BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KIM KHÍ LAN ANH

SINH VIÊN THỰC HIỆN : ĐỖ HOÀNG TUẤN LINH MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH

: A17195 : TÀI CHÍNH

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KIM KHÍ LAN ANH

Giáo viên hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành

: ThS. Chu Thị Thu Thủy : Đỗ Hoàng Tuấn Linh : A17195 : Tài chính

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả lòng biết ơn, trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Chu Thị Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành

khóa luận tốt nghiệp này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo đã

tận tình truyền đạt những kiến thức quan trọng và bổ ích không chỉ là nền tảng cho quá

trình thực hiện khóa luận mà còn là hành trang cho chặng đường phía trước.

Ngoài ra, em cũng xin cảm ơn Ban Lãnh đạo trường Đại học Thăng Long cũng

như các phòng ban khác đã tạo điều kiện, cơ sở vật chất để em có cơ hội và môi trường

học tập tốt nhất trong suốt quá trình rèn luyện.

Do kiến thức và khả năng lý luận vẫn còn có nhiều hạn chế nên khóa luận vẫn

còn những thiếu sót nhất định. Em mong nhận được những đóng góp của các thầy

giáo, cô giáo để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.

Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo, Ban Lãnh đạo trường Đại

học Thăng Long dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Sinh viên

Đỗ Hoàng Tuấn Linh

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng.

Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Đỗ Hoàng Tuấn Linh

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH

NGHIỆP ..................................................................................................................

1

1.1. Khái niệm, vai trò, mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp .............. 1

1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp ..................................................... 1

1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................... 1

1.1.3. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp ................................................ 3

1.2. Phƣơng pháp phân tích ....................................................................................... 4

1.2.1. Phương pháp so sánh .......................................................................................... 4

1.2.2. Phương pháp cân đối .......................................................................................... 5

1.2.3. Phương pháp phân tích tỷ lệ ............................................................................... 5

1.2.4. Phương pháp phân tích Dupont ......................................................................... 6

1.2.5. Phương pháp khác ............................................................................................... 7

1.3. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp..................................................... 7

1.4. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp ...................................................... 9

1.4.1. Phân tích bảng cân đối kế toán ........................................................................... 9

1.4.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ........................................... 11

1.4.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ ............................................................... 13

1.4.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính ........................................................................ 14

1.4.5. Phân tích điểm hòa vốn ..................................................................................... 22

1.4.6. Phân tích tình hình sử dụng đòn bẩy tại doanh nghiệp .................................. 23

1.5. Các yếu tố ảnh hƣởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp .................. 25

1.5.1. Yếu tố khách quan ............................................................................................. 25

1.5.2. Yếu tố chủ quan ................................................................................................. 27

CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN

KIM KHÍ LAN ANH ........................................................................................... 31

2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh ................................. 31

2.1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Kim khí Lan

Anh .......................................................................................................................... 31

2.1.2.Cơ cấu tổ chức của Công ty ................................................................................ 32

Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận ................................................................. 32

2.2.Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh ............. 34

2.2.1.Phân tích bảng cân đối kế toán của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giai

đoạn 2011 - 2013 ........................................................................................................... 34

2.2.2.Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Kim

khí Lan Anh giai đoạn 2011 – 2013 ............................................................................ 44

(Đơn vị: triệu đồng) .............................................................................................. 44

2.2.3.Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh

giai đoạn 2011 – 2013 ................................................................................................... 47

2.2.4.Phân tích các chỉ tiêu tài chính .......................................................................... 51

2.2.4.1. Phân tích khả năng thanh toán ...................................................................... 51

2.2.5.Phân tích điểm hòa vốn ....................................................................................... 59

2.2.6.Phân tích tình hình sử dụng đòn bẩy tại doanh nghiệp .................................... 60

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI

CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KIM KHÍ LAN ANH ................................. 63

3.1. Những khó khăn, thuận lợi tại Công ty cổ phần kim khí Lan Anh ................. 63

3.1.1. Thuận lợi ............................................................................................................. 63

3.1.2. Khó khăn ............................................................................................................. 63

3.2. Định hƣớng phát triển của Công ty cổ phần kim khí Lan Anh. ...................... 63

3.3. Đánh giá chung về tình hình tài chính giai đoạn 2011-2013 tại Công ty cổ

phần kim khí Lan Anh ................................................................................................ 64

3.4. Đề xuất một số giải pháp cải thiện những hạn chế tại Công ty cổ phần kim

khí Lan Anh ................................................................................................................. 67

3.4.1. Cơ cấu tài sản và nguồn vốn .............................................................................. 67

3.4.2. Quản lý khả năng thanh toán ............................................................................ 67

3.4.3. Quản lý hàng tồn kho ......................................................................................... 68

3.4.4. Quản lý khoản phải thu khách hàng ................................................................. 69

3.4.5. Một số giải pháp khác ........................................................................................ 71

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐÔ, HÌNH VẼ Bảng 2.1. Sự biến động tài sản giai đoạn 2011 – 2013 tại Công ty Cổ phần Kim khí

Lan Anh ................................................................................................................ 34

Bảng 2. 2. Tiền và các khoản tương đương tiền ....................................................... 35

Bảng 2.3. Tài sản ngắn hạn khác ............................................................................ 37

Bảng 2.4. Sự biến động nguồn vốn giai đoạn 2011 – 2013 tại Công ty Cổ phần Kim

khí Lan Anh .......................................................................................................... 39

Bảng 2.5. Phân tích nguồn tài trợ vốn ..................................................................... 42

Bảng 2.6. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giai

đoạn 2011 – 2013 .................................................................................................. 44

Bảng 2.7. Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013 ............. 47

Bảng 2.10. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn ......................................................... 51

Bảng 2.11. Các chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho ........................................................ 53

Bảng 2.12. Hiệu suất sử dụng tài sản ...................................................................... 55

Bảng 2.13. Các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời ............................................................... 57

Bảng 2.14. Phân tích tác động của ROS lên ROA ................................................... 58

Bảng 2.15. Phân tích tác động của hiệu suất sử dụng tổng tài sản lên ROA .............. 58

Bảng 2.16. Doanh thu – chi phí và điểm hòa vốn tại Kim khí Lan Anh .................... 59

Bảng 2.17. Mức sử dụng đòn bẩy hoạt động và DOLS ............................................ 60

Bảng 2.18. Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và DFL ............................................ 61

Bảng 2.19. Độ bẩy tổng hợp ................................................................................... 62

Bảng 3.1. Đánh giá tình hình tài chính giai đoạn 2011 – 2013 tại Công ty cổ phần kim

khí Lan Anh .......................................................................................................... 65

Bảng 3.5. Dự tính sự thay đổi về hàng tồn kho sau khi áp dụng giải pháp ................. 69

Bảng 3.2. Mô hình điểm số của Altman .................................................................. 70

Bảng 3.3. Tỷ lệ chiết khấu thanh toán ..................................................................... 70

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh .................. 32

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Với nền kinh tế của mỗi đất nước, các nhà đầu tư cũng như doanh nghiệp đóng

một vai trò vô cùng quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững. Tại Việt Nam,

môi trường kinh doanh ngày càng được mở rộng, đây là cơ hội lớn cho mỗi doanh

nghiệp trên thị trường nâng cao vị thế, tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, việc mở rộng

cũng chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới có thể gây ra những biến động không tốt đặc biệt trong thời gian gần đây. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần tích cực trong việc

tìm ra hướng đi đúng đắn, tạo được sức mạnh cạnh tranh với các doanh nghiệp khác,

tạo được sự vững mạnh tài chính và đảm bảo nghĩa vụ kinh tế.

Từ đó, mọi doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, muốn thấy được và khắc phục những điểm yếu kém để nâng cao hiệu quả đạt được đều cần

phải tiến hành phân tích tài chính dựa trên báo cáo tài chính hàng năm. Thông qua việc

phân tích tài chính, doanh nghiệp có thể rút ra những kinh nghiệm, hạn chế được việc

đưa ra những quyết định sai lầm trong tương lai để hoàn thành mục tiêu của doanh

nghiệp. Ngoài ra, những thông tin từ việc phân tích tài chính còn được các nhà đầu tư

hay các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để nhằm có cái nhìn tổng quát nhất, đúng

đắn nhất trước khi ra các quyết định đầu tư hay những chính sách điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.

Qua việc nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phân tích tài chính trong

doanh nghiệp, em đã chọn “Phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp cải thiện

tình hình tài chính Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh” trong giai đoạn 2011 -2013

làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Tổng hợp những kiến thức, lý thuyết đã tích lũy được trong

quá trình học tập để từ đó nghiên cứu, phân tích tình hình tài chính của một doanh

nghiệp cụ thể trong thực tế. - Mục tiêu cụ thể: + Phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp từ đó chỉ ra và giải thích được

những nguyên nhân về sự biến động tài chính giai đoạn 2011 - 2013

+ Qua phân tích tình hình tài chính để chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, ưu điểm

và hạn chế của doanh nghiệp

+ Tìm hiểu, đề xuất một số biện pháp thay đổi, cải thiện tình hình tài chính thích

hợp cho doanh nghiệp.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là tình hình tài chính, xu hướng tài chính doanh nghiệp, cụ thể với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất và kinh doanhkim khí, vật liệu xây

dựng.

- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận sẽ đi sâu phân tích tình hình tài chính của Công

ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giai đoạn 2011 - 2013 thông qua các báo cáo tài chính và một số chỉ tiêu tài chính của Công ty trong giai đoạn này. Qua đó, ta sẽ có những đánh

giá, cái nhìn tổng quát về sự cân bằng tài chính, về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh

doanh, tình hình sử dụng tài sản – nguồn vốn…

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng cơ sở lý thuyết về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài

chính doanh nghiệp. Phương pháp nghiên cứu được thực hiện chủ yếu là các phương

pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phân tích thống kê…kết hợp với những kiến thức đã

học cùng với thông tin thu thập từ thực tế, mạng xã hội và các tài liệu tham khảo

khác…

5. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp

Kết cấu chính của khóa luận được chia thành ba chương như sau:

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp

Chƣơng 2: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ

phần Kim khí Lan Anh

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH

NGHIỆP

1.1. Khái niệm, vai trò, mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp

“Phân tích TCDN là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh

hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính để có thể đánh giá tình hình TCDN thông qua việc so sánh với các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra hoặc so

sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, từ đó đưa ra quyết định và các giải pháp

quản lý phù hợp.” (Nguồn: trang 4 sách Phân tích tài chính doanh nghiệp - ThS. Ngô

Kim Phượng).

Phân tích TCDN làmột công cụ quản lý, trên cơ sở sử dụng hệ thống chỉ tiêu

phân tích phù hợp thông qua các phương pháp phân tích nhằm đánh giá tình hình tài

chính của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian hoạt động nhất định. Trên cơ sở

đó, giúp nhà quản trị doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết định

nhằm tăng cường quản lý tài chính và đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.

Ngoài ra, phân tích TCDN còn là quá trình xem xét, kiểm tra kết cấu, thực trạng

tài chính, từ đó đưa ra những so sánh, đối chiếu những chỉ tiêu tài chính hiện tại với

chỉ tiêu quá khứ hay chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp với các doanh nghiệp

khác…nhằm xác định tiềm năng tài chính của doanh nghiệp để xác định phương pháp quản trị thích hợp. Phân tích TCDN là việc làm thường xuyên và không thể thiếu ở

mỗi doanh nghiệp, nó mang tính chiến lược lâu dài và ý nghĩa thực tiễn quan trọng.

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích TCDN là đánh giá rủi ro phá sản

tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá

khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh

nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những

dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp

trong tương lai. Nói cách khác, phân tích TCDN là cơ sở để dự đoán tài chính - một

trong các hướng dự đoán doanh nghiệp. Phân tích TCDN có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích (trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp).

1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp

Dưới sự quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước, trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa, có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của một doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, cung cấp tín dụng, các nhà quản lý doanh nghiệp, cơ quan

quản lý nhà nước…Các đối tượng này có những mối quan tâm đến tình hình TCDN

dưới những góc nhìn khác nhau. Việc phân tích TCDN giúp cho những đối tượng này 1

có được thông tin phù hợp với yêu cầu hay mục đích sử dụng của bản thân để từ đó

đưa ra những quyết định hợp lý.

Với các nhà đầu tƣ hƣớng tới lợi nhuận, mối quan tâm của họ là khả năng sinh

lời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị

trường, họ còn chú trọng đến tính an toàn của những đồng vốn họ bỏ ra, vì vậy, một

yếu tố được quan tâm bởi những nhà đầu tư là mức độ rủi ro của dự án đầu tư, trong đó rủi ro TCDN đặc biệt quan trọng. Việc phân tích TCDN giúp họ có được những

đánh giá về khả năng sinh lời cũng như rủi ro kinh doanh, tính ổn định lâu dài của một

doanh nghiệp.

Trong khi đó, những nhà cung cấp tín dụng lại quan tâm đến khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp. Các nhà cung cấp tín dụng ngắn hạn thường

quan tâm đến khả năng thanh toán nhằm đáp ứng những yêu cầu chi trả trong thời gian

ngắn của doanh nghiệp. Còn những nhà cung cấp tín dụng dài hạn quan tâm đến khả

năng trả lãi và gốc đúng hạn, do đó, ngoài khả năng thanh toán, họ còn quan tâm đến

khả năng sinh lời cũng như tính ổn định của doanh nghiệp. Từ đó, việc phân tích

TCDN góp phần giúp những nhà cung cấp tín dụng đưa ra quyết định về việc có nên

cho vay hay không? Vay trong bao lâu và vay bao nhiêu?

Nhà quản lý doanh nghiệp cần thông tin từ phân tích TCDN để kiểm soát, giám

sát, điều chỉnh tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp. Các thông tin này giúp họ đưa ra những quyết định về cơ cấu nguồn tài chính, đầu tư hay phân chia lợi nhuận,

biện pháp điều chỉnh hoạt động phù hợp…

Ngoài ra, cơ quan thuế hay cơ quan thống kê cũng có những quan tâm nhất

định đến thông tin tài chính. Những thông tin này giúp cơ quan thuế nắm rõ tình hình

thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp với nhà nước. Các cơ quan thống kê có

thể tổng hợp các số liệu tài chính từ mỗi doanh nghiệp đến toàn ngành, toàn khu vực

để từ đó đưa ra chiến lược kinh tế vĩ mô dài hạn.

Không những vậy, ngƣời lao động cũng quan tâm đến tình hình TCDN. Những

người đang lao động tại doanh nghiệp muốn biết về tình hình tài chính thực sự, hoạt động sản xuất kinh doanh, phân bổ các quỹ tài chính, phân chia lợi nhuận, các kế hoạch kinh doanh trong tương lai để đánh giá triển vọng doanh nghiệp, có niềm tin vào doanh nghiệp tạo động lực làm việc. Những chỉ tiêu tài chính còn góp phần giúp những người đang tìm kiếm việc làm có cái nhìn tích cực hay tiêu cực về phía doanh

nghiệp trong lúc họ đang lựa chọn, mong muốn làm việc ở những doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao, công việc ổn định lâu dài, với hy vọng về mức lương xứng đáng.

Có thể thấy, vai trò cơ bản của phân tích TCDN chính là cung cấp thông tin hữu ích cho tất cả những đối tƣợng quan tâm đến tình hình tài chính của một

2

doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh, góc nhìn khác nhau, từ đó giúp họ đƣa ra

những quyết định chính xác, phù hợp với mục đích của bản thân mình. 1.1.3. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính là quá trình sử dụng các kỹ thuật phân tích thích hợp để xử lý

tài liệu từ báo cáo tài chính và các tài liệu khác, hình thành hệ thống các chỉ tiêu tài

chính nhằm đánh giá thực trạng tài chính và dự đoán tiềm lực tài chính trong tương lai. Như vậy, phân tích tài chính trước hết là việc chuyển các dữ liệu tài chính trên báo cáo

tài chính thành những thông tin hữu ích. Quá trình này có thể thực hiện theo nhiều

cách khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu của nhà phân tích. Phân tích tài chính được sử

dụng như là công cụ khảo sát cơ bản trong lựa chọn quyết định đầu tư, ngoài ra nó còn được sử dụng như một công cụ dự đoán các điều kiện và kết quả tài chính trong tương

lai, là công cụ đánh giá của các nhà quản trị doanh nghiệp. Phân tích tài chính sẽ tạo ra

các chứng cứ có tính hệ thống và khoa học đối với các nhà quản trị.

Hoạt động TCDN liên quan đến nhiều đối tượng, từ các nhà quản trị ở doanh

nghiệp đến các nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung cấp, cơ quan quản lý nhà nước... nên

mục tiêu phân tích của mỗi đối tượng khác nhau. Phân tích TCDN cần đạt những mục

tiêu cơ bản sau:

Đầu tiên là đánh giá chính xác tình hình TCDN trên các khía cạnh khác nhau như

cơ cấu nguồn vốn, tài sản, khả năng thanh toán, lưu chuyển tiền tệ, hiệu quả sử dụng tài sản, khả năng sinh lời, rủi ro tài chính… nhằm đáp ứng thông tin cho tất cả những

đối tượng quan tâm đến TCDN như nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng, cơ quan thuế,

người lao động…

Thứ hai là định hướng các quyết định của các đối tượng quan tâm theo chiều

hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ,

phân chia lợi nhuận…

Thứ ba là trở thành cơ sở cho các dự báo tài chính, giúp cho người phân tích tài

chính có thể dự đoán được tiềm năng tài chính của doanh nghiệp trong tương lai.

Cuối cùng là công cụ để kiểm soát HĐKD của doanh nghiệp trên cơ sở kiểm tra, đánh giá các chỉ tiêu kết quả đạt được so với các chỉ tiêu kế hoạch, dự toán, định mức…Từ đó, xác định được những điểm mạnh, điểm yếu trong HĐKD, góp phần giúp cho doanh nghiệp có được những quyết định cũng như giải pháp đúng đắn, đảm bảo việc kinh doanh hiệu quả cao. Mục tiêu này đặc biệt quan trọng với các nhà quản trị

doanh nghiệp.

Tóm lại, mục tiêu phân tích TCDN phụ thuộc vào quyền lợi của cá nhân, tổ chức có liên quan đến doanh nghiệp. Do vậy, việc phân tích TCDN ảnh hƣởng đến nhiều nội dung khác nhau và bao trùm phạm vi rất rộng lớn với những nhà quản trị doanh nghiệp.

3

1.2. Phƣơng pháp phân tích

Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hình

biến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài

chính với nhau.

Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:

1.2.1. Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích.

Mục đích của so sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng của đối tượng

nghiên cứu, từ đó giúp các đối tượng quan tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn. Người sử dụng phương pháp so sánh cần nắm chắc những vấn đề sau:

Đầu tiên là điều kiện so sánh: Điều kiện quan trọng để đảm bảo phép so sánh có

ý nghĩa là các chỉ tiêu đem so sánh phải được đảm bảo tính đồng nhất, tức là đảm bảo

phản ánh cùng một nội dung kinh tế, cùng phương pháp tính toán, sử dụng cùng một

đơn vị đo lường, thống nhất về thời gian, ngoài ra doanh nghiệp cần có quy mô và điều

kiện kinh tế tương tự nhau.

Thứ hai là về gốc so sánh: Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu được lựa chọn làm căn

cứ để so sánh hay còn gọi là gốc so sánh. Tùy mục đích phân tích mà gốc so sánh được

lựa chọn cho phù hợp. Các gốc so sánh có thể sử dụng là:

Số liệu của kỳ trước trong trường hợp cần đánh giá xu hướng phát triển, biến

động của các chỉ tiêu.

Số liệu dự kiến (kế hoạch, dự toán, định mức) trong trường hợp cần đánh giá tình

hình thực tế so với dự tính.

Số liệu trung bình của ngành, lĩnh vực kinh doanh trong trường hợp cần đánh giá

vị trị doanh nghiệp trong mối tương quan với các doanh nghiệp khác trong ngành.

Cuối cùng là các dạng so sánh: Các dạng so sánh thường được sử dụng trong

phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân.

So sánh tuyệt đối là kết quả chênh lệch giữa số liệu của kỳ phân tích với số liệu gốc. Kết quả so sánh tuyệt đối phản ánh sự biến động về quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc.

So sánh tương đối thể hiện bằng tỷ lệ giữa số liệu của kỳ phân tích với kỳ gốc. Kết quả so sánh tương đối thường phản ánh tốc độ phát triển của đối tượng nghiên

cứu. Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:

Số tương đối động thái: Phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độ tăng trưởng của

chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc (cố định kỳ gốc) và số tương

đối liên hoàn (thay đổi kỳ gốc).

4

Số tương đối kế hoạch: Phản ánh mức độ, nhiệm vụ mà doanh nghiệp cần phải

thực hiện trong kỳ trên một số chỉ tiêu nhất định.

Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện: Dùng để đánh giá mức độ thực hiện

trong kỳ của doanh nghiệp đạt bao nhiêu phần so với gốc. Số tương đối phản ánh mức

độ thực hiện có thể sử dụng dưới chỉ số hay tỷ lệ và được tính như sau:

Chỉ số (tỷ lệ %) thực hiện so với = x 100 Trị số chỉ tiêu thực hiện Trị số chỉ tiêu gốc

So sánh với số bình quân: Số bình quân thể hiện tính phổ biến, tính đại diện của

các chỉ tiêu khi so sánh giữa các kỳ phân tích hoặc chỉ tiêu bình quân của ngành. Qua

đó xác định được vị trí hiện tại của doanh nghiệp.

1.2.2. Phương pháp cân đối

Trong các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp có nhiều chỉ tiêu có liên hệ với

nhau bằng những mối liên hệ mang tính chất cân đối như: cân đối giữa tổng tài sản và

tổng nguồn vốn, cân đối giữa nhu cầu với khả năng thanh toán, cân đối thu chi tiền

mặt… Những mối liên hệ cân đối này thường được thể hiện bằng phương trình kinh tế.

Trên cơ sở các mối liên hệ mang tính chất cân đối, nếu một chỉ tiêu thay đổi sẽ

dẫn đến sự thay đổi của chỉ tiêu khác. Do vậy, cần lập công thức cân đối, thu thập số

liệu để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi tiến hành phân tích một chỉ tiêu kinh tế có liên hệ với các chỉ tiêu khác bằng mối liên hệ

cân đối. Phương pháp này thường được sử dụng trong trường hợp mối quan hệ giữa

các chỉ tiêu là mối quan hệ “tổng số”.

1.2.3. Phương pháp phân tích tỷ lệ

Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài

chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác

định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh

nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.

Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày

càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Vì:

Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.

Thứ hai, việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá

trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.

Thứ ba, phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.

5

1.2.4. Phương pháp phân tích Dupont

Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ.Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một

doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích

hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Trong phân tích tài

chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể

phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất

định.

Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng

nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng

tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:

= x Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận ròng Tổng tài sản Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

Hay, ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính

Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục được triển khai chi tiết thành:

= x x Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận ròng Doanh thu Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

Hay, ROE = Hệ số Lợi nhuận ròng x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Đòn

bẩy tài chính

Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện

pháp làm tăng ROE như sau:

Một là tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ

nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động.

Hai là tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông

qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ

cấu của tổng tài sản.

Ba là tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó

tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiêu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải

tiến tổ chức quản lý của doanh nghiệp.

6

1.2.5. Phương pháp khác

Phƣơng pháp loại trừ được sử dụng để xác định hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng cần phân tích. Bằng cách, khi xác

định sự ảnh hưởng của nhân tố này thì loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại.

Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới hai điều kiện sau:

Thứ nhất, các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích được biểu hiện dưới dạng

một tích số hoặc một thương số.

Thứ hai, việc sắp xếp và trình tự xác định ảnh hưởng lần lượt trong từng nhân tố

đến chỉ tiêu phân tích dựa trên quan điểm tích lũy về lượng sẽ dẫn đến biến đổi về chất

(nhân tố số lượng sắp xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau).

