BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN --------(cid:1)(cid:1)(cid:2)(cid:3)(cid:3)--------

TRẦN HỮU PHƯỚC

PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU TẠI TỈNH LÀO CAI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN

HÀ NỘI - 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN --------(cid:1)(cid:1)(cid:2)(cid:3)(cid:3)-------- TRẦN HỮU PHƯỚC

PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU TẠI TỈNH LÀO CAI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN Mã số: 9310105

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS VŨ THÀNH HƯỞNG

2. TS. ĐINH TIẾN DŨNG

HÀ NỘI - 2019

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi

cam kết bằng danh dự cá nhân rằng bản luận án này do tôi tự thực hiện và không vi

phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Nghiên cứu sinh Trần Hữu Phước

ii

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ và giảng viên Khoa Kinh tế - Phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dDân đã nhiệt tình hỗ trợ tác giả trong quá trình thực hiện luận án. Đặc biệt, tác giá xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Vũ Thành Hưởng và TS. Đinh Tiến Dũng đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và động viên tác giả trong quá trình làm luận án. Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, những người luôn sát cánh bên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Mặc dù đã cố gắng hết sức, nhưng với nguồn lực hạn chế, luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự đóng góp từ các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp để tác giả tiếp tục hoàn thiện vấn đề nghiên cứu của luận án trong tương lai.

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Nghiên cứu sinh

Trần Hữu Phước

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN........................................................................................................ i

LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii

MỤC LỤC .................................................................................................................iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................... vi

DANH MỤC BẢNG ................................................................................................ vii

DANH MỤC HÌNH ................................................................................................... x

LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .......................................................... 10

1.1. Tổng quan về cây dược liệu ........................................................................... 10

1.1.1. Khái niệm cây dược liệu ............................................................................ 10

1.1.2. Phân bổ các loài cây dược liệu tự nhiên ..................................................... 11

1.1.3. Vai trò của cây dược liệu đối với đời sống kinh tế và xã hội ...................... 11

1.2. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước về phát triển cây dược liệu theo

hướng bền vững .................................................................................................... 13

1.2.1. Về nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững ....................... 13

1.2.2. Về tiêu chí đánh giá phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững ........... 16

1.2.3. Về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cây dược liệu theo hướng

bền vững ............................................................................................................. 17

1.3. Tổng quan các nghiên cứu trong nước về phát triển cây dược liệu theo

hướng bền vững .................................................................................................... 19

1.3.1. Về nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững ........................ 19

1.3.2. Về tiêu chí đánh giá .................................................................................. 20

1.3.3. Về các nhân tố ảnh hưởng ......................................................................... 21

1.3.4. Các nghiên cứu về phát triển cây dược liệu tại Lào Cai ............................. 22

1.4. Đánh giá tổng quan các nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu .............. 24

Tiểu kết chương 1 .................................................................................................... 26

iv

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU THEO

HƯỚNG BỀN VỮNG .............................................................................................. 27

2.1. Khái niệm cơ bản về phát triển và phát triển theo hướng bền vững .......... 27

2.1.1. Khái niệm về phát triển ............................................................................. 27

2.1.2. Khái niệm về phát triển theo hướng bền vững ........................................... 28

2.1.3. Khái niệm về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ....................... 30

2.2. Khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững ................ 38

2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của cây dược liệu .................................................. 38

2.2.2. Phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững ........................................... 40

Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 51

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU THEO HƯỚNG

BỀN VỮNG TẠI TỈNH LÀO CAI ......................................................................... 52

3.1. Thực trạng phát triển cây dược liệu trên thế giới ........................................ 52

3.1.1. Nguồn cung cây dược liệu trên thế giới ..................................................... 52

3.1.2. Tình hình tiêu thụ và xuất nhập nhập khẩu cây dược liệu trên thế giới ....... 53

3.1.3. Chuỗi cung ứng cây dược liệu ................................................................... 54

3.1.4. Thực trạng suy kiệt nguồn dược liệu tư nhiên trên thế giới ........................ 55

3.2. Thực trạng phát triển cây dược liệu tại Việt Nam ....................................... 56

3.2.1. Quản lý nhà nước về cây dược liệu ............................................................ 56

3.2.2. Tiềm năng tài nguyên cây dược liệu tại Việt Nam ..................................... 57

3.2.3. Về bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc ........................................... 58

3.2.4. Về nuôi trồng và thu hái cây dược liệu ...................................................... 59

3.2.5. Về chế biến, sản xuất, kinh doanh và buôn bán dược liệu .......................... 65

3.2.6. Về xuất nhập khẩu cây dược liệu ............................................................... 65

3.3. Thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai .... 66

3.3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại Tỉnh Lào Cai .................... 66

3.3.2. Thực trạng phát triển cây dược liệu tại Lào Cai ......................................... 71

3.4. Đánh giá chung về thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền

vững tại tỉnh Lào Cai ......................................................................................... 134

3.4.1. Những kết quả đạt được .......................................................................... 134

v

3.4.2. Những mặt hạn chế ................................................................................. 136

3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển theo hướng bền vững

cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai ........................................................................... 138

Tiểu kết chương 3 .................................................................................................. 140

CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU

THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI TỈNH LÀO CAI........................................... 142

4.1. Quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

đến năm 2030 ...................................................................................................... 142

4.1.1. Quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của

Việt Nam .......................................................................................................... 142

4.1.2. Quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của

tỉnh Lào Cai ...................................................................................................... 144

4.1.3. Quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của

luận án .............................................................................................................. 146

4.2. Các giải pháp nhằm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh

Lào Cai ................................................................................................................ 147

4.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách ............................................................ 147

4.2.2. Nâng cao năng lực của người sản xuất - kinh doanh cây dược liệu .......... 151

4.2.3. Phát triển thị trường đầu ra ...................................................................... 152

4.2.4. Xây dựng mô hình quản lý cây dược liệu dựa vào cộng đồng .................. 153

4.2.5. Nâng cao vai trò của nhà nước trong phát triển cây dược liệu theo hướng

bền vững ........................................................................................................... 156

4.3. Các kiến nghị ............................................................................................... 157

4.3.1. Đối với Chính phủ ................................................................................... 157

4.3.2. Đối với các Bộ ........................................................................................ 158

Tiểu kết chương 4 .................................................................................................. 161

KẾT LUẬN ............................................................................................................ 162

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ . 164

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 165

PHỤ LỤC ............................................................................................................... 175

vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt

Chú giải

1

PTTHBV

Phát triển theo hướng bền vững

2 MAPS

Medicinal Aromatic Plants

3 BT

Bảo tồn

4 BTNV

Bảo tồn nguyên vị

5 BTCV

Bảo tồn chuyển vị

6 DN

Doanh nghiệp

7 YHCT

Y học cổ truyền

8

PHH

Phân hóa học

9 BVTV

Bảo vệ thực vật

10 GACP

Tiêu chuẩn thực hành tốt canh tác và thu hái cây thuốc của

tổ chức y tế thế giới

11 NN&PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

12 TƯ

Trung ương

13 VQG

Vườn quốc gia

14 KBTTN

Khu bảo tồn tự nhiên

15 HTX

Hợp tác xã

16 CITES

Danh mục động vật hoang dã nguy câp

17 GMP

Tiêu chuẩn sản xuất thuốc tốt của tổ chức y tế thế giới

18 FWF

Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới

vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tóm tắt thông tin về đối tượng phỏng vấn của luận án .................................... 5

Bảng 2: Thống kê số hộ trồng Artiso và Đương quy tại các huyện, Lào Cai ................ 6

Bảng 2.1: Các tiêu chí môi trường đánh giá nông nghiệp theo hướng bền vững ......... 32

Bảng 2.2: Nhóm tiêu chí kinh tế đánh giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ... 32

Bảng 2.3: Nhóm tiêu chí xã hội đánh giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững .. 33

Bảng 2.4: Nhóm nhân tố địa lý và tự nhiên ................................................................ 34

Bảng 2.5: Nhóm nhân tố thuộc về chủ thể sản xuất .................................................... 36

Bảng 2.6: Nhóm nhân tố về chính sách và thể chế ..................................................... 36

Bảng 2.7: Tổng hợp các tiêu chí đánh giá phát triển cây dược liệu theo hướng .......... 44

Bảng 2.8: Các nhân tố tác động đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững ... 48

Bảng 3.1: Nước xuất khẩu và nhập khẩu cây dược liệu lớn nhất thế giới ................... 54

Bảng 3.2: Các cơ quan nhà nước tham gia quản lý nước cây dược liệu ...................... 56

Bảng 3.3: Thống kê phân bổ số loài dược liệu ở các địa phương trên cả nước ............ 57

Bảng 3.4: Sản lượng khai thác một số cây dược liệu ở Việt Nam ............................... 60

Bảng 3.5: Danh mục một số dược liệu được trồng tại địa phương .............................. 61

Bảng 3.6: Hiện trạng các vùng trồng dược liệu .......................................................... 62

Bảng 3.7: Danh sách các cây dược liệu nuôi trồng theo nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực

hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc” (GACP) ...................................................... 63

Bảng 3.8: Diện tích địa hình ở độ cao tương đối so với mực nước biển của tỉnh Lào Cai chia theo các huyện ............................................................................................. 67

Bảng 3.9: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2014-2018 của tỉnh Lào Cai .......... 68

Bảng 3.10: Thống kê diện tích canh tác (ha) phân theo nhóm cây của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2017. ........................................................................................................ 69

Bảng 3.11: Diện tích canh tác dược liệu theo loại cây tại tỉnh Lào Cai ....................... 72

Bảng 3.12: Tổng hợp tiềm năng đất đai có khả năng phát triển sản xuất cây dược liệu hàng hóa tỉnh Lào Cai ................................................................................................ 73

Bảng 3.13: Diện tích trồng cây dược liệu của các huyện trên địa bàn tỉnh Lào cai giai đoạn 2012-2018 ......................................................................................................... 77

Bảng 3.14: Cơ cấu cây dược liệu tính theo diện tích đất trồng giai đoạn 2012-2017 ... 82

viii

Bảng 3.15: Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2015 .... 85

Bảng 3.16: Tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2015 ............................................................................................................ 87

Bảng 3.17: Hiệu quả kinh tế một số chủng loại cây dược liệu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2015............................................................................................... 90

Bảng 3.18: Một số tiêu chí duy trì và bảo tồn tại 03 khu bảo tồn tại tỉnh Lào Cai ....... 93

Bảng 3.19. Một số tiêu chí về duy trì và bảo tồn rừng tại tỉnh Lào cai ........................ 94

Bảng 3.20. Tỷ lệ tăng diện tích canh tác cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012-2018 .... 95

Bảng 3.21. Năng suất trung bình của cây Actiso và cây Đương quy tại Huyện Bắc Hà (2010-2016) ............................................................................................................... 96

Bảng 2.22: Thống kê tổng thu nhập ròng trung bình VNĐ/1ha của cây Đương quy và Actiso tại Lào Cai niên vụ 2017-2018 ........................................................................ 97

Bảng 2.23: Tỷ lệ hộ nghèo của các 06 huyện trồng dược liệu lớn nhất tỉnh Lào Cai ... 98

Bảng 3.24: Số việc làm mới được tạo ra từ cây dược liệu hàng năm của Tỉnh Lào Cai năm 2017 ................................................................................................................... 99

Bảng 2.25: Các tiêu chí môi trường trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai ............................................................................................... 100

Bảng 3.26: Tổng hợp các tiêu chí đánh giá phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai ............................................................................................... 102

Bảng 3.27: Danh mục các loài cây dược liệu phù hợp với điều kiện tự nhiên tại tỉnh

Lào Cai .................................................................................................................... 104

Bảng 2.28: Tổng hợp các nhóm, loại đất tỉnh Lào Cai .............................................. 105

Bảng 2.29: Phân hạng mức độ thích hợp đất đai cho cây Sa nhân tím ...................... 106

Bảng 2.30: Phân hạng mức độ thích hợp đất đai cho cây Đương quy ....................... 106

Bảng 2.31: Phân hạng mức độ thích nghi theo diện tích đất tại các huyện tại Lào Cai .... 107

Bảng 3.32: Chú thích và cách đo các biến trong phương trình (1), (2), (3), (4), (5) .. 110

Bảng 3.33: Thống kê mô tả các biến ........................................................................ 111

Bảng 3.34: Kết quả hồi quy OLS với lệnh robust của các phương trình 1,2,4,5 và hồi quy Logistic của phương trình 3 đối với cây Đương quy ......................................... 114

Bảng 3.35: Kết quả hồi quy OLS với lệnh robust của các phương trình 1,2,4,5 và hồi quy Logistic của phương trình 3 đối với cây Actiso ..................................................... 115

ix

Bảng 3.36: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 1 đối với cây Đương quy .. 116

Bảng 3.37: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 2 đối với cây Đương quy .. 116

Bảng 3.38: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 3 đối vói cây Đương quy .. 117

Bảng 3.39: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 4 đối với cây Đương quy .. 117

Bảng 3.40: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 5 đối với cây Đương quy .. 117

Bảng 3.41: Ma trận tương quan của phương trình 1 đối với cây Actiso .................... 118

Bảng 3.42: Ma trận tương quan của phương trình 2 đối với cây Actiso .................... 118

Bảng 3.43: Ma trận tương quan của phương trình 3 đối với cây Actiso .................... 118

Bảng 3.44: Ma trận tương quan của phương trình 4 đối với cây Actiso .................... 119

Bảng 3.45: Ma trận tương quan của phương trình 5 đối với cây Actiso .................... 119

Bảng 3.46: Kết quả hồi quy sau khắc phục khuyết tật của các phương trình (1), (2), (3), (4), (5) đối với cây Đương quy và cây Actiso ......................................................... 120

Bảng 3.47: Sự tham gia của doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu tại

Lào cai ..................................................................................................................... 127

Bảng 3.48: Sự tham gia của các cơ sở YHCT trong tiêu thụ cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai 128

Bảng 3.49. Tỷ lệ khám bệnh bằng y học cổ truyền trên tổng số lượt khám bệnh của cả nước và số lượt người khám bệnh bằng YHCT năm 2015 so với năm 2010 ............ 129

Bảng 3.50: Các nhân tố tác động đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững ......... 132

x

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Sản phẩm/lĩnh vực sử dụng cây dược liệu .................................................. 10

Hình 1.2: Số loài cây dược liệu và tỷ lệ phần trăm số loài cây dược liệu trên tổng số loài thực vật ở các quốc gia có nhiều loài cây dược liệu nhất trên thế giới ................. 11

Hình 2.1: Sơ đồ PTTHBV theo quan điểm của thế giới (UNESCO) ........................... 28

Hình 2.2: Nội hàm của PTTHBV theo quan điểm của Việt Nam ................................ 29

Hình 2.3: Khung phân tích phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai ..... 50

Hình 3.1: Chuỗi cung ứng cây dược liệu .................................................................... 55

Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Lào Cai giai đoan 2010-2018 ................................ 69

Hình 3.3: Tỷ lệ hộ nghèo của Lào Cai giai đoạn 2006-2017 ....................................... 98

Hình 3.4: Nhu cầu chi tiêu tiền thuốc bình quân trên đầu người qua các năm của Việt nam (đơn vị: USD/người/năm) ................................................................................ 129

Hình 4.1: Mô hình quản lý cây dược liệu dựa vào cộng đồng ................................... 155

1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của nghiên cứu

Trong hàng thiên niên kỷ, con người đã biết dựa vào tự nhiên như cây cối, côn

trùng, động vật và nấm để chăm sóc sức khỏe của mình. Qua thời gian, con người cũng phát hiện ra vô số loại thực vật có công dụng chữa bệnh và tích góp được nhiều kiến thức y dược cổ truyền để nâng cao chất lượng cuộc sống. Y học dân tộc cổ truyền

ra đời từ rất lâu so với y học hiện đại. Trải qua thời gian, kiến thức y học cổ xưa này vô cùng phong phú và đồ sộ. Ước tính có khoảng 50.000-70.000 loại cây dược liệu được sử dụng trong cả y học truyền thống và y học hiện đại trên toàn thế giới và ngày càng nhiều loài dược liệu đóng vai trò quan trọng đối với thị trường hóa dược. Nếu

tính trên đơn vị số loài, tiêu dùng dược liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nhu cầu khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới (Leaman, 2008).

Tại nhiều nước đang phát triển, cây dược liệu đóng vai trò quan trọng trong

việc chăm sóc sức khỏe của người dân. Trong nhiều trường hợp, đây là phương thức chữa bệnh có hiệu quả duy nhất trong khi các phương thức y tế khác khó tiếp cận hoặc đắt đỏ. Theo ước tính của WHO (2008), 80% dân số ở Châu Phi và Châu Á phụ thuộc phần lớn vào các loại thảo dược để chữa bệnh. Tính đến năm 2014, trên toàn thế giới

có 18.226 cơ sở chữa bệnh y học dân tộc cổ truyền, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho 80% dân số trên toàn cầu (WHO, 2014). Hầu hết các loài dược liệu được sử dụng trong y học dân gian và việc mua bán dược liệu thường được thực hiện ở cấp địa

phương, trong phạm vi quốc gia (Hamilton, 2004; Marshall, 2011). Thị trường cây dược liệu tại các địa phương đã và đang mang lại cho người nông dân bản địa những cơ hội sinh kế tiềm năng, giúp họ có thể đa dạng danh mục cây trồng của mình.

Việt Nam là quốc gia được đánh giá cao về tiềm năng cây dược liệu với một

kho tàng tri thức truyền thống về y học cổ truyền phong phú. Theo thống kê của Bộ y tế (2016), Việt Nam có khoảng 4.000 loài thực vật có công dụng làm thuốc. Thực tế ở nhiều địa phương cho thấy cây dược liệu đóng góp giá trị kinh tế cao cho người dân

địa phương so với các cây nông nghiệp khác, góp phần lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Nhiều địa phương đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang các cây dược liệu. Tuy nhiên việc nuôi trồng dược liệu và thu hái trong nước mới đáp ứng nhu cầu sử dụng ở mức thấp (khoảng 20-25%), còn lại phải nhập khẩu từ Trung Quốc

không rõ nguồn gốc, không quản lý được làm ảnh hưởng xấu đến thương hiệu của các cây dược liệu trong nước. Mặt khác việc quy hoạch vùng nguyên liệu không đồng bộ,

2

quy mô nhỏ lẻ, kỹ thuật chăm bón thu hái, thu mua không hợp lý dẫn đến chất lượng

kém và giá thành cao. Hơn nữa nguồn tài nguyên dược liệu đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, nhiều loài có thể bị tuyệt chủng dẫn đến nhiều thách thức cho sự phát triển bền vững của ngành. Trước yêu cầu cấp bách của ngành dược liệu, Chính Phủ (2013) đã phê duyệ quyết định 1976 ngày 30 tháng 10 năm 2013 về “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng năm 2030” nhằm đưa ra các định hướng phát triển chung cho ngành. Một trong những nội dung quan trọng của quy hoạch đó là tìm ra hướng đi nhằm phát triển cây dược liệu một cách bền vững. Trong các vùng

nguyên liệu dược liệu của cả nước trong quy hoạch tổng thể, Tây Bắc là một trong những vùng được ưu tiên do có điều kiện về thổ nhưỡng và khí hậu rất phù hợp với việc trồng các loại cây thuốc quý như tam thất, ý dĩ, nhân sâm, trong đó Lào Cai là

một trong những tỉnh đi đầu. Hiện nay tỉnh đã có quy hoạch chi tiết phát triển dược liệu tại địa phương và việc canh tác dược liệu mặc dù còn rất nhiều khó khăn nhưng đã đạt được một số kết quả khả quan. Bên cạnh đó Lào Cai là một tỉnh có điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng và khí hậu rất phù hợp để phát triển cây dược liệu trên cả hai khía

cạnh bảo tồn và canh tác cây dược liệu. Chính vì vậy, tác giả chọn Lào Cai là một trường hợp điển hình để nghiên cứu.

Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu về cây dược liệu trên thế giới chủ yếu tập trung mô tả về đặc điểm, chủng loại và sự đa dạng hay thống kê về số lượng

của các loài cây dược liệu. Các công trình nghiên cứu một cách cụ thể về sự phát triển bền vững của cây dược liệu hầu như không có. Chỉ có một số ít công trình đưa ra các hàm ý chính sách hoặc các gợi ý dựa trên thực trạng của cây dược liệu, chưa có một

công trình nào áp dụng một cách cụ thể các tiêu chí và các nhân tố của khung lý thuyết phát triển bền vững để đánh giá một cách toàn diện và tìm ra các nguyên nhân của thực trạng phát triển theo hướng bền vững của cây dược liệu.

Từ những phân tích như trên tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển cây dược liệu tại

tỉnh Lào Cai theo hướng bền vững” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là góp phần hoàn thiện lý luận về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững; trên cơ sở đó, đánh giá toàn diện sự phát triển theo hướng bền vững của cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai theo hướng bền vững.

Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả tiến hành các công việc nghiên cứu cụ thể

sau đây:

3

- Xây dựng và phát triển khung lý thuyết phân tích phát triển cây dược liệu theo

hướng bền vững dựa trên khung lý thuyết về phát triển theo hướng bền vững nông

nghiệp và các đặc điểm riêng biệt của cây dược liệu.

- Dựa trên các tiêu chí của khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng

bền vững, luận án đưa ra các kết quả đạt được và các hạn chế của thực trạng phát triển

cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai.

- Đánh giá tác động của các nhân tố đến thực trạng phát triển theo hướng bền

vững của cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai thời gian qua, để tìm ra các nguyên

nhân của các hạn chế.

- Dựa trên phương hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của

Việt Nam và những hạn chế trong phát triển cây dược liệu thời gian qua luận án

đưa ra quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai

theo hướng bền vững trong tời gian tới và đề xuất các giải pháp và kiến nghị

nhằm phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh theo hướng bền vững.

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai theo hướng bền vững

Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian: Tác giả chọn Lào Cai là một trường hợp điển hình cho nghiên

cứu của mình do Lào Cai có điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng rất phù hợp với cây

dược liệu. Bên cạnh đó, Lào Cai có lịch sử trồng cây dược liệu lâu đời. Cây dược liệu

nơi đây rất gần gũi và thân thiện với người dân bản địa, trong đó có nhiều loại cây

dược liệu và bài thuốc dân gian đã được phát triển thành hàng hóa. Hiện nay tỉnh Lào

Cai đã hoàn thành quy hoạch chi tiết phát triển dược liệu từ nay đến năm 2020 và định

hướng năm 2030. Có thể nói, tỉnh Lào Cai là một trường hợp điển hình cho phát triển

cây dược liệu vùng Tây Bắc và Việt Nam

- Về thời gian: Đối với số liệu thứ cấp, tác giả chọn thời gian nghiên cứu từ năm

2012-2018 do số liệu về cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai chỉ mới bắt đầu được thống kê

từ năm 2012. Đối với số liệu sơ cấp, tác giả tiến hành khảo sát điều tra cho niên vụ

2017-2018 đối với cây Actiso và cây Đương quy

4

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập số liệu

a. Số liệu thứ cấp

Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập qua báo cáo thống kê của Bộ y tế, Viện dược liệu TƯ, Cục y học cổ truyền, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, Sở y tế Lào Cai, sở Nông nghiệp tỉnh Lào Cai, phòng nông nghiệp các huyện, các dự án trồng cây dược

liệu, các báo điện tử. Số liệu của các công trình nghiên cứu khoa học về cây dược liệu. Các số liệu về quốc tế được thu thập từ Tổ chức y tế thế giới, Ủy ban về lương thực và nông nghiệp quốc tế (FAO), các công trình nghiên cứu trước đây về cây dược liệu trên thế giới…

b. Số liệu sơ cấp

Tác giả sử dụng 02 phương pháp để thu thập số liệu sơ cấp bao gồm (1) phỏng

vấn chuyên gia và (2) phát phiếu khảo sát.

Phỏng vấn chuyên gia được sử dụng để lựa chọn các tiêu chí và nhân tố phù hợp cho khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững cũng như bổ sung các thông tin cần thiết cho các nội dung phân tích khác như thực trạng bảo tồn, nuôi trồng, tiêu thụ cây dược liệu. Các chuyên gia đến từ Viện dược liệu, các lãnh đạo

phụ trách mảng dược liệu ở Sở nông nghiệp tỉnh, phòng nông nghiệp các huyện trong tỉnh, các trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện, ủy ban nhân dân các xã có trồng cây dược liệu, các khu bảo tồn bao gồm vườn quốc gia Hoàng Liên, khu bảo tồn thiên

nhiên Bát Xát, chi cục kiểm lâm. Tác giả cũng phỏng vấn các chuyên gia thuộc các công ty dược liệu như công ty Traphaco Lào Cai, công ty cổ phần du lịch và dược phẩm Sơn Lâm, Công ty cổ phần Sao Thái Dương và công ty cổ phần đầu tư và phát triển Tài Nguyên Xanh. Bên cạnh đó tác giả phỏng vấn những người thu mua và buôn

bán dược liệu tự nhiên tại các chợ tại tỉnh Lào Cai và phỏng vấn các hộ nông dân cũng như các nhân viên khuyến nông để bổ sung các thông tin và số liệu sơ cấp cho luận án (danh sách các cá nhân phỏng vấn được trình bày trong phần phụ lục 1). Bảng 1 tóm

tắt thông tin về các đối tượng phỏng vấn của luận án.

5

Bảng 1: Tóm tắt thông tin về đối tượng phỏng vấn của luận án

STT Đối tượng phỏng vấn Cơ quan công tác Số lượng

1 Lãnh đạo Viện dược liệu 1

2 Cán bộ phụ trách dược liệu Sở NN và PTNN tỉnh Lào Cai 2

3 Lãnh đạo Chi cục kiểm lâm, tỉnh Lào Cai 1

4 Cán bộ phụ trách kiểm lâm Chi cục kiểm lâm, tỉnh Lào Cai 1

5 Lãnh đạo Phòng nông nghiệp huyện Bát Xát 1

6 Lãnh đạo 2

Trung tâm dịch vụ huyện Bát Xát và Bắc Hà

7 Chuyên viên về bảo tồn Vườn quốc giá Hoàng Liên 3

8 Chuyên viên về gen và bảo Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sapa 1

tồn cây thuốc

4 9 Chuyên viên phụ trách Các công ty dược Tranphaco, dược

dược liệu

phẩm Sơn Lâm, Sao Thái Dương và Phát triển tài nguyên xanh

10 Khuyến nông Trung tâm dịch vụ huyện Bắc Hà 4

11 Người thu mua dược liệu Chợ Bắc Hà 4

12 Hộ nông dân Sapa và Bắc Hà 6

Tổng số 30

Phát phiếu khảo sát được thực hiện đối với 250 hộ dân trồng cây Đương quy và Actiso tại Sapa và Bắc Hà để đánh giá tác động của nhóm nhân tố chủ thể sản xuất đến

phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững. Lý do tác giả lựa chọn 02 cây Actiso và Đương quy để nghiên cứu vì đây là 02 cây chiến lược trong tổng 05 cây chiến lược mà Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai đưa vào quy hoạch chi tiết dược liệu của Tỉnh. Mặt khác, 02 loại cây này được nuôi trồng khá lâu tại Lào Cai (Actiso được nuôi trồng cách đây 10 năm

và hiện này Huyện Sapa đã hình thành được vùng nuôi trồng Actiso sạch, cây Đương quy bắt đầu được trồng từ năm 2012 và đến nay đang được đầu tư phát triển mạnh tại Bắc Hà). Mẫu nghiên cứu được xác định dựa trên phương trình của Yamane (Yamane, 1973)

(cid:1) = (cid:3) 1 + (cid:3)((cid:7))(cid:9) Trong đó:

- n: Quy mô của mẫu nghiên cứu - N: Quy mô của tổng thể nghiên cứu - e: Mức độ sai số

6

Ví dụ tổng thể số hộ trồng cây Actiso tại tỉnh Lào cai là 668 ta cho phép nghiên cứu chỉ sai số 8% và độ tin cậy là 95% thì ta cần phải gửi bảng hỏi đến tổng số hộ theo công thức trên là 127 hộ. Tương tự như vậy với 452 hộ dân trồng Đương quy trên địa bàn tỉnh Lào Cai, theo công thức trên ta cần phải gửi 116 phiếu khảo sát tới các hộ dân trồng Đương quy. Như vậy, tổng hợp ít nhất 243 phiếu được điền đầy đủ thông tin cần được thu về. Để thực hiện cuộc khảo sát trên tác giả phát đi 250 phiếu điều tra bao gồm 130 phiếu khảo sát đối với cây Đương quy. Bộ khảo sát này được tiến hành ở Huyện Bắc Hà tại các xã Na Hối, Bản Già và Lùng Phình. 120 phiếu được phát đến cho các hộ trồng Actiso ở Sa Pa Và Bắc Hà trong đó 50 phiếu được phát cho các hộ trồng Actiso ở Bắc Hà và 70 phiếu còn lại được phát cho các hộ trồng Actiso tại thị trấn Sapa

Các hộ được lựa chọn ngẫu nhiên. Phiếu điều tra được đưa đến các hộ trồng dược liệu bởi các nhân viên khuyến nông. Do các hộ nông dân trồng cây dược liệu chủ yếu là các hộ dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, có nhiều nơi không biết đọc nên các nhân viên khuyến nông sẽ giúp giải thích các câu hỏi trong bảng hỏi, phỏng vấn hộ nông dân và điền thông tin vào bảng hỏi (phụ lục 2)

Bảng 2: Thống kê số hộ trồng Artiso và Đương quy tại các huyện, Lào Cai

STT Ghi Chú Loại cây Số Hộ

I Cây Đương quy

1 Huyện Bắc Hà 172 Được trồng ở 07/13 xã Na Hối, Lùng Phình, Bản Già,

Tả Chải, Nậm Mòn, Lầu Thí Ngài, Thải Giàng Phố

2 Huyện Sa Pa 20 Thị trấn Sapa và Tả phìn (02 xã/thị trấn/15 xã)

3 Huyện Bát Xát 160 05 xã trên 15 xã bao gồm Y tý, Pa chèo, Nậm

Phung, Đền Thàng, Trịnh Tường

3/12 xã bao gồm Sán Chải, Simatcai, Nán Sín 4 Simatcai 60

02/15 xã : Liêm Phú, Nậm Tha 5 Văn Bản 30

10 6 Mường Khương 01/10 xã : Xã La Phán Tẩn

452 Tổng

II Cây Actiso

1 Huyện Bắc Hà 318 Được trồng ở 05/13 xã Na Hối, Lùng Phình, Bản

Già, Hoàng Thu Phố, Lầu Thí Ngài

2 Huyện Sapa 350 04 xã và thị trấn trên 15 xã bao gồm Thị trấn sapa,

Tà phìn, Sa pả, San Sả Hồ

668 Tổng

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, 2017

7

4.2. Phương pháp phân tích số liệu

(cid:4) Phương pháp phân tích định tính

Phương pháp phân tích định tính được dùng để mô tả và phân tích đặc điểm về

thực trạng phát triển cây dược liệu tại Thế giới, Việt Nam và tỉnh Lào Cai, đồng thời

thăm dò và thiết kế thang đo các tiêu chí và nhân tố cho khung phân tích phát triển cây

dược liệu theo hướng bền vững. Cụ thể, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu

và nghiên cứu tình huống để phân tích định tính các vấn đề nghiên cứu của luận án.

Phỏng vấn sâu được sử dụng để tìm hiểu chuyên sâu về chủ đề nghiên cứu như chính

sách cho cây dược liệu, thực trạng sản xuất cây dược liệu, thực trạng bảo tồn cây dược

liệu, quy trình canh tác, các khó khăn và thách thức khi canh tác cây dược liệu…

Phỏng vấn sâu được tiến hành đối với các chuyên gia trong lĩnh vực dược liệu, nhà

hoạch định chính sách, hộ nông dân và các doanh nghiệp. Tùy thuộc vào đối tượng và

chủ đề phỏng vấn, tác giả chuẩn bị danh mục các câu hỏi và tiến hành phỏng vấn các

đối tượng phỏng vấn tại nơi họ công tác hoặc sinh sống. Nội dung cuộc phỏng vấn

được ghi âm có sự cho phép của người được phỏng vấn. Sau đó tác giả tiến hành gỡ

băng và phân tích dữ liệu phỏng vấn. Phương pháp nghiên cứu tình huống cũng được

tác giả sử dụng cho luận án. Dựa trên thực tế nuôi trồng dược liệu ở tỉnh Lào Cai, tác

giả tiến hành phân tích và so sánh 02 loại cây điển hình là Actiso và Đương quy tại 02

huyện trồng dược liệu điển hình là Sapa và Bắc Hà. Hai trường hợp điển hình này

được phân tích sâu để từ đó đưa ra những phân tích toàn diện có tính khái quát đối với

(cid:4) Phương pháp phân tích định lượng

phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai theo hướng bền vững.

Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa nhân tố để phân tích mối

quan hệ thống kê giữa các nhân tố thuộc chủ thể sản xuất và các tiêu chí về nâng cao

hiệu quả sản xuất và tiêu chí môi trường. Hồi quy tuyến tính (linear regression) được

sử dụng đối với các biến liên tục. Hồi quy logistic được sử dụng để phân tích các dữ

liệu phân tổ (categorical data). Các kiểm định về giả thiết của hồi quy cũng được thực

hiện để đảm bảo rằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến không vi phạm các giả

thiết của hồi quy ví dụ như đa cộng tuyến (kiểm định bằng Pearson correlation test) và

phương sai sai số thay đổi (khắc phục bằng lệnh robust). Luận án sử dụng kiểm định

Hosmer-Lemeshow để kiểm tra sự phù hợp của mô hình hồi quy Logistic đối với dữ

8

liệu nghiên cứu. Phần mềm Stata được sử dụng để ước lượng hồi quy OLS và hồi quy

(cid:16)

logistic của phương trình dưới đây:

(cid:15)(cid:17)(cid:18)

(cid:10) = (cid:11) + (cid:13) (cid:14)(cid:15) (cid:19)(cid:15)

Trong đó:

- Y : các tiêu chí phát triển theo hướng bền vững bao gồm (tiêu chí nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu chí tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường)

- Xi: Các nhân tố (X là các nhân tố thuộc chủ thể sản xuất)

Nếu biến Y là dữ liệu liên tục, tác giả dùng hồi quy đa biến OLS. Nếu biến Y là

dữ liệu phân tổ, tác giả dùng hồi quy Logistic để phân tích phương trình trên.

5. Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, dựa trên quan điểm Kinh tế phát triển mà cụ thể là phát triển kinh tế nông nghiệp, gắn với những đặc trưng của cây dược liệu, luận án đã đưa ra khái niệm,

nội hàm về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của địa phương. Theo đó, phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của địa phương được luận án xác định theo 3 nội dung: (i) duy trì, bảo tồn và mở rộng quy mô diện tích và chủng loại cây

dược liệu; (ii) Nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu; (iii) tăng cường sự tác động lan toả tích cực của cây dược liệu đến kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương phát triển cây dược liệu. Các tiêu chí đánh giá và yêu cầu bảo đảm tính bền vững cũng được xác định theo 3 góc độ trên.

Thứ hai, qua phân tích các tiêu chí phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững, luận án chỉ ra được các biểu hiện bền vững trong phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai: (i) Số diện tích (ha) được quy hoạch trong các khu bảo tồn thiên

nhiên ngày càng tăng và tỷ lệ số cây sách đỏ được bảo tồn nguyên vị trong các khu bảo tồn lớn, quy mô diện tích canh tác cây dược liệu tăng qua các năm; (ii) So với các loài cây nông nghiệp khác, cây dược liệu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần; (iii) Phát triển cây dược liệu góp phần tích cực đến giảm nghèo và tạo công ăn việc làm; (iv) Cây

dược liệu thân thiện hơn với môi trường so với cây lúa và cây ngô.

Thứ ba, Luận án đã phát hiện đươc những biểu hiện không tích cực trong phát triển cây dược liệu đứng trên góc độ phát triển bền vững: (i) Công tác bảo tồn cây dược liệu tự

nhiên còn nhiều hạn chế, số lượng các loài trong sách đỏ được bảo tồn thành công còn thấp, diện tích đất để trồng cây dược liệu hàng năm ít, nhỏ lẻ, manh mún; (ii) Chi phí sản xuất ban đầu cho cây dược liệu cao hơn so với các cây trồng truyền thống khác

9

(lúa, ngô), trong khi đó, các sản phẩm dược liệu chủ yếu chế biến thô rồi xuất bán giá

trị kinh tế thấp và chưa phát huy được hiệu quả của chuỗi giá trị cây dược liệu; (iii) Thu nhập và đời sống của nhiều hộ dân, đặc biệt là các hộ dân đồng bào miền núi cao từ cây dược liệu chưa thực sự ổn định; (iv) Một số hiện tượng gây hại môi trường của địa phương do hậu quả phát triển cây dược liệu ngày càng có xu hướng gia tăng như: xói mòn chất đất, ảnh hưởng không tích cực đến môi trường sinh thái trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học tràn lan hoặc sau khi thu hoạch cây dược liệu không có phân huỷ rác tập trung.

Thứ tư, Luận án đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào cai bao gồm: (i) nguyên nhân liên quan đến chính sách đất đai, tín dụng và đầu tư cho khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng;

(ii) nguyên nhân liên quan đến năng lực của chủ thể sản xuất và kinh doanh cây dược liệu; (iii) nguyên nhân liên quan đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu; (iv) nguyên nhân liên quan đến thị trường đầu ra; (v) nguyên nhân liên quan đến quản lý cây dược liệu.

Thứ năm, dựa trên các nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững, luận án đã đưa ra 04 nhóm giải pháp bao gồm: (i) hoàn thiện chính sách; (ii) nâng cao năng lực cho chủ thể sản xuất và kinh doanh dược liệu; (iii) mở rộng thị trường đầu ra (iv) áp dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng

đối với cây dược liệu và (v) nâng cao vai trò của nhà nước trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững.

10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về cây dược liệu

1.1.1. Khái niệm cây dược liệu

Theo Luật Dược năm 2016 “dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật, động vật, khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc”. Như vậy cây dược liệu được hiểu là thực vật đạt tiêu chuẩn làm thuốc hay gọi ngắn gọn là cây thuốc. Theo Tổ chức nông nghiệp và lương thực liên hợp quốc (FAO), thuật ngữ phổ

biến dùng để chỉ cây dược liệu là Medicinal Aromatic Plants (MAPs), được định nghĩa là những cây thuốc giúp con người phòng ngừa bệnh tật, duy trì sức khỏe hoặc chữa bệnh (Marshall, 2011). Hay nói cách khác, cây dược liệu giúp cung cấp dinh dưỡng, vệ

sinh cá nhân, chăm sóc thân thể, tạo mùi hương hoặc chữa bệnh cho con người. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành hóa dược, ngày nay cây dược liệu được sử dụng làm nguyên liệu trong nhiều lĩnh vực như sản xuất thuốc nam, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, thuốc thảo dược, sản xuất thuốc tây dược, trà thảo dược, y học cổ

Thuốc thảo dược

Thuốc mới

truyền, các sản phẩm phụ trong ngành hóa dược, công nghiệp và sản xuất các thuốc mới (hình 1.1).

Y học cổ truyền

Trà thảo dược

Cây dược liệu

Thuốc nam

Sản phẩm phụ công nghiệp và hóa dược

Sản phẩm trung gian cho SX thuốc tây dược

Hình 1.1: Sản phẩm/lĩnh vực sử dụng cây dược liệu

Nguồn: De Silva (1997)

Cây dược liệu sinh sống ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn và ở một vài nơi dưới nước trên khắp thế giới. Tuy nhiên nhu cầu ngày càng tăng về cây dược liệu và

11

sự suy thoái về môi trường sống của chúng đang đe dọa nhiều loài cây dược liệu tự nhiên. Vì vậy việc nuôi trồng cây dược liệu đang trở thành một xu hướng đa dạng hóa khả thi đối với người nông dân vì nhu cầu tăng cao tạo nên nhiều cơ hội giao thương và do đó thu nhập mang lại từ việc canh tác cây dược liệu khá tiềm năng.

1.1.2. Phân bổ các loài cây dược liệu tự nhiên

Hiện nay có khoảng 60.000 loại cây dược liệu được sử dụng trên toàn thế giới. Tuy nhiên việc phân bổ các loài cây dược liệu lại không đồng đều ở các khu vực. Trung

Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nhiều loài cây dược liệu tự nhiên nhất thế giới với 11.146 loài ở Trung Quốc và 7.500 loài ở Ấn Độ, tiếp theo là Colombia, Nam Phi, Mỹ và 16 quốc gia khác (Hình 1.2). Châu Âu có khoảng 1.300 loài dược liệu (Chen và cộng sự, 2016). Nếu tính theo tỷ lệ phần trăm số loài cây dược liệu trên tổng số loài thực vật thì

Ấn Độ có tỷ lệ phần trăm số loại dược liệu trên tổng số loài thực vật lớn nhất (44%).

Hình 1.2: Số loài cây dược liệu và tỷ lệ phần trăm số loài cây dược liệu trên tổng số loài thực vật ở các quốc gia có nhiều loài cây dược liệu nhất trên thế giới

Nguồn: Chen và cộng sự, 2016

1.1.3. Vai trò của cây dược liệu đối với đời sống kinh tế và xã hội

Trong hàng thiên niên kỷ, con người đã biết dựa vào tự nhiên như cây cối, côn

trùng, động vật và nấm để chăm sóc sức khỏe của mình. Qua thời gian, con người cũng phát hiện ra vô số loại thực vật có công dụng chữa bệnh và tích góp được nhiều kiến thức y dược cổ truyền để nâng cao chất lượng cuộc sống. Y học dân tộc cổ truyền

ra đời từ rất lâu so với y học hiện đại. Trải qua thời gian, kiến thức y học cổ xưa này vô cùng phong phú và đồ sộ. Ước tính có khoảng 50.000-70.000 loại cây dược liệu

12

(tương đương với cứ 6 loài thực vật thì có 01 loài dược liệu) được sử dụng trong cả y

học truyền thống và y học hiện đại trên toàn thế giới. Và ngày càng nhiều loài dược liệu đóng vai trò quan trọng đối với thị trường mỹ phẩm và thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thực vật và các sản phẩm y tế khác. Nếu tính trên đơn vị số loài, tiêu dùng dược liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nhu cầu khai thác nguồn tài nguyên nhiên nhiên của thế giới (Leaman, 2008).

Ngày nay, ở nhiều nước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi, cây dược liệu đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân. Trong nhiều

trường hợp, đây là phương thức chữa bệnh có hiệu quả duy nhất trong khi các phương thức y tế khác khó tiếp cận hoặc đắt đỏ. Theo ước tính của WHO (2008), 80% dân số ở Châu Phi và Châu Á phụ thuộc phần lớn vào các loại thảo dược để chữa bệnh. Tính đến

năm 2014, trên toàn thế giới có 18.226 cơ sở chữa bệnh y học dân tộc cổ truyền, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho 80% dân số trên toàn cầu (WHO, 2014). Hầu hết các loài dược liệu được sử dụng trong y học dân gian và việc mua bán dược liệu thường được thực hiện ở cấp địa phương, trong phạm vi quốc gia (Marshall, 2011; Hamilton, 2004). Thị

trường cây dược liệu tại các địa phương đã và đang mang lại cho người nông dân bản địa những cơ hội sinh kế tiềm năng, giúp họ có thể đa dạng danh mục cây trồng của mình.

Hiện nay có khoảng 3.000 loài cây dược liệu được mua bán toàn cầu. Theo Ban thư ký về đa dạng sinh học của Liên hợp quốc, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của

cây dược liệu trên toàn cầu là 1,2 tỷ USD (tính theo giá trị khai báo hải quan). Con số thực tế có thể lớn hơn khi tính theo giá bán trên hóa đơn. Hơn 30% lượng thuốc bán trên toàn thế giới có nguồn gốc từ cây dược liệu (FAO, 2005). Khoảng hơn 100 loài

dược liệu được sử dụng trong sản xuất thuốc tây y. Nổi tiếng như hợp chất chống ung thư được chiết xuất từ cây Thông đỏ (Taxus brevifolia) và các chất tổng hợp hóa thực vật từ cây Giáng hương (Pterocarpus) được dùng trong điều trị bệnh hồng cầu lưỡi liềm (Marshall, 2011). Mặc dù công nghệ sản xuất thuốc hiện đại từ cây thảo dược chủ

yếu nằm trong tay các công ty sản xuất thuốc lớn tuy nhiên điều này cũng mang đến những cơ hội tiềm năng cho những người nông dân khi họ có thể canh tác và trồng cây dược liệu để cung cấp cho các công ty dược với quy mô lớn.

Tóm lại, nhu cầu chữa bệnh từ cây dược liệu của người dân địa phương, nhu cầu sử dụng cây dược liệu để sản xuất thuốc tây y, mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe hiện đại khác đã thúc đây nhu cầu cây dược liệu tự nhiên trên toàn thế giới. Chính điều này đã tạo thêm thu nhập cho người nông dân và giúp họ đa dạng hóa

cây trồng. Lợi ích kinh tế rõ ràng của cây dược liệu đã góp phần không nhỏ vào việc cải thiện sinh kế bền vững của người nông dân, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển.

13

1.2. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

1.2.1. Về nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Cây dược liệu là nguồn sản phẩm rất có giá trị. Với nhu cầu ngày càng tăng đối với thuốc thảo dược, các sản phẩm sức khỏe tự nhiên và các chất chuyển hóa thứ cấp

của cây thuốc, việc sử dụng cây dược liệu đang phát triển nhanh chóng. Chính vì vậy, phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững khá được quan tâm trên thế giới, song trong phạm vi tiếp cận được của luận án, vấn đề phát triển theo hướng bền vững (PTTHBV) cây dược liệu chủ yếu tập trung ở một số khía cạnh sau:

Một là, về bảo tồn và duy trì cây dược liệu

Xuất phát từ thực trạng báo động về sự suy giảm nghiêm trọng, thậm chí một số loài cây dược liệu quý hiếm trong tự nhiên đang có nguy cơ bị tuyệt chủng do nhiều yếu tố, trong đó có sự suy giảm môi trường sống và thu hoạch mở rộng vì vậy vấn đề bảo tồn nhằm duy trì nguồn cây dược liệu trong tự nhiên đã được nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm. Khuyến nghị liên quan đến việc bảo tồn cây dược liệu đã lần đầu tiên được đưa ra bởi Quỹ Toàn cầu về Thiên nhiên (WWF), IUCN và Tổ chức Y tế Thế

giới trong một thảo luận quốc tế tại Chiang Mai, Thái Lan, năm 1988. Và sau đó là tại hội thảo quốc tế về Cây thuốc cho sự sống còn, được tổ chức bởi Quỹ cho sự hồi sinh của truyền thống y tế địa phương ở Bangalore Ấn Độ, năm 1998 (www.frlht-india.org)

tiếp đó là các nghiên cứu của Kasagana, V.N và cộng sự (2011), Chen và cộng sự (2016);… Theo đó, quan điểm về bảo tồn và duy trì nguồn cây dược liệu tập trung vào 02 lĩnh vực: bảo tồn nguyên vị (in situ conservation); bảo tồn chuyển vị (ex situ conservation).

Bảo tồn nguyên vị là biện pháp bảo vệ tại chỗ tất cả các hệ sinh thái, các nơi sinh cư và các loài trong môi trường tự nhiên của chúng. Ưu điểm của phương pháp bảo tồn tại chỗ là vừa giúp bảo vệ được cây dược liệu tự nhiên trong khi vẫn duy trì được hệ sinh thái tự nhiên xung quanh. Hai biện pháp bảo tồn tại chỗ phổ biến đối với

cây dược liệu bao gồm bảo tồn tại các khu bảo tồn tự nhiên và phát triển các khu nuôi trồng cây dược liệu tự nhiên.

Bảo tồn chuyển vị là chuyển rời và bảo tồn các loài hoặc các nguyên liệu sinh

học của chúng trong môi trường mới không phải là nơi cư trú tự nhiên vốn có của

chúng. Bảo tồn chuyển vị nhằm nuôi trồng những loài cây dược liệu quí hiếm để đảm

bảo sự sống sót của chúng và đôi khi để sản xuất lượng lớn các cây dược liệu được sử

dụng trong sản xuất thuốc. Đây thường là giải pháp tức thời để duy trì nguồn dược

14

liệu. Bảo tồn chuyển vị không hẳn lúc nào cũng hoàn toàn tách biệt khỏi phương pháp

bảo tồn nguyên vị mà là một phương pháp bổ sung hiệu quả cho bảo tồn nguyên vị,

đặc biệt đối với các loài dược liệu bị khai thác quá mức, bị đe dọa tuyệt chủng, các cây

thuốc có tốc độ tăng trưởng chậm hoặc không phổ biến trong tự nhiên (Chen và cộng

sự, 2016). Có hai phương pháp bảo tồn chuyển vị phổ biến đối với cây dược liệu là

vườn thực vật và ngân hàng giống.

Những nghiên cứu trên đã lập luận khá đầy đủ về sự cần thiết cũng như các

biện pháp để bảo tồn cây dược liệu tự nhiên. Tuy nhiên, những đề xuất này chủ yếu là

những đề xuất về tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm bảo tồn duy trì sự đa dạng và bền vững các

cây dược liệu tự nhiên. Bên cạnh đó, việc bảo tồn cây dược liệu mới chỉ giúp giải

quyết vấn đề bền vững về nguồn nguyên liệu dược liệu tự nhiên, chưa giải quyết được

các khía cạnh kinh tế, xã hội trong vấn đề phát triển cây dược liệu.

Hai là, về sản xuất cây dược liệu theo hướng bền vững

Bên cạnh nguồn dược liệu tự nhiên, nguồn dược liệu được sản xuất thông qua

canh tác, nuôi trồng đã và đang ngày càng phổ biến và trở thành một tập quán canh tác

được chấp nhận rộng rãi. Việc nuôi trồng cây dược liệu có thể cho phép áp dụng

những kỹ thuật nông nghiệp mới để giải quyết các vấn đề trong sản xuất cây dược liệu

như loại bỏ các thành phần độc hại, loại bỏ sâu bệnh, không truy được nguồn gốc sinh

học hoặc hàm lượng hoạt chất thấp. Mặt khác, việc nuôi trồng cây dược liệu cũng giúp

nâng cao sản lượng và cải thiện nồng độ hoạt chất của cây dược liệu. Ngoài ra các tập

quán canh tác cây dược liệu tốt cũng giúp duy trì mực nước, hàm lượng dinh dưỡng

hợp lý và các yếu tố môi trường như nhiệt độ, ánh sáng và độ ẩm phù hợp giúp cây có

năng suất như ý muốn. Bên cạnh đó việc canh tác cây dược liệu cũng góp phần làm

giảm khối lượng cây dược liệu bị thu hái tự nhiên, góp phần bảo tồn nguồn dược liệu

tự nhiên và giảm giá thành.

Từ đó, gắn với sản xuất cây dược liệu theo hướng bền vững là khái niệm “thực

hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc đạt tiêu chuẩn GACP-WHO” đã được các tổ

chức đưa ra. Theo WHO (2003), lựa chọn cây dược liệu, lựa chọn chọn phương pháp

canh tác phải phù hợp với môi trường (điều kiện khí hậu, cân bằng sinh học và hệ sinh

thái của khu vực), đồng thời cũng phải lưu ý đảm bảo cộng đồng địa phương có lợi

trực tiếp từ việc trồng cây dược liệu (lương, cơ hội việc làm và tái đầu tư vốn).

Muchugi và cộng sự (2006) cũng đưa ra các quy định về sản xuất cây dược liệu đạt

chất lượng cao, an toàn và không ô nhiễm.

15

Từ các quan điểm này có thể thấy việc sản xuất cây dược liệu theo hướng bền

vững phải đảm bảo hiệu quả kinh tế của cây dược liệu nhưng không được gây ô nhiễm

môi trường và có tác động lan tỏa tích cực đến xã hội.

Ba là, thu hoạch bền vững cây dược liệu

Nội dung này được đề cập đến trong “Guidelines for the Sustainable Harvesting

of Traditional Medicinal Plants in Zimbabwe” của Khumalo, S.G và cộng sự (1993).

Theo nhóm tác giả, việc bảo tồn và sử dụng bền vững cây dược liệu đóng vai trò rất

quan trọng. Do đó, việc duy trì trồng cây dược liệu là một giải pháp để giảm nguy cơ

tuyệt chủng của một số loài, tuy nhiên, việc canh tác không phải dễ dàng thậm chí là

không thể thực hiện được đối với một số loài. Vì vậy, việc thu hái các cây dược liệu tự

nhiên vẫn sẽ tiếp tục được thực hiện. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cần xây dựng các tập quán

thu hái tốt, có nghĩa là cây dược liệu cần phải được thu hoạch bền vững nhằm “đáp

ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế

hệ tương lai” (Brundlant,1987). Ví dụ, tập tục thu hái cả cây (cả gốc lẫn rễ) làm phá

hủy cây dược liệu nhiều hơn là chỉ thu hái lá, hoa hay chồi của cây. Do đó việc thu

hoạch phải tính đến các khía cạnh gồm: “thời gian thu hoạch, bộ phận được thu hoạch,

kỹ thuật thu hoạch, thiết bị thu hoạch và lưu trữ” (WHO, 2003). WHO (2003) cũng

đưa ra các hướng dẫn về kỹ thuật thu hái cây dược liệu, trong đó đề cập đến các khía

cạnh giấy phép thu hái, lập kế hoạch thu hái, chọn lựa cây thuốc để thu hái, và nhân sự

thu hái.

FWF (2010) cũng đưa ra bộ tiêu chuẩn đánh giá việc thực hành tốt thu hái cây

dược liệu tự nhiên trên 11 khía cạnh: bảo tồn cây dược liệu tự nhiên; ngăn chặn các tác

động tiêu cực đến môi trường; tuân thủ đúng luật, các quy định và các cam kết; tôn

trọng các quyền theo phong tục tập quán và chia sẻ lợi ích; thúc đẩy mối quan hệ hợp

đồng công bằng giữa đơn vị điều hành và người thu hái; hạn chế sự tham gia của trẻ

em trong các hoạt động thu hái; bảo đảm lợi ích cho những người thu hái và cộng đồng

của họ; bảo đảm điều kiện làm việc công bằng cho tất cả lao động làm việc thu hái; áp

dụng các thông lệ quản lý có trách nhiệm; áp dụng các thực tiễn kinh doanh có trách

nhiệm; thúc đẩy cam kết của người mua.

Như vậy, các khía cạnh được hướng dẫn có thể khác nhau nhưng nhìn chung đều chỉ ra việc thu gom cây dược liệu tự nhiên bền vững phải đảm bảo yêu cầu về bảo tồn cây dược liệu, thân thiện với môi trường, đảm bảo chia sẻ lợi ích giữa các bên liên

quan và các vấn đề xã hội (lao động, việc làm, thu nhập).

16

Bốn là, sử dụng bền vững cây dược liệu

Khía cạnh tiếp theo liên quan đến phát triển bền vững dược liệu đó là sử dụng dược liệu bền vững, đặc biệt đối với các loại dược liệu quý hiếm, tốc độ sinh sản thấp, nguồn dược liệu thiên nhiên có giới hạn, bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt và thậm chí có nguy cơ tuyệt chủng. Chính vì vậy việc sử dụng bền vững cây dược liệu là cần thiết.

Đối với các loại thuốc thảo dược cần sử dụng cả cây hay rễ, cần nghiên cứu có thể sử dụng thân, lá để thay thế hay không. Ví dụ, Wang và cộng sự (2009) phát hiện

ra rằng các chất chiết xuất từ thân lá cây nhân sâm có cùng hoạt chất dược lý với rễ cây. Tuy nhiên việc sử dụng thân lá ít ảnh hưởng đến sự sống của cây hơn rất nhiều so với việc dùng rễ cây. Do đó cách sử dụng này bền vững hơn. Để sử dụng bền vững cây

dược liệu theo Schippmann và cộng sự (2002), cần có một hệ thống quản lý và thông tin hiệu quả. Hệ thống quản lý cần đặt ra các hạn ngạch về sản lượng thu hái, các giới hạn thu hái theo mùa, theo khu vực hay từng loại cây dược liệu. Bên cạnh đó cần áp dụng các kỹ thuật thu hái hiện đại thay thế cách thu hái thô sơ, nhổ cả gốc và rễ cây

dược liệu.

Qua tổng quan một số nghiên cứu trên có thể thấy, phát triển cây dược liệu bền vững trên thế giới được xem xét ở cả 2 loại là cây dược liệu tự nhiên và cây dược liệu nuôi trồng. Đối với cây dược liệu tự nhiên, vấn đề được quan tâm nhiều nhất là bảo

tồn, thu hái và sử dụng. Đối với cây dược liệu nuôi trồng, vấn đề được nhấn mạnh là hiệu quả sản xuất và sử dụng. Dù khía cạnh được nhấn mạnh có thể khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu: (1) đảm bảo duy trì và bảo tồn sự đa dạng, phong phú, sự sẵn

có của cây dược liệu; (2) nâng cao hiệu quả kinh tế; (3) tăng cường sự lan tỏa cho môi trường và xã hội.

