
VĂN MẪU LỚP 11
PHÂN TÍCH Ý NGHĨA NHAN ĐÈ VÀ LỜI ĐỀ TỪ BÀI THƠ TRÀNG
GIANG CỦA HUY CẬN
BÀI MẪU SỐ 1:
Trong bài thơ Mai Sau” in trong tập thơ Riêng chung” nhà thơ Huy Cận đã tự bạch
lòng mình:
Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm...
Nỗi nhớ thương không biết đã nguôi chưa?
Hay lòng chàng cứ tủi nắng, sầu mưa
Cùng đất nước mà lặng buồn sông núi?”.
Thơ Huy Cận trước cách mạng rất buồn, vì vậy ông thường tìm đến thiên nhiên
để:
Vui chung vũ trụ nguôi sầu trần gian”.
Xuất hiện lần đầu tiên trên thi đàn văn chương Việt Nam năm 1940 với tập thơ
Lửa thiêng”. Khi tập thơ xuất hiện ta bắt gặp một giọng thơ buồn ảo não của:
Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu”.
Linh hồn của tập thơ Lửa thiêng” chính là bài thơ Tràng Giang”. Như cái tên của
nó, bài thơ là một dòng sông dài. Đó là một dòng sông tâm trạng để Huy Cận gửi gắm cái
tôi” của một thời thơ mới. Đồng thời Tràng Giang” là bài thơ thể hiện tình yêu quê hương
đất nước một cách thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại thi ca nói
chung. Nhờ đó mà Xuân Diệu nhận định: Tràng Giang là bài thơ cuối cùng dọn lòng đến
với giang sơn Tổ quốc”.
Toàn bộ vẻ đẹp ấy kết tinh ngay ở nhan đề cũng như lời đề từ của bài thơ: Bâng
khuâng trời rộng nhớ sông dài”.
1. Nhan đề:
Bài thơ hấp dẫn người đọc ngay từ nhan đề. Có những người suốt đời lặn lội với
văn chương nhưng cũng chẳng để lại cho đời một áng văn hay, một bài thơ đẹp. Vì vậy,
khi người nghệ sĩ sáng tác ra được một thi phẩm nghệ thuật, họ thường trăn trở băn khoăn
cho cách đặt nhan đề. Nhan đề của một tác phẩm thường chứa đựng nội dung của nó.
Viết về một xã hội tăm tối trước cách mạng, Ngô Tất Tố có tiêu thuyết Tắt Đèn”. Để ca
ngợi cái tâm của người nghệ sĩ, những nho sĩ cuối mùa nay vẫn còn vang bóng, Nguyễn
Tuân có tác phẩm Chữ người tử tù”,…Nhan đề của bài thơ là Tràng Giang” cũng là một

trong những dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận. Tràng Giang” vốn là hai từ Hán
Việt để chỉ dòng sông dài. Đó là dòng sông Hồng-dòng sông đã gợi ý gợi tứ để nhà thơ
Huy Cận viết thành công bài thơ này. Dòng sông ấy vĩnh viễn thuộc về đất nước Việt
Nam, nó có từ thuở khai thiên lập địa. Nó không chỉ dài về không gian địa lý mà còn dài
về khoảng thời gian lịch sử. Trong bài thơ Người đi tìm hình của nước”, Chế Lan Viên có
viết:
Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử
Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ
Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây”.
Trong Tiếng Việt hiện hành có hai từ nhằm miêu tả chiều dài đó là từ Tràng” và từ
Trường”. Ở đay nhà thơ Huy Cận không viết là Tường Giang” mà lại viết là Tràng
Giang”. Như vậy đủ thấy sự tinh tế của Huy Cận khi sử dụng Tiếng Việt. Bởi chữ
Trường” chỉ đơn thuần là miêu tả chiều dài. Còn chữ Tràng” với âm vang” vốn là âm mở,
nó không chỉ miêu tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông.
Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều: sâu chót vót; rộng mênh mông;
dài dằng dặc. Dòng sông càng mênh mông, càng vô biên, vô cùng bao nhiêu thì tâm hồn
thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu. Như vậy, bài thơ với nhan đề Tràng Giang”đã
phần nào bộc lộ được sở trường và phong cách thơ Huy Cận-một nhà thơ luôn bị ám ảnh
bởi bước đi của không gian.
2. Lời đề từ: Bìa thơ Tràng Giang” có lời đề từ: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông
dài”.
Trong một số thi phẩm nghệ thuật, ta bắt gặp một số lời đề từ. Lời đề từ không
phải là một thứ đồ trang sức làm đẹp da cho thi phẩm nghệ thuật. Trái lại lời đề từ là một
xuất phát điểm, là một dụng ý nghệ thuật. Nó cung cấp cho người yêu thơ chiếc chìa khóa
nghệ thuật để khám phá nội dung của thi phẩm. Có lời đề từ là những câu văn xuôi mà
tác giả mượn lời của người khác. Ta nhớ tới lời đề từ của Nam Cao trong tác phẩm Nước
mắt” khi ông mượn lời của nhà văn Pháp Francois Coppée, ông viết:
Người ta chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ. Nước
mắt là miếng kính biến hình vũ trụ”.