Phƣơng pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích: Khi phân tích có thể chi tiết chỉ tiêu

phân tích theo bộ phận cấu thành, theo thời gian và theo địa điểm. Sau đó mới tiến

hành xem xét, so sánh mức độ đạt được của từng bộ phận giữa kỳ phân tích so với kỳ

gốc và mức độ ảnh hưởng của từng bộ phận đến tổng thể cũng như xem xét tiến độ

thực hiện và kết quả đạt được trong từng thời gian hay mức độ đóng góp của từng bộ

phận vào kết quả chung. Từ đó tìm cách cải tiến các giải pháp cũng như điều kiện vận

dụng từng giải pháp một cách phù hợp, hiệu quả.

Phƣơng pháp phân tích xu hƣớng là kỹ thuật phân tích bằng cách so sánh các

tỷ số tài chính của công ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hay xấu đi của các tỷ số tài chính. Thực ra đây chỉ là bước tiếp theo của phân tích tỷ lệ. Sau khi

tính toán các tỷ số, thay vì so sánh các tỷ số này với bình quân ngành chúng ta còn có

thể so sánh tỷ số giữa các năm với nhau và so sánh qua nhiều năm bằng cách vẽ đồ thị

để thấy xu hướng chung.

1.3. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp

Quá trình phân tích tài chính thường được tiến hành qua các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị phân tích là một khâu quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến chất

lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích hoạt động tài chính. Công tác chuẩn bị bao

gồm việc xây dựng chương trình (kế hoạch) phân tích và thu thập, xử lý tài liệu phân tích.

Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích (toàn bộ hoạt động tài chính hay chỉ một số vấn đề cụ thể), phạm vi phân tích (toàn đơn vị hay một vài bộ phận), thời gian tiến hành phân tích (kể cả thời gian chuẩn bị), phân công trách nhiệm

cho các cá nhân, bộ phận và xác định hình thức hội nghị phân tích (Ban giám đốc hay toàn thể người lao động). Đặc biệt, trong kế hoạch phân tích phải xác định rõ loại hình phân tích được lựa chọn. Tùy thuộc vào cách thức tiếp cận, có thể kể ra một số loại

hình phân tích chủ yếu sau:

7

Dựa vào phạm vi phân tích, phân tích tài chính được chia thành phân tích toàn bộ

(phân tích toàn diện) và phân tích bộ phận (phân tích chuyên đề). Phân tích toàn bộ là việc phân tích toàn bộ hoạt động tài chính trên tất cả các khía cạnh nhằm làm rõ các

mặt của hoạt động tài chính trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác

động của các nguyên nhân, nhân tố bên ngoài. Phân tích bộ phận hay là phân tích

chuyên đề là việc tập trung vào một hay một vài khía cạnh cụ thể, trong phạm vi nào đó trong hoạt động tài chính.

Dựa vào thời điểm tiến hành phân tích hoạt động tài chính, phân tích tài chính

được chia thành phân tích dự đoán, phân tích thực hiện và phân tích hiện hành. Phân

tích dự đoán (phân tích trước, phân tích dự báo) là việc phân tích hướng vào dự đoán các hiện tượng có thể xảy ra, các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai. Phân tích

thực hiện (phân tích đánh giá, phân tích quá khứ) là việc phân tích tình hình đã và

đang diễn ra trong quá trình tiến hành các hoạt động tài chính nhằm đánh giá thực

hiện, kiểm tra thường xuyên trên cơ sở đó điều chỉnh những sai lệch, phát hiện nguyên

nhân giúp nhận thức được tình hình thực hiện làm căn cứ đưa ra các quyết định. Phân

tích hiện hành là việc phân tích các nghiệp vụ hay kết quả thuộc hoạt động tài chính

đang diễn ra nhằm xác minh tính đúng đắn của các kế hoạch hay dự toán tài chính để

có biện pháp điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý trong các dự toán, kế hoạch tài

chính.

Dựa vào thời điểm lập báo cáo phân tích, phân tích tài chính được chia thành

phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ. Phân tích thường xuyên được đặt ngay

trong qúa trình thực hiện, kết quả phân tích là tài liệu để điều chỉnh các hoạt động một

cách thường xuyên. Phân tích định kỳ được đặt ra sau mỗi kỳ hoạt động, thường được

thực hiện sau khi kết thúc hoạt động. Kết quả phân tích của từng kỳ là cơ sở để xây

dựng mục tiêu và ra quyết định cho kỳ sau.

Bên cạnh việc lập kế hoạch phân tích, cần phải tiến hành sưu tầm và kiểm tra tài

liệu, bảo đảm yêu cầu đủ, không thiếu, không thừa. Nếu thiếu, kết luận phân tích sẽ

không xác đáng, nếu thừa sẽ lãng phí thời gian, công sức và tiền của. Tuỳ theo yêu cầu, nội dung, phạm vi và nhiệm vụ từng đợt phân tích cụ thể để tiến hành thu thập, lựa chọn, xử lý tài liệu. Tài liệu phục vụ cho việc phân tích bao gồm toàn bộ hệ thống báo cáo tài chính liên quan, kể cả các báo cáo kế hoạch, dự toán, định mức, các biên bản kiểm tra, xử lý có liên quan... Các tài liệu trên cần được kiểm tra tính chính xác,

tính hợp pháp, kiểm tra các điều kiện có thể so sánh được rồi mới sử dụng để tiến hành phân tích.

Bước 2: Thực hiện phân tích được thực hiện theo trình tự sau: Đầu tiên là đánh giá chung (khái quát) tình hình:

8

Dựa vào chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu đã xác định theo từng nội dung

phân tích, các nhà phân tích sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá chung tình hình. Có thể so sánh trên tổng thể kết hợp với việc so sánh trên từng bộ phận cấu thành

của chỉ tiêu ở kỳ phân tích với kỳ gốc. Từ đó, xác định chính xác kết quả, xu hướng

phát triển và mối quan hệ biện chứng giữa các hoạt động kinh doanh với nhau.

Tiếp đến là xác định nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

đến đối tượng phân tích:

Hoạt động tài chính chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân, có những nguyên

nhân mà nhà phân tích có thể xác định được mức độ ảnh hưởng và có những nguyên

nhân không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự biến động của đối tượng nghiên cứu. Những nguyên nhân mà các nhà phân tích có thể tính toán được,

lượng hóa được mức độ ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu gọi là nhân tố. Vì thế,

sau khi đã xác định lượng nhân tố cần thiết ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, các

nhà phân tích sẽ vận dụng phương pháp thích hợp (loại trừ, liên hệ cân đối, so sánh,

toán kinh tế...) để xác định mức độ ảnh hưởng và phân tích thực chất ảnh hưởng của

từng nhân tố đến sự thay đổi của đối tượng nghiên cứu.

Cuối cùng là tổng hợp kết quả phân tích, rút ra nhận xét, kết luận về chất lượng

hoạt động tài chính của doanh nghiệp:

Trên cơ sở kết quả tính toán, xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích cần tiến hành liên hệ, tổng hợp mức

độ biến động của các nhân tố đến đối tượng nghiên cứu nhằm khắc phục tính rời rạc,

tản mạn. Từ đó, rút ra các nhận xét, chỉ rõ những tồn tại, nguyên nhân dẫn đến thiếu

sót, sai lầm; đồng thời, vạch ra các tiềm năng chưa được khai thác, sử dụng để có các

quyết định phù hợp với mục tiêu đặt ra.

Bước 3: Kết thúc phân tích Kết thúc phân tích là giai đoạn cuối cùng của hoạt động phân tích. Trong giai

đoạn này, các nhà phân tích cần tiến hành viết báo cáo phân tích, báo cáo kết quả phân

tích trước những người quan tâm (Ban Giám đốc, các nhà đầu tư, cổ đông...) và hoàn chỉnh hồ sơ phân tích.

1.4. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.4.1. Phân tích bảng cân đối kế toán

BCĐKT có ý nghĩa cả về mặt kinh tế và pháp lý.

Về mặt kinh tế: số liệu phần tài sản cho phép nhà phân tích đánh giá một cách tổng quát quy mô và kết cấu tài sản của doanh nghiệp. Số liệu phần nguồn vốn phản ánh các nguồn tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, qua đó đánh giá thực trạng tài

chính của doanh nghiệp.

9

Về mặt pháp lý: số liệu phần tài sản thể hiện giá trị các loại tài sản hiện có mà

doanh nghiệp có quyền quản lý và sử dụng lâu dài để sinh lợi. Phần nguồn vốn thể hiện phạm vi trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp về tổng số vốn kinh doanh với

chủ nợ và chủ sở hữu. Như vậy, tài liệu từ BCĐKT cung cấp những thông tin tổng hợp

về tình hình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Để phân tích bảng cân đối kế toán cần xem xét, xác định và nghiên cứu những

vấn đề cơ bản sau:

1.4.1.1. Phân tích cơ cấu và sự biến động tài sản

Mục đích: Đánh giá sự biến động của tài sản và sự hợp lý của cơ cấu vốn đối với

hoạt động của doanh nghiệp Phƣơng pháp:

Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản thông qua việc

so sánh từng loại tài sản với nhau và so sánh giữa cuối kỳ với đầu kỳ về cả số tuyệt đối

lẫn số tương đối. Qua đó thấy được sự biến động về quy mô kinh doanh, năng lực kinh

doanh của doanh nghiệp. Khi xem xét vấn đề này, cần quan tâm, chú ý đến tác động

của từng loại tài sản với quá trình kinh doanh. Cụ thể như:

Sự chuyển biến của tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn ảnh hưởng đến khả năng

 ứng phó đối với các khoản nợ đến hạn.

Sự biến động của HTK chịu ảnh hưởng lớn bởi quá trình sản xuất kinh doanh từ

 khoản dự trữ, sản xuất đến khâu bán hàng.

Sự biến động của các khoản thu chi chịu ảnh hưởng của công việc thanh toán và

 chính sách tín dụng của doanh nghiệp đối với khách hàng. Điều đó ảnh hưởng lớn đến

việc quản lý và sử dụng vốn.

Sự biến động của TSCĐ cho thấy quy mô và năng lực sản xuất của doanh

 nghiệp…

Xác định tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng tài sản đồng thời so sánh tỷ trọng

giữa cuối kỳ và đầu kỳ để thấy được sự biến động của cơ cấu vốn. Việc đánh giá cơ

cấu vốn cũng phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ trọng TSDH trên tổng tài sản sẽ tăng lên nếu doanh nghiệp đầu tư thêm TSCĐ. Đây là nhân tố phản ánh mức độ ổn định lâu dài của doanh nghiệp. Ta cũng cần đánh giá xem việc tăng TSCĐ có phù hợp với năng lực và trình độ thực tế của doanh nghiệp không?... 1.4.1.2. Phân tích cơ cấu và sự biến động nguồn vốn

Mục đích: Đánh giá khái quát khả năng tự tài trợ, mức độ tự chủ về mặt tài chính

của doanh nghiệp.

Phƣơng pháp: So sánh tổng nguồn vốn và từng loại nguồn vốn giữa số liệu cuối

kỳ với đầu kỳ về cả số tuyệt đối lẫn tương đối, bên cạnh đó là so sánh tỷ trọng từng

loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn để xác định khoản mục nào chiếm tỷ trọng cao. 10

Doanh nghiệp tài trợ cho hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn vay hay VCSH? Nếu

nguồn VCSH chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng cho thấy khả năng tự đảm bảo tài chính của doanh nghiệp và ngược lại. Tuy nhiên, cần chú trọng đến chính sách tài

trợ vốn của từng doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh đạt được.

1.4.1.3. Phân tích tình hình công nợ

Mục đích: Đánh giá tình hình biến động của các khoản phải thu và công nợ phải

trả của doanh nghiệp.

Phƣơng pháp: So sánh từng chỉ tiêu qua các năm để đánh giá được tình hình

biến động, so sánh khoản phải thu và khoản phải trả để thấy mối tương quan.

- Các khoản phải thu > Các khoản phải trả: Doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn

nhiều hơn khoản chiếm dụng được.

- Các khoản phải thu < Các khoản phải trả: Doanh nghiệp đang có nguồn chiếm

dụng nhiều hơn.

1.4.1.4. Phân tích vốn lưu động ròng

Mục đích: Đánh giá doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán nợ ngắn và TSCĐ

có được tài trợ vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không?

Phƣơng pháp:

VLĐ ròng = Nguồn vốn dài hạn – TSDH = TSNH – Nguồn vốn ngắn hạn - VLĐ ròng >0 phản ánh khả năng thanh toán tốt, thừa nguồn vốn dài hạn, có thể

mở rộng kinh doanh.

- VLĐ ròng <0 phản ánh doanh nghiệp đã dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn để

tài trợ cho TSDH. Tình trạng này diễn ra trong khoảng thời gian dài sẽ không đem lại

sự ổn định và an toàn cho doanh nghiệp.

Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán: Thứ nhất, bảng CĐKT cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh

nghiệp thông qua các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn.

Thứ hai, qua bảng CĐKT có thể thấy được sự biến động của các loại tài sản

trong doanh nghiệp: tài sản lưu động, tài sản cố định.

Thứ ba là thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải

thu và các khoản phải trả.

Cuối cùng, bảng cân đối cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh

nghiệp.

1.4.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Mục đích: Đánh giá tổng hợp tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, xác định nguyên nhân chính ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh

nghiệp.

Phương pháp phân tích:

11

- Sử dụng báo cáo kết quả kinh doanh, so sánh các khoản mục chính (Doanh thu

thuần từ hoạt động bán hàng, GVHB, Lợi nhuận gộp, Lợi nhuận thuần từ HĐKD, Doanh thu từ hoạt động tài chính, Chi phí tài chính, Lợi nhuận sau thuế) trong 3 năm

liên tiếp cả về số tuyệt đối và tương đối để xác định dấu hiệu của tính hiệu quả hay

không hiệu quả trong kết quả kinh doanh.

Xem xét sự biến động của các khoản mục chính và xác định tỷ trọng trên doanh thu thuần để đánh giá mức độ biến động của các khoản chi phí. Ta có thể sử dụng các

chỉ tiêu sau:

Tỷ lệ GVHB trên doanh thu thuần = x 100 (%) Giá vốn hàng bán Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số doanh thu, GVHB chiếm bao nhiều % hay cứ 100 đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng GVHB. Chỉ tiêu

này càng nhỏ chứng tỏ việc quản lý các khoản chi phí trong GVHB càng tốt và ngược

lại.

Tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu thuần = x 100 (%) Chi phí bán hàng Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này phản ánh, để thu được 100 đồng doanh thu thuần, doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí bán hàng. Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ công tác bán

hàng càng có hiệu quả và ngược lại.

Tỷ lệ chi phí QLDN trên doanh thu thuần = x 100 (%) Chi phí QLDN Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết để thu được 100 đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp

phải chi bao nhiêu chi phí QLDN. Tỷ lệ chi phí QLDN trên doanh thu thuần càng nhỏ

chứng tỏ hiệu quả quản lý càng cao và ngược lại.

Từ đó tìm nguyên nhân gây biến động lợi nhuận như:

+ Doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh giảm trong khi GVHB tăng

+ Doanh thu và chi phí đều giảm nhưng tốc độ giảm doanh thu cao hơn…

Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp. Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu. Từ đó tính được tốc độ

tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai.

Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, ta

biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không. Nếu số thuế còn phải

nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không khả quan.

12

Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có

những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp.

1.4.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Mục đích: Đánh giá sự bền vững của dòng tiền, khả năng tạo tiền và sự phù hợp

của dòng tiền so với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đánh giá

sự thịnh vượng hay khó khăn về vốn của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng dòng tiền từ HĐKD có ảnh hưởng đến tình

hình hoạt động của doanh nghiệp không?

Phương pháp phân tích: Đánh giá lưu chuyển tiền thuần âm hay dương, nếu lưu

chuyển tiền thuần âm cần phân tích nguyên nhân. Xu hướng lưu chuyển tiền thuần của doanh nghiệp tăng, ổn định hay giảm, qua đó đánh giá khả năng tạo tiền nhàn rỗi có

thể sử dụng đầu tư, mở rộng HĐKD. Xác định nguồn cơ bản tạo tiền và sử dụng tiền.

- Phân tích lưu chuyển tiền từ HĐKD

+ Xác định thành phần chính của lưu chuyển tiền từ HĐKD (theo phương pháp

gián tiếp thì việc tăng, giảm khoản phải thu, HTK…có thể cho thấy doanh nghiệp đang

sử dụng tiền hay tạo ra tiền)

+ Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD âm hay dương. Tìm nguyên nhân nếu lưu

chuyển tiền thuần âm.

+ So sánh lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD với lợi nhuận trước thuế và doanh thu

thuần.

- Phân tích lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: Đánh giá hoạt động mua sắm tài

sản bằng tiền của doanh nghiệp, đồng thời phân tích LCTT từ hoạt động đầu tư cũng

cho biết dòng tiền thu từ thanh lý, bán các loại tài sản.

- Phân tích lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: Dòng tiền từ hoạt động tài

chính là van điều phối tiền cho các HĐKD, đầu tư, đồng thời giải quyết các nghĩa vụ

trả nợ đến hạn. Nhằm đánh giá chính sách huy động vốn và chính sách chi trả cổ tức

của doanh nghiệp.

Ngoài những nội dung trên, cần phân tích thêm các chỉ số tài chính như sau:

LCTT từ HĐKD trên doanh thu thuần = LCTT từ HĐKD Doanh thu thuần

Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc chuyển doanh thu thuần thành tiền mặt, từ đó có nguồn thành toán các chi phí và đầu tư cho TSCĐ. Chỉ tiêu này càng nhỏ phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp đang bị chiếm dụng, doanh

nghiệp có thể phải sử dụng dự trữ tiền mặt hoặc tăng nợ vay để duy trì HĐKD.

LCTT từ HĐKD trên VCSH = LCTT từ HĐKD Vốn chủ sở hữu

13

Chỉ tiêu này mang ý nghĩa: một đồng VCSH tạo ra bao nhiêu tiền từ HĐKD. Chỉ

tiêu này cũng phản ánh hiệu quả tạo tiền của doanh nghiệp.

1.4.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính 1.4.4.1. Phân tích khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán ngắn hạn Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán cho biết khả năng của doanh nghiệp trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn bằng cách sử dụng những tài sản dễ

chuyển đổi thành tiền .

Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = Tổng tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này nhằm đo lường khả năng đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn từ tài sản ngắn hạn của công ty. Vì vậy, để đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn, hệ

số khả năng thanh toán hiện thời phải lớn hơn 1. Hệ số khả năng thanh toán hiện hành

càng cao thông thường khả năng thanh toán sẽ được đảm bảo tốt nhưng đồng thời cũng

thể hiện khả năng linh hoạt về nguồn vốn của công ty bị hạn chế. Hệ số nhỏ hơn 1 thể

hiện công ty bị mất cân bằng trong cơ cấu tài chính, rủi ro thanh toán cao, công ty đã

sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sản dài hạn. Những biện pháp cơ bản để

cải thiện chỉ tiêu này phải nhằm vào việc gia tăng nguồn vốn ổn định (vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn) thay cho các khoản nợ ngắn hạn.

Tuy nhiên, hệ số khả năng thanh toán hiện hành chỉ phản ánh một cách khái quát

khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Bởi vì một khi tài sản ngắn hạn của công ty lớn hơn

nợ ngắn hạn thì cũng chưa chắc tài sản ngắn hạn có thể đảm bảo thanh toán cho các

khoản nợ ngắn hạn nếu như tài sản này luân chuyển chậm hoặc không luân chuyển,

chẳng hạn tồn kho ứ đọng không tiêu thụ được, các khoản phải thu tồn đọng không thu

được tiền. Vì vậy, khi phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn trên cơ sở đảm bảo của

tài sản ngắn hạn cần phải phân tích chất lượng của các yếu tố tài sản ngắn hạn qua các

chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân, tốc độ luân chuyển tồn kho

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = TSNH - Giá trị hàng tồn kho Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán nhanh phản ánh khả năng công ty có thể thanh toán ngay các

khoản nợ ngắn hạn đến mức độ nào căn cứ vào những tài sản ngắn hạn có khả năng chuyển hóa thành tiền nhanh nhất. Không có cơ sở để yêu cầu chỉ tiêu này phải lớn hơn 1 vì trong các khoản nợ ngắn hạn, có những khoản đã và sẽ đến hạn thanh toán

ngay thì mới có nhu cầu thanh toán, những khoản chưa đến hẹn chưa có nhu cầu phải

thanh toán ngay.

Ở Việt Nam hiện nay, khi xác định các chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán nhanh chỉ tính ở phần tử số bao gồm tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, không tính

14

các khoản phải thu vì tính thanh khoản của các khoản phải thu ở Việt Nam hiện nay

còn thấp do nghiệp vụ mua bán nợ và chiết khấu thương phiếu chưa phát triển.

Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn ở

mức cao nhất khi chủ nợ yêu cầu thanh toán khoản nợ ngay lập tức. Hệ số này cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào lượng dự trữ tiền mặt tại doanh nghiệp.

Khả năng thanh toán dài hạn Nợ dài hạn là các khoản nợ mà đơn vị có nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn trên

1 năm kể từ ngày phát sinh. Đây là một bộ phận nguồn vốn ổn định dùng để đầu tư tài

sản dài hạn như tài sản cố định, bất động sản,...

Khả năng thanh toán nợ dài hạn = Tài sản dài hạn Nợ dài hạn

Khả năng thanh toán nợ dài hạn là chỉ tiêu cho biết khả năng thanh toán nợ dài

hạn đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao thì tình hình tài

chính của doanh nghiệp càng ổn định.

1.4.4.2. Phân tích chỉ số hoạt động 1.4.4.2.1. Quản lý tài sản

a) Quản lý tài sản chung

Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản = Doanh thu thuần Tổng tài sản

Thời gian quay vòng toàn bộ tài sản = 365 Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản

Trong đó, tổng tài sản có là tổng toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp bao gồm

cả tài sản cố định và tài sản lưu động tại thời điểm tính toán và dựa trên giá trị theo sổ

sách kế toán.

Tỷ số này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó cho biết hiệu quả sử

dụng toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp, hoặc thể hiện một đồng vốn đầu tư vào

doanh nghiệp đã đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.

Nếu như trong các thời kỳ, tổng mức tài sản của doanh nghiệp đều tương đối ổn định, ít thay đổi thì tổng mức bình quân có thể dùng số bình quân của mức tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ. Nếu tổng mức tài sản có sự thay đổi biến động lớn thì phải tính theo tài liệu tỉ mỉ hơn đồng thời khi tính mức quay vòng của tổng tài sản thì các trị số phân

tử và mẫu số trong công thức phải lấy trong cùng một thời kỳ.

Mức quay vòng của tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng tổng hợp toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Giá trị của chỉ tiêu càng cao, chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được mức lợi ích càng nhiều, do đó trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng lực thu lợi của doanh 15

nghiệp càng cao. Nếu ngược lại thì chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp chưa được

sử dụng có hiệu quả. b) Quản lý tài sản ngắn hạn

Đây là nhóm chỉ tiêu rất quan trọng để xem xét mức độ tăng trưởng của lợi

nhuận doanh nghiệp được sinh ra bởi tài sản hoặc một bộ phận tài sản.

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn

Thời gian quay vòng tài sản ngắn hạn = 365 Hiệu suất sử dụng TSNH

Tỷ số này phản ánh tình hình quay vòng của tài sản ngắn hạn, và là một chỉ tiêu

ước lượng hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn. Như vậy, tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một

đồng tài sản ngắn hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm. Tỷ số này

cao chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao

so với tài sản ngắn hạn, chứng tỏ việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là

hợp lý, hiệu suất sử dụng cao, và ngược lại.

Số vòng quay HTK = Giá vốn hàng bán Giá trị hàng tồn kho bình quân

Số vòng quay HTK là tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp sử dụng hiệu quả HTK.

