intTypePromotion=1

Phân tích sự lựa chọn ngành học của học sinh lớp 12 theo mô hình RIASEC của Holland

Chia sẻ: Vi4mua Vi4mua | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
22
lượt xem
1
download

Phân tích sự lựa chọn ngành học của học sinh lớp 12 theo mô hình RIASEC của Holland

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này phân tích dự định lựa chọn ngành học của học sinh lớp 12 tại tỉnh Thừa Thiên - Huế theo mô hình RIASEC. Thông tin được thu thập bằng phiếu, bao gồm giới tính, ngành học sẽ chọn và trắc nghiệm RIASEC theo thang Likert 5 mức độ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phân tích sự lựa chọn ngành học của học sinh lớp 12 theo mô hình RIASEC của Holland

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 4(125).2018<br /> <br /> 37<br /> <br /> PHÂN TÍCH SỰ LỰA CHỌN NGÀNH HỌC CỦA HỌC SINH LỚP 12<br /> THEO MÔ HÌNH RIASEC CỦA HOLLAND<br /> ANALYSING THE CHOICES FOR MAJORS OF GRADE 12 STUDENTS ACCORDING TO<br /> HOLLAND'S RIASEC MODEL<br /> Nguyễn Xuân Trung, Nguyễn Thị Ngọc Huyền<br /> Trường Cao đẳng Giao thông Huế; nxtrung.gtvthue@gmail.com<br /> Tóm tắt - Lý thuyết đặc điểm tính cách của Holland hay mô hình<br /> RIASEC được sử dụng phổ biến trên thế giới trong lựa chọn nghề<br /> nghiệp. Bài viết này phân tích dự định lựa chọn ngành học của học<br /> sinh lớp 12 tại tỉnh Thừa Thiên - Huế theo mô hình RIASEC. Thông<br /> tin được thu thập bằng phiếu, bao gồm giới tính, ngành học sẽ<br /> chọn và trắc nghiệm RIASEC theo thang Likert 5 mức độ. Kết quả<br /> kiểm định cho thấy bộ câu hỏi trắc nghiệm RIASEC là “sử dụng tốt”<br /> với n = 619. Có 23,4% học sinh chọn ngành học không phù hợp<br /> với đặc điểm tính cách, phân theo giới tính thì tỷ lệ này là 25,8% ở<br /> nam và 22,3% ở nữ. Giữa số người chọn và số lựa chọn không<br /> phù hợp trong các nhóm ngành có tương quan cao. Tuy nhiên,<br /> không có khác biệt về giới trong số lựa chọn không phù hợp khi so<br /> sánh tỷ lệ. Lựa chọn ngành học phù hợp với đặc điểm tính cách<br /> chưa phải là mối quan tâm của nhiều học sinh lớp 12.<br /> <br /> Abstract - Theory of personality characteristics of Holland or RIASEC<br /> model is used popularly in the world in career choice. This article<br /> analyses the intention of choosing majors of grade 12 students in Thua<br /> Thien - Hue Province according to the RIASEC model. The information<br /> is collected by questionnaires including gender, majors that students<br /> will choose and set of RIASEC multiple choice according to Likert scale<br /> of 5 levels. Testing result shows that set of RIASEC multiple choice is<br /> chosen well with n = 619. There are 23.4% of students choosing majors<br /> that do not match their personality characteristics. By gender, this rate<br /> is 25.8% for males and 22.3% for females. There is high correlation<br /> between the number of students who choose majors and the number<br /> of choices of unsuitable majors. However, there is no difference in<br /> gender in the number of unsuitable major choices when rate is<br /> compared. Choosing majors that match their personality<br /> characteristics is not the concern of many grade 12 students.<br /> <br /> Từ khóa - lựa chọn; ngành học; học sinh lớp 12; RIASEC; trắc<br /> nghiệm.<br /> <br /> Key words - choices; majors; grade 12 students; RIASEC; test.<br /> <br /> 1. Giới thiệu<br /> Có thể nói lựa chọn ngành học, nghề nghiệp phù hợp<br /> sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông là nỗi băn khoăn<br /> của hầu hết học sinh lớp 12 có quyết định tiếp tục đi học,<br /> bởi nếu sai lầm sẽ phải trả giá không hề nhỏ. Tuy nhiên,<br /> tự đánh giá năng lực, tính cách và sở thích nghề nghiệp<br /> bản thân là khó khăn hàng đầu [1] và ý kiến cha mẹ vẫn<br /> là quan trọng nhất để tham khảo cho lựa chọn nghề nghiệp<br /> [6]. Trong khi đó, hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại<br /> trường phổ thông lại được nhận định là có ảnh hưởng<br /> không đáng kể [1, 7, 13]. Năm 2016, hàng ngàn sinh viên<br /> tại các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí<br /> Minh đã bị buộc thôi học mà phần lớn là do “đã bỏ học<br /> thời gian dài và sang học ở trường khác”, tức là chấp nhận<br /> “bỏ tất cả để làm lại”, hay “những trường hợp sinh viên<br /> học không nổi dẫn đến bị đuổi chủ yếu do đăng ký ngành<br /> mà... cha mẹ yêu thích” [9].<br /> Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khoa học khác nhau về<br /> lựa chọn nghề nghiệp, nhưng lý thuyết đặc điểm tính cách<br /> của John Holland có vị trí nổi bật, liên tục được sử dụng và<br /> nghiên cứu phát triển trong hơn 50 năm qua [10] trên khắp<br /> thế giới [2]. Lý thuyết này [8] cho rằng, hầu như ai cũng có<br /> thể xếp vào một trong 6 loại tính cách là Realistic (thực tế),<br /> Investigative (tìm tòi), Artistic (nghệ thuật), Social (xã<br /> hội), Enterprising (dám làm), Conventional (thông thường)<br /> và môi trường làm việc cũng được phân loại tương tự, gọi<br /> là mô hình RIASEC hay mã Holland (Holland’s Codes).<br /> Đồng thời, con người có khuynh hướng chọn môi trường<br /> phù hợp với tính cách của họ, ngược lại, khi ở trong môi<br /> trường phù hợp thì con người có mức độ hài lòng, ổn định<br /> và làm việc hiệu quả hơn [8].<br /> <br /> Tại nước ta, năm 2009, bộ 54 câu hỏi trắc nghiệm<br /> RIASEC bằng tiếng Việt, với phần trả lời được xếp theo 5<br /> mức độ từ “chưa bao giờ đúng” đến “đúng” trong tất cả<br /> trường hợp, đã được báo Người lao động giới thiệu [11].<br /> Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản “Tài liệu<br /> chuyên đề Kỹ năng tư vấn cá nhân về khám phá, lựa chọn<br /> và phát triển nghề nghiệp cho học sinh trung học” giới thiệu<br /> bộ câu hỏi tương tự nhưng chỉ với hai lựa chọn “có” hoặc<br /> “không”. Tài liệu này cũng đánh giá lý thuyết của Holland<br /> phù hợp với văn hóa Việt Nam qua thực tế sử dụng và là<br /> công cụ tư vấn hướng nghiệp hiệu quả [2]. Hiện nay, trên<br /> trang web một số trường đại học, cao đẳng, trung cấp Việt<br /> Nam đã có trắc nghiệm RIASEC online theo một trong hai<br /> mức đo đã nêu. Tuy nhiên, hiện chưa tìm thấy kết quả<br /> nghiên cứu nào về lựa chọn nghề nghiệp của học sinh với<br /> các nhóm tính cách RIASEC.<br /> 2. Đối tượng và phương pháp<br /> Việc khảo sát được thực hiện bằng phiếu với học sinh<br /> lớp 12 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Thừa<br /> Thiên - Huế, vào tháng 4 và 5 năm 2017. Sự tham gia của<br /> học sinh là tự nguyện và không có bất kỳ gợi ý hay áp lực<br /> nào. Thông tin thu thập bao gồm giới tính, ngành học sẽ chọn<br /> (chỉ ghi ngành mình thích nhất) và 54 câu hỏi trắc nghiệm<br /> RIASEC [3, 11] với thang Likert 5 mức độ từ “chưa bao giờ<br /> đúng” (1 điểm) đến “đúng” trong tất cả trường hợp (5 điểm).<br /> Do tính cách của một người thường là kết hợp của hai nhóm<br /> hoặc có khi nhiều hơn [3] nên một trong số các nhóm tính<br /> cách có tổng điểm cao nhất hoặc cao thứ hai trùng với mã<br /> Holland của ngành học thì coi là lựa chọn phù hợp. Ngành<br /> học được xác định theo mã cấp IV do Bộ Giáo dục và Đào<br /> <br /> Nguyễn Xuân Trung, Nguyễn Thị Ngọc Huyền<br /> <br /> 38<br /> <br /> tạo (trình độ đại học) [4] và Bộ Lao động – Thương binh và<br /> Xã hội (trình độ cao đẳng, trung cấp) quy định [5]. Mã<br /> Holland của ngành học được xác định theo tài liệu của Bộ<br /> Giáo dục và Đào tạo [3] có tham khảo từ một số trường đại<br /> học, cao đẳng Hoa Kỳ [15], gồm từ 1 đến 4 nhóm tính cách.<br /> Phiếu khảo sát được coi là không hợp lệ khi không điền đủ<br /> thông tin hoặc chọn cùng một mức độ cho tất cả các câu hỏi<br /> trắc nghiệm RIASEC. Với những trường hợp đặc biệt như<br /> có tổng điểm cả sáu nhóm tính cách như nhau [3], thì cũng<br /> không đưa vào xem xét. Dữ liệu được xử lý bằng các phần<br /> mềm Microsoft Excel và R.<br /> <br /> 3. Kết quả và thảo luận<br /> Việc khảo sát đã được thực hiện tại 9 trong 38 trường<br /> THPT ở 6 trên 9 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh<br /> Thừa Thiên - Huế với 1.024 học sinh tham gia (Bảng 1).<br /> Tỷ lệ số phiếu trả lời thu được là 96,1% so với số lượng<br /> khảo sát và số phiếu hợp lệ chiếm 60,5%. Nhìn chung,<br /> nhiều học sinh lớp 12 vẫn còn dè dặt, chưa sẵn sàng bày tỏ<br /> suy nghĩ về tương lai của mình, dù là ẩn danh. Mặt khác,<br /> có lẽ là tại trường chưa có hoạt động khảo sát nào tương tự<br /> diễn ra trước đó nên học sinh còn chưa quen.<br /> <br /> Bảng 1. Số lượng học sinh lớp 12 tham gia khảo sát theo từng trường<br /> TT<br /> <br /> Tên trường<br /> <br /> Huyện, thị xã, thành phố<br /> <br /> Số học sinh tham<br /> gia khảo sát<br /> <br /> Số phiếu trả lời<br /> <br /> Số phiếu hợp lệ<br /> <br /> Hương Trà<br /> <br /> 91<br /> <br /> 90<br /> <br /> 59<br /> <br /> Huế<br /> <br /> 237<br /> <br /> 226<br /> <br /> 157<br /> <br /> Phú Vang<br /> <br /> 103<br /> <br /> 103<br /> <br /> 64<br /> <br /> 1<br /> <br /> Bình Điền<br /> <br /> 2<br /> <br /> Bùi Thị Xuân<br /> <br /> 3<br /> <br /> Hà Trung<br /> <br /> 4<br /> <br /> Hương Vinh<br /> <br /> Hương Trà<br /> <br /> 98<br /> <br /> 97<br /> <br /> 68<br /> <br /> 5<br /> <br /> Nguyễn Chí Thanh<br /> <br /> Quảng Điền<br /> <br /> 228<br /> <br /> 225<br /> <br /> 110<br /> <br /> 6<br /> <br /> Phan Đăng Lưu<br /> <br /> Phú Vang<br /> <br /> 78<br /> <br /> 75<br /> <br /> 54<br /> <br /> 7<br /> <br /> Tam Giang<br /> <br /> Phong Điền<br /> <br /> 95<br /> <br /> 78<br /> <br /> 46<br /> <br /> 8<br /> <br /> Thuận An<br /> <br /> Phú Vang<br /> <br /> 40<br /> <br /> 37<br /> <br /> 22<br /> <br /> 9<br /> <br /> Thừa Lưu<br /> <br /> Phú Lộc<br /> <br /> 54<br /> <br /> 53<br /> <br /> 39<br /> <br /> 1.024<br /> <br /> 984<br /> <br /> 619<br /> <br /> Cộng<br /> <br /> Hình 1. Điểm trung bình và tứ phân vị các nhóm tính cách phân theo giới tính<br /> <br /> 3.1. Độ tin cậy của thang đo và thống kê mô tả mẫu khảo sát<br /> Mặc dù đã được sử dụng phổ biến trên thế giới, nhưng<br /> kiểm tra độ tin cậy của thang đo RIASEC với đối tượng<br /> nghiên cứu tại Việt Nam là cần thiết do những khác biệt về<br /> kinh tế, xã hội và văn hóa so với nơi xuất xứ ban đầu của<br /> nó là Hoa Kỳ [2]. Hệ số Cronbach’s Alpha tính được là<br /> 0,81 và từ Bảng 2 có thể khẳng định là bộ câu hỏi trắc<br /> nghiệm RIASEC có độ tin cậy ở mức “sử dụng rất tốt” cho<br /> nghiên cứu này [14]. Không có yếu tố nào phải loại bỏ vì<br /> không làm tăng hệ số Cronbach’s Alpha và đều có hệ số<br /> tương quan với biến tổng lớn hơn 0,3 [12].<br /> Các giá trị thống kê mô tả của từng nhóm tính cách đều<br /> có sự khác biệt nhưng không lớn (Hình 1), bao gồm các giá<br /> trị trung bình và tứ phân vị. Giá trị trung bình là khá tập<br /> trung, nằm trong khoảng 30,1 đến 35,2 điểm, cho thấy mẫu<br /> khảo sát có tính đa dạng và không bị thiên lệch. Xét theo<br /> <br /> giới tính, với 420 học sinh là nữ chiếm 67,85%, thì có vẻ<br /> nữ trội hơn nam ở nhóm A (trung bình 32,7 so với 31,6) và<br /> S (trung bình 35,2 so với 34,8), còn nam trội hơn ở bốn<br /> nhóm còn lại. Tuy nhiên, sự khác biệt này cũng không lớn,<br /> chênh lệch điểm trung bình chỉ từ 0,4 đến 1,9 điểm.<br /> Bảng 2. Kết quả tính toán độ tin cậy của thang đo bằng kiểm<br /> định Cronbach’s Alpha<br /> Nhóm tính cách<br /> R<br /> I<br /> A<br /> S<br /> E<br /> C<br /> <br /> Cronbach’s Alpha<br /> nếu loại bỏ<br /> 0,79<br /> 0,76<br /> 0,81<br /> 0,78<br /> 0,77<br /> 0,78<br /> <br /> Hệ số tương quan<br /> biến tổng<br /> 0,67<br /> 0,79<br /> 0,62<br /> 0,72<br /> 0,77<br /> 0,74<br /> <br /> ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 4(125).2018<br /> <br /> 3.2. Lựa chọn ngành học và đặc điểm tính cách<br /> Có 88 ngành được lựa chọn, trong đó 96,3% ở trình độ<br /> đại học và còn lại là cao đẳng, không có trung cấp, sơ cấp.