Có lời đề từ là những câu văn vần của chính tác giả mà ta có thể kể đến lời đề từ
của Chế Lan Viên trong bài thơ Tiếng Hát Con Tàu”:
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”.

Lời đề từ còn cung cấp những thi liệu chính mà tác giả xây dựng trong bài thơ. Lời
đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã gợi lên trước mắt người đọc hai thi liệu
chính: đó là trời rộng và sông dài. Điều này được kết tinh trong hai câu thơ được xem là
trung tâm của bài thơ Tràng Giang”:
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”.
Hai khổ thơ còn lại của bài thơ này. Nếu khổ ba tác giả vẽ lên hình ảnh dòng sông
dài, mênh mông, dợn ngợp thì khổ thơ thứ tư tác giả lại vẽ lên hình ảnh bầu trời cao rộng.
Hơn nữa, lời đề từ còn thể hiện rõ âm điệu, xúc cảm của bài thơ. Tràng Giang” là
bài thơ có âm điệu buồn. Đó là nỗi sầu vạn kỉ thấm sâu vào trong mạch cảm xúc của bài
thơ này mà Lê Di viết:
Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước Là Huy Cận khổ nào cũng
lặng lẽ u sầu”.
Đồng thời lời đề từ còn thể hiện tình yêu quê hương đất nước thầm kín trong tâm
hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại trong thi ca nói chung. Đó là những con người:
Sống giữa giữa quê hương mà vẫn thấy mình thiếu quê hương” (nói như Nguyễn
Tuân).
Còn Chế Lan Viên viết:
Nhân dân ở quanh ta mà sao chẳng thấy Tổ quốc ở quanh mình mà có cũng như
không”.
Nên chăng ta mượn lại lời nhận định của Hoài Thanh, Hoài Chân trong Một thời
đại trong thi ca” để kết thúc bài viết của mình:
Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, nhưng càng đi
sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trường tình cùng Lưu Trọng
Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng
động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng lại tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ
ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.

BÀI MẪU SỐ 2:
1. Ý nghĩa nhan đề"Tràng giang"
Nhan đề của các thi phẩm nhiêu khi bao quát được những nội dung tư tưởng chủ
đạo, những cảm hứng tư tưởng nổibật của bài thơ. Huy Cận cũng đã chọn cho thi phẩm
của mình một nhân đề rất hàm súc và đích đáng. "Tràng giang"cũng chính là "Trường
giang" có nghĩa là sông dài. Nhưng nhà thơ không viết "Trường giang" mà lại viết "Tràng
giang" tạo nên phép điệp âm "ang", một âm mở, và nhờ vậy còn gợi lên hình ảnh một con
sông lớn, sông rộng.
"Tràng giang" lại là mộttừ Hán Việt cổ điển nêncũng kín đáo gợi hìnhảnh con
sông cổ kính, lâu đời. Dòng "tràng giang"vì vậy không chỉ có chiều dài, chiều rộng địa lí
mà còn có chiều sâu của thời gian lịch sử. Đó là con sông như đã chảy từ ngàn xưa, đã
trầm tích vào trong mình chiều sâu của hàng nghìn năm lịch sử, hàng nghìn năm văn hoá,
và dường như đã chảy qua biết bao áng cổ thi: "Duy kiến Trường giang thiên tế lưu" (Lí
Bạch).
Con sông vì vậy trở nên dài hơn rộng hơn mênh mang hơn xa xôi hơn vĩnh viễn
hơn trong tâm trí người đọc. Nhan đề "Tràng giang" đã gợi lên một hình tượng độc đáo,
không gian lớn lao có tầm vũ trụ, vốn là niềm say mê của hồn thơ Huy Cận.
2. Lời đề từ của tác phẩm:
Ý nghĩa của nhan đề bài thơ càng được tô đậm hơn qua lời đề từ của tác phẩm:
"Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài". Đó là câu thơ được rút ra trong bài thơ "Nhớ hờ"
của tập "Lửa thiêng". Các hình ảnh "trời rộng", "sông dài" gợi những phạm vi không gian
khác nhau từ cao đến thấp; xa đến gần một không gian lớn lao, mênh mang có tầm vũ trụ.