Số vòng quay HTK càng cao càng thể hiện việc quản lý HTK có hiệu quả, có khả năng

đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và ngược lại. Song, nếu số vòng quay HTK quá

cao cũng có nghĩa là doanh nghiệp đang thiếu hàng hóa, nguyên vật liệu, ngược lại, số

vòng quay quá thấp là dấu hiệu của việc doanh nghiệp còn ứ đọng quá nhiều HTK hay

HTK bị lỗi thời, hư hỏng…Việc đánh giá tỷ lệ này còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh

doanh và thời kỳ cụ thể mà doanh nghiệp hoạt động.

Từ chỉ tiêu trên ta có thể tính toán thêm được thời gian quay vòng HTK

Thời gian quay vòng HTK = Số ngày trong kỳ Số vòng quay hàng tồn kho

Tỷ số này thể hiện hiệu quả của doanh nghiệp trong quản lý HTK, là tiêu chuẩn đánh giá tính thanh khoản của HTK trong doanh nghiệp. Cùng với số vòng quay HTK, việc phân tích thời gian quay vòng HTK cũng cho ta rõ hơn về thời gian từ khi doanh nghiệp mua hàng cho đến khi tiêu thụ hết. Thời gian quay vòng HTK cũng cho thấy hiệu quả quản lý HTK tại doanh nghiệp. Việc duy trì một lượng HTK hợp lý góp phần

đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện liên tục và hiệu quả, bên cạnh đó cũng tiết kiệm giảm thiểu được chi phí bảo quản và cất giữ HTK.

Số vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần Phải thu khách hàng bình quân

16

Số vòng quay khoản phải thu được sử dụng để xem xét các khoản phải thu khi

khách hàng thanh toán. Chỉ tiêu này cũng đưa ra những thông tin về chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp. Nếu số vòng quay khoản phải thu quá thấp cho

thấy hiệu quả sử dụng vốn kém, nhưng quá cao thì sẽ giảm sức cạnh tranh.

Ngoài việc so sánh chỉ tiêu này giữa các năm, giữa các doanh nghiệp cùng

ngành, người phân tích cần xem xét từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi để đưa ra biện pháp xử lý. Ta có thể tính toán thời gian thu tiền

bình quân

Thời gian thu tiền bình quân = Số ngày trong kỳ Số vòng quay khoản phải thu

Thời gian thu tiền bình quân là số ngày bình quân cần có để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt, thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc thu nợ từ

khách hàng.Thời gian thu tiền bình quân ảnh hưởng tới chu kỳ kinh doanh và vòng

quay tiền, cho thấy doanh nghiệp có bị chiếm dụng vốn hay không.

Thời gian thanh toán khoản phải trả = Số ngày trong kỳ Số vòng quay khoản phải trả

Trong đó, số vòng quay khoản phải trả được tính bằng công thức:

Số vòng quay khoản phải trả = GVHB Phải trả ngƣời bán

Tỷ số này cho biết thời gian từ khi mua hàng hóa và nguyên vật liệu, dịch vụ…

cho đến khi thanh toán cho người bán.

Thời gian thanh toán khoản phải trả dài nghĩa là điều kiện thanh toán của nhà

cung cấp là thuận lợi cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp dễ dàng tăng VLĐ, tuy

nhiên cũng có thể do giá mua là cao hoặc doanh nghiệp đang phụ thuộc vào các điều

kiện tín dụng thương mại.

Thời gian thanh toán khoản phải trả ngắn có thể do điều kiện thanh toán bất lợi từ

phía nhà cung cấp. Dù vậy, cũng có khả năng doanh nghiệp có nhiều vốn, tận dụng

chính sách chiết khấu nếu thanh toán sớm để mua hàng với giá cả tốt hơn.

Để xác định được thời gian thanh toán khoản phải trả với doanh nghiệp là tốt hay xấu còn phải tùy thuộc vào loại hình cũng như chính sách quản lý của mỗi doanh nghiệp.

- Chu kỳ kinh doanh và vòng quay tiền

Chu kỳ kinh doanh = Thời gian quay vòng HTK + Thời gian thu tiền bình quân Chu kỳ kinh doanh cho biết khoảng thời gian từ khi mua hàng hóa, nguyên vật liệu cho đến khi thu được tiền từ bán hàng, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp. Chu

kỳ kinh doanh tùy thuộc vào thời gian quay vòng HTK và thời gian thu biền bình quân

17

ngắn hay dài. Điều này tùy thuộc vào những nguyên nhân đã nói ở các mục trên hoặc

do chính sách của doanh nghiệp.

Vòng quay tiền = Chu kỳ kinh doanh – Thời gian thanh toán khoản phải trả

Vòng quay tiền cho biết số ngày doanh nghiệp cần tiền để tài trợ cho các khoản

phải thu và hàng tồn kho sau khi xem xét đến thời gian chiếm dụng được vốn khi mua

hàng. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt, nếu chỉ tiêu này lớn tức là doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong khả năng thanh toán do tiền nằm ở HTK và các khoản phải thu,

trong khi đó doanh nghiệp chịu áp lực từ các khoản nợ đến hạn.

c) Quản lý tài sản dài hạn

Để phân tích khả năng quản lý tài sản dài hạn, người ta dùng các chỉ tiêu sau:

Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn = Doanh thu thuần Tài sản dài hạn

Thời gian quay vòng tài sản dài hạn = 365 Hiệu suất sử dụng TSDH

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:là một trong những tỷ số tài chính đánh giá

khái quát hiệu quả sử dụng tài sản, ở đây là tài sản cố định, của doanh nghiệp.

Hiệu quả sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần Tài sản cố định

Thời gian quay vòng tài sản cố định = 365 Hiệu suất sử dụng TSCĐ

Tỷ số này còn được gọi là Mức quay vòng của tài sản cố định, phản ánh tình hình

quay vòng của tài sản cố định, và là một chỉ tiêu ước lượng hiệu suất sử dụng tài sản

cố định. Như vậy, tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản cố định

của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu

đồng doanh thu trong một năm. Tỷ số này cao chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh

nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao so với tài sản cố định, chứng tỏ việc đầu tư

vào tài sản cố định của doanh nghiệp là xác đáng, cơ cấu hợp lý, hiệu suất sử dụng

cao. Ngược lại, nếu vòng quay tài sản cố định không cao thì chứng tỏ hiệu suất sử

dụng thấp, kết quả đối với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp không mạnh. Mặt khác, tỷ số còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sản các loại.

Ngoài ra, để quản lý tài sản dài hạn cần phân tích thêm các chỉ số tài chính sau:

Hiệu suất đầu tƣ tài chính dài hạn = Doanh thu tài chính dài hạn Đầu tƣ tài chính dài hạn

Các khoản đầu tư tài chính dài hạn là các khoản đầu tư mà công ty có ý định thực hiện trong khoảng thời gian từ hơn 1 năm trở lên. Các khoản đầu tư tài chính dài

hạn có thể bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu và tiền mặt. Điểm khác nhau cơ bản giữa tài khoản các khoản đầu tư tài chính dài hạn với tài khoản các khoản đầu tư ngắn hạn là

18

các khoản đầu tư ngắn hạn có thể dễ dàng được bán đi trong khi các khoản đầu tư dài

hạn thì không thể.Như vậy, tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng đầu tư tài chính dài hạn tạo

ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm. Tỷ số này cao chứng tỏ tình hình

kinh doanh của doanh nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao so với mức tài chính

dài hạn đầu tư, chứng tỏ việc đầu tư vào tài chính dài hạn của doanh nghiệp là đúng đắn.

Hiệu suất sử dụng bất động sản đầu tƣ = Doanh thu Bất động sản đầu tƣ

Tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng bất động sản đầu tư của doanh nghiệp, hay

nói cách khác là một đồng đầu tư bất động sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm.

1.4.4.2.2. Quản lý nợ

Để phân tích khả năng quản lý nợ, người ta dùng các chỉ tiêu sau:

Tỷ số nợ = Tổng số nợ Tổng nguồn vốn

Trong đó, tổng số nợ gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Còn tổng tài sản có bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố

định hay là tổng toàn bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

trong phần bên trái của Bảng cân đối kế toán.

Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các

chủ nợ trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích tỷ số này vừa phải vì tỷ số

này càng thấp thì khoản nợ vay càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị

phá sản. Còn các chủ sở hữu thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận tăng nhanh. Tuy

nhiên nếu tỷ số nợ quá cao thì doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng

thanh toán. Để có nhận định đúng về tỷ số này cần phải kết hợp với các tỷ số khác nữa.

Khả năng thanh toán lãi vay (dựa trên lợi nhuận)

Tỷ số khả năng trả lãi = Lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay Chi phí lãi vay

Do khoản chi phí trả lãi vay được trừ vào lợi nhuận trước thuế và lãi vay, sau đó mới nộp thuế và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế - phần dành cho các chủ sở hữu. Vì vậy nếu EBIT lớn hơn lãi vay càng nhiều lần thì khả năng đảm bảo cho việc thanh toán các khoản trả lãi từ lợi nhuận càng đảm bảo hơn. Nếu hệ số khả năng đảm bảo lãi vay

thấp, rủi ro tài chính của công ty càng cao có thể vì hai lý do:

Thứ nhất là công ty sử dụng đòn bẩy tài chính cao, tỷ số nợ cao, làm tăng chi phí

lãi vay phải trả.

19

Thứ hai là do hiệu quả hoạt động của công ty thấp, tỷ lệ hoàn vốn hoặc tỷ suất

sinh lời trên tài sản thấp, lợi nhuận trước thuế và lãi vay thấp sẽ làm giảm hệ số đảm bảo thanh toán lãi vay.

Khả năng thanh toán dựa trên LCTT hoạt động kinh doanh

Một công ty có tỷ lệ nợ cao sẽ có rủi ro cao về khả năng thanh toán. Nhu cầu

thanh toán một khoản chi phí lãi vay cố định và thường xuyên cũng như nhu cầu thanh toán nợ gốc khi đến hạn sẽ khiến cho công ty phải đảm bảo có một số tiền tạo được từ

HĐKD để đáp ứng cho các nhu cầu này. Một dòng LCTT từ HĐKD cao và ổn định sẽ

giúp công ty có thể thanh toán các khoản nợ này một cách dễ dàng. Ngược lại, công ty

sẽ gặp rủi ro mất khả năng thanh toán khi LCTT từ HĐKD thấp và không ổn định. Một dòng LCTT từ HĐKD ổn định trong dài hạn sẽ tương ứng với một tỷ suất sinh lời

trên tài sản cao đồng thời với việc duy trì một mức vốn lưu động ổn định.

Tỷ số LCTT ròng HĐKD so với nợ vay ngắn hạn = LCTT ròng từ HĐKD Nợ vay ngắn hạn đầu kỳ

Nợ vay ngắn hạn đầu kỳ bao gồm cả nợ vay ngắn hạn và nợ dài hạn đến hạn trả.

Tỷ lệ LCTT ròng từ HĐKD so với nợ vay ngắn hạn > 1 chứng tỏ doanh nghiệp

có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ vay ngắn hạn đầu kỳ, kể cả trách nhiệm thanh

toán các khoản nợ dài hạn đến hạn trong kỳ. Nếu tỷ lệ này < 1 chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tạo ra đủ tiền để thanh toán các khoản nợ vay phải trả

trong kỳ phân tích do những nguyên nhân như do doanh nghiệp gia tăng vốn lưu động,

do phải trả nợ dài hạn đến hạn quá lớn, do hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp giảm sút (tỷ lệ lợi nhuận ròng không kể khấu hao trên doanh thu giảm).

Nếu chỉ tiêu này liên tục < 1 có nghĩa là công ty cần huy động vốn liên tục bất

chấp làm ăn lãi hay lỗ, lãi nhiều hay ít. Khi dòng vốn huy động bị ngắt đi thì tình trạng

khốn đốn tài chính sẽ xảy ra và nguy cơ mất khả năng thanh toán sẽ đến gần.

1.4.4.3. Nhóm chỉ số khả năng sinh lời

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần (ROS) ROS cho biết 1 đồng doanh thu thuần tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau

thuế.

ROS = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần

Các nhà quản lý và đầu tư đều nghiên cứu kỹ về xu hướng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu. Nếu tỷ lệ này tăng, chứng tỏ rằng khách hàng chấp nhận mua với giá cao,

hoặc cấp quản lý kiểm soát chi phí tốt, hoặc cả hai. Trái lại, tỷ lệ lợi nhuận trên doanh

thu giảm có thể báo hiệu chi phí đang vượt tầm kiểm soát của cấp quản lý, hoặc công ty đang phải chiết khấu để bán sản phẩm hoặc dịch vụ của mình.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

20

Tỷ suất sinh lời trên tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của một công ty trong

việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau khi đã trừ thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu.

ROA là tỷ suất sinh lời trên tài sản của công ty sau tác động của thuế nhưng chưa

có tác động của nợ.

ROA = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân

Tài sản của công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn

vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc

chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao chứng tỏ

công ty hoạt động càng hiệu quả vì kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào công ty đem

lại cho chủ sở hữu bao nhiều đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh

nghiệp.

ROE có liên quan đến chi phí lãi vay, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, vì vậy

nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động

của đòn bẩy tài chính,

ROE = Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân

Sự khác nhau giữa ROA và ROE là do công ty có sử dụng vốn vay, nếu công ty

không sử dụng vốn vay thì hai tỷ số sẽ bằng nhau.

Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo

ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với

các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó quyết định mua cổ phiếu của công ty

nào.

Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ

đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên ROE càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.

1.4.4.4. Phân tích Dupont Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng

nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng

tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:

= x Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận ròng Tổng tài sản Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

21

Hay, ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính

Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục được triển khai chi tiết thành:

= x x Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận ròng Doanh thu Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

Hay, ROE = Hệ số Lợi nhuận ròng x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Đòn

bẩy tài chính

phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị

DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiêu

quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của doanh

nghiệp.

1.4.5. Phân tích điểm hòa vốn

Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu bán ra vừa đủ để bù đắp tất cả các chi

phí, bao gồm chi phí cố định (định phí) và chi phí biến đổi (biến phí). Điều này có

nghĩa là tại điểm hòa vốn, doanh nghiệp không thu được lãi nhưng cũng không bị lỗ.

Điểm hòa vốn có thể được phản ánh theo đơn vị hiện vật hay giá trị (điểm hòa

vốn theo sản lượng và điểm hòa vốn theo doanh thu). Doanh số hòa vốn phản ánh

doanh thu tối thiểu trước khi bị lỗ.

- Phân tích hòa vốn: Đây là kỹ thuật phân tích mối quan hệ giữa chi phí cố định,

chi phí biến đổi, lợi nhuận và số lượng tiêu thụ.

+ Phân tích hòa vốn theo sản lượng là kỹ thuật phân tích mối quan hệ giữa chi

phí cố định, chi phí biến đổi và số lượng tiêu thụ. Phân tích hòa vốn theo sản lượng

thích hợp với công ty sản xuất, tiêu thụ ít loại hình sản phẩm, dễ dàng xác định chi phí

hình thành từng sản phẩm.

Từ đó ta có điểm hòa vốn theo sản lượng:

QBE = F P - V

Trong đó: P: đơn giá bán F: định phí

V: biến phí đơn vị QBE: số lượng hòa vốn Nếu số lượng tiêu thụ vượt qua điểm hòa vốn thì doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận và

ngược lại, nếu số lượng tiêu thụ dưới mức hòa vốn thì doanh nghiệp bị lỗ.

+ Phân tích hòa vốn theo doanh thu là kỹ thuật phân tích mối quan hệ giữa tổng

chi phí cố định, tổng chi phí biến đổi và tổng doanh thu. Phân tích hòa vốn theo doanh

thu thích hợp với công ty sản xuất, tiêu thụ nhiều loại hình sản phẩm và khó khăn

trong xác định chi phí hình thành từng sản phẩm.

Tại điểm hòa vốn thì tổng doanh thu bằng tổng chi phí hay EBIT = 0, do đó:

22

SBE = F 1 - VC/S

Trong đó: S: Tổng doanh thu F: Tổng chi phí cố định VC: Tổng chi phí biến đổi SBE: Doanh thu hòa vốn

Nếu doanh thu ở mức thấp hơn điểm hòa vốn thì doanh thu không bù đắp được

chi phí hay EBIT < 0 và ngược lại. Để thay đổi điểm hòa vốn, doanh nghiệp cần thay

đổi chi phí cố định

1.4.6. Phân tích tình hình sử dụng đòn bẩy tại doanh nghiệp 1.4.6.1. Đòn bẩy hoạt động

Đòn bẩy họat động là mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định của công ty.

Trong đó: Chi phí cố định là chi phí không thay đổi khi số lượng thay đổi như chi phí khấu hao, bảo hiểm, một phần chi phí điện nước…Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi

khi số lượng thay đổi như chi phí nguyên vật liệu, lao động trực tiếp, hoa hồng bán

hàng… Doanh nghiệp đầu tư chi phí cố định với hy vọng số lượng tiêu thụ sẽ tạo ra doanh thu đủ lớn để trang trải chi phí, bên cạnh đó sự xuất hiện của định phí góp phần

gây ra sự thay đổi trong số lượng tiêu thụ để khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận (lỗ).

Mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động = Chi phí cố định Tổng chi phí

Hay Mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động = Chi phí cố định Tổng doanh thu

- Độ bẩy hoạt động (DOL): Khi doanh nghiệp sử dụng nhiều chi phí cố định thì

phần trăm thay đổi trong lợi nhuận sẽ lớn hơn phần trăm thay đổi trong doanh thu. Với

chi phí hoạt động cố định lớn, 1% thay đổi trong doanh thu hoặc sản lượng sẽ tạo ra sự

thay đổi lớn hơn 1% trong lợi nhuận hoạt động (EBIT).

DOL = = % thay đổi EBIT % thay đổi doanh thu thuần % thay đổi EBIT % thay đổi sản lượng

Dựa vào báo cáo thu nhập, có thể tính toán được sự thay đổi trong EBIT và doanh thu thuần, từ đó dự đoán giá trị DOL. Giá trị DOL cho ta biết khi doanh thu

thuần hoặc sản lượng thay đổi 1% thì EBIT sẽ thay đổi DOL%.

Để tính độ bẩy hoạt động theo sản lượng Q (thích hợp với công ty có sản phẩm

mang tính đơn chiếc) ta áp dụng công thức:

DOLQ = Q Q - QBE

Từ công thức này ta có thể thấy, kể từ điểm hòa vốn, nếu sản lượng càng tăng thì

độ bẩy hoạt động càng giảm. Độ bẩy hoạt động tiến tới vô cùng khi sản lượng tiến dần đến điểm hòa vốn. Khi sản lượng càng vượt xa điểm hòa vốn thì độ bẩy hoạt động sẽ

tiến dần đến 1.

23

+ Đối với những công ty có sản phẩm đa dạng hơn và không thể tính thành đơn

DOLS = vị, ta dùng chỉ tiêu độ bẩy theo doanh thu S như sau: S - VC S - VC - F

Nếu doanh nghiệp có độ bẩy hoạt động cao, tức là chỉ cần biến động nhỏ trên

doanh thu hoặc sản lượng sẽ gây ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận. Tính toán được DOL giúp doanh nghiệp dễ dàng quyết định chính sách doanh thu và chi phí hơn.

1.4.6.2. Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính là mức độ mà theo đó các chứng khoán có thu nhập cố định

(nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cơ cấu nguồn vốn của công ty. Doanh

nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng gia tăng được lợi nhuận cho cổ đông thường.

Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính = Nợ phải trả Tổng nguồn vốn

- Độ bẩy tài chính (DFL): Chỉ tiêu định lượng để đo lường mức độ biến động của

thu nhập trên cổ phần thường khi EBIT thay đổi.

DFL = % thay đổi EPS % thay đổi EBIT

Trong đó, EPS là thu nhập trên mỗi cổ phần thường.

Ta có công thức đầy đủ tính độ bẩy tài chính như sau:

EBIT DFL =

EBIT - I - PD 1-t

Khi PD = 0 (tài trợ bằng nợ) thì DFL = trong đó I là chi phí lãi vay EBIT EBIT - I

Giá trị DFL cho ta biết khi EBIT thay đổi 1% thì thu nhập trên mỗi cổ phần

thường sẽ thay đổi DFL%. Đòn bẩy tài chính có những tác động đến chi phí sử dụng

vốn, giá cổ phần, lợi nhuận và rủi ro.

1.4.6.3. Đòn bẩy tổng hợp

Trên thực tế, doanh nghiệp không chỉ sử dụng 1 đòn bẩy mà thường kết hợp cả 2 đòn bẩy trong nỗ lực gia tăng tỷ suất lợi nhuận hay thu nhập cho cổ đông. Đòn bẩy tổng hợp là việc doanh nghiệp sử dụng kết hợp cả chi phí hoạt động và chi phí tài trợ cố định. Khi sử dụng kết hợp, sản lượng thay đổi làm thay đổi EBIT, sau đó EBIT thay

đổi làm thay đổi EPS.

- Độ bẩy tổng hợp (DTL) để đo lường mức biến đổi của EPS khi doanh thu thay

đổi. Đòn bẩy tổng hợp là việc công ty kết hợp sử dụng cả chi phí hoạt động và chi phí

tài trợ cố định.

24

DTL = DOL x DFL = % thay đổi EPS % thay đổi doanh thu thuần

DTL cho ta biết khi doanh thu thay đổi 1% thì EPS thay đổi DTL%. Mức độ tác

động của đòn bẩy tổng hợp là thức đo cho phép đánh giá mức độ rủi ro tổng thể của

doanh nghiệp bao hàm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính

Độ bẩy tổng hợp còn được xác định bằng công thức sau:

Q(P - V) DTLQ =

Q(P - V) - F - I - PD 1-t

EBIT + F HayDTLS =

EBIT - I - PD 1-t

Ở mỗi mức doanh thu hay sản lượng thì mức độ tác động của đòn bẩy tổng hợp

cũng khác nhau.

1.5. Các yếu tố ảnh hƣởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp 1.5.1. Yếu tố khách quan 1.5.1.1. Môi trường quốc tế

Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007, yếu tố môi

trường quốc tế đối với các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng có tầm quan trọng, tác

động rõ nét đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các sự kiện kinh tế, chính trị,

văn hóa pháp luật trên thế giới, các xu hướng tài chính và giá cả các nguồn nguyên

nhiên liệu trên thế giới giờ đây đều ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình kinh doanh

của công ty, đòi hỏi các nhà quản trị cần đặt mối quan tâm đúng đắn hơn với môi

trường kinh tế quốc tế, từ đó có cái nhìn và chiến lược phù hợp để đưa doanh nghiệp

vượt qua khó khăn hay nắm bắt cơ hội trên thị trường.

1.5.1.2. Môi trường trong nước và môi trường pháp lý

Tình hình chính trị và kinh tế trong nước nắm phần mấu chốt để các doanh

nghiệp có được hiệu quả kinh doanh hiệu quả. Một môi trường chính trị ổn định sẽ

giúp các doanh nghiệp kinh doanh an toàn và cân bằng. Các chỉ tiêu kinh tế và bản đồ các ngành, lĩnh vực trong một quốc gia là cơ sở để doanh nghiệp đề ra phương án kinh doanh đúng đắn.

Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật… Mọi quy định pháp luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì môi trường pháp lý tạo ra “sân chơi” để các doanh nghiệp

cùng tham gia kinh doanh, vừa cạnh tranh lại vừa hợp tác với nhau nên việc tạo ra môi

trường pháp lý lành mạnh là rất quan trọng. Một môi trường pháp lý lành mạnh vừa

tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vi mô theo hướng không chỉ chú ý đến 25

kết quả và hiệu quả riêng mà còn phải chú ý đến lợi ích của các thành viên khác trong

xã hội. Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, cạnh tranh với nhau một cách lành mạnh, mỗi doanh nghiệp

buộc phải chú ý đến phát triển các nhân tố nội lực, ứng dụng các thành tựu khoa học

kỹ thuật và khoa học quản trị tiên tiến để tận dụng được các cơ hội bên ngoài nhằm

phát triển kinh doanh của mình, tránh những đổ vỡ không cần thiết, có hại cho xã hội.

1.5.1.3. Môi trường xã hội

Xã hội phát triển kéo theo sự phát triển của trình độ dân trí , cơ sở khoa học kỹ thuật phát triển, đời sống của cong người được nâng cao kèm theo các xu hướng kinh

tế , thói quen tiêu dùng mới v.v.. Những thay đổi đó đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh

nhạy nắm bắt kịp thời các xu hướng này. Các phong tục tập quán , các nếp văn hóa xã

hội của mỗi quốc gia vùng miền có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại của một sản phẩm hay dịch vụ mà một công ty tạo ra. Không những thế , các chiến dịch marketing

và quảng bá của công ty cũng phần nhiều phải dựa trên đặc điểm văn hóa xã hội mà

doanh nghiệp đó nhắm đến.

Tựu chung, muốn phát triển và đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh, doanh

nghiệp cần hiểu rõ môi trường văn hóa xã hội xung quanh mình.

Hãy nhìn vào một môi trường xã hội cụ thể và gần gũi nhất đó là Việt Nam. Tại

Việt Nam, nguồn lao động rẻ nhưng trình độ chuyên môn cao chiếm số lượng rất ít,

chủ yếu là lao động phổ thông, phù hợp với quy trình sản xuất. Việt Nam cũng là nước

coi trọng các phong tục tập quán của những thế hệ đi trước để lại. Do vậy, nhiều doanh

nghiệp đã có những thiết kế sản phẩm hay mẫu quảng cáo đánh vào đặc điểm này. Ví

dụ như quảng cáo của Nestle: ”trong 100 năm qua Nestle luôn chú trọng các giá trị

truyền thống, uống nước nhớ nguồn…”

Với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì còn cần nghiêm cứu văn hóa và xã hội

nơi quốc gia tiêu thụ sản phẩm và có sự điều chỉnh phù hợp.

1.5.1.4. Trình độ khoa học kỹ thuật

Kỹ thuật và công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh. Ngày nay vai trò của kỹ thuật và công nghệ được các doanh nghiệp đánh giá cao. Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào lĩnh vực này, nhất là đầu

tư cho nghiên cứu và phát triển.

Đầu tư vào khoa học ký thuật sẽ giúp nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm,

giảm thiểu giá thành, thời gian chi phí của quy trình sản xuất.

26

1.5.1.5. Thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp

Trong các chủ thể liên quan đến doanh nghiệp thì nhà cung cấp và khách hàng là những chủ thể quan trọng nhất. Đại diện cho thị trường đầu vào, các nhà cung cấp có

mối quan hệ mật thiết đến giá cả, chi phí và quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Chất

lượng nguyên nhiên vật liệu đầu vào phụ thuộc vào nhà cung cấp, hơn nữa việc tạo

mối quan hệ tốt với bên nhà cung cấp còn có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp cạnh tranh cùng ngành.

Khách hàng hay thị trường đầu ra quyết định tính thành bại của doanh nghiệp,

một sản phẩm hay dịch vụ khi được sản xuất ra cần có người tiêu thụ. Việc thu hút

khách hàng và xây dựng mối quan hệ lâu dài là một điều mà ngày nay mọi doanh nghiệp đều muốn đạt được. Các mối quan tâm, thị hiếu, tâm lý của khách hàng được

các doanh nghiệp bỏ công sức nghiên cứu và tìm hiểu nhằm đưa ra sản phẩm phù hợp

đảm bảo cho mức độ tiêu thụ và sau đó là hiệu quả sản xuất của cả doanh nghiệp.

1.5.1.6. Tính cạnh tranh

Công việc kinh doanh ngày nay gặp rất nhiều thử thách , một trong số đó là sự

canh tranh gay gắt khốc liệt và không ngừng nghỉ của các đối thủ trong thị trường.

Việc Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới thậm chí khiến cho bài toán

canh tranh của mỗi doanh nghiệp trong nước giờ đây khó khăn hơn. Việc tìm hiểu

điểm mạnh và điểm yếu của bản thân doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh được đặt lên hàng đầu. Việc hiểu đối thủ canh tranh khiến doanh nghiệp có cơ hội hơn trong thị

trường, có những chính sách và quyết định phù hợp để tạo thế mạnh riêng cho mình.

1.5.2. Yếu tố chủ quan 1.5.2.1. Bộ máy tổ chức doanh nghiệp

Mọi doanh nghiệp đều có bộ máy cơ cấu tổ chức riêng, các nhà quản trị doanh

nghiệp là những người đứng đầu trực tiếp đưa ra quyết định, vạch ra các chiến lược

kinh doanh, đề xuất các biện pháp cải tiến và khắc phục khó khăn mà doanh nghiệp

gặp phải.Vai trò của các nhà quản trị hay bộ máy tổ chức rất quan trọng , hiệu quả sản

xuất kinh doanh có cao hay không đều dựa và trình độ và cái nhìn của nhà quản trị.

Một bộ máy tổ chức hợp lý, chặt chẽ sẽ là cái khung vững chắc cho doanh nghiệp, đảm bảo cho mọi hoạt động , dễ dàng tiếp cận được mục tiêu và tiên chỉ đề ra, trong đó có hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn kinh tế suy thoái và gặp nhiều khó khăn như hiện nay, vai trò của nhà quản trị càng lớn hơn, giúp doanh nghiệp

phát triển vững vàng vượt qua những sóng gió của thị trường trong nước và quốc tế. Chính vì vậy ngày nay, môi trường trong công ty và cơ cấu quản lý là điều mà các doanh nghiệp từ khi mới thành lập đều có mối quan tâm rất cao.

27

1.5.2.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh

Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào

tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài

hạn khác nhau nên hệ số sinh lợi của tài sản cũng khác nhau. Doanh nghiệp có đặc

điểm hàng hoá khác nhau và đối tượng khách hàng khác nhau nên chính sách tín dụng thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thu khác nhau. Như vậy, đặc

điểm sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp tác động quan trọng đến hiệu quả quản

lý tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản, vòng quay và hệ số sinh lợi của tài

sản.

Một quy trình sản xuất – kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng

chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất

lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, một doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt, có nhiều giải pháp

thực hiện chiến lược phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của doanh nghiệp trong từng

thời kỳ và phù hợp với nhu cầu thị trường thì hiệu quả quản lý tài chính sẽ cao.

Ngoài ra, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng

trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trang thiết bị thì sẽ

giảm được hao mòn vô hình của tài sản cố định, nâng cao chất lượng, đổi mới sản

phẩm, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

1.5.2.3. Năng lực quản lý tài chính của doanh nghiệp

Quản lý các chỉ tiêu tài chính một cách khoa học, chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng

hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Quản lý tài chính của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu thông qua các nội

dung về tài sản và nguồn vốn.

Quản lý tiền mặt Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt, cụ thể là đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

Việc xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho doanh nghiệp đáp ứng

các nhu cầu về: giao dịch, dự phòng, tận dụng được những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong hoạt động thanh toán chi trả. Đồng thời doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận

như đầu tư chứng khoán ngắn hạn. Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải có năng lực phân

tích và phán đoán tình hình trên thị trường tiền tệ, thực trạng tình hình tài chính của

28

doanh nghiệp, từ đó có sự lựa chọn để đưa các quyết định sử dụng ngân quỹ đúng đắn,

làm giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái, tối ưu hoá việc đi vay ngắn hạn, tăng hiệu quả sử dụng tài sản.

Quản lý tiền mặt hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cho doanh nghiệp.

Quản lý dự trữ, tồn kho Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn phục vụ cho sản xuất – kinh doanh thì

hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động của doanh nghiệp, nó như

tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất – kinh doanh của

doanh nghiệp do các hoạt động này diễn ra không đồng bộ. Hơn nữa, hàng hoá dự trữ, tồn kho giúp cho doanh nghiệp giảm thiệt hại trước những biến động của thị trường.

Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưu kho, chi phí bảo quản và gây ứ

đọng vốn. Vì vậy, căn cứ vào kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, khả

năng sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp cùng với những dự đoán biến động của thị

trường, doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp.

Quản lý các khoản phải thu Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu hay còn gọi là tín dụng thương mại là một hoạt động không thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp. Do đó, trong các

doanh nghiệp hình thành khoản phải thu.

Tín dụng thương mại giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm,

thu hút khách hàng, tăng doanh thu bán hàng, giảm chi phí tồn kho của hàng hóa, góp

phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản cố định và hạn chế hao mòn vô hình. Tuy

nhiên, tín dụng thương mại cũng có thể đem đến những rủi ro cho doanh nghiệp như

làm tăng chi phí quản lý, chi phí đòi nợ, chi phí bù đắp cho vốn thiếu hụt, làm tăng chi

phí nếu khách hàng không trả được nợ.

Do vậy, các nhà quản lý cần so sánh giữa thu nhập và chi phí tăng thêm để quyết định có nên cấp tín dụng thương mại không cũng như phải quản lý các khoản tín dụng này như thế nào để đảm bảo thu được hiệu quả cao nhất.

Nội dung chủ yếu của chính sách quản lý các khoản phải thu bao gồm: Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị,

theo dõi các khoản phải thu.

Quản lý các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn Kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động đầu tư tài chính dài hạn chính là tổng

mức lợi nhuận. Tổng mức lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng

chi phí hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp. Ngoài việc so sánh theo hướng

29

xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương đối chỉ tiêu tổng mức lợi

nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn, còn phân tích sự biến động tổng mức lợi nhuận do ảnh hưởng của 3 nhân tố:

- Tổng doanh thu hoạt động đầu tư tài chính dài hạn.

- Mức chí phí để tạo ra một đồng doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn.

- Mức lợi nhuận được tạo từ một đồng chi phí hoạt động đầu tư tài chính dài hạn.

Khả năng huy động vốn Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và

tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh. Vốn là nguồn hình thành nên tài sản.

Vì vậy, khả năng huy động vốn cũng như vấn đề cơ cấu vốn sẽ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp.

Nếu doanh nghiệp có khả năng huy động vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộng quy mô

sản xuất – kinh doanh, đa dạng hoá các hoạt động đầu tư làm tăng doanh thu cho

doanh nghiệp và từ đó làm tăng hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Bên cạnh đó, nếu

doanh nghiệp duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí vốn sẽ giảm, góp phần làm

giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận và do đó hệ số sinh lợi tổng tài sản sẽ tăng.

30

CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN

KIM KHÍ LAN ANH

2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh 2.1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Kim khí Lan

Anh

Tên chính thức: Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh Tên giao dịch: LANANH MT., JSC

Mã số thuế: 0105248720

Ngày cấp: 08/04/2011

Địa chỉ trụ sở: Số 26, ngách 349/7, phố Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Điện thoại: 04666752434

Tên Giám đốc: Hoàng Thị Mai Lan.

Hình thức sở hữu vốn: Công ty Cổ phần.

Lĩnh vực kinh doanh: Gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại;Hoàn thiện

công trình xây dựng;Bán buôn kim loại và quặng kim loại;Bán buôn vật liệu, thiết bị

lắp đặt khác trong xây dựng;Bán lẻ đồ ngũ kim, sơn, kính và thiết bị lắp đặt khác trong

xây dựng trong các cửa hàng chuyên doanh;Vận tải hàng hóa bằng đường bộ.

Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh được thành lập theo quyết định số

48/2006/QĐ-BTC, giấy phép đăng ký kinh doanh số 0102034405 ngày 08/04/2011 của Bộ Tài chính, là đơn vị kinh tế hoạt động độc lập theo luật pháp nước Cộng hòa Xã hội

Chủ nghĩa Việt Nam, chuyên gia công cơ khí và thương mại các loại vật liệu, quặng

kim loại và thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng phục vụ cho các đơn vị trong và ngoài

nước.

Với mạng lưới phân phối rộng khắp và hệ thống kho bãi hoàn chỉnh, Công ty Cổ

phần Kim khí Lan Anh có đủ kinh nghiệm và năng lực đáp ứng tốt nhất nhu cầu của

khách hàng. Hiện nay Kim khí Lan Anh góp phần cung cấp các chủng loại thép sản

xuất trong nước và thép nhập khẩu cho các nhà máy và các công trình xây dựng công

nghiệp cũng như dân dụng; mục tiêu trở thành nhà phân phối chính thức của nhiều thương hiệu thép hàng đầu tại Việt Nam như: Tổng công ty Thép Việt Nam- CTCP (VNSTEEL), VINAKYOEI, GangThép Thái Nguyên (TISCO), Thép Việt-Hàn (VPS), Thép Việt-Úc (VUC), Ống thép VINAPIPE… Ngoài ra, Kim khí Lan Anh có các đơn vị chuyên doanh một số chủng loại thép như: Thép hình, thép tấm lá, thép chế tạo…

Kim khí Lan Anh còn được hãng vòng bi số 1 thế giới SKF tín nhiệm chỉ định là Đại lý uỷ quyền tại Việt Nam.

Định hướng phát triển của Kim khí Lan Anh là xây dựng hệ thống thương mại

hiện đại, cung cấp dịch vụ hoàn hảo, bảo đảm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.

31

Hiện nay Kim khí Lan Anh đang triển khai một số dự án đầu tư bất động sản và

các dự án sản xuất vật liệu xây dựng, các trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê và chung cư cao cấp tại Thành phố Hà Nội.

Gần đây Kim khí Lan Anh được tôn vinh là doanh nghiệp uy tín năm 2012 và

thương hiệu uy tín năm 2013.

Do có nguồn vốn, quỹ đất, cơ sở vật chất và năng lực kinh doanh, Công ty cổ phần Kim khí Lan Anh đang phấn đấu trở thành doanh nghiệp mạnh, có vị trí và thị

phần trên thị trường cả nước.

2.1.2.Cơ cấu tổ chức của Công ty

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT

BAN GIÁM ĐỐC

Phòng Kỹ thuật Chất lượng Phòng Tổ chức Nhân sự Phòng Kế toán Tài chính Phòng Kế hoạch kinh doanh

(Nguồn: Phòng Tổ chức Nhân sự)

Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận

Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan

quyền lực cao nhất của công ty, quyết định những vấn đề được luật pháp và điều lệ

công ty quy định, các cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính và ngân sách tài chính cho năm sau.

Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi của công ty (trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông). Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát Giám đốc điều hành

và nhàquản lý khác. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị được luật pháp, điều lệ

công ty quy định.

Ban kiểm soát: Là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông. Ban kiểm soát có

nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành HĐKD, báo cáo tài chính của

công ty. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc.

32

Ban giám đốc: Giám đốc là người điều hành và có quyền quyết định về tất cả các

vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về thực hiện quyền và nhiệm vụ được giao. Các phó giám đốc là người

giúp đỡ Giám đốc và chịu trách nghiệm về phần việc được phân công, chủ động giải

quyết những công việc được Giám đốc ủy quyền, phân công.

Khối tham mưu: Gồm các phòng, ban có chức năng tham mưu và giúp đỡ Ban

giám đốc, bao gồm:

Phòng tổ chức nhân sự: Tổ chức hành chính, thực hiện nghiên cứu, đề xuất mô

hình tổ chức bộ máy hoạt động của công ty cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh

doanh và yêu cầu phát triển, đề xuất chế độ, chính sách về nhân sự, lưu trữ, quản lý con dấu, quản lý mua sắm tài sản khối văn phòng, công tác bảo vệ, an toàn, y tế…và

các thủ tục hành chính – nhân sự của công ty.

Phòng kế toán tài chính: Xây dựng kế hoạch và theo dõi quản lý tình hình sử

dụng vốn, tham mưu, đề xuất các biện pháp phát triển vốn. Lập và phân tích báo cáo

tài chính định kỳ nhằm phục vụ cho công tác quản lý, điều hành công ty, tổ chức bộ

máy kế toán, xây dựng hồ sơ, sổ sách, chứng từ, lập kế hoạch kiểm toán định kỳ trình

Giám đốc phê duyệt, đánh giá mức độ tin cậy và tính toàn diện của thông tin tài chính.

Phòng kế hoạch kinh doanh: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm,

kiểm tra công tác xây dựng kế hoạch của các đơn vị cũng như theo dõi, tổng kết, báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch. Nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược, tham

gia đấu thầu công trình và lập kế hoạch phân phối, khai thác thị trường mới, lập dự án

đầu tư, tham gia quản lý, thực hiện hoạt động đầu tư theo phân cấp quản lý. Thực hiện

kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, quản lý hợp đồng kinh tế, quản lý các cửa hàng và đề xuất

phương án kinh doanh, tìm kiếm khách hàng, tổ chức xây dựng và công việc được

phân công.

Phòng kỹ thuật chất lượng: Quản lý chất lượng vật tư đầu vào, chất lượng bán

thành phẩm và sản phẩm do công ty sản xuất.Nghiên cứu nâng cao chất lượng sản

phẩm, nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới. Quản lý kỹ thuật sản xuất, thiết bị máy móc, điện nước; quản lý kỹ thuật xây dựng cơ bản và đầu tư; kỹ thuật an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp.

33

2.2.Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh

2.2.1.Phân tích bảng cân đối kế toán của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giai đoạn 2011 - 2013 2.2.1.1. Phân tích cơ cấu và sự biến động tài sản

Bảng 2.1. Sự biến động tài sản giai đoạn 2011 – 2013 tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh

(Đơn vị tính: Triệu đồng)

31/12/2011 31/12/2012 31/12/2013 Chênh lệch giữa 2011 - 2012 Chênh lệch giữa 2012 - 2013 Diễn giải

Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

99,76 99,53 98,82 (2.772) (30,89) 505 8,14

I. TÀI SẢN NGẮN HẠN 1. Tiền và các khoản tương đương tiền 8.975 294 6.203 307 6.708 4.092 3,27 4,93 60,28 13 4,42 3.785 1.232,9

3. Các khoản phải thu ngắn hạn 8.078 5.162 1.815 89,79 82,83 26,74 (2.916) (36,10) (3.347) (64,84)

4. Hàng tồn kho 541 663 775 6,01 10,64 11,42 122 22,55 112 16,89

5. TSNH khác 62 71 25

5.1. Thuế GTGT được khấu trừ 5.2. TSNH khác 59 3 67 4 19 6

0,69 0,66 0,03 0,24 1,14 1,08 0,06 0,47 0,37 0,28 0,09 1,19 9 8 1 7 14,52 13,56 33,33 31,82 (46) (48) 2 52 (64,79) (71,64) 50 179,31

II. TÀI SẢN DÀI HẠN 1. TSCĐ 5. TSDH khác 22 22 29 29 81 81 0,24 0,47 1,19 7 31,82 52 179,31

TỔNG CỘNG TÀI SẢN 100 100 100 8.997 6.232 6.788 (2.765) (30,73) 556

8,92

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

34

Tài sản ngắn hạn

Dựa vào số liệu từ bảng 2.1 có thể thấy quy mô TSNH tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh có sự biến động trong giai đoạn 2011 – 2013. Năm 2011 quy mô TSNH

là 8.975 triệu, năm 2012 giảm 2.772 triệu tương ứng với 30,89%, đến năm 2013

TSNH tăng nhẹ với 505 triệu tương ứng 8,14%. TSNH tại Công ty Cổ phần Kim khí

Lan Anh qua số liệu 3 năm 2011, 2012, 2013 chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong cơ cấu tài sản, luôn đạt mức trên 98%. Sự thay đổi quy mô TSNH trong 3 năm khiến

tỷ trọng TSNH giảm dần trong cơ cấu nhưng nhìn chung vẫn giữ ở mức cao, đến năm

2013 tỷ trọng TSNH vẫn đạt 98,82%, điều này phần nào cho thấy chiến lược tập trung

vào đầu tư TSNH của công ty. Để thấy rõ sự thay đổi cơ cấu TSNH tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh, ta cần đi sâu phân tích những khoản mục thuộc TSNH:

Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền và các khoản tương đương tiền qua 3

năm tăng mạnh khiến tỷ trọng từ thứ ba vượt lên cao nhất. Năm 2011 là 3,27% , đến

năm 2012 tăng lên chiếm 4,93%, năm 2013 nhảy vọt lên tới 60,28%. Khoản mục này

bao gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng.

Bảng 2. 2. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền

(Đơn vị: triệu đồng)

31/12/2011 31/12/2012 31/12/2013

Diễn giải

Tỷ trọng Tỷ trọng Tỷ trọng Số tiền Số tiền Số tiền

(%) (%) (%)

Tiền mặt 291,589 99,13 285,300 93,08 3.883,408 94,9

2,570 0,87 21,200 6,92 208,537 5,1 Tiền gửi ngân hàng

Tiền và các khoản 294,159 100 306,500 100 4.091,945 100 tương đương tiền

(Nguồn:Số liệu được tính từ BCTC) Tiền mặt biến động qua các năm, năm 2012 giảm 6,289 triệu tương ứng giảm 2,16% so với năm 2011, năm 2013 tăng mạnh 3.598,108 triệu tương ứng tăng 1.261,17%.Chính sự tăng mạnh đột ngột của tiền mặt khiến giá trị khoản mục tiền và

các khoản tương đương tiền có sự nhảy vọt. Trong những năm gần đây, Công ty Lan Anh có xu hướng giữ nhiều tiền thay vì đầu tư vào các khoản phải thu ngắn hạn và HTK.Tiền trong thời điểm hiện tại được giữ nhằm mục đích thanh toán các khoản chi

35

phí phát sinh tức thời, đáp ứng mục đích giao dịch cũng như các khoản nợ phải trả khi

chủ nợ yêu cầu.

Tiền gửi ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong giá trị của khoản mục tiền và

các khoản tương đương tiền. Tiền gửi ngân hàng trong năm 2012 tăng 18,630 triệu

tương ứng tăng 724,9% so với năm 2011, đến cuối năm 2013 tiền gửi ngân hàng tiếp

tục tăng 187,337 triệu tương ứng tăng 883,67%. Sở dĩ có sự tăng trưởng này là do trong năm, Công ty đã thu hồi được các khoản phải thu ngắn hạn nhằm đáp ứng mục

đích giao dịch cũng như các khoản nợ phải trả khi chủ nợ yêu cầu.

Nhìn chung tiền và các khoản tương đương tiền tại Công ty cổ phần kim khí Lan

Anh qua ba năm tăng mạnh đặc biệt là năm 2013. Tỷ trọng tiền gửi ngân hàng cũng tăng dần trong ba năm từ 2011 đến 2013. Điều này giúp cho khả năng thanh toán ngắn

hạn của công ty được đảm bảo.

Các khoản phải thu ngắn hạn: Các khoản phải thu ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn

nhất trong cơ cấu TSNH qua 2 năm đầu, đặc biệt năm 2011 chiếm tới 89,79% giá trị

tổng tài sản. Giá trị các khoản phải thu ngắn hạn giảm qua các năm, năm 2012 giảm

2.916 triệu tương ứng giảm 36,1%, năm 2013 giảm 3.347 triệu tương ứng giảm

64,84% so với năm 2012.

Phải thu khách hàng là khoản chiếm giá trị tuyệt đối trong các khoản phải thu

ngắn hạn, vì vậy sự biến động của khoản phải thu khách hàng tương ứng với các khoản phải thu ngắn hạn. Giá trị khoản phải thu khách hàng năm 2012 giảm 36,1%,

năm 2013 giảm mạnh hơn với 64,84% so với năm 2012, mức giảm năm 2012 là do

chính sách thắt chặt tín dụng thể hiện ở điều khoản bán chịu và tiêu chuẩn bán chịu

của công ty Lan Anh trong giai đoạn doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn nhằm thu

hồi vốn, đặc biệt là những đại lý tiêu thụ hàng hóa nhanh, hạn chế trả sau đối với hàng

hóa giá trị thấp, giảm 15% so với mức tín dụng năm 2011. Mức giảm mạnh năm 2013

là do công ty đã thu hồi được các khoản nợ đến hạn và tiếp tục thắt chặt chính sách tín

dụng để tránh gặp phải những rủi ro nhất định vì bị khách hàng hoặc các doanh nghiệp

khác chiếm dụng vốn, không để khoản nợ trở thành nợ khó đòi, cùng với đó khả năng thanh toán tức thời của công ty cũng tăng. Trước tình hình này, công ty cần có những chính sách hợp lý để sử dụng tiền mặt hiệu quả, tránh gây lãng phí và ứ đọng vốn.

Phải thu khách hàng của công ty cổ phần kim khí Lan Anh chiếm tỷ trọng lớn trong phải thu ngắn hạn. Công ty đang cho khách hàng nắm giữ vốn rất nhiều và chính

sách điều tiết nguồn vốn của công ty chưa đạt hiệu quả. Để thay đổi được khoản mục phải thu khách hàng này công ty cần xem xét chính sách tín dụng và chính sách bán hàng trong thời gian tới.

Hàng tồn kho: Hàng tồn kho luôn là một khoản mục quan trọng trong mỗi doanh

nghiệp và công ty Lan Anh cũng không phải là ngoại lệ. Hàng tồn kho của công ty chỉ

36

bao gồm hàng hóa, tỷ trọng hàng tồn kho năm 2011 chiếm 6,01% trong tổng tài sản,

năm 2012 tăng lên 10,64% và tiếp tục tăng đến 11,42% trong năm 2013, hoàn toàn là tăng hàng hóa do công ty đang đầu tư mở rộng kinh doanh, bao gồm các vật liệu xây

dựng, vật liệu trang trí, các mặt hàng kinh doanh nội thất, ngoại thất…. Công ty cũng

đã cân nhắc không tăng hàng tồn kho lên quá nhiều vì kim khí, sơn, kính và một số vật

liệu xây dựng khác đều là các mặt hàng chiếm nhiều diện tích lưu kho lại dễ hư hại, như vậy sẽ ảnh hưởng đến chi phí lưu kho, chi phí bảo quản.

Việc tăng hàng tồn kho mang lại khả năng kiểm soát nguồn hàng trên thị trường

khi có lượng cầu lớn từ khách hàng tuy nhiên cũng chịu rủi ro về biến động giá cả trên

thị trường.

Tài sản ngắn hạn khác: Khoản mục này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu

TSNH của Công ty Lan Anh, trong đó phần lớn là thuế GTGT được khấu trừ. Năm

2011 tài sản ngắn hạn khác chiếm 0,69% giá trị tổng tài sản, năm 2012 tăng 9 triệu

tương ứng tăng 14,52%, năm 2013 lại giảm 46 triệu tương ứng giảm 64,79% so với

năm 2012.

Bảng 2.3. Tài sản ngắn hạn khác

(Đơn vị: triệu đồng)

31/12/2011 31/12/2012 31/12/2013

Diễn giải

Tỷ trọng Tỷ trọng Tỷ trọng Số tiền Số tiền Số tiền

(%) (%) (%)

Thuế GTGT được khấu trừ 59 95,16 67 94,37 19 76

Tài sản ngắn hạn khác 3 4,84 4 5,63 6 24

62 100 71 100 25 100 Tổng tài sản ngắn hạn khác

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC) Thuế được khấu trừ năm 2012 tăng 8 triệu tương ứng với 13,56%, năm 2013 giảm 48 triệu tương ứng giảm 71,64% so với năm 2012. TSNH khác là các khoản tạm ứng tiền cho nhân viên mua hàng hóa và các khoản ký quỹ để vay ngân hàng, các khoản này tăng nhẹ trong năm 2012 là 33,33% so với năm 2011 và tăng 50% trong

năm 2013.

Tài sản dài hạn: Quy mô TSDH tại Công ty Lan Anh giai đoạn 2011 – 2013 cũng có những biến động nhất định. Năm 2011 quy mô TSDH là 22 triệu, đến năm 2012 doanh nghiệp mở rộng quy mô TSDH bằng việc tăng đầu tư tài sản dài hạn khác

37

lên 29 triệu. Năm 2013 tiếp tục có sự thay đổi quy mô TSDH khác, tăng lên 81 triệu.

Khoản mục TSDH không chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản của công ty Lan Anh. Năm 2011 tỷ trọng TSDH trong tổng tài sản chiếm 0,24%, năm 2012 tăng nhẹ ở

mức 0,47% và đến năm 2013 đạt mức 1,19%. Để thấy nguyên nhân sự tăng quy mô

cũng như tỷ trọng khoản mục TSDH ta cần phân tích sự thay đổi cơ cấu, giá trị các

khoản mục nhỏ trong đó:

Tài sản cố định: Công ty Cổ phần kim khí Lan Anh hoàn toàn không đầu tư vào

tài sản cố định cũng như bất động sản đầu tư hay các khoản đầu tư tài chính dài hạn, vì

vậy không có bất cứ sự tác động nào từ các yếu tố này tới sự biến động giá trị tài sản

dài hạn của doanh nghiệp.

Việc không hề đầu tư vào tài sản cố định như các thiết bị máy móc cho công ty

cũng như các nhà xưởng, xe chuyên chở... cho thấy công ty chưa tối ưu hóa việc đầu

tư khi mà các tài sản cố định này hầu hết đều mang lại lợi ích thúc đẩy quy trình lưu

trữ, bán hàng, vận chuyển…

Tương tự cho các khoản đầu tư tài chính dài hạn, các khoản đầu tư tài chính này

mang lại lợi ích trong giai đoạn về lâu dài cho công ty, nó là sự đảm bảo và là nguồn

lợi nhuận của công ty trong dài hạn tuy nhiên công ty cổ phần kim khí Lan Anh không

hề có một khaorn đầu tư tài chính dài hạn nào cho thấy kế hoạch tài chính và kinh

doanh của công ty có thể gặp khó khăn và rủi ro, kém hiệu quả trong dài hạn.

TSDH khác: TSDH khác là khoản mục chiếm toàn bộ giá trị TSDH qua cả 3

năm, vì vậy sự biến động của TSDH phản ánh sự biến động tổng TSDH. Các TSDH

khác này chủ yếu là chi phí trả trước dài hạn, năm 2011, chi phí tăng 7 triệu tương ứng

tăng 31,82% do công ty đầu tư trả trước một số vật liệu xây dựng dẫn tới TSDH tăng

31,82%. Năm 2012 chi phí trả trước tiếp tục tăng 52 triệu tương ứng tăng 179,31% do

công ty đặt mua một số thép và quặng kim loại.

Nhìn chung, tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh có sự sụt

giảm qua các năm, năm 2012giảm 2.765 triệu tƣơng ứng giảm 30,73% và năm

2013 tuy có tăng 556 triệu tƣơng ứng tăng 8,92% nhƣng vẫn chƣa trở lại bằng năm 2011. Sự sụt giảm này chủ yếu là do sự biến động giảm của khoản mục TSNH, cụ thể là các khoản phải thu ngắn hạn. Tỷ trọng TSDH quá nhỏ và giá trị tài sản cố định bằng không phần nào cho thấy chiến lƣợc của công ty trong hiện tại chƣa hƣớng tới sự ổn định lâu dài trong tƣơng lai mà chủ yếu đầu tƣ cho

những lợi ích ngắn hạn trƣớc. Để có cái nhìn tổng quát hơn về Kim khí Lan Anh ta cũng cần xem xét sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn.

38

2.2.1.2. Phân tích cơ cấu và sự biến động nguồn vốn

Bảng 2.4. Sự biến động nguồn vốn giai đoạn 2011 – 2013 tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh

(Đơn vị tính: triệu đồng)

31/12/2011 31/12/2012 31/12/2013 Chênh lệch giữa 2011 - 2012 Chênh lệch giữa 2012 - 2013 Diễn giải Tỷ trọng Tỷ trọng Tỷ trọng Tuyệt Tƣơng Tuyệt Tƣơng Số tiền Số tiền Số tiền (%) (%) (%) đối đối (%) đối đối (%)

A. NỢ PHẢI TRẢ 7.249 80,57 4.697 75,37 5.584 82,26 (2.552) (35,2) 887 18,88

I. Nợ ngắn hạn 7.249 80,57 4.697 75,37 5.584 82,26 (2.552) (35,2) 887 18,88

1. Vay ngắn hạn 2.900 32,23 1.400 22,46 (200) (2,95) (1.500) (51,72) (1.600) (114,29)

2. Phải trả cho người bán 4.349 48,34 3.310 53,11 5.797 85,40 (1.039) (23,89) 2.487 75,14

(13) (0,21) (13) (0,19) (13) 0 0 4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước

II. Nợ dài hạn (0,548) (0,01) (0,548)

B. VỐN CHỦ SỞ HỮU 1.748 19,43 1.535 24,63 1.204 (213) (12,19) (331) (21,56) 17,74

I. Vốn chủ sở hữu 1.748 19,43 1.535 24,63 1.204 (213) (12,19) (331) (21,56) 17,74

1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 0 1.900 21,12 1.900 30,49 1.900 27,99 0 0 0

7. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 152 1,69 (365) (5,86) (696) (10,25) (517) (340,13) (331) (90,68)

TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 8.997 100 6.232 100 6.788 100 (30,73) 556 8,92

(2.765) (Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

39

Nợ phải trả: Khoản mục nợ phải trả tại Kim khí Lan Anh chiếm tỷ trọng lớn

trong cơ cấu nguồn vốn của công ty, đặc biệt năm 2013 chiếm tới 82,26% trên tổng nguồn vốn. Năm 2011 nợ phải trả chiếm 80,57% nguồn vốn, năm 2012 giảm 2.552

triệu tương ứng giảm 35,2% khiến tỷ trọng xuống còn 75,37% trên tổng nguồn vốn.

Đến năm 2013, nợ phải trả tăng 887 triệu tương ứng tăng 15,88% kéo tỷ trọng nợ phải

trả trên nguồn vốn lên mức 82,26%. Sự thay đổi của khoản mục này chủ yếu là do sự biến động của các khoản nợ ngắn hạn vì năm 2011 và 2012 công ty không có nợ dài

hạn.

Nợ ngắn hạn: Kim khí Lan Anh sử dụng hoàn toàn nợ ngắn hạn mà không có nợ

dài hạn trong 2 năm đầu là do nhu cầu đầu tư vào TSNH trong giai đoạn 2011 – 2012 lấn át nhu cầu đầu tư vào TSDH, bên cạnh đó công ty là một doanh nghiệp non trẻ, uy

tín chưa đủ lớn để đáp ứng các điều kiện vay dài hạn. Cụ thể:

Vay ngắn hạn:Năm 2012 vay ngắn hạn giảm 1.500 triệu tương ứng giảm

51,72% so với năm 2011, đến năm 2013 vay ngắn hạn lại giảm tiếp 1.600 triệu tương

ứng giảm 114,29% do công ty sử dụng tiền và các khoản tương đương tiền thanh toán

khoản vay năm trước đến hạn, đặc biệt năm 2013 khoản vay ngắn hạn có giá trị âm do

doanh nghiệp thanh toán thừa 200 triệu tiền nợ gốc.

Việc các vay ngắn hạn được thanh toán hết làm giảm bớt gánh nặng tài chính cho

công ty đồng thời có thể tạo thuận lợi trong giao dịch và kinh doanh với các đối tác cũng như giữ được chữ tín của công ty.

Phải trả ngƣời bán: Đây là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nợ

ngắn hạn nói riêng và tổng nguồn vốn nói chung, đặc biệt năm 2013 lên tới 85,4%

tổng nguồn vốn. Năm 2011 phải trả người bán chiếm 48,34%, năm 2012 giảm 1.039

triệu tương ứng giảm 23,89% do trong năm này lượng hàng hóa công ty mua về giảm,

bên cạnh đó, một vài nhà cung cấp do gặp khó khăn về tài chính đã phần nào thắt chặt

hơn chính sách tín dụng, áp dụng mức trả chậm chỉ còn 20% hóa đơn hàng thay vì

40% trước kia. Sang đến năm 2013 việc đẩy mạnh kinh doanh tăng chi phí giá vốn

hàng bán đã đẩy khoản mục phải trả người bán tăng 2.487 triệu tương ứng tăng 75,14% so với năm 2012 giữ cho tỷ trọng phải trả người bán trên nợ ngắn hạn chiếm vị trí cao nhất.

Bên cạnh đó, một khoản mục khác chiếm tỷ trọng khá nhỏ như thuế và các khoản phải nộp Nhà nước có xu hướng biến động không đáng kể, cụ thể ở đây là thuế thu

nhập doanh nghiệp. Năm 2011 công ty không phải nộp thuế do làm ăn chưa có lãi, thuế phải nộp năm 2012 và 2013 là -13 triệu do kết quả sản xuất kinh doanh vẫn còn thua lỗ, điều này thể hiện công ty chưa đầu tư đúng hướng và kinh doanh thiếu hiệu

quả.

40

Nợ dài hạn: Năm 2011 - 2012 công ty chưa có nợ dài hạn. Năm 2013 xuất hiện

tài sản thừa chờ giải quyết dẫn đến một khoản nợ dài hạn mang giá trị -0,548 triệu, chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu nợ phải trả cũng như trong cơ cấu tổng nguồn vốn

của doanh nghiệp.

Quyết định không sử dụng nợ dài hạn để tạo dựng nguồn vốn cho công ty có thể

chưa phải là một quyết định mang lại lợi ích tối ưu khi mà các khoản nợ dài hạn này có thể mang lại nguồn vốn ổn định và lâu dài, chi phí tài chính được rải đều qua các

năm. Việc xây dựng nguồn vốn từ nợ dài hạn có thể giúp công ty có nguồn lực vững

vàng và an toàn hơn.

Vốn chủ sở hữu: VCSH tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh chiếm một tỷ trọng tương đối trong cơ cấu nguồn vốn, năm 2011 đạt 19,43%, năm 2012 tăng lên tới

24,63%, đến năm 2013 giảm còn 17,74% trên tổng nguồn vốn.

Do công ty không phát hành thêm cổ phiếu nên qua 3 năm vốn đầu tư của chủ sở

hữu không đổi, được duy trì ở mức 1.900 triệu, chiếm tỷ trọng không cao trong cơ cấu

nguồn vốn của doanh nghiệp (nằm trong khoảng 20-30%).

Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối: Khoản mục này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong

cơ cấu VCSH, năm 2011 là 1,69%, năm 2012 giảm còn -5,86%, năm 2013 xuống còn -

10,25%. Lợi nhuận có xu hướng giảm xuống mức âm cho thấy công ty làm ăn thua lỗ

khiến VCSH giảm 365 triệu năm 2012 và 696 triệu năm 2013, công ty cần có biện pháp cải thiện nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm thiểu thua lỗ, tăng

trưởng đều và mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư.

Nhìn chung, nguồn vốn tại Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giảm chủ yếu là do

chiến lược sản xuất kinh doanh chưa hiệu quả. Việc nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao

như vậy trong cơ cấu nguồn vốn cho thấy việc tài trợ cho HĐKD chủ yếu bằng nguồn

vốn ngắn hạn khiến cho khả năng đảm bảo tự chủ về mặt tài chính bị giảm thiểu, đặc

biệt là vào năm 2013, sức ép từ chủ nợ tăng lên, trong tương lai Kim khí Lan Anh sẽ

khó tiếp nhận các khoản tín dụng bên ngoài hơn. Công ty cần có những chính sách tài

chính thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và duy trì mức chi phí sử dụng vốn không quá lớn để tránh gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh..

Vốn chủ sở hữu của công ty giảm qua các năm là hệ quả của việc lợi nhuận sau thuế chưa phân phối âm. Việc kinh doanh thua lỗ của công ty đang khiến cho uy tín về mặt tài chính của công ty giảm sút. Việc tạo cho cổ đông sự tin tưởng là rất quan

trọng để có thể dy trì cũng như tăng quy mô công ty vì vậy nếu công ty tiếp tục có kết quả kinh doanh lỗ như thế này thì rất có thể sẽ dẫn đến phá sản trong thời gian ngắn. 2.2.1.3. Phân tích mối quan hệ giữa Tài sản và Nguồn vốn

41

Bảng 2.5. Phân tích nguồn tài trợ vốn

(Đơn vị: triệu đồng)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)

Giảm khoản phải thu ngắn hạn 2.916 100 3.347 0 0 78,2

Giảm TSNH khác Nguồn 0 0 0 0 46 1,07

Tăng nợ ngắn hạn tạo 7.249 80,57 0 0 887 20,72

vốn Tăng VCSH 1.748 19,43 0 0 0 0

TỔNG 8.997 100 2.916 100 4.280 100

Tăng tiền và tương đương tiền 294 3,27 13 0,45 3.785 88,43

Tăng khoản phải thu ngắn hạn 8.078 89,79 0 0 0 0

Tăng HTK 541 6,01 122 4,18 112 2,62 Sử Tăng TSNH 62 0,69 9 0,31 0 0

Tăng TSDH khác 22 0,24 7 0,24 52 1,21 dụng vốn Giảm nợ ngắn hạn 0 0 2.552 87,52 0 0

Giảm VCSH 0 0 213 7,3 331 7,73

TỔNG 8.997 100 2.916 100 4.280

100

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

42

Tạo vốn: Năm 2011, việc tạo vốn của Kim khí Lan Anh chủ yếu từ gia tăng các khoản nợ ngắn hạn (chiếm tới 80,57% nguồn tạo vốn) nhằm tạo lập kinh doanh, bên cạnh đó

công ty cũng tăng VCSH để đáp ứng tốt hơn cho các hoạt động đầu tư và sử dụng vốn.

Năm 2012, Kim khí Lan Anh giảm khoản phải thu ngắn hạn do thu hồi được

khoản phải thu năm trước đến hạn, nguồn tạo vốn trong năm được hình thành 100% từ khoản mục này.

Năm 2013, nguồn tạo vốn được hình thành 78,2% từ việc công ty tiếp tục giảm

phải thu ngắn hạn, 1,07% từ giảm TSNH khác và 20,72% từ việc tăng nợ ngắn hạn.

Sử dụng vốn: Bên cạnh việc tạo dựng vốn, công ty còn sử dụng nguồn vốn tạo

được nhằm đáp ứng các mục tiêu đề ra.

Năm 2011, Kim khí Lan Anh sử dụng vốn để tăng tiền và các khoản tương

đương tiền nhằm mục đích nâng cao khả năng thanh toán, tránh rủi ro từ những khoản

nợ ngắn hạn, tuy nhiên khoản mục này chỉ chiếm 3,27%. Trong khi đó, tăng khoản

phải thu ngắn hạn chiếm tới 89,79% vốn sử dụng trong năm, doanh nghiệp thực hiện

nới lỏng tín dụng nhằm tạo lợi thế cạnh tranh khi mới bước vào thị trường. Bên cạnh

đó công ty cũng chú trọng đầu tư vào hàng hóa, tăng hàng tồn kho và một số tài sản

ngắn hạn, TSDH khác.

Năm 2012 tiếp tục tăng tiền và các khoản tương đương tiền để tăng tính thanh khoản. Doanh nghiệpcũng chủ động tăng hàng tồn kho lên 4,18% và chi thêm cho một

số TSNH cũng như TSDH khác nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thành hợp đồng đúng thời

hạn. Bên cạnh đó, Kim khí Lan Anh còn sử dụng vốn cho khoản thanh toán ngắn hạn

lên tới 87,52% và giảm 7,3% VCSH.

Năm 2013 vẫn là chính sách thắt chặt tín dụng, thu hồi các khoản phải thu, tăng

tiền mặt tích trữ tới 88,43%.Chính sách tăng TSDH khác và giảm VCSH tiếp tục được

áp dụng. Bên cạnh đó, do trúng thầu dự án mới trong năm nên công ty chủ động tăng

giá trị lượng HTK nhằm kịp thời đáp ứng tiến độ dự án. Tăng HTK chiếm 2,62% mức

sử dụng vốn trong năm. Kết luận: Qua ba năm công ty cổ phần kim khí Lan Anh tạo vốn bằng việc thu được các khoản mà khách hàng còn nợ từ năm trước, các khoản mục đến hạn thanh toán. Việc sử dụng vốn vay rất hạn chế đồng thời Vốn chủ sở hữu cũng chỉ tăng trong năm 2011. Các nguồn tạo vốn của công ty đều biến động không đều đặn và thống nhất qua

các năm. Từ các nguồn tạo vốn trên, công ty sử dụng để tăng Hàng tốn kho, khoản phải thu ngắn hạn. Việc công ty có chính sách bán chịu nơi lỏng có thể giúp thu hút được khách

hàng nhưng đồng thời cũng tạo rủi ro ở mức đáng kể.

43

2.2.2.Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giai đoạn 2011 – 2013

Bảng 2.6. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giai đoạn 2011 – 2013

(Đơn vị: triệu đồng)

Chênh lệch giữa (2) và (3) Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (1) và (2) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) So với doanh thu thuần (%) Năm 2012 Năm 2011 Năm 2013

Tƣơng đối (%) (51,19)

Tƣơng đối (%) 13,09 13,09 12,97 2.450 (25)

1. DT bán hàng và CCDV 2. Các khoản giảm trừ DT 3. DT thuần từ BH và CCDV 4. Giá vốn hàng bán 5. LN gộp về BH và CCDV 6. DT hoạt động tài chính 7. Chi phí tài chính Trong đó: Chi phí lãi vay 8. Chi phí QLDN 9. LN thuần từ HĐKD 10. Thu nhập khác 11. Chi phí khác 12. Lợi nhuận khác 13. Lợi nhuận trƣớc thuế 14. Thuế TNDN hiện hành 15. Lợi nhuận sau thuế 78.118 78.118 78.122 (4) 4 151 (152) (152) (152) 88.345 88.345 88.252 94 3 311 (214) (214) (214) 43.119 43.119 42.897 223 0,626 554 (331) (331) (331) Tuyệt đối 10.227 10.227 10.130 98 (1) 160 (62) (62) (62) 105,96 (40,79) (40,79) (40,79) Tuyệt đối (45.226) (45.226) (45.355) 129 (2) 243 (117) (117) (117) 100 100 100,01 (0.01) 0.01 0.19 (0.19) (0.19) (0.19) 100 100 99,89 0,11 0,01 0,35 (0,24) (0,24) (0,24) 100 100 99,49 0,52 0,01 1,28 (0,77) (0,77) (0,77)

(51,19) (51,39) 137,23 (79,13) 78,14 (54,67) (54,67) (54,67) (Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

44

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Trong năm 2012 doanh thu bán

hàng và cung cấp dịch vụ của Kim khí Lan Anh tăng 10.227 triệu đồng tương ứng tăng 13,09% so với năm 2011 do có sự đầu tư vào các thiết bị sản phẩm và dịch vụ chăm

sóc khách hàng không chỉ hướng đến đại lý mà còn thu hút các công ty xây dựng nhằm

nâng cao hiệu quả kinh doanh.Doanh thu của Kim khí Lan Anh đến chủ yếu từ việc

cung cấp kim loại, quặng kim loại và vật liệu xây dựng, do doanh nghiệp còn non trẻ, gặp phải nhiều sự cạnh tranh từ các đối thủ trên thị trường nên doanh thu năm 2013 có

phần giảm sút. Năm 2013, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm 45.226 triệu

tương ứng giảm 51,19% so với 2012 do trong năm doanh nghiệp đã để lỡ một số gói

thầu quan trọng như gói cung cấp vật liệu, sơn và kính cho dự án xây dựng trung tâm thương mại Chợ Mơ, dự án xây dựng Chung cư Nam Đô... Điều này cho thấy, công ty

chưa thành thục trong việc vận dụng cơ hội và nắm bắt nhu cầu thị trường để nâng cao

hiệu quả kinh doanh.

Các khoản giảm trừ doanh thu qua các năm bằng không, điều này cho thấy chất

lượng vật liệu xây dựng của công ty kinh doanh rất tốt, các danh mục hàng giảm giá,

hàng bị trả lại là không có dù sắt thép, sơn, kính… đều là những sản phẩm khó bảo

quản và vận chuyển, góp phần vào việc giữ doanh thu thuần ở mức cao.

Giá vốn hàng bán: Giá vốn hàng bán năm 2012 tăng 10.130 triệu tương ứng

12,97% so với năm 2011, sang năm 2013, giá vốn giảm 45,355 triệu tương ứng giảm 51,39% so với năm 2012.Điều này là hoàn toàn dễ hiểu và hợp lý khi đối chiếu với

doanh thu bán hàng tăng của năm 2012 và giảm năm 2013. Giá vốn hàng bán chiếm tỷ

trọng rất lớn trên doanh thu thuần, thậm chí năm 2011 còn vượt quá doanh thu, chiếm

100,01%, năm 2012 là 99,89% và năm 2013 là 99,49%, vì công ty chủ yếu là kinh

doanh, không trực tiếp gia công sản phẩm nên phần lớn những vật liệu xây dựng này

được mua lại từ nhà sản xuất khác. Do nhập hàng các sản phẩm thành phẩm từ các nhà

cung cấp với giá cao nên giá bán ra thị trường chênh lệch không quá nhiều với giá vốn,

thậm chí năm 2011 còn bán thấp hơn giá vốn do mặt hàng nhôm kính và sơn cũ của

công ty đã lỗi mốt trên thị trường khiến lợi nhuận gộp bị âm.Việc tỷ trọng giá vốn giảm dần qua ba năm và lợi nhuận gộp tăng dần cho thấy hiệu quả kinh doanh của công ty đã tăng, doanh nghiệp tăng giá các mặt hàng cung cấp ra thị trường nhằm bù đắp cho chi phí giá vốn tăng.

Doanh thu từ hoạt động tài chính của năm 2011, 2012, 2013 là rất nhỏ, chỉ

chiếm 0,01% so với doanh thu thuần, điều này chứng tỏ công ty không có lợi nhuận từ các khoản cho vay nhận lãi hay đầu tư tài chính nào trong vòng 3 năm, đồng thời cũng không nhận được các chiết khấu từ các nhà cung cấp sản phẩm.

Chi phí tài chính chủ yếu là lãi vay, qua 3 năm đều bằng 0, nguyên nhân là các

khoản vay này đều là vay từ người thân, công ty cũng không có chi phí chi cho việc

45

chiết khấu bán hàng tăng nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm nên không làm ảnh

hưởng tới lợi nhuận của công ty.

Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2012 là 311 triệu tăng 160 triệu,tăng gấp đôi

so với năm cũ, đến năm 2013 tiếp tục tăng thêm 78,14%, chạm mốc 554 triệu, việc

tăng mạnh của chi phí quản lý doanh nghiệp là một điều mà doanh nghiệp cần hạn chế

và có biện pháp giải quyết, tỷ trọng của chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần là không cao, chỉ chiếm chưa đến 2% nhưng tốc độ tăng bất hợp lý này có thể là

do doanh nghiệp đang mất kiểm soát và có một bộ máy quản lý không hợp lý, gây ảnh

hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của công ty.

Nguyên nhân của việc chi phí quản lý doanh nghiệp tăng là do công ty thuê thêm nhân lực quản lý sản xuất cũng như cử nhân viên các bộ phận đi đào tạo nghiệp vụ

chuyên môn.

Lợi nhuận thuần: Do tốc độ tăng của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

nhỏ hơn tốc độ tăng của các khoản mục chi phí tron đó chi phí quản lý doanh nghiệp

chiếm chủ yếu nên lợi nhuận thuần âm lớn dần qua các năm. Năm 2012 giảm 62 triệu

tương ứng 40,79% năm 2011, đặc biệt năm 2013 chi phí QLDN tăng mạnh kéo lợi

nhuận thuần xuống thêm 54,67% tương ứng 117 triệu.

Lợi nhuận kế toán trƣớc thuế không có gì thay đổi so với lợi nhuận thuần vì 3

năm công ty không có lợi nhuận khác.Công ty đang kinh doanh không ổn định và tăng trưởng lùi, cần phải chú ý đến các khoản chi phí ngoài giá vốn nhằm nâng cao hiệu

quả của hoạt động kinh doanh.

Kết Luận: Lợi nhuận sau thuế của công ty cả ba năm đều âm và số âm này tăng

dần từ năm 2011 đến năm 2013 cho thấy công ty hiện đang trong tình trạng báo động

về kinh doanh kém hiệu quả.

Các khoản chi phí tăng bất hợp lý cùng với việc doanh thu bán hàng và cung cấp

dịch vụ không có sự chuyển biến mạnh do không nắm được xu hướng thị trường khiến

cho doanh kết quả kinh doanh của công ty liên tục âm. Công ty cần phải xem xét lại

hoàn toàn chính sách quản lý chi phí cũng như các chiến lược kinh doanh và thúc đẩy doanh thu trong những năm tiếp theo để có kết quả kinh doanh có lãi .

46

2.2.3.Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giai đoạn 2011 – 2013

Bảng 2.7. Lƣu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 – 2013

(Đơn vị tính: triệu đồng)

Chênh lệch giữa Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (2) và (3) (1) và (2) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

Lƣu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh

1.Tiền thu từ bán hàng, CCDV, doanh thu khác 77.851 88.345 43.123 10.494 13,48 (45.222) (51,19)

2. Tiền trả cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ (82.530) (91.352) (40.662) 8.822 10,69 (50.690) (55,49)

3. Tiền trả cho người lao động (112) (131) 16,96 (40) (30,53) (91) 19

4.Tiền chi trả lãi vay

5. Tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (13) (13) 13 0 0

6. Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh 157 284 35 (127) (44,72) (122) (77,71)

7.Tiền chi khác từ hoạt động kinh doanh

(4.506) (2.993) 2.392 1.513 33,58 5.385 179,92 Lƣu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động kinh doanh

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

47

Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh lập báo cáo LCTT theo phương pháp trực tiếp nên có thể thấy thành phần chính của lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD là tiền thu từ bán hàng, CCDV và tiền chi cho nhà cung cấp. Năm 2011, khoản tiền thu được từ HĐKD và hoạt động khác nhỏ hơn khoản tiền đã chi trả cho nhà cung cấp và người lao động,do đó, lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD mang dấu âm.

Năm 2012: Tiền thu được từ HĐKD tăng 10.494 triệu tương ứng tăng 13,48% so với năm 2011, khoản thu từ hoạt động khác giảm 127 triệu tương ứng giảm 44,72%, đồng thời các khoản tiền chi trong năm này cũng đều tăng lên như tiền chi trả cho nhà cung cấp tăng 8.822 triệu tương ứng tăng 10,69%, tiền chi trả cho người lao động tăng 19 triệu tương ứng tăng 41,28%, tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tăng 13 triệu... Điều này cho thấy trong năm 2012Kim khí Lan Anh bắt đầu đẩy nhanh tiến độ thanh toán các khoản phải trả nhằm tạo uy tín đồng thời thắt chặt tín dụng đối với khách hàng để duy trì tính an toàn trong khả năng thanh toán. Công ty tiếp tục sử dụng tiền nhiều hơn lượng tiền thu về được, tuy nhiên mức độ có giảm so với năm trước.

Năm 2013, tuy doanh thu giảm mạnh nên tiền thu về từ HĐKD giảm45.222 triệu tương ứng giảm 51,19% so với năm 2012, tiền thu từ hoạt động khác giảm 122 triệu tương ứng giảm 77,71%. Doanh thu giảm đồng thời tiền chi trả cho người cung cấp và tiền trả cho người lao động cũng giảm là nguyên nhân khiến cho lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD năm 2013 dương, chênh lệch tăng 5.385 triệu tương đương 179,92% so với năm 2012.

Bảng 2.8. Chỉ tiêu đánh giá lƣu chuyển tiền thuần từ HĐKD

(Đơn vị tính: %)

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

(5,77) (3,39) 5,55 LC tiền thuần từ HĐKD trên DT thuần

(257,78) (194,98) 198,67 LC tiền thuần từ HĐKD trên VCHS

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC) Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD trên doanh thu thuần năm 2011 khá thấp là âm 5,77%. Năm 2012 chỉ tiêu này tiếp tục mang dấu âm, đến năm 2013 tăng trưởng với dấu dương và chiếm 5,55%. Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng chuyển doanh thu thành tiền mặt của công ty nên có thể thấy 2 năm đầu nguồn vốn của công ty đang bị chiếm dụng và phải sử dụng dự trữ tiền mặt để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD trên vốn chủ sở hữu năm 2011 là âm 257,78% hay một đồng VCSH gây ra âm 2,5778 đồng tiền từ HĐKD. Năm 2012 chỉ tiêu này vẫn âm, năm 2013 dương 198,67%, tuy giá trị tương đối cao nhưng chưa khẳng định hiệu quả tạo tiền của Kim khí Lan Anh ổn định trong thời gian dài. Công ty cần khắc phục, nâng cao khả năng tạo tiền để đảm bảo cân bằng tài chính.

48

Bảng 2.9. Lƣu chuyển tiền từ hoạt động tài chính giai đoạn 2011 – 2013

(Đơn vị tính: triệu đồng)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (2) và (3) Chênh lệch giữa (1) và (2) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

1.900 1.900 1.900 0 0 0 0 Lƣu chuyển tiền từ hoạt động tài chính 1. Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của CSH

3. Tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được 5.000 2.900 (2.100) (42) (2.900) (100)

4. Tiền chi trả nợ gốc vay (2.100) (1.500) (200) (600) (28,57) (1.300) (86,67)

(1.500) (31,25) (1.600) (48,48) Lƣu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính 4.800 3.300 1.700

13 4,42 3.785 1.233 Lƣu chuyển tiền thuần trong năm 294 307 4.092

Tiền và tƣơng đƣơng tiền đầu năm

13 4,42 3.785 1.233 Tiền và tƣơng đƣơng tiền cuối năm 294 307 4.092

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

49

Lƣu chuyển tiền từ hoạt động đầu tƣ: Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh giai đoạn 2011 – 2013 không có lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư do công ty không xuất dòng tiền chi để mua sắm, xây dựng

TSCĐ, và cũng không có dòng tiền vào vì không có lãi cho vay và lợi nhuận được

chia.

Lƣu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: Năm 2011, Kim khí Lan Anh nhận khoản thu từ phát hành cổ phiếu và vốn góp

của CSH là 1.900 triệu, đồng thời cũng nhận được khoản vay ngắn hạn và dài hạn

5.000 triệu để mở rộng kinh doanh. Cũng trong năm này công ty đã tiến hành chi trả

gần một nửa số nợ gốc vay là 2.100 triệu, ngoài ra không còn khoản chi nào khác. Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính năm 2011 mang dấu dương.

Năm 2012 Kim khí Lan Anh vẫn giữ khoản thu từ phát hành cổ phiếu và vốn góp

của CSH là 1.900 triệu, ngoài ra tiếp tục vay ngắn hạn và dài hạn nhưng ít hơn năm

2011 là 2.100 triệu tương ứng giảm 42%. Công ty cũng chủ động giảm dòng tiền ra

qua việc giảm chi trả nợ gốc vay là 28,57% tương ứng giảm 600 triệu đồng. Bằng việc

giữ nguyên giá trị cổ phiếu và vốn góp từ CSH đồng thời giảm tiền vay nhận được

nhiều hơn mức giảm chi trả nợ vay, lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính năm 2012

đã có giảm 31,25% tương ứng giảm 1.500 triệu so với năm 2011.

Năm 2013, lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính tiếp tục giảm 1.600 triệu tương ứng giảm 48,48% so với năm 2012. Nguyên nhân là do trong năm này công ty không

thay đổi việc phát hành cổ phiếu và giá trị vốn góp từ CHS, trong khi tiền vay ngắn và

dài hạn giảm 100% thì chi trả gốc vay vẫn còn tuy có giảm mạnh tới 86,67%. Qua sự

biến động của dòng tiền có thể thấy năm 2013Kim khí Lan Anh đang tập trung chi trả

nợ gốc vay nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí lãi.

Từ lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, ta

có lưu chuyển tiền thuần trong kỳ. Lưu chuyển tiền thuần trong năm 2011 dương do

công ty thu về dòng tiền nhiều hơn dòng tiền đã sử dụng. Năm 2012 lưu chuyển tiền

thuần tiếp tục dương và tăng nhẹ 4,42% tương ứng 13 triệu so với năm 2011 do lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD tăng nhiều hơnmức giảm của dòng tiền từ hoạt động tài chính. Năm 2013 lưu chuyển tiền thuần có sự nhảy vọt, tăng 3.785 triệu tương ứng tăng 1.233% chủ yếu là do lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD mang dấu dương,thể hiện công ty đã có những cải thiện về kiểm soát chi phí và chủ động thanh toán nợ gốc

trong năm trước.

Do tiền và tương đương tiền đầu năm không có nên tiền và tương đương tiền cuối kỳ bằng đúng giá trị lưu chuyển tiền thuần trong năm. Ban đầu việc dòng tiền vào

từ HĐKD nhỏ hơn dòng tiền chi ra từ HĐKD thể hiện nguồn vốn của công ty bị chiếm

dụng, nhưng kết quả HĐKD năm 2013 đã tạo ra hiệu ứng khá tốt đối với việc duy trì

50

hiệu quả nguồn thanh toán và hiệu quả SXKD. Giai đoạn 2011 - 2013 lưu chuyển tiền

thuần có sự tăng trưởng liên tục, đặc biệt vào năm 2013 nên các khoản tiền và tương đương tiền cuối kỳ cũng có kết quả ấn tượng, tuy nhiên doanh nghiệp vẫn chưa có dấu

hiệu bắt đầu giảm dự trữ tiền mặt để đầu tư cho các hoạt động dài hạn.

2.2.4.Phân tích các chỉ tiêu tài chính

2.2.4.1. Phân tích khả năng thanh toán

Bảng 2.10. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn

(Đơn vị: lần)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (1) và (2) Chênh lệch giữa (2) và (3) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

1,24 1,32 1,2 0,08 6,67 (0,12) (9,04) Khả năng thanh toán hiện hành

1,16 1,18 1,06 0,02 1,38 (0,12) (9,92) Khả năng thanh toán nhanh

0,04 0,07 0,73 0,03 61,16 0,67 1.021,17 Khả năng thanh toán tức thời

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC) Hệ số khả năng thanh toán hiện hành cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà

doanh nghiệp đang giữ thì có bao nhiêu đồng TSNH có thể sử dụng để thanh toán.

Năm 2011 khả năng thanh toán hiện hành đạt 1,24 lần, năm 2012 tăng 0,08 lần tương

ứng tăng 6,67% do giá trị TSNH giảm 30,89%, nhỏ hơn mức giảm của nợ ngắn hạn là

35,2%. Năm 2013 nợ ngắn hạn tăng 18,88% nhưng TSNH chỉ tăng8,14% đã khiến hệ số này giảm 0,12 lần tương ứng giảm 9,04%. Nhìn chung, hệ số này lớn hơn 1 đã

chứng tỏ Kim khí Lan Anh đạt được mức an toàn trong thanh toán nợ ngắn hạn, cao

hơn hệ số toàn ngành là 0,76 lần (nguồn số liệu từ www.cophieu68.vn), đồng thời hệ

số không quá cao cũng thể hiện khả năng linh hoạt về nguồn vốn của công ty không bị hạn chế.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh phản ánh việc doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng TSNH để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không phải bán HTK. Hệ số này phản ánh khả năng sẵn sàng thanh toán cao hơn so với hệ số khả năng thanh

toán hiện hành. Năm 2011, khả năng thanh toán nhanh đạt 1,16 lần, năm 2012 tăng nhẹ 0,02 lần tương ứng tăng 1,38% do nợ ngắn hạn giảm và hàng tồn kho không chiếm tỷ trọng cao. Đến năm 2013 hệ số này giảm 0,12 lần tương ứng 9,92% do nợ ngắn hạn tăng 18,88%, đồng thời tỷ trọng hàng tồn kho cũng tăng 16,89% trong khi TSNH chỉ

51

tăng 8,14%. Nhìn chung, khả năng thanh toán nợ của công ty vẫn đạt mức an toàn, cao

gần gấp ba so với ngành là 0,44 lần, chỉ số này giữ giá trị lớn hơn 1vì trong các khoản nợ ngắn hạn, có những khoản đã và sẽ đến hạn thanh toán ngay thì mới có nhu cầu

thanh toán, những khoản chưa đến hẹn chưa có nhu cầu phải thanh toán ngay.

Hệ số khả năng thanh toán tức thời là hệ số phản ánh mức độ cao nhất khả

năng sẵn sàng thanh toán các khoản nợ khi bị chủ nợ yêu cầu ngay lập tức. Do lượng dự trữ tiền mặt cũng như tiền gửi ngân hàng có độ thanh khoản cao của doanh nghiệp

chiếm tỷ trọng khá thấp nên khả năng thanh toán tức thời của Kim khí Lan Anh trong

3 năm đều nhỏ hơn 1. Năm 2011 hệ số này chỉ đạt 0,04 lần, năm 2012tăng 61,16%

tương ứng tăng 0,03 lần, đến năm 2013có sự tăng vọt tới 1.021,17% khiến hệ số lên đến 0,73 lần. Có sự tăng trưởng này là do lượng tiền mặt tăng nhẹ trong năm 2012 với

4,42%, năm 2013 tiếp tục tăng mạnh1.232,9%. Chỉ tiêu này tăng lên gần 1 phản ánh

khả năng thanh toán nợ lập tức của công ty từ gần như không có lên mức an toàn đáng

tin cậy, công ty đã có những biện pháp cải thiện chỉ số này rõ rệt, cần tiếp tục duy trì

để tăng cường uy tín của Kim khí Lan Anh trên thị trường vốn, giúp công ty tiếp cận

cơ hội đầu tư.

Cả 3 năm giai đoạn 2011 - 2013, doanh nghiệp không sử dụng nợ vay nên chi phí

lãi vay bằng 0, ta không tính toán khả năng thanh toán lãi vay.

Qua các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nợ, có thể thấy Kim khí Lan Anh đang theo đuổi chính sách thận trọng với việc duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ

ngắn hạn luôn ở mức an toàn, mà các khoản nợ ở đây chủ yếu là phải trả nhà cung cấp,

trong khi đó chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản có sự chuyển dịch từ khoản phải

thu khách hàng sang dự trữ tiền mặt, cho thấy công ty hoàn toàn đảm bảo về mặt tài

chính, không chịu áp lực về rủi ro thanh toán do việc trả nợ không còn phụ thuộc vào

khoản phải thu khách hàng.

52

2.2.4.2. Phân tích hiệu quả hoạt động

Bảng 2.11. Các chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (1) và (2) Chênh lệch giữa (2) và (3) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

144,4 133,11 55,35 (11,29) (7,82) (77,76) (58,42) Số vòng quay HTK (vòng)

2,53 2,74 6,59 0,21 8,48 3,85 140,48 Thời gian quay vòng HTK (ngày)

9,67 17,11 23,76 7,44 76,98 6,64 38,81 Số vòng quay khoản phải thu (vòng)

37,74 21,33 15,36 (16,42) (43,5) (5,96) (27,96) Thời gian thu tiền bình quân (ngày)

20,32 13,69 49,33 (6,63) (32,63) 35,64 260,31 Thời gian thanh toán khoản phải trả (ngày)

40,27 24,07 21,96 (16,2) (40,23) (2,11) (8,77) Chu kỳ kinh doanh (ngày)

Vòng quay tiền (ngày) 19,95 10,38 (27,37) (9,57) (47,98) (37,75) (363,67)

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

Việc duy trì một lượng HTK hợp lý góp phần đảm bảo hoạt động sản xuất kinh

doanh được thực hiện liên tục và hiệu quả, bên cạnh đó cũng tiết kiệm giảm thiểu được

chi phí bảo quản và cất giữ HTK.

Số vòng quay HTK là chỉ tiêu quan trọng đánh giá việc doanh nghiệp có sử

dụng hiệu quả HTK hay không. Năm 2011 số vòng quay HTK là 144,4 vòng, năm

2012 giảm 11,29 vòng tương ứng giảm 7,82% do công ty đã chủ động tăng giá trị

HTK bình quân thêm 22,55% trong khi GVHB tăng chậm hơn ở mức 12,97%. Năm 2013, vòng quay HTK tiếp tục giảm 77,76 vòng tương ứng giảm 58,42% do GVHB giảm xuống trong khi lượng HTK bình quân lại tăng lên. Tuy giảm đều qua các năm nhưng số vòng quay HTK của Kim khí Lan Anh tương đối cao nên việc giảm bớt hệ số này đã phần nào chứng minh công ty có cải thiện về việc quản lý HTK mang lại hiệu quả kinh doanh cao hơn.

Cùng với số vòng quay HTK, việc phân tích thời gian quay vòng HTK cũng cho ta rõ hơn về thời gian từ khi doanh nghiệp mua hàng cho đến khi tiêu thụ hết. Năm

2011 thời gian quay vòng HTK là 2,53 ngày tức là một đợt HTK mất 2,5 ngày để tiêu thụ hết. Khi số vòng quay HTK liên tục giảm đi thì thì thời gian quay vòng HTK liên

53

tục tăng lên. Năm 2012 thời gian quay vòng HTK tăng 0,21 ngày tương ứng 8,48%,

đến năm 2013 tiếp tục tăng 3,85 ngày tương ứng 140,48% so với năm 2012. Thời gian quay vòng HTK cũng cho thấy hiệu quả quản lý HTK tại công ty đang được cải thiện.

Bên cạnh đó, khả năng chuyển hóa thành tiền hay tính thanh khoản cũng được thể hiện

rõ rệt trong những năm gần đây.

Số vòng quay các khoản phải thu phản ánh khả năng thu hồi nợ và chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Năm 2011, số vòng quay khoản phải thu là 9,67 vòng, cao

hơn tỷ số ngành là 2,75 vòng. Năm 2012, số vòng quay này tăng 7,44 vòng tương ứng

tăng 76,98% do khoản phải thu bình quân giảm 36,1% đồng thời doanh thu thuần tăng

13,09% so với năm 2011. Cũng do tình hình tài chính khả quan của nhiều khách hàng nên trong năm này, công ty đã thắt chặt chính sách tín dụng mà vẫn duy trì được doanh

thu bán hàng. Năm 2013, việc doanh thu thuần giảm 51,19% trong khi khoản phải thu

tiếp tục giảm tới 64,84% đã kéo số vòng quay khoản phải thu nhích lên thêm6,64 ngày

tương ứng tăng 38,81% so với năm 2012. Có thể thấy rằng để tránh rủi ro bị doanh

nghiệp khác chiếm dụng vốn,Kim khí Lan Anh duy trì số vòng quay khoản phải thu

khá ổn định, giữ việc tăng trưởng đều qua 3 năm. Ngoài ra, công ty cũng cần tích cực

hơn trong việc đưa ra những biện pháp chọn lựa nhà phân phối hay linh hoạt hơn trong

việc thu hồi nợ từ phía khách hàng đểtạo được sự cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ

hàng hóa.

Thời gian thu tiền bình quân là số ngày mà doanh nghiệp cần có để chuyển các

khoản phải thu thành tiền mặt, thể hiện chính xác và rõ ràng hơn khả năng thu hồi

nợcủa doanh nghiệp. Năm 2011, thời gian thu tiền bình quân là 37,74 ngày, năm

2012giảm đi 16,42 ngày so với năm 2011 do ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tín

dụng và tác động của một vài khoản phải thu đến hạn mà công tyđã thu hồi được. Sang

năm 2013, thời gian thu tiền bình quân tiếp tục được cải thiện, giảm 5,96 ngày so với

năm 2012, có thể thấy trong năm này, khả năng chuyển các khoản phải thu thành tiền

mặt tại công ty tốt hơn, đáp ứng nhu cầu chi trả hay đầu tư khác hiệu quả hơn.

Thời gian thanh toán khoản phải trả phản ánh khả năng, chính sách thanh toán của doanh nghiệp. Năm 2011, thời gian thanh toán khoản phải trả là 20,32 ngày, năm 2012, thời gian này giảm 6,63 ngày xuống còn 13,69 ngày và tăng trong năm 2013 là 35,64 ngày so với năm 2012. Điều này cho thấy, trong thời gian đầuKim khí Lan Anh đẩy nhanh tiến độ thanh toán cho nhà cung cấp, góp phần nâng cao uy tín đểgiai đoạn

sau có thể mua vật liệu được dễ dàng hơn. Việc thanh toán muộn hơn này còn phụ thuộc vào điều kiện cũng như chính sách tín dụng của nhà cung cấp.