<br /> Để thuận tiện xem xét, có thể chia thành 15 nhóm (ngành<br /> hoặc khối ngành) có cùng mã Holland như Bảng 3, xếp theo<br /> thứ tự mã ngành của Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV<br /> <br /> 39<br /> <br /> trình độ đại học [4]. Nhóm được nhiều học sinh chọn nhất là<br /> Công nghệ và Kỹ thuật, chiếm 15,8% và ít nhất là Quân đội<br /> và Công an, chiếm 1,8%. Nhóm Ngành khác gồm 13 ngành<br /> học, có từ 1 đến 8 người chọn. Như vậy, có thể thấy dự định<br /> lựa chọn ngành học trong mẫu khảo sát là rộng rãi và đa<br /> dạng, không có ngành hay khối ngành nào quá chiếm ưu thế.<br /> <br /> Bảng 3. Lựa chọn theo ngành hoặc khối ngành học phù hợp với mã Holland<br /> Ngành, khối ngành<br /> <br /> TT<br /> <br /> Mã Holland<br /> <br /> Số người chọn<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> <br /> Số người phù hợp % không phù hợp<br /> <br /> 1<br /> <br /> Đào tạo giáo viên<br /> <br /> SA<br /> <br /> 57<br /> <br /> 9,2<br /> <br /> 51<br /> <br /> 10,3<br /> <br /> 2<br /> <br /> Nhân văn<br /> <br /> IA<br /> <br /> 83<br /> <br /> 13,4<br /> <br /> 67<br /> <br /> 19,3<br /> <br /> 3<br /> <br /> Kinh tế<br /> <br /> ISC<br /> <br /> 56<br /> <br /> 9,0<br /> <br /> 54<br /> <br /> 3,6<br /> <br /> 4<br /> <br /> Báo chí và truyền thông<br /> <br /> AE<br /> <br /> 12<br /> <br /> 1,9<br /> <br /> 6<br /> <br /> 50,0<br /> <br /> 5<br /> <br /> Kế toán, kiểm toán<br /> <br /> C<br /> <br /> 24<br /> <br /> 3,9<br /> <br /> 14<br /> <br /> 41,7<br /> <br /> 6<br /> <br /> Kinh doanh, quản trị<br /> <br /> E<br /> <br /> 80<br /> <br /> 12,9<br /> <br /> 18<br /> <br /> 77,5<br /> <br /> 7<br /> <br /> Pháp luật<br /> <br /> ISE<br /> <br /> 24<br /> <br /> 3,9<br /> <br /> 22<br /> <br /> 8,3<br /> <br /> 8<br /> <br /> Công nghệ và Kỹ thuật<br /> <br /> RIC<br /> <br /> 98<br /> <br /> 15,8<br /> <br /> 83<br /> <br /> 15,3<br /> <br /> 9<br /> <br /> Nông, lâm nghiệp và thủy sản<br /> <br /> 10<br /> <br /> Dược học<br /> <br /> 11<br /> <br /> Điều dưỡng<br /> <br /> 12<br /> 13<br /> 14<br /> 15<br /> <br /> R<br /> <br /> 15<br /> <br /> 2,4<br /> <br /> 4<br /> <br /> 73,3<br /> <br /> ISC<br /> <br /> 16<br /> <br /> 2,6<br /> <br /> 16<br /> <br /> 0<br /> <br /> RISC<br /> <br /> 14<br /> <br /> 2,3<br /> <br /> 14<br /> <br /> 0<br /> <br /> Y học<br /> <br /> IS<br /> <br /> 33<br /> <br /> 5,3<br /> <br /> 30<br /> <br /> 9,1<br /> <br /> Du lịch<br /> <br /> SEC<br /> <br /> 53<br /> <br /> 8,6<br /> <br /> 49<br /> <br /> 7,5<br /> <br /> Quân đội và Công an<br /> <br /> E<br /> <br /> 11<br /> <br /> 1,8<br /> <br /> 4<br /> <br /> 63,6<br /> <br /> Ngành khác<br /> <br /> -<br /> <br /> 43<br /> <br /> 6,9<br /> <br /> 42<br /> <br /> 2,3<br /> <br /> 619<br /> <br /> 100<br /> <br /> 474<br /> <br /> 23,4<br /> <br /> Cộng<br /> <br /> Bảng 4. Lựa chọn nghề nghiệp không phù hợp với tính cách phân theo giới tính<br /> TT<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> 7<br /> 8<br /> 9<br /> 10<br /> 11<br /> 12<br /> 13<br /> 14<br /> 15<br /> <br /> Ngành học<br /> Đào tạo giáo viên<br /> Nhân văn<br /> Kinh tế<br /> Báo chí và truyền thông<br /> Kế toán, kiểm toán<br /> Kinh doanh, quản trị<br /> Pháp luật<br /> Công nghệ và Kỹ thuật<br /> Nông, lâm nghiệp và thủy sản<br /> Dược học<br /> Điều dưỡng<br /> Y học<br /> Du lịch<br /> Quân sự và Công an<br /> Ngành khác<br /> Cộng<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> Nam<br /> Phù hợp<br /> 4<br /> 12<br /> 15<br /> 1<br /> 0<br /> 2<br /> 6<br /> 61<br /> 1<br /> 3<br /> 0<br /> 11<br /> 5<br /> 4<br /> 22<br /> 147<br /> <br /> Mặc dù chỉ cần một trong hai nhóm tính cách có điểm<br /> cao nhất hoặc cao thứ hai trùng với một mã Holland của<br /> ngành học thì tính là phù hợp, nhưng vẫn có đến 23,4% học<br /> sinh lớp 12 đã đưa ra lựa chọn không phù hợp, tức là cứ<br /> 1.000 học sinh lớp 12 thì có 234 người lựa chọn không<br /> đúng cho tương lai của mình. Dù số lượng và tỷ lệ không<br /> phù hợp của từng nhóm là khác nhau, nhưng kết quả phân<br /> tích cho thấy có mối tương quan cao giữa số người chọn và<br /> số người có lựa chọn không phù hợp với hệ số tương quan<br /> <br /> Không<br /> 0<br /> 0<br /> 1<br /> 2<br /> 1<br /> 18<br /> 2<br /> 10<br /> 8<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 1<br /> 7<br /> 1<br /> 51<br /> <br /> Phù hợp<br /> 47<br /> 55<br /> 39<br /> 5<br /> 14<br /> 16<br /> 16<br /> 22<br /> 3<br /> 13<br /> 14<br /> 19<br /> 44<br /> 0<br /> 20<br /> 327<br /> <br /> Không<br /> 6<br /> 16<br /> 1<br /> 4<br /> 9<br /> 44<br /> 0<br /> 5<br /> 3<br /> 0<br /> 0<br /> 3<br /> 3<br /> 0<br /> 0<br /> 94<br /> <br /> % không phù hợp<br /> Nam<br /> Nữ<br /> 0<br /> 11,3<br /> 0<br /> 22,5<br /> 6,3<br /> 2,5<br /> 66,7<br /> 44,4<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 25,0<br /> 0<br /> 14,1<br /> 18,5<br /> 88,9<br /> 50,0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 16,7<br /> 6,4<br /> 63,6<br /> 0<br /> 4,3<br /> 0<br /> 25,8<br /> 22,3<br /> <br /> Pearson là r = 0,515 và trị số p = 0,049 (mức ý nghĩa 95%).<br /> Nghĩa là khi số người chọn của một nhóm tăng lên thì số<br /> người có lựa chọn ngành học không phù hợp với đặc điểm<br /> tính cách trong nhóm đó cũng sẽ tăng lên theo tương ứng.<br /> Như thế, tỷ lệ 0% lựa chọn không phù hợp ở hai ngành<br /> Điều dưỡng và Dược học trong mẫu khảo sát có thể là do<br /> có số lượng chọn chưa đủ lớn và không thể khẳng định<br /> được 100% những người chọn hai ngành này phù hợp về<br /> tính cách. Mặt khác, ngành Y học, cũng trong cùng khối<br /> <br /> Nguyễn Xuân Trung, Nguyễn Thị Ngọc Huyền<br /> <br /> 40<br /> <br /> ngành Sức khỏe [4] và cùng có chung mã Holland là IS, lại<br /> có tỷ lệ không phù hợp đến 9,1% trên số lượng 33 người<br /> chọn. Từ đây, có thể nhận định rằng sự lựa chọn không phù<br /> hợp có ở tất cả các ngành và là hiện tượng khá phổ biến.<br /> Chọn ngành học phù hợp với đặc điểm tính cách chưa phải<br /> là mối quan tâm của đa số học sinh lớp 12.