
Tiểu luận
PHÂN TÍCH SỰ CẦN THIẾT CỦA CƠ CHẾ NHÂN
QUYỀN ASEAN.
CƠ CHẾ NHÂN QUYỀN NHƯ THẾ NÀO LÀ PHÙ
HỢP VỚI KHU VỰC.

I. Nguyên nhân của sự cần thiết phải có một cơ chế nhân quyền ASEAN:
1. Xu hướng:
a. Tính phổ quát:
(nhắc lại) Tính phổ quát của nhân quyền để thể hiện khi sự tồn tại của con
người là hiển nhiên, đáng quý trọng, có giá trị cao quý và được công nhận rộng rãi
từ thời xa xưa cho đến nay bởi ngày càng nhiều các quốc gia, lục địa bằng các văn
bản, điều ước song và đa phương. Con người được sinh ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc
nào, với bất kỳ màu da nào cũng có quyền được sống, mưu cầu hạnh phúc, được đối
xử bình đẳng, được có khát vọng về hòa bình, công lý và tự do, dân chủ. Quyền làm
người là điều sẵn có trong mỗi con người, không thể tách rời, nếu như quyền con
người không được thừa nhận, những yếu tố khác như hòa bình, công lý, dân chủ sẽ
trở thành vô giá trị.
Ngày nay, tính phổ quát của nhân quyền đã được cụ thể hóa bằng những
hiệp định, công ước, điều ước, hiến chương … đặc biệt là bản Tuyên ngôn quốc tế
về nhân quyền của LHQ được hầu hết các nước trên thế giới chấp thuận ký kết.
Nhận thức được đặc tính này của nhân quyền, các cơ chế bảo vệ nhân
quyền của các nước lần lượt ra đời với thẩm quyền và hiệu quả cao, đảm bảo
quyền con người được bảo vệ chặt chẽ nhất có thể ở mỗi khu vực khác nhau như
châu Âu, châu Mỹ, châu Phi …
Hiện nay, ASEAN cũng là một tổ chức, một cộng đồng phối hợp hoạt
động hiệu quả trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đưa đến việc có một cơ
chế nhân quyền là điều cần thiết để một lần nữa khẳng định sự nhận thức về tính
phổ quát của nhân quyền trên thế giới nói chung và trong khu vực nói riêng.
b. Sự hình thành cơ chế các khu vực:
Theo thời gian, nhận thấy sự cần thiết phải bảo vệ quyền con người trong
từng khu vực địa lý cụ thể bởi cơ chế toàn cầu không thể đáp ứng được nhu cầu
được bảo vệ của con người ngày càng mạnh mẽ, bênh cạnh đó, sự khác biệt về địa
lý, tôn giáo, văn hóa của từng khu vực càng khiến cho cơ chế toàn cầu hoạt động
kém hiệu quả, các cơ chế khu vực đã dần hình thành và hoàn thiện dần, bảo đảm
cho quyền con người ở mỗi khu vực được bảo vệ chặt chẽ nhất có thể.
Các cơ chế hiện có bao gồm: cơ chế nhân quyền Châu Âu, Châu Mỹ và
Châu Phi.

Sơ lược về hoạt động của các cơ chế:
- Cơ chế nhân quyền châu Âu: bao gồm Tòa án nhân quyền châu Âu và
Hội đồng bộ trưởng. Tòa án chấp nhận đơn khiếu nại về các hành vi xâm phạm nhân
quyền từ các đối tượng: quốc gia, tổ chức và cá nhân, đồng thời tư vấn các vấn đề có
liên quan. Hội đồng bộ trưởng có chức năng giám sát việc thi hành các phán quyến
của tòa. Từ khi thành lâp cho đến nay, cơ chế nhân quyền châu Âu đã làm việc rất
hiệu quả, giải quyết được rất nhiều vụ việc.
- Cơ chế nhân quyền châu Mỹ: bao gồm Ủy ban đặc trách nhân quyền
châu Mỹ và Tòa án nhân quyền châu Mỹ. Ủy ban có nhiệm vụ tiếp nhận và giám sát
các kiến nghị nhằm cáo buộc một quốc gia thành viên OAS (Tổ chức các nước châu
Mỹ) về lạm dụng nhân quyền. Tòa án có nhiệm vụ thực thi và giải thích các quy định
trong Công ước nhân quyền Châu Mỹ. Tòa án chỉ được tiếp nhận vụ việc sau khi đã
thông qua Công ước, Ủy ban đặc trách đã hoàn thành việc điều tra và vụ việc được
đưa ra tòa bởi chính Ủy ban 3 tháng sau khi UB đưa ra báo cáo. Cá nhân hoặc người
trình kiến nghị không thể độc lập đưa vụ việc ra trước tòa.
- Cơ chế nhân quyền châu Phi: bao gồm Ủy ban nhân quyền châu Phi được
thành lập với 3 chức năng chủ yếu: (1) Bảo vệ nhân quyền và quyền dân tộc (2) Đẩy
mạnh nhân quyền và quyền dân tộc (3) Giải thích hiến chương châu Phi về nhân
quyền và quyền dân tộc. Tòa án nhân quyền châu Phi cũng đã được lập ra, tuy nhiên
cho đến nay vẫn chưa giải quyết được vụ việc nào cụ thể.
Nhìn chung, trong các cơ chế khu vực, có cơ chế hiệu quả cao, có cơ chế hiệu
quả chưa cao, tuy nhiên, so với cơ chế toàn cầu, các cơ chế khu vực đã giải quyết
được một phần lớn vấn đê lạm dụng và vi phạm nhân quyền.
2. Thực trạng chung:
1959 1954 1998 1978 1987
Ủ
y ban nhân
quyền Châu Âu
Ủ
y ban đ
ặ
c
trá
ch nhân
quyền Châu Mỹ
Tòa nhân quyền Châu Mỹ
Ủ
y ban châu Phi v
ề
con ng
ườ
i
và quyền con người
Tò
a nhân quy
ề
n
tá
ch
khỏ
i
Ủy ban nhân quyền châu Âu
trở thành tòa độc lập

a. Hợp tác toàn cầu:
Quá trình phát triển của luật quốc tế về nhân quyền không thể không kể tới sự
tham gia tích cực và những đóng góp thiết thực của các nước khu vực Đông Nam Á
nói riêng và của tổ chức ASEAN nói chung. Trên tinh thần của Tuyên ngôn Toàn thế
giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc ra đời năm 1948, cho đến nay, cộng
đồng quốc tế đã soạn thảo, ban hành và ký kết khoảng 80 công ước, tuyên bố quốc tế
về quyền con người, trong đó có những công ước quan trọng như Công ước về các
quyền dân sự, chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước
về chống phân biệt chủng tộc; Công ước chống tra tấn; các công ước về quyền trẻ em,
phụ nữ, người tàn tật, người di cư, các dân tộc thiểu số...Hiện nay, 10 nước ASEAN
đều đã tham gia ký kết một hay một vài các công ước quan trọng của LHQ về quyền
con người. Là một thành viên của LHQ, Việt Nam tham gia tích cực vào việc ký kết,
phê chuẩn và thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền con người, là một trong số nhỏ các
nước tham gia 8/9 công ước cơ bản về quyền con người của LHQ. Việt Nam cũng đã
được bầu là thành viên của Ủy ban nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2001 - 2003. Những
biểu hiện này cho thấy mức độ hợp tác sâu sắc của các nước Đông Nam Á, mà đại
diện tiêu biểu là Việt Nam, trong nỗ lực đưa luật nhân quyền quốc tế phát triển mạnh
mẽ trong cộng đồng thế giới. Các nước ASEAN tìm thấy tiếng nói chung với cơ chế
nhân quyền toàn cầu được hình thành và phát triển trong suốt hơn 60 năm qua và luôn
khẳng định quan điểm không đứng ngoài lề với những nỗ lực của nhân loại trong việc
khuyến khích và định hướng thúc đẩy các quyền con người trên phạm vi toàn thế giới.