1.2.2. Về tiêu chí đánh giá phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Do các nghiên cứu về cây dược liệu chủ yếu được tiếp cận theo góc độ quy trình kỹ thuật, như đã tổng quan ở trên, hiện chưa có công trình ngiên cứu về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững dưới giác độ kinh tế phát triển, do đó các tiêu chí

đánh giá sự phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững chỉ được gợi ý rải rác trong các công trình nghiên cứu trước đây. Theo đó, các tiêu chí bao gồm: trữ lượng cây dược liệu trong tự nhiên, diện tích khu bảo tồn (Chen và cộng sự, 2016); khối lượng dược liệu thu hoạch (Hamilton, 2004); sản lượng dược liệu xuất khẩu, số loài cây dược

liệu được canh tác, diện tích canh tác (Van De Kop, P và cộng sự, 2006), thu nhập, thu nhập ròng từ cây dược liệu (Nautiyal MC và Nautiyal BP, 2004). Các tiêu chí trên chủ

17

yếu đánh giá một phần khía cạnh bảo tồn và hiệu quả sản xuất cây dược liệu. Hiện

theo hiểu biết của tác giả, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến các tiêu chí về môi trường và xã hội đối với cây dược liệu.

1.2.3. Về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Các nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển theo hướng

bền vững của cây dược liệu gồm:

- Điều kiện tự nhiên sinh thái

Cây dược liệu cũng giống như các loài khác, cần điều kiện đất, khí hậu và độ ẩm để phát triển. Ngoài ra cây dược liệu thường có mối tương tác với các loài khác, đặc biệt

là cây dược liệu tự nhiên. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của cây dược liệu. Sự xuống cấp và phá huỷ môi trường sống là nguyên nhân chính gây mất tài nguyên dược liệu (Camm J, Norman S, Polasky S, Solow A, 2002).

Sự gia tăng dân số cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến môi trường sống của cây dược liệu. Dân số gia tăng liên tục đòi hỏi yêu cầu ngày càng nhiều về thực phẩm và dược phẩm, điều này dẫn đến sự suy giảm của rừng và lâm sản, tạo ra thách thức để đáp ứng yêu cầu cũng như bảo tồn tài nguyên sinh học, trong đó

có cây dược liệu (Samal, P.K. và cộng sự, 2004).

Chất đất và độ cao của của đất cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và sinh trưởng của cây dược liệu. Theo nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cây dược liệu của Ủy ban

nhân dân các tỉnh nơi có nhiều cây dược liệu sinh sống (tỉnh Lào Cai, tỉnh Quảng Nam), cây dược liệu thường phù hợp với các loại đất đỏ vàng và đất mùn vàng đỏ trên núi cao.

- Điều kiện cơ sở hạ tầng

Cây dược liệu thường được trồng và khai thác ở những địa hình miền núi, vì vậy

hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là mạng lưới giao thông đường bộ có ảnh hưởng lớn đến phát triển cây dược liệu. Nếu mạng lưới đường bộ không phát triển tốt, mạng lưới giao thông kém dẫn tới sự hạn chế về thông tin, vì những lý do này, phí giao dịch cho các nhà

sản xuất cao, mặc dù chi phí này có thể được bù đắp bởi điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc trồng cây dược liệu có giá trị cao (Van De Kop, P. và cộng sự, 2006).

- Năng lực của các bên liên quan trong chuỗi cung ứng

Bao gồm cả năng lực của người thu gom, người trồng, người xử lý nguyên liệu,

vận chuyển, lưu trữ và đóng gói trung gian, các nhà bán lẻ… Theo cao Van De Kop, P. và cộng sự, 2006 yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của cây dược liệu.

18

- Kỹ thuật canh tác và thu hoạch

Thực hành và thu hái dược liệu tốt (GACP) có ảnh hưởng đến chất lượng, năng suất, bảo đảm việc bảo tồn và sử dụng bền vững cây dược liệu. Canh tác hữu cơ ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển lâu dài và tính bền vững của cây dược liệu (Macilwain C., 2004). Canh tác hữu cơ không sử dụng thuốc trừ sâu tổng hợp và phân bón giúp tăng cường đa dạng thực vật và bảo tồn sinh học, bảo tồn chất đất, khả năng sinh sản, năng suất và ổn định hệ thống, sử dụng phân hữu cơ và nguồn tái tạo giúp giảm thiểu mọi dạng ô nhiễm.

Đối với cây dược liệu sự phong phú về chủng loại, hạn chế và tăng trưởng chậm, thu hoạch phá hoại thường dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và thậm chí dẫn đến tuyệt chủng một số loài. Vì vậy, thực hành thu hoạch tốt cũng cần được xem xét và phải được xây

dựng. Thu hoạch rễ và toàn bộ cây trồng sẽ tàn phá nhiều hơn đối với cây thuốc (như thảo mộc, cây bụi và cây cối) hơn là thu hái lá và hoa hoặc chồi của chúng.

- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật bao gồm công nghệ liên quan đến trồng

trọt, thu hoạch, bảo quản, vận chuyển và kiểm soát chất lượng… có ảnh hưởng trực tiếp đến phat triển cây dược liệu theo hướng bền vững. Sự phát triển của kỹ thuật di truyền, kỹ thuật nuôi cấy mô, kỹ thuật đóng gói mô mầm bệnh, kỹ thuật cải tiến giống… đã mở ra những con đường mới cho việc sản xuất các hợp chất hoạt tính sinh

học có quy mô lớn và hiệu quả cao, sản xuất các chất chuyển hóa thứ cấp hiếm và có giá trị cao về tầm quan trọng y tế, giúp cho việc bảo tồn khả thi hơn, giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây dược liệu… (Chen, SL và cộng sự, 2016).

- Nhu cầu thị trường

Nhu cầu thị trường về cây thuốc là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển của cây dược liệu. Dân số tăng, hiểu biết về cây dược liệu tăng, sở thích văn hoá, y học cổ truyền phát triển dẫn tới ngành thuốc thảo dược truyền thống và ngành dược liệu

phát triển, nhu cầu về nguyên liệu làm thuốc dựa trên thực vật tăng kéo theo nhu cầu về cây dược liệu tăng lên là cơ hội cho lĩnh vực trồng cây dược liệu phát triển, tuy nhiên nhu cầu cây dược liệu tăng lên cũng lại có thể dẫn tới việc thu hoạch quá nhiều cây dược

liệu hoang dã từ đó lại dẫn đến sự suy giảm nguồn này (Kala, CP và cộng sự, 2006).

- Chính sách của nhà nước

Việc trồng trọt cây dược liệu có những khó khăn hơn so với các cây nông nghiệp khác, vì vậy vai trò hỗ trợ của nhà nước là rất quan trọng. Các chính sách hỗ

19

trợ của nhà nước là một trong những yếu tố then chốt cho việc trồng cây dược liệu

thành công (Kala, CP và cộng sự, 2006). Nhà nước cần tạo ra thể chế kiểm soát chất lượng, chính sách hỗ trợ trồng trọt (hỗ trợ kỹ thuật liên quan đến trồng trọt, thu hoạch, bảo quản, vận chuyển cây dược liệu), chính sách thương mại, cung cấp hỗ trợ tiếp thị cho nông dân trồng cây dược liệu và phối hợp các chủ thể trong chuỗi cung ứng, tăng liên kết giữa người nông dân với các bên liên quan (viện nghiên cứu, cơ sở khuyến nông…) (Van De Kop, P. và cộng sự, 2006).

Ngoài ra sự phat triển cây dược liệu theo hướng bền vững còn bị ảnh hưởng bởi

các chính sách về bảo vệ cây dược liệu như các quy định về thu gom cây dược liệu tự nhiên, đặc biệt là việc thu thập các loài được coi là có nguy cơ bị tuyệt chủng và bộ sưu tập (Van De Kop, P. và cộng sự, 2006).

1.3. Tổng quan các nghiên cứu trong nước về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Vấn đề phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu ở Việt Nam chủ yếu mới được thảo luận tại các diễn đàn, các hội thảo, hội nghị, các nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ kinh tế còn khá hạn chế. Cụ thể như sau:

1.3.1. Về nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Phan Văn Tân và cộng sự (2013) trong nghiên cứu “Nghiên cứu tuyển chọn và phát triển cây dược liệu bản địa có giá trị cao tại vùng Đông Nam tỉnh Gia Lai” tập trung vào đánh giá thực trạng khai thác, sơ chế, bảo quản và sử dụng các loài cây dược liệu trên vùng; tiến hành phân tích lựa chọn 24 loài cây dược liệu có giá trị cao và đề xuất mô hình sản xuất, trồng phát triển các loài này; lựa chọn và đề xuất phương án bảo tồn và phát triển 41 loài dược liệu.

Trần Thế Hùng và Đinh Thị Lệ Giang (2014), trong nghiên cứu về “Thực trạng và giá trị sử dụng nguồn cây dược liệu tại xã Quy Hoá, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình” không đề cập trực tiếp về nội hàm phat triển cây dược liệu theo hướng bền vững nhưng đã chỉ ra nguồn tài nguyên cây dược liệu tại xã đã giảm nhanh chóng do việc

khai thác bừa bãi, tận diệt và không có ý thức bảo tồn. Từ đó nhóm tác giả cũng đề xuất một số giải pháp để khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này.

Bên cạnh các nghiên cứu, trong một số các văn bản của các tổ chức trong nước cũng đề cập đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững. Chẳng hạn theo QĐ 1976/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, quan điểm về phát triển cây dược liệu được nêu ra là:

20

“Phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam trên cơ sở sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội để phát triển các vùng trồng dược liệu, gắn với bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn dược liệu tự nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái. Phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng trồng dược liệu gắn với công nghiệp chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng bảo đảm an toàn và chất lượng, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước và xuất khẩu.”

Hay trong Luật Dược 105 năm 2016 quy định rằng quy hoạch phát triển vùng nuôi trồng dược liệu, tổ chức triển khai các biện pháp bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý

và bền vững nguồn dược liệu. Trong đó, hoạt động nuôi trồng và thu hái dược liệu phải tuân thủ quy tắc Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái dược liệu (GACP). Việc khai thác, chế biến dược liệu tự nhiên phải bảo đảm đúng chủng loại, quy cách, quy trình, thời điểm, phương pháp chế biến và cách bảo quản của từng loại cây dược liệu.

Như vậy, mặc dù chưa có nghiên cứu hay văn bản quy định nào đưa ra quan niệm về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững, song đều hàm ý đến các vấn đề đặt ra trong phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu gồm: (1) phải bảo tồn và khai thác hợp lý cây dược liệu tự nhiên; (2) sản xuất cây dược liệu theo hướng an toàn,

chất lượng, hiệu quả, (3) gia tăng đóng góp của cây dược liệu cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.

1.3.2. Về tiêu chí đánh giá

Do các nghiên cứu về phát triển cây dược liệu từ góc độ kinh tế còn hạn chế mà chủ yếu được tiếp cận theo góc độ quy trình kỹ thuật vì vậy, các tiêu chí để đánh giá sự phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu ở Việt Nam cũng chưa được đề cập

nhiều trong các nghiên cứu. Chỉ một vài tiêu chí được đưa ra trong quy hoạch phát triển dược liệu như diện tích trồng, thu nhập, sản lượng (Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, 2017).

Không phân tích về phat triển cây dược liệu theo hướng bền vững, nhưng trong nghiên cứu về phát triển cà phê bền vững, Nguyễn Văn Hoá (2014) đã sử dụng một số chỉ tiêu để đo lường 3 nội dung, gồm: (1) Kinh tế (tăng trưởng, hiệu quả, ổn định, chất lượng, cạnh tranh); (2) Xã hội (thu nhập, việc làm, bình đẳng, xoá đói giảm nghèo);

(3) Môi trường (khai thác và bảo vệ môi trường) và sự kết hợp hài hoà giữa các nội dung đó trong phát triển cà phê bền vững.

21

Đây là gợi ý cho luận án trong việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá sự phát

triển theo hướng bền vững của cây dược liệu.

1.3.3. Về các nhân tố ảnh hưởng

Các nghiên cứu trong nước cũng đã chỉ ra các nhân tố tác động đến phát triển

theo hướng bền vững cây dược liệu gồm:

- Ý thức của người dân trong việc khai thác nguồn tài nguyên dược liệu:

Việc khai thác bừa bãi, tận diệt và không có ý thức bảo tồn chính là một trong

những nguyên nhân khiến cho nguồn tài nguyên dược liệu bị suy giảm nhanh chóng. Chính vì vậy, vận động ý thức người dân trong bảo tồn, quản lý, phát triển cây dược liệu là rất quan trọng (Trần Thế Hùng và Đinh Thị Lệ Giang, 2014).

- Trình độ kỹ thuật của người sản xuất

Kỹ thuật trồng, thu hái, chế biến, bảo quản là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của cây dược liệu, vì vậy cần tập huấn kỹ thuật cho người dân (Thế Hùng và Đinh Thị Lệ Giang, 2014).

- Hệ thống cơ sở hạ tầng

Hệ thống cơ sở hạ tầng của các vùng trồng cây dược liệu (đường điện, đường giao thông nội đồng, hệ thống thuỷ lợi, cơ sở nhân ươm sản xuất giống…) là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng suất cũng như hiệu quả của cây dược liệu. Hệ thống cơ

sở hạ tầng thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất quy mô lớn, tập trung, đặc biệt do địa hình chia cắt phức tạp giao thông đi lại khó khăn và nguồn nước tưới không chủ động được, ảnh hưởng lớn đến năng suất cũng như hiệu quả của cây dược liệu (Ủy

ban nhân dân tỉnh Lào Cai, 2017).

- Cơ chế chính sách

Cơ chế chính sách tác động đến sự phat triển cây dược liệu theo hướng bền

vững gồm chính sách quy hoạch, chính sách đầu tư và các chính sách hỗ trợ khác.

Chính sách quy hoạch: quy hoạch trồng dược liệu thuộc nhiều hộ quản lý đơn lẻ gây khó khăn cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất, thu hái. Vì vậy, cần quy hoạch để hình thành thành vùng sản xuất cây dược liệu tập trung, chuyên canh.

Chính sách đầu tư: Cây dược liệu yêu cầu về vốn đầu tư ban đầu, đặc biệt là nguồn giống tương đối cao so với các cây trồng khác, vì vậy, nếu không có sự chuẩn bị về nguồn giống tốt và vốn đầu tư ban đầu thì sẽ khó khăn cho việc mở rộng và phát triển sản xuất.

22

- Liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị cây dược liệu

Theo Phan Văn Tân và cộng sự (2013), để bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu giá trị cao cần có sự liên kết thiết thực, phù hợp giữa 4 nhà: Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp và nhà nông; đặc biệt cần sự tham gia, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp chế biến dược liệu và nhà nông. Tăng cường liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp để phát triển cây dược liệu cũng là đề xuất của Trần Thế Hùng và Đinh Thị Lệ Giang (2014).

- Vai trò của nhà nước

Theo Lê Quang Đức (2018), các nhân tố như bộ máy tổ chức quản lý, năng lực đội ngũ cán bộ thực thi, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành và phối hợp “bốn nhà”, nâng cao năng lực, ý thức của các doanh nghiệp và các hộ gia đình trồng cây dược liệu

sẽ đảm bảo việc thực hiên tốt vai trò nhà nước trong xây dựng hệ thống chính sách, cũng như thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch và tăng cường kiểm tra, giám sát, điều chỉnh, bổ sung, xử lý vấn đề nảy sinh trong quá trình thực thi quản lý sẽ giúp đảm báo cây trồng dược liệu phát triển bền vững.

1.3.4. Các nghiên cứu về phát triển cây dược liệu tại Lào Cai

Lào Cai là một địa phương có đặc điểm địa hình và khí hậu đa dạng, tạo nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp với các chủng loại cây trồng phong phú có nguồn

gốc từ nhiệt đới đến á nhiệt đới, trong đó cây dược liệu cũng là nhóm cây trồng có nhiều lợi thế đặc biệt. Chính vì vậy, vấn đề phát triển cây dược liệu cũng đã được các cơ quan, tổ chức và cá nhân khá quan tâm nghiên cứu, đề cập dưới nhiều góc độ khác

nhau, chẳng hạn:

Dưới góc độ chuyên sâu về kỹ thuật trồng trọt, luận án tiến sĩ của Nguyễn Bá Hoạt (2002) “Nghiên cứu phát triển một số cây thuốc tham gia chuyển đổi cơ cấu cây trồng huyện vùng cao Sa Pa - Lao Cai” đã điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, tình hình kinh tế xã hội từ đó nghiên cứu dưới góc độ kỹ thuật để làm rõ các vấn đề về tiềm năng lợi thế, xác định các biện pháp kỹ thuật trồng cơ bản, hoàn thiện quy trình trồng trọt, xây dựng các mô hình kinh tế hộ trồng cây thuốc… nhằm

nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế của một số cây thuốc có giá trị kinh tế cao, có thị trường, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá ở Sa Pa.

Hay nghiên cứu của Trần Anh Tuấn và Trương Ngọc Kiểm (2017) về “Đánh giá tiềm năng tài nguyên khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn (thuộc tỉnh Lào Cai) phục vụ quy hoạch phát triển cây Tam thất. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã thu thập các thông số sinh thái (nhiệt độ trung bình năm, lượng mưa trung bình năm, độ dài

23

mùa lạnh, độ dài mùa khô, tổng số giờ nắng, số ngày có sương muối, các điều kiện xây

dựng đồng ruộng…) của khu vực Hoàng Liên Sơn từ năm 1960 đến 2015, trên cơ sở đó, phân tích đánh giá mức độ thích nghi của cây Tam thất, kết quả cho thấy điều kiện khí hậu khu vực này tương đối thuận lợi cho việc trồng cây Tam thất trong tương lai và có thể mở rộng diện tích tại các vùng có điều kiện thích hợp hơn.

Dưới góc độ kinh tế, nghiên cứu của Đại học Thái nguyên (2018) về “Tiềm năng, lợi thế phát triển cây Dược liệu giá trị kinh tế cao trên đất đồi núi tại tỉnh Lào Cai” đã đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong phát triển cây dược liệu tại Lào Cai và thực trạng tình hình sản xuất vùng trồng dược liệu tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2016 trên các khía cạnh gồm diện tích trồng, hiệu quả kinh tế của một số loại cây dược liệu dựa trên số liệu về năng suất bình quân (tấn/ha), giá bán bình quân

(triệu đồng/ tấn) và tổng thu. Từ đó đã đề xuất một số giải pháp quy hoạch phát triển cây dược liệu gồm đầu tư, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng cần thiết cho vùng quy hoạch trồng dược liệu, đầu tư cho khoa học công nghệ, đào tạo tập huấn, thị trường tiêu thụ và xúc tiến thương mại, và cơ chế, chính sách. Năm 2016, tỉnh Lào Cai cũng đã phê duyệt “Quy hoạch phát triển dược liệu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, trong đó đưa ra các quy hoạch tổng thể về chủng loại, số lượng và vùng dược liệu tại tỉnh Lào Cai.

Ngoài ra khá nhiều các hội nghị, diễn đàn của các cơ quan quản lý Nhà nước

cũng đã đề cập đến vấn đề phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu ở Lào Cai, như Hội thảo “Giải pháp quy hoạch vùng sản xuất và phát triển cây dược liệu bản địa trên địa bàn tỉnh Lào Cai” tháng 12/2016 do Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Tỉnh Lào Cai tổ chức, đã chỉ ra rằng việc sản xuất kinh doanh dược liệu trên thực tế của Lào Cai còn gặp rất nhiều hạn chế, tồn tại như: việc quy hoạch, khuyến khích sản xuất dược liệu mới chỉ dừng lại ở một số loại cây trồng, việc gắn kết với các cơ sở sản xuất dược liệu với người dân còn hạn chế; chưa xây dựng được thương hiệu cho cây dược liệu tại Lào Cai. Hội thảo “Đối thoại chính sách phát triển dược liệu theo hướng chuẩn hoá tại Lào Cai và Việt Nam” do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lào Cai phối hợp với Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam và tổ chức Helvetas Việt Nam

tổ chức tháng 6/2017 đã thảo luận một số nội dung: tình hình phát triển và chuỗi giá trị một số dược liệu ở vùng núi phía Bắc Việt Nam; chia sẻ kinh nghiệm liên quan đến phát triển dược liệu bền vững, hiệu quả; tìm hiểu về tiềm năng, thách thức và bàn về giải pháp để phát triển dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai và ở Việt Nam; lấy ý kiến tham vấn về các chính sách phát triển dược liệu bền vững. Hội thảo “Giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững cây dược liệu bản địa Lào Cai” do Liên hiệp các Hội khoa

24

học và kỹ thuật tỉnh tổ chức tháng 8/2017 cũng đã đánh giá Lào Cai là địa phương có

nguồn dược liệu phong phú và đa dạng bậc nhất trong cả nước, điều kiện tự nhiên, sinh thái phù hợp với nhiều cây thuốc quý, có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên việc phát triển cây dược liệu bền vững còn nhiều khó khăn, nhiều loài quý hiếm đang bị đe doạ, tính đa dạng phong phú đang ngày càng bị mất đi, việc sản xuất giống khó khăn, quy trình kỹ thuật sản xuất chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm… từ đó hội thảo cũng đã đề xuất giải pháp chủ yếu hướng đến bảo tồn, phát triển giống và liên kết chuỗi giá trị trên cây dược liệu; bảo tồn nguồn gen; quy hoạch vùng trồng cây dược liệu; quan tâm đến công

tác tuyên truyền và nâng cao trình độ kỹ thuật cho người dân.

1.4. Đánh giá tổng quan các nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

Qua tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến

phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu nêu trên, luận án rút ra một số nhận xét như sau:

Đối với các nghiên cứu ngoài nước: phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu được nghiên cứu khá nhiều, với nhiều khía cạnh khác nhau, ở nhiều giai đoạn khác nhau đều đã chỉ ra vai trò quan trọng của cây dược liệu và sự cần thiết phải phat triển cây dược liệu theo hướng bền vững. Tuy nhiên, chủ yếu các nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ các giải pháp kỹ thuật nhằm hướng tới việc duy trì sự đa dạng sinh

học, hiệu quả trong khai thác, canh tác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên dược liệu nhằm đáp ứng các nhu cầu của người dân không chỉ ở hiện tại mà cả trong tương lai. Các nghiên cứu mang tính lý luận về phát triển theo hướng bền vững

cây dược liệu dưới góc độ kinh tế, xã hội và môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Đây là khoảng trống để luận án tiếp tục nghiên cứu. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng khung phân tích phù hợp để giải quyết vấn đề phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững ở Việt Nam nói chung và ở Lào Cai nói riêng theo góc độ kinh tế, xã

hội và môi trường là cần thiết.

Đối với các nghiên cứu trong nước:

Các nghiên cứu về phát triển cây dược liệu ở Việt Nam mặc dù còn khá hạn

chế, song cũng đã đạt được một số kết quả:

- Các nghiên cứu đã chỉ ra tiềm năng và lợi thế để phát triển cây dược liệu Việt Nam nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng. Từ đó cho thấy việc nghiên cứu để xây dựng các giải pháp phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu ở Việt Nam nói chung và

Lào Cai nói riêng là cần thiết.

25

- Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra được những biểu hiện thiếu bền vững trong

phát triển cây dược liệu ở một số địa phương ở Việt Nam trong những giai đoạn vừa qua, đó là nguồn dược liệu đang bị giảm dần tính đa dạng, phong phú, hiệu quả sản xuất cây dược liệu chưa cao, phát triển cây dược liệu chưa tương xứng với tiềm năng…và nguyên nhân của những biểu hiện thiếu bền vững này. Đây là những đánh giá ban đầu, gợi ý cho luận án trong quá trình nghiên cứu, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu để luận án có những đánh giá đầy đủ, hoàn thiện và cập nhật hơn về thực trạng phát triển cây dược liệu tại Lào Cai hiện nay.

- Các nghiên cứu cũng đã đề xuất được các giải pháp nhằm phát triển cây dược liệu. Tuy nhiên, phần lớn các giải pháp được đưa ra dưới góc độ quy trình kỹ thuật sản xuất, còn thiếu các giải pháp dưới góc độ quản lý và kinh tế. Vì vậy vẫn cần có những

nghiên cứu để có hệ thống các giải pháp đồng bộ phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu.

- Đối với các nghiên cứu liên quan đến phát triển cây dược liệu ở Lào Cai: đã đánh giá được tiềm năng và lợi thế của Lào Cai trong phát triển cây dược liệu, đánh

giá được thực trạng phát triển cây dược liệu Lào Cai ở một số khía cạnh như vấn đề quy hoạch vùng trồng, bảo tồn, sản xuất, hiệu quả…. Chỉ ra được các hạn chế trong phát triển cây dược liệu ở Lào Cai cũng như đưa ra các giải pháp để phát triển cây dược liệu ở Lào Cai. Tuy nhiên, những phân tích đánh giá trên chủ yếu từ thực tiễn,

theo góc độ quy trình kỹ thuật, những phân tích từ góc độ kinh tế chưa được làm rõ, đồng thời các nghiên cứu mang tính toàn diện về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững thì chưa được thực hiện. Vì vậy, đây cũng là một khoảng trống để luận án

tìm hiểu.

Từ những phân tích, đánh giá khoảng trống nêu trên, luận án sẽ giải quyết các

vấn đề sau:

Thứ nhất, luận án sẽ xây dựng và hoàn thiện khung phân tích về phát triển cây

dược liệu theo hướng bền vững (làm rõ nội hàm, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng) trên góc độ kinh tế, xã hội và môi trường.

Thứ hai, luận án phân tích đánh giá toàn diện thực trạng phát triển cây dược liệu

ở Lào Cai theo hướng bền vững để từ đó rút ra được những thành tựu cũng như những hạn chế, phân tích nguyên nhân gây ra những hạn chế này để có cơ sở đề xuất các giải pháp và kiến nghị để phát triển cây dược liệu ở Lào Cai theo hướng bền vững trong thời gian tới.

26

Tiểu kết chương 1

Chương 1 luận án đã tổng quan một số nghiên cứu cả trong và ngoài nước có liên quan đến phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu. Qua đó đã hình thành nên cơ sở lý thuyết ban đầu cho nghiên cứu. Tuy nhiên, cũng qua tổng quan một số nghiên cứu nêu trên, luận án đã rút ra được một số khoảng trống để tiếp tục nghiên cứu: về lý luận: (1) nội hàm về phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu nhìn từ góc độ kinh tế, xã hội và môi trường vẫn chưa được hoàn thiện, (2) còn thiếu các tiêu chí để đánh giá phat triển cây dược liệu theo hướng bền vững từ góc độ kinh tế, xã hội và môi

trường; (3) chưa hệ thống được các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững, về thực tiễn: (1) còn thiếu các đánh giá toàn diện về phát triển dược liệu ở Việt Nam theo hướng bền vững nói chung và ở Lào Cai nói riêng. Trên cơ

sở các khoảng trống nghiên cứu này, luận án sẽ giải quyết hai vấn đề sau: Thứ nhất, xây dựng hoàn thiện khung phân tích về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững (làm rõ nội hàm, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng) trên góc độ kinh tế, xã hội và môi trường. Thứ hai, phân tích đánh giá toàn diện thực trạng phát triển cây dược liệu ở

Lào Cai theo hướng bền vững để từ đó rút ra được những thành tựu cũng như những hạn chế, phân tích nguyên nhân gây ra những hạn chế này để có cơ sở đề xuất các kiến nghị và giải pháp để phát triển cây dược liệu ở Lào Cai theo hướng bền vững thời gian tới. Những vấn đề này sẽ được giải quyết trong các chương tiếp theo của luận án.

27

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

2.1. Khái niệm cơ bản về phát triển và phát triển theo hướng bền vững

2.1.1. Khái niệm về phát triển

Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù dùng để chỉ “quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật” (Nguyễn Ngọc Long và cộng sự, 2006). Cụ thể hơn, phát triển là sự tiến triển theo chiều hướng đi lên của các phương thức sản xuất, các hình thái kinh tế-xã hội đã và đang diễn ra trong lịch sử loài người do sự tác

động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong đó sự phát triển của lực lượng sản xuất, của cơ sở hạ tầng kinh tế đóng vai trò quyết định cho sự phát triển của toàn xã hội (Nguyễn Ngọc Long và cộng sự, 2006). Seers (1969) đưa ra

các vấn đề cụ thể hơn đối với sự phát triển của một quốc gia như đói nghèo, tỉ lệ thất nghiệp và bất bình đẳng. Nếu 03 vấn đề này giảm đáng kể so với trước đây thì quốc gia đó được gọi là đang trong giai đoạn phát triển. Sen (1988) cho rằng quá trình phát triển kinh tế gắn liền với việc mở rộng nguồn cung thực phẩm, quần áo, chỗ ở, các

dịch vụ y tế, giáo dục và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả. Hay nói cách khác, phát triển là hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn như tuổi thọ tăng lên. Mức sống được cải thiện, con người được chăm sóc y tế, được đối xử công bằng và có quyền được

sống theo ý nguyện của bản thân (Sen, 1988).

Phát triển trong sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ. Trong đó con người luôn đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những nguồn lực tự nhiên sẵn có để tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những điều kiện vật chất

khác nhằm phục vụ cuộc sống (Nguyễn Văn Hóa, 2014). Phát triển trong sản xuất thể hiện ở việc phát triển từ nền kinh tế tự cung tự cấp (chỉ sản xuất phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình) đến nền kinh tế thị trường, nơi con người không

những có thể tự sản xuất phục vụ nhu cầu bản thân mà còn sản xuất dư thừa để trao đổi. Đây là hình thái phát triển theo kiểu sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy mô lớn, khối lượng nhiều. Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh cao, tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao. Đối

với xã hội, phát triển sản xuất góp phần thay đổi hạ tầng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống, xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, nâng cao tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu chuẩn về giáo dục, sức khỏe và môi trường.

28

Phát triển cây dược liệu là một phạm trù thuộc phát triển sản xuất vật chất. Do

đó khái niệm phát triển cây dược liệu cũng bao gồm các quan điểm cơ bản như sau: - Phát triển gắn liền với sự gia tăng về số lượng và thay đổi chất lượng - Phát triển được hiểu là phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu - Phát triển là tăng trưởng quy mô và hoàn thiện về cơ cấu.development

2.1.2. Khái niệm về phát triển theo hướng bền vững

Vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, loài người đã phải đương đầu với

những thách thức lớn do suy thoái về nguồn lực và ô nhiễm môi trường. Trước tình hình đó, quan điểm mới về phát triển đã được đặt ra, đó là phát triển theo hướng bền vững (PTTHBV). Mặc dù PTTHBV được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, báo cáo của Brundlant (1987) đã đưa ra một khái niệm về PTTHBV được thừa nhận một cách rộng rãi nhất ở cấp độ quốc tế. Theo đó, “phát triển theo hướng bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu riêng của họ”. Ba trụ cột chính của phát triển theo hướng bền vững bao gồm: đảm bảo sự bền vững dài hạn của hệ sinh thái; thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người; khuyến khích công bằng xã hội trong phạm vi quốc gia và toàn cầu (Holden và cộng sự, 2014). Kể từ khi hội nghị thượng đỉnh về địa cầu ở Rio de Jareiro, Braxin năm 1992, cộng đồng quốc tế nói chung đã tán thành quan

niệm về PTTHBV được nêu trong báo cáo của Brundtlant (1987). 10 năm sau, tại Hội nghị thượng định thế giới về PTTHBV nhóm họp tại Johannesburg (Nam Phi, 2002), nội hàm của PTTHBV đã được Liên Hiệp Quốc tái khẳng định “PTTHBV là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” (hình 2.1).

Hình 2.1: Sơ đồ PTTHBV theo quan điểm của thế giới (UNESCO)

Nguồn: European Environment Agency, eea.europa.eu.

29

Tại Việt Nam, quan điểm PTTHBV cũng được thể hiện rõ thông qua chương

trình nghị sự 21 của Chính phủ (2004) và chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phú phê duyệt năm 2012. Theo đó, nội hàm của ba trụ cột PTTHBV là:

Về kinh tế: Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế các bon thấp. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi

nguồn lực.

Về xã hội: Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh

phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo ý thức công dân, tuân thủ pháp luật. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trở thành động lực phát triển quan trọng. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Về môi trường: Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường. Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo. Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn

đa dạng sinh học

Hình 2.2: Nội hàm của PTTHBV theo quan điểm của Việt Nam

Nguồn: Ngô Thắng Lợi, Vũ Thành Hưởng (2015)

30

Tóm lại có nhiều quan điểm khác nhau về PTTHBV, nhưng chung quy lại

PTTHBV được coi là sự phát triển cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Nó

lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường.

Nó đảm bảo thoả mãn những nhu cầu cho hiện tại mà không phương hại đến khả năng

đáp ứng những nhu cầu trong tương lai. Về kinh tế đó là sự tăng trưởng, hiệu quả và

ổn định; về xã hội là việc giảm đói nghèo, xây dựng thể chế, bảo tồn di sản và văn hoá

dân tộc; còn về mặt môi trường đó là đa dạng sinh học và thích nghi, bảo tồn tài

nguyên thiên nhiên và ngăn chặn ô nhiễm.

2.1.3. Khái niệm về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

Do cây dược liệu được xếp vào cây nông nghiệp vì vậy phần dưới đây tác giả

trình bày về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững để làm cơ sở xây dựng

2.1.3.1. Nội hàm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững.

Ngày nay, quan niệm PTTHBV không chỉ được áp dụng cho toàn bộ nền kinh

tế nói chung mà còn được áp dụng cho các ngành nghề nói riêng, trong đó phát triển

nông nghiệp theo hướng bền vững là một khái niệm được nghiên cứu rất rộng rãi do

những vấn đề ngày một nổi cộm của lĩnh vực nông nghiệp như khí hậu nóng lên,

biến đổi khí hậu, ô nhiễm, sói mòn đất và mất đa dạng sinh học (Burch và cộng sự,

2007; Godfray và cộng sự, 2010; Moss, 2008; Pretty, 2008). Hiện tại, có hơn 70 định

nghĩa về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững (Phạm Văn Lương, 2014) do

quan niệm về nông nghiệp theo hướng bền vững khá mơ hồ và thường được điều

chỉnh theo các phương thức đánh giá (Bell và Morse, 2013) nên còn nhiều điều chưa

được thống nhất về quan niệm này. Theo FAO (1990): "Phát triển nông nghiệp theo

hướng bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm

đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai

sau. Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi

trồng thuỷ sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài

nguyên, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội”.

Maureen (1990) cho rằng không thể có khuôn mẫu chung cho phát triển nông

nghiệp theo hướng bền vững ở các vùng khác nhau, các trang trại khác nhau do

nông nghiệp theo hướng bền vững tương ứng với nông nghiệp linh hoạt, chứa đựng

các loại hình canh tác đa dạng, trong đó mỗi loại hình có khả năng thích ứng với

31

một kiểu trang trại cụ thể trong những điều kiện cụ thể về điều kiện tự nhiên, đất

đai và con người. Mollison và Slay (1994) cho rằng “nông nghiệp theo hướng bền

vững” là một hệ thống được thiết kế để ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về

kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất

đai, không làm ô nhiễm môi trường. Nông nghiệp theo hướng bền vững sử dụng

những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đặc trưng của cảnh quan

và cấu trúc, trên những diện tích đất sử dụng thấp nhất, nhờ vậy con người có thể

tồn tại được, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú trong thiên nhiên một cách bền

vững mà không liên tục hủy diệt sự sống trên trái đất. Đồng quan điểm trên,

Swaminathan (2006) cho rằng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững phải đạt

được tính hiệu quả trường tồn mà không làm phương hại đến môi trường sinh thái

và xã hội. Tại các quốc gia đang phát triển, một nguyên tắc quan trọng của phát

triển nông nghiệp theo hướng bền vững là đạt được mục tiêu hiệu quả lâu dài trong

khi vẫn bảo tồn được các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất và nước

2.1.3.2. Các tiêu chí đánh giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

(Zhen và Routray, 2003).

Như ta đã biết, nội hàm của phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững xoay

quanh 03 trụ cột bao gồm kinh tế, xã hội và môi trường. Để cụ thể hóa 03 trụ cột của

khái niệm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, các nhà khoa học trên thế giới

đã dày công xây dựng bộ tiêu chí đánh giá bao gồm 03 nhóm: (1) nhóm các tiêu chí về

môi trường, (2) nhóm các tiêu chí về kinh tế và (3) nhóm các tiêu chí về xã hội, cụ thể

như sau:

Nhóm các tiêu chí về môi trường tập trung đánh giá hai nguồn tài nguyên quan

trọng nhất của nông nghiệp đó là đất và nước. Do đó tiêu chí môi trường thường quan

tâm đến quản lý phân bón, quản lý nguồn nước và quản lý sâu bệnh. Các tiêu chí môi

trường cụ thể hơn bao gồm độ phì nhiêu của đất (Speelman và cộng sự, 2007); mức độ

sử dụng phân bón hóa học (OECD, 2001; Praneetvatakul và cộng sự, 2001); sử dụng

thuốc trừ sâu (WHO, 2003; Praneetvatakul và cộng sự, 2001); mức độ xuất hiện của

sâu bệnh (Praneetvatakul và cộng sự, 2001), dịch bệnh và hiệu quả sử dụng nguồn

nước (OECD, 2001) là các tiêu chí được sử dụng phổ biến khi đánh giá nông nghiệp

theo hướng bền vững từ khía cạnh môi trường. Bảng 2.1 dưới đây tóm tắt các tiêu chí

môi trường được sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu trước đây.

32

Bảng 2.1: Các tiêu chí môi trường đánh giá nông nghiệp theo hướng bền vững

Cách đo

Tài liệu tham khảo

Nhóm các tiêu chí môi trường

Độ phì nhiêu của đất

Praneetvatakul và cộng sự (2001); Pretty và cộng sự (2003); Rasul và Thapa (2004); Roy và Chan (2012)

Đo trực tiếp thông qua các thông số về cấu trúc vật chất của đất, chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và sói mòn đất; hoặc đo gián tiếp thông qua năng suất; việc sử dụng các nguyên liệu đầu vào (phân bón) trong nông nghiệp

Sâu bệnh và dịch bệnh

Được đo bằng tần suất xuất hiện của sâu bệnh và dịch bệnh, hoặc việc sử dụng các biện pháp kiểm soát sâu bệnh

Praneetvatakul và cộng sự (2001); Pretty và cộng sự (2003); Roy và Chan (2012)

Hiệu quả sử dụng nguồn nước

Đo bằng tổng sản lượng nông nghiệp trên một đơn vị (m khối) nước tưới tiêu

Pretty và cộng sự (2003); Rao và Rogers (2006); Roy and Chan (2012)

Được đo bằng tỷ lệ sử dụng (kg/ha)

OECD (2001); Praneetvatakul và cộng sự (2001); Pretty và cộng sự (2003)

Tình hình sử dụng phân bón hóa học

Đo bằng tỷ lệ sử dụng (lít/Ha)

OECD (2001);Praneetvatakul và cộng sự (2001); Pretty và cộng sự (2003)

Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu hóa học

Nguồn: Tác giả tổng hợp Nhóm các tiêu chí về kinh tế cung cấp thông tin về sản lượng, lợi suất và mức độ ổn định của hệ thống nông nghiệp, trong đó sản lượng vụ mùa (Rasul và Thapa, 2004) và thu nhập thuần của nông dân/hộ nông dân/ trang trại (OECD, 2001; Rasul và

Thapa, 2004; Roy và cộng sự, 2014; Speelman và cộng sự, 2007) là hai tiêu chí được sử dụng phổ biến.

Bảng 2.2: Nhóm tiêu chí kinh tế đánh giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

Nhóm tiêu chí kinh tế Cách đo Tài liệu tham khảo

Năng suất cây trồng Tổng sản lượng của vụ mùa Rasul và Thapa (2004); Roy và

Chan (2012)

Tổng thu nhập trừ chi phí (2001); Rasul

Thu nhập thuần của hộ gia đình/trang trại OECD và Thapa (2004) ; Speelman và cộng

sự (2007); Roy và Chan (2012)

Nguồn: Tác giả tổng hợp

33

Các tiêu chí về xã hội đánh giá sự lan tỏa tích cực của nông nghiệp đến xã hội. Các tiêu chí đánh giá phổ biến bao gồm giải quyết việc làm, nâng cao trình độ học vấn và xóa đói giảm nghèo (Nguyễn Văn Hóa, 2013).

Bảng 2.3: Nhóm tiêu chí xã hội đánh giá phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

Nhóm tiêu chí xã hội Cách đo Tài liệu tham khảo

Giải quyết việc làm Số việc làm mới tăng thêm Nguyễn Văn Hóa (2013)

Xóa đói giảm nghèo Tỷ lệ giảm hộ nghèo Hazell và Wood (2008)

Nâng cao trình độ học vấn Số người được đi học, được OECD (2001)

đào tạo tăng thêm

2.1.3.3. Các nhân tố tác động đến phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

Tiêu chí đánh giá là cần thiết để đánh giá và theo dõi sự PTTHBV của một hệ thống nông nghiệp. Các tiêu chí đánh giá thường tập trung vào kết quả hoặc thực trạng của các hệ thống nông nghiệp do đó không cho biết nhiều về nguyên nhân dẫn đến các kết quả hay thực trạng của hệ thống nông nghiệp. Để có thể đưa ra các chính sách và

Nguồn: Tác giả tổng hợp

các giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững cần phải tìm hiểu thêm về các nhân tố tác động đến sự PTTHBV đó. Từ tổng quan lý thuyết có 05 nhóm nhân tố tác động đến tính bền vững của nông nghiệp bao gồm: nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên (1); nhân tố chủ thể sản xuất (2); nhân tố chính sách và thể chế (3); nhân

tố về liên kết sản xuất (4) và nhóm nhân tố về thị trường (5).

Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên bao gồm chất lượng đất và độ cao của đất, khí hậu, nguồn nước và hiện tượng nóng lên toàn cầu. Theo Nguyễn Văn Hóa

(2013), chất lượng đất và độ cao của đất ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tăng và ổn định năng suất, tuổi thọ và chất lượng cây nông nghiệp (cây cà phê) trong khi đó điều kiện khí hậu ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và chất lượng của cây trồng. Bên cạnh đất đai, nguồn nước là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến năng suất cây

trồng. Sự thiếu hụt nguồn nước là nguyên nhân chính dẫn đến giảm hiệu quả năng suất cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng nóng lên toàn cầu là một trong các vấn đề lớn nhất của nông nghiệp bền vững. Nếu nhiệt độ tăng lên khoảng

(1-3oC), nhiều quốc gia đang phát triển ở Châu Phi và Châu Á sẽ phải đối mặt với hiện tượng giảm sản lượng mùa vụ. Hiện tượng nhiệt độ tăng lên sẽ làm cho các khu vực ẩm ướt trở nên ẩm ướt hơn và các khu vực khô hạn trở nên khô hạn hơn. Nhiệt độ tăng lên cũng dẫn đến hiện tượng đất nông nghiệp ở các quốc gia đang

34

phát triển bị phá hủy do lũ lụt và xâm ngập mặn. Tác động đầy đủ của biến đổi khí

hậu phụ thuộc vào khả năng thích ứng của nông dân bằng cách chuyển đổi giống cây trồng và lịch trình canh tác (IAASTD 2008).

Bảng 2.4: Nhóm nhân tố địa lý và tự nhiên

Cách đo Tài liệu tham khảo Nhóm nhân tố địa lý và tự nhiên

Chất lượng đất Loại đất thích hợp Nguyễn Văn Hóa (2013)

Độ cao của đất m so với mực nước biển Nguyễn Văn Hóa (2013)

Nguồn nước

Đáp ứng đủ yêu cầu tưới tiêu Phạm Văn Lương (2014), Nguyễn Văn Hóa (2013)

Hiện tượng nóng lên Thay đổi nhiệt độ

IAASTD (2008); World Bank (2008); Hazell và Wood (2008)

Nguồn: Tác giả tổng hợp Nhóm nhân tố về chủ thể sản xuất phản ánh các khía cạnh liên quan đến người lao động, sự thuận tiện về giao thương và điều kiện kinh tế và xã hội của chủ thể sản xuất, cụ thể như sau:

(cid:5) Nhân tố về người lao động

Các nhân tố này thường xem xét đánh giá về trình độ giáo dục và trình độ khoa

học kỹ thuật của chủ thể sản xuất.

Thông thường trình độ giáo dục của người lao động có tác động tích cực đến

năng suất sản xuất nông nghiệp. Nông dân có trình độ giáo dục cao có khả năng tiếp

cận với thông tin tốt hơn, áp dụng khoa học kỹ thuật mới sớm hơn và phân bổ nguồn

lực hiệu quả hơn (Reimers và Klasen, 2013). Nghiên cứu của Odendo và cộng sự

(2009) chỉ ra rằng các nông dân có trình độ giáo dục cao thường có xu hướng ứng

dụng các quy trình quản lý độ phì nhiêu của đất, giúp duy trì được độ phì nhiêu của đất

và tránh sói mòn. Nông dân có trình độ giáo dục cao cũng quan tâm hơn đến vấn đề

môi trường và có xu hướng ứng dụng các quy trình bảo vệ môi trường tốt trong quá

trình canh tác (Phạm Văn Lương, 2014). Ngược lại, nông dân có trình độ giáo dục thấp

thường quan tâm đến vấn đề lợi nhuận trước khi nghĩ tới các vấn đề về bảo tồn đất và

môi trường (Reimers và Klasen, 2013). Tuy nhiên theo Phạm Văn Lương (2014),

nông dân có trình độ cao cũng có xu hướng sử dụng nhiều thuốc trừ sâu và phân hóa

học hơn so với nông dân có trình độ thấp. Điều này là do nông dân có trình độ cao có

thể tiếp cận với nhiều loại thuốc trừ sâu và phân hóa học hơn.

35

Trình độ khoa học kỹ thuật cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến phát

triển theo hướng bền vững. Trong những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật phù hợp là một nhân tố quan trọng đối với tính hiệu quả của việc sử dụng nước, chất lượng và độ phì nhiêu của đất, quản lý mùa vụ và sâu bệnh. Điều này góp phần làm nâng cao năng suất vụ mùa và tính bền vững (world bank, 2008). Ví dụ, việc ứng dụng quy trình quản lý côn trùng tích hợp cho thấy thuốc trừ sâu có thể được cắt giảm mà không ảnh hưởng đến sản lượng vụ mùa bằng việc áp dụng nông nghiệp kết hợp giữa tưới tiêu và nước mưa (Pontius và cộng sự, 2002). Ngoài ra, các công trình

nghiên cứu đã cho thấy việc ứng dụng công nghệ sinh học cũng góp phần nâng cao sản lượng và tính bền vững của ngành trồng lúa gạo tại các quốc gia đang phát triển (Brar và Khush, 2013).

(cid:5)Sự thuận tiện trong giao thương

Các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng vị trí có thuận tiện gần chợ, gần đường và sự phát triển của hệ thống giao thông có tác động tích cực đến sự phát triển theo hướng bền vững của nông nghiệp (Teruel & Kuroda, 2005). Theo Phạm Văn

Lương (2014), việc ở gần chợ có tác động tích cực đến nâng cao thu nhập của hộ nông dân, do các hộ có thể dễ dàng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hơn, tiết kiệm chi phí vận chuyển và dễ tiếp cận hơn với các thông tin về giá cả thị trường.

(cid:5)Điều kiện kinh tế và xã hội của chủ hộ

Theo Phạm văn Lương (2014), điều kiện kinh tế xã hội của chủ hộ bao gồm các yếu tố liên quan đến mức sống, thu nhập, khả năng đầu tư nguồn lực cho sản xuất và khả năng huy động vốn. Để đánh giá điều kiện kinh tế và xã hội của chủ hộ, Phạm Văn

Lương (2014) dùng 04 chỉ tiêu bao gồm mức đói nghèo, vay vốn, diện tích canh tác và đầu tư cho hệ thống tưới tiêu. Mức độ đói nghèo từ lâu đã được công nhận là một nhân tố làm suy thoái các nguồn tài nguyên (Hazell&Wood, 2008). Các công trình nghiên cứu trước đây cho rằng các hộ nông dân nghèo thường đánh đổi khả năng sản xuất trong

tương lai để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại (Phạm Văn Lương, 2014). Vì vậy, sự đói nghèo có tác động tiêu cực đến năng suất cây dược liệu. Theo Phạm văn Lương (2014), khả năng vay vốn, đầu tư vào hệ thống tưới tiêu của người nông dân có

tác động tích cực đến năng suất sản xuất nông nghiệp vì người nông dân có thêm vốn đề đầu tư sản xuất và hệ thống tưới tiêu được đầu tư sẽ giúp người nông dân hạn chế được thiệt hại do hạn hán gây ra. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của Phạm Văn Lương (2014) lại chỉ ra rằng diện tích canh tác có tác động ngược chiều đến năng suất nông

nghiệp do khi canh tác trên quy mô lớn việc quản lý, kiểm soát sâu bệnh và chăm sóc cây trồng cũng trở nên khó khăn hơn, ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch.

36

Bảng 2.5: Nhóm nhân tố thuộc về chủ thể sản xuất

STT Các nhân tố Chỉ tiêu đánh giá Cách đo

1. Trình độ giáo dục Số năm đi học

2. Sự sẵn có của nguồn Số người đủ tuổi lao động/hộ Đánh giá về nhân lực 1 người lao

3. Trình độ khoa học kỹ Có/không áp dụng các tiêu động

thuật của chuẩn kỹ thuật hoặc quy trình

quản lý kỹ thuật hay sâu bệnh

2 Sự thuận tiện 0=ở xa chợ 3km trở lên; 1=ở 6. Có gần chợ không

gần chợ từ 3 km trở xuống trong giao

thương 7. Vị trí của hộ 0= đồng bằng, 1= vùng núi

hộ không nghèo=0, hộ nghèo=1 1. Mức đói nghèo

2. Vay vốn 0= không, 1= có Điều kiện 3 3. Đầu tư cho hệ thống 0=không, 1=có kinh tế và xã tưới tiêu hội của chủ

4. Tổng diện tích canh Mét vuông hộ

tác

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Nhóm nhân tố chính sách và thể chế bao gồm khả năng quản trị hành chính công và các chính sách đầu tư vào nông nghiệp (Barrett và cộng sự, 2005; Burch và cộng sự, 2007; Lio và Liu, 2008). Tất cả các nhân tố này là các động lực và có tác

động đến sự PTTHBV của một hệ thống nông nghiệp.

Bảng 2.6: Nhóm nhân tố về chính sách và thể chế

Nhân tố về chính trị và thế chế Tài liệu tham khảo

Lio và Liu (2008), World bank (2008)

Khả năng quản lý của các cơ quan nhà nước (yếu hay mạnh)

Chính sách hỗ trợ và đầu tư của nhà Fan và cộng sự (2004), Fan và Chang-

nước vào nông nghiệp (có/không) Kang (2004)

37

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Khả năng quản lí của cơ quan nhà nước là một nhân tố quan trọng cho sự PTTHBV của ngành nông nghiệp nói riêng và sự phát triển bên vững của toàn bộ nên kinh tế nói chung. Theo công trình nghiên cứu của Lio và Liu (2008), các quốc gia có cùng một mức độ về giáo dục và điều kiện khí hậu nhưng có trình độ quản lý tốt hơn (về hệ thống luật pháp, kiểm soát tham nhũng, chất lượng hành pháp tốt, chính trị ổn định) có sản lượng nông nghiệp cao hơn. Mặt khác, khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ công cũng rất cần thiết cho phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. Ví dụ

Fan và cộng sự (2004) chỉ ra rằng khả năng của chính phủ trong việc cung cấp tài chính cho các chương trình nghiên cứu và phát triển, hệ thống tưới tiêu, đường xá, giáo dục nông thôn có tác động tích cực đến PTTHBV.

Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học và kỹ thuật cũng tác động tích cực đến năng suất nông nghiệp theo Zepeda (2001). Tuy nhiên việc trợ giá cho nguyên liệu đầu vào của nông nghiệp lại không tác động tích cực đến phát triển nông nghiệp bền vững mà ngược lại khuyến khích việc sử dụng các nguồn lực không

hiệu quả (world bank, 2008). Ví dụ, việc trợ giá cho phân bón và thuốc trừ sâu dẫn đến việc sử dụng tràn làn các loại chất hóa học này và gây nên ô nhiễm môi trường (Tilman và cộng sự, 2002).

Nhóm nhân tố về liên kết trong tổ chức sản xuất phản ánh các hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp nhằm tối đa hóa hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Các hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp bao gồm liên kết giữa các hộ nông dân với doanh nghiệp, chia sẻ lợi ích cộng đồng trong sản xuất nông nghiệp, các mô hình sản

xuất kết hợp giữa hộ nông dân, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà nước, nhà truyền thông.., sự tham gia của các hiệp hội.

Theo Phan Văn Tân và cộng sự (2013), việc liên kết giữa các chủ thể trong

chuỗi giá trị của sản xuất nông nghiệp có tác động tích cực đến sự phát triển theo

hướng bền vững của sản xuất nông nghiệp. Tác giả cho rằng để phát triển nông

nghiệp bền vững cần có sự liên kết phù hợp giữa 4 nhà: Nhà nước - nhà khoa học -

doanh nghiệp và nhà nông; đặc biệt cần sự tham gia, liên kết chặt chẽ giữa doanh

nghiệp chế biến và nhà nông.

Các tổ chức hay hiệp hội các nhà sản xuất đóng vai trò quan trọng đối với

ngành nông nghiệp quy mô nhỏ (Pretty và cộng sự, 2003). Các hiệp hội này có thể

nâng cao năng lực tiếp cận thị trường của các sản phẩm nông nghiệp thông qua việc

giảm chi phí giao dịch, nâng cao khả năng cạnh tranh của nhà sản xuất, khuyến khích

38

áp dụng khoa học kỹ thuật thông qua tương tác và học hỏi cộng đồng, đồng thời giúp

cho nông dân có thể tham gia sâu hơn vào quá trình ra quyết định và đối thoại với các

bên (World bank, 2008). Theo công trình nghiên cứu của Pretty và Ward (2001), việc

xây dựng các hiệp hội, các nhóm các nhà sản xuất giúp ra tăng nguồn lực vốn xã hội

trong ngành nông nghiệp và góp phần tăng sản lượng, hiệu quả sử dụng nguồn nước và

tính công bằng.

Nhóm nhân tố thị trường gồm quan hệ cung cầu, công tác xuất khẩu và nhu cầu

tiêu thụ nội địa (Nguyễn Văn Hóa, 2013). Theo lý thuyết, quan hệ cung cầu chịu ảnh

hưởng của giá cả, công tác xuất khẩu phụ thuộc vào nhu cầu tiêu thụ trên thế giới, chất

lượng sản phẩm và thương hiệu sản phẩm trong khi đó nhu cầu tiêu thụ nội địa phụ thuộc

vào quy mô thị trường trong nước, thói quen tiêu dùng và chất lượng sản phẩm

Như vậy, cơ sở lý luận về phát triển bền vững nông nghiệp đã đưa ra nội hàm

về phát triển theo hướng bền vững nông nghiệp và khung lý thuyết bao gồm các tiêu

chí và các nhân tố nhằm đánh giá sự phát triển theo hướng bền vững của nông nghiệp.

Tuy nhiên đây là khung lý thuyết chung cho ngành nông nghiệp nên cần có sự điều

chỉnh cho phù hợp với từng loại cây cụ thể. So với các loài cây nông nghiệp khác, cây

dược liệu có những đặc thù riêng biệt, chính vì vậy phần tiếp theo của luận án sẽ phát

triển khung phân tích cụ thể cho phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững.

2.2. Khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của cây dược liệu

2.2.1.1. Khái niệm

Theo Luật Dược năm 2016 “dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn

gốc tự nhiên từ thực vật, động vật, khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc”. Như

vậy cây dược liệu được hiểu là thực vật đạt tiêu chuẩn làm thuốc hay gọi ngắn gọn

là cây thuốc. Theo Tổ chức nông nghiệp và lương thực liên hợp quốc (FAO), thuật

ngữ phổ biến dùng để chỉ cây dược liệu là Medicinal Aromatic Plants (MAPs),

được định nghĩa là những cây thuốc giúp con người phòng ngừa bệnh tật, duy trì

sức khỏe hoặc chữa bệnh (Marshall, 2011).

Có nhiều cách phân loại cây dược liệu khác nhau tùy theo hoạt chất chữa

bệnh, đặc điểm sinh học, công dụng chữa bệnh và nguồn gốc hình thành. Căn cứ

vào nhu cầu nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng cách phân loại dựa theo nguồn

gốc hình thành. Theo đó, cây dược liệu được phân loại thành cây dược liệu tự nhiên

và cây dược liệu nuôi trồng.