<br /> Từ Bảng 3 có thể thấy, các nhóm chỉ có một mã Holland<br /> có tỷ lệ không phù hợp ở tốp đầu, từ 41,7% (Kế toán, kiểm<br /> toán) đến 77,5% (Kinh doanh, quản trị). Tiếp đó là các<br /> nhóm có hai mã Holland, từ 9,1% (Y học) đến 50,0% (Báo<br /> chí và truyền thông). Sau cùng là các nhóm có ba hoặc bốn<br /> mã Holland, từ 0 đến 15,3% (Công nghệ và Kỹ thuật). Điều<br /> này có thể giải thích là ngành càng nhiều mã Holland thì<br /> khả năng phù hợp càng tăng, từ 1/6 lên 2/6 rồi 3/6 và 4/6.<br /> Như vậy, dù đều có mối tương quan giữa số người chọn và<br /> số người có lựa chọn không phù hợp, nhưng tỷ lệ không<br /> phù hợp sẽ thấp hơn ở ngành có số mã Holland nhiều hơn<br /> so với ngành khác.<br /> Bảng 4 trình bày số lượng và tỷ lệ % không phù hợp<br /> phân theo giới tính, trong đó, tỷ lệ chung của nam là 25,8%<br /> và của nữ là 22,3%. Trên phương diện thống kê, hai tỷ lệ<br /> này không khác nhau vì tính ra trị số p = 0,402. So sánh tỷ<br /> lệ không phù hợp của nam và nữ trong từng nhóm cũng cho<br /> kết quả tương tự với các trị số p tính được đều lớn hơn 0,05,<br /> trừ hai nhóm Điều dưỡng, Quân sự và Công an do chỉ có<br /> một giới chọn. Vì vậy, có thể nhận định là không có sự<br /> khác nhau về giới khi lựa chọn ngành học không phù hợp<br /> với tính cách.<br /> 4. Kết luận<br /> Mặc dù đã được sử dụng rộng rãi và chứng tỏ hiệu quả<br /> trên thế giới từ nhiều năm qua, nhưng mô hình RIASEC<br /> chưa phải là phổ biến trong công tác hướng nghiệp tại các<br /> trường trung học phổ thông ở nước ta. Từ hiện trạng hàng<br /> ngàn sinh viên bị buộc thôi học [9] đến tỷ lệ 23,4% học<br /> sinh lớp 12 lựa chọn ngành học không phù hợp với đặc<br /> điểm tính cách ở nghiên cứu này cho thấy đây là một vấn<br /> đề nghiêm trọng, nhưng lại hoàn toàn chưa được quan tâm<br /> đúng mức. Số người chọn ngành học không phù hợp với<br /> đặc điểm tính cách có mối tương quan cao với số người<br /> chọn trong các nhóm ngành và không có sự khác biệt về<br /> giới cho thấy mức độ phổ biến của vấn đề. Với học sinh và<br /> gia đình của họ, khi có một lựa chọn không phù hợp thì tỷ<br /> lệ sẽ là 100%, dẫn đến việc tốn kém chi phí, mất thời gian<br /> và cả cơ hội. Với nhà trường và xã hội cũng vậy.<br /> Hạn chế của nghiên cứu này là chỉ mới được thực hiện<br /> với số lượng và phạm vi không lớn, trong đó có đến 76,25%<br /> <br /> số học sinh trả lời hợp lệ có tính cách S nổi trội. Số phần<br /> trăm không phù hợp có thể sẽ khác đi ở mẫu mà số người<br /> có tính cách nổi trội không phải là S chiếm ưu thế. Mặt<br /> khác, vì có một lượng lớn phiếu được trả lời không hợp lệ<br /> nên có thể lập luận rằng ngay cả những phiếu hợp lệ cũng<br /> có thể chưa phản ánh đúng hoàn toàn đặc điểm tính cách<br /> của người được khảo sát. Do vậy, cần phải tiếp tục có<br /> những nghiên cứu ở phạm vi và số lượng rộng rãi hơn.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1] Nguyễn Thị Ngọc Bé, “Khó khăn trong quá trình lựa chọn nghề của<br /> học sinh trung học phổ thông”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số<br /> 1(52), 2011, trang 39-47.