LUẬN VĂN:
Pháp chế xó hội chủ nghĩa trong xây dựng
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa,
Đảng Nhà nước ta luôn xác định: "quản lý hội bằng pháp luật, không ngừng tăng
cường pháp chế hội chủ nghĩa". Do vậy, Nhà nước ta đã ban hành được rất nhiều các
Bộ luật, Luật, Nghị định và các văn bản QPPL trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, đáp
ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Các văn bản trên đã đang từng
bước đi vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện hthống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng văn bản QPPL, tính pháp chế hội chủ nghĩa
chưa cao chưa được chú trọng. Văn bản QPPL khi được ban hành chậm đi vào cuộc
sống, những văn bản không hiệu quả, những văn bản vừa ban hành đã phải sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Điều này dẫn đến tình trạng tính kluật, kcương trong y
dựng và ban hành văn bản thực hiện không nghiêm minh.
Xut phát từ u cầu đó, trong việc y dựng và ban nh văn bản QPPL i chung và
của UBND cấp tỉnh i riêng phải tuân thpháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế hội chủ nghĩa trong xây dựng ban hành văn bản QPPL phải tuân thủ
nghiêm chỉnh Hiến pháp pháp luật. Cơ quan thẩm quyền ban nh n bản QPPL phải
theo đúng trình tự, thtục, đúng thẩm quyền, bảo đảmnh hợp hiến, hợp pháp và thống nhất
với hệ thống pháp luật hiện hành.
Do vậy, pháp chế hội chủ nghĩa trong xây dựng ban hành văn bản QPPL của
UBND cấp tỉnh vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết lập trật tự, kcương trong
xây dựng ban hành văn bản QPPL. Từ đó, góp phần tạo lập sự ổn định trong xây dựng
ban hành văn bản QPPL của UBND cấp tỉnh, nhằm nâng cao chất lượng hiệu qu
văn bản QPPL trong thực tiễn, từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL của UBND
cấp tỉnh bảo đảm sự đồng bộ và thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tăng cường pháp chế XHCN nói chung, lĩnh vực xây
dựng ban hành n bn QPPL nói riêng đã đưc xác đnh cụ th trong các cương
nh, ngh quyết của Đảng trong các n kin Đại hội. Thông qua c Ngh quyết của
Đảng, Nhà nưc ta đã th chế hóa, c thể hóa thành các văn bn QPPL đ qun lý, điu
nh kinh tế xã hội.
Dưới góc độ lý luận, pháp chế XHCN vxây dựng ban hành văn bản QPPL đã
được nghiên cứu một cách khái quát, toàn diện, phạm vi rộng lớn. Ưu điểm của pháp chế
tính tối cao của Hiến pháp; tính tuân thủ của các quan Nhà nước, tổ chức hội
mọi công dân đối với Hiến pháp và pháp luật. Trách nhiệm pháp bắt buộc chung với
mọi người, không có ngoại lệ. Tuy nhiên,cũng bộc lộ những hạn chế như: Tính chuyên
chính sẽ m lu mờ dân chủ, biện pháp giáo dục, thuyết phục. Mối quan hệ giữa pháp chế
tính hợp lý, với nguyên tắc tính tối thượng của Hiến pháp bất di, bất dịch, tuy nhiên
thực tiễn vàn những quan hệ hội pháp luật chưa dự báo điều chỉnh hết được,
dẫn đến những quy định hợp lý, phù hợp với thực tiễn nhưng lại phá vỡ tính thống
nhất với hệ thống pháp luật hiện nh. Đây một bất cập rất lớn trong xây dựng ban
hành văn bản QPPL.
Về thực tiễn pháp chế XHCN trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL nói chung,
đặc biệt ở Nghệ An có những ưu điểm: Đã xây dựng và ban hành được trình tự, thủ tục ban
hành văn bản QPPL tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc. Văn bản QPPL khi được
ban hành đã những hiệu quả trong thực tiễn, thường xuyên sự kiểm tra, sóat, đánh
giá tổng kết công tác xây dựng ban hành văn bản QPPL; Kiên quyết xử các hành
vi vi phạm trong xây dựng ban hành văn bản QPPL. Tuy nhiên, tính pháp chế XHCN
trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL của UBND tỉnh Nghệ An vẫn còn bộc lộ nhiều
hạn chế như: Việc lập và dự kiến chương trình xây dựng văn bản QPPL chưa sát với yêu
cầu nhiệm vụ của địa phương; trách nhiệm của cơ quan soạn thảo, lấy ý kiến trình ban
hành văn bản chưa cao, chưa đáp ứng với yêu cầu; việc chấp hành quy trình, trình tự xây
dựng và ban hành văn bản QPPL thực hiện không nghiêm túc nên nội dung, hình thức vẫn
còn sai sót; văn bản QPPL khi được ban hành chậm tổ chức thực hiện, thiếu sự giám sát,
kiểm tra nên văn bản chậm đi vào cuộc sống.
Nguyên nhân của hạn chế này là: về khách quan: các văn bản QPPL Trung ương
hướng dẫn về xây dựng và ban hành văn bản QPPL còn quá chung chung, thiếu đồng bộ cả
về nội dung và hình thức; về chủ quan: trình độ, kỹ năng về soạn thảo và ban hành văn bản
QPPL ở một số đội ngũ cán bộ, công chức chưa cao, sự phân định giữa thẩm quyền chung
thẩm quyền riêng trong ban hành văn bản chưa ràng, cụ thnên việc ban hành văn
bản vẫn còn sai về thẩm quyền.
Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải
tăng cường pháp chế trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL của cả nước nói chung, ở
Nghệ An nói riêng một vấn đề hết sức quan trọng cần thiết, nhằm lập lại trật tự, kỷ
cương trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL.
Từ những do nêu trên, tôi chọn đề tài: " Pháp chế hội chủ nghĩa trong xây
dựng ban hành n bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân n tỉnh Nghệ An "
để nghiên cứu viết luận văn thạc sỹ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Sau khi Luật Ban hành văn bản QPPL m 1996 được ban hành, sửa đổi, bổ sung
năm 2002; Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND được Quốc hội thông qua
ngày 03/12/2004 đã được tổ chức thực hiện một cách thống nhất hiệu quả. Thủ
tướng Chính phủ đã Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 phê duyệt
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, trong đó nội
dung hết sức quan trọng cải cách thể chế, đổi mới quy trình xây dựng ban hành văn
bản QPPL. Theo đó Thtướng Chính phủ chỉ đạo thành lập ban chỉ đạo Chương trình đổi
mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản QPPL, giao cho B
trưởng Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm chương trình, phối hợp với các Bộ, Ngành trung ương.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo chương trình đổi mới công tác
xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản QPPL, gồm có 5 Đề án chủ yếu:
- Đề án 1: Đổi mới quy trình lập dkiến chương trình xây dựng văn bản QPPL dài
hạn và hàng năm;
- Đề án 2: Hoàn thiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;
- Đề án 3: Xây dựng quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL của HĐND,
UBND;
- Đề án 4: Tăng cường năng lực của các quan công chức trực tiếp tham gia
vào công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL;
- Đề án 5: Xây dựng chế huy động hiệu quả sự tham gia của các chuyên gia,
các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn nhân dân vào quá trình xây dựng, ban
hành văn bản QPPL.
Các Đề án trên đã được triển khai toàn diện, những đề tài đã được nghiệm thu
đưa vào áp dụng trong thực tiễn xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước
ta.
Đã những công trình khoa học và tài liệu nghiên cứu về pháp chế XHCN, về lĩnh
vực ban hành văn bản QPPL như:
- Luận án TS Luật học của Nguyễn Phùng Hồng về: "Tăng cường pháp chế XHCN
trong hoạt động của lực lượng công an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia
nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1994.
- Luận án TS Luật học của Quách Sỹ Hùng về: "Tăng cường pháp chế về kinh tế
trong quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay", Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1996.
- Luận án TS Luật học của Nguyền Nhật Hùng về: "Tăng cường pháp chế XHCN
trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe nhân dân ở nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, 2001.
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của Nguyền Hưng Bằng về: "Tăng cường pháp chế
XHCN trong lĩnh vực giao thông đường bộ nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, 2001.
- Th.S Trí Hảo, "Hoàn thiện hoạt động xây dựng văn bản QPPL", NXB
pháp-Hà Nội 2004.
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của Lê Văn Thảo về: "Tăng cường pháp chế XHCN
trong xét xử các vụ án hình sự Nghệ An hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2004.