intTypePromotion=1
ADSENSE

Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Lý luận và thực tiễn

Chia sẻ: AtaruMoroboshi _AtaruMoroboshi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

16
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài nghiên cứu "Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Lý luận và thực tiễn" nhằm khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển khu vực kinh tế tư nhân và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế tư nhân xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Lý luận và thực tiễn

  1. 56 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ThS. Hoàng Xuân Sơn - ThS. Lê Thị Ái Nhân Trường Đại học Kinh tế TP.HCM  Tóm tắt: Phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (KTTT XHCN) là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Đại hội X của Đảng (2006), lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội Đảng đã nêu lên khái niệm KTTN dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Sau 10 năm thừa nhận thành phần kinh tế này, đến Đại hội XII (2016), Đảng đã khẳng định mạnh mẽ hơn nữa về vai trò, vị trí của thành phần KTTN trong nền kinh tế Việt Nam khi xác định: “KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế”(1). Cho đến nay, KTTN ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm cho xã hội. Từ khóa: kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam PRIVATE ECONOMIC DEVELOPMENT IN A SOCIALIST-ORIENTED MARKET ECONOMY - THOERY AND REALITY Abstract: Private economic development in a socialist-oriented market economy is an indispensable trend, a sound and consistent policy of the Communist Party of Vietnam. At the Congress X (2006), for the first time in the Communist Party Congress document, the concept of private economy was used to refer to private-sector economic components of productive capital, Including individual economy, smallholder, private capitalist economy. After 10 years of recognition of this economic component, at the Congress XII (2016) has strongly affirmed the role and position of the private sector in the Vietnamese economy by identifying: “The private sector is an important engine of the economy”. Up to now, the private sector has played an increasingly important role in promoting growth and creating jobs for the society. Keywords: private economy, socialist-oriented market economy, the Communist Party of Vietnam (1) Đảng Cộng sản Việt N am (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, N xb. CTQG-ST, Hà N ội, tr.103
  2. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 57 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Quan điểm về KTTN dần được hình thành và phát triển từ Đại hội VI của Đảng (1986) cho đến nay và thuật ngữ “KTTN ” lần đầu tiên được xác nhận tại Đại hội X của Đảng (2006), tiếp tục khẳng định tại Đại hội XI (2011) và khẳng định mạnh mẽ hơn nữa về vị trí, vai trò của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế Việt N am tại Đại hội XII (2016), gần đây nhất là việc Đảng đã có N ghị quyết 10/N Q-TW, tại Hội nghị Trung ương năm khóa XII (6/2017) về phát triển KTTN . Theo quan điểm mới, khái niệm KTTN được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định sự tồn tại của KTTN là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và việc cải tạo thành phần kinh tế này là một trong những nhiệm vụ kinh tế cơ bản, lâu dài của cả thời kỳ quá độ. Thực tiễn cho thấy, việc phát triển KTTN trong nền KTTT XHCN là một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt N am dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, là sự vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt N am trong thời kỳ đổi mới. Trong thời gian qua, KTTN đã đạt được những kết quả nhất định và đã được Hội nghị Trung ương năm khóa XII khẳng định: “KTTN liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 39 - 40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội”(1). 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Bài nghiên cứu nhằm khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt N am về phát triển khu vực KTTN và vai trò của KTTN trong nền KTTT XHCN ở Việt N am. Do vậy, trong bài viết, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bằng kỹ thuật thống kê mô tả, thu thập và đối sánh những chủ trương, chính sách của Đảng và N hà nước Việt N am về phát triển KTTN trong nền KTTT XHCN , những số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê về phát triển KTTN ở Việt N am, qua đó làm cơ sở nhận định và đề xuất các hàm ý chính sách. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Quá trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về KTTN trong nền KTTT XHCN Tại Đại hội VI của Đảng (1986), Đảng khẳng định “cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác”(2), trong đó chỉ ra vai trò của kinh tế gia đình và kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa. (1) Đảng Cộng sản Việt N am (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (Lưu hành nội bộ), Văn phòng Trung ương Đảng, Hà N ội, tr.89-90 (2) Đảng Cộng sản Việt N am (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), N xb CTQG, Hà N ội, tr.67
  3. 58 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM Đối với kinh tế gia đình, Đảng xác định “có vị trí quan trọng và khả năng dồi dào, cần được khuyến khích và giúp đỡ phát triển trong mối quan hệ hỗ trợ và gắn bó với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể”(1). Đối với kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, “N hà nước thừa nhận sự cần thiết của bộ phận kinh tế này trong thời kỳ quá độ, hướng dẫn và giúp đỡ nó sản xuất, kinh doanh, liên kết với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể”(2). Tuy nhiên, theo quan điểm của Đảng, thừa nhận sự tồn tại của kinh tế sản xuất hàng hóa và kinh tế tư bản tư nhân, thì đương nhiên cũng phải thường xuyên đấu tranh với xu hướng tự phát tư bản chủ nghĩa và những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế của các thành phần đó, vì vậy N hà nước cần phải kiểm soát và chi phối các thành phần kinh tế này theo phương châm “sử dụng để cải tạo, cải tạo để sử dụng tốt hơn”. Đại hội VII của Đảng (1991) chủ trương: “bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo kinh tế thị trường (KTTT) có sự quản lý của N hà nước” - đây là cơ sở ban đầu để Đảng đi đến chủ trương xây dựng nền KTTT XHCN cho Việt N am. Trong cơ chế đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ kinh doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tự nguyện. Đối với KTTN , sau 5 năm bước vào thực hiện đường lối đổi mới, Đảng kết luận: tuy “nhiều hộ cá thể và tiểu chủ đã bỏ vốn kinh doanh vào nhiều ngành nghề. N hưng cho đến nay, nhiều người có vốn lớn vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, nhất là vào lĩnh vực sản xuất, vì môi trường kinh doanh chưa bảo đảm và có phần chưa tin vào sự ổn định của chính sách”(3). Từ đó, Đảng chủ trương: “phát triển KTTN , đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của N hà nước; trong đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”(4). Đề cập đến KTTN , Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) cũng nêu rõ: “kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do pháp luật quy định”(5). Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng xác định: kinh tế cá thể được khuyến khích phát triển trong các ngành nghề ở cả thành thị và nông thôn, không bị hạn chế việc mở rộng kinh doanh, có thể tồn tại độc lập… Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm… Kinh tế gia đình là một thành phần kinh tế độc lập nhưng được khuyến khích phát triển(6). Đến Đại hội VIII của Đảng (1996), tư duy về KTTN của Đảng đã có bước phát triển mới, khi khẳng định: “kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài” từ đó chủ (1) Sđd, tr.60 (2) Sđd, tr.61 (3) Sđd, tr.236-237 (4) Sđd, tr.275-276 (5) Sđd, tr.319 (6) Sđd, tr.343-344
  4. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 59 trương cần phải “giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phNm. Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước. Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh. Khuyến khích các chủ doanh nghiệp dành cổ phần ưu đãi để bán cho người lao động tại doanh nghiệp. Xây dựng quan hệ hợp tác giữa chủ và thợ trên cơ sở thực hiện Luật lao động, đảm bảo lợi ích hợp pháp giữa cả hai bên”(1). Đại hội IX của Đảng (2001), đại hội đầu tiên của Đảng tiến hành trong thiên niên kỷ mới, đã xác định mô hình kinh tế tổng quát của Việt N am trong thời kỳ quá độ lên CN XH là KTTT XHCN và khẳng định KTTT XHCN là “một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của KTTT vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”(2). Trên cơ sở nền KTTT XHCN , Đảng đã xác định vai trò của KTTN là “kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài”, vì vậy N hà nước cần “tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của N hà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động”(3). Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Đại hội X của Đảng (2006) chủ trương sắp xếp lại các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân thuộc thành phần KTTN , mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin. Xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm(4). Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử; bảo đảm thực sự bình đẳng, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh được tiếp cận các nguồn vốn tại các tổ chức tín dụng của N hà nước, kể cả quỹ hỗ trợ phát triển; được (1) Sđd, tr.480-481 (2) Sđd, tr.635-636 (3) Sđd, tr.646 (4) Đảng Cộng sản Việt N am (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, N xb. CTQG, Hà N ội, tr.86-87
  5. 60 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM đáp ứng thuận lợi như sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn KTTN có nhiều chủ sở hữu với hình thức công ty cổ phần. Tổng kết và có chính sách, giải pháp thúc đNy kinh tế trang trại phát triển. Khuyến khích tư nhân mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước, tham gia đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế. Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân lớn bán cổ phần cho người lao động. Bảo vệ tài sản hợp pháp của công dân và doanh nghiệp. N hư vậy, đến Đại hội X (2006) tư duy của Đảng về thành phần KTTN ngày càng được định hình rõ ràng và nhìn nhận đúng đắn hơn khi mà KTTN ngày một đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đóng vai trò ngày càng lớn trong việc giải quyết công ăn, việc làm cho người dân lao động. Để đNy mạnh phát triển KTTN , ngày 18-3-2002, Hội nghị Trung ương 5 khoá IX của Đảng đã ra N ghị quyết số 14-N Q/TW về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN . Sau 8 năm thực hiện N ghị quyết số 14-N Q/TW, tại phiên họp ngày 27-1-2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã kết luận và đưa ra những chủ trương mới để tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN . Đại hội XI của Đảng (2011) diễn ra trong bối cảnh Việt N am đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển để vươn lên thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng khẳng định: “KTTN là một trong những động lực của nền kinh tế”(1) và chủ trương “hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển KTTN trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình KTTN ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn KTTN và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”(2). N goài ra, trong hoàn cảnh mà Việt N am bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nợ công ở châu Âu, Mỹ và N hật Bản lên cao, Đảng Cộng sản Việt N am chủ trương hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển KTTT, hội nhập kinh tế quốc tế. Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp với hình thức sở hữu hỗn hợp như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty hợp danh, hợp tác xã cổ phần. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định luật pháp về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật của người sở hữu (hội đồng quản trị), quyền và trách nhiệm của người được chủ sở hữu giao quản lý sử dụng các tài sản để kinh doanh (ban giám đốc); phân phối lợi nhuận tạo ra cho người chủ sở hữu, người được giao quản lý sử dụng và người lao động. (1) Đảng Cộng sản Việt N am (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, N xb. CTQG-ST, Hà N ội, tr.74 (2) Sđd, tr.209