Khi so sánh thời gian thanh toán khoản phải trả với thời gian thu tiền bình quân,

ta thấy giai đoạn 2011 - 2012, công ty có khoảng thời gian thanh toán khoản phải trả

ngắn hơn cho thấy lúc đầu doanh nghiệp vẫn đang có nguồn chiếm dụng nhỏ hơn phần

54

vốn bị chiếm dụng từ khách hàng, đến năm 2013 điều này đã được cải thiện, thời gian

thanh toán khoản phải trả lớn hơn chứng tỏKim khí Lan Anh đã biết cách khắc phục nhằm đảm bảo được phần nào lượng tiền mặt đáp ứng mục tiêu chi trả.

Chu kỳ kinh doanh cho ta biết khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp mua

nguyên vật liệu cho đến khi thu được tiền từ bán hàng. Chu kỳ kinh doanh năm 2011

của Kim khí Lan Anh là 40,27 ngày, năm 2012 chu kỳ kinh doanh giảm 16,2 ngày so với năm 2011 bởi chu kỳ kinh doanh tùy thuộc vào thời gian thu tiền bình quân và thời

gian quay vòng tồn kho, thời gian quay vòng HTKtăng không đáng kể so với mức

giảm của thời gian thu tiền bình quânnăm 2011. Chu kỳ kinh doanh tiếp tục giảm trong

năm 2013 là 2,11 ngày so với năm 2012 do trong năm này mức tăng của thời gian quay vòng HTK vẫn nhỏ hơn so với mức giảm của thời gian thu tiền bình quân. Việc

rút ngắn chu kỳ kinh doanh tạo điều kiện cho việc rút ngắn vòng quay tiền từ đó đẩy

nhanh xoay vòng vốn.

Vòng quay tiền là một chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá khả năng quản lý dòng

tiền của công ty. Vòng quay tiền tại Kim khí Lan Anh năm 2011 là 19,95 ngày, năm

2012giảm 9,57 ngày so với năm 2011 do tốc độ giảm của thời gian thanh toán khoản

phải trảnhỏ hơn tốc độ giảm của chu kỳ kinh doanh. Đến năm 2013, vòng quay tiền lại

giảm37,75 ngày do chu kỳ kinh doanh tiếp tục giảm trong khi thời gian thanh toán

khoản phải trả lại tăng. Vòng quay tiền của công tyqua các năm không cao, đặc biệt năm 2013 mang giá trị âm, cho thấy lượng tiền mặt tạo ra trong kỳ dùng cho HĐKD

và các hoạt động kháccó xu hướng đảm bảo dần, từ đókhông cần phải trích quỹ tiền

mặt để đáp ứng khả năng thanh toán các khoản phải trả trong khi chờ thu tiền từ phía

khách hàng. Nhìn chung, việc kéo dài thời gian chiếm dụng vốn khi mua hàng phần

nào giúpvòng quay tiền giảm đi và trải rộng vốn lưu động của doanh nghiệp nhưng

cũng là thách thức đối với uy tín của doanh nghiệp trong việc trả nợ.

Bảng 2.12. Hiệu suất sử dụng tài sản

(Đơn vị: lần)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (1) và (2) Chênh lệch giữa (2) và (3) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

8,7 14,24 6,43 5,54 63,63 (7,81) (54,87)

3.551 3.046 532,33 (504) (14,21) (2.514) (82,53)

8,68 14,18 6,35 5,49 63,27 (7,82) (55,19) Hiệu suất sử dụng TSNH Hiệu suất sử dụng TSDH Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

55

Hiệu suất sử dụng TSNH cho ta biết hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông

qua việc sử dụng TSNH. Năm 2011, hiệu suất sử dụng TSNH là 8,7 hay mỗi đồng TSNH đem lại cho doanh nghiệp 8,7 đồng doanh thu thuần. Năm 2012, hiệu suất sử

dụng TSNH tăng5,54 lần tương ứng tăng 63,63% so với năm 2011 hay có thể hiểu

trong năm này cũng với 1 đồng TSNH doanh nghiệp đã thu về được 14,24 đồng doanh

thu thuần. Việc tăng trưởng của hiệu suất sử dụng TSNH là do doanh thu thuần tăng 13,09% trong khi TSNH bình quângiảm 30,89% so với năm 2011 trong đó đặc biệt là

sựgiảm sút của các khoản phải thu ngắn hạn. Đến năm 2013, hiệu suất sử dụng TSNH

lại giảm 7,81 lần tương ứng 54,87% so với năm 2012.Tuy có sự giảm sút nhưng nhìn

chung hiệu quả sử dụng TSNH của công ty vẫn ở mức cao, điều này cho thấy, Kim khí Lan Anh đã có chính sách quản lý TSNH hiệu quả và có những đầu tư thích hợp hơn

nhằm nâng cao doanh thu.

Bên cạnh các TSNH thì giá trị TSDH là khoản mục mang tính vững chắc và lâu

dài hơn cũng góp phần hình thành nên doanh thu cho doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng

TSDH năm 2011 là 3.551 lần hay mỗi đồng TSDH doanh nghiệp tạo ra 3.551đồng

doanh thu thuần. Năm 2012, con số này giảm đi 504 lần so với năm 2011 do tỷ trọng

doanh thu thuần tăng lên không nhiều bằng tỷ trọng TSDH tăng. Năm 2013, hiệu suất

sử dụng TSDHgiảm mạnh 2.514 lần so với năm 2012. Trong năm này, bên cạnh việc

giá trị bình quânTSDH tiếp tục tăng cao thì doanh thu thuầncũng giảm mạnh do doanh nghiệp vấp phải những đối thủ mạnh trên thị trường. Việc hiệu suất sử dụng TSDH ở

mức cao cho thấy mặt phát triển tích cực trong những năm gần đây của doanh nghiệp

tuy nhiên do công ty không hề đầu tư vào tài sản cố định nên có thể hiệu suất này

không được duy trì ổn định trong tương lai.

Ngoài ra, để đánh giá tổng quát nhất hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp

ta phải nói đến hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Năm 2011, hiệu suất sử dụng tổng tài

sản là8,68 lần hay cứ 1 đồng tài sản thì doanh nghiệp tạo ra 8,68 đồng doanh thu

thuần. Năm 2012, con số này tăng 5,49 lần tương ứng tăng 63,27% so với năm 2011

do việc giảm các khoản phải thu ngắn hạn và đầu tư TSDH khác trong khi doanh thu tăng. Đến năm 2013, hiệu suất sử dụng tổng tài sản lại giảm 7,82 lần tương ứng 55,19% so với năm 2011.

Nhìn chung, hiệu suất sử dụng tài sản được cải thiện trong năm 2012 và xấu đi trong năm 2013, tuy nhiên như đã nói, việc không đầu tư vào TSCĐ và tăng đầu tư

vào tài sản ngắn hạn có thể khiến cho hiệu suất sử dụng tài sản không thực sự tốt và duy trì ổn định trong thời gian dài. Vì vậy, Kim khí Lan Anh cần tạo ra những thay đổi hợp lý với tình hình hiện tại để đạt được kết quả tốt, cải thiện hiệu suất sử dụng tài sản

trong tương lai.

56

2.2.4.3. Phân tích khả năng sinh lời

Bảng 2.13. Các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời

(Đơn vị: %)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (1) và (2) Chênh lệch giữa (2) và (3) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

ROS (0,19) (0,24) (0,77) (0.05) (24,49) (0,53) (216,9)

ROA (1,69) (3,43) (4,88) (1.74) (103,25) (1,44) (42)

ROE (8,7) (13,94) (27,49) (5.25) (60,33) (13,55) (97,2)

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần (ROS) năm 2011 là âm 0,19% hay từ

100 đồng doanh thu thuần doanh nghiệp bị thua lỗ 0,19 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ

suất này tăng 0.05% trong năm 2012, năm 2013 tăng 0,53% so với năm 2012. Tỷ số

này âm phản ánh việc doanh nghiệp kinh doanh không có lãi, so với tỷ suất sinh lời

trên doanh thu thuần của ngành vật liệu xây dựng bằng 0, ROS của Kim khí Lan Anh

vẫn nhỏ hơn, điều này cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động không hiệu quả, liên tục

thua lỗ và lỗ qua các năm ngày càng nhiều hơn, chủ yếu là do giá vốn hàng bán luôn ở

mức cao hơn 99%, thậm chí hơn 100% so với doanh thu thuần, bên cạnh đó còn có chi

phí quản lý doanh nghiệp dẫn tới lợi nhuận sau thuế âm.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cũng có xu hướng giảm trong 3 năm

gần đây. Năm 2011 là âm 1,69% hay 100 đồng tài sản thì doanh nghiệp thua lỗ 1,69

đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012 giảm 1,74% so với năm 2011. Đến năm 2013 tỷ

suất này vẫn chưa được cải thiện so với năm 2012, tiếp tục giảm 1,44%. ROA trung bình ngành kim khí và vật liệu xây dựng trong những năm gần đây dao động ở mức 0 đến âm 1% nên trong 3 năm 2011- 2013, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của Kim khí Lan Anh đang ở ở trong mức âm đáng báo động, chưa thể tiến đến mặt bằng chung.. Nhìn chung, ROA giảm đi là biểu hiện của việc doanh nghiệp chưa thay đổi hướng sử dụng và quản lý tài sản chưa hiệu quả.

Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2011, ROE là âm 8,7% hay cứ 100 đồng VCSH doanh nghiệp thua lỗ 8,7 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012 là âm 13,94% và đến năm 2013là âm 27,49%. Do ROE trung bình ngành nằm trong khoảng âm 1% nên ROE của Kim khí

57

Lan Anh thực sựđang thể hiện sự yếu kém trong kinh doanh so với các doanh nghiệp

cùng cấp và chưa có dấu hiệu phục hồi.

Tuy nhiên để thấy được các tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp có thực sự phản

ánh việc quản lý tốt tài sản cũng như hiệu quả HĐKD và những tác động khiến các hệ

số tăng trưởng, ta xem xét theo phương pháp phân tích tài chính Dupont.

2.2.4.4. Phân tích Dupont

Bảng 2.14. Phân tích tác động của ROS lên ROA

Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch giữa (1) và (2) Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (3) và (4) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) (4) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

(0,19) (0,24) (0,05) (26,32) (0,24) (0,77) (0,53) (220.83)

8,68 8,68 0 0 14,18 14,18 0 0

ROS (%) Hiệu suất sử dụng tổng tài sản ROA (%) (1,65) (2,08) (0,43) (26,32) (3,4) (10,9) (7,51) (220,83)

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

Năm 2011 – 2012: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu giảm 0,05% với số nhân hiệu suất sử dụng tài sản là 8,68 làm cho ROA năm 2012 giảm 1,65% chủ yếu do chi phí

QLDN tăng quá nhiều so với mức tăng của lợi nhuận thuần dẫn đến lợi nhuận sau thuế

giảm 40,79%.

Năm 2012 – 2013: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu tiếp tục giảm 0,53% dưới tác

động của số nhân 14,18 làm cho ROA giảm đi 7,51% hay một đồng tài sản năm 2013

tạo ra ít lợi nhuận hơn năm 2012 là 0,0751 đồng do trong năm 2013 công ty đã trượt

mất một số gói thầu xây dựng khiến doanh thu thuần giảm 51,19% đồng thời chưa

kiểm soát tốt mức tăng chi phí khiến lợi nhuận sau thuế giảm tới 54,67%.

Bảng 2.15. Phân tích tác động của hiệu suất sử dụng tổng tài sản lên ROA

Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch giữa (1) và (2) Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch giữa (3) và (4) Chỉ tiêu

(1) (2) (3) (4) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

ROS (%) (0,24) (0,24) 0 0 (0,77) (0,77) 0 0

8,68 14,18 5,49 63,27 14,18 6,35 (7,82) (55,19) Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

ROA (%) (2,08) (3,4) (1,32) (63,27) (10,9) (4,89) 6,02 55,19

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

58

Năm 2011 - 2012: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản tăng 5,49 lần với số nhân tỷ

suất sinh lời trên doanh thu là âm 0,24% đã khiến ROA của năm 2012 giảm 1,32%. Trong khi giá trị tổng tài sản giảm hàng năm thì hiệu suất sử dụng tài sản lại tăng, điều

này cho thấy trong năm 2012 công ty đã sử dụng hiệu quả tài sản.

Năm 2012 – 2013: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm 7,82 lần, với số nhân âm

0,77% khiến cho ROA tăng 6,02% hay một đồng tài sản năm 2013 tạo ra nhiều lợi nhuận hơn năm 2012.

Ta có thể thấy, ROA chịu ảnh hưởng trực tiếp từ ROS và số vòng quay tài sản.

Như đã tính toán, ROA của Kim khí Lan Anh giảm liên tục và chưa có xu hướng tăng

trở lại trong 3 năm gần đây, nhìn vào phương trình Dupont, việc ROA giảm là do sựgiảm đi của cả ROS lẫn số vòng quay tài sản. Trong đó ROS giảm do tốc độgiảm lợi

nhuận sau thuế lớn hơn tốc độgiảm của doanh thu thuần, doanh nghiệp quản lý chi phí

thiếu hiệu quả hơn và không thu được doanh thu từ các hoạt động khác, số vòng quay

tài sản giảm do doanh thu thuần giảm đitrong khi tổng tài sản tăng. Do việc tăng tổng

tài sản nhưng lại không có sự đầu tư vào TSCĐ có thể gây ra thiếu ổn định trong tương

lai nên Kim khí Lan Anh cần cải thiện doanh thu cũng như lợi nhuận sau thuế, quản lý

chi phí hiệu quả để đảm bảo gia tăng ROA bền vững.

2.2.5.Phân tích điểm hòa vốn

Để thấy được mối quan hệ giữa chi phí cố định, chi phí biến đổi và doanh thu hay số lượng tiêu thụ, ta tiến hành phân tích điểm hòa vốn của doanh nghiệp. Do Kim khí

Lan Anh tiêu thụ khá nhiều loại hình sản phẩm từ quặng kim loại, kim khí đến sơn,

kính, vận tải xây dựng nên ta phân tích điểm hòa vốn theo doanh thu để dễ dàng hơn

trong việc xác định chi phí.

Bảng 2.16. Doanh thu – chi phí và điểm hòa vốn tại Kim khí Lan Anh

(Đơn vị: triệu đồng)

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tổng doanh thu (S) 78.118 88.345 43.119

Tổng chi phí 78.273 88.563 43.451

Tổng chi phí cố định 151 311 554

Tổng chi phí biến đổi 78.122 88.252 42.897

EBIT (155) (218) (332)

SBE (2.948.955) 295.433 107.603

59

Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu bán ra đủ bù đắp tất cả các chi phí.

Chi phí cố định của Công ty Cổ phần Kim khí Lan Anh được tính toán chủ yếu từ chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí biến đổi chính là giá vốn hàng bán mỗi năm. Từ đây

ta thấy, năm 2011 điểm hòa vốn theo doanh thu của Kim khí Lan Anh là âm 2.948.955

triệu, mức này nhỏ hơn 0 rất nhiều do giá vốn hàng bán lớn hơn doanh thunên doanh

nghiệp không bù đắp được chi phí và hoạt động chưa có lãi, thể hiện ở giá trị EBIT âm. Năm 2012 - 2013 điểm hòa vốn đã đạt giá trị dương và theo doanh thu tăng

lêntrong năm 2012 do chi phí cố định tăng qua các năm, tuy nhiên doanh nghiệp vẫn

không bù đắp được chi phí và hoạt động thua lỗ.

Nhìn chung, điểm hòa vốn trong giai đoạn 2011 -2013 đều lớn hơn nhiều lần doanh thu đạt được trong giai đoạn này, năm 2011, doanh thu thực tếkém điểm hòa

vốn khoảng 37 lần, năm 2012 là hơn 3 lần và đến năm 2013 khoảng cách này là 2,5

lần. Việc doanh thu thực tế có xu hướng ngày càng tạo ra khoảng cách gần với điểm

hòa vốn tuy chưa khẳng định hiệu quả HĐKD nhưng đã thể hiện hiệu quả cải thiện

chính sách quản lý chi phí cố định với giai đoạn kinh tế hiện tại của công ty Cổ phần

Kim khí Lan Anh.

Việc xác định điểm hòa vốn cho ta thấy việc tăng giảm chi phí cố định ảnh

hưởng trực tiếp đến mức doanh thu mà tại đó doanh nghiệp có thể bù đắp chi phí. Qua

đây, ta cũng thấy được chính sách quản lý chi phí chưa hiệu quả, chi phí biến đổi chiếm tỷ trọng quá cao dẫn tới thay đổi điểm hòa vốn tại Kim khí Lan Anh trong năm

2011 – 2013.

2.2.6.Phân tích tình hình sử dụng đòn bẩy tại doanh nghiệp 2.2.6.1. Đòn bẩy hoạt động

Bảng 2.17. Mức sử dụng đòn bẩy hoạt động và DOLS

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tổng doanh thu (triệu đồng) 78.118 88.345 43.119

Tổng chi phí (triệu đồng) 78.273 88.563 43.451

Tổng chi phí cố định (triệu đồng) 151 311 554

Tổng chi phí biến đổi (triệu đồng) 78.122 88.252 42.897

Mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động

+ Chi phí cố định/Tổng chi phí 0,01 0,01 0,01

+ Chi phí cố định/Doanh thu 0,01 0,01 0,01

DOLS 0,03 (0,43) (0,67)

60

Dựa vào số liệu từ bảng, ta thấy mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động của Kim khí

Lan Anh giai đoạn 2011 và 2012 - 2013 có sự chênh lệch rõ rệt, dao động từ âm 0,67 - 0,03, công ty duy trì mức chi phí cố định trong khoảng chưa đến 600 triệu.

Độ bẩy hoạt động DOLS năm 2011 là 0,03 hay cứ 1% thay đổi trong doanh thu

sẽ tạo ra sự thay đổi 0,03% trong EBIT, năm 2012DOLS giảm xuống âm 0,43 và tiếp

tục giảm xuống còn âm 0,67, sự biến động 1% doanh thu trong năm 2013 sẽ có tác động làm thay đổi âm 0,67% EBIT trong năm 2013. Điều này cho thấy trong thời gian

gần đây cùng với việc giảm EBIT khi gặp phải những khó khăn trong bán hàng và

nhận thầu công trình, Kim khí Lan Anh đã chưa vận dụng được nhiều hiệu quả của

đòn bẩy hoạt động. Cùng với tình hình nguồn lực tài chính tại Kim khí Lan Anh chưa có nhiều cải thiện và ổn định, doanh nghiệp nên có những cân nhắc điều chỉnh chi phí

cố định cũng như chi phí biến đổi để tăng trưởng EBIT một cách bền vững.

2.2.6.2. Đòn bẩy tài chính

Bảng 2.18. Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và DFL

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Nợ phải trả (triệu đồng) 7.249 4.697 5.584

Tổng nguồn vốn (triệu đồng) 8.997 6.232 6.788

EBIT (triệu đồng) (152) (214) (331)

Chi phí lãi vay (triệu đồng) 0 0 0

Cổ tức phải trả hàng năm 0 0 0

Thuế suất thuế TNDN (%) 0 0 0

Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính 0,81 0,75 0,82

1 1 1 DFL

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC) Kim khí Lan Anh không phát hành cổ phiếu ưu đãi do đó đòn bẩy tài chính tại

doanh nghiệp hình thành từ việc sử dụng các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn.

Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính tại Kim khí Lan Anhgiai đoạn 2011 -

2013không có nhiều chênh lệch do doanh nghiệp duy trì một khoản nợ phải trả ổn định. Năm 2011 chỉ số này là 0,81, đến năm 2012, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính giảm xuống còn 0,75 do trong năm Kim khí Lan Anh chủ động giảmcác khoản nợ vay, các khoản nợ phải trả người bán hay khoản thuế phải nộp mang dấu âm… không chịu chi phí lãi vay. Bên cạnh việc giảm mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động, doanh nghiệp 61

còn giảm cả mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính. Năm 2013 doanh nghiệp gần như trở

về mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính ban đầu là 0,82.

DFL là chỉ tiêu để đo lường mức độ biến động của thu nhập trên cổ phần thường

khi EBIT thay đổi. Trong giai đoạn 2011 - 2013, doanh nghiệp liên tục làm ăn không

có lãi đồng thời chi phí lãi vay bằng 0 nên không tác động đến thu nhập cổ phần

thường, DLF cả 3 năm đều bằng 1. Khi EBIT thay đổi 1% thì thu nhập trên vốn cổ phần thường cũng thay đổi 1%. Việc không sử dụng đòn bẩy tài chính trong giai đoạn

này giảm thiểu được những rủi ro nhất định cho Kim khí Lan Anh, dù vậy nó gây ra

những hạn chế về cơ hội đầu tư cũng như cơ hội gia tăng thu nhập cho các nhà đầu tư.

2.2.6.3. Đòn bẩy tổng hợp

Khi doanh nghiệp sử dụng kết hợp cả chi phí cố định lẫn chi phí tài trợ tạo ra đòn

bẩy tổng hợp, doanh thu thay đổi khiến EBIT thay đổi sau đó làm thay đổi EPS.

Bảng 2.19. Độ bẩy tổng hợp

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

DOLS 0,03 (0,43) (0,67)

DFL 1 1 1

0,03 (0,43) (0,67) DTL

(Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC)

Độ bẩy tổng hợp để đo lường mức biến đổi của EPS khi doanh thu thay đổi hay

chỉ tiêu đánh giá độ nhạy cảm của thu nhập vốn cổ phần với sự thay đổi doanh thu đạt

được. Năm 2011, DTL bằng 0,03 hay khi doanh thu thay đổi 1% thì EPS thay đổi

0,03%. Năm 2012, độ bẩy tổng hợp giảm đi còn âm 0,43 do DOLS giảm và DLF giữ

nguyên so với năm 2011. Năm 2013, DTL giảm xuống còn âm 0,67 do trong năm Kim

khí Lan Anh đồng thời giảm chi phí cố định khiến độ bẩy hoạt động giảm và không sử

dụng nợ vay khiến DFL giữ nguyên bằng 1. Độ bẩy hoạt động thấp hơn độ bẩy tài chính trong những năm gần đây chứng tỏ vai trò quan trọng hơn của độ bẩy tài chính tại Kim khí Lan Anh. Việc điều chỉnh các nhân tố trong DOLS hay DFL khiến DTL thay đổi, làm thay đổi tỷ lệ rủi ro theo mục đích của doanh nghiệp.

Độ bẩy tổng hợp của Kim khí Lan Anh còn rất thấp, thậm chí 2 năm gần đây mang dấu âm, chưa đảm bảo được an toàn và phòng tránh rủi ro nhất là trong điều kiện

doanh nghiệp làm ăn chưa tốt. Với khả năng thanh toán ở mức an toàn như những năm gần đây thì Kim khí Lan Anh nên có những chiến lược sử dụng nợ vay, đầu tư thêm vào TSCĐ nhằm giảm thiểu chi phí sử dụng vốn cao và tận dụng đòn bẩy hoạt động hay tài chính để khuếch đại lợi nhuận và thu nhập cổ phần thường.

62

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI

CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KIM KHÍ LAN ANH

3.1. Những khó khăn, thuận lợi tại Công ty cổ phần kim khí Lan Anh 3.1.1. Thuận lợi

Công ty có đội ngũ nhân viên trẻ và rất tháo vát là một thế mạnh đối với doanh

 nghiệp.

Công ty thành lập chưa lâu nhưng đã đạt được nhiều sự hài lòng về chất lượng

 sản phẩm, dần tạo được chỗ đứng bền vững trong lòng khách hàng, khẳng định thương

hiệu, sản phầm được ưa chuộng, với sự năng động của giám đốc cũng như ban lãnh đạo, họ đã có rất nhiều mối quan hệ tốt với các công ty xây dựng. Công ty luôn dành những dịch vụ quan tâm, chăm sóc đối với nhiều khách hàng. Từ đó công ty đã tạo được mạng lưới khách hàng khá thân thiết.

 Giám đốc, ban lãnh đạo và các nhân viên trong công ty luôn cố gắng tạo ra môi trường làm việc vui vẻ, để tránh những căng thẳng trong công việc cho mọi người, từ

đó luôn có những ý kiến và ý tưởng rất sáng tạo.

Sự bố trí giữa các phòng ban của công ty rất hợp lí, tiết kiệm được nhiều thời

 gian chuyển giấy tờ, số liệu giữa các phòng ban.

