
PHÁT HIỆN VIRUS GUMBORO
BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾT TỦA TRÊN THẠCH
GVHD:TS.Nguyễn Ngọc Hải
SVTH :Phan Thị Phương Thanh

I.LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ khi các kỹ thuật sinh học phân tử ra đời,nó mở ra một cánh
cửa hy vọng mới đầy tiềm năng cho các nhà khoa học nói riêng và cho toàn
thế giới nói chung.Với thao tác trên các vật liệu ở mức độ phân tử như
DNA,RNA,protein…các kỹ thuật sinh học phân tử có thể phát hiện ra các
loại vi khuẩn,virus gây bệnh hiện diện trong cơ thể sinh vật.
Ngành nông nghiệp trong đó chăn nuôi gia cầm đóng vai trò khá quan
trọng trong tồng thu nhập của một quốc gia nhất là đối với các quốc gia đang
phát triển.Thế nhưng,ngành chăn nuôi ngày nay phải đối mặt với rất nhiều
vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe vật nuôi.Tình hình dịch bệnh đang ngày
càng lan rộng với các chủng virus mới,các chủng virus đột biến gây khó
khăn rất nhiêu cho việc chẩn đoán và chữa trị cho vật nuôi.Do vậy,sẽ khả thi
hơn nếu chúng ta áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử vào việc chẩn đoán
và chữa trị .
Bệnh Gumboro là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm, gây
thiệt hại rất lớn cho chăn nuôi gà, kể cả gà nuôi công nghiệp và gà chăn thả
vườn. .Tỷ lệ chết của gà khi bị nhiễm bệnh từ 3-20% nếu không ghép với
các bệnh khác và từ 21-100% nếu nhiễm kèm với các bệnh khác gây ra bởi
virút, vi khuẩn, ký sinh trùng.Việc áp dụng kỹ thuật phân tử vào việc phát
hiện virus Gumboro trên gia cầm sẽ rút ngắn thời gian hơn do đó việc chữa
trị và hạn chế sự lây lan mầm bệnh sẽ hiệu quả hơn.

II.TỔNG QUAN
II.1.Giới thiệu về bệnh Gumboro
Gumboro là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở gà và gà tây được gây ra bởi
Infectious bursal disease virus (IBDV),đặc trưng bởi sự phá huỷ túi
Fabricius . Đây là nhóm virus gây bệnh thuộc nhóm không có vỏ bọc, có sức
chịu đựng rất cao, thời gian nung bệnh ngắn, do đó khả năng truyền bệnh rất
mạnh.
Mầm bệnh có thể sống hàng tháng trong chuồng trại, hàng tuần trong nước
uống, thức ăn, phân.
Lứa tuổi gà mắc bệnh cao nhất là từ 3 - 6 tuần tuổi, gà nhỏ hơn có thể mắc
bệnh ở thể tiềm ẩn, không biểu hiện triệu chứng, nhưng ảnh hưởng rất quan
trọng vì nó làm ức chế miễn dịch, gà dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác.
Mặt khác, nó trơ với việc chủng ngừa có hiệu quả. Trong những năm gần
đây, nhiều dòng chủng IBDV (vvIBDV), nguyên nhân chính gây ra sự tử
vong đồng loạt trên gà, đã xuất hiện ở châu Âu, Mỹ Latin, Đông Nam Á,
châu Phi và Trung Đông. Theo các điều tra gần đây tại nước ta, gà công
nghiệp có tỷ lệ mắc bệnh rất cao, Gumboro được coi là bệnh truyền nhiễm
chính trên gà hiện nay. Gà ta nuôi theo phương thức bán công nghiệp cũng
mắc bệnh, trên nhiều đàn tỷ lệ chết lên đến 20-25%.
II.2.Lịch sử phát hiện
Năm 1962, Cosgrove đã phát hiện và mô tả một bệnh mới, xuất hiện ở thành
phố Gumboro, vùng Dalaware ở Hoa Kỳ. Bệnh thường thấy trên gà con với
bệnh tích thường gặp chủ yếu ở thận và túi Fabricius.
Lúc đầu, người ta cho rằng, bệnh là biến thể của bệnh viêm phế quản
truyền nhiễm (Infectious Bronchitis, IB) vì bệnh tích ở thận tương đối giống
nhau. Lúc ấy người ta gọi là bệnh hư thận trên gà do triệu chứng không tái
hấp thu được nước tiểu, làm gà tiêu chảy rất nặng, gây mất nước. Về sau
bệnh lan dần và hiện nay khắp các châu lục đều có bệnh.
Sau này, Winterfield và Hitchner đã chứng minh rằng những con gà
đã miễn dịch với IB rồi vẫn nhiễm bệnh viêm túi Fabricius.
Cuối năm 1962, Winterfield đã phân lập được từ phôi trứng tác nhân
gây bệnh truyền nhiễm ở gà (bệnh tích ở túi Fabricius và thận).
Năm 1986-1987, lần đầu tiên những dòng biến thể của IBDV được
công bố.

Năm 1987, sự nguy hiểm của IBDV lần đầu tiên được công bố tại
Belgium và The Netherlands.
Năm 1970, Hitchner đề nghị tên chính thức cho bệnh này là Infectious
Bursal Disease (IBD) hay còn gọi là Gumboro. Virus gây bệnh là Infectious
Bursal Disease Virus (IBDV).
Ở Việt Nam bệnh được phát hiện vào năm 1981 ở một số trại nuôi gà
công nghiệp thuộc các tỉnh phía Bắc, nhưng lúc đó chưa được chú ý, vào các
năm 1987-1993 bệnh phát triển rất mạnh gây chết rất nhiều gà, từ đó gây
được sự chú ý cho các nhà chuyên môn. Nhiều biện pháp phòng bệnh đã
được nghiên cứu, tuy nhiên ngày nay việc khống chế bệnh vẫn còn ở phía
trước.
II.3.Sơ lược về túi Fabicius
Túi Fabricius là cơ quan dạng lympho, nằm gần hậu môn. Trong quá
trình phát triển của bào thai, nó xuất hiện sau tuyến ức và giống như
tuyến ức, túi Fabricius có cấu trúc lympho biểu mô.
Túi Fabricius là cơ quan dạng lympho trung ương, quá trình biệt hóa
trong túi diễn ra không bị ảnh hưởng bởi kích thích kháng nguyên từ
bên ngoài.
( http://www.ag.auburn.edu)

Túi Fabricius nhỏ đi rất sớm: gà khoảng tháng thứ 4 (tuổi dậy thì), nó
bắt đầu teo và tới tháng 11-12 thì mất hẳn.
Chia túi ra thành các đơn vị cấu trúc gọi là các nang (Foliculum). Mỗi
nang gồm có một vùng vỏ giàu lympho bào và một vùng tủy ít tế bào hơn
nhưng có chứa tương bào.
(http://images.google.com.vn)
Đây còn là nơi biệt hóa dòng lympho B.
II.4.Virus IBDV
II.4.1.Về cấu trúc sinh học
IBDV có dạng hình khối, nhiều gốc cạnh, khích thước: 55-65 nm,
phân tử khối: 2.106 Dalton (Nick, 1976). IBDV là virus dạng trần, không có
vỏ bọc ngoài.