  6. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 61 Sau 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, 15 năm xây dựng mô hình kinh tế tổng quát - KTTT XHCN - Đại hội XII của Đảng (2016) đã có bước hoàn thiện mới về lý luận KTTT XHCN khi xác định: “nền KTTT XHCN Việt N am là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của N hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt N am lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(1). Trên cơ sở khẳng định này, Đảng đã phát triển thêm một bước nữa tư duy về thành phần KTTN trong nền KTTT XHCN khi xác định: nền KTTT XHCN Việt N am có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp cơ chế thị trường. N hà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ kinh tế, chính sách và các nguồn lực N hà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đNy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội(2). Để thực hiện được mục tiêu trên, Đảng chủ trương phải tiếp tục “hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh KTTN ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”(3). Sau 15 năm thực hiện Hội nghị Trung ương năm khóa IX (2002), tại Hội nghị trung ương năm khoá XII (6/2017), Đảng đã có những quan điểm sâu sát hơn khi chỉ đạo phát triển KTTN ở nước ta trong thời gian tới như sau: (i) Phát triển KTTN lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền KTTT XHCN ở nước ta; là một phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển; (ii) KTTN là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với KTTN là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để KTTN phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong GDP; (iii) Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển KTTN lành mạnh (1) Đảng Cộng sản Việt N am (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, N xb. CTQG-ST, Hà N ội, tr.102 (2) Sđd, tr.102-103 (3) Sđd, tr.107-108
  7. 62 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM và đúng định hướng. Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của KTTN , đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm”, thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi bất chính; (iv) KTTN được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu; (v) Khuyến khích KTTN tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá hoặc N hà nước thoái vốn. Thúc đNy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa KTTN với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan toả rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ; (vi) Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt N am ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản trị cao; chú trọng xây dựng văn hoá doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân(1). Với quan điểm chỉ đạo như trên, trong thời gian tới, Đảng muốn phát triển KTTN nhằm mục tiêu: “Phát triển KTTN lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền KTTT XHCN , góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(2), cụ thể: “(i) Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh trong khu vực KTTN . Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp; (ii) Tốc độ tăng trưởng của KTTN cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phấn đấu tăng tỉ trọng đóng góp của khu vực KTTN vào GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 - 65%; (iii) Bình quân giai đoạn 2016 - 2025, năng suất lao động tăng khoảng 4 - 5%/năm. Thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ, chất lượng nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân so với nhóm dẫn đầu ASEAN -4; nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu”(3). N hư vậy, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt N am đã từng bước thừa nhận KTTT và đNy mạnh xây dựng nền KTTT XHCN Việt N am, và theo sự phát triển của nền (1) Đảng Cộng sản Việt N am (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (Lưu hành nội bộ), Văn phòng Trung ương Đảng, Hà N ội, tr.94-97 (2) Sđd, tr.97 (3) Sđd, tr.97-98
  8. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 63 kinh tế, Đảng cũng từng bước thừa nhận KTTN trong nền KTTT XHCN Việt N am. Khi thừa nhận KTTT là cần thiết đối với quá trình xây dựng CN XH, thì cũng có nghĩa là thừa nhận một động lực quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đó là KTTN , để rồi đi đến một kết luận quan trọng là “KTTN là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế” trong nền KTTT XHCN Việt N am. 3.2. Thành phần KTTN từng bước khẳng định vai trò, vị trí trong nền KTTT XHCN Việt Nam Dưới tác động của chính sách mở cửa đã trở thành một trong những nhân tố chính tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh của nền kinh tế Việt N am. Giai đoạn 2001-2009, khu vực KTTN đóng góp lớn vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước: tỉ trọng đóng góp GDP của khu vực tư nhân trong nước cao nhất trong 3 khu vực, duy trì ở mức 40% - 45%. Đến năm 2015, kinh tế ngoài nhà nước (chủ yếu là KTTN ) đã giải quyết việc làm cho 45.450.900 người lao động (chiếm 86% số lao động của cả nước), đóng góp 1.812.152 tỷ đồng vào tổng sản phNm trong nước (chiếm tỷ lệ 43,22% GDP), đóng góp 529.600 tỷ đồng vốn đầu tư (chiếm tỷ lệ 38,7% vốn đầu tư toàn xã hội)(1). N hư vậy, khu vực này cũng đóng góp nhiều nhất vào GDP và tạo ra việc làm nhiều nhất; làm tăng thu ngân sách và thay đổi cơ cấu thu ngân sách; là nguồn lực chủ yếu phát triển các mặt hàng mới, mở rộng thị trường xuất khNu. Bên cạnh đó, tính cạnh tranh cao của doanh nghiệp khu vực KTTN là nhân tố quan trọng tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh, gây sức ép cải cách trong các doanh nghiệp khu vực kinh tế nhà nước, làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn. Đến năm 2015, cả nước có khoảng 500.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong giai đoạn 2011-2015 nước ta có 393.973 doanh nghiệp thành lập mới(2), theo dự báo, trong giai đoạn 2016-2020 nước ta só có khoảng 450.000 doanh nghiệp thành lập mới(3) đưa tổng số doanh nghiệp của Việt N am lên khoảng 950.000 doanh nghiệp. Trong 3 năm gần đây, số doanh nghiệp thành lập mới tăng gấp 1,5 lần về số lượng và gấp 5 lần về số vốn đăng ký so với giai đoạn 2000-2005. Kể cả giai đoạn khó khăn về kinh tế vừa qua nhưng cũng không làm cho số doanh nghiệp thành lập mới giảm đi. N ăng lực KTTN trong nền kinh tế đã được nâng lên đáng kể. Vốn đăng ký của khối KTTN đã tăng từ 900 triệu đồng/doanh nghiệp năm 2000 lên hơn 9 tỉ đồng/doanh nghiệp năm 2011, vốn đăng ký bình quân tăng hơn 61,5% (4), đến đầu năm 2016 số vốn đăng ký của các doanh nghiệp mới lên đến 113.000 tỉ đồng, tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015(5). Cơ cấu về ngành nghề, sản phNm và quy mô vốn đầu tư (1) Tổng cục thống kê (2016), Niên giám thống kê năm 2015, N xb. Thống kê, Hà N ội, tr.135, 172-174, 223 (2) http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/146-4958-so-doanh-nghiep-va-so-von-dang-ky-dat-ky-luc-trong-nam- 2015.html; N gày truy cập: 19/6/2019 (3) http://baocongthuong.com.vn/them-450000-dnnvv-thanh-lap-moi-giai-doan-2016-2020.html; N gày truy cập: 19/6/2019 (4) Theo số liệu của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt N am (VCCI) (5) http://motthegioi.vn/kinh-te/dau-tu-kinh-doanh/bao-gio-thi-kinh-te-tu-nhan-tro-thanh-dong-luc- 292825.html; N gày truy cập: 19/6/2019
  9. 64 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM của KTTN cũng có nhiều thay đổi. Một số doanh nghiệp của tư nhân đã phát triển thành tập đoàn kinh tế, tạo dựng được thương hiệu cả trong nước và quốc tế. Sau 10 năm Việt N am chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), khu vực KTTN ở Việt N am đã phát triển mạnh mẽ, dự báo khu vực này trong thời gian tới còn phát triển mạnh hơn nữa khi mà Đảng Cộng sản Việt N am chủ trương “thúc đNy hình thành các tập đoàn KTTN , khuyến khích tư nhân góp vốn vào các tập toàn kinh tế nhà nước”(1). Mặt khác, sự xuất hiện ngày càng nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc khu vực KTTN trong tất cả các lĩnh vực, các ngành sản xuất, kinh doanh đã đNy lùi dần tình trạng độc quyền, làm cho sản xuất hàng hoá phát triển, thị trường được mở rộng, các quy luật KTTT phát huy được tác dụng, đNy lùi cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp vốn đã ăn sâu trong tiềm thức xã hội. Thông qua việc phát triển KTTN mà quyền làm chủ của nhân dân, trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy. Tóm lại, không thể phủ định những mặt tích cực của KTTN đối với sự phát triển nền kinh tế - xã hội của nước ta trong những năm qua, tuy nhiên, cũng phải thấy được những hạn chế nhất định trong quá trình phát triển của KTTN , như tính chất tự phát, tình trạng vô chính phủ trong sản xuất kinh doanh, tình trạng không chấp hành nghiêm luật pháp... Vì vậy, cần phải đánh giá một cách khách quan, công bằng sự phát triển của KTTN , chống khuynh hướng đề cao quá mức dẫn đến tuyệt đối hoá vai trò của KTTN . Phát triển KTTN trong nền KTTT XHCN là một xu thế khách quan. Tuy nhiên, để đưa KTTN phát triển đúng quỹ đạo, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa lại là một nhiệm vụ hết sức phức tạp, lâu đài và khó khăn. KTTN chỉ có thể phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa khi Đảng và N hà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, không làm mất động lực phát triển của nó, nhưng cũng không để KTTN vận động một cách tự phát, ngoài vòng pháp luật. 4. THẢO LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Để nền kinh tế nhiều thành phần, nhất là KTTN phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và N hà nước không những phải vận dụng các công cụ kinh tế, pháp luật để quản lý, mà còn phải có thực lực kinh tế. Vì, nếu kinh tế nhà nước không có thực lực, không phát triển mạnh mẽ, thì sẽ rất khó khăn trong việc phát huy vai trò chủ đạo và thực hiện chức năng định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở đây, vai trò quản lý và điều hành của N hà nước xã hội chủ nghĩa là đặc biệt quan trọng, là một điều kiện tiên quyết trong định hướng sự phát triển của KTTN . Trong thời gian tới để thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền KTTT và góp phần đNy mạnh phát triển KTTN , bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 27/1/2010, thực hiện N ghị quyết Đại hội XII của Đảng và N ghị quyết 10/N Q-TW ngày 03/6/2017, Việt N am cần phải giải quyết tốt các vấn đề sau: (1) Đảng Cộng sản Việt N am (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, N xb. CTQG-ST, Hà N ội, tr.110-111
  10. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 65 Đối với Trung ương: Thứ nhất, thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển KTTN . Thống nhất nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về khuyến khích, tạo điều kiện phát triển KTTN . Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của KTTN trong phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với khắc phục có hiệu quả những mặt trái phát sinh trong quá trình phát triển KTTN . Phòng, chống có hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của N hà nước về phát triển KTTN . Thứ hai, N hà nước cần tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, tuân thủ các nguyên tắc và thông lệ quốc tế, đặc biệt là các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Đổi mới phương thức quản lý kinh tế của N hà nước theo hướng tạo điều kiện cho mọi doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo pháp luật, bình đẳng, cùng có lợi, nhất là trên những định hướng ưu tiên của N hà nước, kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế - chính trị - xã hội và môi trường (đặc biệt là môi trường để Việt N am có thể phát triển bền vững). N ghiên cứu đề ra các chính sách hỗ trợ, trong đó tập trung giải quyết các khó khăn của khu vực KTTN về đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh, vốn, năng lực khoa học – công nghệ và về thị trường... Đồng thời, N hà nước cũng cần tiếp tục những chương trình giáo dục đào tạo khoa học và công nghệ, cũng như có chế độ khen thưởng thích đáng kịp thời để động viên khuyến khích, tôn vinh và nhân rộng các điển hình của hoạt động KTTN trong nền KTTT XHCN . Giáo dục lòng yêu nước tự hào dân tộc và bản lĩnh kinh doanh cho các doanh nhân... Thứ ba, cần tiếp tục đNy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia, đặc biệt coi trọng cải cách thủ tục hành chính, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước trong sạch, nâng cao trình độ nắm và thi hành pháp luật của đội ngũ công chức quản lý nhà nước có liên quan trực tiếp đối với KTTN , đảm bảo cho các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thực sự là chỗ dựa vững chắc và là người hướng dẫn hỗ trợ, kiểm tra, kiểm soát “thân thiện” đối với KTTN , phải thực sự là một Chính phủ “kiến tạo”. N hà nước cần xây dựng, triển khai các công cụ quản lý và hỗ trợ mới đối với khu vực KTTN , chuyển từ mục đích “quản chặt doanh nghiệp” sang “hỗ trợ doanh nghiệp” bằng định hướng chính sách, thông tin thị trường và những khuyến khích tài chính, cũng như tinh thần theo ngành, sản phNm, địa bàn, chứ không theo từng doanh nghiệp, dự án cụ thể hoặc tính chất sở hữu. Thứ tư, N hà nước cần đNy nhanh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý lịch tư pháp công dân, hệ thống thông tin doanh nghiệp, hệ thống đăng ký thế chấp, cầm cố tài sản... được nối mạng nhằm tạo thuận lợi cho sản xuất - kinh doanh, cũng như quản lý N hà nước và phòng tránh, giảm thiểu các rủi ro tín dụng, kinh doanh, các hành vi vi phạm sở hữu thương hiệu, sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp và các vi phạm bản quyền, an ninh, trật tự an toàn văn minh thương mại và thị trường khác. Xây dựng hệ thống thông tin, phân