Hình ảnh không gian này còn trở đo trở lại trong bài thơ "Sông dài, trời rộng, bến
cô liêu". Nếu "bâng khuâng" là cảm giác xao xuyến, trống trải của con người khi
đối diện trước không gian mênh mang rộng lớn, thì "nhớ" lại là hoài niệm của con người
về điều gì đó đã xa khuất trong thời gian, trong không gian. Cả dòng thơ đã bộc lộ thành
thực nỗi niềm tâm trạng con người khi đối diện trước thời gian, không gian; bộc lộ nối
khắc khoải không gian của hồn thơ Huy Cận:
"Huy Cận như không ở trong thời gian mà chỉ ở trong không gian" (Xuân Diệu),
"Người thấy lạc loài giữa cái mênh mông của không gian, cái xa vắng của thời gian, lời
thơ vì thế mà buồn rười rượi" (Hoài Thanh).
=> Nhan đề và lời đề từ của bài thơ được lựa chọn rất tinh tế, hàm súc, tài hoa đã
khái quát được cảm hứng tư tưởng trung tâm nổi bật của bài thơ, đồng thời in đậm dấu ấn
của hồn thơ Huy Cận, nhà thơ của "nói khắc khoải không gian", "nỗi sầu nhân thế".

BÀI MẪU SỐ 3:
Sự rung động của thơ ca bao giờ cũng được đo bằng nhịp đập của con tim. Tràng
giang của HC đã tác động rất sâu sắc vào trong xúc cảm của bạn đọc. Hơn nữa, mỗi một
bài thơ hay thường tác động đầu tiên đến với độc giả bạn đọc là nhờ âm điệu. Khi ND ta
còn chưa biết rõ, âm điệu bài thơ đã xâm nhập hồn ta tự bao giờ. Cảm hứng chung của
độc giả bạn đọc khi tiếp cận Tràng Giang là giọng thơ buồn, rất hợp với nỗi lòng của thi
nhân, 1 nhà thơ chìm đắm trong cái tôi cô đơn siêu hình bản ngã
Bài thơ hấp dẫn độc giả bạn đọc đầu tiên là từ nhan đề. Có những người cả đời lặn
lội với VC mà chẳng để lại cho đời 1 ang văn hay, một bài thơ đẹp nào. Vì lẽ đó, khi sáng
tác một thi phẩm nghệ thuật, các bậc tao nhân thường băn khoăn trăn trở cho cách đặt tên
nhan đề. Nhan đề của 1 thi phẩm nghệ thuật thường chứa đựng, hé lộ toàn bộ ND của nó.
Không phải ngẫu nhiên trên thi đàn VC, ta bắt gặp những t/p được đổi tên nhan đề.
“CNTT” của Ng T ban đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng”; “Đôi mắt” của Nam Cao ban
đầu có tên là “Tiên sư anh Tào Tháo”; “Mảnh trăng cuối rừng” của Ng Minh Châu ban
đầu có tên là “Mảnh trăng”… Nhan đề Tràng Giang của HC vốn là 2 từ Hán Việt được
ghép lại với nhau nhằm MT 1 dòng sông dài đó chính là dòng sông Hồng bởi khi viết bài
thơ này, HC đang ngồi bên bến bờ Nam Chèm ngắm nhìn con sông Hồng mênh mông
sóng nước. Dòng sông ấy nó không chỉ dài về không gian địa lí, nó còn dài cả về TG lịch
sử. Nó vĩnh viễn thuộc về đất trời VN, nó có từ thủa khai thiên lập địa. Chẳng thế mà
CLV trong vài thơ “Người đi tìm hình của nước” có viêt:
“Sông Hồng chảy về đâu và lịch sử
Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ
Cánh tay thần phù đổng sẽ vươn mây”
Tuy nhiên, trong tiếng Hán Việt hiện hành có 2 từ để miêu tả chiều dài đó là chữ
“trường” và chữ “tràng”. Việc HC không viết là “Trường Giang” mà viết là “Tràng
Giang” cho thấy ông là 1 nhà văn rất tinh tế trong việc SD tiếng Việt bởi chữ “trường”
chỉ đơn thuần để chỉ chiều dài còn chữ “Tràng” với âm “ang” là âm mở không chỉ gợi
nên chiều dài của con sông mà còn gợi nên cả chiều rộng của con sông. Đó là dòng sông
đã được HC vẽ lên ở không gian 3 chiều: sâu chót vót, rông mênh mông, dài dằng dặc.
Mà không gian càng mênh mông vô tận bao nhiêu thì tâm hồn của HC lại càng cô liêu
bấy nhiêu. Như vậy, ngay từ nhan đề của t/p, HC đã bộc lộ được rõ phong cách, cá tính
VC và sở trường của mình – 1 nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi không gian.
Bài thơ còn có lời đề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Trong 1 số thi
phẩm NT ta bắt gặp lời đề từ. Lời đề từ có thể là 1 câu văn xuôi mà t/g mượn của người
khác. Ta nhớ tới lời đề từ của Nam Cao trong t/p “nước mắt” trước CM mà ông mượn lời
của nhà văn Pháp François Coppée: “Người ta chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo

