tế HTX sẽ tồn tại và phát triển dưới nhiều

hình thức đa dạng, từ thấp đến cao. Chẳng hạn, có những HTX trở thành lĩnh vực

hoạt động chính của các thành viên. Có những HTX chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu chung

về một hay một số dịch vụ trong quá trình sản xuất hoặc chuyên sản xuất kinh doanh

một sản phẩm nhất định, thành viên tham gia chỉ đóng góp một phần vốn và lao động,

hộ gia đình vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ. HTX là kết qủa liên kết theo chiều dọc, chiều

ngang hoặc hỗn hợp, không bị giới hạn bởi địa giới hành chính và lĩnh vực kinh doanh.

Mỗi người lao động, mỗi hộ gia đình có thể tham gia đồng thời vào nhiều loại hình

kinh tế hợp tác. HTX có tư cách pháp nhân có thể nhân danh mình huy động vốn, lao

động… ở bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau để phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Xuất phát từ khái niệm kinh tế hợp tác, nhiều tổ chức và các nhà kinh tế đã

đưa nhiều khái niệm về HTX, cụ thể:

Liên minh HTX quốc tế đưa ra khái niệm như sau: “Hợp tác xã là một tổ

chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và

1

nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp

cùng sở hữu và quản lý dân chủ”.

Còn Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng: “ Hợp tác xã là sự liên kết của

những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên

kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà

họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết

những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ chịu trách nhiệm và bằng cách sử

dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất

và tinh thần chung”.

Sự giống nhau ở hai khái niệm trên đều cho rằng HTX là một tổ chức được

hình thành trên cơ sở sự liên kết tự nguyện của các thành viên, được vận hành và

quản lý trên cơ sở dân chủ và sự đồng thuận nhằm đạt mục tiêu mang lại lợi ích chung

cho các thành viên. Tuy vậy, với khái niệm do Liên minh HTX quốc tế nhấn mạnh

đến yếu tố hợp tác giữa các thành viên trong quá trình thành lập và điều hành các

HTX để phục vụ lợi ích chung, còn với khái niệm HTX do Tổ chức Lao động quốc tế

lại nhấn mạnh cơ sở của sự hợp tác giữa các thành viên là để khắc phục sự khó khăn

khi hoạt động riêng lẻ, với sự liên kết này đã mang lại lợi ích chung cho tập thể.

Theo luật của các nước cũng cho thấy một số đặc điểm cơ bản của HTX như

sau:

Thứ nhất, HTX là sự liên kết của những người cùng tham gia.

Thứ hai, HTX là một tổ chức kinh doanh.

Thứ ba, HTX là một đơn vị kinh doanh được quản lý theo nguyên tắc dân chủ.

Thứ tư, mục đích của HTX là phục vụ lợi ích chung của các xã viên và lợi ích

cộng đồng.

Ở nước ta, trong Luật HTX năm 2003 có định nghĩa như sau: “Hợp tác xã là tổ

chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã

viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của

Luật HTX để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng

giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời

2

sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.

Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp

nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều

lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.

Từ các khái niệm về HTX, có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản về HTX

như sau:

Hợp tác xã là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động kinh

tế. Mục tiêu của HTX là phát triển được sức sản xuất xã hội, tiết kiệm lao động,

tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điều

kiện mới.

Việc thành lập HTX không làm mất đi tính tự chủ vốn có của các bên tham

gia, trái lại nó tăng thêm sức mạnh tổng lực và phát triển được những ưu thế của

phương thức HTX.

Thành lập HTX là tạo ra đòn bẩy để phát triển kinh tế các chủ thể kinh tế tự

chủ. HTX là việc liên kết nhau lại giữa các chủ thể kinh tế tự chủ tạo ra sức mạnh

mới, thông qua đó phát triển được kinh tế của mình. Như vậy khi thành lập HTX

mới không phải vì kinh tế HTX mà là sự phát triển kinh tế của các thành viên. Do

đó, kinh tế HTX là tổ chức kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế tự chủ. Kinh

tế HTX thể hiện được bản chất tự do lựa chọn phương thức hoạt động kinh tế của

họ trong điều kiện kinh tế thị trường vì kinh tế thị trường thì các chủ thể kinh tế tự

chủ họ có nhiều cách để đạt tới mục đích kinh tế của mình. Như vậy, trong điều kiện

mới, các chủ thể kinh tế tự chủ họ có thể tham gia HTX hoặc không, khi HTX không

đáp ứng yêu cầu của họ.

Từ các khái niệm trên chúng ta có thể nhận định rằng: Hợp tác xã là tổ

chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Hình thành HTX là một quá

trình hoàn toàn tự nhiên từ những đòi hỏi, nhu cầu thực tế của con người trong các

hoạt động kinh tế.

* Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp

Sự liên kết tự nguyện giữa các chủ thể kinh tế là nền tảng cơ bản hình

3

thành HTX. Sự liên kết được thực hiện ở tất cả các hoạt động sản xuất và kinh

doanh. Từ đó hình thành HTX ở hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân

trong đó phải kể đến sự liên kết tự nguyện trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và

hình thành các HTX nông nghiệp.

Cũng giống như bất cứ quá trình sản xuất nào trong nền kinh tế thị

trường, hoạt động sản xuất nông nghiệp đều diễn ra các khâu như: bắt đầu từ việc

nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường, đến việc chuẩn bị và kết hợp các yếu tố

đầu vào trong quá trình sản xuất, kết thúc bằng việc phân phối sản phẩm để thu

tiền về. Chính vì thế là đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ và độc lập, các HTX

nông nghiệp vẫn phải tiến hành đầy đủ các khâu trong quá trình kinh doanh nhằm

mang lại lợi ích cho mình. Tuy vậy, khi tham gia vào thị trường để nâng cao sức

cạnh tranh thì HTX phải phát huy thế mạnh của mình từ sự liên kết và hợp tác. Do

đó, xét về mặt tổ chức sản xuất các HTX sẽ phân chia các khâu của qúa trình sản

xuất để tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và kinh doanh. Trên cơ sở chuyên môn

hoá sẽ hình thành một hệ thống các HTX nông nghiệp, trong đó bao gồm các HTX

thực hiện một hoặc một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất để tạo ra lương thực

- thực phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy, có thể có các HTX tiến hành

nghiên cứu, dự báo thị trường nông sản - thực phẩm, HTX cung ứng các yếu tố phục

vụ sản xuất như: vốn, máy móc thiết bị, điện, nước, phân bón, thuốc trừ sâu… và các

HTX phục vụ việc bán hàng và phân phối hàng hoá thậm chí cả các HTX cung cấp

lao động.

Như vậy ta có thể hiểu: Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tự

chủ được các thành viên thành lập trên cơ sở tự nguyện, tiến hành các hoạt động

sản xuất hoặc cung ứng các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất nhằm tạo ra các sản

phẩm nông, lâm, thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu xã hội.

Chính vì vậy, sự liên kết để hình thành lên HTX là các thành viên đó là các

hộ gia đình nông nghiệp hoặc các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.

Do sự khó khăn vì hoạt động đơn lẻ đã tự nguyện tiến hành hợp tác để có sức mạnh

tổng hợp và mong muốn đạt được lợi ích lớn hơn. Từ đó làm phát huy tinh thần

4

đoàn kết làm giàu cho gia đình và địa phương.

1.1.2. Hợp tác xã nông nghiệp và các loại hình Hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta

hiện nay

Hợp tác xã nông nghiệp là một loại hình kinh tế tập thể trong nông nghiệp do

những người nông dân tự nguyện thành lập nhằm mục đích trợ giúp các hoạt động

sản xuất nông nghiệp của họ thông qua cung cấp các dịch vụ giá rẻ do lợi thế về quy

mô và chuyên môn hoá hoạt động. “HTX nông nghiệp ra đời trên nền tảng kinh tế

hộ nông dân”.

Ngoài những đặc điểm của HTX kiểu mới nói chung, HTX nông nghiệp còn

có những đặc điểm đặc thù về kinh tế - xã hội của nông nghiệp, nông thôn như:

+ HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập hợp đông đảo nông dân chủ yếu ở

nông thôn - lực lượng lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xã hội ở các nước

đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng.

+ HTX nông nghiệp là một tổ chức kinh tế của những người hạn chế về trình

độ dân trí, vốn, cơ sở vật chất- kỹ thuật so với các loại hình doanh nghiệp khác. Do

đó, đòi hỏi sự giúp đỡ của Nhà nước về cơ sở vật chất, về tổ chức quản lý đối với

HTX nông nghiệp là một tất yếu.

+ Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi. Nên trong quá

trình hoạt động kinh doanh của mình, HTX nông nghiệp vừa bị chi phối bởi các quy

luật kinh tế, vừa bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên nên thường làm cho các HTX

nông nghiệp phải chịu rủi ro lớn, hiệu quả kinh tế và lợi nhuận thấp nên tích luỹ ít

và chậm. Qua đặc điểm này cho thấy, những lĩnh vực sản xuất, những khâu công

việc trực tiếp tác động vào cây trồng vật nuôi thì việc tổ chức sản xuất, tổ chức lao

động trong từng hộ nhìn chung là phù hợp và tỏ ra có sức sống, có hiệu quả kinh tế

cao hơn là tổ chức sản xuất tập thể trong các HTX quy mô lớn.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, HTX nông nghiệp kiểu mới

ra đời là vì kinh tế nông hộ, chứ không phải để thay thế kinh tế nông hộ, ngược lại

kinh tế nông hộ là "tế bào" là cơ sở tồn tại của kinh tế HTX nông nghiệp kiểu mới.

Tuỳ theo đặc điểm của mỗi nước và nhu cầu cụ thể của những người tham

5

gia, do đặc điểm của từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh mà

HTX được xây dựng theo một mô hình nào đó nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra, vì vậy

các loại hình HTX rất đa dạng.

Nhìn chung về loại hình HTX trong nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN ở nước ta và thực tiễn hoạt động của HTX nông nghiệp kiểu mới, chúng ta

có thể khái quát HTX nông nghiệp với các mô hình sau:

Loại thứ nhất, HTX nông nghiệp làm dịch vụ: loại hình HTX nông nghiệp

được tách hẳn để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, bao gồm dịch vụ các yếu tố

đầu vào như: HTX cung ứng vật tư (giống, phân bón, thuốc trừ sâu...); dịch vụ các

khâu cho sản xuất nông nghiệp như: dịch vụ làm đất, tưới tiêu, bảo vệ thực vật...;

dịch vụ quá trình tiếp theo của sản xuất nông nghiệp như: dịch vụ chế biến, bảo

quản, thu mua, tiêu thụ sản phẩm…

Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ

nên hoạt động dịch vụ của HTX nông nghiệp là hình thức thích hợp, phổ biến có

hiệu quả thiết thực hiện nay. Tuy nhiên theo tính chất của từng ngành, từng vùng, từ

yêu cầu hợp tác và phân công lao động để lựa chọn các hình thức thích hợp.

Ngay trong mô hình HTX dịch vụ cũng được phân thành nhiều hình thức

như HTX dịch vụ chuyên khâu, HTX kinh doanh dịch vụ tổng hợp (thực hiện nhiều

khâu dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp, kể cả dịch vụ cho đời sống nông dân).

Loại thứ hai, HTX vừa làm dịch vụ vừa tổ chức sản xuất tập trung ở các

mức độ và quy mô khác nhau (thường gọi HTX sản xuất kinh doanh dịch vụ tổng

hợp).

Các HTX loại này thường tồn tại dưới dạng HTX chuyên môn hóa theo sản

phẩm. Đó là HTX chuyên ngành, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ. Loại hình

này phổ biến nhất là các HTX nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi gia súc tập trung,

trồng rừng... Còn trong lĩnh vực trồng trọt, phổ biến hiện nay hộ nông dân trực tiếp

sản xuất, ngoài ra còn có loại HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản

phẩm.

Loại thứ ba, là các HTX sản xuất tập trung như HTX chăn nuôi hay trồng

6

trọt... Đây là loại hình HTX, trong đó các TLSX chính được tập thể hóa, lao động

được tổ chức theo hướng chuyên môn hóa dưới sự điều hành và chỉ đạo chung của

Ban Quản trị, loại hình này ở nước ta trong thời kỳ bao cấp là phổ biến, hiện nay và

trong tương lai gần đang có xu hướng giảm xuống.

Với những loại hình HTX nông nghiệp nêu trên tùy theo đặc điểm của

ngành, trình độ sản xuất các hộ nông dân, điều kiện của từng địa phương mà lựa

chọn loại hình HTX sao cho có hiệu quả, thiết thực, đặc biệt HTX thực sự là "bà

đỡ" cho kinh tế hộ phát triển, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông

nghiệp, nông thôn.

1.1.3. Sự cần thiết phát triển Hợp tác xã nông nghiệp hiện nay

+ Phát triển HTX nông nghiệp là yêu cầu khách quan và con đường phát

triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân trong nền kinh tế thị trường nước ta

Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của hộ nông dân ngày càng gắn chặt với thị

trường trong và ngoài nước. Những cơ hội lớn cho sự phát triển do hội nhập kinh tế

quốc tế mang lại diễn ra cùng với những thách thức không nhỏ như cạnh tranh

quyết liệt hơn; nguy cơ tụt hậu, nghèo đói gia tăng, cách biệt mở rộng, đặc biệt hàng

triệu hộ gia đình nông dân, cơ sở sản xuất nhỏ và kể cả không ít doanh nghiệp sẽ

đứng trước nguy cơ phá sản và bị gạt ra ngoài rìa sự phát triển. Để thích ứng với thị

trường, hộ nông dân buộc phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm

trên cơ sở thường xuyên cải tiến kỹ thuật canh tác, nâng cao chất lượng sản phẩm,

đồng thời phải thâm canh, đa dạng hóa sản xuất để tránh những rủi ro của thị trường

đưa lại, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu kinh tế giữa các

vùng trong nước và nước ta với nước ngoài như hiện nay.

Những thách thức đó đã đặt ra yêu cầu đối với những người lao động riêng lẻ

nói chung và hộ nông dân nói riêng phải liên kết, hợp tác với nhau để tồn tại và phát

triển. Sản xuất hàng hóa càng phát triển bao nhiêu thì nhu cầu hợp tác càng lớn bấy

nhiêu. Sự hợp tác mang lại cho kinh tế hộ nông dân thêm vốn, nhân lực, kinh

nghiệm sản xuất, từ đó tạo ra thuận lợi để áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng

cao năng suất lao động, mở rộng thị trường… bởi lẽ đó là hình thức hiệu quả để

7

chống lại sự chèn ép mua rẻ bán đắt của tư thương, chống tình cảnh cho vay nặng

lãi của những người kinh doanh tiền tệ, chống tình trạng mua bán lúa non và các

hình thức bóc lột khác.

Trong bối cảnh đó HTX nông nghiệp đã trở thành một trong những hình thức

hợp tác hiệu quả giúp nông dân vượt qua thách thức của kinh tế thị trường. HTX

nông nghiệp là nhịp cầu đưa kinh tế hộ nông dân từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn có

sức cạnh tranh. HTX nông nghiệp là sự bổ sung cho kinh tế hộ nông dân, phục vụ

đắc lực cho sự phát triển của kinh tế hộ nông dân.

+ Phát triển hợp tác xã nông nghiệp tạo thuận lợi đẩy nhanh quá trình

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Phát triển HTX nông nghiệp tạo nên sự phân công lao động và tổ chức lao

động mới, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông

thôn, đồng thời HTX nông nghiệp trên cơ sở tích lũy vốn đủ sức hoạt động sản xuất

kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng và có điều

kiện để ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất, đặc biệt ứng dụng cơ

giới hóa, thủy lợi hóa, công nghệ sinh học, điện khí hóa, thị trường hóa, tạo điều kiện

để tăng quy mô sản xuất hàng hóa lớn thích ứng với nhu cầu thị trường, hạn chế và

khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán ở nước ta hiện nay.

+ Phát triển HTX - con đường để xóa đói, giảm nghèo bền vững ở khu vực

nông thôn

HTX với những nguyên tắc tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công

bằng và đoàn kết, với những giá trị đầy tính nhân văn như trung thực, cởi mở, trách

nhiệm với xã hội và quan tâm đến mọi người. Chính bởi những đặc điểm đó mà

HTX đặc biệt phát triển trong những lĩnh vực mang tính cộng đồng, với tinh thần

tương thân, tương ái, cùng giúp nhau thoát khỏi đói nghèo và vươn lên làm giàu cho

mình và cho xã hội.

HTX không đơn thuần hỗ trợ thành viên của mình theo kiểu giúp “con cá” mà

trao cho họ “cần câu” – đó là tạo cơ hội việc làm, hỗ trợ vốn để phát triển sản xuất

8

kinh doanh, hướng dẫn thông tin để định hướng hoạt động giúp họ và cũng tự giúp

nhau cùng vươn lên thoát khỏi đói nghèo. Đó là cách xoá đói giảm nghèo bền vững

và ổn định nhất.

Nguyên tắc thành viên tự nguyện và mở rộng có nghĩa HTX mở rộng đối với

cả người nghèo. Lợi nhuận được chia cho xã viên phần lớn là trên cơ sở mức độ sử

dụng của HTX và công sức đóng góp của họ tạo ra, có nghĩa là người nghèo là xã

viên được bình đẳng với các xã viên khác trong phân phối thu nhập. Các nguyên tắc

HTX liên quan đến quyền bỏ phiếu công bằng và lợi nhuận giới hạn về vốn có

nghĩa là HTX xem trọng nhân tố con người và quyền bình đẳng cho xã viên nghèo.

Như vậy, về mặt lý luận, HTX là “các tổ chức kinh tế coi trọng đạo đức” vì thế

HTX có nhiều lợi thế trong tham gia xóa đói giảm nghèo.

Nguyên nhân của việc đói nghèo có nhiều, trong đó có những nguyên nhân mà

chính các HTX có khả năng giải quyết được tận gốc, đó là: thiếu vốn lưu động, rủi

ro vì không được bảo hiểm, thiếu thông tin, thiếu kỹ năng quản lý tài sản chung,

thiếu hiểu biết về pháp luật... Thực tế từ kết quả của phong trào thi đua “HTX tiên

phong trong xóa đói giảm nghèo” do Liên minh HTX phát động đã cho thấy đây là

mô hình có vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn. Hơn

bất cứ tổ chức nào, HTX là tổ chức duy nhất có khả năng tiếp cận trực tiếp tới

người dân, nắm bắt được nhu cầu của họ và cung cấp cho họ những dịch vụ phù hợp

nhất, với chi phí thấp nhất. Thông qua các hoạt động tài chính vi mô, các HTX đã

giúp xã viên thoát khỏi tình trạng đi vay nặng lãi, tín dụng “chợ đen”, qua đó có vốn

sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề, đẩy lùi nghèo đói và vươn lên khá giả.

HTX tạo thêm việc làm và thu nhập cho người nghèo; tổ hợp tác, HTX có số

lượng lớn và phân bổ rộng khắp các vùng dân cư, vùng miền của cả nước, là khu

vực tạo ra hàng chục triệu việc làm ổn định cho người lao động, với đòi hỏi không

khắt khe về chuyên môn, kỹ thuật, năng lực, phương tiện đi lại, phương tiện làm

việc. Do vậy, người lao động nghèo có nhiều cơ hội tham gia để tạo việc làm, có thu

nhập, giải quyết đói nghèo và tiến tới làm giàu chính đáng.

HTX góp phần nâng cao năng lực sản xuất cho người nghèo về trình độ kỹ

9

thuật, công nghệ sản xuất; hướng dẫn các hộ xã viên ứng dụng khoa học, công nghệ

mới vào sản xuất, áp dụng công nghệ kỹ thuật cao để phát triển sản xuất theo chiều

sâu. HTX tạo ra phong cách sản xuất mới ở khu vực nông thôn đó là quá trình

chuyên môn hóa và hiện đại hóa, hình thành các HTX chuyên canh, chuyên ngành

(HTX trồng rau sạch, HTX trái cây, HTX chăn nuôi...) để sản xuất gắn với nhu cầu

thị trường, tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế và xóa bỏ cung cách làm ăn riêng lẻ,

“tự cung, tự cấp”, từ đó xóa nghèo bền vững hơn. HTX cũng là cơ hội cho các hộ

nghèo phát triển ngành nghề thông qua quá trình tập trung vốn và mở rộng sản xuất,

dạy nghề cho người lao động, cũng như tạo việc làm và thu nhập cho họ nhờ tổ

chức sản xuất các ngành nghề mới.

HTX bảo đảm an sinh xã hội và bình đẳng giới cho người nghèo; hỗ trợ người

nghèo tiếp cận các dịch vụ về an sinh xã hội; tạo cơ hội cho phụ nữ tiếp cận các

nguồn lực, tạo việc làm và phát triển kinh doanh.

+ Phát triển hợp tác xã nông nghiệp tạo điều kiện để xây dựng nông thôn mới

Kinh tế tập thể là hình thức tổ chức kinh tế mang tính xã hội hóa cao hơn

kinh tế cá thể hộ gia đình, là nhân tố quan trọng để xây dựng xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh, giáo dục ý thức tập thể và đoàn kết cộng đồng.

Ngoài mục tiêu kinh tế, HTX nông nghiệp còn thực hiện các mục tiêu xã hội

quan trọng. Hợp tác xã góp phần xây dựng tình đoàn kết xóm làng, tinh thần tương

thân tương ái, xây dựng cộng đồng xã hội tốt đẹp ở nông thôn, góp phần xoá đói

giảm nghèo, bảo vệ an ninh trật tự xã hội, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa

tốt đẹp của dân tộc. HTX là hình thức tổ chức kinh tế quan trọng để người lao động,

hộ xã viên tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhà nước, liên kết với doanh nghiệp thuộc các

thành phần kinh tế, thực hiện liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng trong

tiến trình đi lên xây dựng XHCN.

Ngoài ra, nhờ phát triển hợp tác xã nông nghiệp mới tạo ra quy mô sản xuất

hàng hóa lớn thích ứng với nhu cầu của thị trường, hạn chế và khắc phục dần tình

trạng sản xuất nhỏ, phân tán, manh mún, mang nặng tính tự cung, tự cấp của kinh tế

hộ còn đang phổ biến ở nước ta hiện nay. Đồng thời, Hợp tác xã nông nghiệp là một

10

tổ chức kinh tế của nông dân đồng thời là một trường học thực tế để nâng cao trình

độ của người lao động và đào tạo, rèn luyện những cán bộ quản trị kinh doanh đáp

ứng yêu cầu của kinh tế thị trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

+ Hợp tác xã là kiểu làm kinh tế phổ biến của nhiều nước trên thế giới

Lâu nay khi nói đến vấn đề kinh tế HTX người ta lầm tưởng rằng đây là loại

hình kinh tế riêng có của XHCN. Nước nào đi lên XHCN thì phải phát triển kinh tế

HTX. Do đó, Việt Nam là nước phát triển theo định hướng XHCN nên phát triển

theo loại hình này.

Thực tế đã chứng minh rằng, HTX đầu tiên trên thế giới đã ra đời vào năm

1761 tại Anh, rồi đến Đức vào năm 1846, Ấn Độ 1889 và ở Thái Lan vào năm

1915. Mặc dù HTX ra đời trước XHCN hiện thực, nhưng được coi là một loại hình

kinh tế của XHCN và được áp dụng ở Việt Nam nó là một trong những hình thức

phù hợp để thực hiện xã hội hoá đối với sản xuất nhỏ nói chung và sản xuất nhỏ

trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng.

Thực tiễn cho thấy kinh tế HTX trên thế giới đã ra đời và tồn tại gần 20 năm,

lúc mới hình thành HTX thường chỉ là những người nghèo ít vốn, sản xuất nhỏ, một

mình kinh doanh khó khăn, giá cả cao, khả năng cạnh tranh thấp, họ muốn hợp tác

lại với nhau để tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường... Nhưng về sau

HTX phát triển lên trở thành những tập đoàn kinh tế mạnh. Theo báo cáo của Liên

minh HTX quốc tế (ICA) hiện nay trên thế giới đã có 95 nước có phong trào HTX,

HTX có ở tất cả các châu lục và đã có 95 nước là thanh viên của ICA.

Như vậy, sự hợp tác của những người sản xuất nhỏ, những người làm ăn

riêng lẻ để phát triển lực lượng sản xuất, phục vụ lợi ích cộng đồng, tăng sức cạnh

tranh, chống lại sự chèn ép của các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế thị trường là

một quy luật phổ biến của tất cả các nước trên thế giới.

Tóm lại: Phát triển kinh tế hợp tác và HTX không phải chỉ để giúp những

người sản xuất nhỏ có đủ sức cạnh tranh, chống lại sự chèn ép của doanh nghiệp lớn

mà về lâu dài cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc

11

dân. Phát triển kinh tế hợp tác và HTX không chỉ vì mục đích kinh tế, mà còn có

mục đích xã hội là tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, tương trợ giúp

đỡ nhau trong cuộc sống, góp phần xây dựng nông thôn mới.

1.1.4. Hoạt động của HTX nông nghiệp

* Mục đích

Làm tốt dịch vụ cho sản xuất phát triển, góp phần nâng cao thu nhập cho

nông dân và tích lũy để xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn.

Nâng cao tốc độ tăng trưởng, đưa kinh tế tập thể cùng với kinh tế các thành

viên và kinh tế hộ xã viên đóng góp ngày càng cao trong tỷ trọng nền kinh tế.

Góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời sống

vật chất, tinh thần của các thành viên và cộng đồng dân cư địa phương, nhất là

vùng nông thôn.

* Các nguồn lực của HTX

Hiện nay, cả nước có 13,8 triệu hộ nông thôn, trong đó 9,8 triệu hộ nông,

lâm, ngư nghiệp; 1,37 triệu hộ tiểu thủ công nghiệp, xây dựng; 2,04 triệu hộ thương

nghiệp, vận tải và dịch vụ khác; trong số hộ nông dân có 1,3 - 1,5 triệu hộ kiêm

ngành nghề. ở thành thị, có trên 4,72 triệu hộ; trong đó có hàng triệu hộ sản xuất,

kinh doanh nhỏ, hàng triệu người lao động tự do trong các lĩnh vực tiểu thủ công

nghiệp, xây dựng, vận tải, thương mại, dịch vụ. Phát triển hợp tác xã cần tiếp tục

chú trọng vào những tầng lớp và đối tượng này, để họ cùng giúp nhau làm ăn, tạo

việc làm, tăng thu nhập, phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong

điều kiện kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, các hộ sản xuất hàng hóa, các cơ sở

kinh doanh nhỏ và vừa trong mọi lĩnh vực, ngành nghề đang và sẽ phát triển nhanh,

thay thế dần các hộ gia đình hoạt động kinh tế theo lối tự cung tự cấp. Ngoài ra,

trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và hội nhập, nhu cầu hợp tác sẽ trở thành cấp

thiết đối với họ. Do vậy, phát triển hợp tác xã cũng cần phải hướng tới liên kết rộng

rãi các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp cực nhỏ, nhỏ và vừa thuộc mọi

12

lĩnh vực, thành phần kinh tế.

* Hình thức tổ chức quản lý ở các Hợp tác xã nông nghiệp

Các HTX nông nghiệp thực hiện quản lý dựa trên việc hình thành ba định

chế cơ bản đi từ dân chủ đến tập trung đó là: Đại hội xã viên, ban quản trị, ban kiểm

soát. Trong đó đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất và thực hiện quyền lực

của mình dựa trên nguyên tắc dân chủ tổng hợp quyền lực của các xã viên, thể hiện

ở chỗ có quyền quyết định mọi vấn đề về tổ chức, hoạt động của HTX, có quyền lập

ra ban quản trị, ban kiểm soát, chủ nhiệm HTX cũng như các chức danh quan trọng

khác.

Ban quản trị HTX nông nghiệp có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thực hiện

kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ huy động vốn trong HTX nông nghiệp. Ban

quản trị có quyền lựa chọn kế toán trưởng, cơ cấu tổ chức và các bộ phận nghiệp vụ,

chuyên môn HTX

Ban kiểm soát thực hiện quyền giám sát, kiểm tra ban quản trị và xã viên

trong việc thực hiện nghị quyết của đại hội xã viên.

Chủ nhiệm HTX đại diện trước pháp luật để quan hệ đối ngoại, chủ động

điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, được quyền triệu tập các

cuộc họp ban quản trị để thảo luận và quyết định các vấn đề phát sinh.

1.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG

NGHIỆP

Mục đích của các HTX nông nghiệp là làm tốt dịch vụ cho sản xuất phát

triển, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân và tích lũy để xây dựng cơ sở hạ

tầng ở nông thôn. Qua đó góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm,

cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của các thành viên và cộng đồng dân cư địa

phương, nhất là vùng nông thôn. Việc đánh giá sự phát triển của các HTX nông

nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

- Quy mô và các kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh mà các HTX nông

nghiệp đang thực hiện.

- Lĩnh vực tổ chức quản lý: bộ máy tổ chức hoạt động Ban quản trị

13

HTX; trình độ chuyên môn, năng lực của cán bộ HTX…

- Lĩnh vực kinh tế: chỉ tiêu vốn, mức tăng trưởng, doanh thu, lợi nhuận, thu

nhập bình quân…

+ Mức vốn góp bình quân của 1 HTX.

+ Giá trị sản xuất kinh doanh thu được/HTX .

+ Lãi bình quân/HTX.

+ Kết quả hoạt động kinh doanh (doanh thu) của HTX.

+ Mức thu nhập bình quân/lao động/năm)

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC

XÃ NÔNG NGHIỆP

1.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Mỗi vùng có những đặc điểm riêng về trình độ phát triển nền nông nghiệp

hàng hoá, trình độ dân trí, tập quán canh tác, điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu

mật độ dân cư … từ góc độ này cho phép nhận thấy rõ sự khác nhau không chỉ

trong sản xuất nông nghiệp, mức sống vật chất của dân cư, mà còn tạo nên sự khác

nhau về quá trình hình thành, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông

nghiệp nông thôn. Đồng thời với những tác động nói trên, đặc điểm truyền thống

văn hoá, tâm lý … cũng ảnh hưởng không nhỏ tạo nên những nét đặc trưng về kinh

tế hợp tác ở mỗi vùng.

Về tự nhiên: Các vùng nói trên phần lớn do địa hình hiểm trở, phức tạp lại

bị chia cắt bởi núi non, sông suối, đất đai, có độ dốc lớn, đất canh tác bị chia nhỏ,

ruộng bậc thang, đất trống, đồi trọc chiếm tỷ lệ cao.

Về xã hội: Dân cư đa dạng phân tán gồm nhiều dân tộc dẫn đến nhiều tập

quán phong tục khác nhau cũng ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng tổ chức kinh tế

hợp tác, HTX .

Trình độ kinh tế xã hội thấp so với các khu vực khác. Sản xuất còn mang

nặng tính tự cấp, tự túc. Sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu, mặc dù nó còn ở mức

thấp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng một cách máy móc các mô hình

14

HTX của miền xuôi ở đây, không phù hợp kém hiệu quả.

1.3.2. Thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của các HTX là một tất

yếu khách quan mang tính phổ biến. Bởi vì khi kinh tế thị trường phát triển, tính

cạnh tranh ngày càng gay gắt thì nhu cầu hợp tác, liên kết của những người sản xuất

hàng hóa ngày càng trở nên bức thiết hơn. Trong bối cảnh đó HTX tập hợp những

người sản xuất cá thể nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp và giải quyết những bế tắc về

vốn, về thị trường. Đồng thời tạo ra những điều kiện quan trọng trong việc chuyển

dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế, tăng tích lũy đối

với việc thực hiện tái sản xuất mở rộng. Đó là những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự

phát triển lực lượng sản xuất.

Ở nước ta hiện nay, sự tồn tại và phát triển của HTX không chỉ xuất phát từ

đòi hỏi khách quan của nền kinh tế mà còn là điều kiện quan trọng cho nền kinh tế

thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chính vì vậy, phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX đang là một

trong những hướng ưu tiên của Đảng và nhà nước ta. Thúc đẩy kinh tế hợp tác,

HTX phát triển nhanh và bền vững sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển

kinh tế - xã hội chung của đất nước đặc biệt là đối với lĩnh vực sản xuất nông

nghiệp và khu vực kinh tế nông thôn.

1.3.3. Vai trò của khoa học công nghệ

Trước hết, khoa học góp phần nâng cao dân trí nói chung và tri thức sản xuất

cho nông dân nói riêng, trong đó bao hàm các kiến thức về tổ chức và quản lý sản

xuất, các quy trình sản xuất tiên tiến, các yêu cầu về hội nhập tiêu chuẩn chất lượng

cũng như thị trường sản phẩm...

Khoa học và công nghệ cũng tích cực hỗ trợ HTX nông nghiệp, nông dân,

doanh nghiệp xây dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng các thành tựu khoa học

vào sản xuất, đặc biệt là các mô hình sản xuất các sản phẩm sạch gắn với việc tiết

giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, các

mô hình kinh tế tổng hợp nhằm khai thác một cách hiệu quả, hợp lý các tiềm năng

15

và lợi thế so sánh của địa phương.

Khoa học và công nghệ cũng hỗ trợ HTX nông nghiệp, nông dân nâng cao

năng lực cạnh tranh của sản phẩm (nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, xây

dựng quảng bá thương hiệu, định hướng và xúc tiến thị trường...) phù hợp xu thế hội

nhập kinh tế quốc tế.

Khoa học và công nghệ cũng tham gia một cách tích cực vào việc nghiên

cứu giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, CNH, HĐH và đô thị hoá nông nghiệp và nông thôn cũng như đời

sống nông dân như (xoá đói giảm nghèo, phân tầng xã hội, công bằng và phúc lợi xã

hội, chuyển dịch lao động....)

1.3.4. Nguồn nhân lực

Vấn đề quan trọng nhất là cán bộ quản lý HTX nông nghiệp phải có năng

lực, tâm huyết, gắn bó với HTX, dám làm, dám chịu trách nhiệm… Trong các tham

luận của các HTX mạnh, HTX điển hình tiên tiến, vấn đề này cũng được hầu hết các

HTX rút ra. Ban quản trị, nhất là người đứng đầu phải có lý tưởng và niềm đam mê

với mô hình HTX, dám dấn thân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Người

đứng đầu phải có tố chất kinh doanh, năng động, sáng tạo, linh hoạt và phải biết tận

dụng thời cơ, không trông chờ ỷ thế và chống cơ chế "xin- cho".

HTX nông nghiệp phải nỗ lực để trở thành mái nhà chung của xã viên, thu

hút sự tham gia tích cực của xã viên vào các công việc của HTX. Xã viên phải gắn

bó với HTX, tâm huyết và coi trọng các giá trị của HTX về trung thực, đoàn kết,

trách nhiệm với xã hội và quan tâm đến mọi người, có hiểu biết đầy đủ quyền và

nghĩa vụ của mình với HTX, trăn trở với mỗi bước phát triển của HTX. Chỉ có như

vậy HTX nông nghiệp mới thực sự trở thành mô hình phát triển bền vững.

Đội ngũ cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ trong HTX cũng đòi hỏi phải có kiến

thức chuyên ngành vững, có kinh nghiệm, chuyên môn phù hợp với điều kiện của

từng HTX, biết bám sát các mục tiêu đặt ra, luôn có cách thức làm việc khoa học,

quan tâm sử dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới… yêu cầu: Phải tập hợp, huy

động và đào tạo được đội ngũ cán bộ chủ chốt HTX có năng lực và phẩm chất, tận

16

tâm và nhiệt tình với sự nghiệp phát triển HTX. Quan tâm bồi dưỡng, giáo dục xã

viên, hộ xã viên, thành viên lý tưởng HTX, về các nguyên tắc và giá trị đạo đức

trong HTX.

1.3.5. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

Thực tế cho thấy những thành công trong phát triển HTX nông nghiệp ở

nước ta thời gian qua có nguyên nhân rất lớn từ việc ban hành và thực thi các chủ

trương chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế tập thể, thể hiện thông qua:

- Sự phát triển HTX được Nhà nước ta thể chế hoá kịp thời ở các cấp độ luật

pháp khác nhau. Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở những chủ trương, đường lối lớn

của Đảng, đã khẳng định: kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản

xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân

chủ, cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các HTX hoạt động

có hiệu quả. Điều đó là kết quả của một thời gian dài vận động thực tiễn và tổng kết

lý luận của Đảng và Nhà nước ta về HTX. Sự khẳng định của Hiến pháp năm 1992

đã tạo đà cho sự đổi mới không ngừng về cơ chế quản lý phát triển HTX của Nhà

nước.

Trên cơ sở những điều mà Hiến pháp năm 1992 viết về kinh tế tập thể, ngày

20/3/1996, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá 9, Luật HTX được thông qua, mở ra một

trang sử mới cho công tác tổ chức, quản lý và phát triển kinh tế tập thể nói chung,

HTX nói riêng. Luật HTX 1996 ban hành là cơ sở pháp lý bước đầu cho việc

chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới. Theo đó Chính phủ

đã ban hành một loạt các văn bản dưới luật như: (1) Nghị định 15/CP ngày

21/1/1997 quy định chính sách khuyến khích phát triển HTX; (2) Nghị định 16CP

ngày 21/2/1997 về xử lý công nợ của HTX cũ chuyển đổi sang hoạt động theo luật;

và (3) Thông tư số 14/BKH ngày 29/3/1997 của Bộ kế hoạch và Đầu tư về hướng

dẫn việc chuyển đổi và đăng ký gia đình HTX. Dưới sự điều chỉnh của hệ thống các

luật và văn bản dưới luật trên, quá trình phát triển HTX ở nước ta diễn ra theo hai

hình thức sau: chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới và

thành lập mới các HTX với chức năng chủ yếu là cung cấp dịch vụ cho hộ xã viên

17

cho cộng đồng và tạo việc làm cho những người lao động dễ bị tổn thương trong cơ

chế kinh tế thị trường.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội khoá XI

thông qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004. Luật

đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận lợi và

thông thoáng hơn cho các HTX phát triển. Theo Luật, HTX có được khung khổ pháp

lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc tế.

Phạm vi hoạt động của các HTX đã được mở rộng, không chỉ giới hạn trong

ngành nông nghiệp mà đã lan rộng sang các ngành và các lĩnh vực kinh tế khác

trong nền kinh tế

Nếu chỉ xét riêng lĩnh vực nông nghiệp, khu vực có nhiều HTX nhất đang

hoạt động, thì hầu hết các HTX đã đảm nhiệm nhiều dịch vụ nông nghiệp phục vụ

các hộ xã viên và cạnh tranh với các cơ sở dịch vụ khác trên cùng địa bàn. Bên cạnh

đó, các HTX đã không chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong nội bộ ngành

mà đã mở rộng sang cung cấp dịch vụ tổng hợp cho các xã viên của mình và cho thị

trường.

1.3.6. Công tác quản lý hỗ trợ của chính quyền địa phương

Bên cạnh việc vận dụng tốt những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà

nước thì sự phát triển của HTX nông nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều và công tác

quản lý, hỗ trợ của chính quyền địa phương. Có thể nói chính quyền địa phương là

nơi gần với các HTX nông nghiệp nhất và là nơi trực tiếp thực hiện, cụ thể hóa và

đưa những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các HTX nông

nghiệp một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Vì vậy HTX nông nghiệp có hoạt

động hiệu quả hay không phụ thuộc không nhỏ vào cách thức quản lý và hỗ trợ của

18

chính quyền địa phương.

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH

HÒA BÌNH

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Hòa Bình là một tỉnh vùng núi ở cực nam khu vực Tây Bắc, cận kề trung du và

đồng bằng Bắc bộ, có diện tích tự nhiên là 459.635,15 ha, chiếm 1,41% diện tích Việt

Nam. Hòa Bình có 10 huyện, 1 thành phố, bao gồm 191 xã, 11 thị trấn và 8 phường,

trong đó có 23 xã vùng An toàn khu.

Ranh giới phía bắc Hòa Bình là tỉnh Phú Thọ; phía nam giáp 2 tỉnh Hà Nam và

Ninh Bình; phía đông giáp Thủ đô Hà Nội và phía tây giáp các tỉnh Sơn La và Thanh

Hóa.

Tuy là một tỉnh miền núi, nhưng mạng lưới giao thông của Hòa Bình rất phát

triển, có đường Quốc lộ 6, cung đường Hồ Chí Minh chạy qua và mạng lưới đường

quốc lộ, tỉnh lộ, liên huyện khá tốt đến tất cả các huyện và hầu hết các xã trong tỉnh.

Nhờ có công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà nên Hòa Bình có nguồn điện lực,

nguồn dự trữ nước rất lớn và mạng lưới giao thông đường thủy từ Hòa Bình đi Sơn

La rất thuận lợi.

Vì vậy Hòa Bình không chỉ có vị trí quân sự quan trọng trong chiến lược

phòng thủ miền Tây Bắc của đất nước mà còn có khá nhiều điều kiện cần và đủ để

tham gia vào vùng phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội.

2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

2.1.2.1. Kinh tế

* Tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP) của tỉnh đạt mức khá cao, bình quân 5

năm (2006-2010) là 7,9 %/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm

trước, các ngành kinh tế đều tăng trưởng khá và ổn định. Tuy nhiên tốc độ tăng

19

trưởng khu vực dịch vụ còn thấp so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Trong các năm 2009 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt

10,5%/năm. Giá trị của GDP tăng dần qua các năm.. Đây là những thành công đáng

kể của tỉnh Hoà Bình trong việc phát triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu đề ra.

* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh đã chuyển dịch theo hướng tích cực,

tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng khu vực nông - lâm - ngư

nghiệp, đã có những cải thiện trong cơ cấu của từng ngành sản phẩm, cơ cấu thành

phần kinh tế, xuất hiện những sản phẩm mới với công nghệ tiên tiến hơn trong công

nghiệp, dịch vụ ; chuyển đổi cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp cũng có những

bước tiến nhất định.

Về cơ cấu theo thành phần kinh tế, tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước có xu

hướng giảm, khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

tăng nhưng sự chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

còn quá nhỏ.

2.1.2.2. Dân số - lao động

Hòa Bình được tổ chức thành 11 huyện và thành phố, bao gồm 191 xã và 19

phường, thị trấn. Dân số toàn tỉnh năm 2010 là 832.543 người.

Có 84,2% dân số sống ở khu vực nông thôn, cao hơn nhiều so với trung bình

của cả nước. Điều này cho thấy việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và xóa đói

giảm nghèo nói riêng phải được tập trung ở khu vực nông thôn. Số người trong độ

tuổi lao động chiếm 67% là yêu cầu cấp bách để giải quyết các vấn đề việc làm.

Hòa Bình là một tỉnh đa dạng về sắc tộc và văn hóa với 6 dân tộc cùng chung

sống, trong đó:

Dân tộc Mường chiếm 63% cư trú tập trung chủ yếu tại các huyện Kim Bôi,

Tân Lạc, Lương Sơn, Yên Thủy, Cao Phong và Kỳ Sơn.

Dân tộc Kinh trên 28% cư trú chủ yếu tại thành phố Hòa Bình, huyện Lạc

Sơn, Yên Thủy, Lương Sơn.

Dân tộc Thái chiếm 4% cư trú chủ yếu tại huyện Mai Châu.

20

Dân tộc Tày chiếm 2,7% cư trú tập trung tại huyện Đà Bắc.

Dân tộc Dao chiếm 1,7% cư trú tại Kim Bôi, Đà Bắc, Cao Phong.

Dân tộc Mông chiếm 0,6 % cư trú tại 2 xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu.

Với đặc điểm dân số và dân tộc học đa dạng, đồng bào các dân tộc thiểu số

chiếm đại đa số lại làm cho nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo của Hòa Bình nặng thêm.

2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng

Hệ thống giao thông thuận lợi tạo điều kiện cho Hòa Bình đẩy mạnh giao

lưu kinh tế, văn hóa - xã hội với các địa phương khác trong vùng và cả nướcTuy là

một tỉnh miền núi, đường Quốc lộ 6, cung đường Hồ Chí Minh chạy qua và mạng

lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên huyện khá tốt đến tất cả các huyện và hầu hết các xã

trong tỉnh. Nhờ có công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà nên Hòa Bình có

nguồn điện lực, nguồn dự trữ nước rất lớn và mạng lưới giao thông đường thủy từ

Hòa Bình đi Sơn La rất thuận lợi.

Với vị trí là cửa ngõ Tây Bắc Hòa Bình không chỉ có vị trí quân sự quan trọng

trong chiến lược phòng thủ miền Tây Bắc của đất nước mà còn có khá nhiều điều kiện

cần và đủ để tham gia vào vùng phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội. Đó là

những tiền đề, những tiềm năng quan trọng giúp Hòa Bình phát triển kinh tế trong

hiện tại và tương lai.

2.1.2.4. Phát triển kinh tế xã hội

Tốc độ tăng trưởng GDP trong những năm gần đây luôn ở mức cao hơn so với

trung bình của cả nước. Năm 2010 tốc độ tăng GDP đạt 8,29%. Trong đó, nông lâm

thủy sản là 4,39%, công nghiệp xây dựng là 8,38% và dịch vụ tăng 13,56%. Điều này

cho thấy Hòa Bình đang duy trì tốt đà tăng trưởng kinh tế.

Nền kinh tế đang dịch chuyển theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Nhưng sản

xuất nông lâm nghiệp vẫn đóng góp gần 30% GDP và có xu hướng tăng tỷ trọng

trong những năm gần đây. Tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ có chiều hướng gia

tăng là tín hiệu đáng mừng. tuy nhiên đóng góp của ngành công nghiệp xây dựng lại

có chiều hướng giảm. Như vậy vấn đề đặt ra là công nghiệp tuy phát triển nhưng chưa

thực sự tạo ra sức hút để giải quyết vấn đề dư thừa lao động nông thôn chiếm tới 67%

21

tổng dân số.

Sự chênh lệch thu nhập giữa lao động nông nghiệp và các ngành khác còn khá

lớn. Nếu không tính nhà máy thủy điện Hòa Bình thì đóng góp của nông nghiệp cho

nền kinh tế lên tới 46%, dịch vụ 33% và công nghiệp chỉ có 21%. Điều này cho thấy

sự mất cân đối về thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị và càng làm tăng tính

phức tạp trong xóa đói giảm nghèo.

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH

2.2.1. Đánh giá chung tình hình phát triển hợp tác nông nghiệp tỉnh Hòa Bình

Khu vực kinh tế tập thể ở Hòa Bình tồn tại nhiều năm bao gồm HTX nông

nghiệp, HTX phi nông nghiệp. Quá trình hoạt động trong cơ chế thị trường, sự tác

động từ các chủ trương, chính sách trong các năm qua cũng như vai trò quản lý nhà

nước đối với kinh tế tập thể qua các thời kỳ sát nhập, chia tách, thành lập mới (tỉnh,

huyện, xã…) đã có ảnh hưởng tác động sâu sắc đến kinh tế tập thể, đa số HTX phi

nông nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ, tự giải thể. Đối với HTX nông nghiệp

có sự biến đổi tích cực, không có hiện tượng giải thể hàng loạt, nhiều HTX khó

khăn, tồn tại trên hình thức đã dần dần từng bước tháo gỡ khó khăn và hoạt động ổn

định, khẳng định vị trí trong cơ chế thị trường, đặc điểm này thể hiện sự kiên trì và

kịp thời đổi mới trong các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, thể hiện nguyện

vọng của đa số nông dân trên địa bàn tỉnh cần có nhu cầu hợp tác trong sản xuất

nông nghiệp.

2.2.1.1. Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã tỉnh Hòa Bình

* Thời kỳ trước năm 1975:

Đây là giai đoạn của thời kỳ cải tạo quan hệ sản xuất gắn với xây dựng HTX,

tổ hợp tác. Giai đoạn này có hai đặc điểm quan trọng là xóa bỏ tư hữu tư liệu sản

xuất và HTX được tổ chức theo kiểu quan hệ công xã, người nông dân làm công ăn

lương ngay trên mảnh đất của mình. Giai đoạn này có mặt tích cực nhờ ruộng đất

được tập trung dẫn đến năng xuất ngày càng tăng. Nguồn nhân lực được quan tâm

22

đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn.

Ngay từ đầu năm 1958 Tỉnh ủy thực hiện từng bước vững chắc cải tạo xã hội

chủ nghĩa trong tỉnh. Trên cơ sở các tổ đổi công, tháng 5/1958 HTX nông nghiệp

đầu tiên được thành lập tại xóm Nội – Hạ Bì huyện Kim Bôi thu hút 23 hộ nông

dân. Đến cuối năm 1960 về cơ bản sự nghiệp hợp tác hóa hoàn thành với 1.078

HTX được thành lập, thu hút 31.737 hộ nông dân xã viên (chiếm 86,37% tổng số hộ

nông dân trong toàn tỉnh). Công tác thủy lợi được quan tâm, kỹ thuật sản xuất được

cải tiến, sản lượng tăng nhanh năm 1960 toàn tỉnh đạt 138.450 tấn thóc, sản xuất thủ

công, tiểu thương cũng được cải tạo đến năm 1960 có 76,9% số hộ tiểu thương

tham gia tổ HTX.

Nông nghiệp được coi là cơ sở nền kinh tế của tỉnh do vậy được quan tâm

chỉ đạo và đầu tư. Cuối năm 1963 có đến 96% hộ nông dân lao động vào HTX nông

nghiệp, các tư liệu sản xuất chủ yếu như trâu, bò, công cụ chính hầu hết thuộc

quyền sở hữu tập thể. Cùng với phong trào phát triển HTX nhiều nơi, tỉnh Hòa Bình

cũng đã bước đầu thành lập các HTX với số lượng đông xã viên tham gia thay đổi

quy mô sản xuất từ cá thể sản xuất nhỏ bé nay sản xuất tập thể theo quy mô lớn.

Bước đầu mô hình HTX phát triển theo hướng tập thể hóa lực lượng sản xuất, quản

lý tập trung đã được xây dựng rộng khắp trên địa bàn tỉnh.

* Thời kỳ 1975 – 1990:

Sau năm 1975 phong trào HTX đã lan rộng khắp cả nước, tổ đổi công tăng

lên chóng mặt. Tỉnh Hòa Bình hợp nhất với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình. Việc hợp nhất hai tỉnh có ý nghĩa rất lớn. Với diện tích 6.860km2, dân số gần 2 triệu

người, tỉnh Hà Sơn Bình sẽ có điều kiện tốt hơn trong việc quy hoạch, phân vùng

kinh tế, cơ hội cho tăng trưởng kinh tế HTX. Năm 1976 thành phần kinh tế tập thể

tăng từ 65,6% lến 74,6%. Thành phần kinh tế cá thể giảm rõ rệt từ 13% năm 1975

xuống còn 5,5% năm 1976.

Vào những năm 80, theo trào lưu của cả nước. Hòa Bình cũng ồ ạt hợp nhất

các HTX với quy mô liên thôn hoặc toàn xã với ý tưởng sản xuất lớn đi lên XHCN,

ví dụ điển hình như: HTX Ba Vó ở Lạc Sơn; Thanh Hối ở Tân Lạc, Dũng Phong ở

23

Cao Phong, Hạ Bì ở Kim Bôi, Nhuận Trạch ở Lương Sơn... tuy nhiên việc thực hiện

các nhiệm vụ kinh tế, xã hội chưa tìm được hướng đi thích hợp; thiên tai liên tiếp

xảy ra, năng lượng và vật tư cấp cho sản xuất ngày càng khó khăn hơn, vốn sản xuất

thiếu, tiền mặt căng thẳng, thị trường biến động (nhất là 2 năm 1983 và 1984), các

chế độ, chính sách còn đang trong giai đoạn đổi mới chưa đồng bộ, sản xuất bước

đầu hạn chế.

Trong giai đoạn này bắt đầu xuất hiện dấu hiệu trì trệ, tiêu cực trong quản lý,

hiện tượng “xé rào” diễn ra phổ biến. Sau giải phóng, chúng ta rất cần có một lượng

lương thực lớn để cứu đói nên tập hợp ruộng đất vào HTX. Nhưng HTX lúc đó theo

kiểu cũ, nông dân đưa đất vào coi như mất đất nên sản xuất kém hiệu quả. Một số

đông xã viên không trụ được đã rời bỏ HTX. Một số ít xã viên còn lại, bám trụ và

cùng nhau hoạt động để thoát nghèo, tạo dựng tài sản cho HTX bằng cách làm việc,

lao động, sản xuất kinh doanh để có lãi, tích lũy vào quỹ của HTX. Giai đoạn này

được tác động từ các chính sách (Nghị quyết 10, luật đất đau ban hành...). Cơ chế

quản lý HTX có sự thay đổi. HTX không quản lý tập trung đất đai, lao động, tư liệu

sản xuất mà giao cho hộ xã viên, hộ trở thành đơn vị kinh tế tự chủ. Chỉ thị số 100

của Ban Bí thư TW (tháng 10/1981) cho phép thực hiện chế độ khoán sản phẩm đến

nhóm người lao động đã tạo ra động lực mới làm cho người nông dân và xã viên

hăng hái tham gia sản xuất. Chỉ thị 100 của Ban Bí thư đã có tác dụng tạo nền móng

cho quá trình đổi mới mô hình HTX kiểu cũ, đồng thời chặn đứng tình trạng sa sút

của sản xuất nông nghiệp thời kỳ cuối những năm 70 của thế kỷ XX. Tiếp đó,

Chính phủ ban hành Nghị định 64/CP giao quyền sử dụng và cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất là một bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới.

Thời gian này HTX nông nghiệp hoạt động có sự thay đổi về bản chất so với

HTX cũ (1985 về trước), HTX chuyển sang làm dịch vụ cho hộ xã viên, tự hạch

toán kinh tế để có tích lũy và trả thù lao cho bộ máy hoạt động, xóa bỏ bao cấp

trong HTX, quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối đã được phân định

rõ ràng giữa HTX và xã viên. Hai chủ thể kinh tế có sự bình đẳng, độc lập trong

24

mối quan hệ kinh tế.

Tuy có sự đổi mới về quản lý kinh tế, song các HTX nông nghiệp trên địa

bàn tỉnh hoạt động trong giai đoạn thời này giữa cơ chế bao cấp và cơ chế thị

trường cũng gặp nhiều khó khăn lúng túng. Động lực của chỉ thị 100 đã nhanh

chóng bị triệt tiêu và bộc lộ những hạn chế của nó: Hoạt động quản lý yếu kém,

phân phối bình quân bao cấp cho nhiều đối tượng, hiện tượng rong công, phóng

điểm, chi phí bất hợp lý... Hoạt động quản lý của HTX ngày càng yếu kém, bất hợp

lý, tệ nạn tham ô, mất dân chủ và những nhược điểm trong phân phối không được

khắc phục. Do vậy lợi ích của người lao động bị vi phạm nghiệm trọng. Kết quả là

lòng tin, sự gắn bó của xã viên với HTX giảm sút. Nhiều HTX chưa thích ứng với

cơ chế mới hoạt đông cầm chừng, làm ăn thua lỗ. Một số HTX còn vốn chuyển sang

làm dịch vụ song hiệu qủa thấp, số HTX làm ăn năng động chiếm khoảng 25% còn

phần đông các HTX hoạt động trì trệ tồn tại hình thức. Đóng góp của HTX nông

nghiệp giai đoạn này là bắt đầu chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế HTX thích ứng

dần với cơ chế thị trường, bước đầu cho một số kinh nghiệm hoạt động dịch vụ đáp

ứng kinh tế hộ xã viên phát triển.

* Giai đoạn 1991 – 2003:

Ngày 01/10/1991 tỉnh Hòa Bình được tái lập. Đây là sự kiện đánh dấu một

thời kỳ mới trong tiến trình đi lên của nhân dân các dân tộc của tỉnh thực hiện công

cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tỉnh ủy Hòa Bình đã quán triệt

và triển khai đường lối, chính sách đổi mới của Đảng với những mục tiêu trọng tâm

là ổn định và đẩy nhanh phát triển KT-XH; giả phóng năng lực sản xuất, khai thác

có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương; từng bước chuyển dịch cơ cấu

kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bằng việc phát triển mạnh mẽ

kinh tế HTX.

Tính đến cuối tháng 12 năm 1996 các tổ chức HTX kiểu cũ đã tan rã hoàn

toàn hoặc còn lại chỉ là hình thức, thực tế chúng không hoạt đông và không đem lại

lợi ích cho kinh tế hộ. Do đó các hoạt động tập thể hóa với quy mô toàn xã không

đạt được hiệu quả. Thực hiện Luật HTX 1996, toàn tỉnh đã triển khai tiếp tục đổi

25

mới HTX, đảm bảo mục tiêu cơ bản của kinh tế HTX nông nghiệp, đẩy mạnh và

phát triển, phát huy có hiệu quả, phục vụ, hỗ trợ kinh tế hộ gia đình, từng bước thực

hiện Luật HTX khuyến khích phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại tập trung là

khai thác sử dụng quỹ đất bãi bồi ven sông, thùng đào, thùng đấu...để sản xuất nông

nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp

nông thôn, đã triển khai dồn điền, đổi thửa hạn chế tình trạng manh mún ruộng đất

trong nông nghệp hoàn thiện quy hoạch đồng ruộng, hình thành quy hoạch mới thúc

đẩy phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế trang trại...

Cơ chế bao cấp trong quản lý HTX cũng không còn đáp ứng được yêu cầu

ngày càng cao của xã hội, dẫn tới tình trạng “dong công, phóng điểm” trong điều

hành sản xuất cảu HTX không còn phát huy tác dụng. Trong bối đó. Luật HTX năm

2003 ra đời, các HTX bắt đầu chuyển đổ theo quy định. Đồng thời tỉnh đã thực hiện

nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địa

phương, trong đó chỉ thị 68 của Ban bí thư Trung ương Đảng luật HTX, Nghị quyết

Trung ương V (khóa IX) về phát triển kinh tế tập thể vv... Dưới sự lãnh đạo của

Chính quyền địa phương nhiều HTX đã có kết quả ban đầu, từng bước đưa HTX

hoạt động ổn định tạo công ăn việc làm cho xã viên có thu nhập ổn định. Các HTX

chuyển hướng từ hoạt động nông nghiệp thuần túy sang các hoạt động kinh doanh

tổng hợp. Qua sàng lọc của kinh tế thị trường, nhiều HTX nông nghiệp mới ra đời,

tổ chức đa dạng theo các mô hình khác nhau như: nông - công - thương - tín, dịch

vụ kỹ thuật, liên kết với các doanh nghiệp... Các HTX trong các nghề mới sẽ tăng

về số lượng như HTX dịch vụ môi trường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, quản lý

kinh doanh chợ, dịch vụ trường học, nhà ở...

Trong giai đoạn này kinh tế hợp tác và HTX có những biến đổi rõ rệt từ hình

thức hợp tác, nội dung đến phương thức hoạt động.Tuy nhiên, cùng với những biến

đổi đó là sự giảm sút về số lượng và sự thay đổi căn bản trong các quan hệ sản xuất

sử hữu, phân phối và quản lý. Các HTX ra đời bước đầu phát triển song không đạt

hiệu quả cao do không tiếp cận được các nguồn vốn, nhận thức còn sai lầm về bản

chất HTX và công tác quản lý chưa có hệ thống nên kinh tế là bước ngoặt về phát

26

triển kinh tế HTX của địa phương, nhưng đóng góp cho NSNN không đáng kể,

những dấu hiệu trì trệ đã bắt đầu lan sang các HTX khác chứng tỏ HTX kiểu cũ

chưa phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX.

* Giai đoạn 2004 đến nay:

Khu vực KTTT đã có những chuyển biến đáng kể. Phần lớn các HTX đã

thực hiện chuyển đổi theo những quy định, thích ứng với cơ chế mới, từng bước

khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Các cơ sở kinh tế HTX với các hình

thức tổ chức hoạt động đa dạng được phát triển và hoạt động có hiệu quả trong các

ngành, lĩnh vực kinh tế, đồng thời đóng góp thiết thực vào giải quyết các vấn đề xã

hội. Các HTX được củng cố một bước về tổ chức quản lý, vốn quỹ về trách nhiệm

và quan hệ giữa các xã viên với HTX. Hoạt động của các HTX được đổi mới thiết

thực, gắn liền với lợi ích của xã viên và nhìn chung đã tuân thủ các nguyên tắc, quy

định của Luật HTX. HTX nông nghiệp đã làm được các dịch vụ cơ bản phục vụ sản

xuất, số lượng HTX nông nghiệp hoạt động dịch vụ có xu hướng tăng và hoạt động

hiệu quả hơn. Theo báo cáo của Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình và Chi cục Phát

triển nông thôn, nhiều HTX trong tỉnh đã trở thành cầu nối kinh tế giữa các hộ nông

dân với các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp Nhà nước và cả doanh nghiệp

ngoài quốc doanh, góp phần tăng cường năng lực sản xuất hàng hóa ở khu vực nông

nghiệp nông thôn và kinh tế hộ gia đình. Trong thời gian qua, hầu hết các đơn vị

chủ yếu tổ chức thực hiện quy hoạch, phân vùng và bố trí hướng dẫn chuyển giao

tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều HTX thực hiện khá tốt vai trò khuyến

nông, dịch vụ thủy lợi, bảo vệ thực vật, trông coi đồng ruộng và an ninh ở nông

thôn...

Đối với các HTX chuyển đổi: Đa số các HTX cũ được đăng ký lại hoạt động

theo luật HTX. Trên cơ sở xác định lại tài sản, tài chính, công nợ, xác định vốn góp

xã viên (chủ yếu từ nguồn vốn HTX cũ), đăng ký lại xã viên. Xây dựng điều lệ

HTX, phương án sản xuất - kinh doanh - dịch vụ, hạch toán lỗ từng khâu dịch vụ...

Quá trình hoạt động của các HTX đã khắc phục dần các mặt yếu kém. Công tác

27

quản lý HTX có nhiều cố gắng, các khâu dịch vụ đáp ứng chất lượng phục vụ cho

các hộ xã viên, quản lý tài chính có sự đổi mới, tiết kiệm chi phí đảm bảo lấy thu bù

chi, số HTX làm ăn thua lỗ ở mức thấp.

Đối với HTX thành lập kiểu mới: HTX thành lập mới đều có đặc trưng

chung: Tự nguyện, cùng góp vốn, tự chủ, cùng có lợi, tài chính công khai, mọi xã

viên đều có trách nhiệm cao. HTX thành lập theo nhóm hộ, sản xuất chuyên sâu, đòi

hỏi kỹ thuật, vốn đầu tư, liên kết với nhau, tận dụng đất đai, ao hồ, sản phẩm phụ

trong sản xuất để sản xuất kinh doanh các sản phẩm có giá trị, dễ tiêu thụ trên thị

trường.

Hiện nay, cả tỉnh mới chỉ có trên 10% HTX được cấp đất, trong đó có

khoảng 4% được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi đó, vốn góp

của xã viên được phân bổ từ vốn, quỹ của HTX cũ chuyển sang mang tính hình

thức. Bên cạnh đó, tài sản trong HTX chưa rõ ràng về sở hữu, đây là sở hữu tập thể,

đâu là sở hữu cá nhân, đâu là sở hữu chung nên không khuyến khích được xã viên

góp thêm vốn. Đồng thời các ngân hàng rất khó thực hiện được cơ chế đảm bảo tiền

vay để tiến hành cho vay. Đến nay các địa phương hầu hết đã sử lý số nợ tồn đọng

của các HTX từ năm 1996 về trước theo hình thức xóa bỏ nợ cũ. Vấn đề khó khăn

nhất trong việc sử lý nợ chính là sự phát sinh nợ mới ở khá nhiều HTX, nhất là nợ

thủy lợi phí và thủy nông nội đồng. Bởi vậy theo luật các tổ chức tín dụng và các

quy định pháp lý hiện hành, các ngân hàng khó mà có thể cho vay vốn tiếp được.

Tình hình hoạt động của các HTX thời gian qua đã tự chủ, năng động phát

huy nội lực vươn lên làm ăn hiệu quả, khẳng định được vai trò vị trí kinh tế tập thể

trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của

các HTX còn chậm, chưa đáp ứng được các nguyên tắc theo quy định của luật

HTX, quy mô còn nhỏ lẻ, nguồn nội lực yếu, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu,

28

năng lực đội ngũ cán bộ quản lý yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp

2.2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp

tỉnh Hòa Bình

* Về số lượng HTX

Bảng 2.1. Số lượng HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình

ĐVT: HTX

TT Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

1 140 133 135

Năm 2008 toàn tỉnh Hòa Bình có 140 HTX nông nghiệp tuy nhiên đến cuối

năm 2008 do 4 xã của huyện Lương Sơn chuyển về thành phố Hà Nội nên số lượng

HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình tại thời điểm đầu năm 2009 chỉ còn lại 133

HTX nông nghiệp. Và đến cuối năm 2009 có thêm 2 HTX nông nghiệp mới thành

lập tại huyện Đà Bắc và Cao Phong vì vậy đến năm 2010 toàn tỉnh có 135 HTX

nông nghiệp. Trong 135 HTX nông nghiệp có 17 HTX quy mô toàn xã; 96 HTX xóm,

bản và 22 HTX liên thôn. Nhìn chung, các HTX có quy mô toàn xã, liên thôn hoạt động,

thuận lợi, hiệu quả hơn các HTX quy mô xóm bản do các HTX này có thị trường phục vụ

lớn, quy mô tổ chức dịch vụ, sản xuất đa dạng hơn.

* Tài sản vốn quỹ, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp

tác xã nông nghiệp

* Cơ sở hạ tầng

Về đất đai:

Bảng 2.2. Diện tích đất các HTX nông nghiệp đang quản lý và sử dụng

ĐVT: ha

Trong đó

TT Tổng diện tích Đất lâm Đất nông nghiệp Ao hồ nghiệp

1 9.388 8.318 814 256

Hiện diện tích đất các HTX nông nghiệp đang quản lý sử dụng là: 9.388ha,

29

trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 8.318ha; đất lâm nghiệp là: 814ha; ao

hồ 256 ha. Hầu hết số diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất.

Về tài sản:

Bảng 2.3. Tình hình tài sản của các hợp tác xã nông nghiệp điều tra

Trụ sở Nhà xưởng Cửa hàng Nhà kho TT Huyện, TP, TX Số HTX

SL DTm2 SL DTm2 SL DTm2 SL DTm2

Lạc Thủy 21 12 2.651 1 36 6 925 4 170 1

Yên Thủy 3 2 0 0 0 0 1 40 2 145

Lạc Sơn 2 1 9 2.500 1 100 1 150 3 600

TP Hòa Bình 9 2 1 130 2 38 2 190 4 213

Kỳ Sơn 2 0 0 0 0 0 0 0 5 0

Kim Bôi 1 5 0 0 1 90 1 100 6 700

Mai Châu 3 2 3 1000 1 30 2 120 7 150

6 Lương Sơn 13 3 320 2 135 2 160 8 525

Đà Bắc 7 0 0 0 0 0 0 0 9 0

Tân Lạc 5 1 1 80 1 150 0 0 10 200

Cao Phong 4 2 1 200 1 70 2 250 11 500

Hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có trụ sở riêng chỉ đạt 47% còn lại phải mượn

Tổng cộng 70 33 5.684 19 4.266 15 1.538 15 1.180

tạm phòng làm việc trong trụ sở UBND xã, một số thuê địa điểm hoặc nhờ địa điểm tại

nhà của một cán bộ HTX để làm việc. Các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và có

khả năng sinh lợi như các cửa hàng vật tư, cơ sở dịch vụ, ao hồ nuôi trồng thuỷ sản… cơ

bản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vậy làm cho HTX phụ thuộc

30

nhiều vào sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, thiếu tính độc lập, tự chủ trong hoạt

động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.

* Vốn quỹ của các hợp tác xã nông nghiệp

Bảng 2.4. Tình hình vốn quỹ của các hợp tác xã nông nghiệp

điều tra tính đến năm 2010

Đvt: triệu đồng

Số Tổng số Vốn bq 1 Tổng Vốn góp TT Huyện, TP, TX HTX vốn của HTX số vốn xã viên bq

Lạc Thủy 21 2.781,55 132,454 1.720,93 81,9 1

692,7 230,9 554,7 184,9 Yên Thủy 3 2

210,3 276 420,6 Lạc Sơn 2 552 3

122,7 884,15 98,2 TP Hòa Bình 9 1.105 4

119,35 143,5 71,75 Kỳ Sơn 2 238,7 5

125,8 43,5 43,5 Kim Bôi 1 125,8 6

3 Mai Châu 500,623 166,87 134,56 44,85 7

1.953 Lương Sơn 13 150,2 1.275,7 98,1 8

Đà Bắc 7 270,9 38,7 80,7 8,96 9

Tân Lạc 5 495,7 99,14 380,6 76,12 10

Cao Phong 4 2.180 545 486,7 81,12 11

10.895,97 2.007,11 6.125,64 999,7 Tổng cộng 70

Tổng số vốn của 70 HTX nông nghiệp là trên 10 tỷ đồng và chủ yếu là cơ

sở vật chất như: nhà cửa, máy móc thiết bị, công trình thuỷ lợi...

Tổng số vốn góp của xã viên là 6,1 tỷ đồng chiếm 56,2% trên tổng số vốn,

như vậy tính bình quân với số vốn lưu động để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh

doanh của các HTX nông nghiệp là tương đối đảm bảo trong việc chủ đồng điều

hành sản xuất kinh doanh.

Duy trì và phát triển của các HTX tất yếu phải cần một lượng vốn đủ

31

lớn để đáp ứng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả

trong nền kinh tế thị trường. Nhìn chung mức góp vốn của xã viên chưa cao

dù đã được bổ sung qua các năm, nguyên nhân là HTX chưa thực sự tạo được

niềm tin với xã viên v à người lao động, kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh của HTX chưa thuyết phục do vậy việc huy động vốn góp của xã viên

chưa cao.

* Kết quả hoạt động kinh doanh:

Bảng 2.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các Hợp tác xã

nông nghiệp giai đoạn 2008-2010

ĐVT: Triệu đồng

TT Huyện, TP Tổng Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

số

Doanh Lợi Doanh Lợi Doanh Lợi HTX

thu nhuận thu nhuận thu nhuận

1 Lạc Thủy 21 2.315,2 578,8 2.454,0 687,1 2.525 808,0

2 Yên Thủy 273,6 3 294,5 82,4 315 100,8 68,4

3 Lạc Sơn 184,2 2 190 53,2 207 66,2 46,1

4 TP Hòa Bình 820,8 205,2 249,2 1.002 320,6 9 890

5 Kỳ Sơn 125 2 137,5 38,5 151 48,3 31,3

6 Kim Bôi 81,2 1 92,8 26,0 102,8 32,9 20,3

7 Mai Châu 284,6 3 304,6 85,3 326 104,3 71,2

8 Lương Sơn 13 1.105,6 276,4 1.190,6 333,4 1.223 391,4

9 Đà Bắc 170 7 191,5 53,6 215 68,8 42,5

10 Tân Lạc 315 5 355,5 99,5 394 126,1 78,8

4 578,7 162,0 669 213,9 11 Cao Phong 532,6 133,2

Tổng cộng 70 6.208 1.552 6.680 1.870 7.129 2.281

Tổng doanh thu năm 2010 là 7.129 triệu đồng tăng 921 triệu đồng so với

năm 2008. Lợi nhuận bình quân của các HTX đạt 2.281 triệu đồng tăng 729 triệu

32

đồng so với năm 2008. Trong đó điển hình nhất là HTX dịch vụ nông nghiệp Đồng

Tâm I, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy và HTX dịch vụ nông nghiệp Dân Chủ, xã Dân

Chủ, thành phố Hòa Bình, tổng doanh thu hàng năm của 2 HTX này đạt trên 1 tỷ

đồng, lãi từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng. Hoạt động hiệu quả chỉ tập chung ở

17 HTX có lãi chỉ chiếm có 24,28%. Còn lại 53 HTX hoạt động bảo toàn được nguồn

vốn và có tình trạng thua lỗ (75,72%). Kết quả thu được như trên là thấp, còn nhiều

HTX chỉ làm được dịch vụ đầu vào, còn bỏ trống nhiều khâu như: tiêu thụ, chế biến,

cung cấp tín dụng cho xã viên..., chưa mạnh dạn liên doanh liên kết để mở rộng thêm

ngành nghề mới. Những HTX yếu kém chưa có chuyển biến rõ rệt về nội dung và

hiệu quả hoạt động. Do vậy khó khuyến khích thu hút nguồn nhân lực có trình độ

tham gia vào HTX đồng thời không tạo được động lực để xã viên góp vốn, góp sức để

cùng nhau phát triển HTX nông nghiệp nói riêng và sự phát triển của kinh tế tập thể

trên địa bàn nói chung.

Bên cạnh đó nhìn vào bảng số liệu ta thấy lợi nhuận của các HTX nông

nghiệp chiếm 1 phần rất nhỏ của doanh thu, như vậy chi phí để sản xuất chiếm một

tỷ lệ rất lớn (năm 2010 là trên 60%). Điều này cho thấy hiệu quả kinh tế của HTX

nông nghiệp là chưa cao, sức hấp dẫn của HTX nông nghiệp kiểu mới chưa nhiều,

yếu tố tác động tích cực của HTX đối với kinh tế hộ chưa cao. Không ít nơi vẫn tồn

tại HTX nông nghiệp thuần tuý, chưa phát triển HTX theo hướng không giới hạn

bởi quy mô, lĩnh vực và địa bàn, thậm chí có nơi còn chia nhỏ theo cảm tính, các

HTX nông nghiệp phát triển chậm "cầm chừng” nhất là HTX ngành nghề, chế biến,

dịch vụ, thương mại. Nhiều HTX sau chuyển đổi có chuyển biến, nhưng về chất

lượng không chuyển được bao nhiêu, còn tình trạng hình thức "bình mới rượu cũ”,

HTX “xã viên cả làng”, vốn góp ít, lợi nhuận thấp, thu nhập chính không phải từ

sản xuất kinh doanh của HTX.

* Mức thu nhập bình quân/lao động/năm

Thu nhập của xã viên trong các HTX còn thấp. Các HTX vẫn còn đang trong

quá trình chuyển đổi từ mô hình kiểu cũ sang mô hình kiểu mới, tập quán sản xuất

kinh doanh vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của cơ chế cũ nên chưa năng động, tích

33

cực trong tìm kiếm nguồn thu nhập mới. Điều đó đã hạn chế rất nhiều trong việc

nâng cao thu nhập cho HTX nói chung, cán bộ xã viên nói riêng. Đến nay thu nhập

bình quân của một cán bộ quản lý HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình khoảng

500-650 nghìn đồng/người/tháng, đây là mức thu nhập rất thấp nếu chúng ta đem so

sánh với các lao động quản lý của doanh nghiệp tại các thành phần kinh tế khác.

Thu nhập của lao động xã viên và HTX còn thấp nên tính ưu việt của mô hình HTX

kiểu mới còn chưa được thể hiện rõ. Kết quả là HTX gặp nhiều khó khăn trong con

đường phát triển của mình.

* Về công tác tổ chức quản lý và trình độ cán bộ trong các HTX nông nghiệp:

Tuy có những chuyển biến tích cực nhưng cũng phải thừa nhận rằng các

HTX vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém, còn nhiều khó khăn và bất cập lớn

về chất lượng nguồn lực.

Phần lớn đội ngũ cán bộ trong các HTX nông nghiệp thiếu kiến thức

chuyên môn cần thiết để có thể quản lý điều hành HTX hoạt động một cách có hiệu

quả. Đa số cán bộ đảm nhiệm chức vụ quản lý điều hành của các HTX nông nghiệp

đều trên cơ sở uy tín và kinh nghiệm tích luỹ từ những hoạt động thực tế chứ chưa

từng qua đào tạo, bồi dưỡng trước đó.

Bảng 2.6. Tổng hợp trình độ của cán bộ làm công tác

quản lý hợp tác xã nông nghiệp đến năm 2010

ĐVT: người

Thành phần Đại học, Trung cấp

Ban quản trị cao đẳng 13 26

Năng lực tổ chức, quản lý kinh tế và hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý

HTX nông nghiệp còn chưa đáp ứng được với yêu cầu phát triển của HTX trong cơ

chế thị trường. Bên cạnh đó các HTX lại chưa chú trọng xây dựng kế hoạch bồi

dưỡng các đội ngũ kế cận và chưa cụ thể hoá các tiêu chuẩn, chức danh cho đội

ngũ cán bộ Ban quản trị, Ban kiểm soát, kế toán HTX và nguồn tài chính để đáp

ứng nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực.

Trong thời gian qua, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước, các cấp chính

34

quyền địa phương rất quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và đặc

biệt là cán bộ chủ chốt cho các HTX nông nghiệp, thông qua Chi cục HTX và

Phát triển nông thôn đã tổ chức mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản

lý, điều hành và nghiệp vụ cho Ban quản trị, Ban kiểm soát, kế toán HTX. Tuy

nhiên số lượng cán bộ HTX tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng rất ít và hiệu quả

thực tế không cao do các chính sách đào tạo chưa phù hợp (thời gian tập huấn, bồi

dưỡng ngắn ngày; về giáo trình; trình độ nhận thức của cán bộ HTX còn hạn chế;

chế độ đãi ngộ cho cán bộ đi học...) chưa thực sự hấp dẫn, khuyến khích được cán

bộ HTX yên tâm học tập, đào tạo. Bên cạnh đó hầu hết đội ngũ giúp việc cho các

HTX nông nghiệp chưa được đào tạo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ do vậy

mà công tác tham mưu, giúp việc cho HTX gặp rất nhiều khó khăn.

Bảng 2.7. Năng lực điều hành của cán bộ quản lý và trình độ

xã viên của các hợp tác xã nông nghiệp điều tra

Khả năng điều hành của Ban quản trị HTX Trình độ cán bộ xã viên tham gia hoạt động trực tiếp HTX Huyện, TP, TX Số HTX TT Yếu CĐ Số người ban quản trị Tốt Trung bình Đại học Trung cấp

Lạc Thủy 14 2 1 0 17 Chưa qua đào tạo 183 1 5 21 84

Yên Thủy 2 1 0 0 0 0 2 0 3 12

Lạc Sơn 0 1 16 0 4 10 3 0 2 8

TP Hòa Bình 5 2 2 2 10 162 4 2

Kỳ Sơn Kim Bôi Mai Châu 2 4 1 0 0 2 0 2 2 2 0 4 4 7 8 3 26 105 5 6 7 0 0 0 9 2 1 3 36 8 4 12

Lương Sơn 5 7 0 0 0 105 8 1 52 13

Đà Bắc 0 0 0 0 9 7 12 0

Tân Lạc 5 2 2 3 0 2 4 3 10 5 20 0

Cao Phong 1 3 0 11

Tổng cộng 597 4 70 16 280 41 23 2 25 5 15 12 62 0 8

Qua số liệu trên, tình hình nguồn nhân lực và đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt

của các HTX trên địa bàn tỉnh có chất lượng thấp. Số lượng Ban quản trị HTX có

35

trình độ đại học, cao đẳng là 13 người/280 người chiếm tỷ lệ thấp 4,6%; trung cấp 26

người/265 người chiếm 9,2%; chưa qua đào tạo chiếm đến 86,2%. Đây là những con

số phản ánh đội ngũ nguồn nhân lực của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn

yếu, chậm đổi mới, nó phản ánh thực chất sự trì trệ yếu kém của hệ thống HTX nông

nghiệp trong thời gian qua.

Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản

lý và cán bộ nghiệp vụ của các HTX nông nghiệp là rất cần thiết và cấp bách, tăng

cường công tác đào tạo bồi dưỡng những kiến thức mới về quản lý kinh tế, tài

chính và vận dụng một cách khoa học sáng tạo trong sản xuất kinh doanh nhằm

mang lại hiệu quả kinh tế cao.

*Về hình thức tổ chức sản xuất :

Sự phát triển của hệ thống HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

trong những năm qua tuy đã có những bước phát triển nhưng vẫn còn bộc lộ một số

tồn tại chủ yếu sau:

Sự thành lập và hoạt động của các HTX nông nghiệp chưa thực hiện đầy

đủ các giá trị và nguyên tắc HTX đã được tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Liên

minh HTX quốc tế (ICA) khuyến cáo trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát triển

HTX trên thế giới trong gần 200 năm qua.Tuy hệ thống HTX nông nghiệp đã có

những chuyển biến quan trọng phục vụ kinh tế và đời sống xã viên, tuy nhiên các

dịch vụ mà HTX nông nghiệp cung ứng cho xã viên còn chiếm tỷ trọng rất thấp

trong kết quả kinh doanh của HTX so với nhu cầu thực tế mà bà con xã viên kỳ

vọng. Chưa thể hiện đầy đủ bản chất của HTX nhằm trước hết vào đáp ứng nhu

cầu chung của mọi xã viên HTX, hỗ trợ cho sự phát triển của kinh tế xã viên HTX

và góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng và của đất nước

nói chung.

Không ít các HTX nông nghiệp chưa thực sự mở cho cho đông đảo thành

viên tham gia, thậm chí còn hạn chế kết nạp thành viên mới. Luật HTX năm 2003

đã khẳng định mọi hoạt động của HTX được tuân theo Luật Doanh nghiệp, tuy

nhiên hầu hết các HTX nông nghiệp trong tỉnh vẫn hoạt động theo cơ chế cũ, cơ

36

chế được Nhà nước bao cấp, chính vì vậy việc tuân thủ Luật trong hoạt động sản

xuất kinh doanh chưa được thực hiện tốt. Mặt khác xuất phát từ chính kết quả sản

xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp, số HTX nông nghiệp làm ăn hiệu quả thì

không nhiều, hầu hết trong tình trạng hoà vốn hoặc thua lỗ, do vậy tâm lý “tỵ nạnh”

cũng khiến cho các hoạt động theo Luật không thực hiện được. Quan hệ phân phối

lợi ích trong HTX chưa được thực hiện đúng theo nguyên tắc HTX.

Đa số các HTX nông nghiệp hiện nay được chuyển đổi từ HTX kiểu cũ, tuy

nhiên việc chuyển đổi được thực hiện trên giấy tờ cho phù hợp với quy định của Luật

HTX. Trên thực tế, không có sự huy động vốn góp từ xã viên trên cơ sở tự nguyện

bình đẳng mà chia tài sản cũ của HTX thành cổ phần cho xã viên.

Mô hình HTX nông nghiệp chưa rõ bản sắc riêng cũng chưa thoát khỏi hẳn

mô hình HTX kiểu cũ như: Các hộ không phải là xã viên nhưng vẫn được hưởng

dịch vụ của HTX với giá, chi phí như xã viên, nhiều hoạt động kinh doanh không

xuất phát từ nhu cầu chung của xã viên mà xuất phát từ lợi ích của một nhóm cán

bộ quản lý HTX nông nghiệp. Nhiều HTX nông nghiệp chuyển đổi còn mang

tính hình thức, không chỉ tồn tại về mặt danh nghĩa: cho thuê mặt bằng, ngành

nghề hoạt động chính đã đăng ký khác với ngành nghề hoạt động.

Qua thu thập số liệu của 70 HTX nông nghiệp, trong đó có tới 62 HTX vẫn

tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ tổng hợp, một lĩnh vực hoạt động kinh

doanh mang lại lợi nhuận thấp và đa số các HTX xã này làm khâu trung gian cung

cấp dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp để hưởng trích phần trăm hoa hồng, có thể nói

đây là một hạn chế, các HTX chưa mạnh dạn thay đổi phương thức hoạt động sản

xuất kinh doanh. Bên cạnh đó các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp khác chiếm tỷ lệ

thấp và rất thấp như: nông nghiệp trồng lúa và chế biến nông sản 1 HTX chiếm 1,4%;

nông nghiệp và chăn nuôi gia súc gia cầm 3 HTX chiếm 4,3%; nông nghiệp trồng

rau và cây ăn quả 4 HTX chiếm 5,7%; Tuy nhiên các lĩnh vực này cũng còn tuỳ

thuộc vào điều kiện tự nhiên và khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của các

HTX. Đây là một trong những vấn đề mà các HTX nông nghiệp cần phải xem xét, tuy

là những lĩnh vực không mới nhưng nó tạo ra mức lợi nhuận tốt hơn, là cầu nối để

37

gắn kết quá trình sản xuất với quá trình tiêu thụ và các yếu tố khác trong nền kinh tế

thị trường và chính thông qua các lĩnh vực này mà nông sản phẩm mới gia tăng giá

trị, tạo ra những sản phẩm mới phong phú và đa dạng để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Bảng 2.8. Phân loại các hợp tác xã nông nghiệp điều tra theo

loại hình sản xuất kinh doanh

Loại hình sản xuất kinh doanh

T T Huyện, TP, TX Số HTX

Loại hình khác NN và DV TH NN và DV môi trường

1 NN trồng lúa và CB nông NN trồng rau và cây ăn NN và chăn nuôi gia súc gia cầm 1 NN và nuôi trồng thủy hải sản NN và s/xuất hàng thủ công mỹ Lạc Thủy 21 20

2 Yên Thủy 3 3

3 Lạc Sơn 2 2

4 TP Hòa Bình 9 8 1

5 Kỳ Sơn 2 2

6 Kim Bôi 1 1

7 Mai Châu 3 3

8 Lương Sơn 13 11 1 1

9 Đà Bắc 7 6 1

10 Tân Lạc 5 4 1

11 Cao Phong 4 2 2

Tổng cộng 70 62 1 4 3

2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các HTX nông nghiệp tỉnh Hòa

Bình.

2.2.2.1. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên.

Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam với một thành phố

tỉnh lỵ và 10 huyện, nhưng lại giáp danh với cả trung du, đồng bằng Bắc bộ cách

38

thủ đô Hà Nội 73 km. Mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy của Hòa Bình

tương đối phát triển so với các địa phương lân cận, đặc biệt là giao thông liên tỉnh. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.595 km2, chiếm 1,4% tổng diện tích cả nước, thời

gian chiếu nắng trong năm khá lớn nên nền nhiệt độ cũng khá, tổng lượng mưa của

tỉnh khá dồi dào là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho phát triển HTX nông

nghiệp và phát triển chăn nuôi, trồng trọt, lâm nghiệp.

* Địa hình, thổ nhưỡng

Hoà Bình có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng

Tây Bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía Tây Bắc

có độ cao trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm

44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía Đông Nam, diện tích 262.202

ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ

dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung bình từ 100 – 200 m.

Như vậy có thể đánh giá, Hòa Bình với các dạng địa hình nêu trên có điều

kiện mặt bằng khá thuận lợi trong các quy hoạch khai thác sử dụng đất cho các mục

đích phát triển các hợp tác xã nông lâm nghiệp (với hướng chủ yếu là các cây hoa

màu lương thực, các cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp dài

ngày và các cây lâm nghiệp...).

* Khí hậu, thuỷ văn

Hoà Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè

nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 230C. Tháng 7 có nhiệt độ

cao nhất trong năm, trung bình 27 – 290C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình

15,5 – 16,50C.

Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh được phân bố tương đối

đồng đều với các sông lớn là sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Lạng, sông Bùi.

Mưa, bão tập trung từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với lượng mưa trung

39

bình hàng năm là 1800 - 2200 mm. Các hiện tượng gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy ra. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,70C; cao nhất 41,20C; thấp nhất 1,90C. Tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ trung bình từ 27-290C; tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình 15,5-16,50C. Tần suất sương muối xảy ra: 0,9

ngày/năm.

* Tài nguyên, khoáng sản

Tài nguyên đất:

Tỉnh Hòa Bình có 466.252,86 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó: Diện tích

đất nông nghiệp là 66.759 ha, chiếm 14,32%; diện tích đất lâm nghiệp là 194.308

ha, chiếm 41,67%; diện tích đất chuyên dùng là 27.364 ha, chiếm 5,87%; diện tích

đất ở là 5.807 ha, chiếm 1,25%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là

172.015 ha, chiếm 36,89%.

Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 45.046 ha,

chiếm 67,48%, trong đó diện tích trồng lúa là 25.356 hecta, chiếm 60,51% diện tích

đất trồng cây hàng năm; diện tích đất trồng cây lâu năm là 4.052 ha, chiếm 6,06%;

diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 900 ha.

Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 135.010 ha; diện tích đất bằng

chưa sử dụng là 3.126 ha; diện tích đất có mặt nước chưa sử dụng là 6.385 ha.

Tài nguyên rừng:

Tính đến năm 2010, diện tích đất có rừng của tỉnh Hòa Bình là 196.049 ha,

trong đó: Rừng tự nhiên là 146.844 ha; rừng trồng là 49.205 ha.

Trữ lượng gỗ khai thác khoảng 4,75 triệu m3 gỗ và 128,7 triệu cây nứa,

luồng; động vật rừng có một số loài thú như: Gấu, lợn rừng, khỉ, cày, cáo, rùa núi,

nai rừng nhưng số lượng không lớn.

Các khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh gồm có 3 khu bảo tồn thiên nhiên với

tổng diện tích là 18.435 ha, trong đó có rừng là 15.565 ha, đất trống có khả năng

nông, lâm nghiệp là 2.870 ha.

Tài nguyên, khoáng sản:

Tài nguyên khoáng sản có 12 loại. Khoáng sản là nguyên liệu vật liệu xây

dựng và nguyên liệu làm sứ: Ðất sét, đá vôi, đá granít, đá cócđoa...; khoáng sản kim

loại như: Quặng sắt mỏ nhỏ trữ lượng ít chưa xác định, sắt, quặng đa kim (đồng,

chì, kẽm, thuỷ ngân, antimoan), vàng sa khoáng, khoáng sản phi kim loại như pirít,

40

photphorít, cao lanh...; khoáng sản than đã được khai thác rải rác ở huyện Kim Bôi,

Lạc Thuỷ, Lạc Sơn, có nhiều vỉa lộ thiên để khai thác với trữ lượng 1 triệu tấn.

Tài nguyên du lịch:

Tỉnh Hòa Bình có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như: Ðộng Tiên, huyện Lạc

Thủy, động Tiên Phi thị xã Hòa Bình, các khu bảo tồn thiên nhiên, suối nước

khoáng Kim Bôi, hồ sông Ðà và nhà máy thủy điện Hoà Bình lớn nhất Đông Nam

Á; bản làng văn hóa truyền thống các dân tộc trong tỉnh như bản Giang Mỗ dân tộc

Mường huyện Kỳ Sơn, bản Lác, bản Văn dân tộc Thái huyện Mai Châu, Xóng

Dướng dân tộc Dao huyện Ðà Bắc...; khu du lịch Suối Ngọc-Vua bà huyện Lương

Sơn và nhiều di tích lịch sử, di tích văn hóa, kiến trúc, ngành nghề truyền thống, lễ

hội, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian của nhiều dân tộc trong tỉnh phong

phú, đa dạng, độc đáo là những sản phẩm của nền "Văn hóa Hòa Bình.

2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng, thị trường

Trên địa bàn tỉnh có các tuyến đường quốc lộ quan trọng chạy qua. Vị trí địa

lý và giao thông đã tạo cho Hòa Bình những điểm thuận lợi: thứ nhất, đó là cửa ngõ

của khu vực Tây Bắc, là điểm giao thương với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và cả

phía nam thông qua hệ thống đường bộ phát triển. Điều này sẽ giúp mở rộng thị trường

hàng hóa, kích thích phát triển sản xuất trong nền kinh tế tập thể. Thứ hai, vị trí tiếp

giáp với thủ đô Hà Nội tạo điều kiện cho Hòa Bình có thể thu hút và tiếp cận được các

nguồn vốn đầu tư, khoa học công nghệ và lao động có chất lượng cao qua đó góp phần

nâng cao năng lực hoạt động cho các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Các kết cấu hạ tầng khác phục vụ phát triển kinh tế và đời sống như đường

giao thông, trường học, trạm y tế, các công trình thủy lợi đầu mối (trạm bơm tiêu

úng, cống đầu mối, hệ thống cống qua đê…) chủ yếu do các doanh nghiệp có đủ

điều kiện năng lực thực hiện, HTX đã thực hiện chức năng là một tổ chức đại diện

của xã viên, cùng với các tổ chức khác và chính quyền làm tốt công tác huy động

nguồn lực địa phương, giám sát thi công, quản lý sử dụng khai thác tốt các công

trình kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Hoạt động

dịch vụ của HTX gắn liền với cơ sở hạ tầng chung đã đáp ứng các nhu cầu dịch vụ

41

công (như tưới tiêu, thời vụ, dự báo sâu bệnh…, hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển sản

xuất đạt hiệu quả cao). Kết cấu hạ tầng KT-XH được tăng cường, nhất là thủy lợi,

giao thông…góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt

kinh tế địa phương.

HTX là đơn vị kinh tế tự chủ, có tư cách pháp nhân, hoạt động không giới

hạn vi phạm hành chính. Thực tiễn các HTX quan hệ với kinh tế hộ thông qua hợp

đồng kinh tế, bằng nghị quyết, bàn bạc công khai dân chủ; phần lớn các HTX nông

nghiệp có quan hệ ít nhiều với các doanh nghiệp cung ứng vật tư giống, phân bón,

thuốc trừ sâu, một số ít HTX đã từng bước thực hiện việc liên doanh liên kết với

các doanh nghiệp sản xuất tiêu thụ sản phẩm hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình phát

triển sản xuất.

2.2.2.3. Khoa học công nghệ

Những năm qua, được sự quan tâm và tập trung đầu tư của tỉnh, khoa học và

công nghệ đã góp phần tạo sự chuyển biến sâu sắc về nông nghiệp, nông thôn và

nông dân.

Khoa học và công nghệ đã tích cực hỗ trợ HTX nông nghiệp, nông dân, xây

dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, đặc

biệt là các mô hình sản xuất các sản phẩm sạch gắn với việc tiết giảm chi phí, hạ giá

thành sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, việc sử dụng cây trồng có

khả năng chịu hạn, chống sâu bệnh, năng xuất cao..nhờ vậy giảm đáng kể lượng

thuốc trừ sâu. Bên cạnh đó là việc hướng dẫn, hỗ trợ sử dụng các mô hình kinh tế

tổng hợp nhằm khai thác một cách hiệu quả, hợp lý các tiềm năng và lợi thế so sánh

của địa phương.

Giúp HTX nông nghiệp, nông dân nâng cao năng lực cạnh tranh của sản

phẩm (nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, xây dựng quảng bá thương hiệu,

định hướng và xúc tiến thị trường...) phù hợp xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

Khoa học và công nghệ cũng tham gia một cách tích cực vào việc nghiên

cứu giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh trong quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, CNH, HĐH và đô thị hoá nông nghiệp và nông thôn cũng như đời

42

sống nông dân như (xoá đói giảm nghèo, phân tầng xã hội, công bằng và phúc lợi xã

hội, chuyển dịch lao động....)

2.2.2.4. Trình độ phát triển nhân lực

Hoạt động hiệu quả của HTX nông nghiệp Hòa Bình phụ thuộc vào nhiều

yếu tố, một trong những yếu tố quyết định là chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn

nhân lực bao gồm cả lao động quản lý và lao động hoạt động trực tiếp và gián tiếp

trong quá trình sản xuất – kinh doanh của các HTX nông nghiệp. Thiếu cán bộ có

năng lực quản lý và điều hành các hoạt động dịch vụ, trình độ học vấn, chuyên

môn nghiệp vụ của hầu hết cán bộ HTX đều ở mức thấp, trên 70% cán bộ HTX

chưa qua đào tạo một cách hệ thống, bài bản và chưa có nhiều kinh nghiệm khi

tiếp cận với thương trường theo cơ chế thị trường. Kết quả là việc xây dựng

chiến lược sản xuất kinh doanh dịch vụ còn nhiều lúng túng, nhất là trong các

HTX sản xuất thuần nông. Số lao động được đào tạo có tay nghề kỹ thuật còn

quá ít. Cán bộ, xã viên phần lớn thiếu thông tin về pháp luật, thị trường, khoa

học - công nghệ. Qua thực tế cho thấy những HTX nông nghiệp loại khá, hoạt

động có hiệu quả là những HTX có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn

nghiệp vụ cao, tâm huyết với HTX và ngược lại.

Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

HTX chưa được quan tâm. Mặt khác, vịêc lựa chọn bố trí cán bộ HTX còn mang

tính áp đặt từ chính quyền địa phương, cấp uỷ Đảng, nên chưa thực sự lựa chọn

những người có năng lực vào Ban quản trị HTX. Một yếu tố khác không kém phần

quan trọng là chế độ phụ cấp cho cán bộ HTX quá thấp, không đủ để tái sản xuất

sức lao động, (cụ thể ở Hòa Bình lương bình quân chủ nhiệm chỉ 500.000 – 650.000

đ/tháng những HTX yếu kém lương chủ nhiệm chỉ 300.000 -400.000đ/tháng), vì

vậy nhiều cán bộ HTXNN tìm cách xin chuyển sang công việc chính quyền hay mở

DN tư nhân. Nếu có làm thì mang hình thức chiếu lệ "được chăng hay chớ".

Bên cạnh đó trình độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ hay có tay nghề kỹ

thuật cao của các xã viên HTX nông nghiệp còn rất thấp do tỉnh Hòa Bình là một

43

tỉnh miền núi với phần đông là đồng bào dân tộc thiểu số ít người nên trình độ

học vấn chuyên môn cũng như sự hiểu biết về khoa học và kỹ thuật còn tương

đối hạn chế.

Nếu được đào tạo cơ bản về kiến thức, giáo dục thường xuyên về đạo đức, kỹ

năng nghề nghiệp cho người lao động, việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu

quả lao động sẽ được duy trì và phát triển. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng, người lao

động hiểu được bản chất công việc, thành thạo các kỹ năng nghiệp vụ, làm việc có

trách nhiệm, gắn bó với doanh nghiệp và dĩ nhiên hiệu suất lao động tăng, thu nhập

của nông dân ổn định, HTX nông nghiêp phát triển bền vững.

Chất lượng nguồn nhân lực là lợi thế so sánh hàng đầu của HTX nông nghiệp

bởi vì nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì và

phát triển của HTX nông nghiệp.

Hơn nữa để thực hiện tốt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông

thôn mới mà việc phát triển HTX nông nghiệp làm ăn có hiệu quả là một trong

những tiêu chí để các xã đạt nông thôn mới thì đào tạo nguồn nhân lực cho HTX

nông nghiệp và bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ HTX lớn mạnh, có năng lực,

trình độ và phẩm chất, uy tín cao, sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu

quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững và góp phần phát triển HTX nông

nghiệp và thắng lợi trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, hội nhập quốc tế.

2.2.2.5. Cơ chế chính sách chung của Nhà nước và của tỉnh Hòa Bình

*Về phía nhà nước:

Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở những chủ trương, đường lối lớn của Đảng,

đã khẳng định: kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh

doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng

có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các HTX hoạt động có hiệu

quả. Điều đó là kết quả của một thời gian dài vận động thực tiễn và tổng kết lý luận

của Đảng và Nhà nước ta về HTX. Sự khẳng định của Hiến pháp năm 1992 đã tạo

đà cho sự đổi mới không ngừng về cơ chế quản lý phát triển HTX của Nhà nước.

Trên cơ sở những điều mà Hiến pháp năm 1992 viết về kinh tế tập thể, ngày

44

20/3/1996, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá 9, Luật HTX được thông qua, mở ra một

trang sử mới cho công tác tổ chức, quản lý và phát triển kinh tế tập thể nói chung,

HTX nói riêng. Luật HTX 1996 ban hành là cơ sở pháp lý bước đầu cho việc

chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới. Theo đó Chính phủ

đã ban hành một loạt các văn bản dưới luật như: (1) Nghị định 15/CP ngày

21/1/1997 quy định chính sách khuyến khích phát triển HTX; (2) Nghị định 16CP

ngày 21/2/1997 về xử lý công nợ của HTX cũ chuyển đổi sang hoạt động theo luật;

và (3) Thông tư số 14/ BKH ngày 29/3/1997 của Bộ kế hoạch và Đầu tư về hướng

dẫn việc chuyển đổi và đăng ký gia đình HTX. Dưới sự điều chỉnh của hệ thống các

luật và văn bản dưới luật trên, quá trình phát triển HTX ở nước ta diễn ra theo hai

hình thức sau: chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới và

thành lập mới các HTX với chức năng chủ yếu là cung cấp dịch vụ cho hộ xã viên

cho cộng đồng và tạo việc làm cho những người lao động dễ bị tổn thương trong cơ

chế kinh tế thị trường.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội khoá XI

thông qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004. Luật

đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận lợi và

thông thoáng hơn cho các HTX phát triển. Theo Luật, HTX có được khung khổ

pháp lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc tế.

Nếu chỉ xét riêng lĩnh vực nông nghiệp, khu vực có nhiều HTX nhất đang

hoạt động, thì hầu hết các HTX đã đảm nhiệm nhiều dịch vụ nông nghiệp phục vụ

các hộ xã viên và cạnh tranh với các cơ sở dịch vụ khác trên cùng địa bàn. Bên cạnh

đó, các HTX đã không chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong nội bộ ngành

mà đã mở rộng sang cung cấp dịch vụ tổng hợp cho các xã viên của mình và cho thị

trường.

Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 800/QĐ-TTg về

phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-

2020. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương trình

lớn, được triển khai trên địa bàn cấp xã, nhằm phát triển nông thôn toàn diện, bao

45

gồm nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi

trường, hệ thống chính trị cơ sở. Và một trong những tiêu chí để các xã đạt nông

thôn mới là phải có HTX nông nghiệp hoạt động và làm ăn có hiệu quả. Đây là một

nội dung rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của HTX nông nghiệp tại Việt

Nam

* Về phía tỉnh Hòa Bình:

Là tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế bởi lợi thế về tài nguyên, du lịch, lực

lượng lao động dồi dào… tuy nhiên Hoà Bình vẫn là tỉnh nghèo, hàng năm ngân

sách Trung Ương phải bổ sung trên 80%. Để thay đổi bộ mặt của tỉnh, Hoà Bình đã

thực hiện chủ trương “trải thảm đỏ để thu hút đầu tư”

Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chỉ thị 20-CT/TW của Ban Bí thư

Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo thực hiện Nghị quyết số 13, Hội nghị

TW5 (Khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể;

tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò quản lý của nhà nước trong việc

ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể. Phối hợp

với các sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh và các huyện, thành phố tích cực tổ chức các

hoạt động tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước

về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; phổ biến các văn bản pháp

luật về HTX, vận động và hướng dẫn thành lập mới các tổ hợp tác, HTX. Duy trì

giới thiệu các mô hình HTX mới, các điển hình kinh tế tập thể tiên tiến trên chuyên

mục về kinh tế hợp tác, HTX trên Báo Hòa Bình, Đài Phát thanh và Truyền hình

tỉnh. Thông qua công tác tuyên truyền đã góp phần làm cho các cấp ủy Đảng, chính

quyền từng bước nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí, hiệu quả của mô hình kinh tế

tập thể, hợp tác xã đối với phát triển kinh tế nói chung ở địa phương. Hàng năm,

thông qua Liên minh HTX tỉnh xây dựng chương trình phối hợp với Hiệp hội doanh

nghiệp tỉnh tạo điều kiện cho đại diện các HTX được gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với

lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo các sở, ngành về những thuận lợi, khó khăn trong sản

xuất, kinh doanh và đề xuất, kiến nghị các chính sách đối với phát triển kinh tế tập

thể, HTX; đồng thời, đây cũng là dịp để phát động phong trào thi đua hằng năm tới

46

các thành viên, xã viên tạo động lực thúc đẩy sản xuất – kinh doanh hiệu quả.

Thường xuyên tham gia phối hợp giữa các ngành liên quan tư vấn, giúp đỡ

các đơn vị thành viên sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật; nghiên cứu, đinh hướng

giải quyết các khó khăn, vướng mắc, đơn thư, khiếu nại ở các cơ sở thành viên đảm

bảo quyền lợi công bằng, hợp pháp cho các hợp tác xã, xã viên và người lao động

theo đúng quy định của pháp luật. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, chi nhánh

ngân hàng các huyện kiểm tra, hướng dẫn các dự án sử dụng vốn vay đúng mục

đích, có hiệu quả, hoàn trả vốn đúng kỳ hạn; Qua việc hỗ trợ vay vốn, các thành

viên HTX đã từng bước mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực

cạnh tranh trong và ngoài tỉnh.

Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của khu vực kinh tế

tập thể, tỉnh cần tiếp tục nâng cao hơn nữa năng lực tư vấn, hỗ trợ có hiệu quả cho

các HTX, triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế

tập thể, nắm bắt tình hình, thực trạng các tổ hợp tác, HTX, đề xuất với các cấp bộ

ngành trung ương kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các HTX, phối

hợp với các ngành xây dựng các mô hình HTX điển hình tiên tiến, các HTX mới để

lực lượng kinh tế tập thể phát huy tối đa sức mạnh nội lực cùng với các thành phần

kinh tế khác đưa nền kinh tế của tỉnh ngày càng phát triển vững chắc./.

2.2.2.6. Công tác quản lý, hỗ trợ của chính quyền các cấp trong tỉnh Hòa Bình

Tỉnh Hòa Bình luôn thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ về dạy nghề, đào tạo

cán bộ quản lý; trợ giúp, chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật, xúc tiến đầu tư,

thương mại… đối với các loại hình kinh tế tập thể, nhất là hợp tác xã.

Các cơ quan chức năng của tỉnh như Sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Sở Công thương… hàng năm đã

mở hàng trăm lớp tập huấn cho hàng ngàn đối tượng là các bộ HTX nông nghiệp

trong tỉnh. Bên cạnh đó phối hợp với các tỉnh bạn đưa những sản phẩm của các

HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình bày bán tại các hội chợ thương mại trong cả

nước…

Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, vốn hoạt động của HTX. Gắn sản xuất

47

với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính

sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về kinh tế tập thể.

Chú trọng việc nghiên cứu tổng kết các mô hình tiên tiến để nhân rộng. Tạo

điều kiện cho các HTX tham gia vào triển khai các chương trình, dự án phát triển

kinh tế - xã hội ở địa phương, các chương trình Quốc gia về xoá đói, giảm nghèo,

xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề về an sinh xã

hội.

Tóm lại: Bên cạnh những kết quả đạt được, các HTX nông nghiệp ở tỉnh còn

bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế, trong đó khó khăn lớn nhất về vốn, ngành nghề dịch

vụ, cán bộ quản lý. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chậm.

Kinh tế hợp tác và phong trào xây dựng HTX kiểu mới, nhất là đối với HTX trong

lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chưa được đầu tư đúng mức, chất lượng chuyển

đổi trong hoạt động của các HTX còn nặng hình thức, hiệu quả chưa cao

Vấn đề đặt ra là phải tìm tòi những mô hình thích hợp, những giải pháp có

tính khả thi để phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp mà nòng cốt là HTX kiểu

mới tương xứng với vị trí, vai trò trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông

thôn trên địa bàn tỉnh.

2.3. Kết luận chung.

Tóm lại thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của

các HTX nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình có thể thấy rằng sự phát triển của các

HTX nông nghiệp tỉnh Hòa Bình còn rất thấp so với mặt bằng của các tỉnh miền

núi trung du phía bắc.

Từ những thành công cũng như những thất bại của các HTX nông nghiệp

trên địa bàn tỉnh có thể rút ra bài học kinh nghiệm sau:

- Cho dù là mô hình HTX nông nghiệp nào thì cũng phải đáp ứng được

lợi ích thiết thực của bà con xã viên; HTX nông nghiệp phải thể hiện là tổ chức

kinh tế tự chủcủa dân, tự dân tổ chức, quản lý đáp ứng cho nhu cầu chung.

Không được nhầm lẫn mô hình HTX nông nghiệp với mô hình doanh nghiệp,

48

công ty hoạt động theo Luật doanh nghiệp, giữa HTX nông nghiệp với tổ chức xã

hội, từ thiện. Đồng thời phải ngăn ngừa hiện tượng lợi dụng HTX nông nghiệp để

hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước và trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước.

- Phải thực hiện đầy đủ các chủ trương, chính sách, pháp luật và đảm

bảo phải có sự lãnh chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đới với sự phát triển của kinh

tế HTX nông nghiệp. Đảng đã có chủ trương, đường lối và giải pháp đúng đắn,

Nhà nước đã có chính sách cụ thể, tạo khung khổ pháp lý cơ bản cho quá trình đổi

mới và phát triển HTX nông nghiệp . Tuy nhiên cần phải có sự quan tâm thực sự,

thích đáng trong chỉ đạo, có biện pháp tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời các chủ

trương, đường lối, chính sách đó. Từ thực tế cho thấy, nơi nào các cấp uỷ, chính

quyền quan tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo, có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí

của kinh tế tập thể nói chung và kinh tế HTX nông nghiệp nói riêng thì nơi đó các

HTX nông nghiệp có điều kiện thuận lợi để phát triển.

- Các HTX nông nghiệp phải tự vươn lên từ nội lực của mình, chủ động

thích nghi với cơ chế thị trường luôn biến động và khó lường. Đổi mới thực sự cả

về lối nghĩ và cách làm, cả về cung cách quản lý để tổ chức lại hoạt động dịch vụ,

sản xuất kinh doanh gắn liền với lợi ích của các xã viên, cả lợi ích kinh tế và lợi ích

xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực cho các HTX nông nghiệp là nhân tố có ý nghĩa

quan trọng, quyết định đến sự thành bại của các HTX nông nghiệp , đặc biệt là cán

bộ chủ chốt phải là những người thực sự có năng lực, tâm huyết, và gắn bó với

sự nghiệp phát triển HTX nông nghiệp . Coi trọng khâu tuyên truyền và xây dựng

phát triển HTX nông nghiệp, đặc biệt là nghiên cứu, tổng kết, xây dựng và nhân

rộng các mô hình HTX nông nghiệp điển hình tiến tiến, mạnh dạn áp dụng những

tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất.

- Đối với những HTX nông nghiệp không chỉ phát triển có hiệu quả trên cơ sở

làm tốt những dịch vụ đã có mà còn phải mở rộng các ngành nghề kinh doanh, tích

cựctham gia liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác để tạo ra sức mạnh

tổng hợp, giảm áp lực cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Đồng thời phải không

ngừng chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho các HTX nông nghiệp khác, chủ

49

động tìm kiếm thị trường mới, huy động nguồn vốn để khai thác các tiềm năng sẵn có,

lợi thế so sánh của địa phương.

- Vấn đề cán bộ là nhân tố quan trọng quyết định đến hoạt động của HTX

nông nghiệp . Vì vậy cần phải có đội ngũ cán bộ quản lý HTX nông nghiệp có năng

lực, có kiến thức về quản lý kinh tế, sản xuất kinh doanh, nhạy bén trong nền kinh

tế thị trường. Cán bộ chủ chốt của HTX nông nghiệp phải dám nghĩ, dám làm, dám

chịu trách nhiệm và đặc biệt phải có phẩm chất đạo đức tốt và được xã viên tin tưởng,

tín nhiệm.

- Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương bên cạnh việc ban hành

các chủ trương, chính sách và pháp luật còn phải tăng cường kiểm tra, giám sát đồng

thời hướng dẫn các đơn vị, địa phương chưa thực hiện đầy đủ để hướng dẫn các chính

sách đó thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả cao nhất.

- Liên minh HTX tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như

các Sở, ban, ngành trong tỉnh cần bám sát các chương trình phát triển kinh tế xã

hội của đất nước, của tỉnh để vận dụng vào trong các hoạt động của mình góp phần

thúc đẩy kinh tế tập thể phát triển bền vững. Tham mưu cho các cấp, các ngành các ý

kiến, đề xuất các hoạt động thiết thực cho các HTX nông nghiệp nhằm thực hiện tốt

các chủ trương chính sách, tuyên truyền vận động và tư vấn cho các HTX nông

nghiệp thành viên để hệ thống các HTX nông nghiệp có phương hướng, đường lối

50

phát triển đúng đắn

Chương 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

Ở TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015

3.1. ĐỊNH HƯỚNG NHẰM PHÁT TRIỂN HTX NÔNG NGHIỆP Ở

TỈNH HÒA BÌNH

3.1.1. Cơ sở của những định hướng

Hiện nay kinh tế nông thôn đang chịu áp lực chung cho cả 2 hướng:

chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp nông thôn lạc hậu, chậm phát triển sang kinh

tế thị trường phát triển và quá trình này thúc đẩy bởi tiến trình công nghiệp hoá và

hiện đại hoá. Hai quá trình này diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà phải

hoà nhập vào nền kinh tế thế giới và chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách

mạng khoa học công nghệ cao, hiện đại. Đây cũng là thời cơ và thách thức và cũng

là tác nhân góp sức, thúc đẩy kinh tế nông dân, nông thôn có sự thay đổi sâu sắc

cả trên bình diện rộng và sâu, làm thay đổi căn bản trong phương thức sản xuất và

nhận thức sản xuất kinh tế nông thôn đang hình thành phương thức sản xuất công

nghiệp, phương thức kinh doanh hướng thị trường, theo đuổi mục tiêu tăng trưởng

cao.

Xã hội nông thôn, nông dân đang bị phân hoá, tầng lớp giàu và nghèo. Bên

cạnh đó, tiến trình kinh tế nông thôn đang có sự phân hoá kinh tế nông dân theo

nghề nghiệp kinh tế nông dân chuyển theo hướng đa canh, đa ngành và một phần

chuyển mạnh sang hướng chuyên môn hoá và công nghiệp dịch vụ, tức là hoạt

động phi nông nghiệp tăng lên. Điểm nữa là, kinh tế nông thôn đang trong quá

trình thị trường hoá. Các hoạt động nông nghiệp nông thôn càng ngày càng gắn

vào thị trường và bị lôi cuốn vào thị trường. Các hộ nông dân đã chuyển sang kinh

doanh và hoạt động kinh tế đang gắn với nhu cầu thị trường. Các vấn đề kinh tế

đang được giải quyết trên nhu cầu thị trườ ng (như vốn, vật tư nông nghiệp, lao

động, thị trường hàng hoá, dịch vụ v.v…). Các vấn đề này cho thấy hoạt động kinh

tế của các chủ thể kinh tế tự chủ chủ yếu thiên về các quan hệ dịch vụ, hàng hoá,

51

nếu họ tham gia HTX thì sẽ là các loại hình HTX dịch vụ, mua bán, vật tư, hay

các hiệp hội tiêu thụ nông sản,..

Chính vì thế, đổi mới hoạt động của các HTX nông nghiệp xuất phát từ những

sự thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn mà tâm điểm

đó lại bắt nguồn từ kinh tế hộ gia đình ở nông thôn. Cần phải đưa ra các biện pháp

để đẩy mạnh sự đi lên của kinh tế hộ, thay đổi cơ bản phương thức sản xuất của loại

hình này tạo đà chuyển đổi cách thức sản xuất theo hướng thị trường và đây cũng là

những hạt nhân để xây dựng những đơn vị sản xuất kinh doanh tại nông thôn – đó

chính là các HTX nông nghiệp.

Thực hiện Luật HTX năm 2003 và Nghị quyết số 13 NQ/TW hội nghị Ban

Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa IX) về kinh tế tập thể, Chính

phủ đã ban hành hệ thống các chính sách về phát triển kinh tế tập thể. Các bộ,

ngành cũng đã có thông tư hướng dẫn. Tỉnh Hòa Bình đã tổ chức các hoạt động

hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp trong khung khổ các chương trình, dự án

khuyến nông, khuyến công và phát triển ngành nghề nông thôn; nước sạch và vệ

sinh môi trường nông thôn; kiên cố hóa kênh mương; đào tạo tập huấn cán bộ...

Đồng thời, tổ chức các hội nghị quán triệt, sơ kết Nghị quyết Trung ương về kinh

tế tập thể, tổ chức hội thảo, diễn đàn bàn về các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho

các HTX nông nghiệp.

Công tác tổ chức, quản lý HTX tiếp tục được củng cố và đổi mới theo

hướng nâng cao hiệu quả hoạt động; khắc phục tình trạng nhiều HTX thua lỗ kéo

dài; đưa số HTX làm ăn có lãi ngày một tăng. Đặc biệt đã có nhiều HTX vươn lên,

vượt qua khó khăn, mở rộng nhiều hoạt động và đa dạng lĩnh vực sản xuất - kinh

doanh, dịch vụ như: hoạt động tín dụng nội bộ; tiêu thụ sản phẩm; phát triển ngành

nghề; nước sạch nông thôn; vệ sinh môi trường...

Số lượng HTX thành lập mới năm sau nhiều hơn năm trước và các HTX đã đa

dạng về tổ chức, cũng như nội dung hoạt động: HTX dịch vụ nông nghiệp, HTX

chuyên ngành chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, HTX rau an toàn...

Trong phong trào thi đua thực hiện Nghị quyết Trung ương về phát triển

52

kinh tế tập thể, đã xuất hiện nhiều HTX làm ăn giỏi, thực sự là những nhân tố cho

phong trào phát triển HTX ở mỗi địa phương. Sự thành công của các HTX điển

hình tiên tiến trước hết là sự cố gắng của xã viên HTX, sự nhiệt tình, năng động của

cán bộ quản lý HTX.

3.1.2. Định hướng và mục tiêu nâng cao hoạt động của các hợp tác xã nông

nghiệp ở tỉnh Hòa Bình

3.1.2.1. Định hướng

Phát triển HTX thời gian qua đang còn hạn chế và không đồng đều giữa các

vùng, còn có nhiều xã chưa có HTX, nhất là ở các vùng miền núi; các HTX điển

hình, tiên tiến, nhân tố mới chưa được nhân rộng; số hợp HTX trung bình, yếu kém

còn nhiều. Do vậy, để tháo gỡ khó khăn cho HTX và phát triển HTX nông nghiệp

trong thời gian tới cần có các giải pháp đồng bộ từ chính sách hỗ trợ đến công tác

chỉ đạo và định hướng xây dựng mô hình phát triển HTX nông nghiệp chung cho cả

tỉnh và mô hình cụ thể cho từng vùng.

Thứ nhất: Phát triển kinh tế hợp tác, HTX với các hình thức đa dạng, trình độ

phát triển từ thấp đến cao, không giới hạn về quy mô, lĩnh vực địa bàn. Phát triển

các HTX, Liên hiệp HTX chuyên ngành và đa ngành. Hướng dẫn tạo điều kiện để

các HTX cùng ngành nghề, cùng địa bàn, quy mô nhỏ (nhất là các HTX trong

nông nghiệp quy mô thôn, xóm, bản), liên kết, hợp nhất, sáp nhập thành những

HTX có quy mô lớn hơn, để tăng tiềm lực tài chính, quy mô hoạt động của HTX

nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo đúng các nguyên

tắc tổ chức và hoạt động của HTX.

Thứ hai: Phát triển HTX phải trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế

trang trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển. Kinh tế hợp

tác, HTX lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và

lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên góp phần xoá

đói giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên và phát triển cộng đồng.

Thứ ba: Đẩy mạnh việc củng cố, nâng cao năng lực các HTX và phát triển HTX

mới. Chỉ đạo chuyển đổi dứt điểm các HTX kiểu cũ còn khả năng chuyển đổi, còn

53

những HTX nào không có khả năng chuyển đổi hoặc đã chuyển đổi mà hoạt động

hình thức không có hiệu quả thì chỉ đạo cho giải thể kịp thời.

Thứ tư: Quan tâm tạo điều kiện cho các tổ hợp tác phát triển như là một bộ

phận cấu thành quan trọng của kinh tế tập thể, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các tổ

hợp tác phát triển thành các HTX khi có đủ điều kiện.

Tùy theo điều kiện cụ thể ở mỗi địa phương, việc xây dựng mô hình HTX

nông nghiệp theo các hướng cụ thể sau:

Phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp, HTX chủ yếu thực hiện các hoạt động tổ

chức và hướng dẫn xã viên thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thực hiện dịch vụ

đầu vào và hoạt động giúp đỡ nhau mang tính cộng đồng. Cụ thể:

+ Tổ chức hướng dẫn xã viên, nông dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản

xuất. Làm tốt việc tổ chức sản xuất, hướng dẫn nông dân, xã viên cùng nhau hợp

tác trồng cây gì, nuôi con gì, một cách có hiệu quả, xác định cơ cấu mùa vụ, cơ

cấu cây trồng và cơ cấu kinh tế hợp lý, ... tạo ra vùng sản xuất sản phẩm tập trung

có khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn.

+ Tổ chức dịch vụ sản xuất kinh tế hộ. Tùy theo điều kiện cụ thể từng vùng,

từng HTX tổ chức các hoạt động dịch vụ như: tưới tiêu, vật tư, làm đất, bảo vệ thực

vật, thú y, giống cây trồng, vật nuôi, tiêu thụ nông sản phẩm...

+ Liên kết với doanh nghiệp chế biến trong việc tiêu thụ sản phẩm nông

nghiệp theo các mô hình liên kết.

+ Theo quy mô và phạm vi hoạt động của mình mà HTX tổ chức bộ máy

quản lý thích hợp (tổ dịch vụ làm đất, tổ dịch vụ vật tư, tổ dịch vụ tín dụng, tổ

khoa học - kỹ thuật, tổ tiêu thụ sản phẩm,...).

- Phát triển HTX nông nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ tổng hợp.

Ngoài việc HTX tổ chức, thực hiện những nội dung của mô hình HTX dịch vụ, còn

tổ chức sản xuất kinh doanh như: chế biến nông, lâm sản; sản xuất tiểu thủ công

nghiệp; cung cấp dịch vụ cho đời sống xã viên và người dân.

- Phát triển HTX nông nghiệp chuyên ngành như: HTX chăn nuôi bò, chăn

nuôi lợn, nuôi trồng thủy sản, trồng rau an toàn; HTX chế biến nông, lâm sản...

54

phát triển ở những vùng sản xuất tập trung, có phong trào, gần thành phố và

các trung tâm huyện.

Phát triển HTX nông nghiệp trong thời gian tới phải gắn với việc đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; trong đó, HTX đóng

vai trò tích cực trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất, thúc đẩy chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ kinh tế hộ

phát triển sản xuất hàng hóa; phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ; hướng dẫn công

tác khuyến nông, khuyến lâm; phát triển thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh

tế hộ phát triển. Trước mắt, thực hiện lồng ghép các chương trình phát triển nông

nghiệp, nông thôn với mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể.

Tập trung chỉ đạo giải quyết những tồn tại của HTX sau chuyển đổi. Đây là biện pháp

nhằm phát huy nội lực của HTX. Đồng thời, tăng cường vai trò quản lý nhà nước

đối với kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn cùng với tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối

với phát triển kinh tế tập thể.

3.1.2.2. Mục tiêu phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời gian tới

Với mục tiêu tổng quát đề ra cho khu vực kinh tế tập thể là đẩy mạnh việc

đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể đồng thời nâng cao tốc độ tăng

trưởng, đưa kinh tế tập thể cùng các thành phần kinh tế khác và kinh tế hộ xã

viên đóng góp ngày càng cao trong tỷ trọng nền kinh tế, góp phần xoá đói giảm

nghèo, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của các thành viên

và cộng đồng dân cư địa phương nhất là vùng nông thôn.

Mục tiêu cụ thể:

Củng cố tổ chức ổn định bộ máy quản lý điều hành hoạt động nhằm nâng

cao hiệu quả của các HTX nông nghiệp. Giảm tỷ lệ HTX nông nghiệp yếu kém

bình quân từ 7-10%/năm, nâng tỷ lệ các hợp tác xã làm ăn khá giỏi bình quân từ

10% lên 12%/năm.

Tạo điều kiện cho các HTX nông nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh

doanh dịch vụ để thu hút các hộ nông dân trên địa bàn nông thôn sử dụng các hoạt

55

động dịch vụ của HTX.

Khuyến khích các tổ hợp tác có đủ điều kiện đăng ký thành lập HTX, phấn

đấu bình quân mỗi năm phát triển từ 5 đến 7 HTX. Số xã viên HTX mỗi năm

tăng từ 200 đến 300 người. Số lượng tổ hợp tác tăng bình quân 4%/năm, số

lượng thành viên tổ hợp tác tăng 5%/năm.

Phấn đấu đến năm 2015 mỗi huyện, thành phố phát triển được ít nhất từ 1- 2

HTX nông nghiệp điển hình vững mạnh toàn diện.

Đến năm 2015 nâng số cán bộ quản lý hợp tác xã có trình độ đại học lên

khoảng 5-7%, trung cấp 20%. 100% cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp

vụ các HTX nông nghiệp được đào tạo các khoá tập huấn, bồi dưỡng kiến thức

quản lý kinh tế ít nhất 1 lần. Thu nhập bình quân của lao động trong các HTX nông

nghiệp tăng gấp 2,5 lần so với năm 2009 (năm 2009 thu nhập bình quân ở

500.000đ/người/tháng).

3.1.2.3. Nhiệm vụ phát triển các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hòa Bình

trong giai đoạn 2010-2015

Nâng cao hiệu quả hoạt động các HTX nông nghiệp trong sản xuất kinh

doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản

phẩm hàng hoá nông nghiệp của xã viên và các hộ nông dân.

Tiếp tục xây dựng mới các tổ hợp tác, HTX nông nghiệp theo mô hình kinh

doanh đa ngành. Tạo điều kiện và cơ chế chính sách cho các HTX mở rộng quy

mô sản xuất kinh doanh.

Liên kết, sáp nhập các HTX quy mô nhỏ thành các HTX quy mô lớn. Kết nạp

xã viên, các hộ nông dân và nâng mức đóng góp vốn của xã viên để có vốn phát triển

sản xuất kinh doanh, mở rộng và đa dạng các dịch vụ như: chuyển giao khoa học

công nghệ, khuyến nông khuyến lâm, khuyến ngư, bảo vệ thực vật, thú y, vật tư,

phân bón, thức ăn chăn nuôi, sản xuất và cung ứng giống vật nuôi, cây trồng, tiêu thụ

sản phẩm, chế biến nông sản, cung ứng dịch vụ thuỷ lợi...

Mở rộng loại hình tín dụng nội bộ để tạo vốn cho xã viên và các hộ nông

56

dân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh.

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG

NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2010-2015

Với quyết tâm thực hiện mục tiêu từ nay cho đến năm 2015 đưa kinh tế tập

thể mà bộ phận chủ yếu là các HTX nông nghiệp thoát khỏi những yếu kém khó

khăn hiện nay, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao, tỷ trọng tổng sản phẩm của

khu vực kinh tế tập thể chiếm trung bình khoảng 10- 12% GDP toàn tỉnh thì trong

chiến lước phát triển kinh tế tập thể đến năm 2015 mà đặc biệt là HTX nông nghiệp

cần phải đưa ra những biện pháp nhằm củng cố, phát triển các HTX nông nghiệp

hiện nay trên địa bàn trên cơ sở thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

3.2.1. Đổi mới tư duy về nhận thức trong phát triển Hợp tác xã nông nghiệp

Nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí

HTX đối với nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ hiện nay chưa đầy đủ, rõ

ràng. Một bộ phận cán bộ các cấp, các ngành chưa thực sự tin tưởng vào vai trò,

vị trí và xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế . Mặc dù Đảng và Nhà nước

đã có nhiều chính sách tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác, HTX phát triển,

nhưng cho đến nay vẫn thiếu các văn bản hướng dẫn hoặc có nhưng chưa thực sự

sát thực. Một số cơ chế, chính sách trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng

mắc, thể hiện tập trung nhất ở những chính sách liên quan đến lĩnh vực đất đai,

thuế, tín dụng, bảo hiểm xã hội. Trong những năm qua Ủy ban nhân dân tỉnh

Hòa Bình đã ban hành nhiều quy định về cơ chế, chính sách thông thoáng cho

khu vực kinh tế tập thể và đặc biệt là các HTX nông nghiệp trên cơ sở vận

dụng linh hoạt các hướng dẫn của Trung ương, nhưng tính hiệu lực còn yếu

bởi các ngànhchức năng lại chờ những hướng dẫn cụ thể của các Bộ, ngành

chủ quản cấp trên nên việc triển khai thực hiện vẫn rất trì trệ.

Sự phát triển của các HTX nông nghiệp luôn luôn tồn tại trong những điều

kiện kinh tế- xã hội cụ thể, nó phản ánh nhận thức chủ quan của con người về thực

tế khách quan. Nếu sự nhận thức đó của con người không phản ánh đầy đủ và chân

thực thực tế khách quan về các quy luật trong nền kinh tế… thì khó có thể kích

57

thích HTX nông nghiệp phát triển được và ngược lại sự phát triển của HTX nông

nghiệp chỉ có thể tồn tại bền vững được nếu như đáp ứng được nhu cầu của thị

trường luôn biến động thay đổi cả về số lượng, chất lượng và chủng loại của nông

sản phẩm… đòi hỏi các HTX nông nghiệp phải thường xuyên nắm bắt thị hiếu, nhu

cầu của người tiêu dùng để có những sự điều chỉnh một cách kịp thời, khoa học, đáp

ứng ngày một tốt hơn nhu cầu luôn biến động trong nền kinh tế.