39

2.2.1.2. Đặc điểm của cây dược liệu

So với các loài cây lương thực như ngô và lúa, cây dược liệu có những đặc

điểm khác biệt cụ thể như sau:

Thứ nhất, khác với cây ngô và cây lúa dùng để đáp ứng nhu cầu về lương thực của người dân, cây dược liệu được dùng để làm thuốc và chế biến thành các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Do đó, cây dược liệu cần có thị trường đầu ra và sự hỗ trợ của tri thức về y tế, hóa dược để phát triển cây dược liệu thành hàng hóa.

Thứ hai, nguồn cung cây dược liệu bao gồm cây dược liệu tự nhiên và cây dược

liệu canh tác, trong đó cây dược liệu tự nhiên chiếm đa số. Đặc điểm này dẫn đến việc

phát triển cây dược liệu gắn liền với việc bảo tồn và duy trì nguồn dược liệu tự nhiên

song song với nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu.

Thứ ba, cây dược liệu gắn liền với văn hóa và tín ngưỡng của người dân bản

địa. Do y học cổ truyền đã được hình thành từ ngàn đời xưa ở nhiều vùng miền trên

thế giới, nên việc sử dụng cây dược liệu để chữa bệnh trong dân gian rất phong phú và

đa dạng. Ở nhiều nơi, y học cổ truyền với các bài thuốc dân gian đã trở thành phương

thức chữa bệnh chủ yếu cho người dân và cây dược liệu trở thành biểu tượng gắn liền

với văn hóa và tín ngưỡng của những người dân nơi đây. Chính vì vậy, phát triển cây

dược liệu cũng cần gắn liền với việc lan tỏa tích cực đến xã hội và cộng đồng trong

việc duy trì và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.

Thứ tư, so với cây ngô và cây lúa, cây dược liệu có rất nhiều loài, mỗi loài có

các đặc điểm sinh học và hoạt chất chữa bệnh rất khác nhau. Chính vì sự phức tạp này

nên để phát triển cây dược liệu cần có sự hỗ trợ đồng bộ của khoa học kỹ thuật và

nghiên cứu cơ bản trong việc xây dựng các cơ sở dữ liệu về cây dược liệu, kỹ thuật

bào chế thuốc từ cây dược liệu.

Thứ năm, vì cây dược liệu được dùng để chữa bệnh nên yếu tố sạch trong chất

lượng cây dược liệu được đề cao hơn bao giờ hết. Chất lượng cây dược liệu bên cạnh

các quy định về hàm lượng hoạt chất chữa bệnh còn được đánh giá trên khía cạnh sạch

và thân thiện với môi trường.

Thứ sáu, sản xuất cây dược liệu đòi hỏi kỹ thuật canh tác và kỹ thuật chế biến

phức tạp. Do cây dược liệu được dùng để sản xuất thuốc nên các yêu cầu về chất

lượng sản phẩm rất chặt chẽ, vì vậy cây dược liệu cần được canh tác theo đúng kỹ

thuật. Mặt khác, cây dược liệu chỉ phù hợp ở một số nơi không thể trồng đại trà như

40

cây ngô cây lúa do vậy quy trình canh tác cây dược liệu phải đảm bảo được các yếu

tố kỹ thuật như độ ẩm, ánh sáng, chất đất và nguồn nước. Mặt khác để duy trì được

chất lượng sản phẩm vấn đề sơ chế và chế biến cũng rất quan trọng. Khác với cây

ngô cây lúa chỉ cần sân phơi, máy sát, cây dược liệu đòi hỏi quy trình từ khi trồng

trọt, thu hái, sơ chế, chiết suất và nấu cao phức tạp hơn.

2.2.2. Phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

2.2.2.1. Nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Như đã phân tích ở trên, cây dược liệu được xếp là một loại cây nông nghiệp. Tuy nhiên so với các loại cây nông nghiệp thông thường khác, cây dược liệu có những đặc điểm khác biệt như nguồn cung chủ yếu là cây dược liệu mọc tự nhiên, cần thị trường đầu ra để phát triển thành hàng hóa, yêu cầu cao về tính sạch và chất lượng. Vì vậy, căn cứ vào nội hàm về phát triển theo hướng bền vững nông nghiệp, tổng quan

nghiên cứu về phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu và những đặc điểm khác biệt của cây dược liệu so với các loài cây nông nghiệp thông thường khác, tác giả định nghĩa phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững như sau:

“Phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững là việc duy trì, bảo tồn, mở

rộng về quy mô và số lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất, và tăng cường sự lan tỏa tích cực đến xã hội và môi trường”

Cụ thể hơn, nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững bao hàm các

nội dung chính như sau:

- Duy trì, bảo tồn và mở rộng về quy mô và số lượng

(1) Duy trì là việc đảm bảo nguồn tài nguyên dược liệu không bị cạn kiệt do khai thác tràn lan. (2) Bảo tồn là việc áp dụng các phương pháp kỹ thuật sinh học (bảo tồn chuyển vị và bảo tồn nguyên vị) nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học của các loài cây dược liệu tự nhiên, duy trì và phát triển nguồn gen giống cũng như khôi phục lại các loài cây dược liệu đang có nguy cơ tuyệt chủng. Có thể nói, đây là một nội dung rất quan trọng của phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu do thực tế nguồn cung cây dược liệu chủ yếu là dược liệu tự nhiên đang bị khai thác tràn lan và cạn kiệt, trong đó có rất nhiều loài cây dược liệu quý hiếm đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Để duy trì nguồn tài nguyên dược liệu cần có các giải pháp đồng bộ như đào

tạo cho người dân tập quan thu hái dược liệu tốt, sử dụng dược liệu bền vững (ví dụ thay vì nhổ cả cây chỉ thu hoạch một phần của cây dược liệu), ngăn chặn nạn phá rừng. Để bảo tồn cây dược liệu, cần thực hiện đồng bộ các kỹ thuật bảo tồn tiên tiến như

41

hình thành các khu bảo tồn thiên nhiên tại nơi cây dược liệu sinh sống, đưa các cây

dược liệu có nguy cơ tuyệt chủng vào vườn ươm trồng để nuôi trồng và nhân giống, xây dựng ngân hàng gen và giống của các loài dược liệu quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng. (3) Mở rộng về quy mô và số lượng là việc gia tăng về số lượng và diện tích canh tác cây dược liệu. Khía cạnh này của phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tập trung vào sự tăng trưởng trong việc phát triển sản xuất cây dược liệu. Có thể nói, để phát triển cây dược liệu theo hướng bến vững trước hết cây dược liệu phải được trồng và sản xuất với số lượng và quy mô ngày càng tăng, hay nói cách khác

trước tiên cây dược liệu phải được phát triển.

- Nâng cao hiệu quả sản xuất

Nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu là việc tăng cường các yếu tố kinh tế trong sản xuất (nuôi trồng) cây dược liệu. Để nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu đòi hỏi người sản xuất cần phải sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào nhằm nâng cao năng suất và chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời phải xúc tiến và nỗ lực nhằm cải thiện và sử dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, sản xuất dược liệu

theo chứng chỉ dược liệu sạch (GACP-WHO) để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm nhằm gia tăng thu nhập cho người nông dân trồng dược liệu.

- Tăng cường sự lan tỏa tích cực đến xã hội và môi trường

(1) Tác động lan tỏa tích cực đến xã hội là việc sản xuất cây dược liệu mang đến các yếu tố tích cực về mặt xã hội như tạo công ăn việc làm cho người dân, góp

phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và trình độ dân trí.

2.2.2.2. Các tiêu chí đánh giá phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

(2) Tác động sự lan tỏa tích cực đến môi trường là việc sản xuất cây dược liệu gắn liền với bảo vệ môi trường, duy trì chất đất và nguồn nước, sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu theo tiêu chuẩn.

(cid:5) Duy trì, bảo tồn và mở rộng về số lượng và quy mô

Nhóm tiêu chí duy trì và bảo tồn cây dược liệu tự nhiên cung cấp thông tin về kết

quả của các hoạt động duy trì và bảo tồn cây dược liệu. Các tiêu chí đánh giá bao gồm:

- Tỷ lệ phá rừng có cây dược liệu được đo bằng tỷ lệ tăng/giảm của diện tích rừng có cây dược liệu bị chặt phá và đốt cháy. Như đã phân tích ở trên, phần lớn nguồn cung dược liệu là các loài cây dược liệu tự nhiên sinh sống tại các khu rừng. Chính vì vậy việc chặt phá rừng ảnh hướng rất lớn đến môi trường sinh

sống của cây dược liệu tự nhiên và đe dọa sự sống còn của nhiều cây dược liệu.

42

- Hiện trạng bảo tồn được đo bằng diện tích các khu bảo tồn/tổng diện tích đất rừng. Tiêu chí này cho biết hiện trạng bao nhiêu diện tích đất rừng đã được quy

hoạch nằm trong các khu bảo tồn thiên nhiên, được đầu tư và có chính sách cụ

thể để bảo tồn các loài cây thực vật tự nhiên trong đó có dược liệu.

- Hiện trạng bảo tồn nguyên vị được đo bằng tỷ lệ số cây được trồng nguyên vị/tổng số cây trong sách đỏ của cả nước. Tiêu chí này cho biết hiệu quả của

việc bảo tồn các loài cây dược liệu đang có nguy cơ bị đe dọa.

- Hiện trạng bảo tồn chuyển vị được đo bằng số cây được trồng chuyển vị/tổng số

cây trong sách đỏ của các khu bảo tồn.

Tiêu chí về mở rộng quy mô và số lượng cây dược liệu phản ánh việc gia tăng

sản xuất cây dược liệu. Sự mở rộng quy mô sản xuất cây dược liệu được thể hiện bằng

(1) sự gia tăng về diện tích canh tác và sản lượng thu hoạch giữa các năm và bình quân

năm trong giai đoạn phân tích (số tuyệt đối); và (2) tốc độ gia tăng diện tích và sản

lượng bình quân năm trong cả giai đoạn nghiên cứu (số tương đối)

Tiêu chí này được đo bằng tốc độ tăng diện tích canh tác cây dược liệu qua các năm. Tỷ lệ tăng diện tích canh tác được đo bằng diện tích canh tác năm sau trừ diện

tích canh tác năm trước, tất cả chia cho diện tích canh tác năm trước.

(cid:5)Nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu

Nhóm tiêu chí này cung cấp thông tin về năng suất và thu nhập của việc nuôi

trồng dược liệu. Trong nông nghiệp, hai tiêu chí về hiệu quả kinh tế được sử dụng

rộng rãi nhất đó là năng suất mùa vụ (Zhen & cộng sự, 2005) và thu nhập thuần

của nông dân/hộ nông dân/ trang trại (Speelman & cộng sự, 2007). Đối với cây

dược liệu, tác giả cũng sử dụng 02 tiêu chí của nông nghiệp nói trên. Năng suất

mùa vụ được đo bằng tấn/ha và thu nhập được đo bằng triệu VNĐ/ha. Thu nhập ở

đây là thu nhập thuần bằng doanh thu từ bán cây dược liệu trừ đi tổng chi phí sản

xuất cây dược liệu.

(cid:5) Tiêu chí tăng cường lan tỏa tích cực đến xã hội

Tiêu chí lan tỏa tích cực đến xã hội đánh giá các tác động tích cực của việc sản

xuất cây dược liệu đến xã hội. Các tiêu chí cụ thể được dùng bao gồm:

- Tạo công ăn việc làm được tính bằng số việc mới tăng thêm/năm. - Xóa đói giảm nghèo được tính bằng tỷ lệ hộ thoát nghèo tại các khu vực trồng cây dược liệu.

43

(cid:5) Tiêu chí tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường

Tiêu chí môi trường đánh giá việc sản xuất dược liệu dưới giác độ bảo vệ và thân thiện với môi trường. Theo Zhen và Jayant (2003), các biểu hiện của việc sản xuất nông nghiệp có tác động tích cực đến môi trường bao gồm việc canh tác không làm ảnh hưởng đến chất đất, chất lượng nguồn nước, việc sử dụng thuốc trừ sâu và sử dụng phân hóa học. Đối với cây dược liệu tác giả sử dụng các tiêu chí sau:

- Chất đất sau mỗi vụ canh tác dược liệu (xấu đi, duy trì hay tốt lên). Tiêu chí này cho biết thực trạng về chất lượng đất trồng cây dược liệu sau khi canh tác. - Mức độ tưới nước so với cây lúa và cây ngô (nhiều hơn, ít hơn hoặc bằng nhau). Tiêu chí này cho biết so với các loài cây nông nghiệp khác, cây dược liệu có cần tưới nước nhiều không? Thực tế ở một số nơi, do nhu cầu nước

tưới cho sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến hiện trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên nước.

- Sử dụng thuốc trừ sâu được đo bằng lít/ha/năm. Tiêu chí này đánh giá mức độ sử dụng thuốc trừ sâu trong canh tác cây dược liệu và so sánh với mức độ

sử dụng thuốc trừ sâu của cây ngô và cây lúa

- Sử dụng phân hóa học được đo bằng kg/ha/năm. Tiêu chí này đánh giá mức độ sử dụng phân bón hóa học trong canh tác cây dược liệu và so sánh với mức độ sử dụng phân hóa học của cây ngô và cây lúa.

Bảng 2-7 tổng hợp các tiêu chí đánh giá phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu được tác giá xây dựng và phát triển dựa trên khung lý thuyết phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững có điều chỉnh cho những đặc điểm khác biệt của cây

dược liệu so với các loại cây nông nghiệp thông thường khác.

44

Bảng 2.7: Tổng hợp các tiêu chí đánh giá phát triển cây dược liệu theo hướng

Tiêu chí cụ thể Cách đo Yêu cầu Nhóm các tiêu chí

1. Hiện trạng bảo tồn Tăng Tỷ lệ diện tích đất trong các khu bảo tồn/tổng diện tích đất rừng

Lớn/tăng

Lớn/tăng 2. Tỷ lệ số cây sách đỏ được bảo tồn nguyên vị 3. Tỷ lệ số cây được bảo tồn chuyển vị Số cây trong sách đỏ tại các khu bảo tồn/tổng số cây trong sách đỏ của cả nước Số cây được trồng chuyển vị/tổng số cây trong sách đỏ của khu bảo tồn

Giảm I.Duy trì, bảo tồn và mở rộng về quy mô và số lượng 4. Phá rừng có cây dược liệu Tỷ lệ diện tích rừng có cây dược liệu bị phá/tổng diện tích đất rừng/năm

Tăng 5.Tỷ lệ tăng diện tích canh tác (Diện tích canh tác năm sau-diện tích canh tác năm trước)/ diện tích canh tác năm trước

1. Năng suất Ổn định/tăng Tấn/ha

2. Thu nhập Triệu VNĐ/ha

II.Nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu Cao hơn so với cây nông nghiệp khác

1. Tạo việc làm Tăng Số việc làm tăng thêm do trồng cây dược liệu/năm

2.Xóa đói giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo Giảm III.Tăng cường sự lan tỏa tích cực đến xã hội

Ổn định/tăng 1. Chất đất sau canh tác So sánh chất đất trước và sau canh tác theo mức độ suy giảm, ổn định và tốt lên

2. Mức độ sử dụng nguồn nước So sánh với lượng nước sử dụng trong canh tác cây lúa và ngô theo mức độ it hơn, bằng nhau và nhiều hơn Ít hơn so với cây nông nghiệp khác

3. Sử dụng phân hóa học Kg/ha/năm

Ít hơn so với cây nông nghiệp khác

4. Sử dụng phân hữu cơ Tấn/ha/năm

Nhiều hơn so với cây nông nghiệp khác

Lít/ha/năm IV.Tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường 5. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Ít hơn so với cây nông nghiệp khác

Nguồn: Tác giả xây dựng và tổng hợp

45

2.2.2.3. Các nhân tố tác động đến phát triển của cây dược liệu theo hướng bền vững

Có 05 nhóm nhân tố tác động đến sự phát triển theo hướng bền vững của cây dược liệu bao gồm: (1) nhân tố về điều kiện tự nhiên; (2) nhân tố thuộc chủ thể sản xuất, (3) nhân tố chính sách và thể chế, (4) nhân tố liên kết trong tổ chức sản xuất và

(5) nhân tố thị trường.

(cid:5)Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

Đối với cây dược liệu, điều kiện tự nhiên bao gồm loại đất, độ cao của đất và

điều kiện nhiệt độ là các nhân tố tự nhiên rất quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất cây trồng. Theo đánh giá của Bộ y tế trong danh mục cây dược liệu ưu tiên phát triển giai đoạn 2015-2020 có 57 loài cây dược liệu phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam, trong đó tỉnh Lào Cai có điều kiện tự nhiên phù hợp với 18 loài cây dược liệu. Ở vùng núi phía Bắc như tỉnh Lào Cai, cây dược liệu thường phù hợp với các loại đất feralit đỏ vàng, độ cao từ 800 m trở lên và khí hậu mát quanh năm.

(cid:6)Nhóm nhân tố thuộc chủ thể sản xuất

Dựa trên khung lý thuyết về phát triển theo hướng bền vững nông nghiệp và phỏng vấn các chuyên gia trong ngành, tác giả sử dụng 09 nhân tố bao gồm trình độ giáo dục, trình độ khoa học kỹ thuật, gần chợ, vị trí hộ, mức đói nghèo, vay vốn, đào tạo, đầu tư cho hệ thống tưới tiêu và tổng diện tích canh tác để phản ánh nhóm nhân tố

về chủ thể sản xuất của cây dược liệu.

Theo các công trình nghiên cứu trước đây (Phạm văn Lương, 2014; Jie 2007; Odendo và cộng sự,2009), trình độ giáo dục có tác động tích cực đến năng suất nông

nghiệp do người nông dân có trình độ cao có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật cao hơn. Tuy nhiên, Phạm Văn Lương cũng cho rằng trình độ giáo dục tác động tiêu cực đến tiêu chí bền vững về môi trường, do người nông dân có trình độ cao có xu hướng sử dụng nhiều thuốc trừ sâu và phân hóa học hơn. Đối với cây dược liệu, qua phỏng vấn các

chuyên gia trong ngành cho thấy trình độ giáo dục là một nhân tố tích cực đối với sản xuất theo hướng bền vững dược liệu do cây dược liệu đòi hỏi kỹ thuật cao hơn các cây nông nghiệp khác và thị trường đòi hỏi kiểm soát khắt khe về chất lượng dược liệu.

Trình độ khoa học kỹ thuật cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến phát triển theo hướng bền vững. Trong những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật phù hợp là một nhân tố quan trọng đối với tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn nước, chất đất và kiểm soát sâu bệnh. Điều này góp phần nâng cao năng suất

vụ mùa và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp (world bank, 2008). Đối với cây dược liệu, việc tham gia các khóa đào tạo về kỹ thuật canh tác và áp dụng canh tác

46

theo tiêu chuẩn GACP-WHO là các chỉ tiêu phản ánh trình độ khoa học kỹ thuật của

chủ thể sản xuất.

Các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, vị trí thuận tiện gần chợ, gần đường và sự phát triển của hệ thống giao thông có tác động tích cực đến sự phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững (Teruel & Kuroda, 2005). Để đo lường sự thuận tiện trong giao thương đối với cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai, luận án sử dụng 02 chỉ tiêu bao gồm gần chợ từ 3km trở xuống và biến giả để phân biệt giữa các hộ trồng cây dược liệu ở Sapa và Bắc Hà. Theo kết quả khảo sát của luận án, các vườn dược

liệu ở Sapa có hệ thống tưới tiêu tốt hơn Bắc Hà, mặt khác hệ thống giao thông ở Sapa tốt hơn huyện Bắc Hà, do đó tác giả dùng biến giả để đánh giá sự khác biệt về năng suất cây dược liệu ở hai địa phương có sự khác biệt khá rõ nét về cơ sở hạ tầng.

Theo Phạm văn Lương (2014), điều kiện kinh tế xã hội của chủ hộ bao gồm các yếu tố liên quan đến mức sống, thu nhập, khả năng đầu tư nguồn lực cho sản xuất và khả năng huy động vốn có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. Để đánh giá điều kiện kinh tế và xã hội của chủ hộ, tác giả dùng 04

chỉ tiêu bao gồm mức đói nghèo, vay vốn, diện tích canh tác và đầu tư cho hệ thống tưới tiêu. Mức độ đói nghèo từ lâu đã được công nhận là một nhân tố làm suy thoái các nguồn tài nguyên (Hazell&Wood, 2008). Các công trình nghiên cứu trước đây cho rằng các hộ nông dân nghèo thường đánh đổi khả năng sản xuất trong tương lai để

phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại (Phạm Văn Lương, 2014). Vì vậy, sự đói nghèo có tác động tiêu cực đến năng suất cây dược liệu. Theo Phạm văn Lương (2014), khả năng vay vốn, đầu tư vào hệ thống tưới tiêu của người nông dân có tác

động tích cực đến năng suất sản xuất nông nghiệp vì người nông dân có thêm vốn đề đầu tư sản xuất và hệ thống tưới tiêu được đầu tư sẽ giúp người nông dân hạn chế được thiệt hại do hạn hán gây ra.Tuy nhiên diện tích canh tác có tác động ngược chiều đến năng suất cây trồng do khi canh tác với quy mô lớn việc chăm sóc và kiểm soát sâu

bệnh đối với hộ nông dân trở nên khó khăn và kém hiệu quả hơn. Đối với cây dược liệu, luận án cũng cho rằng khả năng vay vốn, đầu tư cho hệ thống tưới tiêu và diện tích canh tác là các nhân tố tác động tích cực đến năng suất cây dược liệu.

(cid:5)Nhóm nhân tố chính sách và thể chế

Nhóm nhân tố chính sách và thể chế thể hiện khả năng quản lý của cơ quan nhà nước, chính sách đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng cho phát triển cây dược liệu và sự tham gia của các tổ chức và các hiệp hội nhằm mở rộng thị trường và phát triển

nông nghiệp bền vững (Lio & Liu, 2008). Đối với cây dược liệu, tác giả sử dụng các nhóm nhân tố liên quan đến chính sách cụ thể dành cho phát triển dược liệu của Chính

47

Phủ và tỉnh Lào Cai hiện nay như các chính sách liên quan đến (1) bảo tồn cây dược

liệu, (2) chính sách liên quan đến gây trồng cây dược liệu, (3) chính sách liên quan đến thu hoạch và chế biến dược liệu và (4) các chính sách hỗ trợ của địa phương. Đa phần các nhóm chính sách của nhà nước và địa phương được đánh giá có tác động tích cực đối với sự phát triển theo hướng bền vững của cây dược liệu tuy nhiên theo World bank (2008), chính sách trợ giá đầu vào và bao tiêu đầu ra về mặt dài hạn có tác động tiêu cực đến phát triển bền vững của nông nghiệp, do các chính sách này tạo nên sự lệ thuộc của các chủ thể tham gia sản xuất và kinh doanh nông nghiệp (như hộ nông dân

và doanh nghiệp) vào sự hỗ trợ tối đa của nhà nước.

(cid:5)Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu

Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc liên kết trong

sản xuất và tiêu thụ giữa hộ nông dân, doanh nghiệp, nhà nước, nhà khoa học và các hiệp hội có tác động tích cực đến phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững vì sự liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị nông nghiệp sẽ giúp nâng cao năng suất, mở rộng quy mô và tăng cường giá trị cho chuỗi sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó việc liên kết giữa

các chủ thể trong chuỗi giá trị cũng góp phần mở rộng đầu ra cho sản xuất nông nghiệp.

Do thị trường đầu ra của cây dược liệu khá khác biệt so với các loài cây nông nghiệp khác, nên việc liên kết trong sản xuất của cây dược liệu cũng có những đặc điểm riêng. Cụ thể, đầu ra của cây dược liệu bao gồm y học cổ truyền (YHCT) và

nguyên liệu cho ngành hóa dược, do đó luận án xem xét đánh giá sự liên kết sản xuất thông qua sự tham gia vào tiêu thụ và sản xuất của các doanh nghiệp dược và các cơ sở y học cổ truyền. Cụ thể, luận án đưa ra các tiêu chí sau:

- Sự tham gia của các doanh nghiệp dược được đo bằng số doanh nghiệp dược tham gia vào sản xuất dược liệu tại Lào Cai trên tổng số doanh nghiệp dược của cả nước.

- Tỷ trọng tiêu thụ cây dược liệu của các doanh nghiệp được đo bằng tổng giá

trị tiêu thụ của các doanh nghiệp/tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu.

- Tỷ trọng cơ sở y học cổ truyền có sử dụng cây dược liệu tại Lào Cai được đo bằng số lượng cơ sở y học cổ truyền có dùng dược liệu tại Lào Cai trên

tổng số lượng cơ sở YHCT cuả cả nước.

- Tỷ trọng giá trị tiêu thụ của cây dược liệu trong tổng giá trị tiêu thụ YHCT được đo bằng tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu/tổng giá trị tiêu thụ thuốc YHCT.

- Tỷ trọng giá trị tiêu thụ cây dược liệu/tổng giá trị tiêu thụ tiền thuốc bằng

tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu trên tổng giá trị tiêu thụ tiền thuốc.

48

- Sự tham gia của các hiệp hội.

(cid:5)Nhóm nhân tố thị trường

Theo Nguyễn Văn Hóa (2014) nhóm nhân tố thị trường gồm quan hệ cung cầu cây dược liệu, công tác xuất khẩu cây dược liệu và nhu cầu tiêu thụ nội địa đối với sản phẩm dược liệu. Theo lý thuyết, quan hệ cung cầu chịu ảnh hưởng của giá cả, công tác xuất khẩu phụ thuộc vào nhu cầu tiêu thụ trên thế giới, chất lượng sản phẩm dược liệu và thương hiệu sản phẩm trong khi đó nhu cầu tiêu thụ nội địa phụ thuộc vào quy mô thị trường trong nước, thói quen tiêu dùng và chất lượng sản phẩm. Việc ổn định giá cả đầu

ra là một nhân tố tác động tích cực đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững, trong khi đó tiềm năng và quy mô của thị trường tiêu thụ trong nước cũng như thị trường xuất khẩu là các nhân tố rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của cây dược liệu.

Khác với các cây nông nghiệp khác như cây lúa và cây ngô người nông dân có thể tự sử dụng nếu không bán được, cây dược liệu buộc phải có nơi tiêu thụ mới có thể sinh tồn và phát triển vì cây dược liệu không thể tự tiêu dùng như các cây lương thực khác.

Bảng 2.8 trình bày tóm tắt các nhân tố tác động đến phát triển cây dược liệu

theo hướng bền vững trong khung phân tích do tác giả xây dựng.

Bảng 2.8: Các nhân tố tác động đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Nhân tố cụ thể Thang đo Nhóm nhân tố Chiều tác động

1. Loại đất Tích cực Phân loại đất theo bản đồ thổ nhưỡng, của Tỉnh

II.Địa lý và tự nhiên 2. Độ cao Số m so với mực nước biển

Tùy thuộc vào từng loại cây

1. Trình độ giáo dục Tích cực Số năm đi học của chủ hộ

2. Tổng diện tích Tiêu cực Ha/hộ

3. Hộ nghèo Tiêu cực Có/không

4. GACP Tích cực Có/không

5. Đào tạo Có/không tham gia đào tạo Tích cực

6. Gần chợ Tích cực III.Chủ thể sản xuất 0=ở xa chợ 3km trở lên; 1=ở gần chợ từ 3 km trở xuống

7. Đầu tư cho hệ thống tưới tiêu Tích cực 0=không, 1=có

8. Vay vốn Tích cực 0=không; 1=có

9. Vị trí hộ 0=Sapa, 1= Bắc hà

49

Nhân tố cụ thể Thang đo Chiều tác động Nhóm nhân tố

1. Chính sách liên quan đến bảo tồn của Nhà nước

2. Chính sách liên quan đến gây trồng Có/không, mô tả chính sách Tích cực IV.Chính sách và thể chế

3. Chính sách liên quan đến thu hoạch và chế biến

4. Chính sách hỗ trợ của địa phương Tiêu cực

Lớn/tăng

1. Sự tham gia của doanh nghiệp dược trong sản xuất và tiêu thụ dược liệu Số doanh nghiệp dược tham gia/tổng sổ doanh nghiệp dược của cả nước

Lớn/tăng 2. Tỷ trọng tiêu thụ cây dược liệu của các doanh nghiệp Tổng giá trị tiêu thụ của các doanh nghiệp dược/tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu

Lớn/tăng

3. Tỷ trọng cơ sở y học cổ truyền tiêu thụ dược liệu tại Lào cai Số lượng cơ sở YHCT sử dụng dược liệu tại Lào Cai/Số lượng cơ sở YHCT cả nước

V.Liên kết trong sản xuất cây dược liệu

Lớn/tăng

4. Tỷ trọng giá trị tiêu thụ cây dược liệu trong tổng giá trị tiêu thụ YHCT Tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu/tổng giá trị tiêu thụ thuốc YHCT

Lớn/tăng

5. Tỷ trọng giá trị tiêu thụ cây dược liệu/tổng giá trị tiêu thụ tiền thuốc Tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu/tổng giá trị tiêu thụ tiền thuốc

6. Sự tham gia của các hiệp hội Có/không Tích cực

1. Ổn định giá cả Không ổn định/ổn định Tích cực

2. Thị trường tiêu thụ nội địa Giá trị thị trường (tỷ USD)

Tích cực

Mức độ chi tiêu cho thuốc men (USD/người/năm) VI.Nhân tố thị trường 3. Thị trường xuất khẩu Tích cực Sản lượng dược liệu xuất khẩu bình quân/năm (Tấn/năm)

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Từ các phân tích về nội hàm phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố tác động, tác giả xây dựng khung phân tích phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu trong sơ đồ sau đây (hình 2.3):

50

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Phỏng vấn chuyên gia

Phỏng vấn chuyên gia

NỘI HÀM PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

CÁC TIÊU CHÍ

CÁC NHÂN TỐ

Địa lý tự nhiên

Duy trì và bảo tồn, mở rộng

Nâng cao hiệu quả SX

Chủ thể sản xuất

Hồi quy đa biến

Chính sách

Lan toản tích cực đến XH

Lan tỏa tích cực đến MT

Liên kết

Thị trường

Phỏng vấn chuyên gia Phân tích tình huống

Thực trạng cây dược liệu tại Lào Cai PTTHBV

Phân tích các tiêu chí phát triển cây dược liệu THBV

Phân tích các nhân tố tác động đến các tiêu chí phát triển cây dược liệu THBV

Kết quả đạt được và hạn chế

Nguyên nhân

Các giải pháp và kiến nghị

Hình 2.3: Khung phân tích phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai

51

Tiểu kết chương 2

Chương 2 trình bày cơ sở lý luận về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững. Dựa trên khung lý thuyết về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững và đặc

thù của cây dược liệu, luận án xây dựng nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững là “việc duy trì, bảo tồn ,mở rộng quy mô và số lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường sự lan tỏa tích cực đến xã hội và môi trường”. Dựa trên nội hàm về PTTHBV cây dược liệu và các công trình nghiên cứu về PTTHBV nông nghiệp luận án xây dựng bộ tiêu chí đánh giá PTTHBV cây dược liệu và các nhân tố tác động đến PTTHBV cây dược liệu. Từ đó, luận án đưa ra khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai.

52

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI TỈNH LÀO CAI

3.1. Thực trạng phát triển cây dược liệu trên thế giới

3.1.1. Nguồn cung cây dược liệu trên thế giới

Theo FAO (2005), có hai nguồn cung cấp cây dược liệu trên thế giới bao gồm:

thu hái tự nhiên và nuôi trồng.

Thu hái tự nhiên là việc thu hái cây dược liệu từ các nguồn tự nhiên. Cây

dược liệu có thể được thu hái dưới dạng vỏ cây, lá, quả, thảo mộc, hoa, thân gỗ

hoặc rễ. Cây dược liệu được thu hái từ nhiều nơi, có thể ở trên đồng cỏ, đất thải

nông nghiệp, vườn, ven đường hay đất rừng. Cây dược liệu cũng có thể là cỏ dại

được tìm thấy trong các khu đất canh tác nông nghiệp, thân cây hoặc một phần

thân cây được tìm thấy trong khu vực trồng trọt hoặc rừng. Hiện nay nguồn dược

liệu từ thu hái tự nhiên cung cấp đến 90% tổng sản lượng tiêu thụ cây dược liệu

trên toàn thế giới (Chen và cộng sự, 2016). Cây dược liệu được thu hái tự nhiên

bởi những người lao động tự do hoặc những người nông dân nhỏ lẻ. Các hoạt

động thu hái thường không khoa học và bất hợp pháp. Phần lớn cây dược liệu tự

nhiên được thu hái từ các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên số lượng cây dược

liệu tự nhiên được thu hái từ các quốc gia phát triển đang ngày một tăng cao.

Một vấn đề chính đối với nguồn cung cây dược liệu từ thu hái tự nhiên đó là

dược liệu được mua lại với giá thấp nên những người thu mua cây dược liệu chỉ

quan tâm đến việc khai thác các nguồn dược liệu tự nhiên thay vì quản lý các

nguồn này. Người trung gian thường thuê lại lao động nghèo để thu hái dược

liệu. Người lao động nghèo (thường là nông dân) phụ thuộc vào người trung

gian nên chỉ được trả công theo giờ thu hái. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia có

nguồn dược liệu phong phú lại không có các quy định pháp luật chặt chẽ để bảo

tồn nguồn dược liệu tự nhiên. Một lượng lớn các cây dược liệu quý ở dãy núi

Hymalaya đã bị khai thác quá mức dẫn đến số lượng suy kiệt và một số loài gần

như tuyệt chủng.

Nuôi trồng cây dược liệu hiện chỉ cung cấp 10% tổng sản lượng tiêu thụ thảo

dược trên toàn thế giới. Tuy nhiên nuôi trồng cây dược liệu lại phù hợp với việc sử

53

dụng khối lượng lớn, đặc biệt là nguồn cung chính cho các nhà máy sản xuất thuốc vì

các nhà máy sản xuất thuốc hiện đại đỏi hỏi nguyên liệu dược liệu phải được chuẩn

hóa, phải có tiêu chuẩn rõ ràng về chất lượng và hàm lượng. Argentina, Trung Quốc,

Hungary, Ấn Độ, Ba Lan và Tây Ban Nha là các quốc gia đi tiên phong trong việc

canh tác cây dược liệu với quy mô lớn. Với chi phí trồng trọt cao, cây dược liệu

thường được trồng theo đơn đặt hàng của các công ty dược. Tuy nhiên các công ty

dược chỉ ưu tiên đặt hàng đối với các loại cây dược liệu mà họ sử dụng với số lượng

lớn hoặc với các loại cây đòi hỏi cao về chất lượng và hàm lượng. Hiện nay ở một số

nước phát triển như Hà Lan và Đông Âu, cũng là các nước xuất khẩu cây dược liệu

lớn sang Châu Âu và Bắc mỹ, có xu hướng thành lập các hợp tác xã hoặc các mô

hình hợp tác liên doanh để giúp người trồng cây dược liệu có được sức mạnh đàm

phán cao hơn và đạt mức giá bán cao hơn. Tuy nhiên, diện tích trồng trọt cây dược

liệu trên toàn thế giới vẫn rất hạn chế do chi phí sản xuất cao, cần phải có diện tích

đất rộng và phải tiếp cận được các phương thức canh tác và quản lý tiên tiến. Chi phí

trong nhiều trường hợp kéo dài hàng chục năm. Mặt khác, các nguồn thu hái dược

liệu tự nhiên có giá thấp làm cho các doanh nghiệp không mấy mặn mà với việc canh

tác cây dược liệu.

3.1.2. Tình hình tiêu thụ và xuất nhập nhập khẩu cây dược liệu trên thế giới

Cùng với nhu cầu ngày càng tăng lên về thuốc thảo dược, các sản phẩm chăm

sóc sức khỏe có nguồn gốc tự nhiên và các chất chuyển hóa thứ cấp từ cây dược liệu,

việc sử dụng các loại cây dược liệu đang ngày càng tăng cao trên toàn thế giới. Theo

ước tính của các nhà khoa học, cây dược liệu đáp ứng khoảng 80% nhu cầu chữa bệnh

của người dân ở các nước đang phát triển (Ramawat và Ahuja, 2016) và trên 25%

thuốc kê đơn ở các nước phát triển được chế biến từ các loại dược liệu tự nhiên.Ước

tính tổng giá trị thị trường toàn cầu đối với cây dược liệu là 83 tỷ USD năm 2008

(Barata và cộng sự, 2016) và tăng trưởng hàng năm với tốc độ là 7-10% (Subrat,

2005). Tổng kim ngạch buôn bán cây dược liệu chủ yếu tập trung ở các trung tâm

thương mại quốc tế lớn bao gồm Đức, Mỹ, Nhật và Hồng Kông. 12 quốc gia chiếm

trên 80% kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu trên toàn thế giới (bảng 3-1). Các thị

trường nhập khẩu lớn chủ yếu là các quốc gia phát triển trong khi các nước đang phát

triển chủ yếu xuất khẩu cây dược liệu tự nhiên chưa qua chế biến hoặc sơ chế (Barata

và cộng sự, 2016).

54

Bảng 3.1: Nước xuất khẩu và nhập khẩu cây dược liệu lớn nhất thế giới

STT Nước nhập khẩu Nước xuất khẩu

1 Hồng Kông Trung Quốc

2 Nhật Bản Ấn Độ

3 Mỹ Đức

4 Đức Mỹ

5 Hàn Quốc Chi Lê

6 Pháp Hy Lạp

7 Trung Quốc Singapore

8 Italia Mexico

9 Pakistan Bungari

10 Tây Ban Nha Paskistan

11 Anh Albania

12 Singapore Monaco

Nguồn: FAO, 2012

3.1.3. Chuỗi cung ứng cây dược liệu

Chuỗi cung ứng cây dược liệu thường rất dài gồm 06 đến 07 bước bắt đầu từ người thu hái và sơ chế, trung gian thu mua tại địa phương, trung gian thu mua tại khu vực, người thu mua và bán sỉ, những nhà cung cấp chuyên biệt và khách hàng. Sở dĩ

chuỗi cung ứng qua nhiều bước là do người thu hái và người nông dân nhận được mức giá thấp cho công sức và sản phẩm của họ. Hơn nữa do việc thu hái vẫn phổ biến hơn là canh tác nên có sự khác biệt rất lớn về chất lượng của các nguồn cây dược liệu. Sự khác biệt này liên quan đến hoạt chất của cây dược liệu vốn phụ thuộc vào nơi chúng

sinh sống, phần nào của thân cây được sử dụng, chúng được thu hái và bảo quản như thế nào. Cây dược liệu cũng bị pha trộn không kiểm soát được do nguồn dược liệu thu hái tự nhiên không đồng đều về chất lượng, số lượng và chủng loại. Nhà sản xuất dược mua lại từ nhà cung cấp trung gian và người bán sỉ chứ không mua trực tiếp từ người

thu hái hay người trung gian nhỏ lẻ. Chính vì vậy, việc truy nguồn gốc dược liệu gần như là không thể dẫn đến việc kiểm soát chất lượng khó khăn hơn. Ngày nay, một số công ty dược đã ký hợp đồng canh tác và thu mua với người trồng dược liệu. Tuy

nhiên hình thức này chỉ được áp dụng với các cây dược liệu xuất khẩu và khi được khách hàng yêu cầu truy vấn nguồn gốc dược liệu.

55

Hình 3.1: Chuỗi cung ứng cây dược liệu

Nguồn: FAO (2005)

3.1.4. Thực trạng suy kiệt nguồn dược liệu tư nhiên trên thế giới

Theo Chen và Cộng sự (2016), 90% nguồn dược liệu cung cấp cho các nhu cầu chữa bệnh, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm được thu hái tự nhiên. Chính việc khai thác quá mức này cùng với sự suy thoái về môi trường sống đã dẫn đến hiện tượng suy kiệt nguồn dược liệu tự nhiên một cách trầm trọng trên toàn thế giới. Ước tính tốc độ

biến mất của các loại cây thực vật hiện nay cao hơn từ 100 đến 1.000 lần so với tỷ lệ tuyệt trủng tự nhiên dự kiến của chúng. Tính trung bình, cứ hai 2 năm trái đất mất đi một loại cây dược liệu quý (Pimm và cộng sự, 1995). Theo Ủy ban bảo vệ thiên nhiên

và thế giới hoang giã quốc tế có khoảng 15.000 cây dược liệu đang có nguy cơ bị tuyệt chủng do tình trạng khai thác quá mức và sự suy giảm của môi trường sinh thái (Chen và cộng sự, 2016). Bên cạnh đó khoảng gần 20% nguồn dược liệu tự nhiên gần như cạn kiệt do sự gia tăng dân số và nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng cao. Khoảng 8% trong tổng số các loài dược liệu trên thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng (Schippmann và cộng sự, 2002); Thực trạng này đang rấy lên nỗi lo ngại về nguy cơ tuyệt chủng một số loài cây dược liệu ở các quốc gia như Trung Quốc (Chen và cộng

56

sự, 2016), Ấn Độ (Heywood và Iriondo, 2003), Kenya (Chen và cộng sự, 2016),

Nepal, Tanzania và Uganda (Chen và cộng sự, 2016). Các nguyên nhân chính dẫn đến sự suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên dược liệu bao gồm khai thác quá mức, thu hái tràn lan, nạn phá rừng bừa bãi và sự suy giảm môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, đặc điểm sinh học cụ thể cũng có liên quan đến nguy cơ tuyệt chủng do thu hái của từng loại dược liệu riêng biệt như đặc điểm về môi trường sống, phạm vi phân phối, quy mô, đa dạng sinh học, tốc độ tăng trưởng và hệ sinh sản (Chen và cộng sự, 2016).

3.2. Thực trạng phát triển cây dược liệu tại Việt Nam

3.2.1. Quản lý nhà nước về cây dược liệu

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao hiện nay, cây dược liệu thuộc thẩm

quyền quản lý của Bộ Y tế. Tuy nhiên trong thực tế việc quản lý cây dược liệu còn liên quan đến nhiều bộ ngành khác như Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ công thương, Bộ Tài chính, Bộ khoa học và công nghệ, Bộ quốc phòng, Ủy ban nhân dân

các tỉnh (Bảng 3.2)

Bảng 3.2: Các cơ quan nhà nước tham gia quản lý nước cây dược liệu

STT Các cơ quan quản lý nhà nước Chức năng quản lý

Bộ y tế (viện dược liệu) Quản lý dược liệu dùng làm thuốc 1

2

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Tổng cục lâm nghiệp)

Quản lý nuôi trồng cây thuốc, quản lý rừng (trong đó có thực vật và động vật làm thuốc)

Bộ công thương 3

Quản lý việc buôn bán, xuất nhập khẩu dược liệu trong đó có cây dược liệu

Bộ khoa học và công nghệ 4

Quản lý về nghiên cứu, công nghệ và tiêu chuẩn hóa

Bộ Tài chính (Tổng cục hải quan) Quản lý và giám sát việc nhập khẩu dược 5

liệu tại cửa khẩu

6 Bộ Quốc phòng (Bộ đội biên phòng) Phối hợp quản lý dược liệu nhập lậu qua

đường tiểu ngạch tại các vùng biên giới

7

Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc TƯ

Quy hoạch vùng nuôi trồng và chỉ đạo nuôi trông và khai thác cây dược liệu trên địa bàn

Nguồn: Bộ y tế, 2017

57

Như vậy, hiện nay việc quản lý nhà nước về dược liệu tại Việt Nam vẫn đang

có sự chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Công thương, điều này gây ra rất nhiều khó khăn, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về cây dược liệu. Do đó cần phải có sự phối hợp liên ngành chặt chẽ, thống nhất giữa các bộ ngành có liên quan.

3.2.2. Tiềm năng tài nguyên cây dược liệu tại Việt Nam

Việt Nam có 54 dân tộc anh em sống trải dài trên toàn đất nước từ Bắc tới Nam

với những nét văn hóa rất riêng. Theo điều tra về tri thức bản địa, đã thu thập các cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và bài thuốc của đồng bào dân tộc: H’Mông (Lào Cai), Mường (Thanh Hóa, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An), Dao (Ba Vì, Lào Cai, Hòa Bình, Vĩnh Phúc), Ka Tu (Thừa Thiên Huế), Vân Kiều (Tây Nguyên), Tày (Hà

Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên), Nùng (Lạng Sơn), Sán Dìu (Vĩnh Phúc), Khơ Me (An Giang). Đã tổng hợp được danh lục các loài cây thuốc của 15 dân tộc lớn trên cả nước. Thu thập và sưu tầm được 1.296 bài thuốc dân gian chữa

bệnh của cộng đồng các dân tộc, những bài thuốc này đã phục vụ cho việc nghiên cứu sàng lọc, nghiên cứu phát triển tạo sản phẩm phục vụ công tác phòng chống bệnh tật, song những thành phẩm này ở dạng nguyên liệu thô, chưa thành hàng hóa nên sức cạnh tranh kém.

Với hơn 3.200 km bờ biển và thềm lục địa rộng lớn, Việt Nam còn có kho báu gồm hàng ngàn loài sinh vật biển làm thuốc quý giá chưa có điều kiện nghiên cứu khai thác một cách hiệu quả. Điều này cũng đã cho thấy nguồn dược liệu ở nước ta rất

phong phú. Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc các vùng nhiệt đới - nơi chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao chưa được khám phá hết. Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc ở nước ta có vốn tri thức bản địa sử dụng các loài động vật, thực vật và khoáng vật làm thuốc phong phú và đa dạng.

Bảng 3.3: Thống kê phân bổ số loài dược liệu ở các địa phương trên cả nước

Vùng

Địa phương

Số loài dược liệu

Lai Châu

450

Điện Biên

562

Sơn la

535

Vùng Tây Bắc

Lào Cai

549

Yên Bái

510

Hòa Bình

58

Vùng

Địa phương

Số loài dược liệu

Bắc Kạn

415

Tuyên Quang

682

Vùng Đông Bắc

VQG Tam Đảo-Vĩnh Phúc

375

Hà Giang

1.565

Lạng Sơn

788

Thanh Hóa

714

Nghệ An

962

Vùng Bắc Trung Bộ

VGQ Vũ Quang-Hà tĩnh

429

VQG Bạch mã-Thừa Thiên Huế

548

Quảng Nam

832

Vùng Nam Trung Bộ

Quảng Ngãi

625

Đồng Nai

905

Vùng Đông Nam Bộ

Bình Dương

691

Đắc Lắc

725

Gia Lai

841

Vùng Tây Nguyên

Kon Tum

842

Lâm Đồng

1.247

Nguồn: Bộ Y Tế, 2017

3.2.3. Về bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc

Cây thuốc giữ một vị trí quan trọng trong nguồn tài nguyên thực vật tại Việt

Nam. Tuy nhiên tình hình khai thác quá mức và thu hái bừa bãi đã dẫn đến sự suy

giảm nhanh chóng nguồn cây thuốc hiện nay. Theo Bộ Y tế (2017), hiện nay ở nước ta

có 144 loài cây thuốc đang bị đe dọa và cần được bảo vệ. Vì vậy công tác bảo tồn là

một trong những vấn đề hàng đầu, cần được quan tâm trong công tác phát triển cây

dược liệu. Một số nét chính trong công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen của cây

dược liệu như sau:

- Hiện Việt Nam duy trì mạng lưới bảo tồn nguồn gen tại 07 vùng sinh thái: Vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Nội); vùng trung du phía Bắc (Tam Đảo),

vùng núi cao phía Bắc (Lào Cai); vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa), vùng Tây

Nguyên (Đà Lạt), Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (Phú Yên) và vùng Đông

Nam Bộ (Thành Phố Hồ Chí Minh)

59

- Đã khảo sát và xác định được số loài cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn tại các

vườn quốc gia: VQG Cát Bà, VQG Cát Tiên, VQG Bạch Mã, VQG Bù Gia

Mập, VQG Pù Mát, VQG Núi Chúa, KBTTN Vĩnh Cửu.

- Lưu giữ và bảo tồn 1.531 nguồn gen thuộc 884 loài cây thuốc tại 7 vườn cây

thuốc thuộc các đơn vị trong và ngoài ngành Y tế. Hiện đã thu thập, lưu giữ và

bảo tồn nhiều loài theo tập đoàn: Sả, Bạc hà, Nghệ, Náng, Đinh lăng, Dây thìa

canh, Kim ngân, Gấc, Bảy lá một hoa, Qua lâu, Đảng sâm, Hà thủ ô đỏ, Ba

kích, Hoàng tinh… phục vụ công tác chọn, tạo giống. Lưu giữ trong kho lạnh

hạt giống của 200 loài; bảo tồn chuyển vị 15 loài thuộc diện quí hiếm hoặc có

tiềm năng phát triển.

- 100% các nguồn gen bảo tồn được đánh giá ban đầu; 30% nguồn gen được đánh giá chi tiết về các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển. Đã ứng dụng kỹ thuật

hiện đại (sinh học phân tử) để đánh giá một số nguồn gen về đa dạng di truyền

như: Hà thủ ô đỏ, Đảng sâm, Nghệ, Sâm cau, Bảy lá một hoa, Gấc, Diệp hạ

châu, Ngưu tất, Sâm ngọc linh, Ngũ gia bì gai, Ngũ gia bì hương...

- Nguồn gen và giống của gần 30 loài cây thuốc đã được chọn lọc, tập trung

nghiên cứu để phục vụ công tác chọn tạo giống như: Sâm ngọc linh, Diệp hạ

châu, Xuyên tâm liên, Kim tiền thảo, Giảo cổ lam, Trinh nữ hoàng cung, Hà thủ

ô đỏ, Đảng sâm, Kim ngân, Ngũ gia bì hương, Sì to, Ngũ gia bì gai, Đinh lăng,

Gấc, Khôi, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Sâm báo, Ba kích, Rau đắng biển,

Lạc tiên, Bách bộ, Cà gai leo, Ngưu tất, Ngũ vị tử, Náng,..

Những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen đã mở

ra triển vọng lựa chọn được nhiều nguồn gen tiềm năng để phát triển và sản xuất tạo

nguồn nguyên liệu làm thuốc và góp phần phát triển kinh tế -xã hội.

3.2.4. Về nuôi trồng và thu hái cây dược liệu

Theo kết quả điều tra giai đoạn 2013 - 2015 của Viện Dược Liệu (Bộ y tế,

2017), hiện có khoảng 70 loài/nhóm loài cây dược liệu có tiềm năng khai thác, với

trữ lượng ước tính là 18.372 tấn/năm. Trong đó, 45/70 loài/nhóm loài có tiềm

năng khai thác lớn như diếp cá, cẩu tích, lạc tiên, rau đắng đất, ngũ gia bì chân

chim, thiên niên kiện... (bảng 3.4)

60

Bảng 3.4: Sản lượng khai thác một số cây dược liệu ở Việt Nam

STT Cây dược liệu Sản lượng (tấn)

Diếp cá 1 5.000

Cẩu tích 2 1.500

Lạc tiên 3 1.500

Rau đắng đất 4 1.500

Ngũ gia bì chân chim 5 1.000

Bọ mắm khô 6 1.000

Bình vôi 7 800

Râu hùm 8 500

Cỏ xước 9 500

Kê huyết đằng 10 500

Thiên niên kiện 11 500

Ngải cứu 12 300

Câu đằng 13 300

Bách bộ 14 200

Hà thủ ô trằng 15 200

Hy thiêm 16 200

Sa nhân 17 200

Tắc kề đá 18 200

Nguồn: Bộ y tế, 2017

Trong số các loài cây thuốc đã biết khoảng gần 4.000 loại, chỉ có hơn 500 loài là cây thuốc đã được trồng với các mức độ khác nhau, nhiều loài là cây lương thực, thực phẩm, gia vị làm thuốc. Trên thực tế, hiện chỉ có khoảng 92 loài cây dược liệu được trồng phục vụ nhu cầu thị trường, một số loài đã và đang có vùng trồng lớn, như:

Hồi, Quế, Hòe, Actiso, Thanh hao hoa vàng, Đinh lăng, Kim tiền thảo, Diệp hạ châu, Trinh nữ hoàng cung, Gấc, Nghệ, Bụp giấm, Nghệ, Táo mèo, Actiso, Thảo quả, Kim tiền thảo... Hiện có 50/92 loài được trồng với qui mô trên 10 ha. Một số vùng trồng

cây thuốc nhập nội (Bạch chỉ, Xuyên khung, Địa hoàng, Bạch truật, Đương quy, Huyền sâm, Cát cánh) cũng từng bước được hình thành.

61

Bảng 3.5: Danh mục một số dược liệu được trồng tại địa phương

Stt Tên cây thuốc Tên khoa học Nơi trồng Diện tích trồng

Actiso Cynara Scolymus L. 40 ha Lâm Đồng, Lào Cai…

1 2 Bách bộ Stemona tuberosa Lour. 10ha Hòa Bình, Ninh Bình

3 Bạch chỉ (rễ) 50ha Ninh Bình, Hà Giang, Lào Cai Angelica dahurica (Fisch. ex Hoffm.)

4 Bạch thược Paeonia lactiflora Pall. Hà Giang, 2ha

5 Bạch truật 5ha Hà Giang, Lào Cai Atractylodes macrocephala Koidz.),

6 Đinh lăng Polyscias fruticosa (L.) Harms. 500ha Nam Định, Hòa Bình, Bắc Giang, Thanh Hóa

7 Đương quy nhật Angelica acutiloba (Sieb. et Zucc 500ha

Hà Giang, Đắk lắk, Lâm Đồng, Lai Châu, Lào Cai, Ninh Bình, Nam Định 8 Gừng Zingiber officinale Rose.), 20ha

9 Hà thủ ô đỏ Polygonum multiflorum (Thunb.) Bắc Giang, Hưng Yên, Thái Nguyên

10 Hoài Sơn 20ha Dioscorea persimilis Prain et Burkill Bắc Giang, Hưng Yên, Thái Nguyên

11 Ích mẫu Leonurus japonicus Houtt. 150ha Hưng Yên, Bắc Giang, Ninh Bình, Hà Nội

Alisma orientalis (Sam.) Juzep 120ha Ninh Bình

Ligusticum wallichii Franch 110ha Lào Cai, Lâm Đồng

12 Trạch tả 13 Xuyên khung 14 Ý dĩ (hạt) Coix lachryma-Jobi L. 50ha Lào Cai

15 Sinh địa 50ha Rehmannia glutinosa (Gaertn.) Libosch. Hà Giang, Ninh Bình, Đắk lắk, Bắc Giang

Morinda officinalis How 50ha Quảng Ninh, Bắc Giang

16 Ba kích 17 Ngưu tất Achyranthes bidentata Blume 200ha Hưng Yên, Hà Nội, Bắc Giang

Nguồn: Bộ y tế, 2017

Qua khảo sát điều tra của Viện Dược Liệu (2010), các vùng có lợi thế trồng các

loại cây dược liệu như sau:

62

Bảng 3.6: Hiện trạng các vùng trồng dược liệu

TT

Vùng trồng sản xuất dược liệu

Dược liệu nuôi trồng

1

Vùng Đông Bắc: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn và một phần của Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang

Quế, Địa liền, Bạch truật, Sả, Ý dĩ, Ba kích, Hồi, Kim tiền thảo, Nhân trần, Kim tiền thảo, Bình vôi, Táo mèo.

2

Vùng Tây Bắc: Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình và Yên Bái

Mộc hương, Xuyên khung, Đỗ trọng, Đương quy, Bạch truật, Bạch chỉ, Độc hoạt, Hoàng bá, Sa nhân, Thảo quả, Artisô, Nghệ, Táo mèo.

3

Vùng Đồng bằng Sông Hồng: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ và Vĩnh Phúc.

Bạc hà, Hương nhu, Bạch chỉ, Bạch truật, Đương quy, Sinh địa, Ích mẫu, Cúc hoa, Ngưu tất, Trạch tả, Hòe, Thanh cao, Mã đề, Hoắc hương, Đinh Lăng, Nghệ, Gừng, Cốt khí củ, Gấc, Mướp đắng, Kim tiền thảo, Diệp hạ châu, Hoài sơn.

4

Vùng Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

Quế, Ý dĩ, Hoài sơn, Bạc hà, Hương nhu, Sả, Ba kích, hoa Hòe, sâm báo, Hy thiêm, Ích mẫu, Nghệ, Diệp hạ châu, Đinh Lăng.

5

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: Các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận.

Quế, Đậu ván trắng, Râu mèo, Dừa cạn, Bụp dấm, Trinh nữ hoàng cung, Nghệ, Mã đề, Diệp hạ châu, Tỏi, Lô hội, Thanh cao.

6

Vùng Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai,Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng

Artiso, Gừng, Sả, Nghệ, sâm Ngọc linh, Đảng sâm, Ngũ vị tử, Thông đỏ, Diệp hạ châu, Hoài sơn, Ý dĩ, Dương cam cúc, Đinh lăng, Bình vôi, Gấc, Táo mèo.

7

Vùng Tây Nam Bộ: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Cửu Long, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long.