3.1.2. Khó khăn

 Tình trạng sản xuất trái phép, cạnh tranh tràn lan của những vật liệu kém chất lượng từ một số nhà sản xuất và một số tư nhân gây ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh

doanh của công t, đây là điều rất khó để có thể khắc phục.

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng đang ngày một mạnh

 lên trong những năm gần đây, nhiều công ty doanh nghiệp mở rộng hình thức kinh

doanh sang kinh doanh vật liệu, phụ liệu, ngoại thất, nội thất khiến cho thị trường

nhiễu loạn và bất ổn định.

Bộ máy lãnh đạo của công ty chưa ổn định, lãnh đạo các phòng, cửa hàng chưa

 thực sự phát huy khả năng, kinh nghiệm trong tổ chức HĐKD còn nhiều hạn chế.

Tình hình kinh tế suy thoái, nhu cầu về xây dựng nói chung giảm gây bất lợi cho

 sự phát triển của công ty.

3.2. Định hƣớng phát triển của Công ty cổ phần kim khí Lan Anh.

Duy trì mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp là HĐKD vật liệu và sơn, kính phục vụ ngành xây dựng. Chỉ đạo mở rộng nguồn khách hàng và đối tác theo phương thức: nguồn tự khai thác, dự án, liên doanh liên kết và tiếp cận trực tiếp với các công trình để phát triển.

63

Tiếp tục xây dựng hoàn thiện và thực hiện chiến lược phát triển theo hướng hiện

đại hóa, đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm trên cơ sở đầu tư chiều sâu, thống nhất bộ máy quản lý, công nghệ nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm đồng

thời tiết kiệm chi phí kinh doanh, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh trên thị

trường.

Mở rộng thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu. Phát triển hệ thống bán lẻ với các điểm bán hàng mới. Giữ vững và mở rộng khai thác thị trường vật liệu và sơn

trên phạm vi toàn quốc. Công ty luôn chủ động trong việc tìm kiếm khách hàng mới

nhưng vẫn duy trì tốt với các khách hàng truyền thống. Hiện tại thị trường truyền

thống của công ty là các công trình, đại lý miền Bắc, trong thời gian tới công ty sẽ nỗ lực thâm nhập sâu hơn vào thị trường khách như miền Nam, tăng sản lượng tiêu thụ.

Đối với dự án đấu thầu mới: Quyết tâm đấu thầu và trúng thầu các công trình

mang tính chiến lược, có khả năng sử dụng số lượng lớn và có doanh thu cao.

Tiếp tục triển khai mảng nội thất nhằm tích lũy kinh nghiệm và nâng cao năng

lực cạnh tranh.

Hướng đến bộ máy nhận sự gọn nhẹ và linh hoạt. Thành lập phòng quản lý cửa

hàng để phát triển hệ thống bán lẻ..

Đảm bảo vật tư cho kế hoạch sản xuất năm 2014, hoàn thành các biện pháp nhằm

giảm chi phí quản lý.

Đảm bảo chi trả tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên trong công ty.

Định hướng mua bất động sản phù hợp để làm tài sản cho doanh nghiệp.

3.3. Đánh giá chung về tình hình tài chính giai đoạn 2011-2013 tại Công ty cổ

phần kim khí Lan Anh Qua việc phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần kim khi Lan Anh có

thể thấy rằng giai đoạn 2011-2013 là một giai đoạn nhiều khó khăn với nền kinh tế vĩ

mô nói chung và tình hình tài chính của Lan Anh nói riêng. Trong giai đoạn này,

doanh nghiệp vẫn còn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về quản lý tài sản,

chi phí, cơ hội đầu tư...

64

Bảng 3.1. Đánh giá tình hình tài chính giai đoạn 2011 – 2013 tại Công ty cổ

phần kim khí Lan Anh

Chỉ tiêu Ƣu điểm Nhƣợc điểm

Cơ cấu tài sản của công ty không có biến động nhiều.

Cơ cấu Tài sản và nguồn vốn

Tỷ trọng TSNH và TSDH chênh lệch nhau quá nhiều. Việc không đầu tư vào tài sản cố định, tài sản dài hạn, vay dài hạn cho thấy chiến lược của công ty chưa hướng tới sự ổn định lâu dài trong tương lai mà chú trọng đầu tư cho những lợi ích ngắn hạn trước.

Doanh thu từ bán hàng và dịch vụ tăng trong ba năm. Chi phí quản lý cao và liên tục tăng, tỷ trọng giá vốn trên doanh thu thuần vẫn còn cao.

Kết quả hoạt động kinh doanh

thanh Quản lý khả năng thanh toán Hệ số khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh đều ở mức tương đối tốt,. Khả năng thanh toán lãi dựa trên lợi nhuận đang được duy trì ở mức thấp cho thấy mức độ uy tín trong toán của doanh nghiệp đối với các chủ nợ.

Công ty duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn ở mức thấp, mà các khoản nợ ở đây chủ yếu là phải trả nhà cung cấp, trong khi đó phải thu khách hàng lại chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản, cho thấy công ty đang bị chiếm dụng vốn và gánh chịu rủi ro cao do việc trả nợ phụ thuộc vào khoản phải thu khách hàng.

65

Chỉ tiêu Ƣu điểm Nhƣợc điểm

TSNH

Quản lý tài sản

- Trong giai đoạn 2010 -2012 Lan Anh đã tăng lượng dự trữ tiền mặt và giữ được mức độ an toàn nhất định cho khả năng thanh toán nợ. Ngoài ra doanh nghiệp cũng tích cực đầu tư tài chính ngắn hạn nhằm mục đích sinh lời. - Công ty tạo được sự cạnh tranh trên thị trường, thu hút thêm khách hàng bởi chính sách nới lỏng tín dụng, tăng giá trị khoản phải thu khách hàng. - Việc quản lý HTK được cải thiện, giảm thiểu được lượng hàng bị ứ đọng, kém chất lượng. - Hiệu quả sử dụng TSNH của công ty khá tốt cho thấy Lan Anh đã có chính sách quản lý TSNH hiệu quả nhất định và có những đầu tư thích hợp nhằm nâng cao doanh thu.

Giá trị TSDH là khoản mục mang tính vững chắc và lâu dài hơn, góp phần hình thành nên doanh thu cho doanh nghiệp. - Lượng tiền mặt dự trữ xuống quá thấp có thể gây ảnh hưởng đến các khoản nợ đến hạn phải trả bằng tiền. - Việc tăng khoản phải thu chứa đựng những rủi ro nhất định vì công ty có thể bị khách hàng chiếm dụng vốn làm giảm khả năng thanh toán tức thời. - Thời gian luân chuyển HTK tăng qua các năm và đang ở mức khá cao, số vòng quay HTK còn thấp, bên cạnh đó vòng quay tiền cũng khá cao, lượng tiền mặt tạo ra trong kỳ khan hiếm dần. - Hiệu quả sử dụng TSNH có sự giảm sút qua ba năm. Công ty đầu tư nhiều vào HTK và phải thu khách hàng, tuy nhiên mức tăng đầu tư không tương xứng với mức độ tạo ra doanh thu của tài sản làm cho hiệu suất sử dụng TSNH giảm. Tài sản dài hạn của công ty chưa được đầu tư cũng nhưu chưa có chính sách quản lý các khoản tài sản dài hạn một cách hiệu quả để sinh lời cho công ty. TSDH

Quản lý dòng tiền. Thanh toán các khoản vay ngắn hạn kịp thời, không để phát sinh thêm lãi, từng bước tạo dựng được uy tín với ngân hàng và nhà đầu tư. Doanh nghiệp còn non trẻ, khả năng sinh lời và thanh toán chưa đủ thuyết phục cho các khoản vay dài hạn, gây nhiều hạn chế cho việc đầu tư mở rộng kinh doanh

66

Chỉ tiêu Ƣu điểm Nhƣợc điểm

Trong thời gian gần đây, Lan Anh đã cố gắng chủ động tận dụng nhiều hiệu quả của đòn bẩy hoạt động.

Về khả năng sinh lời.

EBIT âm, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và khả năng sinh lời luôn âm và có chiều hướng âm lớn hơn qua 3 năm Việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong giai đoạn này cũng gây ra những rủi ro nhất định cho công ty do doanh nghiệp làm ăn chưa ổn định và khả năng thanh toán chỉ gần chạm mức an toàn.

3.4. Đề xuất một số giải pháp cải thiện những hạn chế tại Công ty cổ phần kim

khí Lan Anh

3.4.1. Cơ cấu tài sản và nguồn vốn

Qua phân tích về cơ cấu Tài sản - Nguồn vốn có thể thấy quy mô của công ty

trong ngắn hạn đã tăng trưởng ổn định. Tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ

cấu tổng tài sản và không được đầu tư tăng lên qua các năm cho thấy công ty chưa

hướng tới sự phát triển bền vững và lâu dài, chưa phù hợp với xu thế thị trường. Giải

pháp cho vấn đề này là các nhà quản trị cần thay đổi lại lại cơ cấu tài trợ tài sản, tăng

cường đầu tư vào TSDH, cụ thể là TSCĐ như nhà xưởng, máy móc, thiết bị vận tải…

phục vụ kinh doanh. Doanh nghiệp cũng cần xem xét lại các khoản mục nợ ngắn hạn,

dài hạn trong nguồn vốn, các khoản mục trong tài sản ngắn hạn. Trong giai đoạn tiếp

theo công ty cần tập trung tăng nguồn vốn dựa trên các khoản nợ dài hạn nhằm nâng

cao cơ hội đầu tư phát triển với chi phí sử dụng vốn bình quân thấp hơn chi phí sử dụng VCSH hiện giờ.Công ty có thể kêu gọi nguồn vốn vay dài hạn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng hoặc tăng phần lợi nhuận để lại chưa phân phối.

3.4.2. Quản lý khả năng thanh toán

Nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu đồng thời tăng lượng tiền mặt: Công ty

phải tiến hành ngay các biện pháp thu hồi các khoản nợ quá hạn tránh tình trạng các khoản phải thu chiếm tỷ trọng quá lớn gây ứ đọng vốn như hiện nay. Việc thu hồi nợ cần bắt đầu từ các khoản có giá trị lớn trước, sau đó đến các khoản nhỏ, cũng cần đặc biệt lưu ý đến các khoản quá hạn hay có thời hạn lâu ngày cần có biện pháp đôn đốc thu nợ thường xuyên. Thêm vào đó để nâng cao hiệu quả của việc thu hồi nợ công ty 67

nên áp dụng mức lãi phạt nặng hơn tùy theo thời gian quá hạn từng khoản nợ, điều này

sẽ khiến khách hàng tích cực hơn trong việc trả nợ cho công ty.

Việc thu hồi nợ hiệu quả sẽ giúp tăng lượng tiền của công ty, góp phần đáp ứng

khả năng thanh toán, nâng cao uy tín đối với nhà cung cấp.

Sử dụng quá nhiều nợ ngắn hạn sẽ tạo áp lực lên khả năng thanh toán của công

ty, vì vậy doanh nghiệp cần chủ động xem xét giảm các khoản nợ ngắn hạn, thay thế bằng một phần nợ dài hạn.

3.4.3. Quản lý hàng tồn kho

HTK chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, việc lưu trữ

HTK cũng khiến cho các chi phí bảo quản, lưu trữ tăng lên, ngoài ra việc HTK bị ứ đọng lâu không tiêu thụ được sẽ khiến doanh nghiệp phải trích lập dự phòng giảm giá

HTK. Kim khí Lan Anh cần có những biện pháp quản lý HTK hiệu quả hơn nhằm

giảm thiểu tối đa các khoản chi phí đồng thời vẫn đảm bảo được tăng trưởng doanh

thu.

Kim khí Lan Anh có thể áp dụng mô hình JIT (just in time approach) để quản lý

hàng tồn kho đặc biệt là các nguyên vật liệu trong kỳ sẽ xuất giao cho bên gia công sản

xuất. Để nâng cao hiệu quả mô hình JIT, công ty nên kí kết những hợp đồng thương

mại lâu dài với các nhà cung cấp vật liệu để tránh trường hợp biến động giá quá lớn

hay các nhà cung cấp bỏ dở việc phân phối gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đối với hàng tồn kho, việc áp dụng mô hình JIT đã nêu ở trên cũng góp

phần làm giảm mức hàng tồn kho xuống do nguyên vật liệu chỉ được mua và xuất

dùng khi có những đơn đặt hàng lớn hay đến giai đoạn cung ứng cáp nhiều như mùa

xây dựng cuối năm…từ đó lượng hàng tồn lại trong kho cũng được giảm thiểu ít

nhiều. Bên cạnh đó, công ty cũng cần tính đến biện pháp tiến hành thanh lý, giảm giá

những vật liệu quá cũ, không bán được lâu ngày để tiến tới duy trì khoản mục HTK có

tính cập nhật và không phải trích lập dự phòng giảm giá do vật liệu lỗi thời.

Giả sử, việc áp dụng mô hình JIT và những biện pháp trên đạt được hiệu quả,

công ty không cần phải dự trữ nguyên vật liệu nữa, khối lượng hàng cũng giảm 40%, chi phí quản lý nguyên vật liệu trước đây được dùng cho việc ký kết các hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu dài hạn.

68

Bảng 3.2. Dự tính sự thay đổi về hàng tồn kho sau khi áp dụng giải pháp

Chỉ tiêu Năm 2013 Dự kiến sau thay đổi

Hàng tồn kho (triệu đồng) 775 415

GVHB (triệu đồng) 42.897 38.215

Số vòng quay HTK (vòng) 55,35 59,5

Thời gian quay vòng HTK (ngày) 6,59 6,03

Lợi nhuận sau thuế tăng thêm (triệu đồng) 0 104

Từ đây, có thể thấy sau khi áp dụng những biện pháp quản lý HTK, công ty

không những có thể cải thiện được một số chỉ tiêu tài chính về hiệu quả sử dụng HTK mà còn tiết kiệm được một khoản chi phí nhất định giúp làm gia tăng lợi nhuận sau

thuế từ đó nâng cao tỷ suất sinh lời.

3.4.4. Quản lý khoản phải thu khách hàng

Qua phân tích quy mô khoản phải thu qua các năm cũng như vòng quay khoản

phải thu hay kỳ thu tiền bình quân, có thể thấy việc tăng lên liên tục của khoản phải

thu khách hàng và thời gian thu tiền bình quân ảnh hưởng không tốt đến quay vòng

tiền và cơ hội đầu tư do công ty bị chiếm dụng vốn nhiều. Vì vậy, Lan Anh nên tiến

hành những giải pháp nhằm giảm tỷ trọng khoản phải thu khách hàng từ đó nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn, tăng khả năng thu hồi công nợ, giảm khoản vốn bị chiếm dụng

cải thiện lưu chuyển tiền thuần trong kỳ và quan trọng nhất là tránh được rủi ro khi

khách hàng mất khả năng thanh toán.

Tuy nhiên việc thu hồi được hết các khoản nợ không phải là công việc dễ dàng

với doanh nghiệp đặc biệt với những khách hàng có nhiều rủi ro trong thanh toán.

Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống trong việc chọn lựa cấp tín dụng cho khách

hàng.

Ta có thể sử dụng mô hình điểm số của Altman. Đây là mô hình định lượng dựa trên việc mô hình hóa các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính qua đó phản ánh chất lượng tín dụng và yếu tốảnh hưởng đến chất lượng tín dụng từ phía khách hàng. Mô hình này thường được sử dụng để xếp hạng tín nhiệm và đo lường xác suất vỡ nợ

thông qua đặc điểm cơ bản của khách hàng. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro với khách hàng:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6 X4 + 1X5

69

Bảng 3.3. Mô hình điểm số của Altman

Biến số Trọng số

VLĐ ròng/ Tổng tài sản (X1) 1,2

LN giữ lại/ Tổng tài sản (X2) 1,4

LN trước thuế và lãi/ Tổng tài sản (X3) 3,3

Thị giá CP/ Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn (X4) 0,6

Doanh thu/ Tổng tài sản(X5) 1

Z càng cao thì rủi ro càng thấp và ngược lại. Trong đó:

Z > 2,99: khách hàng trong vùng an toàn

1,81 < Z < 2,99: khách hàng nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ mất

khả năng thanh toán.

Z < 1,81: khách hàng nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ mất khả năng thanh

toán cao.

Đối với khách hàng thuộc nhóm có Z > 2,99 có thể cấp tín dụng, bán hàng trả

chậm. Với nhóm khách hàng thứ hai, việc cấp tín dụng cần được xem xét ở một mức

độ nhất định và xác định thường xuyên mức độ an toàn của khách hàng. Với nhóm

khách hàng có Z < 1,81, doanh nghiệp không nên cấp tín dụng hay bán hàng trả chậm

vì dễ dẫn đến rủi ro thu hồi công nợ.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có thể áp dụng thêm chính sách chiết khấu nhằm

tạo động lực thanh toán sớm của khách hàng từ đó giảm thiểu khoản phải thu khách

hàng và tăng cường tính cạnh tranh. Giả sử tỷ lệ chiết khấu thanh toán có thể được áp

dụng như sau:

Bảng 3.4. Tỷ lệ chiết khấu thanh toán

Nhóm Thời gian thanh toán (ngày) Tỷ lệ chiết khấu (%)

1 Trả ngay 2,8

2 1 – 30 2

3 30 – 60 1,05

4 60 – 90 0,9

5 90 – 100 0,5

70

Nhìn chung, việc xây dựng hệ thống chọn lựa cấp tín dụng và chiết khấu thanh toán cho khách hàng có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt các khoản phải thu, bên cạnh đó hạn chế được các khoản dự phòng phải trích lập trong kỳ, từ đó giảm bớt chi phí và tăng lợi nhuận. Ngoài ra, lưu chuyển tiền thuần trong kỳ cũng được cải thiện và doanh nghiệp có điều kiện chi trả trong kỳ tốt hơn, ít phải sử dụng dự trữ tiền mặt hơn 3.4.5. Một số giải pháp khác

Ngoài việc đề ra những biện pháp nhằm quản lý các khoản phải thu cũng như HTK đạt hiệu quả cao hơn, Lan Anh cũng nên chú trọng các chính sách phân bổ hiệu quả chi phí bán hàng hay chi phí QLDN trong các giai đoạn sắp tới, giám sát chặt chẽ khâu kiểm tra kỹ thuật nhằm giảm thiểu tối đa vật liệu lỗi, hư hỏng giúp nâng cao uy tín cũng như tối thiểu hóa hàng bán bị trả lại.

Đối với những dự án cơ bản dở dang, công ty cần xác định lại nhu cầu vốn và đẩy nhanh tiến độ hoàn thành để tạo ra tài sản cố định hữu hình tham gia vào quá trình tạo doanh thu. Doanh nghiệp cũng cần chú ý đến việc bảo trì sửa chữa các máy móc thiết bị định kỳ, giúp tiết kiệm chi phí hỏng hóc, mua mới, đồng thời bố trí hệ thống máy móc hợp lý, khai thác tối đa công suất và nâng cao khả năng làm việc của máy móc thiết bị.

Tạo dựng chiến lược hợp lý nâng cao hiệu quả cạnh tranh trên thị trường, đồng thời thường xuyên cập nhật kịp thời sự thay đổi của các vật liệu, nội thất, chủng loại sơn, kính nhằm đáp ứng nhu cầu từ phía khách hàng. Bên cạnh đó, Lan Anh cũng cần tích cực mở rộng phạm vi thị trường, đấu thầu những dự án có tính cạnh tranh và khả năng thu lợi cao. Nâng cao chất lượng bộ máy nhân sự, có cơ chế quản lý, đãi ngộ tốt với công nhân viên, đảm bảo công tác bán hàng, tiêu thụ diễn ra an toàn, hiệu quả.

Không chỉ chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, công ty cũng cần đẩy mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu. Hiện nay với tốc độ phát triển chóng mặt của truyền thông đa phương tiện thì việc đưa sản phẩm đến tay công chúng rất cần có sự giúp đỡ của hoạt động quảng bá. Chiến lược quảng cáo trực tiếp trên sóng truyền hình và bên ngoài là cách quảng bá sản phẩm truyền thống nhưng chưa bao giờ mất đi hiệu quả. Tuy nhiên cần lưu ý tới chi phí vì chi phí cho quảng cáo trên truyền hình là rất lớn. Công ty cũng có thể áp dụng các xu hướng marketing hiện đại như mạng xã hội, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm về các từ khóa là một giải pháp quảng bá hiện đại, hiệu quả và ít chi phí trực tiếp, bên cạnh đó cần có chi phí về nhân lực trong các mảng hoạt động mới này.

Trong thời gian tới, Lan Anh cũng cần tích cực và chủ động hơn trong việc thực hiện kế hoạch tiến hành phân tích nghiên cứu tài chính để nhận biết và phát hiện sớm những sự thay đổi có thể diễn ra gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất cũng như cân bằng tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời duy trì tốt khả năng thanh toán, tỷ suất sinh lời và hiệu suất sử dụng vốn…

71

KẾT LUẬN

Phân tích tài chính doanh nghiệp là vấn đề vô cùng quan trọng trong việc nâng

cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cũng như trong quản lý tài chính nhằm đánh giá

thực trạng hiện tại của doanh nghiệp để từ đó có những biện pháp thích hợp điều chỉnh

những yếu tố tài chính theo mục đích và mục tiêu phát triển riêng của mỗi doanh nghiệp.

Qua việc phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần kim khí Lan Anh có

thể thấy rằng, dù cơ cấu tài sản nguồn vốn ít có sự biến động, các chỉ tiêu thanh toán

đều ở mức tốt, an toàn về thanh toán và không gặp rủi ro nhưng ta cũng nhận ra rằng vẫn còn nhiều điểm hạn chế trong tình hình tài chính của doanh nghiệp cần được khắc

phục như chưa quan tâm đến tăng trưởng dài hạn, doanh nghiệp còn bị chiếm dụng

vốn nhiều, lợi nhuận âm. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu áp dụng những giải pháp đã

được nêu có thể góp phần giúp doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả hoạt động.

Doanh nghiệp cũng cần chủ động hơn trong công tác phân tích tình hình tài chính hàng

quý, hàng năm để nhận biết sớm sự biến đổi.

Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, do còn nhiều hạn chế về kiến

thức, thông tin cũng như kinh nghiệm ứng dụng thực tế, những phân tích và đánh giá

được nêu trong khóa luận vẫn còn nhiều điểm thiếu sót, chưa sát thực và tối ưu. Em rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung từ phía thầy cô để bài viết được hoàn thiện và

thực tế hơn.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại

trường Đại học Thăng Long, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Chu Thị

Thu Thủy trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Đỗ Hoàng Tuấn Linh

PHỤ LỤC

1. Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền

tệ năm 2011 của Công ty cổ phần kim khí Lan Anh

2. Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền

tệ năm 2012 của Công ty cổ phần kim khí Lan Anh

3. Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền

tệ năm 2013 của Công ty cổ phần kim khí Lan Anh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Doanh nghiệp, Chương 1: Những quy định chung 2. Lê Minh Tú (2010), Quản lý tài chính doanh nghiệp , NXB Thống Kê,

TPHCM

3. Th.S Nguyễn Hoàng Nam, Th.S Bùi Anh Tuấn (2006), Quản trị tài chính

doanh nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội

4. Nguyễn Minh Kiều (2009), Tài chính doanh nghiệp căn bản, NXB Thống Kê,

TPHCM

5. Nguyễn Minh Kiều, Bài giảng phân tích tài chính – Chương trình giảng dạy

kinh tế Fulbright

6. GS.TS Phạm Quang Trung (2013), Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp,

NXB ĐH KTQD

7. PGS.TS Trương Bá Thanh , TS Trần Đình Khôi Nguyên, Giáo trình phân tích

hoạt động kinh doanh, ĐH Kinh tế , ĐH Đà Nẵng

8. Cộng đồng kinh doanh, http://www.saga.vn

9. Wikipedia Bách khoa toàn thư mở, http://vi.wikipedia.org/wiki/

10. Thống kê http://cophieu68.vn