b. Hợp tác nội khối:
Sau hơn 40 năm thành lập và phát triển, ASEAN ngày một lớn mạnh, trở
thành một tổ chức khu vực có uy tín và có sự hợp tác cao độ trên nhiều lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đạt được sự đồng thuận, thống nhất từ nội bộ khối là
động lực chủ yếu giúp ASEAN ngày càng mạnh hơn và nâng cao tầm ảnh hưởng của
mình với các khu vực khác. Hợp tác về nhân quyền không là ngoại lệ trong bước phát
triển của ASEAN và hiện nay dân chủ, nhân quyền – một trong những vấn đề khá
nhạy cảm – đã trở thành chủ đề quan trọng được đưa vào các chương trình nghị sự
của ASEAN. Khác với nhiều năm về trước, thời gian gần đây, các nước ASEAN đã
thẳng thắn đối thoại ở cấp độ đa phương về các vấn đề nhân quyền xảy ra trong khu
vực, thẳng thắn lên tiếng với các biểu hiện được cho là hạn chế nhân quyền như vụ
việc bắt giữ những người hoạt động dân chủ ở Myanmar hay việc nhà nước Myanmar
thực hiện chính sách cấm hàng cứu trợ của nước ngoài cho nạn nhân bão Nargis vì

chính những bất ổn chính trị của nước này. Ngay sau khi thông qua Hiến chương
ASEAN với một phần quan trọng là điều 14 nói đến việc thành lập Ủy ban phụ trách
về Nhân quyền ASEAN, Hàng loạt các hội nghị cấp cao ASEAN đã được tiến hành
để 10 quốc gia bàn thảo và sớm thành lập Ủy ban vào tháng 10/2009. Đứng trước
những lời chỉ trích cho rằng ASEAN không có thái độ kiên quyết đối với những thành
viên bị cộng đồng quốc tế chỉ trích về nhân quyền, Ủy ban phụ trách về Nhân quyền
của ASEAN ra đời sẽ là biểu hiện rõ ràng nhất nói lên sự quan tâm của chính phủ các
nước ASEAN trong vấn đề nhân quyền, là thái độ sẵn sàng thực hiện công khai hóa
tình hình nhân quyền của quốc gia, của khu vực với cộng đồng thế giới.
Hơn nữa, sự ra đời của một Ủy ban phụ trách về nhân quyền ASEAN hay rộng
hơn là một cơ chế nhân quyền ASEAN không chỉ nhằm mục đích là cổ vũ nền dân
chủ cho khu vực, không chỉ mang tính chất tuyên truyền, khuyến khích các quốc gia
tăng cường, đẩy mạnh những hoạt động nhân quyền trong nước mà còn là một
phương thức hữu hiệu nâng cao mức độ hợp tác toàn diện, thống nhất trong toàn khối,
tránh những can thiệp bên ngoài và hạn chế những áp lực từ các nước dân chủ phát
triển khác. Tiếng nói của một quốc gia sẽ hòa cùng tiếng nói của khu vực để mang sức
nặng hơn. Trong trường hợp nghị viện Mỹ có những động thái can thiệp vào tình hình
chính trị Việt Nam, như đưa Việt Nam vào danh sách CPC (danh sách các nước cần
đặc biệt quan tâm về vấn đề nhân quyền) thì các quốc gia còn lại trong Ủy ban nhân
quyền ASEAN sẽ có những phản hồi thiết thực bảo vệ lập trường, quan điểm của
quốc gia hiện nằm trong “tầm ngắm” của Mỹ.
Trong sự đánh giá của cộng đồng thế giới, ASEAN là một trong những khu
vực xuất hiện nhiều điểm nóng nhân quyền khi gần đây có nhiều biểu hiện của sự
giảm sút quyền con người như tình hình bất ổn chính trị, tôn giáo ở Myanmar, Thái
Lan, Việt Nam với các vụ bắt giữ những người hoạt động dân chủ dân quyền; ngăn
cấm hoạt động tự do của các website, đường truyền Internet; đàn áp một số vụ bạo
động của giáo dân, hay tình trạng yếu kém của các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe
cho người dân, nạn bạo hành trẻ em, phụ nữ; tệ tham nhũng, mại dâm, AIDS…Đó là
những vấn đề xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan của các nước
ASEAN nhưng lại bị sự chỉ trích khá gay gắt từ cộng đồng quốc tế. Nếu như có một
Ủy ban phụ trách về vấn đề nhân quyền, các quốc gia ASEAN sẽ có cơ hội đẩy mạnh
hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau để tăng cường những biện pháp thúc đẩy tình hình nhân