Bụp dấm, Sả, Nghệ, Xuyên tâm liên, Tràm, Sen, Hoài sơn, Diệp hạ châu, Trinh nữ hoàng cung, Gừng, Mã đề, Chùm ngây, Bạc hà, Râu mèo, Thủy xương bồ, Rau má, Diếp cá, Gấc, Tần dầy lá, rau Ngổ, Nhàu.

8

Vùng Đông Nam Bộ: Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bụp dấm, Sả, Nghệ, Xuyên tâm liên, Nhân trần, Dừa cạn, Trinh nữ hoàng cung, Kim tiền thảo, Bá bệnh, Mã đề, râu mèo, Tràm, Nhàu, Chùm ngây, Nhân trần tía.

Nguồn: Viện dược liệu (2010), trích trong Bộ y Tế (2017)

63

Hiện nay, đã có 11 cây dược liệu được trồng theo nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực

hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc” (GACP), bao gồm: Trinh nữ hoàng cung, Actisô, Bìm bìm biếc, Rau đắng đất, Đinh lăng, Diệp hạ châu đắng, Cỏ nhỏ nồi, Tần dày lá, Dây thìa canh, Chè dây, Kim tiền thảo. Một số doanh nghiệp đang tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để công bố GACP trong thời gian tới, bao gồm: Công ty Dược Lâm Đồng (Actiso), Domesco (Gấc và Nghệ), Traphaco (Hoài sơn), BVPharma (Kim ngân) và DKPharma (Kim ngân, Ý dĩ). Việc nuôi trồng dược liệu theo GACP mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu trong sản xuất thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền của chính

doanh nghiệp đó.

Bảng 3.7: Danh sách các cây dược liệu nuôi trồng theo nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc” (GACP)

Tên cây dược liệu

Stt

Tên cơ sở

Tên khoa học

Địa điểm trồng

(Tên tiếng Việt)

1 Công ty cổ phần

Actisô

Cynara

Huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Traphaco

Scolymus L.

2 Công ty cổ phần

Bìm bìm biếc

Pharbitis nil

Xã Lạc Long, huyện Lạc Thủy,

Traphaco

(L.) Choisy

tỉnh Hòa Bình

3 Công ty cổ phần

Rau đắng đất

Glinus

Xã Sơn Thành Đông và xã Hòa

Traphaco

Oppositifolius (L.) DC,

Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên

4 Công ty cổ phần

Đinh lăng

Polyscias fruticosa

Traphaco

(L.) Harms.

Huyện Hải Hậu, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

5 Công ty TNHH

Diệp hạ châu đắng Phyllanthus

Xã Hòa An, huyện phú Hòa và

sản xuất thương

amarus

phường Phú Thạnh,

Schum. Et Thonn.

mại Hồng Đài Việt

TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Cỏ nhọ nồi

Eclipta

Xã Hòa An, huyện Phú Hòa và

prostrata L.

6 Công ty TNHH sản xuất thương mại Hồng Đài Việt

phường Phú Thạnh,

TP. Tuy Hòa

64

Tên cây dược liệu

Stt

Tên cơ sở

Tên khoa học

Địa điểm trồng

(Tên tiếng Việt)

7 Công ty TNHH

Tần dày lá

Coleus amboinicus

Xã Hòa Hiệp Nam,

sản xuất thương

Lour.

huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

mại Hồng Đài Việt

sylvestre

8 Công ty TNHH

Dây thìa Canh

MTV

Gymnema (Retz) R.Br.Ex

Xã Yên Ninh, Huyện Phú Lương,

Schult

Dược khoa

Tỉnh Thái Nguyên

9 Công ty TNHH

Dây thìa Canh

Gymnema sylvestre

Nam Dược

(Retz) R.Br.Ex

Xóm 3, xã Hải Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Schult

10 Công ty cổ phần

Actisô

Cynara Scolymus L.

Xã Xuân Thọ, TP.Đà Lạt,

Dược Lâm Đồng

tỉnh Lâm Đồng

LADOPHAR

11 Công ty cổ phần

Kim tiền thảo

Dược OPC Bắc Giang

Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.

Xã Minh Đức, huyên Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Trinh nữ

Crinum latifolium L.

12 Công ty TNHH Thiên Dược

hoàng cung

Xã Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai

13 Công ty cổ phần

Chè dây

Ampelopsis

Traphaco

Huyện Bát Xát và huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Cantoniensis (Hook. et Arn.) Planch.

Nguồn: Bộ y tế, 2017

Mặc dù có khả năng trồng trọt nhiều loại dược liệu nhưng do cách làm manh

mún, tự phát, thiếu liên kết và thị trường dược liệu không ổn định nên việc trồng cây

dược liệu gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc tổ chức và quản lý thu hái, thu mua

dược liệu tự nhiên ở Việt Nam trong những năm vừa qua còn nhiều bất cập, nhiều

thành phần kinh tế khác nhau cùng tham gia khai thác và thu hái dược liệu trong tự

nhiên, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm các công trình, nhất là thủy điện,

thủy lợi, nạn đốt phá rừng, khai thác rừng bừa bãi đã làm suy giảm nghiêm trọng tài

nguyên cây thuốc tự nhiên. Do vậy, để đảm bảo công tác bảo tồn và phát triển dược

liệu trong thời gian tới nhất thiết phải chấn chỉnh lại công tác thu mua, khai thác và

65

thu hái cây thuốc mọc tự nhiên theo hướng bảo tồn và phát triển đi đôi với khai thác

hợp lý nguồn cây thuốc tự nhiên.

3.2.5. Về chế biến, sản xuất, kinh doanh và buôn bán dược liệu

Theo số liệu của Bộ y tế (2016), tính đến tháng 02/2017, có khoảng 200 cơ sở

kinh doanh dược liệu trên toàn quốc, trong đó có 12 cơ sở đã đầu tư trang thiết bị, cơ

sở vật chất chế biến dược liệu. Phần lớn các cơ sở chỉ thực hiện sơ chế dược liệu. Việc

đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hiện chế biến dược liệu là khâu rất quan trọng

để đảm chất lượng của dược liệu lưu hành trên thị trường. Đặc biệt chế biến sau thu

hoạch còn bảo đảm được hàm lượng hoạt chất có trong dược liệu. Tuy nhiên, phần lớn

các cơ sở chưa đầu tư các công nghệ chế biến dược liệu sau thu hoạch.

Hệ thống buôn bán, kinh doanh dược liệu trong nước tập trung chủ yếu là các cơ sở kinh doanh dược liệu ở Hà Nội (Phố Lãn Ông, quận Hoàn Kiếm và xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm), Tp. Hồ Chí Minh (chủ yếu ở quận 5, quận 6, nơi tập trung

cộng đồng người Hoa); xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; một số cửa khẩu biên giới giáp ranh với Trung Quốc và rải rác ở các địa phương trong nước. Trong khoảng 200 cơ sở cung ứng dược liệu trên toàn quốc, chỉ có 18 doanh nghiệp có kho bảo quản dược liệu đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt bảo quản thuốc” đối

với dược liệu. Phần lớn các cơ sở kinh doanh buôn bán dược liệu là các hộ kinh doanh cá thể hoạt động tự phát với địa điểm kinh doanh chật chội, không đáp ứng đủ diện tích và các điều kiện bảo quản dược liệu, không có kho bảo quản hoặc kho bảo quản

được xây dựng không đạt tiêu chuẩn và không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh. Dược liệu thường được chất đống, không đủ giá kệ và có khi không được ghi nhãn mác trên bao bì theo quy định. Việc sơ chế dược liệu cũng còn nhiều bất cập do không đủ diện tích để phơi sấy, quá trình sơ chế không đúng quy trình gây ảnh hưởng đến chất lượng

dược liệu và hiệu quả điều trị của thuốc (Bộ y tế, 2017).

3.2.6. Về xuất nhập khẩu cây dược liệu

Từ ngày 06/03/2016, thực hiện theo quy định tại Thông tư số 03/2016/TT - BYT ngày 21/01/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định hoạt động kinh doanh dược liệu, trong đó quy định cơ sở khi nhập khẩu dược liệu vào Việt Nam phải có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) của dược liệu do tổ chức có thẩm quyền của nước

xuất khẩu cấp và phiếu kiểm nghiệm chất lượng của từng lô dược liệu. Tính đến tháng 03/2016, Bộ y tế đã cấp phép nhập khẩu dược liệu cho 16 doanh nghiệp với tổng khối

66

lượng dược liệu được cấp phép nhập khẩu là 93.000 tấn dược liệu. Theo số liệu của Bộ

y tế, năm 2016 có khoảng 2000 tấn dược liệu đã được nhập khẩu về Việt Nam.

Về xuất khẩu, theo số liệu tổng hợp từ Tổng Cục Hải quan (2012 - 2016), các

doanh nghiệp trong nước đã xuất khẩu khoảng 1.000 - 5.000 tấn dược liệu các loại, với

giá trị xuất khẩu đạt 15 - 30 triệu USD/năm. Các dược liệu xuất khẩu nhiều nhất là

Thảo quyết minh (3.176 tấn), Ý dĩ (843 tấn), Cẩu tích (179 tấn), Hạt sen (150 tấn),

Long nhãn (107 tấn), Thảo quả (69 tấn). Nếu chỉ tính 15 dược liệu xuất khẩu nhiều

nhất đạt 4.857 tấn (99%) với giá trị 5,4 triệu USD (91,6%). Thị trường xuất khẩu dược

liệu chủ yếu là các nước Châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc,

Nhật Bản, Thái Lan và một số nước châu Âu như Pháp và Nga.

Trong thời gian vừa qua, có hiện tượng xuất khẩu lậu nhiều dược liệu và vận

chuyển, xuất khẩu dược liệu tự nhiên qua biên giới theo đường tiểu ngạch làm ảnh

hưởng đến nguồn tài nguyên cây thuốc, suy giảm đa dạng sinh học và có thể làm

biến mất nhiều loài cây thuốc quý hiếm cùng với tri thức bản địa của địa phương

và quốc gia.

3.3. Thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai

3.3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại Tỉnh Lào Cai

3.3.1.1. Điều kiện tự nhiên

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, thuộc khu vực Tây Bắc, được tái lập tháng 10/1991. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 638.389,58 ha. Toàn tỉnh có 01 thành phố, 08 huyện, 144 xã, 12 phường và 8 thị trấn.

Địa hình của Lào Cai được chia làm các dạng khác nhau từ địa hình thung

lũng, địa hình vùng núi thấp đến địa hình vùng núi cao. Về mặt phân bố, có thể chia

thành 02 vùng chính bao gồm: vùng cao (độ cao từ 700 m trở lên) được hình thành từ

những dãy núi khối lớn với hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi

có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm ở phía Đông và phía Tây của tỉnh, tạo ra các vùng

đất thấp, trung bình ở giữa và một vùng ở phía tây của dãy Hoàng Liên Sơn. Vùng

thấp (độ cao dưới 700 m) chủ yếu là thung lũng dọc ven sông, ven suối lớn có địa hình

máng trũng như dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy, đây là địa hình có nhiều

vùng đất đồi thoải, thung lũng là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hoặc xây

dựng và phát triển cơ sở hạ tầng.

67

Bảng 3.8: Diện tích địa hình ở độ cao tương đối so với mực nước biển của tỉnh Lào Cai chia theo các huyện

Độ cao các miền địa hình so với mực nước biển (m)

Tp, Huyện 100 < >1.500 Tổng diện tích tự nhiên (ha) 100 - 300 300 - 700 700 - 1.000 1.000 - 1.500

Tp. Lào Cai 22.967 3.785 10.656 2.599 1.727 2.609 1.591

Bát Xát 106.190 599 14.231 21.662 13.832 22.580 33.285

Mường Khương 55.615 5.051 19.480 20.886 10.198

Si Ma Cai 23.494 989 4.024 6.679 11.801

Bắc Hà 68.176 1.218 10.954 20.949 13.967 21.088

Bảo Thắng 68.219 9.889 42.872 7.932 3.912 2.465 1.149

Bảo Yên 82.791 8.716 51.705 18.281 1.181 2.908

Sa Pa 68.329 207 4.314 7.537 24.504 31.767

Văn Bàn 142.608 4.168 26.485 32.948 23.022 27.204 28.782

638.390 28.375 163.151 132.189 92.742 125.358 96.574 Toàn tỉnh

100,00 4,45 25,55 20,70 14,52 19,63 15,12 Tỷ lệ (%)

Nguồn: Khoanh đo trên bản đồ địa hình tỉ lệ 1/50.000

Nhìn chung địa hình tỉnh Lào Cai khá phức tạp, gây nhiều khó khăn trong việc phát triển cơ sở hạ tầng tuy nhiên, đặc điểm địa hình tại những vùng có độ cao lớn, có

3.3.1.2. Điều kiện kinh tế

đặc điểm khí hậu á nhiệt đới lại thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng ôn đới và dược liệu.

Lào Cai được xếp vào một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của cả nước. Tính trung bình giai đoạn 2014-2018, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh Lào Cai, tăng trên 10%, trong đó công nghiệp

đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trên 14%, dịch vụ trên 8% và nông nghiệp trên 5% (bảng 3-9). Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Lào Cai đã có xu hướng tăng qua các năm tuy nhiên vẫn thấp hơn mức trung bình của cả nước. Năm 2017, thu nhập bình quân của cả nước là 2.385 USD trong khi thu nhập bình quân của tỉnh Lào Cai là 2.296 USD. Điều này cho thấy điều kiện kinh tế và thu nhập của tỉnh Lào Cai còn thấp.

68

Bảng 3.9: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2014-2018 của tỉnh Lào Cai

2014 2015 2016 2017 2018 Chỉ tiêu

Tốc động tăng trưởng GRDP (%) 10,67 10,64 10,13 10,03 10,23

Tốc động tăng trưởng nông nghiệp 6,05 7,13 5,77 5,46 n/a

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 18,60 24,28 14,38 14,41 n/a

Tốc độ tăng trưởng dịch vụ 8,48 7,94 9,56 8,34 n/a

GRDP trên đầu người (USD) 1.855 2.026 2.115 2.296 n/a

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

Công nghiệp đóng góp giá trị cao nhất trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Lào Cai

(41,26% năm 2018), dịch vụ đóng góp 38,15% và nông nghiệp 13,33% (hình 3-

2). Sản xuất nông nghiệp đã có những bước phát triển khá toàn diện, phát huy có

hiệu quả lợi thế về đất đai, khí hậu và chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản

xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ. Các vùng sản xuất hàng hóa: lúa, ngô,

chè, chuối dứa, dược liệu.. đã được hình thành rõ, bước đầu xây dựng các vùng

sản xuất có hiệu quả như, cây chuối, rau an toàn, hoa, cây ăn quả ôn đới. Mặc dù

cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển biến tích cực qua các năm theo hướng tăng dần

tỷ trọng diện tích canh tác những cây có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị

trường như cây rau, cây cảnh, dược liệu và các loài cây công nghiệp lâu năm; tuy

nhiên, phần lớn diện tích đất nông nghiệp của tỉnh Lào Cai vẫn dành cho trồng cây

lương thực (lúa, ngô). Ví dụ, năm 2017, tổng diện tích trồng cây lương thực của

toàn tích là 70.403 ha cao gấp 03 lần diện tích trồng cây hoa màu hàng năm và cây

công nghiệp. Mặt khác sản xuất nông nghiệp được ứng dụng công nghệ cao vẫn còn

hạn chế. Năm 2017, tổng diện tích đất nông nghiệp được ứng dụng công nghệ cao,

cho năng suất tốt, đạt 7.765 ha, chỉ chiếm 8% tổng diện tích canh tác đất nông

nghiệp của toàn tỉnh. Mặc dù đã có chủ trương và chính sách phát triển cây có giá

trị kinh tế cao như cây dược liệu, tuy nhiên diện tích trồng cây dược liệu của toàn

tỉnh còn khá khiêm tốn. Năm 2017, tổng diện tích trồng cây dược liệu (cả cây lâu

năm và cây hàng năm) của tỉnh Lào Cai đạt 850 ha, chiếm 2,9% tổng diện tích

trồng cây lâu năm và hàng năm (không kể diện tích trồng cây lương thực) của

toàn tỉnh (bảng 3.10)

69

100

90

80

42.26

42.52

42.9

42.78

42.69

70

44.08

60

Dịch vụ

50

Công nghiệp và xây dựng

Nông nghiệp

40

30.46

35.37

34.55

38.15

36.6

30.2

30

20

18.99

10

16.46

15.47

15.36

13.83

13.33

0

2010

2014

2015

2016

2017

2018

Đơn vị: %

Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Lào Cai giai đoan 2010-2018

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

Bảng 3.10: Thống kê diện tích canh tác (ha) phân theo nhóm cây của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2017.

2014 2015 2016 2017 STT Nhóm cây 2010

I 60.767 69.894 68.164 69.232 70.403 Cây lương thực

- Lúa 29.678 30.762 30.730 31.609 32.279

- Ngô 31.089 39.132 37.434 37.623 38.124

II 13.364 15.331 16.870 17.126 19.439 Cây hàng năm

- Bông 25 20 20 10

- Mía 279 319 325 323 333

- 1.319 1.764 1.726 1.746 1.760 Lạc

- 82 73 70 65 60 Vừng

- Lanh 83 78 79 77 77

- 784 55 Thuốc lá

70

STT Nhóm cây 2010 2014 2015 2016 2017

8.957 10.720 11.144 11.123 13.057 - Rau, đậu các loại

253 260 252 267 285 - Hoa, cây cảnh

232 511 n/a 324 - Dược liệu

8.207 8.226 9.119 9.805 7.297 III Cây lâu năm

605 334 655 801 977 - Cam quýt chanh

1.005 812 997 905 1.180 - Dứa

1.330 1.478 1.288 1.269 1.239 - Nhãn

683 766 680 674 645 - Vải

1.075 1.419 1.483 2.012 2.050 - Chuối

305 373 271 245 245 - Xoài

105 215 526 - Dược liệu

4.095 7.433 7.813 - 6.570 7.120 Cây công nghiệp

3.3.1.3. Điều kiện xã hội

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

a. Dân số và lao động

Theo thống kê của tỉnh, dân số trung bình năm 2015 của tỉnh Lào Cai có 665.152 người, trong đó dân số nông thôn 513.189 người, chiếm 77,15% dân số chung. Tổng số lao động trong độ tuổi 458.142 người, riêng lao động nông thôn

có 347.642 người (đang làm việc là 327.955 người), bình quân một lao động nông nghiệp phụ trách 0,24 ha đất sản xuất nông nghiệp và 0,97 ha đất lâm nghiệp.

b. Trình độ lao động nông nghiệp:

Nhìn chung hiện nay lực lượng lao động nông nghiệp có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở Lào Cai hiện còn thấp. Theo niên giám thống kê tỉnh Lào Cai năm 2015, lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm khoảng 7,82%. Số lao động được đào tạo về quản lý, kỹ thuật thông qua dự án đào tạo cán bộ xã, các dự án khuyến nông, khuyến

lâm trong 10 năm qua bình quân mỗi năm khoảng 9.000 người.

c. Mức sống dân cư nông thôn

Theo thống kê của Ủy ban nhân dân tỉnh, năm 2017, toàn tỉnh có 35.746 hộ

nghèo, chiếm tỷ lệ 21,81% tổng số hộ; tổng số hộ cận nghèo là 17.683 hộ, chiếm tỷ lệ 10,79% tổng số hộ dân cư.

71

3.3.2. Thực trạng phát triển cây dược liệu tại Lào Cai

3.3.2.1. Tiềm năng phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai

(cid:5) Nguồn dược liệu tự nhiên

Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2017), hiện nay chưa có đánh giá cụ thể về

nguồn dược liệu tại tỉnh do các loài dược liệu được mọc tự nhiên chủ yếu trong rừng

và được khai thác phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Về chủng loại, cây dược

liệu tự nhiên hiện chỉ còn có một số loại đang được khai thác với số lượng ngày càng

hạn chế như: giảo cổ lam, chè dây, đẳng sâm, hà thủ ô.... Theo ước tính của các cơ

quản quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện có diện tích quy dồn đông đặc

dự kiến là 205,5 ha dược liệu

(cid:5) Nguồn dược liệu nuôi trồng

Vào những năm 1960-1970 trên địa bàn tỉnh Lào Cai có 2 khu vực trồng cây

dược liệu mạnh là Trại nghiên cứu cây thuốc (tại SaPa) và nông trường dược liệu tại

xã Na Hối, Nậm Mòn (huyện Bắc Hà). Đây là 2 địa chỉ nghiên cứu, thực nghiệm và

sản xuất một số loại dược liệu như Đương quy, Tam thất, Đỗ trọng, Sinh địa, Xuyên

khung, Độc hoạt, Bạc hà,... với diện tích trên 1.000 ha. Tuy nhiên do nhiều yếu tố

khách quan chủ yếu là do việc chuyển đổi từ sản xuất kế hoạch sang cơ chế thị trường

nên cây dược liệu đã không bắt kịp cơ chế, do vậy nhiều loại cây trồng giờ đã không

còn trên địa bàn.

Hiện nay, việc sử dụng dược liệu trong chăm sóc sức khoẻ (thuốc, thực phẩm

chức năng, mỹ phẩm) đã được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất và bắt đầu có nhu cầu

lớn. Các loài cây dược liệu có thế mạnh phát triển trên địa bàn tỉnh như: Actiso,

Đương quy, Bạch truật, Bạch chỉ, Độc hoạt, Đẳng sâm, Chè dây, Sinh địa, Tam

Thất… đã được khôi phục và phát triển theo các đơn đặt hàng của các công ty dược

đóng trên địa bàn tỉnh. Vì vậy diện tích canh tác cây dược liệu ngày càng tăng cao.

Năm 2015, diện tích canh tác cây dược liệu trên địa bàn tỉnh tăng 115,4% so với năm

2014 trong đó nhóm cây hàng năm tăng 120,2% và cây lâu năm tăng 104,8%. Các cây

có diện tích tăng mạnh bao gồm: Actiso (18%), Y dĩ (19,1%), Sa nhân (99,3%) và chè

dây (64,3%). Các cây có diện tích trồng lớn nhất bao gồm: Gừng, Sa nhân, nghệ vàng,

Actiso, Xuyên khung và Đương quy. Tính trung bình cả giai đoạn 2012-2018, tổng

diện tích trồng dược liệu của Lào Cai tăng 30,7% trong đó cây hàng năm tăng 19,18%,

cây lâu năm tăng 108,83% (bảng 3.11).

72

Bảng 3.11: Diện tích canh tác dược liệu theo loại cây tại tỉnh Lào Cai

2016 2017 2018 Năm 2012 Năm 2014 Năm 2015

DT (ha) DT (ha) DT (ha) TT Chủng loại DT (ha) DT (ha) DT (ha) Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2012-2018 Tăng trưởng so với năm trước Tăng trưởng so với năm trước (%) Tăng trưởng so với năm trước (%) Tăng trưởng so vói năm trước (%) Tăng trưởng so với năm trước (%)

I 317,3 232,0 -26,9 510,8 120,2 366,3 -28,3 270,7 -26,1 425 57 19,18% Nhóm cây hàng năm

0

18,0 -13,3 5,6 88,5 28,6 100,3 70 51 105,3 -20,9 78,3 5,0 77 48,7 105 10,0 -4,5 -0,28 77 123 152,57 63,81 172 35,8% 53,27% 171,7 75,9 1 Actiso 2 Đương quy 3 Xuyên khung 27,6 0,0 54,0 75,0 33,0 95,0

140 40

19,1 17,9 104,8 25,0 214,2 49,0 215,0 460 433,4 313,5 440,9 -71,4 1,73 53 635 32,5 44,02 110,05 108,83 80,1 4 Y dĩ 9 Gừng 11 Nghệ vàng II 1,0 181,7 58,3 21,0 105,0 Nhóm cây lâu năm

2,6 22,6 769 22,6 0 40 77 17 Cây Hoa hồi (Đại hồi) 0,0 0,0

11,2 6,0 6,7 40,18 3,2 -52,24 11 2,44 18 Tam thất 19 Hoa hòe 0,0 15,3 0,0 6,0

2,84 0 504 80

20 Sa Nhân 21 Chè dây 387,6 111,3 398,6 16,5 16,5 43,5 799,7 10,18 711,6 92,0 7,0 337,0 43,0 375,6 113,9 -10,3 183,4 11,50 725,8 26,44 3,85 49,0 70,8 30,7 -11,0 1.060 Tổng cộng

99,3 64,3 115,4 Nguồn: Quy hoạch dược liệu tỉnh Lào Cai (2016) và tổng hợp từ số liệu của UBND tỉnh Lào Cai năm 2017 và năm 2018

73

(cid:5) Tiềm năng đất đai

Theo quy hoạch dược liệu của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, tổng diện tích đất có tiềm năng phát triển cây dược liệu hàng hóa, có lợi thế cạnh tranh cao trên địa bàn tỉnh Lào Cai là 26.299ha, tập trung tại 06 huyện Sa Pa, Mường Khương, Bắc Hà,

SiMaCai, Bát Xát và Văn Bàn. Trong tổng quỹ đất tiềm năng cho cây dược liệu, đất rừng chiếm 76,4% (tương đương 20.093ha), đất trồng cây hàng năm (chủ yếu là đất trồng ngô và các loại rau, màu) chiếm 22,3% cơ cấu diện tích (tương đương 5.870 ha)

và đất trồng lúa chiếm 0,6% ha (tương đương 156 ha). So với các loại cây nông nghiệp khác, quỹ đất có tiềm năng phát triển dược liệu tại tỉnh Lào Cai là rất lớn, chỉ thấp hơn cây lúa và cây ngô (bảng 3.12)

Bảng 3.12: Tổng hợp tiềm năng đất đai có khả năng phát triển sản xuất cây dược liệu hàng hóa tỉnh Lào Cai

Chủng loại đất tiềm năng phát triển cây dược liệu (ha)

TT

Các huyện

Đất trồng lúa

Đất trồng cây lâu năm

Đất trồng rừng sản xuất

Đất rừng tự nhiên phòng hộ

Diện tích nghiên cứu quy hoạch (ha)

Đất rừng trồng phòng hộ

Đất rừng tự nhiên đặc dụng

Đất khả năng phục hồi rừng phòng hộ

Đất rừng tự nhiên sản xuất

Đất trồng cây hàng năm khác

26.299

156

5.870

180

1.952

3.161

10.277

1.228

2.401

1.074

Tổng cộng

100,0

0,6

22,3

0,7

76,4

Cơ cấu (%)

1 H. Sa Pa

7.996

70

13

51

646

3.015

1.228

1.831

100

1.042

2 H. Bát Xát

8.072

86

80

517

426

4.783

0

435

914

831

3 H. Bắc Hà

4.332

0

87

553

990

530

0

76

60

2.036

4 H. Si Ma Cai

2.181

0

0

19

297

310

0

0

0

1.555

5 H.M. Khương 2.868

0

0

262

802

1.639

0

59

0

106

6 Văn Bàn

850

0

0

550

0

0

0

0

0

300

3.3.2.2. Thực trạng bảo tồn và khai thác cây dược liệu tự nhiên

Nguồn: Quy hoạch dược liệu tỉnh Lào Cai (2016)

Lào Cai là một địa phương được đánh giá có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú và đa dạng bậc nhất cả nước. Toàn tỉnh hiện có gần 1.000 loài cây dược liệu, trong

đó có 78 loài có tiềm năng khai thác và 70 loài quý hiếm thuộc diện phải bảo tồn (Thúy Phượng, 2018). Hiện nay tỉnh Lào Cai thực hiện công tác bảo tồn dược liệu thông qua các khu bảo tồn tự nhiên và các trung tâm nghiên cứu giống cây thuốc. Trên địa bàn có 03 khu bảo tồn tự nhiên là Vườn quốc gia Hoàng Liên trực thuộc Ủy Ban

74

Nhân Dân tỉnh Lào Cai, khu bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn và Khu bảo tồn thiên nhiên

Bát Xát trực thuộc sở nông nghiệp. Trong 03 khu bảo tồn thiên nhiên này, chỉ có vườn Quốc gia Hoàng Liên đã được thành lập từ lâu đời và là khu bảo tồn chính của nhiều loại dược liệu quý hiếm. 02 khu bảo tồn Văn Bàn và Khu bảo tồn Bát Xát mới được thành lập, chưa có báo cáo thống kê và hoạt động bảo tồn cũng chưa có gì rõ nét. Theo báo cáo chính thức về kết quả thực hiện nhiệm vụ của Vườn quốc gia Hoàng Liên, tính đến tháng 05 năm 2018, công tác bảo tồn dược liệu tại khu bảo tồn này đã đạt được một số kết quả nhất định như đã bảo tồn thành công cây Hoàng Liên gai và cây Hoàng

liên chân gà. Thực hiện trồng 16.000 cây con Hoàng liên gai vào vườn sản xuất và 300 cây vào vườn giống gốc, xây dựng được vườn ươm và mô hình trồng Giảo Cổ lam, khảo sát vùng nguyên liệu cây thuốc tắm của người giao đỏ và xây dựng vườn ươm

cây thuốc tắm của người giao đỏ tại vườn quốc gia Hoàng Liên, bảo tồn và trồng chuyển bầu một số loại cây thuốc quý hiếm như cây bạch quả, cây bách xanh, cây thông đỏ và đang hình thành dự thảo để xây dựng mô hình phát triển kinh tế cây Sâm Ngọc Linh. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo tồn cây dược liệu tự nhiên

quý hiếm, tuy nhiên theo ý kiến của các chuyên gia là các cán bộ đang trực tiếp công tác tại Vườn quốc gia Hoàng Liên (tác giả phỏng vấn 02 cán bộ phụ trách các mảng dự án bảo tồn tại Vườn Quốc Gia Hoàng Liên), công tác bảo tồn hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do thiếu vốn, thiếu nguồn lực và trình độ khoa học kỹ thuật. Hiện nay chưa

có số liệu thống kê về sản lượng, bao nhiêu loại dược liệu mọc ở đâu, chưa có thư viện lưu trữ tri thức về các cây thuốc (địa bàn sống, điều kiến sinh sống, sản lượng) do đó việc bảo tồn vẫn chỉ được thực hiện đối với từng loại cây trên quy mô nhỏ và làm từng

bước thử nghiệm đối với một số loài cây nên hiệu quả chưa cao.

Bên cạnh đó, nếu chỉ thực hiện bảo tồn cây dược liệu ở các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn thì chưa đủ vì diện tích rừng ở Lào Cai là rất nhiều cần có sự phối hợp chặt chẽ với công tác kiểm lâm về vấn đề quản lý khai thác cây dược liệu tự nhiên.

Tuy nhiên theo ý kiến phỏng vấn của một cán bộ kiểm lâm, thuộc chi cục kiểm Lâm tỉnh Lào Cai, tại địa phương chưa đưa ra chính sách riêng về bảo tồn cây dược liệu mà các hoạt động bảo tồn cây dược liệu được thực hiện lồng ghép với hoạt động bảo vệ

rừng nên hiệu quả bảo tồn đối với cây dược liệu tự nhiên còn hạn chế. Mặt khác, đất rừng được giao cho chủ rừng và bà con nông dân vẫn thu hái tự phát, không được kiểm soát trong khi đó công tác kiểm lâm chủ yếu quản lý hoạt động thu mua dược liệu (cấp giấy phép thu mua dược liệu). Bên cạnh đó, trong công tác tuyên truyền của

kiểm lâm với người dân bản địa về khai thác bền vững cũng chưa có chuyên đề riêng với cây dược liệu. Khai thác cây dược liệu tự nhiên chỉ được lồng gép trong các

75

chuyên đề chung như săn bắn động vật hoang dã hay khai thác gỗ, không có tài liệu

hướng dẫn về kỹ thuật khai thác cây dược liệu tự nhiên nói chung và các loài cây trong sách đỏ nói riêng. Bên cạnh đó chính quyền địa phương chưa đưa ra chính sách riêng về bảo tồn cây dược liệu tự nhiên nên hoạt động bảo tồn và quản lý khai thác cây dược liệu tự nhiên còn rất hạn chế. Hiện tượng khai thác cây dược liệu tự nhiên tự phát quá đà vẫn diễn ra rất phổ biến đe dọa đến sự sinh tồn của nhiều loài cây dược liệu quý hiếm.

Bênh cạnh đó công tác bảo tồn nguồn gen dược liệu tự nhiên còn hạn chế. Hiện

nay trên địa bàn có 01 trung tâm duy nhất chịu trách nhiệm bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu tự nhiên đó là trạm nghiên cứu và trồng cây thuốc Sapa (thuộc Viện dược liệu). Tuy nhiên quy mô của trạm vẫn còn nhỏ, thiếu nguồn lực, vốn và cơ sở hạ

tầng do đó việc phát triển nguồn gen cây dược liệu chỉ được thực hiện thí điểm trên một số loài cây, chủ yếu là các loài cây thuộc sách đỏ. Hiện chưa có cây dược liệu nào được cấp chứng nhận văn bản về giống.

Nói tóm lại, công tác bảo tồn và quản lý khai thác cây dược liệu tự nhiên tại

3.3.2.3. Thực trạng sản xuất cây dược liệu tại tỉnh Lào cai

địa phương vẫn chưa được quan tâm đúng mực, còn hạn chế và chưa hiệu quả. Thực trạng nhiều cây dược liệu quý hiếm đang bị khai thác cạn kiệt dẫn đến bị mất dần tính đa dạng sinh học, thậm chí có nguy cơ tuyệt chủng đang là một thực tế cấp bách tại địa phương.

(cid:4) Các loại cây dược liệu ở Lào Cai

Về chủng loại cây dược liệu chính trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên nhóm cây dược liệu đang phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa được chia làm các nhóm như sau:

• Nhóm cây lâu năm dưới tán rừng (thời gian sinh trưởng đến thu hoạch sản phẩm >1 năm), gồm các cây chủ yếu sau: Giảo cổ lam, chè dây, Sa Nhân

Tím, Tam Thất, cây thuốc tắm của người dao đỏ.

• Nhóm cây lâu năm không dưới tán rừng (thời gian sinh trưởng đến thu hoạch sản phẩm >1 năm), gồm các cây chủ yếu sau: Đương quy, Đỗ trọng.

• Nhóm cây hàng năm (thời gian sinh trưởng đến thu hoạch sản phẩm <1 năm),

gồm các cây chủ yếu sau: Actiso, Xuyên khung, Ý dĩ, Nghệ vàng, gừng.

- Về nguồn giống: có 2 nguồn giống chính là do dân tự để lại từ vụ trước và

doanh nghiệp đầu tư thu mua sản phẩm cung ứng cho dân trồng.

76

• Do dân tự để: chủ yếu là cây Actiso, chè dây và Y dĩ, đây là những cây trồng dễ để giống nhờ thích hợp với điều kiện khí hậu vùng canh tác. Người

dân chỉ phải mua giống với diện tích năm đầu tiên, các năm sau hầu hết đều tự để lại từ vụ trước, lượng giống tự để chiếm 80% lượng giống sử dụng trong dân.

• Các giống đi mua gồm: Tam Thất, Xuyên Khung, Đương quy, Đan sâm…, đa phần các cây này đang trong quá trình thử nghiệm phát triển nên nguồn giống do các công ty chế biến dược, thu mua và bao tiêu sản phẩm theo hình thức hợp

đồng với dân và cung cấp giống đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra. Duy nhất có cây Tam Thất do người sản xuất tự mua giống từ Trung Quốc.

(cid:4) Hiện trạng diện tích trồng cây dược liệu hiện có trên địa bàn của tỉnh

Hiện nay cây dược liệu được trồng ở tất cả các huyện thuộc tỉnh Lào Cai, trong đó tập trung vào 06 huyện bao gồm Bát Xát, Mường Khương, Si Ma Cai, Bắc Hà, Sa Pa và Văn Bàn. Bát Xát và Mường Khương có diện tích trồng cây dược liệu lớn nhất, và chủ yếu tập trung trồng cây dược liệu lâu năm (Sa nhân). Các cây dược liệu hàng

năm như Đương quy hay Actiso được trồng phổ biến ở Bắc Hà và Sa Pa. Theo quy hoạch chi tiết về phát triển dược liệu của tỉnh Lào Cai, từ nay đến năm 2020, Bát Xát, Mường Khoang và Si Ma cai sẽ tập trung vào phát triển cây dược liệu lâu năm như Sa

nhân và Tam Thất, trong khi đó Sapa, Bắc Hà và Văn Bản được quy hoạch để trồng cây dược liệu hàng năm như Đương quy, Actiso, Bạch truật… Từ năm 2012-2018 tổng diện tích trồng dược liệu ở tỉnh Lào Cai tăng mạnh, năm 2014 diện tích trồng dược liệu của tỉnh tăng 35% so với năm 2012, năm 2015 tăng 86% so với năm 2014 và năm

2016 tăng 51% và năm 2018 tăng 70% so với năm 2016. 02 huyện có tốc độ tăng trưởng diện tích dược liệu lớn nhất là Mường Khương và Văn bàn trong đó cây Sa nhân được trồng với diện tích tăng mạnh nhất (bảng 3.13).

77

Bảng 3.13: Diện tích trồng cây dược liệu của các huyện trên địa bàn tỉnh Lào cai giai đoạn 2012-2018

2012

2014

2014/2012

2015

2015/2014

2016

2016/2015

2018

2018/2016

STT

Địa Điểm

(%)

%

DT(ha)

%

DT (ha) DT (ha)

DT(ha)

DT(ha)

105,6

241

128,22

243,4

1

271,5

11,54

23,76

336

I

Bát Xát

62,6

144

130,03

117

-18,75

131

11,97

45,80

191

Nhóm cây hàng năm

*

54

95

75,93

100

5,26

105

5,00

28,57

135

1

Xuyên khung

29

10

-65,52

11

1,00

37.5

240,91

2

Đương quy

2

3

Độc hoạt

2

4

Bạch truật

8,6

20

133

7

-65

15

114,28

-3,33

14,5

5

Cây khác

43

97

125,58

117,4

21,03

140,5

19,68

3,20%

145

Nhóm cây lâu năm

*

43

90

109,3

106,9

17,78

110

3,00

31,82

145

1

Sa nhân

7

10,5

50

10,5

0,00

-100

0

2

Chè dây

3

Tam thất

20

0

4

Cây khác

47,0

20,0

67,5

54,3

62,09

47,33

80

II

-57,45

33,5

Bắc Hà

47,0

20,0

61,4

38,3

18,34

108,88

80

-57,45

32,28

Nhóm cây hàng năm

*

16,0

16,0

0

5

-68,75

160

13

1

Actiso

4,0

13,6

240

8

-41,18

575

54

2

Đương quy

0,0

0,3

3

Bạch truật

78

2012

2014

2014/2012

2015

2015/2014

2016

2016/2015

2018

2018/2016

STT

Địa Điểm

(%)

%

%

DT(ha)

DT (ha) DT (ha)

DT(ha)

DT(ha)

1,6

4

Bìm Bìm

0,03

5

Cây Ban

0,02

6

Độc hoạt

47,0

0,00

7

Gừng

1,0

8

Sinh Địa

10

9

Ý dĩ

10

Khác

13

-13,33

15

0

0

1233,33

-100

1,2

16

0

Nhóm cây lâu năm

*

1,0

1,0

0

1

Chè dây

0,2

0

2

Đẳng Sâm

15

0

3

Khác

35,0

85,0

27,06

161,7

49,72

III

Sa Pa

66,0

88,57

28,79

108

35,0

78,3

-8,01

92

27,72

66,0

88,57

16,64

*

Nhóm cây hàng năm

72,03

27,0

70,0

65

-7,14

67,0

3,08

59,0

118,52

18,64

1

Actiso

2,0

2

0,00

4

100

2

Đương quy

0,3

0,3

0,00

9,7

3133,33

3

Xuyên khung

3,0

6,0

2

4

Gừng

5,0

5

7,0

40

7,3

46,00

5

Cây khác

79

2012

2014

2014/2012

2015

2015/2014

2016

2016/2015

2018

2018/2016

STT

Địa Điểm

(%)

%

%

DT(ha)

DT (ha) DT (ha)

DT(ha)

DT(ha)

2

6

Độc hoạt

0

7

Bạch truật

0

0

6,7

432,84

69,7

95,24

35,7

*

Nhóm cây lâu năm

0,7

0,00

0,7

1

Tam thất

6,0

2

Hoa hòe

24,0

20

20

3

Sa nhân tím

30

500

5

4

Chè dây

15,7

57

10

5

Khác

5,0

IV

0,0

-100

109,3

37,6

-65,60

279,3

642,82

Văn Bàn

5

70,7

0

-100

0

-100

0,3

*

Nhóm cây hàng năm

3,0

1

Đương quy

5,0

43,2

0

2

Gừng

2,3

0

3

Khúc khắc

22,0

0

4

Nghệ vàng

0,2

0

5

Bạc hà

6

0,3

Khác

38,6

37,6

-2,59

279.0

642,82

*

0

0

0

Nhóm cây lâu năm

38,5

22,6

-41,30

207.0

1

Sa Nhân

80

2012

2014

2014/2012

2015

2015/2014

2016

2016/2015

2018

2018/2016

STT

Địa Điểm

(%)

%

%

DT(ha)

DT (ha) DT (ha)

DT(ha)

DT(ha)

16

2

Chè

0,1

3

Đinh lăng

15

56

4

Khác

V

Si Ma Cai

1

1

81,4

230,5

179,73

0

82,4

-38,39

142

1

1

74

113,33

0

75

160

-75,63

39

*

Nhóm cây hàng năm

1,0

1,0

2500

5,0

130

-84,62

20

1

Y dĩ

45,0

2

Gừng

25,0

3

Nghệ vàng

30

10

-66,67

4

Đương quy

2

5

Xuyên khung

2

6

Bạch truật

5

7

Khác

7,4

46,10

0

0

0

0

70,5

852,70

103

*

Nhóm cây lâu năm

7,4

5,5

-45,45

3

1

Tam thất

55

81,82

100

2

Sa nhân tím

10

0

0

3

Khác

VI

50,5

1

-98,02

70,2

69,2

228,1

224,93

580,0

154,27

H. Mường Khương

0

0

*

50,5

1,0

-98,02

28,5

27,5

10

-64,91

Nhóm cây hàng năm

81

2012

2014

2014/2012

2015

2015/2014

2016

2016/2015

2018

2018/2016

STT

Địa Điểm

(%)

%

%

DT(ha)

DT (ha) DT (ha)

DT(ha)

DT(ha)

1

Actiso

2,5

0

2

Đương quy

0

3

Độc hoạt

0

4

Bạch truật

0

5

Y dĩ

20,0

0

6

Gừng

5,5

6,0

0

7

Ngải cứu

1,0

0

8

Cây khác

45,0

10

0

*

0

0

0

41,71

218,1

422,90

580,0

154,27

Nhóm cây lâu năm

1

Cây Hoa hồi (Đại hồi)

2,6

22,6

769,23

37,6

66,34

2

Tam thất

3,1

0,5

83,87

3

Sa Nhân

36,0

180

400

542,4

201,33

4

Khác

Nguồn: Do tác giả tổng hợp từ 2012 đến 2018

82

Năm 2012

Năm 2014

Năm 2015

2017

2018

TT

Chủng loại

DT

CC

CC (%)

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

DT (ha)

CC (%)

(ha)

(%)

Bảng 3.14: Cơ cấu cây dược liệu tính theo diện tích đất trồng giai đoạn 2012-2018

I

317,3

84,5

232,0

68,8

510,8

70,4

324,2

38,1

522

41,8

Nhóm cây hàng năm

77

1 Actiso

75,0

22,3

88,5

12,2

77

7,3

27,6

9,1

6,2

123

2 Đương quy

33,0

9,8

28,6

3,9

48,7

0,0

0,0

5,7

9,8

172

3 Xuyên khung

54,0

14,4

95,0

28,2

100,3

13,8

105,0

12,4

13,8

53

4 Y dĩ

0,3

1,0

21,0

6,2

25,0

3,4

40

4,7

4,2

7

0,0

0,0

0,02

0,0

0,0

0,6

5 Bạch truật

19

6 Độc hoạt

0,0

0,0

0,0

0,0

0,0

1,5

0,0

0,0

7 Gừng

181,7

48,4

214,2

29,5

0,0

8 Nghệ vàng

0,0

0,0

49,0

6,8

0,0

0,0

50

60

9 Cây khác

53,0

2,1

5,13

0,7

14,1

7,0

5,9

4,8

58,3

II

15,5

105,0

31,2

215,0

29,6

525,9

61,9

728

58,2

Nhóm cây lâu năm

2,7

10 Cây Hoa hồi (Đại hồi)

0,0

0,0

0,0

2,6

0,4

22,6

40

3,2

83

Năm 2012

Năm 2014

Năm 2015

2017

2018

TT

Chủng loại

DT

CC

DT (ha)

CC (%)

CC (%)

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

(ha)

(%)

11

0,0

0,0

11,2

3,2

0,4

11 Tam thất

0,0

0,0

1,5

0,9

6,0

1,8

6,0

0,0

12 Hoa hòe

0,0

15,3

0,8

0,0

504

13 Sa Nhân

4,1

43,0

92,0

27,3

183,4

25,3

398,6

46,9

40,3

80

11,4

7,0

2,1

11,50

16,5

1,9

1,6

6,4

14 Chè dây

85

93

0,3

0,0

7,4

15 Cây khác

375,6

100,0

337,0

100,0

725,8

100,0

850,1

100

1.250

100

Tổng cộng

Nguồn: Tác giả tổng hợp

84

Từ bảng 3-13 và 3-14 ta thấy, trong giai đoạn 2012-2018, tổng diện tích đất

trồng dược liệu tăng mạnh. So với năm 2012, diện tích đất trồng dược liệu tăng 474,5 ha với mức tăng trung bình hàng năm là 40,75%. Tuy nhiên cơ cấu đất trồng có sự thay đổi. Cụ thể trong giai đoạn 2012-2015, chủ yếu diện tích cây trồng tập trung ở cây dược liệu hàng năm trong đó các cây Xuyên khung, Actiso, Gừng và Nghệ là các cây được trồng phổ biến. Bắt đầu từ năm 2017, ta nhận thấy xu hướng thay đổi rõ rệt trong đó diện tích trồng cây dược liệu lâu năm tăng mạnh và chiếm phần lớn trong cơ cấu đất trồng cây dược liệu, trong đó Hoa hồi, Sa nhân và Chè dây là các cây dược liệu lâu

năm được chú trọng hiện nay và tiếp tục được phát triển mạnh trong tương lai. Cơ cấu cây trồng dược liệu hàng năm cũng thay đổi rõ rệt. Nếu như những năm trước đây, bà con nông dân còn trồng một lượng lớn cây Gừng và cây Nghệ, thì hiện nay và trong

tương lai, các loại cây này được thay thế bằng các loại cây dược liệu có giá trị cao hơn như cây Actiso, cây Đương quy, Xuyên khung, Bạch truật và Độc hoạt trong đó cây Đương quy sẽ được chú trọng đầu tư trồng nhiều nhất.

Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, tính đến năm 2016, tổng sản

lượng dược liệu trên địa bàn toàn tỉnh ước tính khoảng 3.000 - 4.000 tấn khô, trong đó riêng cây Actiso chiếm trên 50% sản lượng (2.250 tấn lá, củ, hoa), ngoài ra các cây dược liệu khác: Xuyên khung trung bình gần 100 tấn, Đương quy khoảng 50 tấn, Ý dĩ khoảng hơn 50 tấn, Sa nhân tím 15 tấn…. Giá trị thu nhập bình quân đạt trên 40 triệu

đồng/ha/năm, nhiều diện tích cho lợi nhuận 90 - 120 triệu/ha.

- Về tình hình tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cây dược liệu

Hiện nay hình thức sản xuất cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai chủ yếu là theo hình

thức hộ gia đình. Quy mô diện tích trên mỗi hộ sản xuất biến động tùy theo chủng loại cây trồng. Với nhóm cây dược liệu được trồng xen trên đất rừng, quy mô sản xuất trên mỗi hộ dân tương đối lớn từ 0,5-5 ha trên mỗi hộ. Đối với các cây dược liệu hàng năm như Actiso, Xuyên khung, Đương quy, Bạch truật thì quy mô sản xuất tương đối nhỏ

từ 50-1000 m2/hộ.

Hình thức tổ chức sản xuất cây dược liệu đa phần do các cá thể hộ gia đình tự quyết định đầu tư trên cơ sở có sự tham gia bao tiêu sản phẩm của đơn vị thu

mua hoặc các Công ty dược trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên cá biệt có một số chủng loại cây được đầu tư với quy mô lớn, tập trung như: Tam thất, quy mô từ 0,5 ha đến 5ha/cơ sở (do một số hộ có tiềm lực về vốn tự góp vốn tổ chức sản xuất), nhóm cây thuốc tắm của người dao đỏ đã có mô hình của Công ty cổ phần sản xuất và kinh

doanh cây bản địa Sapa.

85

Về phương thức tiêu thụ, trên 95% sản lượng cây dược liệu được bán buôn cho

các công ty dược liệu hoặc tiểu thương, chỉ 5% sản lượng cây dược liệu được bán lẻ ở chợ hoặc tại các hộ gia đình. Bước đầu có sự tham gia của các doanh nghiệp, các công ty vào ký hợp đồng và thu mua nguyên liệu trên địa bàn tỉnh như: Công ty dược phẩm Traphaco, Công ty Ba Đình Xanh, Công ty TNHH tâm phát GREEN và một số công ty khác, nhờ vậy đầu ra sản phẩm đã được ổn định, đảm bảo cho người dân yên tâm sản xuất. Tuy nhiên các Công ty này cũng chỉ đăng ký thu mua một số lượng và chủng loại cây trồng nhất định như: Gừng, Actiso, Xuyên khung, Đương quy, lượng tiêu

thụ qua các công ty cũng mới chiếm tỷ lệ khoảng 40 - 70% sản lượng sản xuất ra (tùy theo chủng loại cây trồng), số lượng còn lại vẫn do người dân tự tiêu thụ trên thị trường tự do. Nhiều chủng loại cây dược liệu có tiềm năng và giá trị cao như: Sa

nhân tím, Đỗ trọng, Khúc Khắc, Hoa Hòe, cây hồi, Bìm Bìm, Sinh Địa… vẫn chủ yếu được bán ra thị trường tự do.

Bảng 3.15: Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2015

Tình hình sản xuất, tiêu thụ

TT

Loại cây

Phương thức sản xuất

Phương thức tiêu thụ Ghi chú

1 Cây Actiso - Hình thức sản xuất: Hộ gia đình; Doanh nghiệp dược thu mua hỗ trợ về giống, vật tư và đầu ra cho sản phẩm - Hộ gia đình tự bán lẻ: 0% sản lượng - Bán buôn: 100% sản lượng. - Đối tượng mua buôn: Công ty

dược, Tư thương.

- Quy mô diện tích/hộ: - 100 -1.000 m2/hộ

2 Sa nhân tím - Hộ gia đình tự bán lẻ: 5% sản lượng - Bán buôn: 95% sản lượng. - Đối

- Hình thức sản xuất: Hộ gia đình - Quy mô diện tích/hộ: - 5000 -50000 m2/hộ

tượng mua buôn: Tư thương, chủ yếu là tư thương có nguồn gốc từ Trung Quốc.

- Hình thức sản xuất: Hộ gia đình; Doanh nghiệp dược thu mua hỗ trợ về giống, vật tư 3 Xuyên Khung - Hộ gia đình tự bán lẻ: 0% sản lượng - Bán buôn: 100% sản lượng. - Đối tượng mua buôn: Công ty - Quy mô diện tích/hộ: 200 -5.000 dược, tư thương m2/hộ

86

Tình hình sản xuất, tiêu thụ

TT

Loại cây

Phương thức tiêu thụ Ghi chú

Phương thức sản xuất - Hình thức sản xuất: Hộ gia đình,

doanh nghiệp; 4 Tam Thất

- Hộ gia đình tự bán lẻ: 15% sản lượng - Bán buôn: 85% sản lượng. - Đối tượng mua buôn: tư thương.

5 Đương Quy - Hộ gia đình tự bán lẻ: 5% sản lượng - Bán buôn: 95% sản lượng. - Đối tượng mua buôn: tư

thương; doanh nghiệp cung ứng giống, vật tư.

6 Chè dây

- Hộ gia đình tự bán lẻ: 5% sản lượng - Bán buôn: 95% sản lượng. - Đối tượng mua buôn: Tư thương.

7 Gừng - Hộ gia đình tự bán lẻ: 5% sản lượng - Bán buôn: 95% sản lượng. - Đối tượng mua buôn: tư

thương; doanh nghiệp cung ứng giống, vật tư.

8 Nghệ vàng - Hộ gia đình tự bán lẻ: 5% sản lượng - Bán buôn: 95% sản lượng. - Đối tượng mua buôn: Tư

- Quy mô diện tích/hộ: - 1000 -50000 m2/hộ /cơ sở - Hình thức sản xuất: Hộ gia đình; Doanh nghiệp dược thu mua hỗ trợ về giống, vật tư - Quy mô diện tích/hộ: - 100 -500 m2/hộ - Hình thức sản xuất: Hộ gia đình; Doanh nghiệp dược thu mua hỗ trợ về giống, vật tư - Quy mô diện tích/hộ: - 1000 -20.000 m2/hộ - Hình thức sản xuất: Hộ gia đình; Doanh nghiệp dược thu mua hỗ trợ về giống, vật tư - Quy mô diện tích/hộ: - 500 -10000 m2/hộ - Hình thức sản xuất: Hộ gia đình; Doanh nghiệp dược thu mua hỗ trợ về giống, vật tư - Quy mô diện tích/hộ: - 1000 -20.000 m2/hộ thương; doanh nghiệp cung ứng giống, vật tư.

9 - Hộ gia đình tự bán lẻ: 5% sản lượng - Bán buôn: 95% sản lượng. - Đối tượng mua buôn: Tư

Nhóm cây thuốc tắm của người dao đỏ thương; doanh nghiệp cung ứng giống, vật tư. - Hình thức sản xuất: Hộ gia đình; nhóm hộ gia đình và thành lập Công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh cây thuốc tắm. - Quy mô diện tích/hộ: - 5000 -50.000 m2/hộ

Nguồn: Báo cáo phát triển dược liệu tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

87

(cid:4) Về tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến các điều kiện cơ sở vật chất liên quan

đến sản xuất cây dược liệu

Tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến sản phẩm dược liệu trên địa bàn tỉnh vẫn ở

mức đơn giản, thô sơ chủ yếu là sơ chế sản phẩm thô rồi bán ra thị trường. Chỉ có 2

chủng loại là: cây Actiso (cô đặc thành bánh cao Actiso) và nhóm cây thuốc tắm của

người Dao đỏ (chế biến thành 5 sản phẩm thuốc tắm, thuốc bôi...) để tạo ra sản phẩm

hàng hóa có giá trị kinh tế cao hơn. Thực tế phỏng vấn các chuyên gia sản xuất dược

liệu tại địa phương cho thấy, các cơ sở sơ chế ở địa phương còn rất hạn chế. Ví dụ, tại

Huyện Bắc Hà hiện nay có 121,8 ha dược liệu trong đó Actiso 38 ha, Đương quy 64

ha, Đan sâm, 6,8 ha và Cát cánh, 13 ha. Tuy nhiên cả huyện chỉ có 02 HTX sơ chế

dược liệu là HTX Long Bình - xã Lùng Phình và HTX Nông nghiệp Na Hối - xã Na Hối,

chủ yếu phục vụ cho sơ chế cây Actiso. Thực trạng thiếu các cơ sở sơ chế đạt tiêu chuẩn

an toàn thực phẩm, các cơ sơ chế biến đủ điều kiện, các kho chứa hàng, chưa thành phẩm

hiện đại là một hạn chế rất lớn trong vấn đề phát triển cây dược liệu. Đa phần các cây

dược liệu phải thu mua tươi tại vườn và bán thô cho các doanh nghiệp hoặc tiểu thương

nên giá thành chưa được cao. Một số loại cây có giá trị y học cao như Đương quy và Cát

cánh nếu bán thô không hết sẽ được người dân đem ra chợ bán và sử dụng như các loại

rau thông thường nên giá thành giảm.

Bảng 3.16: Tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2015

Tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến

TT Chủng loại Phương thức sơ chế, bảo quản Cơ sở hạ tầng và tổ chức thực hiện Phương thức chế biến

1 Cây Actiso

Xấy khô, nấu cao đóng bánh và xuất bán cho người tiêu dùng, công ty dược - Cách thức: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: + Loại bỏ lá, quả hỏng; phân loại lá, quả theo độ tươi + Bó, đóng xọt đem bán

- Vườn ươm cây giống: Duy nhất tại Bắc Hà đã có một phần diện tích trồng Actiso được sản xuất trong vườn ươm do Trạm khuyến nông thực hiện. - Khu vực tập kết, bảo quản: chưa có - Tổ chức thực hiện: có mối liên hệ giữa công ty dược và các hộ gia đình sản xuất

88

Tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến

TT Chủng loại Cơ sở hạ tầng và tổ chức thực hiện Phương thức sơ chế, bảo quản Phương thức chế biến

2 Sa nhân tím Chưa có

- Vườn ươm: chưa có - Khu vực tập kết, bảo quản: chưa có - Tổ chức thực hiện: đơn lẻ theo hộ gia đình sản xuất - Cách thức: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: + Loại bỏ quả hỏng; phơi khô hoặc phân loại phẩm cấp hạt + Đóng gói đem bán

3 Xuyên Khung Chưa có

- Cách thức: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: + Loại bỏ củ hỏng + Đóng gói đem bán hoặc phơi khô đem bán

Chưa có 4 Tam thất

- Cách thức: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: + Loại bỏ hoa, củ hỏng + Đóng gói đem bán hoặc phơi khô đem bán

Chưa có 5 Đương quy

- Cách thức: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: + Loại bỏ củ hỏng + Đóng gói đem bán hoặc phơi khô đem bán

Chưa có 6 Chè dây

- Cách thức: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: + Loại bỏ lá, thân cây bị hỏng, + Đóng gói bán tươi hoặc phơi khô đem bán - Vườn ươm cây giống: chưa có - Khu vực tập kết, bảo quản: chưa có - Tổ chức thực hiện: có mối liên hệ giữa công ty dược, đơn vị thu mua và hộ gia đình sản xuất - Vườn ươm cây giống: chưa có - Khu vực tập kết, bảo quản: chưa có - Tổ chức thực hiện: có mối liên hệ giữa công ty dược và các hộ gia đình sản xuất - Vườn ươm cây giống: chưa có - Khu vực tập kết, bảo quản: chưa có - Tổ chức thực hiện: có mối liên hệ giữa công ty dược và các hộ gia đình sản xuất - Vườn ươm cây giống: chưa có - Khu vực tập kết, bảo quản: chưa có - Tổ chức thực hiện: có mối liên hệ giữa công ty dược TraPhaco và các hộ gia đình sản xuất

89

Tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến

TT Chủng loại Phương thức sơ chế, bảo quản Cơ sở hạ tầng và tổ chức thực hiện Phương thức chế biến

7 Gừng Chưa có

- Cách thức: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: + Loại bỏ củ hỏng + Đóng bao đem bán

8 Nghệ vàng Chưa có

- Cách thức: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: + Loại bỏ củ hỏng + Đóng bao đem bán

9

Nhóm cây thuốc tắm của người dao đỏ

- Cách thức sản xuất: thủ công - Hình thức sơ chế, bảo quản: Phơi khô, đóng bao đem bán - Phơi khô - Chưng cất dầu, tinh đóng chai đem bán

- Vườn ươm cây giống: chưa có - Khu vực tập kết, bảo quản: chưa có - Tổ chức thực hiện: có mối liên hệ giữa công ty dược và các hộ gia đình sản xuất - Vườn ươm cây giống: chưa có - Khu vực tập kết, bảo quản: chưa có - Tổ chức thực hiện: có mối liên hệ giữa công ty dược và các hộ gia đình sản xuất - Vườn ươm cây giống: có 1 vườn ươm cây giống của công ty cổ phần kinh doanh các sản phẩm bản địa SAPA-NaPRO - Khu vực tập kết, bảo quản: có - Tổ chức thực hiện: có mối liên hệ giữa công ty cổ phần kinh doanh sản phẩm bản địa và các hộ gia đình sản xuất

Nguồn: Báo cáo phát triển dược liệu tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

(cid:4) Hiệu quả kinh tế sản xuất một số loại cây dược liệu chính trên địa bàn

So với việc trồng các loại cây nông nghiệp khác như lúa, ngô, khoai sắn có thể

nói cây dược liệu có hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn. Nếu như trồng ngô và lúa mỗi năm

trung bình mang lại cho người nông dân thu nhập bình quân từ 6,6 triệu đồng đến 10

triệu đồng trên 1ha thì cây dược liệu tạo ra thu nhập bình quân từ 7,5 triệu đến 45

triệu/1ha, cao gấp 3-4 lần so với trồng lúa, ngô, đảm bảo thu nhập bình quân đạt trên

3,8 triệu đồng/tháng/hộ

90

Bảng 3.17: Hiệu quả kinh tế một số chủng loại cây dược liệu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2015

TT Chủng loại

I Năng suất BQ (tấn/ha) Giá bán BQ (Triệu đồng/tấn) Tổng thu (Triệu đồng) Tổng doanh thu

1 Actiso 120,0

Lá 32 2,0 64,0

Hoa 0,3 20,0 6,0

2 10,0 20,0 Củ tươi

0,001 30.000,0 30,0 Hạt giống

2 Sa nhân tím 1,6 35 56,0

3 Đương quy 7,2 18 129,6

4 Xuyên khung 6 14 84,0

5 Ý Dĩ 2,5 5 12,5

6 Ngô 3,1 6 18,6

II Tổng chi phí

1 Actiso 85,5

2 Sa nhân tím 28,0

3 Đương quy 86,0

4 Xuyên khung 47,0

5 Ý dĩ 5

6 Ngô 12

III Lợi nhuận bình quân

1 Actiso 34,5

2 Sa nhân tím 28,0

3 Đương quy 43,6

4 Xuyên khung 37,0

5 Ý dĩ 7,5

6 Ngô 6,6

Nguồn: Báo cáo phát triển dược liệu tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

91

Như vậy, ta có thể thấy cây dược liệu trên địa bàn tỉnh là cây trồng có giá trị

kinh tế cao, cao hơn so với các cây trồng truyền thống như ngô, lúa và một số cây trồng khác. Với kết quả như vậy có thể khẳng định đây là đối tượng cây trồng cần đẩy mạnh phát triển theo hướng sản xuất bền vững, từng bước đem lại thu nhập ngày càng cao cho người sản xuất trên địa bàn tỉnh.

(cid:4) Các chính sách hỗ trợ cho sản xuất cây dược liệu tại địa phương

Từ năm 2012, tỉnh Lào Cai đã triển khai nhiều mô hình phát triển sản xuất cây dược liệu với các nguồn kinh phí khác nhau bao gồm 02 loại chính nguồn vốn trung

ương và nguồn vốn địa phương. Cụ thể như sau

- Nguồn kinh phí từ trung ương (Bộ khoa học công nghệ, bộ NN&PTNT) được

triển khai qua hai mô hình:

- Mô hình khuyến nông: hỗ trợ toàn bộ kinh phí đào tạo, tập huấn, chuyển giao

công nghệ; hỗ trợ 50% giống, 40% vật tư phân bón.

- Mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất cây dược liệu được hỗ trợ như sau: hỗ trợ 50% kinh phí cho xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật mới; 50% giống và 40% vật tư phân bón

Nguồn kinh phí từ tỉnh (từ các huyện và tỉnh):

Hiện nay tỉnh Lào Cai mới ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ cho phát triển sản xuất cây dược liệu tại Quyết định số 44/2015/QĐ-UBND ngày 25/9/2015 về việc Ban hành quy định về chính sách đặc thù khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2015 -2020. Trong đó có cây dược liệu với mức hỗ trợ là 15 triệu đồng/ha cho vùng có quy mô từ 50 ha trở lên.

Một số huyện và thành phố trên địa bàn tỉnh Lào Cai hàng năm cũng có chính

sách nhằm hỗ trợ sản xuất cây dược liệu.

• Điển hình là huyện Bắc Hà đã xây dựng riêng đề án phát triển sản xuất cây dược liệu từ năm 2014 đến nay với mức hỗ trợ 100% cây giống ban đầu và 50% lượng phân bón...

• Huyện Bát Xát đã sử dụng nguồn kinh phí từ hỗ trợ phát triển sản xuất và tiền các chương trình 135 để hỗ trợ 100% giống cho các hộ có nhu cầu phát triển cây dược liệu. • Huyện Sa Pa đã sử dụng nguồn vốn từ Bộ Khoa học công nghệ để xây dựng

vùng trồng và chế biến cây thuốc tắm của người Dao đỏ.

Các chính sách hỗ trợ phát triển và sự đầu tư của các cấp chính quyền đã tạo ra

một động lực lớn cho việc phát triển sản xuất cây dược liệu trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua.

92

3.3.2.4. Phân tích thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai.

A. Các tiêu chí phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai

Như chương 2 luận án đã trình bày, các tiêu chí đánh giá phát triển theo hướng

bền vững cây dược liệu được chia làm 04 nhóm: (1) duy trì, bảo tồn và mở rộng về

quy mô và số lượng, (2), nâng cao hiệu quả sản xuất, (3) tăng cường lan tỏa tích cực

đến xã hội và (4) tăng cường lan tỏa tích cực đến môi trường.

- Duy trì, bảo tồn và mở rộng quy mô và số lượng

Hiện nay công tác bảo tồn cây dược liệu tự nhiên được Tỉnh Lào Cai thực hiện

tại 03 khu bảo tồn với tổng diện tích 73,43 nghìn ha chiếm 27,42% tổng diện tích rừng

tự nhiên của toàn tỉnh. So với năm 2002, diện tích rừng được quy hoạch trong các khu

bảo tồn đã tăng lên 2,5 lần, từ 01 khu bảo tồn là Vườn quốc gia Hoàng Liên, Lào cai đã

thành lập thêm 02 khu bảo tồn nữa là khu bảo tồn Hoàng Liên-Văn Bàn và khu bảo tồn

Bát Xát. Số loài cây dược liệu được quản lý và theo dõi trong các khu bảo tồn của tỉnh

cũng rất đa dạng và phong phú. Tại vường quốc gia Hoàng Liên có 754 loài dược liệu

được theo dõi, trong đó có 66 loài thuộc sách đó chiếm 46% số loài cây dược liệu trong

sách đỏ của cả nước. Tại khu bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn, số cây dược liệu được theo

dõi và quản lý là 469 loài, trong đó có 16 loài thuộc sách đỏ, chiếm 11,11% số loài dược

liệu sách đỏ của cả nước. Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát đang theo dõi 357 loài cây

dược liệu trong đó có 44 loài thuộc sách đỏ, chiếm 30% tổng số loài cây dược liệu thuộc

sách đỏ của cả nước. Tính cả 03 khu bảo tồn, số loài cây dược liệu trong sách đỏ được

bảo tồn nguyên vị chiếm 87,5% tổng số loài cây dược liệu trong sách đỏ của cả nước.

Hiện nay Vườn quốc gia Hoàng Liên đã trồng chuyển vị được 06 loài cây thuộc sách đỏ,

chiếm 10% tổng số loài cây thuộc sách đỏ thuộc vườn quốc gia.

93

Bảng 3.18: Một số tiêu chí duy trì và bảo tồn tại 03 khu bảo tồn tại tỉnh Lào Cai

Khu bảo tồn Số loài cây dược liệu Năm thành lập Diện tích (nghìn ha) Tỷ trọng diện tích bảo tồn/tổng diện tích rừng (%) Tỷ trọng số cây dược liệu/cả nước Số cây thuộc diện sách đỏ Tỷ trọng số cây sách đỏ/cả nước

29,85 10,7% 19,6% 66 46% 754 Vườn quốc gia Hoàng Liên 2002

24,94 8,94% 12,19% 16 11,11% 469 Khu bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn 2007

18,64 6,68% 9,3% 44 30% 357 Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Sát 2016

Tổng diện tích bảo tồn (nghìn ha) 73,43

Tổng diện tích rừng tự nhiên của Lào Cai(nghìn ha) 2018 267,71

Tổng số loài cây dược liệu của cả nước 3.847

6*

Tổng số loài cây được bảo tồn chuyển vị của vườn quốc gia Hoàng Liên

Tỷ trọng diện tích rừng được bảo tồn 2018 27,42%**

2018 10%***

*: Hiện nay bảo tồn chuyển vị chỉ được thực hiện ở vườn quốc gia Hoàng Liên

**: Tổng diện tích của các khu bảo tồn/tổng diện tích rừng tự nhiên của Lào Cai

***: Tổng số loài cây được bảo tồn chuyển vị/tổng số loài cây trong sách đỏ

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ nguồn số liệu của Vườn quốc gia hoàng liên, khu bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn, khu bảo tồn thiên nhiên Bát xát

Tỷ lệ loài cây được bảo tồn chuyển vị/số cây thuộc sách đỏ

94

Bên cạnh công tác bảo tồn tại các khu bảo tồn thiên nhiên, việc duy trì và bảo

tồn cây dược liệu còn được thực hiện thông qua chính sách kiểm lâm nhằm ngăn chặn việc phá rừng tự nhiên có cây dược liệu tuy nhiên hiệu quả của hoạt động này chưa thực sự rõ nét. Tính trung bình trong 03 năm từ năm 2014-2016, mỗi năm tỉnh Lào Cai có 36,07 nghìn ha rừng tự nhiên có cây dược liệu bị đốt cháy và chặt phá, chiếm 10,25% tổng diện tích rừng của toàn tỉnh. Năm 2016, diện tích rừng bị chặt phá và đốt cháy tăng mạnh so với năm 2014 và 2015 (bảng 3.19)

Bảng 3.19. Một số tiêu chí về duy trì và bảo tồn rừng tại tỉnh Lào cai

2014 2015 2016 2014-2016 Địa phương

Diện tích rừng tự nhiên có cây dược liệu 40,6 13,4 54,2 30,07 bị chặt phá và đốt cháy

Tổng diện tích rừng tự nhiên 351,4 348,3 353,0 350,9

Tỷ lệ diện tích rừng tự nhiên có cây dược

11,55% 3,85% 15,35% 10,25%

liệu bị chặt phá và đốt cháy/tổng diện tích rừng

https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=717

Nguồn: Cơ sở dữ liệu Tổng cục thống kê (2019), trích từ website

Tiêu chí về mở rộng quy mô và số lượng cây dược liệu phản ánh việc gia tăng

sản xuất cây dược liệu. Theo thống kê của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2018), so với năm 2012 diện tích canh tác dược liệu tại Tỉnh Lào Cai năm 2018 đã tăng 2,32 lần. Tính trung bình, trong giai đoạn 2012-2018, diện tích canh tác dược liệu tăng

42,17%/năm. Năm 2018, toàn tỉnh có 1.250 ha canh tác dược liệu, tăng 47% so với năm 2017, trong đó một số loài cây được trồng với diện tích mở rộng qua các năm như Actiso, Đương quy, Xuyên khung, Sa nhân và Chè dây (bảng 3-20). Đây cũng là những loại cây được tập trung phát triển trong tương lai theo quy hoạch của Ủy bản

Nhân dân tỉnh Lào Cai.

95

Bảng 3.20. Tỷ lệ tăng diện tích canh tác cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012-2018

TT 2012 2014 2015 2017 2018 Chủng loại

DT(ha) DT (ha) DT (ha) Tỷ lệ tăng (%) Tỷ lệ tăng (%)

317,3 232,0 510,8 1,20 522 0,61 Cây hàng năm

0,00 1,53 0,64 0,33

0,20

0,18 -0,13 0,06 0,19 -0,27 1,05 0,38

-0,51

I 1 Actiso 2 Đương quy 3 Xuyên khung 4 Y dĩ 5 Bạch truật 6 Độc hoạt 7 Gừng 8 Nghệ vàng 9 Cây khác II Cây lâu năm 10 Cây Hoa hồi (Đại hồi) 11 Tam thất 12 Hoa hòe 13 Sa Nhân 14 Chè dây 15 Cây khác 27,6 0,0 54,0 1,0 181,7 53,0 58,3 0,0 0,0 15,3 43,0 375,6 75,0 33,0 95,0 21,0 7,0 105,0 0,0 0,0 6,0 92,0 7,0 337,0 88,5 28,6 100,3 25,0 0,02 0,0 214,2 49,0 5,13 215,0 2,6 11,2 6,0 183,4 11,50 0,3 725,8 0,00 0,99 0,64 1,15 DT (ha) 324,2 77 48,7 105,0 40 50 525,9 22,6 3,2 398,6 16,5 85 850,1 77 123 172 53 7 19 60 728 40 11 504 80 93 1.250 -0,80 4,64 -0,99 0,47 Tổng cộng

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào cai

96

- Nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu

Nhóm tiêu chí nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu chủ yếu tập trung

phản ánh yếu tố kinh tế trong phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu.Theo

đánh giá của các chuyên gia, điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của tỉnh Lào Cai rất

phù hợp với các cây dược liệu, do đó năng suất cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai khá

ổn định. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân Huyện Bắc Hà, năng suất trung bình

của cây Đương quy giai đoạn 2013-2016 là 2 tấn/ha/năm và cây Actiso là 35

tấn/ha. Đối với cây Actiso, từ năm 2010 đến năm 2016, chỉ có một năm năng suất

cây Actiso đạt mức thấp nhất là 24,72 tấn/ha do nắng hạn kéo dài và thiếu nước

tưới (bảng 3.21).

Đơn vị: Tấn/ha

Bảng 3.21. Năng suất trung bình của cây Actiso và cây Đương quy tại Huyện Bắc Hà (2010-2016)

2011 2012 2013-2016 2017* Năm 2010

Đương quy 2 1,94

Actiso 35 33,75 24,72 35 30,83

Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất cây dược liệu tại Huyện Bắc Hà năm 2013 và 2017, kết quả điều tra của luận án niên vụ 2017-218

*: Số liệu năng suất năm 2017 là kết quả điều tra của Luận án tại hai huyện Sapa và Bắc Hà tỉnh Lào Cai

Xét dưới góc độ thu nhập, so với cây ngô và cây lúa, thu nhập bình quân trên 01

ha canh tác cây dược liệu cao hơn hẳn. Theo kết quả điều tra của luận án, thu nhập

bình quân của cây Đương quy tại huyện Bắc Hà là 82.600.000 VNĐ/1ha. Cây Actiso

cho thu nhập trung bình là 51.050.000 VNĐ/ha tại Bắc Hà và 65.054.000 triệu/ ha tại

Sapa. Theo báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2016), thu nhập bình quân của cây

Actiso trên toàn tỉnh là 34 triệu/01 ha cao gấp gần 02 lần so với cây lúa và 03 lần so

với cây ngô. Thu nhập bình quân của cây Đương quy trên toàn tỉnh Lào cai là 43,6

triệu cao gấp 04 lần cây ngô và 03 lần cây lúa.

97

Bảng 3.22: Thống kê tổng thu nhập ròng trung bình VNĐ/1ha của cây Đương quy và Actiso tại Lào Cai niên vụ 2017-2018

Thu nhập ròng Loại cây (VNĐ/ha)

Actiso (Bắc Hà) 51.050.000

Actiso (Sapa) 65.054.000

Actiso (toàn tỉnh) 34.00.000

Đương quy (Bắc Hà) 82.600.000

Đương quy (toàn tỉnh) 43.600.000

Lúa 16.000.000

Ngô 11.000.000

Nguồn: Tác giả tổng hợp

- Tăng cường lan tỏa tích cực đến xã hội

Tiêu chí lan tỏa tích đến xã hội đánh giá các tác động tích cực của cây dược liệu

đến xã hội dưới hai khía cạnh bao gồm tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo.

Cây dược liệu được coi là cây trồng chiến lược tại nhiều huyện của tỉnh Lào Cai. Theo

thống kê của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, 06 huyện trồng nhiều cây dược liệu nhất

là 06 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất của tỉnh (bảng 3-23). Theo đánh giá sơ bộ trong

năm 2018, của Ủy Ban nhân dân tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện này đều có xu hướng

giảm xuống từ 4% đến 8%. Trên toàn tỉnh Lào Cai, tỷ lệ hộ nghèo cũng liên tục giảm

từ năm 2006 đến năm 2017 (hình 3-3). Tuy nhiên, vẫn còn thiếu cơ sở để đo lường

một cách chính xác đóng góp của cây dược liệu vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của

các huyện có trồng cây dược liệu nói riêng và cả tỉnh Lào Cai nói chung, vì tỷ lệ giảm

nghèo trên là kết quả của một quá trình phát triển kinh tế và xã hội toàn diện của địa

phương. Mặc dù vậy, với mức thu nhập vượt trội hơn hẳn so với các cây nông nghiệp

như ngô và lúa, cây dược liệu chắc chắn góp phần không nhỏ vào việc xóa đói giảm

nghèo ở các địa phương nơi cây dược liệu đã trở thành cây nông nghiệp chiến lược

như Huyện Bắc Hà hay Sapa.

98

Bảng 3.23: Tỷ lệ hộ nghèo của các 06 huyện trồng dược liệu lớn nhất tỉnh Lào Cai

STT 2017 2018 Huyện Tỷ lệ giảm

38,92 1 Bắc Hà 32,89 6,03

37,4% 2 Sa pa 32,40% 5%

28,33% 3 Bát xát 24,33% 4%

n/a 4 Văn Bàn 17,64% 4,64%

5 Mường Khương 37,36% 31,39% 5,97%

6 Si Ma Cai 32,86% 24,86% 8%

7 Lào Cai n/a n/a

21,81% n/a: Không có số liệu Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2017)và Ủy ban nhân dân các huyện (2018)

Lào Cai

45.00%

40%

40.00%

35.60%

35.00%

33.20%

29.70%

30.00%

25.30%

25.00%

21.81%

21.40%

20.00%

18.10%

15.00%

10.00%

5.00%

0.00%

2006

2008

2010

2012

2013

2014

2015

2016

2017

32.90%

Hình 3.3: Tỷ lệ hộ nghèo của Lào Cai giai đoạn 2006-2017

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2017)

Bên cạnh việc góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, nuôi trồng cây dược

liệu còn góp phần tạo ra công ăn việc làm cho người dân bản địa. Qua số liệu tự tính toán của tác giả, tính trung bình trong năm 2017, việc nuôi trồng 05 cây dược liệu phổ biến nhất tại tỉnh Lào Cai đã tạo thêm 211,8 số việc làm cho người dân địa phương (bảng 3.24).

99

Bảng 3.24: Số việc làm được tạo ra từ cây dược liệu hàng năm của Tỉnh Lào Cai năm 2017

STT Số việc làm (5=4/250) Cây trồng (1) Diện tích (Ha) (2) Định mức ngày công/ha (3) Tổng ngày công (4)

1 Actiso 77 75 5.775 23,1

2 Đương quy 123 50 6.150 24,6

3 Xuyên khung 172 219 37.668 150,7

4 Đan Sâm 33,8 50 1.690 6,8

5 Cát cánh 33,5 50 1.675 6,7

211,8 Tổng số việc làm

Nguồn: Tác giả tự tính toán

- Tăng cường lan tỏa sự tích cực đến môi trường

Tiêu chí tăng cường lan tỏa sự tích cực đến môi trường đánh giá phát triển cây

dược liệu theo hướng bền vững dưới góc độ thân thiện với môi trường bao gồm chất

đất sau mỗi vụ canh tác, mức độ nước tưới so với cây ngô và cây lúa, sử dụng thuốc

trừ sâu và sử dụng phân bón hóa học và phân hữu cơ.

Bảng 3.25 trình bày kết quả khảo sát của luận án đối với các tiêu chí môi trường

trong canh tác cây Actiso và Đương quy tại 02 huyện Sapa và Bắc Hà tại tỉnh Lào Cai.

Thứ nhất, đối với tiêu chí đánh giá chất đất, 68% số người được hỏi cho rằng

chất đất sau khi trồng cây dược liệu ổn định, trong đó đa phần (84,2%) các hộ dân

trồng Actiso cho rằng chất đất không bị ảnh hưởng sau mỗi vụ và họ có thể trồng gối

tiếp vụ này sang vụ khác trên cùng một thửa ruộng. Trong khi đó, nhiều hộ dân trồng

cây Đương quy (47%) cho rằng chất đất có thể bị ảnh hưởng sau mỗi vụ, do cây

Đương quy là cây lấy củ vì vậy họ phải thực hiện luân canh.

Thứ hai, về lượng nước tưới, 100% hộ dân được hỏi cho rằng so với cây ngô và

cây lúa, tính trung bình trên 1ha canh tác, lượng nước tưới cho cây Actiso và Đương quy

thấp hơn rất nhiều. Cây Actiso và Đương quy cũng như các loài dược liệu khác không

phải cây ưa nước, vào những ngày nắng nóng khô nhất cũng chỉ cần tưới 02 lần/01 ngày.

Mặt khác quy trình kỹ thuật nuôi trồng Actiso và Đương quy yêu cầu màng che phủ, do

đó hạn chế việc bốc hơi của nước.

Thứ ba, về sử dụng phân bón, tính trung bình các hộ trồng cây dược liệu sử

dụng 376,84 kg phân hóa học/ha, trong đó khoảng 75% là phân NPK, còn lại là phân

100

đạm. Bình quân, các hộ dân sử dụng 366 kg phân hóa học/ha Đương quy và 387,68 kg

phân hóa học/ha Actiso. Các hộ sử dụng 10,4 tấn phân chuồng trên 1ha đất trồng cây dược liệu. Trong đó, các hộ trồng cây Actiso sử dụng 9,7 tấn phân chuồng/ ha còn các hộ trồng Đương quy sử dụng 11,1 tấn phân chuồng/ha. Như vậy, so với các cây nông nghiệp khác như lúa và ngô, số lượng phân hóa học được bón cho cây dược liệu cao hơn đôi chút (mức trung bình phân hóa học cho cây lúa, ngô và các loại hoa màu là 349,8 kg/ha-Phạm Văn Lương, 2014). Tuy nhiên lượng phân hữu cơ được bón cho cây dược liệu cao hơn rất nhiều so với lượng bón phân hữu cơ đối với cây hoa màu khác

(cây dược liệu 10,4 tấn/ha, cây hoa màu khác là 3 tấn/ha- Phạm Văn Lương, 2014).

Thứ tư, về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, các hộ sử dụng 4,77 lít thuốc bảo vệ thực vật/ha, mức này khá thấp so với mức trung bình lúa và ngô (7,89 lít/ha-Nguyễn

Văn Lương, 2014). Đối với cây Actiso, các hộ nông dân cho biết họ sử dụng thuốc diệt rệp 02 lần/năm và vấn đề về rệp được kiểm soát tốt trong vài năm trở lại đây. Đối với cây Đương quy, các hộ dân cho biết có hiện tượng bị nấm và thối củ. Các hộ nông dân đã sử dụng thuốc diệt nấm, tuy nhiên hiện tượng sâu bệnh vẫn còn. Ngoài thuốc bảo vệ

thực vật, các hộ dân trồng Đương quy cho biết họ sử dụng 200 kg vôi bột/ha để diệt mối và nấm. Mặc dù công việc làm cỏ tốn nhiều công sức và thời gian nhất khi trồng cây Actiso và Đương quy, tuy nhiên qua thực tế khảo sát tại địa phương không thấy trường hợp hộ nông dân sử dụng thuốc diệt cỏ.

Bảng 3.25: Các tiêu chí môi trường trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai

STT Tiêu chí Mô tả

ổn định Chất đất sau mỗi vụ 1

Ít hơn 2

Lượng nước tươi/ha so với cây ngô và cây lúa

Sử dụng phân bón 3

(cid:4) Lượng phân hóa học

376,84 kg/ha (cao hơn mức trung bình của các loại cây hoa màu là 349,8 kg/ha)

(cid:4) Lượng phân hữu cơ

10,4 tấn/ha (cao hơn mức trung bình của các loài cây hoa mùa khác 3 tấn/ha)

4 Lượng thuốc bảo vệ thực vật

4,77 lít/ha (thấp hơn mức trung bình của các loài cây hoa màu 7,89 lít/ha)

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ kết quả khảo sát của luận án

101

Đánh giá chung:

Qua phân tích và đánh giá sự phát triển theo hướng bền vững của cây dược liệu

dựa trên các tiêu chí, luân án rút ra các kết luận sau đây:

Thứ nhất, về khía cạnh duy trì, bảo tồn và mở rộng số lượng và quy mô, thực tế

cho thấy công tác bảo tồn tại tỉnh Lào Cai có những chuyển biến tích cực như số diện tích

(ha) được quy hoạch trong các khu bảo tồn thiên nhiên ngày càng tăng và tỷ lệ số cây sách

đỏ được bảo tồn nguyên vị trong các khu bảo tồn lớn. Tuy nhiên, việc bảo tồn cây dược

liệu tại tỉnh Lào cai còn nhiều hạn chế như số cây trong sách đỏ được trồng tại vườn trong

các khu bảo tồn (bảo tồn chuyển vị) còn thấp, tỷ lệ phá rừng có cây dược liệu tăng qua các

năm. Đối với khía cạnh mở rộng, số liệu thống kê về diện tích canh tác dược liệu cho thấy

diện tích canh tác cây dược liệu có xu hướng tăng qua các năm và tăng mạnh sau năm

2016 (sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai hoàn thiện quy hoạch chi tiết về phát triển

dược liệu). Điều này cho thấy, cây dược liệu ngày càng được sản xuất với quy mô mở

rộng hơn.

Thứ hai, về khía cạnh nâng cao hiệu quả sản xuất, các tiêu chí đánh giá bao gồm

tỷ lệ tăng diện tích canh tác, sản lượng bình quân và thu nhập bình quân đều cho thấy so

với các loài cây nông nghiệp khác như lúa và ngô, cây dược liệu mang lại hiệu quả kinh tế

cao hơn nhiều lần.

Thứ tư, về tiêu chí tăng cường sự lan tỏa tích cực đến xã hội, luận án đã chỉ ra

rằng cây dược liệu góp phần tích cực đến sự phát triển của xã hội thông qua việc

giảm nghèo và tạo công ăn việc làm. Tuy nhiên chỉ tiêu về giảm nghèo chưa thể đánh

giá rõ ràng.

Thứ năm, xét trên tiêu chí môi trường, cây dược liệu thân thiện hơn với môi trường

so với cây lúa và cây ngô. Kết quả khảo sát cho thấy, tính trung bình lượng thuốc bảo vệ

thực vật và lượng nước tưới được dùng cho cây dược liệu thấp hơn so với cây lúa và cây

ngô, trong khi đó lượng phân hữu cơ sử dụng cho cây dược liệu lại nhiều hơn gấp nhiều

lần so với cây ngô và cây lúa.

Bảng 3.26 dưới đây tổng hợp kết quả đánh giá sự phát triển bền vững của cây dược

liệu tại tỉnh Lào Cai dựa trên các tiêu chí phát triển bền vững đã được luận án xây dựng

và phát triển ở chương 2.

102

Bảng 3.26: Tổng hợp các tiêu chí đánh giá phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai

Tiêu chí cụ thể Cách đo Kết quả Đánh giá Nhóm các tiêu chí

1. Hiện trạng bảo tồn 27,42% (2018) Tỷ lệ diện tích đất trong các khu bảo tồn/tổng diện tích đất rừng Tăng so với năm 2002

Lớn 87,5% (2018) 2. Tỷ lệ số cây sách tồn đỏ được bảo nguyên vị Số cây trong sách đỏ tại các khu bảo tồn/tổng số cây trong sách đỏ của cả nước

Thấp 3. Tỷ lệ số cây được bảo tồn chuyển vị 10% (2018) Số cây được trồng chuyển vị/tổng số cây trong sách đỏ của khu bảo tồn

I.Duy trì, bảo tồn và mở rộng về quy mô và số lượng 4. Phá rừng 15,35% (2016) Tăng so với năm 2014,2015 Tỷ lệ diện tích rừng tự nhiên có cây dược liệu bị phá/tổng diện tích đất rừng/năm

5. Tỷ lệ tăng diện tích canh tác 2,32 lần (2018)

(Diện tích canh tác năm trước-diện tích canh tác năm sau)/ diện tích canh tác năm trước Tăng mạnh so với năm 2012

4. Năng suất Ổn định

Tổng sản lượng thu hoạch /ha

Đương quy: 2 tấn/ha Actiso: 35 tấn/ha

II.Nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu 5. Thu nhập Triệu VNĐ/ha

Cao hơn nhiều lần với cây ngô và cây lúa Đương quy: 43,6 triệu/ha Actiso: 34 triệu/ha

211,8

1. Tạo việc làm Lớn Số việc làm tăng thêm do trồng cây dược liệu/năm (2017- 2018)

21,81% 2. Xóa đói giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo III.Tăng cường sự lan tỏa tích cực đến xã hội Giảm so với 2016 (2017)

103

Tiêu chí cụ thể Cách đo Kết quả Đánh giá Nhóm các tiêu chí

1. Chất đất sau canh tác Ổn định

So sánh chất đất trước và sau canh tác theo mức độ suy giảm, ổn định và tốt lên

2. Mức độ sử dụng nguồn nước

So sánh với lượng nước sử dụng trong canh tác cây lúa và ngô theo mức độ ít hơn, bằng nhau và nhiều hơn

Ít hơn nhiều mức sử dụng trung bình của cây ngô và cây lúa

3. Sử dụng phân hóa học Kg/ha/năm 376 kga/ha

IV.Tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường Cao hơn mức trung bình của cây ngô và cây lúa

4. Sử dụng phân hữu cơ 10,4 tấn/ha

Cao hơn mức trung bình của cây ngô và cây lúa

Lít/ha/năm 5,26 lít/ha 5. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Ít hơn mức trung bình của cây ngô và cây lúa

Nguồn: Tác giả tổng hợp

B. Các nhân tố tác động đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại

tỉnh Lào Cai

Có 05 nhóm nhân tố tác động đến các tiêu chí PTTHBV bao gồm: (1) nhân tố

điều kiện tự nhiên; (2) nhân tố chủ thể sản xuất, (3) nhân tố chính sách, thể chế, (4) liên kết trong sản xuất và (5) nhân tố thị trường. - Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

Theo đánh giá của Bộ y tế (2017), có 57 loài cây dược liệu phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam, trong đó Lào Cai có điều kiện tự nhiên phù hợp với 22

loài cây dược liệu (bảng 3.27).

104

Bảng 3.27: Danh mục các loài cây dược liệu phù hợp với điều kiện tự nhiên tại tỉnh Lào Cai

STT Tên Tên khoa học

I. Nhóm cây trồng xen trong tán rừng

Cây giảo cổ lam Gynostemma pubescens 1

Cây chè dây Ampelopsin cantoiensis Hook. Et Am. Planch 2

Cây tam thất Aralia pseudoginseng Benth 3

4 Cây Sa nhân tím Amomum longiligulare T.L. Wu

5 Cây Hà Thủ ô đỏ Polygonum multiflorum Thunb

II Nhóm cây trồng trong khí hậu mát, không dưới tán rừng

6 Cây đỗ trọng Eucomia Ulmoides Oliv

7 Cây đẳng sâm Campanumoea javanica Blume

8 Cây xuyên khung Ligusticum wallichii Franch.

9 Cây Đương quy Anglelica sinensis (Oliv) Diels

10 Cây Bình vôi Stephania glabra (Roxb.) Miers.

11 Cây Tục đoạn Dipsacus japonicus Miq.

12 Cây Ý Dĩ Coix lachryma - jobi L

13 Cây Actiso Folium cynarae scolymi.

14 Cây Bạch truật Atractylodes macrocephala Koidz.

15 Cây Bạch chỉ

Angelica dahurica Benth. et Hook và Angelica anomala Lallem.

16 Cây Dương Cam Cúc Matricaria chamomilla L.,

17 Cây Huyền Sâm Scrophularia ningpoensis Hemsl

18 Cây Hoàng Bá Phellodendron amurense Rupr

19 Cây độc hoạt Angelica pubescens Maxim f. biserrata Shan et Yuan.

20 Cây Mộc Hương Saussurea lappa C.B Clarke

21 Cây Ô Dầu Aconitum fortunei Hemsl

22 Cây Hồi Illicium anisatum Lour

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2016)

Hai nhân tố điều kiện tự nhiên quan trọng nhất tác động đến sinh tồn của cây dược liệu tại Lào Cai là chất đất và độ cao của đất. Chất đất được xác định theo các loại đất (bảng 3.28) và độ cao của đất được đo bằng số m so với mực nước biển. Từ bảng 3- 28 ta thấy rằng đất ở Lào Cai chủ yếu là đất đỏ vàng và đất mùn đỏ vàng trên núi cao,

105

chiếm 85,16% tổng diện tích đất của Lào Cai. Theo đánh giá của các chuyên gia, nhóm

đất đỏ vàng và đất đỏ mùn vàng trên núi cao rất phù hợp với trồng nhiều loài cây dược liệu. Ví dụ, nhóm đất vàng đỏ trên đá macma axit (fa) rất phù hợp với trồng cây Sa nhân tím (bảng 3.29) và nhóm đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất rất phù hợp với cây Đương quy (bảng 3.30). Hầu hết các cây dược liệu tại Lào Cai phù hợp với khí hậu vùng núi cao. Ví dụ cây Sa nhân tím thích hợp nhất với độ cao 300-600 m so với mực nước biển, trong khi đó cây Đương Quy phù hợp với độ cao 1300-1600m so với mực nước biển.

Bảng 3.28: Tổng hợp các nhóm, loại đất tỉnh Lào Cai

TT

Tên đất Việt Nam

Ký hiệu

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

6.896

1,08

I NHÓM ĐẤT PHÙ SA

1

Đất phù sa được bồi trung tính ít chua

Pbe

1.653

0,26

2

Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua

Pe

1.011

0,16

3

Đất phù sa ngòi suối

Py

4.232

0,66

359.481

56,31

II NHÓM ĐẤT ĐỎ VÀNG

4

Đất đỏ nâu trên đá vôi

Fv

1.186

0,19

5

Đất nâu vàng trên đá vôi

Fn

2.579

0,40

6

Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất

Fs

251.603

39,41

7

Đất vàng đỏ trên đá macma axit

Fa

88.039

13,79

8

Đất vàng nhạt trên đá cát

Fq

2.993

0,47

9

Đất nâu vàng trên phù sa cổ

Fp

4.832

0,76

10

Fl

8.249

1,29

Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước NHÓM ĐẤT MÙN VÀNG ĐỎ TRÊN NÚI CAO (900-1.800m)

III

184.182

28,85

11

Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất

Hs

60.812

9,53

12

Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axít

Ha

123.370

19,33

44.483

6,97

IV NHÓM ĐẤT MÙN TRÊN NÚI CAO (> 1.800m)

13

Đất mùn vàng nhạt Potzon hoá

Ao

43.925

6,88

14

Đất mùn thô than bùn núi cao

At

558

0,09

5.148

0,81

V NHÓM ĐẤT THUNG LŨNG

15

Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ

D

5.148

0,81

600.190

94,02

TỔNG DIỆN TÍCH CÁC LOẠI ĐẤT

Sông suối, ao hồ

14.981

2,35

Núi đá

23.219

3,64

638.390

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

100,00 Nguồn: Khoanh đo trên bản đồ thổ nhưỡng tỉ lệ 1/100.000

106

Bảng 3.29: Phân hạng mức độ thích hợp đất đai cho cây Sa nhân tím

Mức độ thích hợp Yếu tố hạn chế S1 S2 S3

Fa Loại đất Fs, Fp,Fq, Hs, Ha Fl,Py N Các loại đất còn lại

Độ cao tuyệt đối (m) 300-600 600-800 800-1000 > 1000 hoặc < 300

Độ dốc 10- 15o 15 - 20o > 25o

Độ dày tầng đất (cm) > 70 50 - 70 20-25o hoặc <10 30 – 50 < 30

Thành phần cơ giới Thịt nhẹ Thịt TB Cát pha, Thịt nặng Cát

Đá lẫn, đá lộ đầu Không Ít Trung bình Nhiều

Ghi chú: S1: Rất thích hợp. S2: Thích hợp trung bình, S3: Kém thích hợp, N: Không thích hợp. Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2017)

Bảng 3.30: Phân hạng mức độ thích hợp đất đai cho cây Đương quy

Mức độ thích hợp Yếu tố hạn chế S1 S2 S3 N

Loại đất Fs Py Fa, Fe, Fp, Fq, Hs, Ha, Các loại đất còn lại

Độ cao tuyệt đối (m) 1300-1600 1600-1800 1800-2000 hoặc 1000-1300 <1000 hoặc >2000

Độ dốc 10-15o 15-20o 20-25o > 25o

Độ dày tầng đất (cm) > 70 50 - 70 30 – 50 < 30

Thành phần cơ giới Thịt nhe Thịt TB Cát Cát pha, Thit nặng

Đá lẫn, đá lộ đầu Không Ít Trung bình Nhiều

Ghi chú: S1: Rất thích hợp. S2: Thích hợp trung bình, S3: Kém thích hợp, N: Không thích hợp.

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2017)

Căn cứ vào các điều kiện tự nhiên như chất đất và độ cao của đất, quy hoạch phát triển dược liệu tỉnh Lào Cai đã chỉ ra 03 huyện có diện tích phù hợp với nuôi trồng cây dược liệu lớn nhất đó là Sapa, Bát xát và Bắc Hà (bảng 3-31). Đây là những huyện vùng cao (900-1800m so với mực nước biển), cơ cấu đất chủ yếu là loại đất

mùn vàng đỏ trên núi cao (hs và ha)

107

Bảng 3.31: Phân hạng mức độ thích nghi theo diện tích đất tại các huyện tại Lào Cai

Phân hạng mức độ thích nghi Diện tích đất thích nghi (ha) TT Các huyện Diện tích nghiên cứu quy hoạch (ha) S1 S2 S3 S1+S2

26.299 2.362 11.308 12.624 13.670 Tổng cộng

100,0 9,0 43,0 48,0 52 Cơ cấu (%)

1 H. Sa Pa 7.996 712 3.261 4.013 3.973

2 H. Bát Xát 8.072 280 3.848 3.949 4.128

3 H. Bắc Hà 4.332 316 2.176 1.840 2.492

4 H. Si Ma Cai 2.181 330 756 1.095 1.086

5 H.M. Khương 2.868 584 558 1.726 1.142

6 Văn Bàn 850 140 710 0 850

S1: Rât thích nghi, S2: thích nghi trung bình, S3: thích nghi kém

- Nhóm nhân tố thuộc chủ thể sản xuất

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2016)

(cid:5) Tóm tắt phương pháp nghiên cứu

Do đặc thù về số liệu, trong luận án này tác giả dùng phương pháp phân tích định lượng bằng hồi quy đa biến với ước lượng OLS cho nội dung phân tích tác động

của nhân tố về chủ thể sản xuất đến các tiêu chí về nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường.

(cid:4) Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

Như ta đã biết nhóm nhân tố thuộc về chủ thể sản xuất phản ánh các khía cạnh

liên quan đến người lao động, sự thuận tiện về giao thương và điều kiện kinh tế và xã hội của chủ thể sản xuất.

Hai chỉ tiêu phổ biến liên quan đến người lao động bao gồm trình độ giáo dục

và trình độ khoa học kỹ thuật. Các công trình nghiên cứu khoa học trước đây (Phạm văn Lương, 2014; Jie 2007; Odendo và cộng sự,2009), chỉ ra rằng trình độ giáo dục có tác động tích cực đến năng suất nông nghiệp đồng thời cũng tác động tiêu cực đến tiêu

chí bền vững về môi trường. Đối với cây dược liệu, qua phỏng vấn các chuyên gia trong ngành, trình độ giáo dục là một nhân tố tích cực đối với sản xuất bền vững dược liệu do cây dược liệu đòi hỏi kỹ thuật cao hơn các cây nông nghiệp khác và thị trường đòi hỏi kiểm soát khắt khe về chất lượng dược liệu. Trình độ khoa học kỹ

108

thuật cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến phát triển bền vững. Theo World

bank (2008) trình độ khoa học kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất vụ mùa và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp. Đối với cây dược liệu, việc tham gia các khóa đào tạo về kỹ thuật canh tác và áp dụng canh tác theo tiêu chuẩn GACP là các chỉ tiêu phản ánh trình độ khoa học kỹ thuật của chủ thể sản xuất. Từ những lập luận trên tác giả đề xuất các giả thuyết sau đây:

- H1: Trình độ giáo dục có tác động tích cực đến tiêu chí PTTHBV cây dược liệu - H2: Tham gia đào tạo có tác động tích cực đến tiêu chí PTTHBV cây dược liệu - H3: Áp dụng GACP có tác động tích cực đến tiêu chí PTTHBV cây dược liệu

Các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, vị trí thuận tiện gần chợ, gần đường và sự phát triển của hệ thống giao thông có tác động tích cực đến

sự phát triển bền vững nông nghiệp (Teruel & Kuroda, 2005). Để đo lường sự thuận tiện trong giao thương đối với cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai, luận án sử dụng 02 chỉ tiêu bao gồm gần chợ từ 3km trở xuống và biến giả để phân biệt giữa các hộ trồng cây dược liệu ở Sapa và Bắc Hà. Huyện Sapa có điều kiện cơ sở hạ tầng tốt

hơn huyện Bắc Hà. Căn cứ vào các công trình nghiên cứu trước đây, luận án đề xuất các giả thuyết tiếp theo.

- H4: Gần chợ tác động tích cực đến tiêu chí PTTHBV cây dược liệu - H5: PTTHBV cây dược liệu ở Sapa tốt hơn Bắc Hà

Điều kiện kinh tế xã hội của chủ hộ bao gồm các yếu tố liên quan đến mức sống, thu nhập, khả năng đầu tư nguồn lực cho sản xuất và khả năng huy động vốn có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển bền vững nông nghiệp. Để đánh giá điều kiện

kinh tế và xã hội của chủ hộ, tác giả dùng 04 chỉ tiêu bao gồm mức đói nghèo, vay vốn, diện tích canh tác và đầu tư cho hệ thống tưới tiêu. Mức độ đói nghèo được chứng minh trong các công trình nghiên cứu trước đây có tác động tiêu cực đến PTTHBV nông nghiệp (Hazell & Wood, 2008). Phạm văn Lương (2014) cho rằng khả năng vay

vốn, đầu tư vào hệ thống tưới tiêu của người nông dân có tác động tích cực đến năng suất sản xuất nông nghiệp tuy nhiên diện tích canh tác tác động tiêu cực đến năng suất nông nghiệp. Căn cứ vào các công trình nghiên cứu trước đây, luận án đề xuất các giả

thuyết nghiên cứu sau:

- H6: Mức độ đói nghèo tác động tiêu cực đến tiêu chí PTTHBV cây dược liệu

- H7: Khả năng vay vốn tác động tích cực đến tiêu chí PTTHBV cây dược liệu

- H8: Đầu tư cho hệ thống tưới tiêu tác động tích cực đến tiêu chí PTTHBV

- H9: Diện tích canh tác tác động tiêu cực đến tiêu chí PTBV cây dược liệu

109

(cid:4) Phương trình phân tích

(cid:16)

Để nghiên cứu các giả thuyết trên, tác giả sử dụng hồi quy đa biến trên nền dữ liệu chéo với mẫu nghiên cứu gồm 250 hộ trồng Đương quy và Actiso tại hai huyện Bắc Hà và Sapa. Đối với biến phụ thuộc là số liệu liên tục tác giả dùng hồi quy OLS, đối với biến phụ thuộc là số liệu phân tổ tác giả dùng hồi quy Logistic. Cụ thể tác giả tiến hành phân tích phương trình hồi quy sau đây:

(cid:15)(cid:17)(cid:18)

(cid:10) = (cid:11) + (cid:13) (cid:14)(cid:15) (cid:19)(cid:15)

Trong đó:

- Y: các tiêu chí PTTHBV bao gồm (tiêu chí nâng cao hiệu quả sản xuất và lan tỏa tích cực đến môi trường)

- Xi: Các nhân tố thuộc chủ thể sản xuất

Cụ thể tác giả phân tích các phương trình hồi quy đa biến sau đây:

Phương trình 1:

TT

(cid:20)(cid:21) = (cid:11) + (cid:14)(cid:18)

TĐGD + (cid:14)(cid:9)

VT + (cid:14)(cid:22)

GACP + (cid:14)(cid:25)

ĐTA + (cid:14)(cid:26)

GC+ (cid:14)(cid:27)

HN + (cid:14)(cid:24)

TDT + (cid:14)(cid:23) +(cid:14)(cid:28)

VV + (cid:29)(cid:30)(cid:31)

Phương trình 2:

TT

(cid:3) = (cid:11) + (cid:14)(cid:18)

TĐGD + (cid:14)(cid:9)

VT + (cid:14)(cid:22)

GACP + (cid:14)(cid:25)

ĐTA + (cid:14)(cid:26)

GC+ (cid:14)(cid:27)

HN + (cid:14)(cid:24)

TDT + (cid:14)(cid:23) +(cid:14)(cid:28)

VV + (cid:29)!"

Phương trình 3:

TT #Đ = (cid:11) + (cid:14)(cid:18) TĐGD + (cid:14)(cid:9) VT + (cid:14)(cid:22) GACP + (cid:14)(cid:25) ĐTA + (cid:14)(cid:26) GC+ (cid:14)(cid:27)

HN + (cid:14)(cid:24) VV + (cid:29)%Đ TDT +(cid:14)(cid:23) +(cid:14)(cid:28)

Phương trình 4:

TT

&'' = (cid:11) + (cid:14)(cid:18)

TĐGD + (cid:14)(cid:9)

VT + (cid:14)(cid:22)

GACP + (cid:14)(cid:25)

ĐTA + (cid:14)(cid:26)

GC+ (cid:14)(cid:27)

HN + (cid:14)(cid:24)

TDT + (cid:14)(cid:23) +(cid:14)(cid:28)

VV + (cid:29)())

Phương trình 5:

TT

*+ = (cid:11) + (cid:14)(cid:18)

TĐGD + (cid:14)(cid:9)

VT + (cid:14)(cid:22)

GACP + (cid:14)(cid:25)

ĐTA + (cid:14)(cid:26)

GC+ (cid:14)(cid:27)

HN + (cid:14)(cid:24)

TDT + (cid:14)(cid:23) +(cid:14)(cid:28)

VV + (cid:29)!,-

Như vậy, căn cứ vào đặc điểm số liệu của biến phụ thuộc (biến Y), tác giả sử

dụng hồi quy OLS đối với phương trình 1,2,4,5 và hồi quy Logistic đối với phương trình 3. Chủ thích, cách đo và giả thuyết về chiều tác động của các biến trong các phương trình trên được trình bày trong bảng 3.32.

110

Bảng 3.32: Chú thích và cách đo các biến trong phương trình (1), (2), (3), (4), (5)

STT Ký hiệu Tên biến Cách đo Giả thuyết về chiều tác động

Các tiêu chí I

NS Năng suất Tấn/ha/năm 1

TN Thu nhập Triệu VNĐ/ha/năm 2

CĐ Chất đất 0=giảm; 1=ổn định/tăng 3

PHH Sử dụng phân hóa học Kg/ha/năm 4

TBV Lít/ha/năm 5

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

II Các nhân tố

TĐGD Trình độ giáo dục Số năm học đã hoàn thành Tích cực 1

VT Vị trí hộ 0=Sapa, 1= Bắc Hà Tiêu cực 2

TDT Tổng diện tích canh tác Ha/hộ Tiêu cực 3

HN Hộ nghèo 0=không phải hộ nghèo, 1=hộ nghèo Tiêu cực 4

GACP GACP 0=không áp dụng; 1= có áp dụng) Tích cực 5

ĐTA Tham gia vào đào tạo 0=không tham gia; 1= có tham gia Tích cực 6

GC Gần chợ Tích cực 7

0=cách xa chợ từ 3km trở lên; 1= cách xa từ 3km trở xuống

0=không; 1=có Tích cực TT 8

Đầu tư cho hệ thống tưới tiêu

Vốn vay 0=không; 1=có Tích cực VV 9

Tác giả dùng lệnh robust trên stata để khắc phục lỗi phương sai sai số thay đổi đối với hồi quy OLS và corr trên stata để kiểm định lỗi đa cộng tuyến đối với hồi quy OLS và Logistic. Tác giả cũng dùng kiểm định Hosmer-Lemeshow để kiểm định sự

phù hợp của mô hình hồi quy Logistic đối với dữ liệu của luận án.

(cid:5) Thống kê mô tả các biến

Bảng 3.33 trình bày thống kê mô tả các biến phụ thuộc và độc lập của các

phương trình (1), (2), (3), (4) và (5).

111

Bảng 3.33: Thống kê mô tả các biến

Mean Min Max Độ lệch chuẩn Ký hiệu STT Actiso Đương Actiso Đương Actiso Đương Actiso Đương quy quy quy quy

I Các tiêu chí (biến Y) 1 2 3 1,94 82,6 0,48 SL TN CĐ 30,83 60,92 0,81 1,36 55,21 0 17,89 35 0 2,48 106,65 1 38,08 76 1 0,28 12,71 0,50 5,42 10,91 0,39

366 5,04 PHH TBV 387,68 4,5 200 3,00 300 4,00 642 6,83 501 5,50 46,11 0,56 36,79 0,34

4 5 II Các nhân tố (biến X) 1 TĐGD 1,95 4,43 0 0 5 7 1,84 1,41

2 3 4 VT TDT HN 1 0,19 0,36 0,42 0,20 0,41 1 0,1 0 0 0,05 0 1 0,4 1 1 0 ,4 1 0 0,07 0,48 0,49 0,12 0,49

5 6 GACP ĐTA 0 0,77 0,5 0,81 0 0 0 0 0 1 1 1 0 0,42 0,50 0,29

7 8 GC TT 0,42 0,24 0,55 0,62 0 0 0 0 1 1 1 1 0,49 0,44 0,49 0,49

9 VV 0,75 0,60 0 0 1 1 0,44 0,49

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát

Tính trung bình sản lượng cây Đương quy là 1,94 tấn/ha và cây Actiso là 30,83 tấn/ha. Nhìn chung sản lượng của Đương quy tại Bắc Hà khá ổn định, không có sự

chênh lệch nhiều giữa các hộ được khảo sát. Sản lượng Actiso tại huyện Sapa cao hơn Bắc Hà. Sản lượng trung bình của Actiso tại Sapa là 33,16 tấn/ha trong khi đó sản lượng trung bình của cây Actiso tại Bắc Hà là 27,60 tấn/ha.

Về thu nhập, thu nhập trung bình của cây Đương quy là 82,6 triệu/ha cao hơn cây Actiso (60,92 triệu/ha). So sánh giữa hai huyện, luận án thấy rằng thu nhập bình quân đối với cây Actiso của các hộ nông dân tại Sapa cao hơn Bắc Hà. Thu nhập bình quân của các hộ tại Sapa là 64,4 triệu/ha trong khi đó thu nhập bình quân của các hộ

nông dân trồng Actiso tại Bắc Hà là 54,6 triệu/ha. Sự khác biệt này là do năng suất trồng cây Actiso ở Sapa cao hơn Bắc Hà, trong khi đó giá thu mua Actiso tại hai huyện là bằng nhau (2000 VNĐ/kg lá tươi)

Về chất đất, 48% hộ nông dân được hỏi cho rằng chất đất sau mỗi vụ canh tác cây Đương quy là ổn định. Còn lại 52% hộ cho rằng chất đất giảm xuống sau mỗi vụ

112

trồng Đương quy. Điều này là do Đương quy là cây lấy củ nên thường làm đất bị bạc

màu. Theo phỏng vấn của tác giả với các nhân viên khuyến nông tại Bắc Hà, để đảm bảo chất lượng củ Đương quy, hộ dân phải thực hiện luân canh. Sau mỗi vụ, đất trồng cây Đương quy sẽ được chuyển sang trồng các loại cây khác tốt cho chất đất như cây đậu, sau 03 năm hộ nông dân mới được trồng lại Đương quy trên mảnh đất cũ. Đối với cây Actiso, 81% số người được hỏi cho rằng chất đất ổn định sau mỗi vụ canh tác và các hộ dân không cần phải thực hiện luân canh. Điều này là do, cây Actiso được trồng để lấy lá nên không yêu cầu cao về độ màu mỡ của đất như cây Đương quy.

Đối với lượng sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu, tính trung bình các hộ nông dân sử dụng 366 kg PHH/ha và 5,04 lít thuốc bảo vệ thực vật cho cây Đương Quy; và 387,68 kg PHH/ha và 4,5 lít thuốc bảo vệ thực vật cho cây Actiso. Như trên

đã phân tích, các mức sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trên của cây Actiso và cây Đương quy đều thấp hơn mức trung bình của cây Ngô và cây Lúa. Do đó, canh tác cây dược liệu được đánh giá là thân thiện với môi trường.

Trình độ giáo dục của các hộ nông dân ở Sapa và Bắc Hà tương đối thấp. Trình độ

giáo dục trung bình của các hộ dân ở Bắc Hà là 1,94, trong đó 24,5% trong tổng số hộ dân được khảo sát tại Bắc Hà không biết chữ, có trình độ giáo dục chưa hết lớp 1. Tại Sapa, trình độ dân trí cao hơn với số năm đi học trung bình của chủ hộ là 4,05. Tuy nhiên, so với mức dân trí trung bình của cả tỉnh, trình độ giáo dục của các hộ dân trồng cây Actiso và

Đương quy đều ở mức thấp (chưa tốt nghiệp tiểu học), đa phần là người dân tộc thiểu số, có tập tục canh tác lạc hậu, nhiều nơi người dân không nói sõi tiếng phổ thông.

Trung bình diện tích các vườn Đương quy ở Lào Cai là 0,19 ha/hộ cao hơn mức

trung bình 0,05ha/hộ của tỉnh Lào Cai. Đối với cây Actiso, diện tích trung bình là 0,2 ha/hộ, cao hơn mức trung bình 0,1ha/hộ của cả tỉnh Lào Cai. Diện tích trung bình trồng Actiso ở Sapa là 0,26ha/hộ cao gấp đôi diện tích trung bình ở Bắc Hà là 0,11 ha/hộ. Điều này là do, cây Actiso đã được trồng lâu năm và có thương hiệu ở Sapa ,

hơn nữa được công ty Traphaco thu mua theo đơn đặt hàng nên đầu ra tương đối ổn định. Còn các hộ dân trồng Actiso ở Bắc Hà cũng được các công ty thu mua nhưng khối lượng thu mua thấp hơn và thường được giao theo chỉ tiêu. Hơn nữa năng suất

trồng cây Actiso tại Bắc Hà thấp hơn Sapa do vậy hộ nông dân cũng e ngại trong việc mở rộng diện tích canh tác.

36% số hộ dân được hỏi thuộc diện hộ nghèo, sinh sống ở vùng núi cao và chủ yếu là người dân tộc thiểu số. Qua khảo sát điều tra, điều kiện kinh tế của các hộ dân ở

Bắc Hà thấp hơn Sapa. Trong 03 xã khảo sát chỉ có xã Na Nối, gần thị trấn Bắc Hà có điều kiện kinh tế tương đối tốt. Còn lại các hộ dân ở Bàn già và Lùng Phình chủ yếu là

113

người mông và người dân tộc Phù Lá và điều kiện kinh tế rất khó khăn, công cụ sản

xuất thô sơ.

50% số hộ trồng Actiso được hỏi có áp dụng tiêu chuẩn GACP trong canh tác dược liệu. Tất cả các hộ dân này đều ở Sapa, thuộc vùng nguyên liệu sạch của Traphaco.

Chưa có hộ dân nào trồng Đương quy và Actiso ở Bắc Hà áp dụng tiêu chuẩn này.

77% số hộ dân trồng Đương quy và 81% hộ dân trồng Actiso được hỏi cho rằng họ tham gia đầy đủ các khóa đào tạo do khuyến nông tổ chức. Tính trung bình mỗi năm khuyến nông tổ chức 02 đợt tập huấn các kỹ thuật canh tác dược liệu và kỹ thuật canh

tác GACP. Tại Bắc Hà, mỗi xã có 01 nhân viên khuyến nông phụ trách dược liệu. Hàng ngày các nhân viên khuyến nông này đi đến vườn dược liệu của từng hộ nông dân thuộc dự án mà Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện quản lý để hướng dẫn bà con kỹ thuật canh tác đồng thời giám sát các hộ dân thực hiện canh tác đúng kỹ thuật. Tại các vùng

dược liệu sạch tại Sapa, việc đào tạo do nhân viên phụ trách thuộc công ty Trapaco thực hiện. Ngoài các đợt đào tạo chính do công ty phụ trách, nhân viên này cũng thường xuyên thăm nom vườn dược liệu của các hộ nông dân để hướng dẫn và giám sát bà con

canh tác cây Actiso đúng kỹ thuật, đặc biệt đúng tiêu chuẩn GACP.

42% các hộ trồng Đương quy ở gần chợ dưới 3 km trong khi đó tỷ lệ này đối với các hộ trồng Actiso là 55%. Đa phần các hộ trồng Đương quy ở các xã vùng cao, xa xôi hẻo lánh như Bản già và Lùng phình, khoảng cách tới chợ rất xa. Các hộ trồng

Actiso lại tập trung nhiều ở xã Na hối gần thị trấn Bắc Hà và tại thị trấn Sapa, điều kiện giao thông đi lại tốt hơn, gần chợ hơn.

Chỉ có 22% hộ dân trồng Đương quy được hỏi có đầu tư cho hệ thống tưới tiêu

ví dụ như trang bị máy bơm, đường dẫn nước đến vườn dược liệu. Trong khi đó 62% hộ dân trồng Actiso có đầu tư cho hệ thống tưới tiêu của mình. Sự khác biệt này là do cây Đương quy được trồng ở những vùng núi cao (độ cao từ 1300-1800), do vậy các hộ dân nơi đây có điều kiện kinh tế rất khó khăn, không thể mua máy bơm hay tự đầu

tư hệ thống tưới tiêu cho vườn dược liệu. Trong khi đó các hộ dân trồng Actiso ở những khu vực thấp hơn, gần thị trấn hơn, kinh tế phát triển hơn nên khả năng đầu tư cho hệ thống tưới tiêu cũng tốt hơn.

75% số hộ dân trồng Đương quy và 60% hộ dân trồng Actiso cho rằng họ có sử dụng vốn vay và việc tiếp cận các nguồn vay không mấy khó khăn. Các khoản vay chủ yếu đến từ Ngân hàng phát triển nông thôn, ngân hàng đầu tư và phát triển và quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên nhiều hộ dân cho rằng các khoản vay này họ không dùng để

trồng dược liệu vì nhà nước hỗ trợ chi phí đầu vào hơn nữa quy mô nuôi trồng khá nhỏ nên các hộ dân không cần nhiều vốn. Đa phần các khoản vay này nhằm phục vụ cho

114

nhu cầu xây nhà, cá biệt có một số hộ dân dùng khoản vay ưu đãi cho hộ nghèo để vay

hộ tiền cho họ hàng.

(cid:5) Kết quả hồi quy đa biến (cid:4) Cây Đương quy

Do huyện Sapa không trồng cây Đương quy nên tác giả chỉ khảo sát tại huyện Bắc Hà vì vậy biến vị trí (VT) bị loại khỏi các phương trình nghiên cứu từ 1-5. Mặt khác, qua khảo sát và phỏng vấn thực tế, tất cả các hộ trồng Đương Quy ở Bắc Hà chưa áp dụng tiêu chuẩn GACP do đó biến GACP cũng bị loại khỏi phương trình phân tích từ 1-5.

Bảng 3.34: Kết quả hồi quy OLS với lệnh robust của các phương trình 1,2,4,5 và hồi quy Logistic của phương trình 3 đối với cây Đương quy

PT1 PT2 PT3 PT4 PT5 Biến độc lập

TĐGD 0,01 0,27 -0,03 5,62*** 0,11***

TDT 1,06*** 44,52*** -0,03 12,54 -0,20

HN 0,06 2,54 -0,18* -15,76* -0,03

ĐTA 0,36*** 15,76*** 0,54** 1,06 -0,05

GC -0,01 2,67* 0,01 2,58 0,11

TT 0,09 ** 4,20** 0,09 5,23 0,03

VV 0,04 1,79 -0,04 -13,36 0,08

Hệ số chặn 1,40*** 58,23*** 0,22* 35,03*** 4,87***

Hồi quy OLS

Số quan sát 130 130 130 130

F-test 42,50*** 34,55*** 5,46*** 5,60***

R-square 0,52 0,52 0,14 0,17

Hồi quy Logistic

Số quan sát 130

LR chi-square 30,24***

11,04 Hosmer-Lemeshow chi-square

Ghi chú: Hồi quy OLS được thực hiện với lệnh robust trên phần mềm stata để khắc phục lỗi phương sai sai số thay đổi của mô hình hồi quy. Hồi quy Logistic được thực hiện trên phần mềm stata với kiểm định Hosmer-Lemeshow để kiểm tra sự phù hợp của mô hình *** p<0,01, ** p<0,05, * p<0,1

0,20 P-value (Hosmer-Lemesshow)

115

(cid:4) Cây Actiso

Bảng 3.35: Kết quả hồi quy OLS với lệnh robust của các phương trình 1,2,4,5 và hồi quy Logistic của phương trình 3 đối với cây Actiso

PT1 PT2 PT3 PT4 PT5 Biến độc lập

-0,46 -0,28 1,36 0,02 0,14 TĐGD

-1,64 -1,12 71,17** -0,37 -1,66 TDT

-1,04 -0,50 8,89 0,06 -0,35 HN

9,4*** 15,68*** 1,67* -20,29** -0,50*** ĐTA

3,34*** 7,32*** 3,03*** -25,22** -0,32*** GACP

-1,11 -0,66 5,17 -0,09 1,91 VT

2,58* 0,51 4,47 0,03 0,51 GC

-0,05 0,13 -19,55 0,04 0,33 TT

-0,91 -0,70 11,69 -0,070 -0,97 VV

22,15*** 42,96*** -1,98 402,79*** 5,16*** Hệ số chặn

Hồi quy OLS

120 120 120 120 120 Số quan sát

27,04*** 30,42*** 6,95*** 19,53*** F-test

0,52 0,50 0,27 0,53 R-squared

Hồi quy logistic

120 Số quan sát

26,95*** LR chi-square

17,21 Hosmer-Lemeshow chi-square

0,04 P-value (Hosmer-Lemesshow)

Ghi chú: Hồi quy OLS được thực hiện với lệnh robust trên phần mềm stata để

khắc phục lỗi phương sai sai số thay đổi của mô hình hồi quy. Hồi quy logistic được

thực hiện trên phần mềm stata với kiểm định Hosmer và Lemeshow để kiểm tra độ phù

hợp của mô hình.

*** p<0,01, ** p<0,05, * p<0,1

(cid:5) Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy

(cid:4)Kiểm định phương sai sai số đồng nhất (heteroskedasticity)

Tác giả dùng lệnh robust trên phần mềm stata để chữa lỗi phương sai sai số thay đổi

do đó, kết quả hồi quy OLS với lệnh robust đã loại bỏ được khuyết tật này của mô hình.

116

(cid:4)Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy Logistic với kiểm định Hosmer-

Lemeshow

Tác giả sử dụng kiểm định Homer-Lemeshow để kiểm định sự phù hợp của hồi quy Logistic của phương trình 3. Kết quả kiểm định Homer-Lemeshow ở bảng 3-34 và 3-35, cho thấy hồi quy Logistic phù hợp đối với dữ liệu nghiên cứu của cây Đương Quy nhưng không phù hợp với dữ liệu nghiên cứu của cây Actiso.

- Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

Cây Đương quy: tác giả dùng lệnh corr trong stata để kiểm tra mối tương quan

giữa các biến trong mô hình. Ma trận tương quan giữa các biến của các phương trình từ 1 đến 5 được trình bày trong các bảng 3-36, 3-37,3-38,3-39,3-40. Ma trận tương quan của các phương trình cho thấy rằng hệ số tương quan giữa các biến trong các

phương trình từ 1 đến 5 đều nhỏ hơn 0,5, do vậy mô hình không mắc khuyết tật đa cộng tuyến.

Bảng 3.36: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 1 đối với cây Đương quy

TĐGD

TDT

HN

ĐTA

GC

TT

Biến SL TĐGD TDT HN ĐTA GC TT VV SL 1,00 0,10 0,47 0,07 0,47 0,06 0,23 0,13 1,00 0,08 -0,49 0,14 0,20 0,13 0,09 1,00 -0,06 0,38 0,11 0,08 0,07 1,00 0,03 -0,11 -0,01 -0,01 1,00 0,02 0,16 0,10 1,00 0,21 0,06 1,00 -0,02

Bảng 3.37: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 2 đối với cây Đương quy

TĐGD

TDT

HN

TN 1,00 0,11 0,46

ĐTA

GC

0,06 0,45

TT

TN TĐGD TDT HN ĐTA GC

0,17

TT VV

0,26 0,14

1,00 0,08 -0,49 0,14 0,20 0,13 0,09 1,00 -0,06 0,38 0,11 0,08 0,07 1,00 0,03 -0,11 -0,01 -0,01 1,00 0,02 0,16 0,10 1,00 0,21 0,06 1,00 -0,02

117

Bảng 3.38: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 3 đối vói cây Đương quy

TĐGD

1,00

TDT

TĐGD

0,05

HN

TDT

0,17

ĐTA

HN

-0,09

GC

ĐTA

0,42

TT

GC

-0,01

TT

-0,02

VV

-0,00

1,00 0,08 -0,49 0,14 0,20 0,13 0,09 1.00 -0,06 0,38 0,11 0,08 0,07 1,00 0,03 -0,11 -0,01 -0,01 1,00 0,02 0,16 0,10 1,00 0,21 0,06 1,00 -0,02

Bảng 3.39: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 4 đối với cây Đương quy

PHH

TĐGD

PHH

1,00

TDT

TĐGD

0,35

HN

TDT

0,05

ĐTA

HN

-0,31

GC

ĐTA

0,05

TT

GC

0,10

TT

0,09

VV

-0,10

1,00 0,08 -0,49 0,14 0,20 0,13 0,09 1,00 -0,06 0,38 0,11 0,08 0,07 1,00 0,03 -0,11 -0,01 -0,01 1,00 0,02 0,16 0,10 1,00 0,21 0,06 1,00 -0,02

Bảng 3.40: Ma trận tương quan của các biến trong phương trình 5 đối với cây Đương quy

TBV

TĐGD

TBV

1,00

TDT

TĐGD

0,39

HN

TDT

-0,00

ĐTA

HN

-0,27

GC

ĐTA

0,01

TT

GC

0,18

TT

0,09

VV

0,09 1,00 0,08 -0,49 0,14 0,20 0,13 0,09 1,00 -0,06 0,38 0,11 0,08 0,07 1,00 0,03 -0,11 -0,01 -0,01 1,00 0,02 0,16 0,10 1,00 0,21 0,06 1,00 -0,02

Cây Actiso: kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến đối với phương trình

1,2,3,4,5 được trình bày ở các bảng 3-41, 3-42, 3-43, 3-44, 3-45 dưới đây:

118

Bảng 3.41: Ma trận tương quan của phương trình 1 đối với cây Actiso

TSL TĐGD TDT GACP ĐTA 1,00 TSL TĐGD -0,09 1,00 -0,12 TDT 0,34 -0,29 GACP 0,50 ĐTA 0,14 0,49 -0,01 0,09 TT 0,02 GC 0,19 -0,15 -0,17 HN -0,50 0,18 VT 0,30 VV 1,00 0,53 1,00 0,32 0,29 -0,01 0,15 -0,10 -0,13 -0,08 0,08 -0,85 -0,65 -0,50 -0,45 1,00 0,04 0,06 -0,32 -0,38 -0,26 0,22 TT 1,00 0,17 0,15 -0,08 -0,11 GC 1,00 -0,17 0,15 0,07 HN 1,00 -0,01 0,01 VT 1,00 0,70

Bảng 3.42: Ma trận tương quan của phương trình 2 đối với cây Actiso

TN TĐGD TDT GACP ĐTA TT GC HN VT

1,00 TN TĐGD -0,07 TDT 0,33 GACP 0,51 ĐTA TT GC HN VT VV 0,50 0,09 0,09 0,18 0,49 -0,38 1,00 -0,12 -0,29 0,14 -0,01 0,19 -0,15 0,18 0,22 1,00 0,53 0,29 -0,01 -0,10 -0,08 -0,65 -0,45 1,00 0,32 0,15 -0,13 0,08 -0,85 -0,50 1,00 0,04 0,06 -0,32 -0,38 -0,26 1,00 0,17 0,15 -0,08 -0,11 1,00 -0,17 0,15 0,07 1,00 -0,01 0,01 1,00 0,70

Bảng 3.43: Ma trận tương quan của phương trình 3 đối với cây Actiso

CĐ TĐGD TDT GACP ĐTA TT GC HN VT

0,10

CĐ 1,00 TĐGD 0,01 TDT GACP 0,32 ĐTA TT GC HN VT VV 0,36 0,13 0,11 -0,11 -0,19 -0,19 1,00 -0,12 -0,29 0,14 -0,01 0,19 -0,15 0,18 0,22 1,00 0,53 0,29 -0,01 -0,10 -0,08 -0,65 -0,45 1,00 0,32 0,15 -0,13 0,08 -0,85 -0,50 1,00 0,04 0,06 -0,32 -0,38 -0,26 1,00 0,17 0,15 -0,08 -0,11 1,00 -0,17 0,15 0,07 1,00 -0,01 0,01 1,00 0,70

119

Bảng 3.44: Ma trận tương quan của phương trình 4 đối với cây Actiso

PHH 1,00 PHH TĐGD 0,11 -0,07 TDT -0,39 GACP ĐTA -0,27 -0,30 TT 0,03 GC 0,07 HN 0,32 VT 0,31 VV TĐGD TDT GACP ĐTA TT 1,00 -0,12 -0,29 0,14 -0,01 0,19 -0,15 0,18 0,22 1,00 0,04 0,06 -0,32 -0,38 -0,26 1,00 0,32 0,15 -0,13 0,08 -0,85 -0,50 1,00 0,53 0,29 -0,01 -0,10 -0,08 -0,65 -0,45 1,00 0,17 0,15 -0,08 -0,11 GC 1,00 -0,17 0,15 0,07 HN 1,00 -0,01 0,01 VT 1,00 0,70

Bảng 3.45: Ma trận tương quan của phương trình 5 đối với cây Actiso

TBV TĐGD TDT GACP ĐTA TT GC HN VT

TBV 1,00 TĐGD 0,16 TDT GACP ĐTA TT GC HN VT VV -0,44 -0,50 -0,51 -0,01 0,09 0,18 0,49 0,32 1,00 -0,12 -0,29 0,14 -0,01 0,19 -0,15 0,18 0,22 1,00 0,53 0,29 -0,01 -0,10 -0,08 -0,65 -0,45 1,00 0,32 0,15 -0,13 0,08 -0,85 -0,50 1,00 0,04 0,06 -0,32 -0,38 -0,26 1,00 0,17 0,15 -0,08 -0,11 1,00 -0,17 0,15 0,07 1,00 -0,01 0,01 1,00 0,70

Từ kết quả kiểm định đa cộng tuyến trình bày ở các bảng trên, ta thấy rằng ngoại trừ hệ số tương quan giữa GACP - VT (0,85) và VT - VV (0,7) lớn hơn 0,5, hệ số tương quan giữa các cặp biến khác trong 05 phương trình đều từ 0,5 trở xuống. Do cả 05 phương trình đều có hệ số tương quan giữa biến GACP - VT và VT - VV lớn

hơn 0,5 nên cả 05 phương trình đều mắc lỗi đa cộng tuyến. Để khắc phục khuyết tật này, tác giả loại bỏ biến VT ra khỏi phương trình phân tích và chạy lại kết quả hồi quy của 05 phương trình trên mà không có biến độc lập VT.

Kết quả hồi quy sau khi khắc phục các lỗi vị phạm giả định của hồi quy OLS và hồi quy Logistic được trình bày trong bảng 3-46. Từ bảng 3-46, ta thấy sau khi khắc phục lỗi đa cộng tuyến, kiểm định Hosmer-Lemeshow của phương trình 3 cho thấy hồi quy Logistic phù hợp với dữ liệu nghiên cứu của cả cây Đương quy và cây Actiso.

120

Bảng 3.46: Kết quả hồi quy sau khắc phục khuyết tật của các phương trình (1), (2), (3), (4), (5)

đối với cây Đương quy và cây Actiso

Phương trình 1 Phương trình 2 Phương trình 3 Phương trình 4 Phương trình 5 STT Biến độc lập Đ.Quy Actiso Đ.Quy Actiso Đ.Quy Actiso Đ.Quy Actiso Đ.Quy Actiso

1 TĐGD 0,01 -0,27 0,27 -0,43 -0,17 0,05 5,62*** 1,22 0,11*** 0,02

1,06*** -0,38 44,52*** -0,41 0,08 -4,38 12,54 65,42*** -0,20 -0,27 2 TDT

0,06 -0,50 2,54 -1,04 -0,95* -0,41 -15,76* 8,83 -0,03 0,06 3 HN

4 GACP 3,91*** 8,08*** 2,21*** -28,75*** -0,25***

5 ĐTA 0,36*** 9,43*** 15,76*** 17,82*** 2,90 ** 1,57* 1,06 -20,93** -0,05 -0,49***

-0,01 0,47 2,67* 2,53* 0,04 0,64 2,58 4,70 0,11 0,03 6 GC

0,09 ** 0,12 4,20** -0,07 -0,38 0,36 5,23 -19,48 0,03 0,04 7 TT

0,04 -0,36 1,79 -1,02 -0,21 -0,18 -13,36 10,72 0,08 -0,08 8 VV

9 Hệ số chặn 1,40*** 21,39 *** 58,23*** 41,70 -1,53* -0,34 35,03*** 408,66*** 4,87*** 5,06

10 Hồi quy OLS

Số quan sát 130 120 130 120 130 130 120 130 120 -

F-test 42,50*** 30,66*** 34,55*** 34,53*** 5,46*** 7,82*** 5,60*** 22,08*** -

- R-squared 0,52 0,52 0,52 0,50 0,14 0,28 0,17 0,52

121

Phương trình 1 Phương trình 2 Phương trình 3 Phương trình 4 Phương trình 5 STT Biến độc lập Đ.Quy Actiso Đ.Quy Actiso Đ.Quy Actiso Đ.Quy Actiso Đ.Quy Actiso

11 Hồi quy Logistic

- Số quan sát 130 120

- LR chi-square 30,24*** 24,22***

- Hosmer- 11,04 6,72

Lemeshow chi- square

- 0,20 0,57

P-value (Hosmer- Lemesshow)

Ghi chú: Hồi quy OLS được thực hiện với lệnh robust trên phần mềm stata để khắc phục lỗi phương sai sai số thay đổi của mô hình hồi quy. Hồi quy logistic được thực hiện trên phần mềm stata với kiểm định Hosmer và Lemeshow để kiểm tra độ phù hợp của mô hình. *** p<0,01, ** p<0,05, * p<0,1

122

Từ kết quả hồi quy trong bảng 3-46, luận án rút ra các kết luận sau:

(cid:5)Đối với các tiêu chí về nâng cao hiệu quả sản xuất Kết quả hồi quy cho thấy rằng việc áp dụng tiêu chuẩn GACP và tham gia đào

tạo là hai nhân tố chính có tác động tích cực đến tăng năng suất và thu nhập bình quân

của các hộ nông dân trồng Đương quy và Actiso ở Lào Cai. Kết quả kiểm định OLS

cho thấy tham số của hai biến này có mức ý nghĩa thống kê p_value <0,01 ở cả

phương trình 1 và phương trình 2 đối với cả cây Đương quy và cây Actiso. Điều này

có thể giải thích bởi thực tế rằng canh tác cây dược liệu đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao từ

khâu reo hạt, ươm giống, chăm sóc cây sinh trưởng và thu hái. Chính vì vậy, các hộ

nông dân tham gia đầy đủ các khóa đào tạo về kỹ thuật canh tác của khuyến nông

thường nắm vứng hơn về kỹ thuật trồng trọt, nhờ vậy năng suất cao hơn và dẫn đến thu

nhập cũng cao hơn. Hiện nay, tiêu chuẩn GACP mới chỉ được áp dụng cho vùng trồng

nguyên liệu sạch Actiso của công ty Traphaco tại thị trấn Sapa. Qua khảo sát thực tế,

tác giả thấy rằng việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình canh tác và thu hái dược liệu

theo tiêu chuẩn GACP giúp cho năng suất cây trồng đạt kết quả cao hơn, ít sâu bệnh

hơn. Hơn nữa, nguồn dược liệu sạch được trồng theo tiêu chuẩn GACP cũng được thu

mua ổn định hơn với giá cao hơn. Kết quả nghiên cứu này cũng trùng với kết quả

nghiên cứu của tác giả Pham Văn Lương (2014), khi tác giả tìm thấy mối quan hệ

tương quan dương giữa kỹ thuật canh tác hiện đại với năng suất và thu nhập nông

nghiệp tại tỉnh Hòa Bình, Việt Nam. Bên cạnh nhân tố GACP và ĐTA, kết quả khảo

sát của luận án cũng cho thấy tổng diện tích canh tác có mối tương quan dương với

năng suất và thu nhập đối với cây Đương quy. Tuy nhiên kết quả hồi quy OLS không

cho thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động của diện tích đối với cây Actiso. Sự

khác biệt này có thể là do thực tế cây Đương Quy mới được trồng thử nghiệm tại Bắc

Hà trong những năm gần đây, số lượng hộ trồng còn ít và việc tiêu thụ khá dễ dàng.

Theo phỏng vấn 01 chuyên gia tại Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện Bắc Hà, cây

Đương quy trồng tại Bắc Hà được bao tiêu và sản lượng canh tác được các công ty thu

gom tại vườn, do vậy diện tích trồng càng nhiều thì năng suất và thu nhập càng lớn do

lợi thế theo quy mô (diện tích trung bình mỗi vườn Đương quy hiện nay ở Bắc Hà còn

khá thấp 0,19ha/hộ). Tuy nhiên cây Actiso được trồng nhiều hơn, đầu ra ổn định hơn

cây Đương quy do các công ty ưu tiên thu mua vùng dược liệu sạch của Traphaco.

Bên cạnh đó, luận án cũng tìm thấy tác động tích cực của việc đầu tư vào hệ thống tươi

tiêu đến hiệu quả sản xuất của cây Đương quy. Kết quả hồi quy cho thấy tham số đánh

giá tác động của hệ thống tưới tiêu đến năng suất và thu nhập có mức ý nghĩa thống kê

123

p_value< 0,05 ở cả hai phương trình 1 và phương trình 2. Điều này có thể lý giải được

rằng việc đầu tư cho hệ thống tưới tiêu (như trang bị máy bơm) giúp cho các hộ gia

đình trồng Đương quy tại huyện Bắc Hà chủ động hơn trong vấn đề tưới nước, giúp

các hộ hạn chế được thiệt hại khi hạn hán xảy ra. Mặt khác hệ thống tưới tiêu ở Lào

Cai còn kém phát triển, chủ yếu các hộ dân dùng nước ngầm và nước mưa cho canh

tác dược liệu. Vì vậy các hộ dân có đầu tư cho việc tưới tiêu như sắm máy bơm, đào

kênh dẫn nước, đào giếng sẽ hạn chế được rất nhiều việc lệ thuộc vào lượng mưa tự

nhiên, vốn không mấy ổn định ở Lào Cai.

(cid:5) Đối với các tiêu chí về tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường Kết quả hồi quy cho thấy việc tham gia đào tạo và áp dụng tiêu chuẩn GACP góp phần hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học của các hộ nông dân

nuôi trồng Đương quy và Actiso tại tỉnh Lào Cai. Tham số của phương trình 4 và phương trình 5 đối với cả cây Đương quy và Actiso đều có mức ý nghĩa thống kê p_value<0,05 và p_value<0,01. Điều này có thể được giải thích bằng thực tế rằng việc

tham gia đào tạo đặc biệt là áp dụng tiêu chuẩn GACP sẽ giúp các hộ nông dân có thêm kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh ngay từ giai đoạn ươm hạt và áp dụng các kỹ thuật trừ sâu thân thiện với môi trường. Mặt khác các hộ dân trồng Actiso trong vùng dược liệu sạch được giám sát kỹ càng về vấn đề sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu bởi

các chuyên viên kỹ thuật thuộc công ty Traphaco và các nhân viên khuyến nông thuộc Trung tâm dịch vụ nông nghiệp các huyện. Vì vậy việc tham gia đào tạo góp phần nâng cao ý thực sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học đúng kỹ thuật của người trồng

dược liệu, đồng thời áp dụng chứng chỉ GACP giúp người nông dân áp dụng các kỹ thuật canh tác xanh, thân thiện với môi trường. Tuy nhiên kết quả hồi quy lại cho thấy trình độ giáo dục có mối quan hệ cùng chiều với việc sử dụng thuốc trừ sâu. Ở những nơi dân trí càng cao mức sử dụng phân hóa học càng lớn. Kết quả này trùng với nghiên

cứu của Phạm văn Lương (2014) và được giải thích rằng, khi dân trí càng cao người dân có khả năng tiếp cận thông tin nhiều hơn, họ hiểu biết hơn nên dễ dàng sử dụng nhiều phân hóa học trong canh tác nông nghiệp hơn. Ngược lại, ở những vùng dân trí

thấp, người dân thậm chí không biết chữ, cơ hội tiếp xúc với phân hóa học cũng ít hơn, mặt khác họ không có thói quen sử dụng phân hóa học, dẫn đến thực tế rằng hộ nông dân càng có trình độ, họ càng có xu hướng sử dụng nhiều phân hóa học và thuốc trừ sâu hơn. Kết quả hổi quy Logistic của phương trình 3 cho thấy nhân tố đào tạo có tác

động tích cực đến chất đất đối với cả hai nhóm nông dân trồng Actiso và Đương Quy. Tương tự như vậy, nhân tố áp dụng GACP có tác động tích cực đến chất lượng đất đối với cây Actiso. Tuy nhiên đối với nhóm cây Đương Quy, hộ nghèo có xu hướng tác

động tiêu cực đến chất đất.

124

Đối với nhân tố vay vốn, kết quả khảo sát cho thấy việc vay vốn của các hộ nông dân không ảnh hưởng đến các tiêu chí PTTHBV cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai. Điều này được giải thích bằng thực tế rằng việc vay vốn hiện nay ở các hộ trồng dược liệu không phục vụ cho việc đầu tư sản xuất dược liệu mà cho mục đích khác như xây nhà, chi tiêu hoặc vay các khoản vay ưu đãi cho họ hàng.

- Nhóm nhân tố chính sách và thể chế (cid:5)Các chính sách liên quan đến cây dược liệu của trung ương và địa phương

Từ năm 2006, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách liên quan đến bảo tồn

và phát triển cây dược liệu.

Thứ nhất, liên quan đến bảo tồn dược liệu, Chính phủ đã ban hành nghị định số 32/2006/NĐ-CP và thông tư số 59/2010/TT-BNNPTNT về việc ban hành danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), trong đó có liệt kê các loài cây dược liệu không được phép khai thác. Quyết định số 17/2015/QĐ-TTg và quyết định số 49/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy chế quản lý rừng phòng hộ và quy chế quản lý rừng sản xuất quy định được phép khai thác lâm sản ngoài gỗ trong rừng phòng hộ và rừng sản xuất.

Thứ hai, các chính sách liên quan đến gây trồng cây dược liệu, thông tư 51/2012/TT-BNNPTNT đã khuyến khích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng có trồng bổ sung cây lâm sản ngoài gỗ trên đất rừng phòng hộ, trong đó có một số cây dược liệu như Quế, Hồi... đã được đầu tư theo kế hoạch nhằm bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, được nhà nước hỗ trợ bình quân 30 triệu/ha (quyết định số 38/2016/QĐ-TTg). Thời gian gần đây, đã có một số chính sách hỗ trợ liên quan trực tiếp đến gây trồng phát triển dược liệu như: Nghị định số 210/2013/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó có hỗ trợ trồng cây dược liệu. Mới đây nhất là Nghị định số 65/2017/NĐ-CP ngày 19/5/2017 của Chính phủ về chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi trồng và khai thác dược liệu.

Thứ ba, các chính sách liên quan đến thu hoạch và chế biến dược liệu bao gồm: thông tư số 14/2009/BYT-TT của Bộ Y tế hướng dẫn triển khai áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc” theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới; và thông tư số 21/2016/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu gỗ, lâm sản ngoài gỗ, trong đó có cây dược liệu.

Từ năm 2012, Lào cai đã triển khai nhiều mô hình phát triển sản xuất cây dược liệu.Nguồn kinh phí cho các dự án này bao gồm nguồn kinh phí từ trung ương, kinh phí tỉnh và kinh phí các huyện.

125

Đối với các dự án triển khai theo nguồn vốn Trung Ương, Tỉnh Lào Cai thực

hiện (1) mô hình khuyến nông, hỗ trợ toàn bộ kinh phí đào tạo, tập huấn, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ 50% giống, 40% vật tư phân bón và (2) mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất cây dược liệu, hỗ trợ 40% kinh phí cho xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật mới, 50% giống và 40% vật tư phân bón.

Đối với các dự án cấp Tỉnh, năm 2015 Lào Cai ban hành Quyết định số 44/2015/QĐ-UBND ngày 25/9/2015 trong đó quy định mức hỗ trợ cho cây dược liệu là 15 triệu đồng/ha cho vùng có quy mô từ 50 ha trở lên.

Ngoài ra, các huyện và thành phố trên địa bàn tỉnh Lào Cai hàng năm cũng có chính sách riêng nhằm hỗ trợ sản xuất cây dược liệu. Ví dụ, tại Huyện Bắc Hà có đề án phát triển sản xuất cây dược liệu từ năm 2014 đến nay với mức hỗ trợ 100% cây giống

ban đầu và 50% lượng phân bón. Huyện Bát Xát đã sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ phát triển sản xuất và tiền các chương trình 135 để hỗ trợ 100% giống cho các hộ có nhu cầu phát triển cây dược liệu. Huyện Sa Pa đã sử dụng nguồn vốn từ Bộ khoa học công nghệ để xây dựng vùng trồng và chế biến cây thuốc tắm của người Dao đỏ.

(cid:5) Đánh giá tác động của chính sách và thể chế đến PTBV cây dược liệu

Có thể nói, từ năm 2006 đến nay, các chính sách liên quan đến bảo tồn và phát triển cây dược liệu từ trung ương đến địa phương đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi để phát triển cây dược liệu thành hàng hóa tại nhiều địa phương, giúp mở rộng thị trường

và nâng cao thu nhập của người dân trồng cây dược liệu, nhiều địa phương đã tự xây dựng được quy hoạch phát triển dược liệu riêng cho mình (Lào Cai, Hà Giang, Quảng Nam). Tuy nhiên ảnh hưởng của cơ chế chính sách đến phát triển cây dược liệu còn

nhiều hạn chế. Theo Bộ y tế (2017), hạn chế lớn nhất trong cơ chế chính sách đối với cây dược liệu tại Việt Nam là trong một thời gian dài nhà nước chưa ban hành chính sách riêng biệt về cây dược liệu. Hiện nay, hầu hết các chính sách của nhà nước về cây dược liệu đều được ban hành cùng với các chính sách về rừng và lâm sản ngoài gỗ, do

vậy chưa thực sự phù hợp với đặc tính riêng của cây dược liệu. Ví dụ, theo 01 chuyên gia trong lĩnh vực kiểm lâm tại tỉnh Lào Cai, việc bảo tồn cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai rất khó khăn do không có cơ chế riêng đối với cây dược liệu, việc bảo tồn cây

dược liệu tự nhiên được lồng ghép vào bảo tồn cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ vì vậy công tác bảo tồn cây dược liệu thực sự chưa có kết quả. Tại hội nghị về phát triển cây dược liệu tại vùng Tây Bắc được ban kinh tế trung ương tổ chức năm 2017, diễn giả Đỗ Tiến Sĩ thuộc công ty dược Traphacosapa đã chỉ ra những hạn chế trong cơ chế

chính sách phát triển cây dược liệu bao gồm (1) chưa có chính sách cụ thể về hỗ trợ quỹ đất, vốn, thuế để người dân và doanh nghiệp xây dựng các vùng trồng dược liệu,

126

(2) chưa có chính sách khuyến khích người dân và doanh nghiệp trồng dược liệu sạch

theo tiêu chuẩn GACP, (3) quy hoạch dược liệu chưa chỉ rõ quy hoạch cụ thể cho từng loại dược liệu dựa trên nhu cầu thực tiễn của thị trường.

Tại Lào Cai, mặc dù tỉnh và các huyện đã rất chủ động thực hiện nhiều đề án hỗ trợ phát triển cây dược liệu bao gồm hỗ trợ về giống và phân bón. Nhờ đó nhiều cây dược liệu đã phát triển thành hàng hóa như cây Actiso, cây Đương quy hay bài thuốc tắm của người dao đỏ. Tuy nhiên theo World bank (2008), về mặt dài hạn, việc trợ giá cho nguyên liệu đầu vào của nông nghiệp lại không tác động tích cự đến phát triển nông

nghiệp bền vững mà ngược lại khuyến khích việc sử dụng các nguồn lực không hiệu quả. Theo kết quả khảo sát đối với các hộ dân trồng Đương quy và Actiso tại Lào Cai, 90% hộ được hỏi cho rằng điều họ lo lắng nhất là việc nhà nước sẽ rút dần hỗ trợ về

giống, phân bón và đầu ra không được bao tiêu trong tương lai. Đa số các hộ được hỏi cho rằng nếu nhà nước và các công ty dược không thu mua sản phẩm của họ thì họ sẽ không biết bán cây dược liệu ở đâu và sẽ không tự tin tiếp tục trồng cây dược liệu nếu không có đầu ra. Như vậy, thực tế cho thấy rằng trong giai đoạn đầu các chính sách hỗ

trợ đầu vào và bao tiêu đầu ra của Lào Cai đã giúp tạo cung-cầu, từ đó giúp phát triển cây dược liệu thành hàng hóa. Tuy nhiên về mặt dài hạn, để phát triển cây dược liệu bền vững, các chính sách hỗ trợ đầu vào và đầu ra sẽ không hiệu quả vì tạo nên sự lệ thuộc và bị động của người dân và doanh nghiệp vào nhà nước. Để phát triển bền vững, các

hộ dân và doanh nghiệp phải tự phát triển bằng chính đôi chân của chính mình.

Theo Phạm Văn Lương (2014), sự tham gia của các hiệp hội trong lĩnh vực phát triển bền vững các loài nông sản là rất cần thiết vì hiệp hội giúp điều phối cung và cầu, thu thập thông tin giá cả, tạo kênh truyền dẫn thông tin và góp phần hỗ trợ mở rộng thị trường cho các mặt hàng nông sản. Theo Nguyễn Văn Hóa (2014), hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (VICOFA) đã làm tốt vai trò của mình trong việc phát triển hội viên, nghiên cứu xúc tiến và mở rộng thị trường, tư vấn cho Bộ Nông nghiệp, Bộ Công thương về các chủ trương, chính sách, các biện pháp bảo vệ và khuyến khích các đối tượng sản xuất và xuất khẩu cà phê, từ đó góp phần phát triển cây cà phê theo hướng bền vững tại Việt Nam. Tuy nhiên, đối với cây dược liệu, hiện nay chưa có hiệp hội nào chính thức và quy mô như hiệp hội Cà Phê ca cao Việt Nam, chỉ có một số hiệp hội nhỏ theo từng cây dược liệu (ở Lào Cai có duy nhất một hiệp hội thảo quả), vì vậy, công tác kết nối, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường đối với cây dược liệu rất khó khăn. Người nông dân, doanh nghiệp và người có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm dược liệu chưa có một kênh thông tin chính thức để tra cứu các thông tin về nhà cung cấp, giá cả, chất lượng vì vậy phát triển cây dược liệu ở nhiều địa phương mang tính tự phát và mạnh mún.

127

- Nhóm nhân tố liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu

Thị trường tiêu thụ cây dược liệu ở Lào Cai gồm 02 kênh chủ yếu. Một là

các công ty dược thu mua nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hóa dược; hai là các cơ

sở khám chữa bệnh y học cổ truyền. Đối với mảng sản xuất hóa dược, việc tham

gia của các doanh nghiệp vào khâu sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu là rất cần

thiết. Tuy nhiên hiện nay, việc tham gia liên kết của doanh nghiệp trong sản xuất

dược liệu tại Lào Cai còn rất hạn chế. Theo khảo sát của Ủy ban nhân dân tỉnh

Lào cai, năm 2017 có 09 doanh nghiệp dược tham gia bao tiêu cây dược liệu tại

tỉnh Lào cai, chiếm 2,8% tổng số doanh nghiệp sản xuất dược liệu trên cả nước.

Tỷ lệ tiêu thụ cây dược liệu qua các doanh nghiệp chỉ đạt từ 40% đến 70% tùy

từng loại cây. Nhiều cây dược liệu có giá trị cao như Sa nhân tím, Đỗ trọng, Hoa

hòe… vẫn phải tiêu thụ trên thị trường tự do cho các tư thương, trong đó có rất

nhiều tư thương Trung Quốc (bảng 3.47)

Bảng 3.47: Sự tham gia của doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu tại Lào cai

2016 Chỉ tiêu

9 Các doanh nghiệp dược bao tiêu cây dược liệu tại Lào Cai

Tỷ lệ tiêu thu cây dược liệu của các doanh nghiệp dược tỉnh Lào Cai 40-70%

322 Các doanh nghiệp dược của cả nước

2,8% Số doanh nghiệp dược tại Lào Cai/số doanh nghiệp dược của cả nước

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai( 2017) và Bộ y tế (2016)

Kênh tiêu thụ chính thứ hai của cây dược liệu là các cơ sở khám chữa bệnh

bằng y học cổ truyền. Hiện nay ở Lào Cai có 01 bệnh viện y học cổ truyền và 14

phòng chẩn trị YHCT được cấp phép, chiếm 0,39% số bệnh viện và các phòng chẩn trị

y học cổ truyền trên cả nước. Bên cạnh đó có 24 cơ sở khám chữa bệnh bằng tây y có

cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Mặc dù vậy, giá trị tiêu thụ

cây dược liệu trong tổng giá trị tiêu thụ của dịch vụ khám chữa bệnh YHCT nói riêng

và khám chữa bệnh nói chung còn rất nhỏ. Theo thống kê của Ủy ban nhân dân tỉnh

Lào Cai, năm 2016, giá trị cây dược liệu chiếm 29,15% tổng giá trị thuốc YHCT và

1,55% tổng giá trị tiền thuốc khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tại tỉnh Lào Cai. Hiện

nay chưa có mô hình liên kết giữa các cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền và người

nông dân trồng dược liệu.

128

Bảng 3.48: Sự tham gia của các cơ sở YHCT trong tiêu thụ cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai

2016 Chỉ tiêu

Số các phòng khám và bệnh viện YHCT tại Lào Cai 15

Số các phòng khám và bệnh viện YHCT cả nước 3.835

Tỷ lê số phòng khám và bệnh viện YHCT tại Lào Cai so với cả nước 0,39%

29,15%

Tỷ lệ giá trị cây dược liệu trong tổng số giá trị thuốc y học cổ truyền tại Lào Cai (%)

1,55%

Tỷ lệ giá trị cây dược liệu trong tổng giá trị tiền thuốc của các cơ sở y tế tại tỉnh Lào Cai

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai( 2017) và Bộ y tế (2016)

- Nhóm nhân tố thị trường

Nhóm nhân tố thị trường gồm quan hệ cung cầu cây dược liệu, công tác xuất khẩu cây dược liệu và nhu cầu tiêu thụ nội địa đối với sản phẩm dược liệu. Theo lý thuyết, quan hệ cung cầu chịu ảnh hưởng của giá cả, công tác xuất khẩu phụ thuộc vào

nhu cầu tiêu thụ trên thế giới, chất lượng sản phẩm dược liệu và thương hiệu sản phẩm trong khi đó nhu cầu tiêu thụ nội địa phụ thuộc vào quy mô thị trường trong nước, thói quen tiêu dùng và chất lượng sản phẩm.

Xét từ góc độ thị trường, đối với nhân tố giá cả, hiện nay giá thu mua Đương

quy và Actiso đang được cố định do hai loại cây dược liệu này được bao tiêu vì vậy yếu tố giá cả không tác động đến quan hệ cung cầu. Tuy nhiên, đối với các cây dược liệu không được bao tiêu đầu ra như Sa nhân tím, Thảo quả, giá bán phụ thuộc nhiều

vào thương lái, đặc biệt là các thương lái Trung Quốc.

Xét về nhu cầu tiêu thụ nội địa, có thể nói thị trường tiêu thụ cây dược liệu tại Việt Nam nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng là rất lớn. Theo ước tính của Bộ Y tế (2017), nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước khoảng 60.000-80.000 tấn dược

liệu/năm. Riêng đối với tỉnh Lào cai, nhu cầu tiêu thụ cây dược liệu ước tính khoảng 24,58 tỷ đồng (Ủy ban nhân dân Lào Cai, 2017). Theo báo cáo của Business Monitor International Ltd- BMI (2017), tổng giá trị của thị trường dược phẩm Việt Nam năm

2015 đạt 4,2 tỷ USD và dự kiến sẽ đạt 10 tỷ USD vào năm 2020. Cũng theo báo cáo của tổ chức này, Việt Nam xếp hạng 13/175 các nước có tốc độ tăng trưởng về chi tiêu cho thuốc men nhanh nhất thế giới, với tốc độ tăng trung bình là 17,7% giai đoạn 2005-2010 và 14,% giai đoạn 2010-2015. Dự báo, từ nay đến năm 2025, tốc độ tăng

129

trưởng về chi tiêu bình quân trên đầu người cho tiền thuốc của Việt nam đạt 14% và

đạt mức 85 USD/người vào năm 2020 và 163 USD/người vào năm 2025 (hình 3.4)

Nguồn: BMI (2017)

Hình 3.4: Nhu cầu chi tiêu tiền thuốc bình quân trên đầu người qua các năm của Việt nam (đơn vị: USD/người/năm)

Như trên đã phân tích, một trong những thị trường tiêu thụ quan trọng của cây

dược liệu là YHCT. Theo thống kê của Bộ y tế, năm 2016 cả nước có 3.835 cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT, trong đó số bệnh viện YHCT là 63 bệnh viện. So với năm 2010, số lượt người chữa bệnh bằng YHCT tại tuyến huyện và tuyến tỉnh năm 2015 ngày càng tăng với tổng số lượt khám là 3,5 triệu lượt tăng 44,3% so với năm 2010 (bảng 3.49). Dự

báo nhu cầu khám chữa bệnh bằng YHCT sẽ ngày càng tăng trong tương lai.

Bảng 3.49. Tỷ lệ khám bệnh bằng y học cổ truyền trên tổng số lượt khám bệnh của cả nước và số lượt người khám bệnh bằng YHCT năm 2015 so với năm 2010

2015 Tỷ lệ khám bệnh bằng YHCT Tỷ lệ tăng so với 2010

Tuyến trung ương 4,1% n/a

Tuyến tỉnh 11,7% -0,8%

Tuyến huyện 13,4% 6,2%

Tuyến xã 28,5% 5,8%

Số lượt người khám bệnh bằng YHCT (triệu người) 3,5 44,3%

Nguồn: Bộ y tế năm 2016

130

Thị trường xuất khẩu đối với cây dược liệu cũng khá lớn. Theo số liệu tổng hợp

từ Bộ y Tế (2017), giá trị kim ngạch xuất khẩu dược liệu đạt 15 - 30 triệu USD/năm, tương ứng khoảng 10.000 tấn/năm bao gồm các loại như: Sa nhân, Quế Hồi, Thảo quả, Cúc hoa, Dừa cạn, Hòe... Thị trường xuất khẩu dược liệu lớn nhất là Trung Quốc. Theo ước tính của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2017), khối lượng dược liệu xuất khẩu hàng năm trong thời gian tới có thể đạt được 15.000-20.000 tấn nguyên liệu/năm, cung ứng cho sản xuất trong nước khoảng 20.000 tấn/năm.

Mặc dù có thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu rất tiềm năng, nhưng sự

phát triển của cây dược liệu tại Lào Cai chưa thực sự bền vững do chất lượng sản phẩm còn thấp, chưa đạt tiêu chuẩn dược liệu sạch. Mặt khác, công nghệ chiết suất và bào chế còn thấp, công tác marketing, quảng cáo và xây dựng thương hiệu còn hạn chế

dẫn đến cây dược liệu chưa được biết đến cũng như tiêu dùng rộng rãi cả ở trong nước lẫn thị trường quốc tế.

Đánh giá chung

Qua đánh giá các nhân tố tác động đến sự phát triển theo hướng bền vững của

cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai, luận án rút ra những kết luận như sau:

Thứ nhất, nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên có tác động tích cực đến sự phát triển bền vững của cây dược liệu. Tại Lào Cai, các loại đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa), đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Hs), đất mùn vàng đỏ trên đá macma

axit (Ha) chiếm diện tích lớn và được đánh giá là rất phù hợp với nhiều cây dược liệu. Mỗi loài dược liệu phù hợp với từng loại độ cao khác nhau, ví dụ Đương quy phù hợp với độ cao 1.300-1.800m còn Sa nhân tím phù hợp với độ cao 300-800m. Căn cứ vào

yếu tố tự nhiên, có 03 huyện có tiềm năng nuôi trồng dược liệu thích hợp nhất đó là Sapa, Bắc Hà và Bát Xát.

Thứ hai, nhóm nhân tố về chủ thể sản xuất có tác động trực tiếp đến sự phát triển theo hướng bền vững của cây dược liệu trên cả khía cạnh nâng cao hiệu quả sản

xuất và lan tỏa tích cực đến môi trường. Kết quả hồi quy đa nhân tố của luận án cho thấy việc áp dụng tiêu chuẩn GACP và tham gia đào tạo là hai nhân tố chính có tác động tích cực đến năng suất cây dược liệu và thu nhập bình quân của các hộ nông

dân trồng dược liệu. Bên cạnh đó, luận án cũng tìm thấy tác động tích cực của việc đầu tư cho hệ thống tưới tiêu đến năng suất cây Đương quy. Đối với tiêu chí về tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường, luận án chỉ ra rằng tham gia đào tạo và áp dụng tiêu chuẩn GACP góp phần hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học

của các hộ nông dân do đó nâng cao sự thân thiện đối với môi trường của nuôi trồng

131

cây dược liệu. Tuy nhiên kết quả hồi quy lại cho thấy trình độ giáo dục có mối quan hệ

cùng chiều với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Ở những nơi dân trí càng cao mức sử dụng phân hóa học càng lớn.

Thứ ba, nhóm nhân tố chính sách và thể chế bao gồm các chính sách về bảo tồn cây dược liệu, gây trồng và tiêu thụ cây dược liệu của Nhà nước đã có tác động tích cực trong việc tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển hàng hóa của cây dược liệu. Tuy nhiên do chưa có chính sách riêng và đặc thù cho cây dược liệu nên hiệu quả của nhóm nhân tố thuộc về chính sách còn hạn chế. Đối với chính sách hỗ trợ phát triển

cây dược liệu của tỉnh, mặc dù đã góp phần tích cực trong việc tạo cung cầu và phát triển hàng hóa cho cây dược liệu nhưng về mặt dài hạn, các chính sách hỗ trợ về đầu vào và đầu ra sẽ gây tác động tiêu cực cho sự phát triển bền vững của cây dược liệu

do các chính sách này tạo nên sự thụ động và lệ thuộc của các hộ nông dân vào cơ chế và chính sách.

Thứ tư, hiện nay ở Lào Cai, chỉ có 01 hiệp hội thảo quả, chưa có hiệp hội cây dược liệu tại địa phương cũng như toàn quốc. Vì vậy, tác động của hiệp hội đến phát

triển cây dược liệu theo hướng bền vững là chưa có. Sự thiếu vắng các hiệp hội cũng hạn chế rất nhiều sự phát triển của thị trường cây dược liệu, khiến người dân chưa thể chủ động trong việc tìm đầu ra.

Thứ năm, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu giữa nông dân-doanh

nghiệp và các cơ sở khám chữa bệnh YHCT là rất cần thiết cho sự PTTHBV của cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai do các mô hình liên kết giúp tăng cường sự bền vững của cả cung và cầu cây dược liệu. Tuy nhiên hiện nay, sự tham gia liên kết của các doanh

nghiệp cũng như các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT còn rất hạn chế, do đó chưa có sự bền vững thật sự về thị trường cũng như sản xuất cây dược liệu.

Thứ sáu, nhóm nhân tố thị trường có tác động tích cực đến sự phát triển bền vững của cây dược liệu. Nhìn từ giác độ thị trường tiêu thụ, luận án chỉ ra rằng nhu

cầu tiêu thụ cây dược liệu cả trong nước và quốc tế đều rất tiềm năng với các dự báo tăng trưởng nhanh trong tương lai. Tuy nhiên, để tận dụng được các cơ hội tiềm năng này, cần có sự phát triển đồng bộ về sản xuất, marketing, quảng cáo và quản lý chất

lượng cây dược liệu cũng như các sản phẩm sử dụng cây dược liệu làm nguyên liệu đầu vào. Yếu tố giá cả đối với một số loài cây được trồng theo dự án như Đương quy và Actiso (được bao tiêu) khá ổn định và không phụ thuộc vào thị trường, tuy nhiên đối với một số các loài cây khác, giá cả cây dược liệu vẫn bị lệ thuộc vào thương lái.

Bảng 3- 5 trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu của luận án về tác động của các nhóm nhân tố đến sự phát triển bền vững của cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai.

132

Bảng 3.50: Các nhân tố tác động đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Ghi chú Chỉ tiêu Thang đo Chiều tác động Nhóm nhân tố

1.Chất đất Tích cực Fa, Ha, Hs phù hợp nhất Phân loại đất theo bản đồ thổ nhưỡng, của Tỉnh

Địa lý và tự nhiên Số m so với mực nước biển Tùy thuộc vào từng loại cây 2.Độ cao Cây Sa nhân tím: 300- 600m Đương Quy 1.300-1.800m

Tiêu cực 1.Trình độ giáo dục Số năm đi học của chủ hộ

2.Tổng diện tích Ha/hộ Tích cực/tiêu cực

3.Hộ nghèo Có/không Tiêu cực/tích cực

4.GACP Có/không Tích cực

Chủ thể sản xuất

5.Đào tạo Tích cực Có/không tham gia đào tạo

Đối với tiêu chí môi trường (p-value<0,01) Làm tăng năng suất và tăng sử dụng thuốc trừ sâu (p-value<0,01) Giảm chất đất, giảm sử dụng phân hóa học (P- value<0,1) Tăng năng suất, thu nhập, duy trì chất đất và hạn chế sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu (P-value<0,01) Tăng năng suất, thu nhập, duy trì chất đất và hạn chế sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu (P-value<0,01 và P- value <0,05)

Tích cực 6.Gần chợ Tăng năng suất và thu nhập (P-value<0,1) 0=ở xa chợ 3km trở lên; 1=ở gần chợ từ 3 km trở xuống

0=không, 1=có Tích cực Tăng năng suất và thu nhập (P-value<0,05)

7.Đầu tư cho hệ thống tưới tiêu 1.Chính sách bảo tồn của Nhà nước

Có/không, mô tả chính sách Tích cực Chính sách và thể chế Có tác động tích cực nhưng còn nhiều hạn chế do chưa có chính sách riêng và cụ thể cho cây dược liệu

2.Chính sách gây trồng của Nhà nước 3.Chính sách thu hoạch và chế biến Nhà nước

133

Ghi chú Chỉ tiêu Thang đo Nhóm nhân tố Chiều tác động

4.Chính sách địa phương Có/không, mô tả chính sách Tích cực/tiêu cực

Tích cực trong giai đoạn đầu nhằm phát triển cây dược liệu thành hàng hóa nhưng về mặt dài hạn có tác động tiêu cực

5.Hiệp hội Có/không Chưa hiệu quả Có 01 hiệp hội thảo quả

Chưa nhiều 1. Sự tham gia của doanh nghiệp dược Tỷ lệ tham gia của các doanh nghiệp còn thấp

Chưa nhiều 2.Tỷ trọng tiêu thu cây dược liệu của các doanh nghiệp Tỷ lệ tiêu thụ cây dược liệu của các doanh nghiệp thấp

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ

Chưa nhiều Thấp 3.Tỷ trọng cơ sở y học cổ truyền tại Lào cai

Chưa nhiều Thấp

Số doanh nghiệp dược tham gia/tổng sổ doanh nghiệp dược của cả nước Tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu của các doanh nghiệp/tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu Số lượng cơ sở YHCT tại Lào Cai/Số lượng cơ sở YHCT cả nước Tổng giá trị tiêu thụ cây dược liệu/tổng giá trị tiêu thụ thuốc YHCT 4.Tỷ trọng giá trị tiêu thụ cây dược liệu trong tổng giá trị tiêu thụ YHCT

1.Giá cả Không ổn định/ổn định Tích cực/tiêu cực

Ổn định với một số loại dược liệu được bao tiêu đầu ra, còn một số loại khác vẫn phụ thuộc vào thương lái

Tích cực Nhân tố thị trường 2.Thị trường nội địa Giá trị thị trường và mức độ chi tiêu ngày càng tăng

Tích cực Tăng lên 3.Thị trường xuất khẩu Giá trị thị trưởng (tỷ USD) Mức độ chi tiêu cho thuốc men (USD/người/năm) Sản lượng dươc liệu xuất khẩu bình quân/năm (Tấn/năm)

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

134

3.4. Đánh giá chung về thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai

3.4.1. Những kết quả đạt được

3.4.1.1. Về duy trì, bảo tồn và mở rộng

- Công tác bảo tồn cây dược liệu tự nhiên đã bước đầu đạt được những kết quả tốt như việc thành lập thêm 02 khu bảo tồn mới, tăng tổng diện tích rừng tự nhiên được bảo tồn lên 27,42%.

- Các khu bảo tồn, đặc biệt là Vườn quốc gia Hoàng Liên đã thực hiện tốt việc

kiểm soát và bảo tồn nguyên vị nhiều loài cây trong sách đỏ và đang từng bước thực

hiện bảo tồn chuyển vị một số loài cây dược liệu quý hiếm.

- Diện tích canh tác nhằm mở rộng quy mô cây dược liệu có xu hướng tăng lên.

Năm 2015, diện tích canh tác cây dược liệu trên địa bàn tỉnh tăng 115,4% so với năm

2014 trong đó nhóm cây hàng năm tăng 120,2% và cây lâu năm tăng 104,8%. Các cây

có diện tích tăng mạnh bao gồm: Actiso (18%), Y dĩ (19,1%), Sa nhân (99,3%) và chè

dây (64,3%). Các cây có diện tích trồng lớn nhất bao gồm: Gừng, Sa nhân, nghệ vàng,

Actiso, Xuyên khung và Đương quy. Năm 2016, tỉnh Lào Cai đã hoàn thành quy hoạch

chi tiết các vùng trồng dược liệu theo đó tổng quỹ đất dánh cho phát triển cây dược liệu

3.4.1.2. Về nâng cao hiệu cảo sản xuất

gần 29 ngàn ha, chỉ thấp hơn diện tích trồng cây lương thực (ngô và lúa).

- Hiện nay, việc sử dụng dược liệu trong chăm sóc sức khoẻ (thuốc, thực phẩm

chức năng, mỹ phẩm) đã được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất và bắt đầu có nhu cầu

lớn. Các loài cây dược liệu có thế mạnh phát triển trên địa bàn tỉnh như: Actiso,

Đương quy, Bạch truật, Bạch chỉ, Độc hoạt, Đẳng sâm, Chè dây, Sinh địa, Tam

Thất… đã được khôi phục và phát triển theo các đơn đặt hàng của các công ty dược

đóng trên địa bàn tỉnh. Tỉnh đã hình thành các vùng trồng nguyên liệu dược liệu, có sự

tham gia của các doanh nghiệp dược lớn, trong đó có vùng dược liệu sạch được cấp

chứng chỉ GACP của công ty dược Traphaco.

- Cây dược liệu có hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các loài cây nông

nghiệp truyền thống khác như lúa và ngô. Tính trung bình, thu nhập/1ha cây Đương Quy

là 43,6 triệu VNĐ và cây Actiso là 34 triệu đồng, cao gấp 3-4 lần so với thu nhập/ha của

cây ngô và cây lúa.

- Tỉnh Lào cai là một tỉnh có lợi thế về điều kiện tự nhiên trong canh tác cây

dược liệu. Với quỹ đất đỏ mùn vàng trên cao lớn, tỉnh Lào Cai được đánh giá có tiềm

135

năng trong canh tác các loại cây dược liệu quý có giá trị kinh tế cao như Tam thất,

Đương quy, Actiso, Cát cánh, Sa nhân tím. Thực tế canh tác cho thấy năng suất của các

loại cây dược liệu chủ lực ở tỉnh Lào Cai qua các năm được duy trì ổn định. Ví dụ, năng

suất trung bình của cây Actiso là 2 tấn/ha được duy trì qua nhiều năm, hiếm thấy hiện

3.4.1.3. Về lan tỏa tích cực đến xã hội

tượng mất mùa và sâu bệnh.

- Phát triển cây dược liệu cũng đem lại sự lan tỏa tích cực đến xã hội. Theo số

liệu thống kê của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, tỷ lệ hộ nghèo tại 06 huyện trồng dược

liệu với quy mô lớn nhất tại Lào Cai trong các năm 2017 và 2018 đều giảm từ 4% đến

8%. Với thu nhập vượt trội so với các loại cây nông nghiệp khác, cây dược liệu góp

phần không nhỏ vào việc cải thiện đời sống kinh tế của bà con nông dân tại địa phương,

góp phần xóa đói giảm nghèo.

- Việc phát triển cây dược liệu cũng góp phần tạo công ăn việc làm cho người

nông dân. Theo tính toán của tác giả, trong niên vụ 2017-2018, cây dược liệu đã tạo

thêm 211,8 việc làm mới cho người dân địa phương.

- Phát triển cây dược liệu đã gắn kết được với các truyền thông văn hoá của đồng

bào dân tộc thiểu số. Từ lâu cây dược liệu đã gắn bó với đời sống và tín ngưỡng của

người dân địa phương, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Chính vì vậy, phát triển cây

dược liệu góp phần duy trì và phát triển những giá trị văn hóa và tri thức tốt đẹp của

3.4.1.4. Về lan tỏa tích cực đến môi trường

người dân bản địa.

- Canh tác cây dược liệu vẫn bảo đảm thân thiện với môi trường. Nghiên cứu

thực tế cho thấy khối lượng phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng trong canh tác

cây dược liệu thấp hơn nhiều so với cây ngô và cây lúa, trong khi khối lượng phân hữu

cơ sử dụng trong canh tác dược liệu cao gấp 3 lần so với lượng phân hữu cơ sử dụng

trong nuôi trồng cây lúa và cây ngô.

- Canh tác dược liệu cũng không làm suy thoái chất đất và nguồn nước. Việc áp

dụng các kỹ thuật canh tác dược liệu hiện đại, theo tiêu chuẩn sạch (GACP), góp phần duy trì và cải thiện chất đất. So sánh lượng nước tưới tiêu/1ha đất canh tác, cây dược liệu sử dụng ít nước hơn nhiều so với cây lúa và cây ngô do đặc thù không ưa nước của cây dược liệu.

- Phát triển cây dược liệu góp phần trực tiếp vào bao vệ rừng. Cây dược liệu tự nhiên là một phần quan trọng của rừng. Việc bảo tồn và duy trì cây dược liệu tự nhiên

136

có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với môi trường vì góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi

trường sinh thái và đa dạng sinh học của các loại động vật và thực vật tự nhiên.

- Phát triển cây dược liệu góp phần phát triển quỹ đất sản xuất. Đa phần cây dược liệu phù hợp với các loại đất đỏ vàng và đất đỏ mùn vàng trên núi cao. Do đó việc trồng cây dược liệu không làm ảnh hưởng nhiều đến quỹ đất dành cho các loại cây nông nghiệp khác. Theo thống kê của ủy ban nhân dân tỉnh, năm 2017 toàn tỉnh có 850ha đất trồng dược liệu chỉ chiếm 2,9% tổng diện tích đất trông cây lâu năm và hàng năm (không kể diện tích đất trồng cây lương thực). Theo quy hoạch của ủy

ban nhân dân tỉnh Lào cai, trong tổng quỹ đất tiềm năng cho cây dược liệu, đất rừng chiếm 76,4% (tương đương 20.093ha), đất trồng cây hàng năm (chủ yếu là đất trồng ngô và các loại rau, màu) chiếm 22,3% cơ cấu diện tích (tương đương 5.870

ha) và đất trồng lúa chiếm 0,6% ha.

3.4.2. Những mặt hạn chế

3.4.2.1. Về duy trì, bảo tồn và mở rộng về quy mô và số lượng

- Công tác bảo tồn cây dược liệu tự nhiên còn nhiều hạn chế: chưa có chính sách

riêng biệt để bảo tồn cây dược liệu tự nhiên, nguồn gen quý hiếm, chưa có các cơ sở dữ

liệu thống kê về chủng loại, số lượng và vị trí địa lý phân bổ của các loài do đó rất khó

- Số lượng các loài trong sách đỏ được bảo tồn thành công còn thấp. Hiện nay

đánh giá hiệu quả của hoạt động duy trì và bảo tồn.

công tác bảo tồn chủ yếu được thực hiện nguyên vị trong các khu bảo tồn. Bảo tồn chuyển

- Chưa có ngân hàng gen giống dược liệu quý hiếm. Công tác nghiên cứu và phát

vị còn hạn chế, số lượng cây được bảo tồn chuyển vị trong các vườn ươm chưa cao.

- Có hiện tượng suy giảm khá nghiêm trọng nguồn dược liệu tự nhiên. Hiện trạng

triển nguồn gen dược liệu quý hiếm tự nhiên còn nhiều hạn chế.

phá rừng có cây dược liệu vẫn còn diễn ra phổ biến, hoạt động thu hái dược liệu tự nhiên

chưa được quản lý nghiêm , vẫn còn nhiều tình trạng thu hái tràn lan, thu hái tận diệt dẫn

đến sự sụt giảm nghiêm trọng nguồn dược liệu thiên nhiên, nhiều cây dược liệu đứng

- Diện tích đất để trồng cây dược liệu hàng năm ít, nhỏ lẻ, manh mún, trong khi

trước nguy cơ bị tuyệt chủng.

đó yêu cầu của một số loại cây dược liệu phải luân canh thay đổi đất sau mỗi vụ canh tác

và sản xuất tập trung, điều này ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng diện tích cũng như tăng

năng suất, hiệu quả của cây dược liệu trên địa bàn tỉnh.

137

3.4.2.2. Về hiệu quả sản xuất

- Chi phí sản xuất ban đầu cho cây dược liệu cao hơn so với các cây trồng truyền

thống khác (lúa, ngô). Cụ thể: yêu cầu về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhân công chăm sóc cao, chi phí vốn đầu tư cao, chi phí vận chuyển cao do Cơ sở hạ tầng cho các vùng trồng cây dược liệu chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất với quy mô lớn, tập

- Năng suất còn thấp: Trên địa bàn tỉnh, hiện chưa có các quy trình kỹ thuật nhân giống, trồng trọt, thu hái, sơ chế, chế biến và bảo quản các loài cây dược liệu trong danh mục quy hoạch phát triển, ảnh hưởng đến việc bố trí thời vụ, năng suất cây dược liệu. Việc cung ứng giống trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh chưa hoàn toàn

trung;địa hình chia cắt phức tạp nên giao thông đi lại khó khăn, nguồn nước tưới không chủ động nên công tác chăm sóc, vận chuyển sản phẩm gặp nhiều khó khăn.

- Giá trị kinh tế cây dược liệu còn thấp. Các sản phẩm dược liệu chủ yếu chế

chủ động, nguồn giống chủ yếu phải nhập từ Trung Quốc và do các công ty liên kết sản xuất cung ứng đầu vào, thu mua sản phẩm đầu ra, điều này gây ảnh hưởng cho việc tổ chức quản lý sản xuất.

biến thô rồi xuất bán, cơ sở sản xuất, chế biến thuốc, thực phẩm chức năng trên địa bàn

tỉnh Lào Cai chưa phát triển, điều này dẫn đến việc tăng giá trị kinh tế của cây dược

liệu chưa cao, người dân chưa mạnh dạn chuyển đổi đất trồng dược liệu, nên chưa thu

3.4.2.3. Về tác động lan tỏa đến xã hội

hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư.

- Ngoại trừ một số loại cây dược liệu được bao tiêu đầu ra như Đương quy, Actiso và chè dây, các cây dược liệu khác đều được bán trên thị trường tư do, giá cả bấp bênh, không ổn định, do đó đối với nhiều hộ dân, đặc biệt là các hộ dân đồng bào

miền núi cao thu nhập từ cây dược liệu chưa thực sự ổn định.

- Nhiều hộ dân trồng dược liệu phụ thuộc vào chính sách trợ giá của nhà nước

(bao tiêu sản phẩm, trợ giá giống và phân bón). Nếu nhà nước bỏ chính sách trợ giá,

các hộ dân sẽ không thể tìm được thị trường đầu ra cho cây dược liệu để đảm bảo thu

nhập cho mình.

3.4.2.1. Về tác động lan tỏa đến môi trường

- Ngoại trừ một số cây được trồng theo tiêu chuẩn sạch và được kiểm soát chặt chẽ về quy trình canh tác bởi khuyến nông, vẫn còn hiện tượng phun thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng phân hóa học tràn lan trong canh tác cây dược liệu

- Ở một số nơi do quy trình xử lý kỹ thuật không tốt, dẫn đến hiện tượng xói

mòn chất đất, đặc biệt đối với các loại cây dược liệu lấy củ.

138

- Thực tế khảo sát tại địa phương cho thấy, các vùng trồng dược liệu chưa có cơ sở

phân hủy rác thải nông nghiệp tập trung. Đa phần sau mỗi vụ thu hoạch, các hộ nông dân sẽ chôn phế liệu (màng phủ bao ni lông, các phần thân cây không thu hoạch) xuống đất để tự tiêu hủy. Việc này có ảnh hưởng không tốt đến chất đất và môi trường sinh thái.

3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai

3.4.3.1. Nguyên nhân liên quan đến chính sách

Mặc dù trong thời gian qua tỉnh Lào Cai đã có nhiều chính sách nhằm phát triển cây

- Chưa có các cơ chế chính sách khuyến khích sự tham gia của các công ty dược liệu

- Chưa có chính sách riêng cho bảo tồn và duy trì cây dược liệu tự nhiên

- Chưa có chính sách khuyến khích các tổ chức, công ty đầu tư sản xuất giống,

dược liệu, tỉnh đã đề ra quy hoạch chi tiết dược liệu tuy nhiên vẫn còn những bất cập sau:

- Chưa có các chế tài đủ mạnh trong việc quản lý khai thác, thu mua của người

gieo trồng cũng như chế biến dược liệu.

- Chưa có chính sách đủ mạnh để thúc đẩy việc đầu tư nghiên cứu cũng như áp

dân và thương lái; quản lý thị trường dược liệu.

dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc khai thác, bảo quản, chế biến, sản xuất giống, kỹ thuật gieo trồng để đảm bảo chất lượng sản phẩm dược liệu.

Bên cạnh đó, việc triển khai và thực hiện các văn bản pháp luật của Chính phủ,

của địa phương đối với các hộ trồng dược liệu còn nhiều hạn chế do chưa có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các sở, các cơ quan quản lý chức năng có liên quan, thiếu kinh phí, thiếu đội ngũ cán bộ có đủ trình độ.

Nguồn vốn còn hạn chế, kinh phí đầu tư cho hoạt động quản lý sản xuất cà phê

3.4.3.2. Nguyên nhân liên quan năng lực của chủ thể sản xuất và kinh doanh cây dược liệu

và bảo vệ nguồn tài nguyên còn hạn chế.

So với mặt bằng chung trong cả nước thì Lào Cai vẫn là một tỉnh nghèo với 77,15% dân số sinh sống ở nông thôn. Tỷ lệ hộ nghèo của Lào Cai chiếm 21,81% tổng

số hộ. Đa phần dân số của Lào Cai là người dân tộc thiểu số như: Mông, Tày, Nùng, Phù Lá… trình độ lao động thấp, hạn chế khả năng tiếp thu kỹ thuật canh tác, có tập quán canh tác là phát nương làm rẫy dẫn tới làm suy giảm diện tích rừng tự nhiên, phá hủy môi trường sống của nhiều loại cây dược liệu, chỉ quan tâm tới lợi ích trước mắt

nên dễ bị các thương lái lôi kéo để thu hái tận diệt nhiều loài cây dược liệu quý hiếm.

139

Lực lượng lao động còn thiếu, trình độ lao động còn nhiều hạn chế, việc tiếp

3.4.3.3. Nguyên nhân liên quan liên kết trong sản xuất và tiêu thụ dược liệu

thu kỹ thuật mới (về trồng trọt và thu hái sản phẩm) không đồng đều nên khó khăn cho việc mở rộng phát triển các cây trồng mới cũng như chất lượng dược liệu và hiệu quả kinh tế chưa được tương xứng.

Việc liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai còn rất yếu. Hiện nay, cả tỉnh chỉ có một hiệp thội thảo quả, tuy nhiên hoạt động của hiệp hội

này còn hạn chế và không rõ nét. Bên cạnh đó việc tham gia của các doanh nghiệp vào sản xuất dược liệu còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng sản xuất của tỉnh do đó quy mô sản xuất cây dược liệu chưa lớn. Chưa có các hình thức liên kết hiệu quả giữa các hộ nông dân trồng cây dược liệu với các cơ sở tiêu thụ dược liệu như các cơ sở

3.4.3.4. Nguyên nhân về thị trường đầu ra

khám chữa bệnh bằng YHCT, dẫn đến đầu ra cho cây dược liệu còn bấp bênh.

Như trên đã phân tích, thị trường đầu ra đối với cây dược liệu bao gồm nguyên liệu cho ngành hóa dược và y học cổ truyền. Tuy nhiên tại Việt Nam, cả 02 thị trường này đều chưa phát triển mạnh. Do các yếu kém về mặt khoa học kỹ thuật, nên ngành hóa dược của Việt nam còn nhiều hạn chế, kỹ thuật bào chế, chiết xuất còn thô sơ,

chủ yếu nhập khẩu hóa dược. Vì vậy ngành hóa dược chưa thể sử dụng hết nguồn tài nguyên dược liệu trong nước, dẫn đến việc phải tìm thị trường xuất khẩu cho cây dược liệu. Tuy nhiên, các cây dược liệu quý lại bị xuất lậu tràn lan qua thương

lái. Nền y học cổ truyền của Việt nam đã có từ lâu đời, tuy nhiên hiện nay Việt nam chưa xây dựng được kho tàng tri thức bản địa về các phương thuốc chữa bệnh YHCT. Mặt khác việc quản lý chất lượng khám chữa bệnh bằng YHCT còn lỏng lẻo dẫn đến việc khám chữa bệnh bằng YHCT còn tự phát, tràn lan, theo kinh

3.4.3.5. Nguyên nhân liên quan đến quản lý cây dược liệu

nghiệm. Nhiều bài thuốc hay chưa được chuẩn hóa để trở thành hàng hóa, do đó thị trường YHCT chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, dẫn đến hạn chế đầu ra cho cây dược liệu.

Qua thực tế khảo sát, tại tỉnh Lào cai chưa hình thành mô hình quản lý và khai thác cây dược liệu hiệu quả. Hiện nay cây dược liệu được trồng tự phát bởi các hộ dân. Tại các vùng dược liệu, có sự giám sát của công ty và khuyến nông. Tuy nhiên việc quản lý dựa vào cộng đồng dân cư chưa được thực hiện, chưa có quy định rõ ràng, dẫn đến việc quản lý và chia sẻ lợi ích từ việc canh tác cây dươc liệu tại Lào Cai chưa cao.

140

Tiểu kết chương 3

Trọng tâm của chương 3 là phân tích thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai. Kết qủa nghiên cứu của luận án chỉ ra rằng trên khía cạnh các tiêu chí PTTHBV: Thứ nhất, cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai được đánh giá có tính bền vững về mặt kinh tế. Tuy nhiên để tiếp tục phát triển được tính bền vững này của cây dược liệu, nhất thiết cần phải có sự bền vững về đầu ra, mà điều này hiện nay tỉnh Lào Cai chưa làm được. Mặc dù thị trường đầu ra của cây dược liệu rất tiềm năng nhưng để phát triển thị trường tiêu thụ một cách bền vững là rất khó khăn do trình độ

sản xuất và bào chế thuốc cũng như thực phẩm chức năng của ngành công nghiệp hóa dược chưa cao, mức tiêu thụ cây dược liệu trong YHCT còn thấp, quản lý chất lượng và thông tin thị trường chưa tốt, việc xây dựng thương hiệu dược liệu riêng cho Lào

Cai và hình thành các hiệp hội hầu như chưa có, dẫn đến sức cạnh tranh của cây dược liệu cũng như các sản phẩm chế biến từ cây dược liệu kém. Thứ hai, kết quả luận án cũng chỉ ra rằng so với cây ngô và cây lúa, cây dược liệu có sự lan tỏa tích cực hơn về mặt môi trường, tuy nhiên để duy trì sự lan tỏa này một cách lâu dài, nhất thiết cần

phải tăng cường việc áp dụng các tiêu chuẩn canh tác dược liệu sạch như GACP hay tiêu chuẩn thu hái bền vững Fairwild đối với dược liệu tự nhiên. Thứ ba, về mặt duy trì, bảo tồn và mở rộng cây dược liệu, mặc dù đã đạt được một số kết quả ban đầu tuy

nhiên chưa đảm bảo tính bền vững do tỉnh chưa quản lý được thực trạng thu hái tràn lan và tận gốc đối với nhiều loài dược liệu, trong đó có rất nhiều loại dược liệu quý hiếm. Bên cạnh đó, hiệu quả bảo tồn ở các khu bảo tồn chưa cao do nhiều khó khăn về vốn, công nghệ. Tỉnh Lào Cai hiện nay cũng chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu để theo

dõi trữ lượng các loại cây dược liệu theo từng khu vực sinh sống, do đó gây khó khăn cho việc kiểm soát nguồn cây dược liệu tự nhiên. Việt Nam nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng cũng chưa xây dựng được ngân hàng gen giống cho cây dược liệu, đặc biệt là đối với những loài dược liệu quý hiệm thuộc danh mục sách đỏ của Việt nam và thế giới. Thứ tư, dưới giác độ xã hội, cây dược liệu góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm. Tuy nhiên để đảm bảo tính bền vững về mặt xã hội, nhất thiết cây dược liệu phải duy trì được tính bền vững về mặt kinh tế, mà điều này phụ thuộc rất

lớn vào tính bền vững về thị trường đầu ra của cây dược liệu.

Xét về khía cạnh các nhân tố tác động, kết quả luận án chỉ ra rằng việc áp dụng GACP và tham gia đào tạo là các nhân tố có tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất của cây dược liệu cũng như tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi

trường. Các nhân tố về thể chế và chính sách cũng bước đầu có tác động tích cực đến

141

phát triển cây dược liệu thành hàng hóa nhưng hiệu quả đối với sự PTTHBV cây dược

liệu là chưa cao do chưa có các chính sách riêng và đặc thù cho cây dược liệu. Các hiệp hội hỗ trợ phát triển thị trường cho cây dược liệu hầu như chưa có, chỉ có một vài hiệp hội nhỏ và đơn lẻ nên hiệu quả hoạt động cũng chưa cao, sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu còn mỏng dẫn đến việc chưa thể sản xuất cây dược liệu với quy mô lớn. Điều kiện tự nhiên về loại đất và độ cao của Lào Cai rất phù hợp với trồng cây dược liệu. Tỉnh đã nghiên cứu và đưa ra 22 loại cây dược liệu phù hợp với điều kiện tự nhiên ở Lào cai. Thị trường trong nước và quốc tế đối với cây dược liệu

rất tiềm năng tuy nhiên khả năng tiếp cận thị trường của cây dược liệu và các sản phẩm chế biến từ cây dược liệu còn kém do các hạn chế về công nghệ chế biến, vốn, quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, các hoạt động marketing và quảng bá.

142

CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI TỈNH LÀO CAI

4.1. Quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững đến năm 2030

4.1.1. Quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của Việt Nam

4.1.1.1. Quan điểm

Theo quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2013, quan điểm về phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu của Việt Nam được hiểu là: Thứ nhất: “Phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt nam trên cơ sở sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội để phát triển các vùng trồng dược liệu, gắn với bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn dược liệu tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái”; Thứ hai: “Phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng trồng dược liệu gắn vói công nghiệp chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng bảo đảm an toàn và chất lượng, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước và xuất khẩu”; Thứ ba: “Nhà nước hỗ trợ về nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong việc bảo tồn nguồn gen, khai thác dược liệu tự nhiên, trồng trọt, chế biến dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu”; thứ tư: “Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, phát triển trồng dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu, góp phần tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp dược trong tổng sản phẩm nội địa”.

Như vậy quan điểm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của Việt Nam tập trung vào khía cạnh duy trì, bảo tồn cây dược liệu tự nhiên, nâng cao hiệu quả sản xuất hàng hóa của cây dược liệu, khuyến khích sự tham gia liên kết của các thành phần kinh tế trong đó có các doanh nghiệp và nhà nước đóng vai trò hỗ trợ đầu tư, nghiên cứu về khoa học công nghệ để tạo nền tảng cho sự phát triển theo hứng bền

4.1.1.2. Định hướng phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu của Việt Nam

vững của cây dược liệu.

(cid:4)Về bảo tồn và khai thác dược liệu tự nhiên

- Quy hoạch các vùng rừng, các vùng có dược liệu tự nhiên ở 8 vùng dược liệu trọng điểm bao gồm Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên

143

hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ để lựa chọn và khai

thác hợp lý 24 loài dược liệu, đạt khoảng 2.500 tấn dược liệu/năm.

- Xây dựng 05 vườn bảo tồn và phát triển cây thuốc quốc gia đại diện cho các vùng sinh thái, là nơi tập trung, bảo tồn và trồng mới nhiều loài cây thuốc được thu

thập ở các địa phương khác nhau, đại diện cho vùng khí hậu đặc trưng để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và phát triển dược liệu. Phấn đấu đến năm 2020 bảo tồn được 50% và năm 2030 là 70% tổng số loài dược liệu của Việt Nam.

- Tập trung bảo hộ, bảo tồn nguồn gen đặc hữu, bản địa, có giá trị và có nguy cơ

bị tuyệt chủng cao. Từng bước bảo vệ an toàn số loài cây thuốc đang có nguy cơ tuyệt chủng để phát triển bền vững trong tự nhiên.

- Ngăn chặn hiệu quả nguồn gen bản địa bị đánh cắp và đưa ra nước ngoài trái

pháp luật.

(cid:4)Về phát triển trồng cây dược liệu

- Quy hoạch phát triển 54 loài dược liệu thế mạnh của 8 vùng sinh thái phù hợp

với điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây thuốc để đến năm 2020 đáp ứng được

60% và đến năm 2030 là 80% tổng nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước, tăng cường khả năng xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu trong nước.

- Xây dựng các vùng trồng dược liệu tập trung phù hợp với từng vùng sinh thái,

có quy mô đáp ứng nhu cầu thị trường; phấn đấu đến năm 2020 xây dựng quy trình và

trồng 60 loài dược liệu và đến năm 2030 là 120 loài dược liệu tuân thủ nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (GACP).

(cid:4)Về Phát triển nguồn giống dược liệu

- Phấn đấu cung cấp đủ giống dược liệu cho nhu cầu trồng và phát triển dược liệu ở quy mô lớn. Đến năm 2020 cung ứng được 60% và đến năm 2030 là 80% giống dược liệu sạch bệnh, có năng suất, chất lượng cao.

- Phục tráng, nhập nội, di thực, thuần hóa và phát triển các giống dược liệu có

nguồn gốc là vị thuốc bắc sử dụng nhiều trong y học cổ truyền.

- Nghiên cứu chọn, tạo các giống dược liệu mới có năng suất và chất lượng cao,

đặc tính tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái phục vụ sản xuất dược liệu.

Tăng dần tỷ lệ nguyên liệu được tiêu chuẩn hóa (cao chiết, tinh dầu, bột dược

liệu) trong nhà máy sản xuất thuốc theo nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (GMP-WHO), phấn đấu đến năm 2020, đáp ứng được 80% và đến năm 2030 đạt 100% nguyên liệu được tiêu chuẩn hóa phục vụ cho các nhà

máy sản xuất thuốc trong nước.

144

(cid:4)Nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm dược liệu

Tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ, có sức cạnh tranh trên thị trường. Quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, sử dụng quy trình kỹ thuật (GACP), công nghệ sạch, thân thiện với môi trường và ít gây ô nhiễm.

(cid:4)Đầu tư cho sơ chế, chế biến và chiết xuất dược liệu

Đầu tư xây dựng các nhà máy sơ chế, chế biến, chiết xuất dược liệu, các trung tâm kinh doanh dược liệu để tạo lập thị trường thuận lợi cho việc cung ứng và tiêu thụ các sản phẩm từ dược liệu.

4.1.2. Quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của tỉnh Lào Cai

4.1.2.1. Quan điểm

Theo quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 14 tháng 12 năm 2016 của UBND tỉnh Lào Cai về “Phê duyệt Quy hoạch phát triển dược liệu tỉnh Lào cai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, quan điểm chung về phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai đã được nêu rõ:

- Phát triển cây dược liệu hàng hóa theo hướng ổn định, lâu dài với quy mô diện

tích lơn, tập trung, chuyên canh trên cơ sở khai thác các lợi thế về: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thị trường, phù hợp với định hướng quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch sản xuất nông nghiệp và các quy hoạch chuyên ngành khác có liên quan.

- Phát triển cây dược liệu gắn với bảo tồn, phát triển các nguồn gen quý hiếm

phát huy nghề truyền thống và góp phần cải thiện đời sống đồng bào vùng cao.

- Phát triển dược liệu hàng hóa phải gắn với thị trường tiêu thụ và công nghệ chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng đảm bảo an toàn và chất lượng, đáp ứng tiêu chuản

thực hành tốt sản xuất thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (GACP) khi tiêu thụ trên thị trường, từ đó tăng khả năng cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.Nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong việc hỗ trợ đầu tư cho khoa học- công nghệ để nâng cao sản xuất, chất lượng sản phẩm dược liệu từ khâu trồng trọt, thu

hái và chế biến sản phẩm

- Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển trồng dược

liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu

Như vậy quan điểm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào

Cai tập trung vào 02 mảng chính bao gồm (1) phát triển hàng hóa cây dược liệu và (2)

bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên dược liệu. Để phát triển hàng hóa, cần có sự phát

triển đồng bộ về thị trường tiêu thụ, công nghệ chế biến, cơ cấu sản phẩm và chất

145

lượng sản phẩm, trong đó nhà nước giữ vai trò quản lý và hỗ trợ đầu tư cho khoa học

công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó nhà nước cũng

cần có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển dược liệu,

đặc biệt là các doanh nghiệp dược. Đối với vấn đề bảo tồn nguồn tài nguyên thiên

nhiên, quan điểm chung của tỉnh Lào Cai là phát triển và duy trì nguồn gen giống

cũng như bảo tồn các loại cây dược liệu tự nhiên, đặc biệt các loài cây dược liệu

4.1.2.2. Định hướng phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai theo hướng bền vững

đang có nguy cơ tuyệt chủng.

- Ưu tiên quy hoạch phát triển 10 chủng loại cây dược liệu có thế mạnh về thị

• Trồng trên đất cây hàng năm 730 ha, kết hợp trồng xen cây dược liệu trên đất

trường tiêu thụ trên cơ sở khai thác các điều kiện của các tiểu vùng khí hậu á nhiệt đới và rừng tự nhiên. Tổng diện tích quy hoạch đạt 1.200 ha, sản lượng đạt khoảng 5-5,5 nghìn tấn/năm, trong đó:

• Nâng cao vai trò quản lý của nhà nước trong công tác tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phấn đấu 60% sản lượng cây dược liệu được tổ chức theo chuỗi

rừng 470 ha, từng bước tăng giá trị sử dụng đất của vùng quy hoạch.

khép kín từ quản lý sản xuất đến tiêu thụ và chế biến sản phẩm, từng bước tạo đầu ra ổn định trên thị trường.

- Trên 60% diện tích và sản lượng cây dược liệu của vùng quy hoạch đảm bảo tiêu

chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc của tổ chức Y tế Thế giới (GACP)

- Mở rộng diện tích và chủng loại dược liệu hàng hóa có ưu thế trên địa bàn tỉnh Lào Cai lên 22 chủng loại chính với diện tích đạt 3.700 ha, sản lượng đạt khoảng 11- 11,5 nghìn tấn/năm. Trong đó:

• Trồng trên đất cây hàng năm 1.950 ha, kết hợp trồng xen cây dược liệu trên đất rừng 1.750 ha, từng bước tăng giá trị sử dụng đất của vùng quy hoạch • Nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong công tác tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phấn đấu 100% sản lượng cây dược liệu được tổ chức theo chuỗi

khép kín từ quản lý sản xuất đến tiêu thị và chế biến sản phẩm, từng bước tạo đầu ra ổn định trên thị trường

• 100% diện tích và sản lượng cây dược liệu của vùng quy hoạch đảm bảo tiêu chuẩn Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (GACP)

Như vậy định hướng cụ thể của tỉnh Lào cao từ nay đến năm 2030 nhằm phát

triển hàng hóa cây dược liệu, tăng diện tích trồng trọt áp áp dụng tiêu chuẩn GACP cho cây dược liệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để ổn định đầu ra.

146

4.1.3. Quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững của luận án

4.1.3.1. Quan điểm

Dựa trên nhưng quan điểm phát triển cây dược liệu của nhà nước và của tỉnh Lào cai, căn cứ và việc phát hiện những hạn chế trong phát triển cây dược liệu ở tỉnh Lào cai thời gian qua, luận án đưa ra quan điểm và mục tiêu phát triển xây dược liệu theo hướng bền vững như sau:

Căn cứ vào quan điểm chung về PTTHBV của Việt Nam, của tỉnh Lào Cai và kết quả nghiên cứu của luận án, tác giả đưa ra quan điểm về phát triển theo hướng bền

vững của cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai như sau:

Thứ nhất, phát triển cây dược liệu được coi là định hướng chính trong phát triển

nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh Lào cai.

Thứ hai, phát triển cây dược liệu phải tính đến các yếu tố bền vững, đảm tính lâu dài, phải gắn với các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường. Hay nói cách khác phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu phải gắn với việc duy trì, bảo tồn và mở rộng đối với cây dược liệu tự nhiên, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường sự lan tỏa

tích cực đến xã hội và môi trường.

Thứ ba, phát triển cây dược liệu gắn với chuỗi sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia, trong đó ưu tiên sự tham gia của doanh

nghiệp, tăng cường sự tham gia liên kết của các hiệp hội, người tiêu dùng, tiến tới xây dựng thương hiệu và nâng cao sự cạnh tranh cho sản phẩm dược liệu tại tỉnh Lào Cai.

Thứ tư, phát triển cây dược liệu gắn với phát triển cộng đồng dân cư, góp phần

tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và giữ gìn các giá trị về tri

thức bản địa.

Thứ năm, nhà nước phải có các cơ chế và chính sách hỗ trợ cho sự phát triển

4.1.3.2. Định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

bền vững của cây dược liệu như đầu tư nghiên cứu về khoa học công nghệ, các chính sách hỗ trợ về vốn, đất đai và nguồn nhân lực.

- Xây dựng các chính sách riêng cho công tác bảo tồn cây dược liệu tự nhiên.

Áp dụng nhiều hình thức bảo tồn hiện đại với kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn.

- Nâng cao hiệu quả của việc quản lý rừng, giảm tỷ lệ phá rừng tự nhiên có cây

dược liệu

147

- Mở rộng theo lộ trình quy hoạch diện tích trồng các loại cây dược liệu có thế mạnh

- Nhà nước tiếp tục đầu tư cho cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật và phát triển

nguồn gen và giống cho cây dược liệu

- Đầu tư vào khâu sơ chế, chế biến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm - Mở rộng đầu ra cho cây dược liệu nhằm đảm bảo thu nhập ổn định cho người

nông dân.

- Tăng cường quản lý quy trình canh tác dược liệu, đặc biệt là về thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học, xây dựng các cơ sở xử lý rác thải nông nghiệp, khuyến

khích và tăng cường các hộ dân trồng dược liệu sạch, dược liệu theo tiêu chuẩn GACP.

4.2. Các giải pháp nhằm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai

Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân gây ra việc phát triển thiếu bền vững cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai đã được trình bày ở chương 3, tác giả đề xuất các giải pháp

sau đây nhằm phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai trong thời gian tới bảo đảm các yêu cầu bền vững như sau:

4.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách

(cid:4) Chính sách về bảo tồn và duy trì cây dược liệu tự nhiên

Cần có chính sách bảo tồn dược liệu riêng. Hiện nay chính sách bảo tồn cây dược liệu được lồng ghép trong chính sách bảo tồn rừng của kiểm lâm, nên chưa

được đầu tư đúng mức về vốn và nhân lực.

Nhà nước cần có các chính sách tiếp tục thí điểm, hoàn thiện và nhân rộng cơ chế đồng quản lý rừng, chia sẻ lợi ích nguồn lợi các cây lâm sản ngoài gỗ (trong đó có cây dược liệu) theo quy định của pháp luật.

Nghiên cứu xây dựng đề án bảo vệ và phát triển rừng vùng Tây Bắc gắn với

phát triển lâm sản ngoài gỗ và dược liệu để trình chính phủ phê duyệt

Cần có các chế tài và giám sát tốt việc thực hiện các chế tài đối với các hành vi phá rừng, khai thác tràn lan các cây dược liệu, đặc biệt các cây dược liệu đang có

nguy cơ tuyệt chủng. Hiện nay các địa phương chủ yếu quản lý việc khai thác dược liệu tự nhiên thông qua giấy phép cấp cho người thu mua và các công ty kinh doanh dược liệu. Tuy nhiên việc khai thác dược liệu của người nông dân hay thương lái nhỏ lẻ hầu như không kiểm soát được. Dược liệu được bán công khai ở các chợ và việc người dân vào rừng nhổ cây thuốc quý, nhiều cây trong sách đỏ diễn ra phổ biến và thiếu kiếm soát.

148

Xây dựng chương trình hợp tác quốc tế bảo tồn lâm sản ngoài gỗ, cây dược

liệu trong đó tăng cường hợp tác với các nước láng giềng và các nước trong khu vực. Sớm cụ thể hóa nghị định thư Nagoya về tiếp cận và chia sẻ lợi ích về nguồn gen nhằm bảo tồn nguồn gen và phát triển, chia sẻ lợi ích từ sử dụng nguồn gen mà Việt Nam đã tham gia. Năm 2016 nghị định thư Nagoya đã có hiệu lực với Việt Nam nhưng chúng ta vẫn chưa có nghị định hướng dẫn thực hiện.

(cid:4)Chính sách về đất đai:

Hiện nay, các dự án đầu tư cho bốn loại cây dược liệu bao gồm Atiso, Đương

Quy, Tam thất, Sa Nhân tím; được xếp vào diện đặc biệt ưu đãi và ưu đãi. Vì vậy, các chính sách ưu đãi về đất đai đối với cây dược liệu được thực hiện theo quyết định số 44/2015/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai ngày 25 tháng 9 năm 2015. Cụ

thể như sau:

- Miễn và giảm 70% tiền sử dụng đất đối với các dự án dược liệu thuộc diện

đặc biệt ưu đãi/ưu đãi trên địa bàn tỉnh.

- Miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của nhà nước đối với các dự án

trồng cây dược liệu. Doanh nghiệp đầu tư vào dược liệu được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước của nhà nước trong vòng 15 năm kể từ ngày dự án hoàn thành và đi vào hoạt động

- Nhà nươc hỗ trợ 20% tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời hạn 5 năm kể

từ khi dự án hoàn thành xây dựng cơ bản nếu doanh nghiệp có dự án trồng dược liệu thuê đất của hộ gia đình, cá nhân.

- Doanh nghiệp có dự án dược liệu thuộc diện đặc biệt ưu đãi nằm trong quy

hoạch được miễn nộp tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất

- Doanh nghiệp có dự án dược liệu thuộc diện ưu đãi đầu tư nằm trong quy hoạch của cơ quan nhà nước được giảm 50% tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất.

Như vậy, theo quyết định 44/2015/QĐ-UBND tỉnh, các chính sách ưu đãi về đất đối với cây dược liệu là khá cụ thể và có mức hỗ trợ ưu đãi tương đối lớn. Tuy nhiên điều quan trọng là tỉnh Lào Cai phải có các biện pháp để thực hiện nghiêm túc

chính sách trên. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh có thể điều chỉnh một số điểm sau:

- Mở rộng số loại cây dược liệu thuộc diễn ưu đãi. Hiện nay theo quyết định 44, chỉ có 04 cây dược liệu thuộc diện ưu đãi, trong khi đó quy hoạch phát triển dược liệu của tỉnh đề cập đến 18 cây, trông đó có 05 cây là cây dược liệu chủ lực.

149

- Hiện nay thời gian miễn/giảm tiền thuê đất của nhà nước cho các doanh

nghiệp nuôi trồng dược liệu là 15 năm kể từ ngày hoàn thành xây dựng cơ bản dự án và thời gian hỗ trợ tiền thuê đất (20%) nếu doanh nghiệp thuê đất trồng dược liệu của hộ nông dân là 05 năm kể từ ngày hoàn thành xây dựng cơ bản dự án. Theo phỏng vấn của tác giả đối với đại diện công ty Traphaco, thời gian miễn,giảm và hỗ trợ tiền thuê đất như trên là ngắn do việc phát triển cây dược liệu thành hàng hóa và tiến tới bền vững mất rất nhiều thời gian do thị trường đầu ra của cây dược liệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khoa học kỹ thuật, chất lượng sản phẩm… Thực tế tại

công ty Traphaco cho thấy sau hơn 10 năm theo đuổi phát triển cây dược liệu, hiện tại công ty chưa hòa vốn. Bên cạnh đó thời gian và mức hỗ trợ nếu công ty thuê đất của hộ nông dân còn ngắn và hạn chế, chưa thực sự khuyến khích doanh nghiệp

tham gia liên kết với nông dân trong sản xuất dược liệu.

- Vấn đề về chuyển đổi mục đích sử dụng của các dự án trồng dược liệu cũng cần có các quy định cụ thể hơn như về thời gian sau bao nhiêu lâu được chuyển đổi, mục đích chuyển đổi… nhằm quản lý các hành vi lợi dụng chính sách ưu đãi về đất

(cid:4) Chính sách tín dụng:

cho phát triển cây dược liệu để chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang các mục tiêu khác không phù hợp với mục tiêu chung của tỉnh.

Hiện nay việc vay vốn đối với doanh nghiệp khá khó khăn. Tại hội thảo về phát triển dược liệu tại các tỉnh Tây Bắc, do ban Kinh tế trung ương tổ chức nam 2017, các doanh nghiệp đã đưa ra các vấn đề về vay vốn, các khúc mắc về thủ tục vay. Mặt khác, năng lực tài chính của các hộ nông dân trồng dược liệu rất thấp. Hiện nay do quy mô canh tác nhỏ lẻ, lại được nhà nước bao tiêu nên các hộ nông dân chưa có nhu cầu vay vốn cao. Tuy nhiên trong tương lai, khi quy mô sản xuất được mở rộng và chính sách trợ giá không còn thì việc khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp và hộ nông dân sản xuất cây dược liệu là điều cần thiết. Cụ thể địa phương có thể nghiên cứu cấp vốn ngân sách 100% cho các hoạt động đào tạo và tập huấn kỹ thuật canh tác dược liệu; bù lãi suất vay ngân hàng cho các dự án dược liệu bằng ngân sách tỉnh, bù 100% lãi suất cho trồng mới và chăm sóc cơ bản, xây dựng xưởng, mua thiết bị máy móc cho các dự án trồng dược liệu, bù lãi suất 50% cho các hoạt động thâm canh, chăm sóc và bảo tồn cây dược liệu. Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần có chính sách cho hộ nghèo có đất sản xuất dược liệu được vay vốn theo nhu cầu và quản lý vốn thông qua hợp tác xã, hội sản xuất dược liệu, tổ dân phố, hội phụ nữ. Các hộ gia đình thực hiện dự án sản xuất dược liệu gắn với xóa đói giảm nghèo được vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội và các nguồn vốn tín dụng ưu đãi khác. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần dành một tỷ lệ vốn tín dụng thích đáng cho vay đối với hộ sản xuất dược liệu.

150

(cid:4) Chính sách đầu tư và phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

- Chủ động nguồn gen giống và nâng cao chất lượng giống cây trồng

Một trong những hạn chế lớn nhất của ngành dược liệu tại Việt Nam nói chung và Lào Cai nói riêng là thực trạng thiếu giống trầm trọng. Hiện nay, nguồn giống cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai chủ yếu được cung cấp bởi trạm nghiên cứu và phát triển giống cây thuốc Sapa. Nguồn cung giống không đáp ứng đủ nhu cầu, có nhiều loài giống dược liệu phải nhập từ Trung Quốc, chất lượng không đảm bảo. Vì vậy, viêc đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất cho các cơ sở tạo giống là rất cần thiết. Trung tâm

nghiên cứu và phát triển giống cây thuốc Sapa cần được đầu tư để phát triển thành viện nghiên cứu về gen và giống cây thuốc, có trách nhiệm nghiên cứu và phát triển các loài giống dược liệu trong danh mục ưu tiên phát triển, phổ biến và tuyên truyền

kỹ thuật tạo giống cho các hộ nông dân, sản xuất giống cung cấp cho thị trường.

- Đầu tư và phát triển các cơ sở sơ chế biến dược liệu

Hiện nay tại Lào Cai, đa phần các cơ sở thu mua sẽ đến tận vườn dược liệu thu mua cây dược liệu tươi. Ngoại trừ công ty dược Traphacosapa có các nhà máy sơ chế,

góp phần sơ chế và bảo quản cây dược liệu sau khi thu hoạch, còn lại đa phần các cơ sở thu mua không có nơi sơ chế và bảo quản cây dược liệu sau thu hoạch đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Vì vậy, tỉnh Lào Cai cần đầu tư các cơ sở sơ chế dược liệu giúp người sản xuất và kinh doanh dược liệu sơ chế dược liệu đúng tiêu chuẩn, góp phần nâng cao

chất lượng sản phẩm

- Phát triển công nghệ hiện đại về bào chế thuốc từ cây dược liệu

Như chúng ta đã biết, phần lớn cây dược liệu được dùng làm nguyên liệu đầu

vào cho ngành hóa dược để sản xuất thuốc, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm. Vì vậy, công nghệ bào chế và chiết xuất thuốc từ cây dược liệu rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của cây dược liệu. Nhà nước cần ưu tiên cho các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển công nghệ bào chế hiện đại, tăng cường chuyển giao công nghệ bào chế

- Phát triển kỹ thuật sản xuất dược liệu tiên tiến

thuốc từ các nước tiến tiến, đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản để nâng cao năng lực sản xuất của ngành hóa dược, từ đó tháo gỡ đầu ra cho cây dược liệu

Kỹ thuật canh tác dược liệu thường yêu cầu cao hơn các loại cây nông nghiệp khác. Do đó cần tăng cường đầu tư nghiên cứu các kỹ thuật canh tác hiện đại, các kỹ thuật canh tác theo tiêu chuẩn GACP nhằm sản xuất dược liệu sạch, hạn chế sâu bệnh, tăng cường năng suất cây trồng.

151

- Xây dựng cơ sở dữ liệu tổng thể về cây dược liệu

Hiện nay, tại Việt Nam còn thiếu cơ sở dữ liệu tổng thể về cây dược liệu. Các cây dược liệu chưa được nghiên cứu một cách tổng quát về đặc tính dược liệu và công dụng chữa bệnh. Do vậy, việc lựa chọn trồng cây dược liệu tại Lào Cai chủ yếu học hỏi kinh nghiệm từ Trung Quốc và các nước trên thế giới chứ chưa thực sự phát triển cây dược liệu bản địa. Ví dụ cây Actiso hay cây Đương quy đều là các loại cậy nhập khẩu. Do vậy, nhà nước cần đầu tư xây dựng một kho tàng tri thức bản địa và dược điển chi tiết về các loại cây dược liệu đã được trồng trong dân gian từ hàng ngàn năm

nay. Điều này đặc biệt quan trọng đối với công tác bảo tồn, quy hoạch và lựa chọn các cây dược liệu bản địa chiến lược để đầu tư phát triển.

4.2.2. Nâng cao năng lực của người sản xuất - kinh doanh cây dược liệu

Sản phẩm dược liệu đòi hỏi công nghệ bào chế tinh vi, hàm lượng khoa học cao. Do đó đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo sự bền vững về mặt hiệu quả sản xuất và thị trường

tiêu thị cho cây dược liệu.

Thứ nhất, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp cần xây dựng các chuyên đề chuyên sâu về cây dược liệu bao gồm các kiến thức về kỹ thuật canh tác và sản xuất dược liệu sạch, kỹ thuật sơ chế và bảo quản sản phẩm dược liệu sau khi thu hoạch. Bên

cạnh đó, các trường đại học Y-dược, Viện dược liệu, trường đại học y học dân tộc cổ truyền cần tập trung đào tạo các nhân viên kỹ thuật cao, nắm vững các chuyên môn về công nghệ bào chế, chiết xuất nhằm sản xuất các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu

chất lượng cao. Các trường đại học nông nghiệp, lâm nghiệp các, viện nghiên cứu và trạm nghiên cứu về giống cây trồng Sapa cần tập trung nghiên cứu và đào tạo về phát triển gen giống của cây dược liệu. Bên cạnh đó cũng cần mở rộng hình thức đào tạo trong và ngoài nước nhằm nâng cao năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật của các Viện

nghiên cứu dược liệu, các trường đào tạo chuyên về dược liệu để đào tạo đội ngũ giáo, cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật về công nghệ mới trong nghiên cứu về giống dược liệu, sản xuất dược liệu sạch theo tiêu chuẩn, xử lý môi trường,

chẩn đoán và phòng trừ sâu bệnh.

Thứ hai, công tác khuyến nông cần tiếp tục được coi trọng giúp người dân sản xuất dược liệu hiệu quả cao, giảm thiệt hại do mất mùa và sâu bệnh. Hoạt động khuyến nông cần đẩy mạnh đào tạo, tập huấn, trao đổi thông tin, bồi dưỡng kiến thức

khoa học, kỹ thuật, quản lý mùa vụ, xuất bản các tài liệu về nuôi trồng cây dược liệu nhằm chia sẻ và phổ biến kinh nghiệm và tri thức đến các hộ dân sản xuất dược liệu.

152

Hoạt động khuyến nông cũng cần thường xuyên cập nhật và phổ biến các mô hình

sản xuất dược liệu sạch, dược liệu cấp chứng chỉ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và khả năng lây lan sâu bệnh. Tích cực chuyển giao công nghệ, kỹ thuật trồng dược liệu chất lượng cao cho các hộ dân.

Thứ ba, tăng cường đào tạo thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Các chương trình khuyến nông của đài truyền hình, đài tiếng nói từ trung ương đến địa phường cần có các chương trình riêng về cây dược liệu nhằm phổ biến thông tin khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới, thông tin giá cả thị trường của cây dược liệu. Xuất bản

sách báo và tài liệu để phổ biến kiến thức cho người sản xuất và kinh doanh dược liệu.

Thứ tư, tăng cường giáo dục cộng đồng tại từng thôn và từng xã. Như chúng ta đã biết, các hộ dân sản xuất cây dược liệu ở Lào Cai có trình độ dân trí rất thấp, phần

lớn là người dân tộc thiểu số ở vùng sâu và xa. Vì vậy giáo dục cộng đồng tại từng thôn và xã rất quan trọng. Các nhân viên khuyến nông của huyện có thể thiết lập mạng lưới hay các câu lạc bộ, các hội sản xuất dược liệu theo từng thôn, từng xã nhằm phổ biến và trao đổi kiến thức phổ thông về kỹ thuật cho người trồng dược liệu.

4.2.3. Phát triển thị trường đầu ra

Thứ nhất, về tổ chức sản xuất, cần khuyến khích sản xuất theo hướng tập trung tạo thành vùng, liên kết sản xuất với các cơ sở chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Để làm

được điều này, địa phương cần có các chính sách thu hút sự tham gia của nhiều doanh nghiệp dược, đặc biệt là các doanh nghiệp dược lớn, các công ty dược nước ngoài. Địa phương cũng cần có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp về dược liệu, các hộ

kinh doanh dược liệu cá thể để phát huy các sản phẩm truyền thống mang màu sắc bản địa như bài thuốc của người giao đỏ hay các bài thuốc chữa xương khớp vốn nổi tiếng trong dân gian.

Thứ hai, về thị trường tiêu thụ, hiện nay ngoài vùng dược liệu Actiso của công ty Traphaco được công ty bao tiêu sản phẩm thì các vùng dược liệu khác (như Đương quy, Cát cánh...) được Ủy ban nhân dân huyện bao tiêu sản phẩm theo mức giá cố định. Chính sách bao tiêu của doanh nghiệp và nhà nước đang tạm thời giữ thị trường

dược liệu khá ổn định. Tuy nhiên về mặt dài hạn, nhà nước cần dần loại bỏ các chính sách bao tiêu sản phẩm để người dân và doanh nghiệp chủ động trong việc phát triển đầu ra cho sản phẩm dược liệu, nhà nước chỉ đóng vai trò trong công tác định hướng và hỗ trợ phát triển thị trường dược liệu. Để xây dựng được thị trường tiêu thụ ổn định

và lâu dài điều quan trọng nhất đó là xây dựng được thương hiệu dược liệu dựa trên tiêu chí chất lượng dược liệu sạch. Chính vì vậy, việc triển khai, áp dụng và giám sát

153

kỹ thuật canh tác dược liệu sạch theo tiêu chuẩn GACP là rất quan trọng. Mặt khác,

việc kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào khâu sơ chế và tinh chế các sản phẩm dược liệu cũng là một giải pháp cho việc phát triển thị trường tiêu thụ một cách lâu dài và bên vững. Việc phát triển nền công nghiệp chế biến và tinh chế nguyên liệu dược liệu cho việc sản xuất thuốc trong nước là một điều kiện rất quan trọng để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm dược liệu có giá trị cao thay vì bán nguyên liệu thô như hiện nay. Bên cạnh đó, cần mở rộng thị trường xuất khẩu thay vì chỉ phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu truyền thống. Tuy nhiên, để thâm nhập vào các thị trường xuất khẩu

lớn cần tuân thủ các điều kiện khắt khe về kỹ thuật canh tác dược liệu sạch. Bên cạnh đó công tác marketing, phát triển sản phẩm, xây dựng các hiệp hội dược liệu để phát triển thị trường cũng cần được chú trọng. Mặt khác cần phát triển dịch vụ chữa bệnh

theo phương pháp y học cổ truyền để tăng cường đầu ra cho dược liệu. Chúng ta có thể áp dụng một số mô hình phát triển y học cổ truyền trên thế giới như Ấn Độ và Trung Quốc với các bài thuốc tắm, massage và điều trị xương khớp đã thành thương hiệu quốc tế. Nói tóm lại, việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm dược liệu là

một giải pháp mang ý nghĩa chiến lược đến việc phát triển ổn định và bền vững của cây dược liệu. Để làm được điều này, cần có sự phối hợp một cách đồng bộ và chặt chẽ giữa 5 nhà: nhà nông-nhà khoa học-doanh nghiệp-nhà nước và nhà truyền thông.

4.2.4. Xây dựng mô hình quản lý cây dược liệu dựa vào cộng đồng

Xây dựng mô hình quản lý cây dược liệu dựa vào cộng đồng nhằm giảm gánh

nặng quản lý của nhà nước, đảm bảo và nâng cao lợi ích của người dân.

Quản lý môi trường, quản lý nguồn lợi và quản lý sự phát triển sản xuất cây dược liệu ngoài việc dựa vào chính sách, pháp luật, còn đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của cộng đồng dân cư vì người dân sống trong vùng trồng dược liệu là những đối tượng chịu ảnh hưởng nhất và sẽ hiểu được giá trị môi trường, nguồn lợi và sự phát triển đối với sinh kế của họ, vì vậy việc áp dụng mô hình quản lý sản xuất dược liệu dựa vào cộng đồng là phương pháp quản lý có hiệu quả, giảm gánh nặng quản lý của nhà nước.

Quản lý dược liệu dựa vào cộng đồng là quá trình tự quản lý dựa vào các tổ cộng đồng dân cư (tổ dân phố, thôn xóm) được thành lập tự nguyện trong vùng trồng dược liệu với mục đích nhằm phát huy tính cộng đồng, giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao hiệu quả sản xuất dược liệu, hạn chế ảnh hưởng về môi trường sinh thái và bảo vệ nguồn lợi, tuân thủ pháp luật của nhà nước.

Để thực hiện được mô hình này cần có sự hỗ trợ của chính quyền các cấp và tuyên truyền giáo dục cho các hộ dân trồng dược liệu tự nguyện tham gia phù hợp với

điều kiện của từng vùng trên nguyên tắc đảm bảo và nâng cao lợi ích của người dân.

154

Hình thức tổ chức của mô hình quản lý dược liệu dựa vào cộng đồng được mô

tả trong hình 4-1, cụ thể như sau:

- Mỗi vùng sản xuất dược liệu tập trung được chia thành nhiều tổ cộng đồng dân cư tự quản, có mối quan hệ ràng buộc về mặt sử dụng hệ thống nước tưới, hệ thống điện, đường giao thông và các mối quan hệ xã hội. Sự tham gia của các hộ dựa trên tình thần tự nguyện và mỗi tổ bầu ra tổ trưởng và tổ phó có uy tín để triển khai hoạt động. Các hộ nông dân có thể lập thành hợp tác xã.

- Các tổ quản lý cộng đồng cần dựa trên luật pháp và quy định của chính quyền

soạn thảo các quy tắc ứng xử cộng đồng bao gồm một số vấn đề chính như sau:

• Xây dựng tình đoàn kết để xoá đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, nâng cao

đời sống, vận động cộng đồng tham gia hợp tác xã.

• Bảo vệ tài sản công dân, bảo vệ môi trường, các nguồn nước, tài sản công cộng

như hệ thống điện, đường, đập nước, kênh mương,…

• Bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn, phòng chống các hành vi, ý thức thiếu tính cộng đồng tạo điều kiện cho sâu bệnh lây lan, môi trường ô nhiễm, gây thiệt hại sản xuất, ảnh hưởng đến các hộ gia đình khác.

• Hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm các điều

khoản quản lý môi trường.

• Tăng cường vai trò quản lý, liên kết của hộ sản xuất dược liệu để giảm các chi phí đầu vào, tránh bị chèn ép giá đầu ra, giảm bớt các khâu trung gian trong tiêu

thụ sản phẩm dược liệu nhằm thu được lợi ích trong sản xuất kinh doanh.

• Giúp nhau tham gia quản lý môi trường, quản lý sâu bệnh, trao đổi kỹ thuật công nghệ trong sản xuất dược liệu. Phát huy vai trò tự quản của cộng đồng trong quản lý sản xuất

• Các hộ trồng dược liệu trong tổ giúp nhau áp dụng GACP. Thu thập thông tin và giúp nhau xử lý sự cố trong quá trình áp dụng. Trao đổi kinh nghiệm, nâng cao kiến thức sản xuất dược liệu và kiến thức áp dụng GACP.

• Tăng cường quản lý dịch và sâu bệnh lây lan giữa các vườn dược liệu đặc biệt phải cô lập ngay những vườn dược liệu bị sâu bệnh nguy hiểm. không để sâu bệnh phát triển thành dịch.

• Có các hình thức động viên và khen thưởng đối với các hộ gia đình thực hiện tốt các quy định của tổ và áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình đối với người vi phạm. Các thành viên trong tổ cộng đồng có trách nhiệm kiểm tra,

giám sát và phát hiện kịp thời để chỉnh sửa những sai trái, tiêu cực trong việc thực hiện các quy định của tổ cộng đồng.

155

• Xây dựng mối đoàn kết và hài hòa lợi ích giữa đồng bào Kinh và đồng bào dân

tộc thiểu số

• Hồ trợ chính quyền trong việc đưa ra các chính sách phù hợp với thực tiễn trong việc giao đất, giao rừng, quản lý việc di dân nhằm đảm bảo mục tiêu chia sẻ lợi ích và đảm bảo duy trì và phát triển các nguồn lợi và nguồn tài nguyên thiên

nhiên đất và nước.

Nhà nước, đại diện là chính quyền huyện, xã, thôn đóng vai trò hướng dẫn các tổ hộ nông dân, hợp tác xã thực hiện quản lý tài nguyên đất, môi trường tốt trong canh tác cây dược liệu. Các cơ quan bên ngoài như các tổ chức phi chính phủ, các

nhà khoa học đóng vai trò tham khảo ý kiến, tư vấn hỗ trợ cho các bên liên quan như tổ hộ nông dân, hợp tác xã, nhà nước, các bên liên quan trong ngành cùng quản lý canh tác cây dược liệu tốt hơn. Các doanh nghiệp, người thu mua, các hiệp cũng được tham khảo ý kiến, tư vấn và lấy thông tin để cùng chia sẻ lợi ích và quản lý tài

nguyên trong canh tác dược liệu.

Tổ hộ nông dân, hợp tác xã dược liệu

Nhà nước

Cơ quan bên ngoài - Các tổ chức phi chính phủ - Các tổ chức khoa học, nghiên cứu

Đồng quản lý tài nguyên và môi trường

- Huyện - Xã, thôn

Các bên liên quan trong ngành

- Doanh nghiệp - Trung gian thu mua - Các hiệp hội

Hình 4.1: Mô hình quản lý cây dược liệu dựa vào cộng đồng

156

4.2.5. Nâng cao vai trò của nhà nước trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

Theo báo cáo “công tác phát triển dược liệu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của” Bộ Y Tế (2017), một trong những hạn chế đối với sự phát triển dược liệu của Việt Nam đó là sự thiếu đồng bộ và nhất quán trong công tác quản lý của nhà nước. Vì vậy, để phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững nhất thiết cần phải nâng cao và

phát huy có hiệu quả vai trò của nhà nước trong công tác quản lý cụ thể như sau:

Thứ nhất, nhà nước cần phải đảm bảo sự đồng bộ, nhất quán, hiệu quả trong các

chủ trương, chính sách quan điểm về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững.

Để thực hiện việc này Chính phủ, Bộ, Ban, Ngành cần:

- Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật quốc gia, từng bước thống nhất hệ thống văn bản quản lý về dược liệu từ trung ương đến địa phương.

- Chính sách trồng cây dược liệu cần hướng vào khuyến khích xây dựng và phát triển các vùng trồng dược liệu tập trung với quy mô lớn theo tiêu chuẩn GACP-

WHO, gắn liền với chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, tháo gỡ khó khăn đầu

ra cho người trồng dược liệu.

- Xây dựng chính sách ưu tiên trong sản xuất, chế biến, đăng ký, lưu hành sản phẩm đối với dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu. Tạo điều kiện thuận lợi

cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ chế biến

dược liệu thành sản phẩm cuối cùng.

- Xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách có tác dụng khuyến khích các tổ chức khoa học, công nghệ, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào hoạt động nghiên

cứu, chuyển giao, tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng công nghệ để sản xuất

nguyên liệu dược liệu làm thuốc.

- Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích cho hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại, xây dựng và quảng bá thương hiệu các sản phẩm dược liệu của

Việt Nam để phát triển thị trường sản phẩm.

Thứ hai tăng cường sự phối hợp trong quản lý nhà nước để phát triển cây dược

liệu theo hướng bền vững. Chính phủ cần có các quy định phân tách trách nhiệm rõ

ràng giữa các Bộ ngành và xây dựng cơ quan chuyên trách chỉ đạo phối hợp các

ngành, lĩnh vực: Y tế, Nông lâm nghiệp, Sinh học, Hóa dược và các tỉnh/thành phố

trong quá trình quản lý nhà nước về phát triển cây trồng dược liệu.

157

Thứ ba, tăng cường phối hợp bốn nhà trong trồng cây dược liệu. Đây là giải

pháp quan trọng nhất để giải quyết tình trạng manh mún và nâng cao năng suất, hiệu quả cây trồng dược liệu. Bốn nhà ở đây bao gồm người trồng cây dược liệu (nhà nông), doanh nghiệp (sản xuất thuốc hoặc kinh doanh), nhà khoa học (các trường và viện nghiên cứu về dược liệu và thuốc) và nhà nước (cơ quan quản lý dược liệu).

Nhà nước đóng vai trò là người phối hợp nhà nông, doanh nghiệp và nhà khoa học. Do đó các chính sách của nhà nước cần được thể chế hóa theo hướng đầu tư mạnh mẽ vào một chương trình quốc gia với các hành động cụ thể, dồng bộ, có chính sách

cụ thể ưu đãi các doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân xây dựng vùng trồng dược liệu theo hướng bền vững.

Nhà nông cần được đào tạo nghề chuyên sâu và được tạo điều kiện để tiếp cận các nguồn thông tin, đặc biệt là thông tin về chuyên môn như kỹ thuật canh tác dược

liệu xanh và sạch.Trên cơ sở đó, nhà nước và doanh nghiệp hướng dẫn nhà nông tổ chức sản xuất dược liệu chất lượng cao theo tiêu chuẩn GACP và tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường.

Nhà khoa học cần phải phát triển nghiên cứu gắn với thực tế, chủ động hợp tác với doanh nghiệp trong triển khai đề tài nghiên cứu phù hợp với thực tiễn, đồng thời chủ động hợp tác với người dân để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên

thiên nhiên dược liệu.

Doanh nghiệp, đóng vai trò trung tâm trong mô hình ‘bốn nhà’ vì doanh nghiệp đóng góp quan trọng trong tất cả các khâu của sự phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững. Ví dụ doanh nghiệp giúp mở rộng sản xuất, thúc đẩy khoa học công nghệ,

mở rộng thị trường. Chính vì vậy, trong mô hình ‘bốn nhà’ cần chọn các doanh nghiệp dược có năng lực về tài chính và khoa học công nghệ tốt. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể phát huy tốt vai trò của mình trong trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững.

4.3. Các kiến nghị

4.3.1. Đối với Chính phủ

Thứ nhất, cần ban hành sớm Văn bản quy phạm pháp luật nhằm tránh sự chồng chéo về quản lý dược liệu giữa các Bộ, ngành, đồng thời thống nhất cơ chế phối hợp liên ngành và triển khai kế hoạch thanh kiểm tra liên ngành về công tác quản lý dược

liệu trong cả nước, xử lý nghiêm với các doanh nghiệp nhập khẩu dược liệu bẩn không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo chất lượng, siết chặt và tăng cường kiểm soát dược liệu nhập qua đường tiểu ngạch vào Việt Nam.

158

Thứ hai, ban hành chính sách ưu đãi cụ thể về nuôi trồng, khai thác dược liệu

như chính sách ưu đãi về đất, về vốn, các chính sách ưu đãi cụ thể về phát hiện, bảo tồn và ứng dụng khoa học công nghệ trong nghiên cứu, phát triển nguồn gen dược liệu quý, hiếm và đặc hữu. Thành lập vụ dược liệu hoặc bộ phận chuyên trách trực thuộc Chính Phủ để giải quyết tất cả các vấn đề xuyên suốt từ TW đến địa phương để hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp, người dân khi tham gia đầu tư, vào sản xuất, kinh doanh phát triển dược liệu trong nước.

Thứ ba, tăng cường đầu tư trang thiết bị, hóa chất, đào tạo con người nhằm

nâng cao công tác kiểm nghiệm dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền tại các cơ sở kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc của Nhà nước.

Thứ năm, có chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện trong việc phát hiện, kế thừa, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có liên quan, bảo vệ bí mật trong bào chế,

chế biến và bảo mật dữ liệu thử nghiệm lâm sàng đối với thuốc cổ truyền.

Thứ năm, hoàn thiện quy trình giám sát và cấp chứng chỉ GACP nội địa cho các vùng dược liệu sạch. Có cơ chế rõ ràng về giá đối với dược liệu GACP so với dược

liệu thông thường trong danh mục thuốc dược liệu được bảo hiểm y tế thanh toán. Tiến tới hoàn thiện quy trình cấp chứng chỉ GACP quốc tế.

4.3.2. Đối với các Bộ

4.3.2.1. Đối với Bộ y tế

Ưu tiên mua dược liệu được nuôi trồng và thu hái theo tiêu chuẩn GACP

bằng các cơ chế khuyến khích thanh toán bảo hiểm đối với các dược liệu được cấp tiêu chuẩn GACP và xem xét nhanh đối với việc đăng ký thuốc có nguồn gốc dược liệu đạt chuẩn GACP.

Phối hợp với doanh nghiệp và các bộ ngành khác xây dựng thương hiệu một số

loại dược liệu nuôi trồng trong nước với tiêu chuẩn hóa cao, uy tín và cấp giấy phép đăng ký lưu hành nhanh mà không cần thông qua xét duyệt và thẩm định hồ sơ ví dụ đối với các cây dược liệu lâu năm như Actiso hay chè dây.

Tăng cường công tác tiêu chuẩn hóa chất lượng dược liệu, thuốc từ dược liệu, thuốc cổ truyền: ban hành tiêu chuẩn chất lượng đối với các dược liệu; thu thập và xây dựng được bộ mẫu dược liệu làm chuẩn đối chiếu gồm các loại dược liệu có giá trị sử dụng phổ biến và dễ bị nhầm lẫn ở Việt Nam hiện nay.

Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế về đấu thầu dược liệu, thuốc đông dược, thuốc cổ truyền theo hướng Bổ sung thêm nhóm thuốc cổ truyền, thuốc được làm từ dược liệu có nguồn nguyên liệu dược liệu được nuôi trồng, thu hái trong nước đạt chuẩn

159

GACP và các sản phẩm được sản xuất trên dây chuyền đạt tiêu chuẩn GMP-WHO do

Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận; bổ sung các tiêu chí trong chấm thầu để thực sự khuyến khích đối với các thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền ứng dụng nghiên cứu, khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao trong sản xuất, chế biến.

4.3.2.2. Bộ Tài Chính

Tăng cường triển khai đề án “Người Việt nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, tiến tới đề án “Người Việt Nam yêu thích dùng hàng Việt Nam” thông qua công tác tuyên truyền, nâng cao và giám sát chất lượng sản phẩm.

Phối hợp Bộ Y tế xây dựng quy định thanh toán bảo hiểm y tế đối với các dược liệu nuôi trồng tại địa phương không qua hình thức đấu thầu. Giá dược liệu được thanh toán bảo hiểm y tế căn cứ vào giá dược liệu trên thị trường.

Phối hợp Bộ Y tế xây dựng quy định thanh toán bảo hiểm y tế đối với một số thuốc được làm từ dược liệu được nuôi trồng trong nước đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái cây thuốc” theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế

4.3.2.3. Bộ Khoa học và Công nghệ

giới (GACP - WHO) thông qua hình thức đàm phán giá.

Có chính sách hỗ trợ bằng nguồn khoa học công nghệ đối với các doanh nghiệp

đầu tư nâng cấp quy trình, thay đổi công nghệ chế biến, sản xuất hướng tới sản phẩm dược liệu có công nghệ cao.

Xây dựng bổ sung một số dược liệu, thuốc y học cổ truyền vào danh mục sản

phẩm quốc gia để đầu tư nghiên cứu theo chuỗi giá trị từ khâu tạo giống, trồng trọt, thu hái, chế biến, sản xuất và tiêu thụ.

Hỗ trợ bằng nguồn khoa học công nghệ đối với các doanh nghiệp đầu tư nâng cấp quy trình, thay đổi công nghệ chế biến, sản xuất hướng tới sản phẩm dược liệu có

công nghệ cao; nghiên cứu an toàn, hiệu quả trong quá trình đầu tư nghiên cứu ứng dụng các bài thuốc cổ truyền để xuất khẩu.

Hỗ trợ các Trường Đại học, Học viện phối kết hợp với các cơ sở kinh doanh

4.3.2.4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

nghiên cứu các thuốc cổ truyền có tác dụng phòng các bệnh Tim mạch, huyết áp, ung thư, đái tháo đường, viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn, bệnh khớp... Ưu tiên các đề tài dự án, nghiên cứu khai thác, trồng trọt dược liệu trong nước.

Xây dựng chính sách ưu đãi hơn về thời gian, thủ tục, tiêu chí công nhận giống

cây dược liệu so với các loại cây nông nghiệp khác.

160

Sớm trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chính sách đặc thù về

giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi trồng dược liệu

Tăng cường công tác đào tạo và hỗ trợ nhân sự cho đội ngũ khuyến nông

Xây dựng các chính sách cụ thể về đất đai và tín dụng cho công tác phát triển

dược liệu

4.3.2.5. Bộ Công thương

Có chính sách phát triển các mô hình sản xuất dược liệu tập trung và quy mô như hợp tác xã, cụm hộ gia đình, tăng cường các hình thức sản xuất liên kết như nông dân với hợp tác xã, hợp tác xã với doanh nghiệp.

Đưa dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu vào các chương trình xúc tiến

thương mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu.

Đưa các doanh nghiệp tiên phong trong nuôi trồng, sản xuất dược liệu vào Chương trình Khởi nghiệp Quốc gia để kêu gọi đầu tư, từng bước xây dựng ngành dược liệu Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Xây dựng và phát triển hiệp hội dược liệu Việt Nam nhằm quảng bá các thương

hiệu dược liệu Việt nam trong và ngoài nước.

Phối hợp chặt chẽ với bộ y tế để có những chính sách hỗ trợ vùng trồng cây

4.3.2.6. Bộ Thông tin truyền thông

dược liệu có lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.

Xây dựng Đề án truyền thông nhằm tăng cường việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu và thực hiện chương trình truyền thông về y dược cổ truyền nói chung và dược liệu nói riêng để đánh thức được tiềm năng, thế mạnh và giá trị đích thực về y tế, kinh tế của y dược cổ truyền và dược liệu đến với người dân; tăng cường chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Thực hiện truyền thông các sản phẩm dược liệu có chất lượng tốt, nguồn nguyên liệu dược liệu đạt chuẩn GACP, bên cạnh đó cũng tuyên truyền phổ biến về lợi ích của việc trồng dược liệu đạt GACP.

Thực hiện truyền thông chương trình người Việt sử dụng thuốc của người Việt

để nâng cao nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước

161

Tiểu kết chương 4

Trong chương 4, tác giả đã trình bày quan điểm và định hướng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại Việt nam, Lào Cai và luận án. Căn cứ vào quan điểm, định hướng, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng phát triển dược liệu tại tỉnh Lào Cai, luận án đã đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dược liệu theo hướng bền vững tại địa phương. Các nhóm giải pháp bao gồm: (1) hoàn thiện chính

sách; (2) nâng cao năng lực của người sản xuất - kinh doanh cây dược liệu; (3) phát triển thị trường đầu ra; (4) xây dựng mô hình quản lý cây dược liệu dựa vào cộng đồng và (5) nâng cao vai trò của nhà nước trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững. Bên cạnh đó, luận án cũng đề ra các kiến nghị đến Chính phủ, các Bộ ngành để

thực hiện các giải pháp trên.

162

KẾT LUẬN

Tóm lại, dựa trên khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững

tại tỉnh Lào Cai kết qủa nghiên cứu của luận án chỉ ra rằng:

Thứ nhất, phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai được đánh giá có tính bền vững về mặt hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên để tiếp tục duy trì và phát triển được tính bền vững này của cây dược liệu, nhất thiết cần phải có sự bền vững về đầu ra, mà điều

này hiện nay tỉnh Lào Cai chưa làm được. Mặc dù thị trường đầu ra của cây dược liệu rất tiềm năng nhưng để phát triển thị trường tiêu thụ một cách bền vững là rất khó khăn do trình độ sản xuất và bào chế thuốc cũng như thực phẩm chức năng của ngành công nghiệp hóa dược chưa cao, mức tiêu thụ cây dược liệu trong YHCT còn thấp,

quản lý chất lượng và thông tin thị trường chưa tốt, việc xây dựng thương hiệu, hình thành các hiệp hội hầu như chưa có, dẫn đến sức cạnh tranh của cây dược liệu cũng như các sản phẩm chế biến từ cây dược liệu kém.

Thứ hai, so với cây ngô và cây lúa, cây dược liệu có sự lan tỏa tích cực hơn về mặt môi trường, tuy nhiên để duy trì sự lan tỏa này một cách lâu dài, nhất thiết cần phải tăng cường việc áp dụng các tiêu chuẩn canh tác dược liệu sạch như GACP hay tiêu chuẩn thu hái bền vững Fairwild đối với dược liệu tự nhiên.

Thứ ba, về mặt duy trì, bảo tồn và mở rộng quy mô và số lượng, mặc dù đã đạt được một số kết quả ban đầu tuy nhiên chưa đảm bảo tính bền vững do tỉnh chưa quản lý được thực trạng thu hái tràn lan và tận gốc đối với nhiều loài dược liệu, trong đó có

rất nhiều loại dược liệu quý hiếm. Bên cạnh đó, hiệu quả bảo tồn ở các khu bảo tồn chưa cao do nhiều khó khăn về vốn và công nghệ.

Thứ tư, dưới giác độ xã hội, cây dược liệu góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm. Tuy nhiên để đảm bảo tính bền vững về mặt xã hội, nhất thiết cây

dược liệu phải duy trì được tính bền vững về mặt kinh tế, mà điều này phụ thuộc rất lớn vào tính bền vững về thị trường đầu ra của cây dược liệu.

Thứ năm, xét về khía cạnh các nhân tố tác động, kết quả luận án chỉ ra rằng việc áp dụng GACP và tham gia đào tạo là các nhân tố có tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất của cây dược liệu cũng như tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường. Các nhân tố về thể chế và chính sách cũng bước đầu có tác động tích cực đến phát triển cây dược liệu thành hàng hóa nhưng hiệu quả đối với sự PTTHBV

cây dược liệu là chưa cao do chưa có các chính sách riêng và đặc thù cho cây dược liệu. Các hiệp hội hỗ trợ phát triển thị trường cho cây dược liệu hầu như chưa có, chỉ

163

có một vài hiệp hội nhỏ và đơn lẻ nên hiệu quả hoạt động cũng chưa cao, sự liên kết

trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu còn mỏng dẫn đến việc chưa thể sản xuất cây dược liệu với quy mô lớn. Điều kiện tự nhiên về loại đất và độ cao của Lào Cai rất phù hợp với trồng cây dược liệu. Tỉnh đã nghiên cứu và đưa ra 22 loại cây dược liệu phù hợp với điều kiện tự nhiên ở Lào cai. Thị trường trong nước và quốc tế đối với cây dược liệu rất tiềm năng tuy nhiên khả năng tiếp cận thị trường của cây dược liệu và các sản phẩm chế biến từ cây dược liệu còn kém do các hạn chế về công nghệ chế biến, vốn, quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, các hoạt động marketing và quảng bá.

Từ những phân tích và đánh giá về thực trạng phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai dựa trên các tiêu chí và các nhân tố, luận án đã đưa ra các giải pháp nhằm phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai bao

gồm: (1) hoàn thiện chính sách; (2) nâng cao năng lực của người sản xuất - kinh doanh dược liệu; (3) phát triển thị trường đầu ra; (4) xây dựng mô hình quản lý cây dược liệu dựa vào cộng đồng và (5) nâng cao vai trò của nhà nước trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững. Bên cạnh đó luận án cũng đề xuất các kiến nghị để thực hiện

các giải pháp trên.

164

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

1. Trần Hữu Phước và Nguyễn Thị Ngọc Lan (2018), ‘Phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển bền vững của cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai’, Tạp chí kinh tế phát triển, số 255, Trang 32-40.

2. Trần Hữu Phước (2018), ‘Các giải pháp huy động nguồn vốn cho phát triển cây dược liệu tại Việt Nam’, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Phát triển tài chính tại Việt Nam sau đổi mới”, Khoa Tài Chính Ngân Hàng, Đại Học Ngoại Thương, Trang 275-283.

3. Trần Hữu Phước và Ngô Thắng Lợi (2016), ‘Định hướng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở việt Nam hiện nay’, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 231, trang 02-10.

4. Trần Hữu Phước và Vũ Thành Hưởng (2016), ‘Động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001- 2015 và định hướng đến 2020’, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: “Động lực phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016- 2020, tầm nhìn đến 2035”, Nhà xuất bản đại học KTQD, trang 179-195.

5. Trần Hữu Phước và Vũ Thành Hưởng (2014), ‘Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt nam theo hướng hiện đại: quan điểm và định hướng phát triển’, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 202, trang 179-185

6. Trần Hữu Phước (2014), ‘Để phát triển ngành dược liệu Việt Nam’, Tạp chí kinh

tế và dự báo, số 08, trang 23-33.

165

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Barata Ana Maria, Filomena Rocha, Violeta Lopes and Ana Maria Carvalho 1.

(2016), "Conservation and sustainable uses of medicinal and aromatic plants

genetic resources on the worldwide for human welfare", Industrial Crops and

Products, Vol. 88, pp. 8-11.

Barrett Christopher B, David R Lee and John G McPeak (2005), "Institutional 2.

arrangements for rural poverty reduction and resource conservation", World

Development, Vol. 33(2), pp. 193-197.

Bell Simon and Stephen Morse (2013), Measuring sustainability: Learning from 3.

doing, Nhà xuất bản Routledge,

Bộ Y tế (2008), Quyết định số 39/2008/QĐ-BYT, Ban hành phương pháp chung 4.

chế biến các vị thuốc theo phương pháp cổ truyền, ban hành ngày 15/12/2008

Bộ Y tế (2009), Thông tư số 14/2009/BYT-TT, Hướng dẫn triển khai áp dụng 5.

các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc” theo

khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, ban hành ngày 03/09/2009

Bộ y tế (2010), Thông tư 09/2010/TT-BYT, Hướng dẫn việc quản lý chất lượng 6.

thuốc, ban hành ngày 28/4/2010

7. Bộ y tế (2010), Thông tư 47/2010/TT-BYT, Hướng dẫn XK, NK thuốc và bao bì

tiếp xúc trực tiếp với thuốc, ban hành ngày 29/12/1010

Bộ y tế (2010),Quyết định số 3759/QĐ- BYT, Ban hành phương pháp chế biến 8.

bảo đảm chất lượng đối với 85 vị thuốc đông y, ban hành ngày 08/10/2010

Bộ y tế (2011), Thông tư 49/2011/TT - BYT, Ban hành và hướng dẫn áp dụng 9.

tỷ lệ hư hao đối với vị thuốc y học cổ truyền trong chế biến, bảo quản và cân

chia, ban hành ngày 30/12/2011

10. Bộ y tế (2011), Thông tư số 16/2011/TT - BYT, Qui định nguyên tắc sản xuất thuốc từ dược liệu và lộ trình áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt sản

xuất thuốc từ dược liệu, ban hành ngày 19/04/2011

11. Bộ Y tế (2012), Chỉ thị số 03/CT - BYT, Tăng cường công tác quản lý cung ứng và sử dụng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở khám

chữa bệnh bằng YHCT, ban hành ngày 24/02/2012

12. Bộ y tế (2013), Thông tư số 40/2013/TT - BYT, Danh mục thuốc thiết yếu thuốc

đông y và thuốc từ dược liệu lần thứ VI, ban hành ngày 18/11/2013

166

13. Bộ y tế (2014), Quyết định số 3635/QĐ, Ban hành phương pháp chế biến bảo

đảm chất lượng đối với 18 vị thuốc đông y, ban hành ngày 16/09/2014

14. Bộ Y tế (2014), Thông tư số 05/2014/TT - BYT, Quy định việc sử dụng dược liệu, vị thuốc YHCT trong các cơ sở khám chữa bệnh, ban hành ngày 14/02/2014 15. Bộ y tế (2015), Thông tư 05/2015/TT - BYT, Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế,

ban hành ngày 17/03/2015

16. Bộ Y tế (2016), Báo cáo kết quả 5 năm triển khai thực hiện quyết định 2166/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ về kế hoạch hành động phát triển Y,

dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020, giai đoạn 2011-2015

17. Bộ Y tế (2016), Thông tư 31/2016/TT-BYT, Quy định chi tiết mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm dược liệu và vị thuốc cổ truyền tại cơ sở y tế, ban hành ngày

10/8/2016.

18. Bộ Y tế (2016), Thông tư số 03/2016/TT - BYT, Quy định về hoạt động kinh

doanh dược liệu, ban hành ngày 21/01/2016

19. Bộ Y tế (2016), Thông tư số 11/2016/TT-BYT, Quy định việc đấu thầu thuốc tại

các cơ sở y tế công lập, ban hành ngày 11 tháng 05 năm 2016

20. Bộ Y tế (2017), Báo cáo công tác phát triển dược liệu Việt Nam trong giai đoạn

hiện nay, Bộ Y tế.

21. Brundlant (1987), Our Common Future. World Commission on Environment

and Development, Nhà xuất bản Oxford University Press, Oxford.

22. Bukuluki Paul, Ronald Luwangula and Eddy Joshua Walakira (2014), ‘Harvesting of Medicinal Plants in Uganda: Practices, Conservation and

Implications for Sustainability of Supplies’, Online International Journal of

Medicinal Plant Research, Vol.3(1), pp.1-10.

23. Burch D, G Lawrence, GP Green, K Ichijo, I Nonaka, M Pimentel, J Bower, C Gilbert, V Couto Filho and L Flavio (2007), World Development Report 2008:

agriculture for development, Nhà xuất bản The World Bank.,

24. Business Monitor International (2017), Vietnam Pharmaceutical and Healthcare

Report; Bill Thompson, London, UK

25. Byiringiro Fidele and Thomas Reardon (1996), ‘Farm productivity in Rwanda: effects of farm size, erosion, and soil conservation investments’, Agricultural

Economics, Vol. 15(2), pp. 127-136.

167

26. Camm J, Norman S, Polasky S, Solow A (2002), Nature reserve site selection to maximize expected species covered., Res. 2002; 50: 946-955. doi: 10.1287 /

opre.50.6.946.351

27. Chen Shi-Lin và cộng sự (2016), ‘Conservation and sustainable use of medicinal plants: problems, progress, and prospects’, Chinese Medicine, truy cập ngày

10/10/2018 tại https://doi.org/10.1186/s13020-016-0108-7

28. Chính phủ (2006), Nghị định số 79/2006/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Dược, ban hành ngày 08 tháng 09 năm 2006 29. Fao (1990), The state of food and argriculture, Nhà xuất bản FAO 30. Fao (2005), The state of food and argriculture, Nhà xuất bản FAO 31. Fao (2012), The state of food and argriculture, Nhà xuất bản FAO

32. Folving Rikke và Henriette Christensen (2007), ‘Farming system changes in the Vietnamese uplands-using fallow length and farmers' adoption of Sloping

Agricultural Land Technologies as indicators of environmental sustainability’,

Geografisk Tidsskrift-Danish Journal of Geography, Vol. 107(1), pp. 43-58.

33. FWF (2010), Tiêu chuẩn Fairwild: phiên bản 2.0.

34. Gao Jay và Yansui Liu (2010), ‘Determination of land degradation causes in Tongyu County, Northeast China via land cover change detection’, International

Journal of Applied Earth Observation and Geoinformation, Vol.12(1), pp. 9-16.

35. Ghimire Suresh K (2008), ‘Sustainable harvesting and management of medicinal plants in the Nepal Himalaya: current issues, knowledge gaps and research

priorities’, Medicinal Plants in Nepal: an Anthology of Contemporary Research,

pp. 25-44.

36. Godfray H Charles J, John R Beddington, Ian R Crute, Lawrence Haddad, David Lawrence, James F Muir, Jules Pretty, Sherman Robinson, Sandy M Thomas và

Camilla Toulmin (2010), ‘Food security: the challenge of feeding 9 billion

people’, Journal Science, Vol. 327(5967), pp. 812-818.

37. Hamilton Alan (2005), 'Resource assessment for sustainable harvesting of medicinal plants', A side-event at the International Botanical Congress on

Source to Shelf: Sustainable Supply Chain Management of Medicinal and

Aromatic Plants, Vienna, pp. 21-22.

168

38. Hamilton Alan C (2004), 'Medicinal plants, conservation and livelihoods',

Biodiversity & Conservation, Vol. 13(8), pp. 1477-1517.

39. Hazell Peter và Stanley Wood (2008), 'Drivers of change in global agriculture', Philosophical Transactions of the Royal Society B: Biological Sciences, Số

363(1491),Trang: 495-515.

40. Heywood Vernon H and Jose M Iriondo (2003), 'Plant conservation: old problems, new perspectives', Biological Conservation, Vol. 113(3), pp.321-335

41. Holden Erling, Kristin Linnerud and David Banister (2014), Sustainable development: our common future revisited, Global environmental change, Vol.

26, pp.130-139.

42. IAASTD (2008), Agriculture at a Crossroads: Global report / International

Assessment of Agricultural Knowledge, Science and Technology for

Development (IAASTD), Trong: Island Press (Biên soạn).

43. Kala Chandra Prakash (2015), Medicinal and aromatic plants: Boon for enterprise development, Journal of Applied Research on Medicinal and

44. Kala CP, Dhyani PP & Sajwan BS (2006),’ Developing the medicinal plants sector in northern India: challenges and opportunities’, Journal of Ethnobiology

Aromatic Plants, Voil. 2(4), pp. 134-139.

and Ethnomedicine, pp.1-15.

45. Kasagana, V.N et al (2011), ‘Conservation Of Medicinal Plants (Past, Present & Future Trends)’, Journal of Phamaceutical Sciences and Research, Vol 3(8), pp.

1378-1386.

46. Khumalo, S.G el at (2016), Guidelines for the Sustainable Harvesting of Traditional Medicinal Plants in Zimbabwe, truy cập ngày 30/10/2018 tại

http://projects.nri.org/adappt/docs/HarvestingGuidelines.pdf

47. Lê Quang Đức (2018), Vai trò nhà nước đối với phát triển cây trồng dược liệu trên địa bàn một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học

Kinh tế Quốc dân

48. Leaman Danna J (2008), Sustainable wild collection of plants - make way for a

new standard, Nhà xuất bản Convention on Biological Diversity,

49. Lio Monchi và Meng-Chun Liu (2008), ‘Governance and agricultural

productivity: A cross-national analysis’, Food Policy, Vol. 33(6), pp. 504-512.

169

50. Macilwain C. (2004), Organic: is it the future of farming?, 428: 792–793. doi:

10.1038 / 428792a

51. Marshall Elaine (2011), Health and wealth from medicinal aromatic plants, Nhà

xuất bản FAO,

52. Maureen B. Fant (1990), Alternative agriculture (by National Research Council

of United States), CERES, The FAO Review, Nhà xuất bản FAO.

53. Mollison Bill và Reny Mia Slay (1994), Đại cương về Nông nghiệp bền vững,

Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

54. Moss Brian (2008), 'Water pollution by agriculture', Philosophical

Transactions of the Royal Society of London B: Biological Sciences, Vol.

363(1491), pp. 659-666.

55. Muchugi A, Lengkeek AG, Kadu CAC, Muluvi GM, Njagi ENM and Dawson IK (2006), 'Genetic variation in the threatened medicinal tree Prunus africana

Cameroon and Kenya: implications for current management and evolutionary

history', South African Journal of Botany, Vol. 72(4), pp. 498-506.

56. Nagpal A và M Karki (2004), 'A study on marketing opportunities for medicinal, aromatic and dye plants in South Asia. International Development Research

Centre (IDRC)', South Asia Regional Office (SARO), New Delhi.

57. Nautiyal MC, Nautiyal B (2004), Agrotechniques for High Altitude Medicinal and

Aromatic Plants, Dehradun: Bishen Singh Mahendra Pal Singh

58. Nguyễn Bá Hoạt (2002), Nghiên cứu phát triển một số cây thuốc tham gia chuyển đổi cơ cấu cây trồng huyện vùng cao Sa Pa - Lao Cai, Luận án tiến sĩ,

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam.

59. Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Hữu Vui, Vũ Tình, Trần Văn Thụy, Vương Tấn Đạt và Nguyễn Như Hải (2006), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia,

60. Nguyễn Văn Hóa (2014), Phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk,

Đại học Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế.

61. Odendo, M., Obare, G., Salasya, B., (2009), 'Factors responsible for differences in uptake of integrated soil fertility management practices amongst smallholders in

western Kenya', African Journal of Agricultural Research, Vol. 4(11), pp. 1303-11.

170

62. OECD (2001), Environmental Indicators for Agriculture: Methods and Results, Nhà xuất bản Organisation for Economic Co-operation and Development,

63. Pham Van Luong (2014), Assessing the sustainability of small-scale farming

systems in northern Vietnam, PHD, The University Of Queensland.

64. Phan Văn Tân và cộng sự (2013), Nghiên cứu tuyển chọn và phát triển cây dược liệu bản địa có giá trị cao tại vùng đông nam tỉnh Gia Lai, Đề tài cơ sở, Trường

Đại học Tây Nguyên.

65. Phượng Thúy (2018), Bàn giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững cây dược

liệu Lào Cai, Nhà xuất bản Báo Lào Cai.

67. Praneetvatakul S, P Janekarnkij, C Potchanasin and K Prayoonwong (2001), 'Assessing the sustainability of agriculture: a case of Mae Chaem Catchment, northern Thailand', Environment International, Vol. 27(2), pp. 103-109.

66. Pimm Stuart L, Gareth J Russell, John L Gittleman and Thomas M Brooks (1995), 'The future of biodiversity', Journal Science, Vol. 269(5222), pp.347.

68. Pretty Jules (2008), ‘Agricultural sustainability: concepts, principles and evidence’, Philosophical Transactions of the Royal Society of London B:

Biological Sciences, Vol. 363(1491), pp. 447-465.

69. Ramawat KG and MR Ahuja (2016), 'Fiber Plants: An Overview', Trong Fiber

Plants, Nhà xuất bản Springer, pp. 3-15.

70. Rasul Golam and Gopal B Thapa (2004), 'Sustainability of ecological and conventional agricultural systems in Bangladesh: an assessment based on

environmental, economic and social perspectives', Agricultural Systems, Vol.

79(3), pp. 327-351.

71. Reimers Malte and Stephan Klasen (2013), 'Revisiting the role of education for agricultural productivity', American Journal of Agricultural Economics, Vol.

95(1), pp. 131-152.

72. Roy d assessment in Bangladesh', Sustainability science, Vol. 9(1), pp. 31-44.

73. Samal PK et al (2004), 'Indigenous health care practices and their linkages with in central bio-resource conservation and socio-economic development

Himalayan region of India', Indian Journal of Traditional Knowledge, pp.12-26

171

74. Schippmann Uwe, Danna J Leaman và AB Cunningham (2002), 'Impact of

cultivation and gathering of medicinal plants on biodiversity: global trends and

issues', Journal Biodiversity and the ecosystem approach in agriculture, forestry

and fisheries.

75. Seers Dudley (1969), 'The meaning of development', Journal New Delhi, pp. 3.

76. Sen Amartya (1988), The concept of development, Journal Handbook of

development economics, Số 1,Trang: 9-26.

77. Speelman Erika N, Santiago López-Ridaura, Nuria Aliana Colomer, Marta

Astier and Omar R Masera (2007), 'Ten years of sustainability evaluation using

the MESMIS framework: Lessons learned from its application in 28 Latin

American case studies', The International Journal of Sustainable Development

& World Ecology, Vol. 14(4), pp. 345-361.

78. Subrat N (2005), 'Ayurvedic Industry: Sustainable Management of Medicinal

Plants', Journal Himalayan Medicinal and Aromatic Plants, Balancing Use and

Conservation, pp. 79-108.

79. Swaminathan Monkombu Sambasivan (2006), An evergreen revolution, Journal

Crop Science, Vol. 46(5), pp. 2293-2303.

80. Teruel Romeo G and Yoshimi Kuroda (2005), 'Public infrastructure and

productivity growth in Philippine agriculture', 1974-2000, Journal of Asian

Economics, Vol. 16(3), pp. 555-576.

81. Thủ tướng Chính phủ (2004), Quyết định số153/2004/QĐ-TTg, về Định hướng

chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21), ban hành

ngày 17 tháng 8 năm 2004.

82. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg, phê duyệt quy

hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và

tầm nhìn năm 2020, ban hành ngày 30 tháng 06 năm 2006

83. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định 154/2006/QĐ-TTg, phê duyệt đề án

“Quản lý nahf nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm giai

đoạn 2006-2015”, ban hành ngày 30 tháng 06 năm 2006

172

84. Thủ tướng chính phủ (2007), Quyết định 43/2007/QĐ-TTg, phê duyệt đề án

“Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc

của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và tầm nhìn đến năm 2020”, ban hành ngày

29 tháng 03 năm 2007.

85. Thủ tướng chính phủ (2007), Quyết định số 61/2007/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia phát triển

công nghiệp hóa dược đến năm 2010, ban hành ngày 07 tháng 05 năm 2007 86. Thủ tướng chính phủ (2010), Quyết định số 2166/QĐ-TTg, Ban hành kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển Y, Dược cổ truyền Việt Nam đến năm

2020, ban hành ngày 30 tháng 11 năm 2010.

87. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 432/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020, ban hành ngày 12 tháng 4 năm 2012.

88. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 1976, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2013.

89. Tilman David, Kenneth G Cassman, Pamela A Matson, Rosamond Naylor and

Stephen Polasky (2002), 'Agricultural sustainability and intensive production

practices', Journal Nature, Vol. 418(6898), pp. 671.

https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=717 ngày 30 tháng 3 năm 2019

90. Tổng cục thống kê (2019), lấy từ website

91. Trần Anh Tuấn và Trương Ngọc Kiểm (2017), ‘Đánh giá tiềm năng tài nguyên

khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn (thuộc tỉnh Lào Cai) phục vụ quy hoạch phát

triển cây Tam thất (Pantax pseudo-giseng Wall)’, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 33, Số 2S (2017), 288-294. 92. Trần Thế Hùng và Đinh Thị Lệ Giang (2014), ‘Thực trạng và giá trị sử dụng

nguồn cây dược liệu tại xã Quy Hoá, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình’, Tạp

chí Thông tin khoa họcvà công nghệ Quảng Bình, số 5/2014, trang 50-54

93. Ut Tran Thi, Mahabub Hossain and Aldas Janaiah (2000), 'Modern farm technology and infrastructure in Vietnam: Impact on income distribution and

poverty', Journal Economic and Political Weekly, pp. 4638-4643.

173

94. Ủy ban nhân dân Huyện Bắc Hà (2013), Báo cáo kết quả sản xuất cây dược liệu

tại huyện Bắc Hà giai đoạn 2010-2013

95. Ủy ban nhân dân Huyện Bắc Hà (2017), Báo cáo kết quả sản xuất cây dược liệu giai đoạn 2010-2016 và kế hoạch phát triển giai đoạn 2017-2020 và tầm nhìn

đến năm 2030 trên địa bàn huyện Bắc Hà.

96. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào cai (2015), Báo cáo kinh tế -xã hội tỉnh Lào Cai 97. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào cai (2015), Quyết định số 44/2015/QĐ-UBND về việc Ban hành quy định về chính sách đặc thù khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào nông

nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2015-2020, ban hành

ngày 25 tháng 09 năm 2015

98. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào cai (2016), Quyết định 4478/QĐ-UBND, Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển dược liệu tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và tầm

nhìn đến năm 2030, ban hành ngày 14/12/2016.

99. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2017), Báo cáo kinh tế -xã hội tỉnh Lào Cai 100. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2017), Báo cáo tình hình phát triển dược liệu

trên địa bàn tỉnh.

101. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2018), Báo cáo kinh tế -xã hội tỉnh Lào Cai 102. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2017), Quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2025, định hướng đến

103. Van De Kop. P et al, (2006), Developing a Sustainable Medicinal-Plant Chain

năm 2030

in India: Linking People, Markets and Values, sub ediţia R. Ruben, M. Slingerland and

H. Nijhoff, Agro-Food Chains and Networks for Development, 191-202.

104. Van Phong Vo, Daniel Valenghi and Nguyen Lam Giang (2011), 'Promotion of Organic Cocoa in Mixed Farming System in the Mekong Delta Region: A

Preliminary Analysis', Environmental Change and Agricultural Sustainability in

the Mekong Delta, Nhà xuất bản Springer, pp. 399-410.

105. VVon Braun Joachim (2007), The world food situtation: new driving forces and

required actions, Nhà xuất bản Intl Food Policy Res Inst,

106. Wang Hongwei, Dacheng Peng and Jingtian Xie (2009), ‘Ginseng leaf-stem:

bioactive constituents and pharmacological functions’, Journal Chinese medicine,

Vol. 4(1), pp. 20.

174

107. WHO (2003), WHO guidelines on good agricultural and collection practices

(GACP) for medicinal plants.

108. WHO (2008), Traditional Medicine: Fact sheet Vienna.

109. WHO (2014), Traditional medicine strategy: 2014-2023., World Health

Organization, ISBN 978 92 4 150609 0.

110. Yamane Taro (1973), Statistics: An introductory analysis.

111. Zepeda Lydia (2001), Agricultural investment and productivity in developing

countries, Nhà xuất bản Food & Agriculture Org.,

112. Zhen Lin and Jayant K Routray (2003), 'Operational indicators for measuring agricultural sustainability in developing countries', Journal Environmental

Management, Vol. 32(1), pp. 34-46.

113. Zhen Lin, Jayant K Routray, Michael A Zoebisch, Guibao Chen, Gaodi Xie and

Shengkui Cheng (2005), 'Three dimensions of sustainability of farming practices

in the North China Plain: a case study from Ningjin County of Shandong

Province, PR China', Journal Agriculture, Ecosystems & Environment, Vol.

105(3), pp.507-522.

175

PHỤ LỤC Phụ lục 1: Danh sách đối tượng phỏng vấn của luận án

STT

Họ và tên

Nghề nghiệp Cơ quan công tác/địa chỉ

1

Nguyễn Thị Minh Thu

Nguyên viện phó

Viện dược liệu Trung ương

2

Nguyễn Phú Trí

Cán bộ Công ty cổ phần Traphaco Sapa, Lào Cai

3

nguyễn Thị Huê

4

Trần Phương Thảo

Giám đốc Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện Bắc Hà, Lào cai

Phó chánh văn phòng Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai

5

Phạm Thanh Long

Sở NN&PTNT Lào Cai Phó trưởng phòng

6

Vũ Thanh Sơn

Phó giám đốc Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện Bát Xát

7

Lưu Trọng Dương

Phó phòng Phòng nông nghiệp huyện Bát Xát

8

Nguyễn Văn Điệp

Chi cục kiểm Lâm tỉnh Lào Cai Phó chi cục trưởng

9

Trần Văn Thủy

Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Lào Cai Phó phòng hành chính

10

Nguyễn mạnh Hòa

Cán bộ Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

11

Phạm Văn Đăng

Cán bộ Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

12

Nguyễn Văn Sang

Cán bộ Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

13

Hoàng Trọng Khánh

Cán bộ Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc sapa tỉnh Lào Cai

14

Nguyễn Bích Ngọc

Nhân viên Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Tài Nguyên Xanh

176

STT

Họ và tên

Nghề nghiệp Cơ quan công tác/địa chỉ

Lý Thị Vân

15

Khuyến nông Xã Na Hối, huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai

Lê thế Hùng

16

Khuyến nông Xã Lùng Phình, huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai

17

Nguyễn Tiến Sỹ

Khuyến nông Xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

18

Sùng Văn Phúc

19

Nguyễn Thu Trang

Khuyến nông Xã Bản Già, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Chuyên viên kinh doanh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tài Nguyên Xanh

20

Nguyễn Văn sĩ

Nhân viên Công ty cổ phần sao Thái Dương

21

Nguyễn Văn Hùng

Nhân viên Công ty cổ phần du lịch và dược phẩm Sơn Lâm

Lò Thị Sa

22

Chợ Bắc Hà Người thu mua dược liệu

Lò Thị Nhớn

23

Chợ Bắc Hà Người thu mua dược liệu

Giàng A Vang

24

Nông dân Xã Bản Già, Bác Hà

Sùng A Phẩu

25

Nông dân Xã Lùng Phình, Bắc Hà

Lò thị Tươi

26

Nông dân Xã Na Hối, Bắc hà

Sùng A Seo

27

Nông dân TT Sapa

Lùng A Son

28

Nông dân TT Sapa

Lò Thị Vân

29

Nông dân TT Sapa

Lùng Văn Hậu

30

Nông dân Xã Na Hối, Bắc Hà

177

Phụ lục 2: Bảng hỏi hộ nông dân trồng dược liệu

Tỉnh:…………………………………………………………………………………….

Huyện…………………………………………………………………………………...

Xã……………………………………………………………………………………….

Làng……………………………………………………………………………………..

Mã ID của người được phỏng vấn………………………………………………………

Giới tính: Nam Nữ

Tuổi:…………….

Trình độ giáo dục:…………………………………..bậc học…………………………..

Dân tộc………………………………………………………………………………….

Đã trồng dược liệu được bao nhiêu năm?........................................................................

Tên loại dược liệu đang canh tác:………………………………………………………

Hộ có thuộc diện nghèo không: Có □ không □

1. Thông tin về hộ gia đình nuôi trồng dược liệu

STT Tên Tuổi Giới tính Trình độ giáo dục Nghề nghiệp

1

2

3

4

5

6

7

2. Tình hình đất canh tác dược liệu

Thời gian Loại đất Tổng diện tích (ha) Hình thức sở hữu

1 2 3 A B

2014-2015

2015-2016

2016-2017

1: đất đồi; 2: đất ruộng; 3: núi cao; A: có sổ đỏ; B: cho thuê

178

3. Tư liệu phục vụ sản xuất dược liệu

Thời gian sử dụng Số lượng Giá mua STT Hạng mục

1 Máy cày

2 Máy cắt cỏ

3 Máy bơm nước

4 Máy vi tính

4 Máy sản xuất khác

4. Nguồn sinh kế

Thu nhập ước tính/năm (Đơn vị: VNĐ) STT Nguồn sinh kế

1 Dược liệu

2 Lúa

3 Ngô

4 Chăn nuôi

5 Trồng rừng

6 Khác (xin cho biết cụ thể)

5. Thông tin về sản lượng mùa vụ (2016-2017)

Loại cây trồng Diện tích trồng (ha/năm) Sản lượng (tạ/ha/năm) Sản lượng bán (tạ/ha/năm)

Cây dược liệu

Cây lúa

Cây ngô

Loại cây trồng

Chi phí hạt giống (đồng/ha/năm)

Chi phí phân bón (đồng/ha/năm

Chi phí thuốc trừ sâu (đồng/ha/năm

Đơn giá thuê nhân công (VNĐ/ngày)

Số ngày công lao động của hộ gia đình (số ngày/năm)

Cây dược liệu

Cây lúa

Cây ngô

6. Chi tiêu cho mùa vụ

179

7. Phương thức trồng và kỹ thuật canh tác dược liệu

7.1. Xin ông bà cho biết phương thức trồng cây dược liệu của hộ là tập trung hay phân tán. Vui lòng mô tả những đặc điểm cụ thể nếu có (ví dụ trồng dưới tán cây rừng, độ cao bao nhiêu, có lưu ý gì về điều kiện tự nhiên và khí hậu)

STT Phương thức trồng Các lưu ý đặc biệt

7.2. Ông bà vui lòng cho biết mức độ hiểu biết về tiêu chuẩn canh tác tốt cây dược liệu (GACP). Vui lòng khoanh tròn một trong các lựa chọn dưới đây?

a. Không biết

b. đã nghe nói đến

c. đã biết

d. đã áp dụng thí điểm

e. đã áp dụng thành thục

8. Phân bón và thuốc trừ sâu

8.1. Phân bón

Loại phân (Kg/ha; lít/năm) Cây dược liệu Gạo/ngô

Bón mấy lần/năm vào giai đoạn nào (dược liệu) Bón mấy lần/năm vào giai đoạn nào (gạo/ngô)

Phân NPK

Phân đạm

Phân hữu cơ

Loại khác (cho biết cụ thể)

180

8.2. Thuốc trừ sâu hóa học

Loại thuốc trừ sâu (lit/ha và lit/năm) Cây dược liệu (tên loại thuốc, liệu lượng/năm) Phun mấy lần/năm vào giao đoạn nào (cây dược liệu) Phun mấy lần/năm vào giai đoạn nào(lúa/ngô) Gạo/ngô (tên loại thuốc, liều lượng/năm)

Thuốc trừ sâu

Thuốc diệt cỏ

Thuốc diệt nấm

Loại khác

8.3. Liệu phân bón và thuốc trừ sâu có được cung ứng kịp thời và đầy đủ theo nhu cầu không?

a. Có b. Không

8.4. Nếu không xin cho biết lý do:

.................................................................................................................................

.................................................................................................................................

.................................................................................................................................

8.5. Ông bà được cung cấp phân bón và thuốc trừ sâu từ nguồn nào?

Chính phủ

Hợp tác xã

Cửa hàng tư nhân

Đại lý của các công ty phân bón

Nguồn khác

8.6. Ông bà có được đào tạo về việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu không?

a. Có

b. Không

181

9. Tình hình sâu bệnh

9.1. So với thời gian bắt đầu trồng dược liệu tình hình sâu bệnh của cây dược liệu như thế nào? Chọn một lựa chọn (a hoặc b) và ghi rõ nguyên nhân đối với hai cây dược liệu chính mà hộ trồng?

Loại sâu bệnh Tình trang Nguyên nhân

a. Trầm trọng hơn 1. b. Ít trầm trọng hơn

a. Trầm trọng hơn 2. b. Ít trầm trọng hơn

9.2. So với các loại cây trồng khác (gạo/ngô) tình hình sâu bệnh của cây dược liệu như thế nào. Chọn một lựa chọn a hoặc b.

a. Trầm trọng hơn

b. Ít trầm trọng hơn

10. Chất đất

10.1. Kể từ khi canh tác dược liệu chất đất trồng thay đổi như thế nào?

a. Ổn định/tăng lên

b. Giảm

10.2. Xin nếu rõ nguyên nhân?

.................................................................................................................................

.................................................................................................................................

.................................................................................................................................

10.3. Ông bà làm gì để cải thiện độ phì nhiêu của đất sau mỗi vụ trồng dược liệu

.................................................................................................................................

.................................................................................................................................

11. Lượng nước sử dụng

So với cây ngô và cây lúa, lượng nước sử dụng/1ha trông cây dược liệu như thế nào?

a) Cao hơn rất nhiều b) Cao hơn

182

c) Bằng nhau d) Ít hơn e) Ít hơn rất nhiều

12. Nguồn lực tài chính

11.1. Gia đình bạn có tiết kiệm được tiền trong năm ngoái không?

a. Có

b. Không

11.2. Nếu có, bao nhiêu (VNĐ)…………………………………………………………

11.3. Trong 3 năm trở lại đây bạn có vay được khoản nào không?

a. Có

b. Không

11.4. Nếu có, bạn vay từ đâu?

a. Ngân hàng chính sách

b. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (VBARD)

c. Hội phụ nữ

d. Hội nông dân

e. Cá nhân

f. Các nguồn khác (ghi cụ thể)

11.5. Bạn vay được bao nhiêu

a. Dưới 5 triệu VNĐ

b. Lớn hơn hoặc bằng 5 triệu VNĐ

11.6. Ông/ bà có bao giờ được thông báo các chương trình hỗ trợ tín dụng cho cây dược liệu

a. Có

b. Không

c. Không biết

11.7. Nếu có, ông/bà được thông báo như thế nào

- Trưởng làng

- Cuộc họp trong làng

183

- Cuộc họp ở xã

- Thông qua loa phóng thanh ở xã phường

- Qua bảng tin ở xã phường

- Hình thức khác (ghi cụ thể)

11.8. Nếu không được thông báo, ông/bà có muốn biết về các hỗ trợ tài chính trong xã?

a. Có

b. Không

12. Các dịch vụ hỗ trợ

12.1. Ông/ bà có nhận được dịch vụ hỗ trợ thủy lợi/hệ thống tưới tiêu trong năm qua không?

a. Có

b. Không

12.2. Bao nhiêu lâu trong năm qua ông/ bà nhận được dịch vụ hỗ trợ thủy lợi/tưới tiêu một lần?

a. Hiếm khi (dưới hai lần)

b. Thường xuyên (trên 3 lần)

12.3. Trong năm qua ông/bà hay thành viên trong gia đình bạn có tham gia bất kỳ khóa học nào về kỹ thuật canh tác cây dược liệu không?

a. Có

b. Không

Nếu có ông bà vui lòng trả lời tiếp các câu hỏi sau đây:

12.4. ông/bà tham gia được mấy lần một năm?........................................................

12.5. Ai là người đào tạo các lớp học này?

a. Cán bộ khuyến nông cấp tỉnh

b. Cán bộ khuyến nông huyện

c. Cán bộ khuyến nông xã

d. Khác (ghi cụ thể)……………..

12.6. Ông/bà đánh giá như thế nào về chất lượng của các khóa học này

a. Nghèo nàn

184

b. Bình thường

c. Khá tốt

d. Tốt

13. Hệ thống tưới tiêu

13.1. Lượng nước tưới có đủ dùng cho trồng cây dược liệu không

a. Có

b. Không

13.2. Nếu không, vui lòng giải thích lý do:

.................................................................................................................................

.................................................................................................................................

13.3. Trong vòng 5 năm qua, hệ thống tưới tiêu

a. Không thay đổi/được cải thiện

b. Suy giảm

c. Ghi chú cho các thay đổi của hệ thống tưới tiêu:

13.4. Trong vòng 5 năm vừa có, hệ thống thủy lợi (đập,kênh, các trạm bơm) có được

đầu tư ở làng của bạn không?

a. Có

b. Không

13.5. Ông /bà có hài lòng với hệ thống thủy lợi không?

a. Không hài lòng

b. Bình thường

c. Có hài lòng

d. Rất hài lòng

14. Cây giống

14.1. Ông/bà nhập giống cây dược liệu ở đâu?

a. Tự nhân giống

b. Mua từ các cơ sở sản xuất giống trong nước

c. Mua từ các đại lý bán lẻ

185

d. Mua ngoài chợ

e. Nhà nước cấp

f. Khác

14.2. Ông bà đánh giá như thế nào về các chỉ tiêu sau đây liên quan đến giống cây dược liệu. Vui lòng cho điểm số từ 1 đến 5 theo mức độ tăng dần. 1 là rất kém và 5 là rất tốt.

Rất kém Rất tốt

Chỉ tiêu 1 2 3 4 5

Chất lượng giống

Độ ổn định của nguồn cung

Độ ổn định của giá nhập cây giống

15. Chế biến và tiếp cận thị trường

15.1. Có cơ sở chế biến dược liệu nào tại làng của bạn không?

a. Có

b. Không

c. Nếu có, sản phẩm nào được chế biến:……………………………………

15.2. Ông/ bà phải di chuyển bao xa để đến khu chợ gần nhất

a. Dưới 3km

b. Lớn hơn 3km

15.3. Ông/ bà cảm thấy tiêu thụ cây dược liệu khó dễ như thế nào? Vui lòng chấm điểm từ 1 đến 5 theo mức độ khó tăng dần

Độ khó 1 (Ít nhất) 2 3 4 5 (nhiều nhất)

Lý do

15.4. Ông/bà thường bán cây dược liệu theo phương thức nào

a. Tại vườn cho các đầu mối thu mua:

b. Mang ra chợ bán:

c. Bán buôn cho các công ty:

186

15.5. Ông/bà có bao giờ cảm thấy phải bán với giá rẻ và cảm thấy bị ép giá khi bán cây

dược liệu không?

a. Có

b. Không

15.6. Ông bà đánh giá như thế nào về độ ổn định của giá bán cây dược liệu?

a. Không ổn định

b. Ít ổn định

c. Ổn định

d. Khá ổn định

e. Rất ổn định

15.7. Phế liệu sau khi thu hoạch cây dược liệu được xử lý như thế nào?

a. Đốt tại chỗ

b. Chôn xuống đất làm phân hữu cơ

c. Đem đến tiêu hủy tại địa điểm tập trung trong làng

d. Khác (ghi cụ thể)

Xin chân thành cảm ơn!

187

Phụ lục 3: Một số hình ảnh thực tế

188