Một trong những vấn đề cấp bách trong những năm tới là phải hướng vào đổi

mới mạnh mẽ nhận thức về lợi ích, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các HTX

nông nghiệp trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; đổi mới nhận

thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan,

các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể các cấp đối với quá trình phát triển HTX

nông nghiệp; nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, của xã viên HTX về chủ

trương, đường lối của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước về phát

triển HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng .

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng

CNH, HĐH, các HTX nông nghiệp có vai trò quan trọng, thông qua HTX nông

nghiệp mà các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà

nước đối với nông nghiệp nông thôn được triển khai, thực hiện. Các HTX nông

nghiệp là sản phẩm của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, đồng thời sự ra

đời và phát triển của các HTX nông nghiệp lại thúc đẩy nền nông nghiệp hàng hoá

phát triển hơn nữa. Do vậy phải thấy rằng, việc thúc đẩy nông nghiệp sản xuất hàng

hoá phát triển là điều kiện tiên quyết để phát triển các HTX nông nghiệp.

Phát triển HTX nông nghiệp là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta

hiện nay. Chủ trương đó xuất phát từ yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá theo cơ

chế thị trường định hướng XHCN. Trong những năm tới theo định hướng phát triển

của Quốc gia, của Tỉnh thì vai trò và vị trí của HTX nông nghiệp trong cơ cấu kinh

tế nhiều thành phần ở nước ta không những không giảm đi mà ngược lại được tăng

cường và củng cố. Phát triển HTX nông nghiệp là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước,

các ngành các cấp và đặc biệt là của toàn bộ hộ nông dân trong giai đoạn đẩy mạnh

58

CNH, HĐH, bởi lẽ một chủ trương chính sách hoàn toàn đúng đắn, phù hợp như nếu

không có sự tham gia, ủng hộ, hưởng ứng và đặc biệt là triển khai thực hiện trong

thực tế thì chủ trương, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, của Tỉnh cũng trở nên vô

nghĩa.

Các HTX nông nghiệp thực hiện tổ chức sản xuất vừa đáp ứng được yêu cầu

sản xuất quy mô lớn vừa đáp ứng được yêu cầu xã hội, tạo điều kiện các hộ nông

dân hợp tác cùng nhau phát triển sản xuất nâng cao đời sống, giảm bớt được những

hạn chế của sản xuất theo từng hộ nhỏ lẻ, nhất là đối với những nông dân nghèo

còn thiếu kinh nghiệm, trình độ sản xuất và vốn đầu tư. Chính vì vậy, muốn các hệ

thống HTX nông nghiệp phát triển trong tiến trình CNH, HĐH phải thực hiện cho

tốt các bước sau:

- Đi nhanh trong việc chuyển từ hệ kinh tế thị trường cổ điển sang hệ

kinh tế thị trường hiện đại. Chuyển đổi từ nền kinh tế chậm phát triển thành nền

kinh tế thị trường phát triển.

- Đi tắt, bắt kịp với công nghệ hiện đại, tiên tiến của các quốc gia trong khu

vực và trên thế giới.

- Biến ngoại lực thành nội lực trong quá trình hội nhập.

- Mở cửa, hội nhập với tiến trình phát triển hiện đại trên thế giới.

- Tăng cường bản lĩnh dân tộc, phát triển bền vững và xem đây là nền tảng

của sự phát triển hiện đại.

Phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới ở nước ta là xu hướng có tính quy luật

trong nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên quá trình phát triển đó cần

có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể các cấp trên

nhiều phương diện: tạo hành lang pháp lý cho HTX nông nghiệp kiểu mới ra

đời và hoạt động; hỗ trợ về tài chính; hỗ trợ về khoa học công nghệ, hỗ trợ về

đào tạo nguồn nhân lực HTX; hỗ trợ về chính sách thị trường, tuyên truyền, vận

động về HTX…

Các HTX nông nghiệp đều chịu sự quản lý nhà nước của chính quyền các

cấp. Tuy nhiên sự quản lý đó không được biến thành sự cản trở hay can thiệp quá

59

sâu vào những hoạt động sản xuất kinh doanh mà HTX nông nghiệp với tư cách là

tổ chức kinh tế tự chủ, được toàn quyền quyết định theo quy định của pháp luật.

Hầu hết cán bộ cơ sở và xã viên nhận thức về HTX kiểu mới và Luật HTX

2003 chưa thấu đáo và đầy đủ, mặt khác trên thực tế việc chuyển đổi và thành lập

mới HTX còn mang nặng tính hình thức và thiếu những mô hình hoạt động

thực sự hiệu quả và có tính thuyết phục, hầu hết họ đều quen với mô hình HTX

nông nghiệp được Nhà nước bao cấp, giúp đỡ và được phép đòi hỏi các quyền

lợi…Chính vì vậy họ không thấy hết được quyền lợi và trách nhiệm của họ đối

với HTX. Thậm chí một số lớn xã viên sau khi đóng cổ phần cũng không quan

tâm đến nghĩa vụ của mình mà phó thác trách nhiệm cho ban quản lý, thờ ơ

trong mọi hoạt động.

Đối với các cán bộ chủ chốt của hệ thống HTX nông nghiệp, cần có những

chính sách hỗ trợ đào tạo để họ có điều kiện tiếp thu những kiến thức về quản

lý kinh tế, quản trị kinh doanh, khoa học kỹ thuật mới, tiên tiến của các nhà khoa

học trong và ngoài nước để triển khai, áp dụng trên địa bàn các HTX nông nghiệp.

Đặc biệt cần có những chính sách thu thút khuyến khích những các cá nhân có

năng lực, có trình độ chuyên môn được đào tạo vào làm việc ở các HTX nông

nghiệp và có chính sách ưu đãi để khi đã làm việc thì yên tâm, dồn mọi sức lực,

tâm trí vào công tác.

Đối với xã viên HTX nông nghiệp, các cấp các ngành cũng như HTX

nông nghiệp phải tuyên truyền phổ biến tới tận hộ gia đình xã viên để cho họ

nhận thức đúng đắn về sự cần thiết phải tham gia vào HTX nông nghiệp và nó là

nhu cầu tất yếu của chính bản thân các hộ xã viên.Tuy nhiên, công tác tuyên

truyền, vận động phải được đặc biệt coi trọng và được đảm bảo về kinh phí, phải

đa dạng về hình thức và phương pháp để đối tượng được vận động, tuyên truyền dễ

hiểu nhất, dễ tiếp thu nhất.

3.2.2. Thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa

Đây là một trong những giải pháp tạo tiền đề cho sự hình thành các

HTX nông nghiệp kiểu mới. Đặc biệt với những tiềm năng sẵn có về điều

60

kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Hòa Bình sẽ có rất nhiều thuận lợi khi triển khai thực

hiện phát triển HTX nông nghiệp trong giai đoạn tới. Tuy nhiên trong những năm

tới, để thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, thì

theo ý kiến chủ quan của tôi, các cấp các ngành các đơn vị có liên quan phải triển

khai thực hiện một số việc cơ bản sau:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa theo

hướng lợi thế so sánh, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương. Thúc đẩy quá trình

chuyển đổi cơ cấu sản xuất, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung theo

hướng chuyên môn hoá gắn với công nghiệp chế biến theo yêu cầu thị trường, tạo ra

các nhu cầu về hợp tác.

Đối với Tỉnh, cần có quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững cho

từng huyện, xác định cây trồng, vật nuôi, sản phẩm hàng hoá chính, cơ cấu sản

xuất nông nghiệp một cách hợp lý theo hướng phát huy tiềm năng và lợi thế so

sánh của từng huyện.

Ngoài ra để thực sự thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản

xuất hàng hóa thì rất cần có mối liên kết giữa hệ thống các HTX nông nghiệp trong

tỉnh với nhau, giữa hệ thống các HTX nông nghiệp trong và tỉnh ngoài, HTX

nông nghiệp với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau để phối

kết hợp trong quá trình tổ chức các hoạt động dịch vụ, kinh doanh của HTX tạo

hệ một hệ thống các chuỗi liên kết giữa các bên nhằm khơi thông dòng chảy của

sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế thị trường sao tiết kiệm tối đa chi phí vận

chuyển, lưu thông, giảm thiểu thời gian lưu thông của nông sản phẩm, hạn chế

tới mức tối đa những thiệt hại do tính mau hỏng, thời vụ của nông sản phẩm sao

cho đem lại hiệu quả kinh tế cho các bên là cao nhất.

Tuy nhiên để khuyến khích HTX và đặc biệt là HTX nông nghiệp trên địa

bàn tỉnh phát triển, Nhà nước cần bổ sung, ban hành thêm một số chính sách và

thực hiện một số giải pháp mang tính hỗ trợ về kinh tế, để khuyến khích, tạo thuận

lợi cho HTX nông nghiệp phát triển:

- Đổi mới chính sách tài chính tín dụng nhằm tạo điều kiện cho hộ nông dân

61

được tiếp cận các nguồn vốn dễ dàng hơn, được vay vốn lớn hơn và dài hơn theo

chu kỳ sản xuất kinh doanh cây, con cụ thể.

- Đổi mới chính sách đất đai nhằm tạo điều kiện cho sản xuất nông

nghiệp hàng hoá quy mô lớn theo hướng đẩy nhanh tiến độ giao đất, cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, đẩy mạnh dồn điền đổi thửa nhằm khắc phục tình

trạng manh mún về đất đai, tạo điều kiện đẩy mạnh cơ giới hoá, áp dụng triệt để

tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, giảm các chi phí canh tác…

- Đổi mới chính sách thị trường đối với lĩnh vực nông nghiệp theo hướng

bình ổn giá một số vật tư nông nghiệp quan trọng như phân bón, thuốc bảo vệ thực

vật, giống…; xây dựng hệ thống cung cấp thông tin về thị trường, yếu tố đầu vào

đầu ra của sản xuất nông nghiệp và đưa ra những dự báo chính xác về thị trường

nông sản phẩm trong nước và thế giới để các HTX nông nghiệp có hướng điều

chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh cho phù hợp.

- Đổi mới chính sách và các hoạt động khoa học công nghệ liên quan đến lĩnh

vực nông nghiệp theo hướng tăng cường hoạt động khuyến nông, đầu tư hơn nữa

cho công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông

nghiệp; Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí cho các hộ nông dân, trang trại, HTX

nông nghiệp, doanh nghiệp trong việc cung ứng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản

xuất nông nghiệp.

- Đổi mới chính sách đầu tư đối với nông nghiệp nông thôn và các lĩnh vực

liên quan trực tiếp tới nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển kết cấu hạ tầng

ở nông thôn như đường giao thông, điện, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống thông tin liên

lạc, hệ thống chợ…; đầu tư phát triển các ngành công nghiệp chế biến phục vụ

cho nhu cầu dân sinh tại chỗ , bảo quản nông sản phẩm và gắn kết với thị trường

tiêu thụ.

3.2.3. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hợp tác xã

nông nghiệp

Hiện nay, tổ chức bộ máy cán bộ trong các HTX nông nghiệp là một vấn

đề nổi cộm không chỉ riêng với tỉnh Hòa Bình cần phải được xem xét, giải quyết

62

thấu đáo. Nhiều HTX nông nghiệp vẫn còn rất lúng túng trong việc sắp xếp đội ngũ

cán bộ, cán bộ đã gắn bó lâu năm với HTX thì lại hạn chế về chuyên môn, trình độ,

hạn chế trong cách tiếp cận với cơ chế thị trường còn đội ngũ nguồn nhân lực có

trình độ được đào tạo bài bản, mạnh dạn trong cách tiếp cận với cơ chế thị

trường lại không mặn mà làm việc trong các HTX nông nghiệp dẫn đến cán bộ ở

các HTX nông nghiệp vừa yếu vừa thiếu do vậy hiệu quả hoạt động của các HTX

nông nghiệp là rất thấp. Chính vì vậy để giải quyết vấn đề trên cần thực hiện các

giải pháp sau:

- Quy hoạch phát triển cán bộ HTX nông nghiệp: Trước hết phải xây

dựng quy hoạch cán bộ lấy đó làm cơ sở thực hiện công tác cán bộ HTX

nông nghiệp trong những năm tới, hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, đào tạo, bồi

dưỡng, thu hút và sử dụng đội ngũ cán bộ HTX nông nghiệp.

HTX nông nghiệp là tổ chức được tự chủ trong mọi hoạt động của mình theo

quy định của pháp luật, trong đó có công tác cán bộ. Chính vì vậy, rất cần có sự

quan tâm chỉ đạo của các cấp các ngành trong việc định hướng chiến lước phát

triển nguồn nhân lực cho các HTX nông nghiệp nhưng cũng cần có sự độc lập

tương đối, quyền tự chủ trong việc bầu chọn của xã viên với những người thực

sự có năng lực, tinh thần và trách nhiệm với HTX.

Sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp các ngành và trực tiếp là sự chỉ đạo của

Uỷ ban nhân dân Tỉnh phối kết hợp với Liên minh HTX, chi cục Phát triển nông

thôn và phòng nông nghiệp các huyện, phòng kinh tế thành phố đối với công tác

cán bộ của các HTX nông nghiệp được thể hiện thông qua các hình thức tập

huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, tuyên truyền, giáo dục nâng cao

dân trí nói chung và trình độ văn hoá, nhận thức của cán bộ HTX nông nghiệp nói

riêng; hỗ trợ tài chính cho các đơn vị và tổ chức đào tạo cho công tác cán bộ HTX

nông nghiệp, phối hợp xây dựng quy hoạch cán bộ, kế hoạch đào tạo, bồi

dưỡng…cán bộ HTX nông nghiệp trong những năm tới.

- Coi trọng công tác đào tạo, bồi bưỡng cán bộ HTX nông nghiệp.

Cần phải có sự phân công rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm trong đào tạo,

63

bồi dưỡng cán bộ HTX nông nghiệp giữa các đơn vị liên quan để các bên chủ động

bố trí, triển khai các chương trình kế hoạch đào tạo cụ thể tránh chồng chéo nhau

gây ra lãng phí về tài chính và hiệu quả thu về không cao.

Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh cần có sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời thể hiện

bằng những cơ chế chính sách thông thoáng về vốn, về đất đai, về con người… để

tạo điều kiện khuyến khích cán bộ HTX nông nghiệp và bà con xã viên thực sự

tâm huyết với HTX.

Đối với Chi cục Phát triển nông thôn, Liên minh HTX của tỉnh kết hợp với nhau

để triển khai thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh để mở những lớp

tập huấn ngắn hạn, dài hạn cho từng đối tượng: Chủ nhiệm HTX nông nghiệp,

Trưởng ban kiểm soát, Kế toán trưởng…để bổ sung cho họ những thông tin kiến thức

mới về quản lý kinh tế, kinh tế thị trường… phục vụ cho quá trình quản lý điều hành

hoạt động của HTX nông nghiệp được tốt hơn.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX nông nghiệp phải được thực hiện

theo phương châm thường xuyên, liên tục, kết hợp giữa đào tạo với bồi dưỡng, ưu

tiên đào tạo, bồi dưỡng các cán bộ chủ chốt của HTX nông nghiệp. Đa dạng hoá các

hình thức, lựa chọn địa điểm đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của

HTX nông nghiệp và người học.

Trên thực tế, kinh tế tập thể và đặc biệt là hệ thống các HTX nông nghiệp là tổ chức

của tầng lớp dân cư đông đảo nhất của tỉnh nhưng hiệu quả kinh tế đạt đuợc là không cao,

nếu xét về giá trị đóng góp vào giá trị tổng sản phẩm vào cơ cấu chung của tỉnh là rất thấp

nhưng nếu xét về khiá cạnh xã hội mà HTX nông nghiệp mang lại là rất lớn, thông qua

hệ thống HTX nông nghiệp đã phần nào giải quyết được công ăn việc làm cho người lao

động, góp phần giải quyết an ninh lương thực quốc gia và đặc biệt là ổn định tình hình an

ninh trật tự xã hội ở địa phương. Chính vì vậy, Tỉnh cần phải thực sự đầu tư hơn nữa cho

công tác đạo tào, bồi dưỡng cho cán bộ các HTX nông nghiệp để hệ thống các HTX

nông nghiệp trong Tỉnh ngày một lớn mạnh và tương xứng với quy mô của nó và ngang

64

tầm với các thành phần kinh tế khác trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

3.2.4. Lựa chọn mô hình Hợp tác xã nông nghiệp phù hợp với đặc điểm cụ thể của

từng huyện

Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh và

các HTX nông nghiệp trên phạm vi cả nước, từ đó đưa ra một số mô hình điển hình phù

hợp với điềukiện từng huyện để trên cơ sở đó các HTX nông nghiệp ở từng huyện tuỳ vào

đặc điểm, điều kiện mà có sự lựa chọn phù hợp trên cơ sở lựa chọn có chọn lọc những mặt

mạnh, điểm yếu của các mô hình HTX nông nghiệp tham khảo. Cho dù mỗi huyện có thể

lựa chọn có cải tiến cho mình một mô hình cụ thể tuy nhiên cho dù lựa chọn mô hình nào đi

chăng nữa vẫn phải quán triệt được các yêu cầu cụ thể sau:

- Mô hình phát triển HTX nông nghiệp phải gắn chặt với mục tiêu CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn và CNH, HĐH đất nước nói chung nhằm đưa

đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.

- Mô hình phát triển HTX nông nghiệp phải được đặt trong bối cảnh xây

dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự

điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN, đặc biệt rất cần có sự hỗ trợ của

Nhà nước.

- Mô hình phát triển HTX nông nghiệp phải được đặt trên nền tảng kinh tế hộ

nông dân, phát huy hơn nữa vai trò tự chủ, tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng, lâu

dài của kinh tế hộ nông dân.

- Mô hình phát triển HTX nông nghiệp phải quán triệt chủ trương, đường lối của

Đảng và Nhà nước về phát triển HTX nông nghiệp, tinh thần của Luật HTX, đồng

thời tuân thủ các nguyên tắc HTX mà Liên minh HTX quốc tế đã đề ra.

3.2.5. Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước

3.2.5.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý

Trên cơ sở tôn trọng bản chất của HTX, các giá trị và nguyên tắc cơ bản của

HTX, trong những năm tới cần phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều

kiện cho hệ thống HTX nông nghiệp phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt

Nam :

65

- Tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn thiện Luật HTX sát với yêu cầu của thực

tế và tâm tư nguyện vọng của đa số hộ nông dân trong điều kiện hộ là đơn vị

kinh tế tự chủ, có quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, tạo nền tảng vững chắc cho

HTX nông nghiệp phát triển.

- Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, thể chế cho HTX nông nghiệp thành lập

và hoạt động theo đúng nguyên tắc hợp tác, đảm bảo cho HTX nông nghiệp vươn

lên phát triển và cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế thị trường.

- Làm rõ lợi thế, tiềm năng riêng có và lợi ích của mô hình HTX nông

nghiệp để từ đó có những hướng hỗ trợ, khuyến khích phát triển và ngược lại

sẽ có những biện pháp khắc phục, tháo gỡ- Ban hành hướng dẫn thực hiện việc

đóng bảo hiểm bắt buộc cho cán bộ, xã viên và cá nhân người lao động làm

việc thường xuyên cho các HTX nông nghiệp theo quy định của Bộ Luật lao

động để khuyến khích và tạo sự yên tâm, gắn bó hơn với HTX cho các cán bộ có

công lao, gắn bó thường xuyên với HTX.

3.2.5.2. Hoàn thiện một số chính sách vĩ mô nhằm thúc đẩy phát triển Hợp tác xã

nông nghiệp

* Chính sách tài chính- tín dụng

Trước hết Nhà nước cần kiên quyết và giải quyết triệt để các khoản nợ đọng kéo

dài mà các HTX nông nghiệp chuyển đổi phải kế thừa từ các HTX nông nghiệp

trước đây nhằm lành mạnh hoá tài chính của các HTX nông nghiệp Đối với khoản

HTX nông nghiệp nợ doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức đoàn thể và các khoản nợ khác

có đủ điều kiện xử lý thì được xử lý theo các quy định cụ thể tuy nhiên, việc rà soát số

nợ và thực hiện xoá nợ cho các HTX nông nghiệp cần được tiến hành cẩn trọng nhằm

tránh những tiêu cực phát sinh. Cụ thể là :

Các khoản nợ đọng của HTX nông nghiệp với doanh nghiệp nhà nước cần thực

hiện hoàn chỉnh hồ sơ gửi Cục thuế để xem xét, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết

định xóa nợ theo quy định. Trường hợp doanh nghiệp nhà nước đã áp dụng các biện

pháp dùng quỹ dự phòng phải thu khó đòi để bù đắp mà vẫn gặp khó khăn về tài chính

thì Uỷ ban nhân dân tỉnh sử dụng ngân sách tỉnh để hỗ trợ.

66

Đối với các khoản nợ đọng của HTX nông nghiệp nợ tổ chức, đoàn thể và các

đối tượng khác, Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định xoá nợ cho các HTX nông

nghiệp. Các tổ chức đoàn thể khi xoá nợ cho cho các HTX nông nghiệp nếu gặp khó

khăn về tài chính thì ngân sách tỉnh sẽ hỗ trợ cho các tổ chức, đoàn thể.

Trường hợp HTX nông nghiệp nợ xã viên mà HTX nông nghiệp đã giải thể

hoặc còn hoạt động nhưng gặp nhiều khó khăn về tài chính, không có khả năng trả nợ

thì ngân sách Tỉnh có hướng để bố trí để trả xã viên. Nếu ngân sách tỉnh có khó khăn

không cân đối đủ thì báo cáo Bộ tài chính tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ.

Tăng cường phát huy nội lực, giải quyết những khó khăn về vốn trong qúa

trình sản xuất bằng cách huy động vốn tại chỗ, cho vay tại chỗ, đầu tư tại chỗ, hiệu

quả tại chỗ vừa tăng tính cộng đồng vừa tạo được sự gắn kết gần gũi hơn với xã

viên với các tổ chức của HTX nông nghiệp.