  11. 66 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM tích và dự báo các xu hướng thị trường, cung cấp thông tin và các dịch vụ về pháp lý thương mại thị trường, các thông lệ và tiêu chuNn xuất khNu quốc tế, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và đăng ký thương hiệu cho doanh nghiệp tư nhân... Coi trọng kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm minh hiện tượng gian lận thương mại, kinh doanh trái phép, sản xuất hàng giả, trốn lậu thuế, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và sự cạnh tranh lành mạnh của lĩnh vực KTTN . Đối với các địa phương, cơ quan trong cả nước: Cần tăng cường hợp tác, thúc đNy sự hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phNm, phát triển kinh doanh và đầu tư ra nước ngoài; coi trọng xây dựng và phát triển hành lang pháp lý trong nước và quốc tế nhằm mở đường và định hướng cho các doanh nhân và doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài an toàn và thuận lợi. Các đại sứ quán, lãnh sự quán và phòng thương vụ Việt N am ở nước ngoài cần hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động tại quốc gia, vùng lãnh thổ do mình phụ trách. Các ngân hàng thương mại cần có những chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài, ưu tiên đặt tại các trung tâm lớn có cộng đồng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp Việt N am hoặc ở những trung tâm thị trường tài chính quốc tế lớn để trực tiếp cung cấp các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo lãnh cần thiết cho hoạt động đầu tư của Việt N am ở nước ngoài. 5. KẾT LUẬN Qua phân tích ở trên, chúng ta có thể nhận thấy sự phát triển của KTTN đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế của Việt N am, như huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư với số lượng lớn vào sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao sức sản xuất của xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới vừa làm tăng của cải vật chất cho xã hội, vừa làm giảm áp lực giải quyết việc làm cho người lao động, thúc đNy sự hình thành và phát triển các loại thị trường, làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, vừa góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội... Sự biến đổi của quan hệ sở hữu khiến quan hệ quản lý và phân phối cũng thay đổi, do vậy, quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vốn còn thấp và phát triển không đều giữa các vùng, ngành trong cả nước. N hờ vậy, đã khơi dậy và phát huy được tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính vì những lý do đó, có thể khẳng định rằng, sự phát triển của KTTN đã đóng góp quan trọng vào việc thúc đNy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá và cùng với các thành phần kinh tế khác góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tạo nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và từ nay đến giữa thế kỷ XXI đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.
  12. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. ThS. Đặng Minh Tiến (2008), Phát triển KTTN - xu thế tất yếu trong nền KTTT ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học 2. ThS. Phan Minh Tuấn (2013), Phát triển KTTN – Những vấn đề đặt ra, Tạp chí Tài chính, số 6 3. N guyễn Văn Thạo – N guyễn Viết Thông (Đồng chủ biên) (2011), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội XI của Đảng, N xb. CTQG-ST, Hà N ội 4. Đảng Cộng sản Việt N am (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), N xb. CTQG, Hà N ội 5. Đảng Cộng sản Việt N am (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, N xb. CTQG, Hà N ội 6. Đảng Cộng sản Việt N am (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, N xb. CTQG- ST, Hà N ội 7. Đảng Cộng sản Việt N am (2016) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, N xb. CTQG- ST, Hà N ội 8. Đảng Cộng sản Việt N am (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX, N xb. CTQG, Hà N ội 9. Đảng Cộng sản Việt N am (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (Lưu hành nội bộ), Văn phòng Trung ương Đảng, Hà N ội 10. Tổng cục thống kê (2016), Niên giám thống kê năm 2015, N xb. Thống kê, Hà N ội 11. http://baodientu.chinhphu.vn 12. http://cpv.org.vn/ 13. http://kinhtevadubao.vn 14. http://baocongthuong.com.vn 15. http://motthegioi.vn
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2