<br /> [2] Emily E. Bullock, Lindsay Andrews, Jennifer Braud and Robert C.<br /> Reardon, “Holland’s Theory in An International Context:<br /> Applicability of RIASEC Structure and Assessments”, Career<br /> Planning & Adult Development Journal, Vol. 25(4), 2010, pp. 29-58.<br /> [3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu chuyên đề Kỹ năng tư vấn cá nhân<br /> về khám phá, lựa chọn và phát triển nghề nghiệp cho học sinh trung<br /> học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, Hà Nội.<br /> [4] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư ban hành Danh mục giáo dục,<br /> đào tạo cấp IV trình độ đại học, Số 24/2017/TT-BGDĐT, ngày<br /> 10/10/2017.<br /> [5] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thông tư ban hành Danh<br /> mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao<br /> đẳng, Số 04/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 02/3/2017.<br /> [6] Bùi Thị Thanh Hà, “Tác động của cha mẹ trong việc hướng nghiệp<br /> cho học sinh phổ thông hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và<br /> Giới, Số 01(19), 2009, trang 57-66.<br /> [7] Trần Phú Hào, “Xu hướng chọn nghề nghiệp của học sinh cuối cấp<br /> trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông huyện Châu Thành<br /> tỉnh Tiền Giang hiện nay”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học An<br /> Giang, Số 09(1), 2016, trang 41-46.<br /> [8] John L. Holland, Making Vocational Choices: A Theory of Vocational<br /> Personalities and Work Environments (3rd ed.), Florida: PAR Inc, 1997.<br /> [9] Trần Huỳnh và Hải Quân, Sinh viên bỏ học do chọn sai ngành, Tuổi<br /> Trẻ Online, https://tuoitre.vn/sinh-vien-bo-hoc-do-chon-sai-nganh1094884.htm, ngày 04/5/2016.<br /> [10] Margaret M. Nauta, “The Development, Evolution, and Status of<br /> Holland’s Theory of Vocational Personalities: Reflections and<br /> Future Directions for Counseling Psychology”, Journal of<br /> Counseling Psychology, Vol. 57(1), 2010, pp. 11-22.<br /> [11] Người lao động, Trắc nghiệm định hướng nghề nghiệp,<br /> http://nld.com.vn/giao-duc-khoa-hoc/trac-nghiem-dinh-huongnghe-nghiep-20090216121354800.htm, ngày 16/02/2009.<br /> [12] Jum C. Nunnally, Psychometric Theory, McGraw-Hill, 1978, New York.<br /> [13] Lê Minh Thiện, “Tìm hiểu nhận thức của học sinh nông thôn về tầm<br /> quan trọng của công tác hướng nghiệp đối với việc chọn nghề”, Tạp<br /> chí Giáo dục, Số 250, 2010, trang 25-27.<br /> [14] Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, Phân tích dữ liệu nghiên cứu<br /> với SPSS Tập 2, NXB Hồng Đức, 2008, Thành phố Hồ Chí Minh.<br /> [15] Wikipedia,<br /> Holland<br /> Codes,<br /> https://en.wikipedia.org/wiki/Holland_Codes, date 03/12/2017.<br /> <br /> (BBT nhận bài: 01/4/2018, hoàn tất thủ tục phản biện: 25/4/2018)<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2