Đề xuất về chính sách bảo hiểm sản xuất, xây dựng quỹ hỗ trợ rủi ro cho các

HTX nông nghiệp trong đó một phần kinh phí được nhà nước hỗ trợ, một phần do

HTX nông nghiệp tự trích. Bởi lẽ, sản xuất nông nghiệp thường chịu rủi ro do

thiên tai, dịch hại và sự biến động bất thường của thời tiết chính vì vậy việc thành

lập quỹ bảo hiểm, quỹ dự phòng sẽ giảm thiểu được những rủi ro xảy ra, tránh

được những thiệt hại trong quá trình sản xuất.

* Chính sách đất đai.

Cơ quan chức năng cần phải có những hướng dẫn về giao đất và cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp trong đó phải nêu rõ các thủ

tục, các loại giấy tờ cần thiết và quy định thời hạn xét duyệt áp dụng cho từng loại

đất cụ thể mà HTX đang quản lý và sử dụng

Khuyến khích và tạo điều kiện cho hộ nông dân chuyển đổi, dồn điền đổi

thửa ruộng đất để phát triển sản xuất hàng hoá theo hướng quy mô lớn,

chuyên môn hoá, mở rộng ngành nghề nông thôn, đa dạng hoá chủng loại... thuận

tiện cho quá trình phát triển sản xuất.

Hướng dẫn cụ thể việc thực hiện chính sách giao đất, cho thuê đất để các

HTX nông nghiệp làm trụ sở, nhà kho...Mở rộng mức độ, thời hạn và đối

67

tượng HTX nông nghiệp được hưởng chế độ ưu đãi về thuê đất, đồng thời phải có

những cơ chế quản lý chặt chẽ để tránh tình trạng sử dụng đất lãng phí và các tiêu

cực khác về đất đai.

* Chính sách thị trường. Tỉnh cần xây dựng hệ thống thông tin, dự báo về thị trường trong nước và

quốc tế các yếu tố đầu ra, đầu vào của quá trình sản xuất để từ đó có những thông

tin kịp thời cho các HTX nông nghiệpvà trên cơ sở đó các HTX nông nghiệp có

nhữnghướng điều chỉnh cho phù hợp và hiệu quả. Tuy nhiên, những thông tin có

được phải được cung cấp cho các HTX nông nghiệp một cách kịp thời, chính

xác và đầy đủ tránh tình trạng nguồn thông tin sai lệch, cung cấp muộn gây thiệt

hại cho các HTX nông nghiệp.

Phát triển các mạng lưới chợ nông thôn, các trung tâm giới thiệu sản phẩm cho

các HTX nông nghiệp, phát triển đa dạng hoá các loại hình tiêu thụ. Đặc biệt phát

huy vai trò của HTX làm dịch vụ tiêu thụ nông sản phẩm cho kinh tế hộ, kinh tế

trang trại.

Mỗi HTX nông nghiệp cần được hỗ trợ của các cấp, các ngành để thành lập

một weside để giới thiệu sản phẩm của HTX nông nghiệp sang các tỉnh thành khác

và các quốc gia khác trên thế giới. Đây là một kênh thông tin quan trọng để quảng

bá sản phẩm và xúc tiến thương mại thực sự có hiệu quả nhất là trong xu hướng

hội nhập và mở cửa của nền kinh tế toàn cầu.

* Chính sách hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Tỉnh cần tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ

khoa học phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Cần có những chính sách khuyến khích,

đãi ngộ thoả đáng cho những các nhân, tập thể có kết quả nghiên cứu thực sự hữu

ích, làm lợi cho các HTX nông nghiệp.

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác ứng

dụng, tuyên truyền, phổ biến các tiến bộ KHCN phục vụ sản xuất nông

nghiệp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ HTX nông nghiệp, họ là những người

thực sự gắn bó với HTX nông nghiệp và qua họ những kiến thức về KHCN

68

sau khi được đào tạo sẽ được triển khai rộng rãi trên các HTX nông nghiệp

bởi họ chính là cầu nối giữa tổ chức KHCN và người sản xuất nông nghiệp.

Tỉnh cần có những đầu tư thích đáng cho công tác nghiên cứu, ứng dụng

KHCN trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp từ khâu sản xuất giống đến phương pháp

canh tác, đồng thời hỗ trợ một phần kinh phí cho các HTX nông nghiệp trong việc

đầu tư ứng dụng tiến bộ KHCN trong sản xuất nông nghiệp để các HTX nông

nghiệp mạnh dạn hơn trong việc triển khai, áp dụng KHCN vào sản xuất xây dựng

cơ chế khuyến khích chuyển giao nhanh các tiến bộ KHCN vào sản xuất nông nghiệp,

tạo điều kiện cho quá trình liên kết giữa các HTX nông nghiệp và các tổ chức KHCN

thực sự thuận lợi, chặt chẽ và có hiệu quả hơn.

3.2.5.3. Kiện toàn bộ máy nhà nước đối với Hợp tác xã nông nghiệp

Kiện toàn bộ máy tổ chức, quản lý của các HTX nông nghiệp theo hướng

biên chế cán bộ tinh giản, gọn nhẹ nhưng hiệu quả hoạt động cao. Quy định rõ

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ của hệ thống quản lý HTX nông

nghiệp để từ đó các cán bộ nhận thấy vai trò trách nhiệm và có hướng phấn đầu

vươn lên.

Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo bồi dưỡng các cán bộ chủ

chốt của HTX nông nghiệp về cả chuyên môn, quản lý nhà nước, nhận thức chính

trị để quán triệt chủ trương, đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước về kinh tế

tập thể vào cuộc sống.

Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp các ngành trong việc thực hiện chủ

trương, đường lối và pháp luật của Nhà nước về kinh tế tập thể và đặc biệt là HTX

nông nghiệp. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn Đảng,

toàn dân tạo nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của kinh tế tập thể nói chung và

hệ thống HTX nông nghiệp nói riêng.

Tăng cường sự phối kết hợp giữa các tổ chức đoàn thể và đặc biệt là Liên

69

minh HTX tỉnh để triển khai cụ thể các hoạt động tới các HTX nông nghiệp.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

Phát triển HTX cần phải tôn trọng những điều kiện thực tế, đồng thời áp

dụng những kinh nghiệm phát triển HTX phù hợp với hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể:

lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu chính; trong đổi mới và phát triển kinh tế

HTX cần hết sức coi trọng các nguyên tắc, giá trị của HTX, đặc biệt là nguyên tắc

dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi của những thành viên tham gia, kết hợp hài hòa

lợi ích của xã viên với lợi ích của HTX và cộng đồng; bảo đảm và phát huy tính

tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bản thân các HTX; phát triển vững chắc các

HTX kiểu mới, tổng kết thực tiễn và nhân rộng những mô hình mới, điển hình

tiên tiến, xuất sắc.

Phát triển HTX gắn bó mật thiết, phục vụ thực hiện thắng lợi đường lối và

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Phát triển HTX đáp ứng được những nhu cầu kinh tế, văn hóa, xã hội của

đông đảo các tầng lớp xã hội, liên kết rộng rãi mọi loại hình và tổ chức kinh tế,

đặc biệt chú trọng đối tượng là người lao động, các hộ kinh tế cá thể, những đối

tượng yếu thế trong cạnh tranh thị trường.

Phát triển HTX cần được mở rộng trong mọi lĩnh vực, ngành nghề mà người

dân có nhu cầu, trước hết tập trung phát triển HTX trong khu vực nông nghiệp,

nông thôn, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm và nội dung quan trọng trong chiến

lược phát triển HTX ở địa phương.

Phát triển HTX cũng cần phải quan tâm đến đặc điểm, điều kiện và thế

mạnh của từng vùng, từng khu vực của tỉnh.

Phát triển HTX linh hoạt, đa dạng về hình thức, với nhiều trình độ phát triển

từ thấp đến cao, từ làm dịch vụ sản xuất, đời sống cho các hộ thành viên, xã viên,

đến mở mang ngành nghề, sản xuất kinh doanh tổng hợp.

Thông qua quá trình nghiên cứu, trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình

phát triển, những thuận lợi, khó khăn cũng như phân tích để chỉ ra những điểm

70

mạnh, điểm yếu của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Đề tài nêu

ra một số giải pháp: về phương thức tổ chức và công tác cán bộ; công tác tuyên

truyền Luật HTX, về phát triển kinh tế hợp tác, đặc biệt là trong lĩnh vực nông

nghiệp; tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chỉ đạo của các cấp

chính quyền, đoàn thể; chính sách hỗ trợ công tác chuyển đổi và thành lập mới

HTX; chính sách về đất đai đối với HTX nông nghiệp; chính sách thuế; chính

sách tín dụng; chính sách giải quyết nợ tồn đọng của các HTX; xúc tiến thương

mại; ứng dụng khoa học công nghệ; giải pháp về thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát

triển; giải pháp quản lý tài chính trong các HTX nông nghiệp; giải pháp về đào tạo,

nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý HTX, cán bộ chuyên môn

nghiệp vụ HTX... từ đó, nhằm góp phần nhỏ vào sự phát triển của các HTX nông

nghiệp và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

2. KIẾN NGHỊ

2.1. Kiến nghị Trung ương

- Tăng cường sự chỉ đạo đối với các cấp uỷ đảng trong việc triển khai thực

hiện Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành

Trung ương Đảng khoá IX nhằm chuyển biến và nâng cao nhận thức của cán bộ,

đảng viên và quần chúng nhân dân về vị trí vai trò của kinh tế tập thể.

- Đề nghị Quốc hội tăng cường công tác giám sát việc thực hiện chính sách

phát triển kinh tế tập thể.

- Đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý, hỗ trợ

phát triển HTX; cơ chế hỗ trợ thông tin định hướng phát triển thị trường tiêu thụ

sản phẩm hàng hoá cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân;xây dựng hệ

thống khuyến công, khuyến nông cơ sở và ban hành chính sách hỗ trợ hệ thống

này thực hiện thành công việc chuyển giao khoa học công nghệ về nông thôn.

- Chính phủ tăng cường chỉ đạo các bộ ngành, các địa phương hướng dẫn thực

hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể đã ban hành.

- Đề nghị Liên minh HTX Việt Nam, trường cán bộ HTX tổ chức tập huấn

bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, chuyên viên theo dõi về phát triển kinh tế hợp tác,

71

HTX của Liên minh HTX, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương.

2.2. Kiến nghị với UBND tỉnh Hòa Bình

- Kịp thời rà soát các văn bản, sửa đổi các quy định chưa phù hợp trong quá

trình tổ chức thực hiện, điều chỉnh kịp thời những vấn đề phát sinh trên thực tế phù

hợp với các văn bản quy định của hệ thống văn bản pháp luật về phát triển kinh tế

tập thể và chính sách đối với các HTX nông nghiệp, tính nhất quán của chính

sách, tính đồng bộ, khả thi trong tổ chức thực hiện.

- Tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể.

- Xác định rõ và phân nhiệm cụ thể cơ quan quản lý nhà nước về HTX và

các cơ quan khác đối với khu vực kinh tế hợp tác của địa phương.

- Chỉ đạo các ban ngành liên quan tuỳ theo chức năng nhiệm vụ của

mình có những hoạt động cụ thể để hỗ trợ các HTX nông nghiệp của địa

phương. Phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện đề án “Tiếp tục đổi mới,

phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế hợp tác, HTX tỉnh Hòa Bình giai đoạn

20010-2015”. Bố trí cán bộ, chuyên viên chuyên trách về phát triển kinh tế hợp

tác, HTX ở các huyện, thành phố, thị xã.

- Chú trọng trong việc tổ chức thực hiện các chính sách giao đất và cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX; đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ HTX và các

hoạt động thông tin tuyên truyền về HTX; hướng dẫn bảo hiểm xã hội; lồng ghép

các chương trình, dự án; vấn đề tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp…

- Thành lập “Quỹ hỗ trợ phát triển HTX tỉnh Hòa Bình”, “Quỹ tín dụng

nhân dân” nhằm giúp các HTX nông nghiệp về vốn phát triển sản xuất kinh doanh

dịch vụ...

- Thường xuyên tổ chức các diễn đàn lắng nghe các khó khăn vướng mắc

của các HTX nông nghiệp và bàn các giải pháp tháo gỡ.

2.3. Kiến nghị với sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên

minh HTX tỉnh Hòa Bình

Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ và người

72

dân về thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phát

triển kinh tế tập thể.

Chủ động, thực hiện triệt để các chính sách về phát triển kinh tế hợp tác,

HTX đặc biệt chú trọng đối với các HTX nông nghiệp nhằm đảm bảo quyền và

lợi ích của HTX và xã viên, người lao động.

Phát huy tiềm năng và thế mạnh của địa phương, thực hiện tốt việc lồng ghép

các chương trình dự án nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao của khu vực kinh tế tập

73

thể.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Michael E. Porter (2008), Lợi thế cạnh tranh quốc gia và Lợi thế cạnh

tranh, NXB Trẻ.

2. Michael E. Porter (2008), Chiến lược cạnh tranh, NXB Trẻ.

3. Dương Ngọc Dũng (2009), Chiến lược cạnh tranh theo lí thuyết của

Michael Porter, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Chu Thị Hảo, Naoto Imagawa (năm 2003), Quá trình phát triển của

hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam, NXB nông nghiệp.

5. Niên giám thống kê Tỉnh Vĩnh phúc năm 2008, 2009, 2010.

6. PGS.TS Phạm Thị Cần, TS Vũ Văn Phúc, PGS.TS Nguyễn Văn Kỷ

và tập thể tác giả (năm 2002), Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta

hiện nay, NXB chính trị quốc gia.

7. GS.TS. Hồ Văn Vĩnh- TS Nguyễn Quốc Thái (2005), Mô hình phát

triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam, NXB nông nghiệp.

8. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996), Luật

Hợp tác xã, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật

Hợp tác xã, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt

Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 –

2020.

11. Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban

hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

12. Nghị quyết 5 năm Đại hội Đảng bộ lần thứ XV của tỉnh Hòa Bình.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

PHIẾU ĐIỀU TRA

TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HTX NÔNG NGHIỆP

TỈNH HÒA BÌNH

Số phiếu……..

Hợp tác xã:…………………………………………………………………… Họ

tên chủ nhiệm HTX……………………………………………………....

Xóm:………………………………………………………………………….

Xã:……………………………………………………………………………

Huyện:……………………………………………………....Tỉnh Hòa Bình

Thực hiện năm 2010

PHẦN I - TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HTX

1. Tên HTX:……………………………………………………………………

2. HTX thành lập mới (1)…………… HTX chuyên đổi (2)...………………...

3.Xã:……………………………Huyện:…….…………Tỉnh Hòa Bình.

4. Họ và tên chủ nhiệm HTX:…………………………………………………

5. Tổng số hộ………………….hộ. Tổng số đảng viên……….……đảng viên.

6. Tổng số khẩu:…………………………………………...khẩu.

7. Tổng số lao động:…………………………………...lao động.

8. Đại diện hộ xã viên:……………………………………….hộ.

9. Đại diện lao động là xã viên:……………………….lao động.

10. HTX xếp loại (Khá, Trung bình, Yếu):…………………............................

11. Quy mô HTX:…………………(1 - Toàn xã; 2 - Liên xóm; 3 - Xóm, bản)

12.Ngày tháng năm thành lập (Chuyển đổi):………………………………….

13. Ngày tháng năm được cấp phép đăng ký kinh doanh:…………………….

14. Nếu chưa được cấp lý do:…………………………………………………

………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

15. Ngày tháng năm đi vào hoạt động………………………………………...

Biểu số 1

Tình hình đất đai của HTX

STT Danh mục Đvt 2008 2009 2010

m2

I 1 Tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích trồng cây lâu năm

- Diện tích đất 1 vụ m2

- Diện tích đất 2 vụ m2

m2 - Diện tích đất HTX quản lý cho đấu thầu Diện tích trồng cây lâu năm

- Diện tích cây công nghiệp m2

- Diện tích cây ăn quả m2

m2 - Diện tích cây lâu năm HTX quản lý đấu thầu Diện tích ao hồ đầm

Diện tích HTX quản lý cho thầu m2

Tổng diện tích đất đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ)

II 1 2 3 4 5 m2 m2 m2 m2 m2 m2

Tổng diện tích đất lâm nghiệp Diện tích rừng tự nhiên Diện tích rừng trồng Diện tích đất trống đồi núi trọc Diện tích HTX quản lý cho đấu thầu Diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ)

B i ể u s ố 2

Bộ máy quản lý của HTX

1. Ban quản trị HTX:…………..người.

2. Ban kiểm soát HTX:…………người.

3. Đội trưởng đội sản xuất:……………………..người.

4. Tổ trưởng tổ dịch vụ:………….người.

5. Cán bộ giúp việc cho HTX:…………..người.

6. Hệ thống sổ sách kế toán HTX (Sổ đơn hay kép)………………..

STT Danh mục Ban quản trị Ban kiểm soát Đội trưởng đội sản xuất Xã viên HTX Tổ trưởng tổ dịch vụ

I Chính trị Đảng viên

II 1 2 Trình độ lý luận chính trị Sơ cấp lý luận chính trị Trung cấp lý luận chính trị

III Công việc kiêm nhiệm

IV 1 2 3 Trình độ văn hoá Tiểu học Trung học cơ sở Phổ thông trung học

Trình độ nghiệp vụ Chưa được bồi dưỡng, tập huấn Bồi dưỡng tập huấn ngắn ngày Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học V 1 2 3 4 5 6

Biểu số 3

PHẦN II - TÀI SẢN, VỐN QUỸ, CÔNG NỢ CỦA HTX

Tài sản của HTX

STT Tên tài sản Số lượng Đơn giá Thành tiền

1

2

3

4

Tổng giá trị TSCĐ của HTX Vật kiến trúc - Nhà làm việc - Nhà kho - Sân phơi - Cửa hàng - Các kiến trúc khác Máy móc thiết bị - Trạm điện - Máy xay xát - Trạm bơm (điện) - Trạm bơm (xăng, dầu) - Dây dẫn điện - Máy móc thiết bị khác Các công trình thuỷ lợi - Hồ đập - Kênh mương - Đập .......

Biểu số 4

Vốn quỹ của HTX

ĐVT: Đồng

STT Danh mục nguồn vốn Số tiền Ghi chú

Tổng giá trị TSCĐ Tổng vốn của HTX 1

- Vốn tự có

- Vốn đi vay

- Vốn khác

Tổng số vốn lưu động

- Vốn tự có 2

- Vốn đi vay

- Vốn khác

3 Tổng số vốn do xã viên đóng góp

- Vốn cũ của HTX

- Vốn góp cổ phần của xã viên

4 Tổng các quỹ của HTX

- Quỹ đầu tư phát triển sản xuất

- Quỹ khen thưởng

- Quỹ phúc lợi

- Quỹ dự phòng

- Quỹ khác

Biểu số 5

Công nợ của HTX

Đ V T : n g h ì n đ ồ n g

STT Danh mục Thời điểm nợ Ghi chú Lý do nợ

Số nợ trước chuyển đổi hoặc thành lập mới HTX

Số nợ sau chuyển đổi hoặc thành lập mới HTX

I 1

Nợ HTX phải trả Tổng số nợ HTX phái trả - Nợ thuế nhà nước - Nợ ngân hàng - Nợ các doanh nghiệp NN khác - Nợ xã viên - Nợ khác Đã được khoanh nợ Khả năng thực tế trả nợ

II 1

Nợ HTX phải thu Tổng số nợ phải thu của HTX - Xã viên nợ HTX + Xã viên nợ trước chuyển đổi + Xã viên nợ sau chuyển đổi - Các đối tượng khác nợ HTX + Nợ cũ trước chuyển đổi + Nợ mới sau chuyển đổi - Khả năng thực tế thu hồi nợ - Đề nghị Nhà nước xoá nợ + Xoá nợ thuế + Xoá nợ ngân hàng + Xoá nợ doanh nghiệp nhà nước khác

Biểu số 6

PHẦN III - KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG HTX

Kết quả sản xuất, kinh doanh dịch vụ và phân phối trong HTX

Đvt: đồng

Danh mục Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 STT

1

2

3 4

Tổng doanh thu - Thu trích từ sản lượng lương thực - Thu từ các diện tích cho đấu thầu - Thu từ dịch vụ thuỷ lợi - Thu từ dịch vụ vật tư nông nghiệp - Thu từ dịch vụ làm đất - Thu từ dịch vụ xay xát - Thu từ dịch vụ bảo vệ đồng ruộng - Thu bảo vệ thực vật - Thu từ dịch vụ điện - Thu khác Tổng chi phí - Chi phí trực tiếp - Chi phí gián tiếp Lãi hoặc lỗ Phân phối - Xử lý các khoản lỗ năm trước (nếu có) - Trích các loại quỹ - Chia vốn góp - Chia mức độ sử dụng - Chia cho mức độ sử dụng dịch vụ Tham gia BHXH 5

Biểu số 7 Thù lao cho cán bộ HTX

Đ V T : đ ồ n g

Mức thù lao được hưởng STT Chức danh Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Chủ nhiệm 1

Phó chủ nhiệm 2

Uỷ viên Ban quản trị 3

Trưởng ban kiểm soát 4

Kế toán trưởng 5

Thủ quỹ 6

Thủ kho 7

Đội trưởng đội sản xuất 8

Đội phó đội sản xuất 9

10 Tổ trưởng tổ dịch vụ 11 Tổ phó tổ dịch vụ 12 Nhân viên bán hàng

Tổng cộng

CHỦ NHIỆM HTX NGƯỜI ĐIỀU TRA

(Ký tên, đóng dấu) (Ký, ghi rõ học tên)

1 2