BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thu Ba PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thu Ba PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA

Chuyên ngành: Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên) Mã số: 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS. TS. NGUYỄN MINH TUỆ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến giáo viên

hướng dẫn khoa học PGS.TS. NGUYỄN MINH TUỆ đã tận tâm hướng dẫn,

chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian thực hiện luận văn.

Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, phòng Sau đại học,

khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều

kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn.

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan: Sở nông nghiệp và

phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và môi trường, Cục thống kê và chính

quyền tỉnh Sóc Trăng đã nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp các tư liệu để tác giả thực

hiện luận văn.

Cuối lời tác giả xin gửi lời cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,

giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn. Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Ba

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục kí hiệu, chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

1. Lí do chọn đề tài: ................................................................................................. 1

2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài: ............................................................. 2

2.1. Mục tiêu: ........................................................................................................ 2

2.2. Nhiệm vụ: ...................................................................................................... 2

2.3. Giới hạn: ........................................................................................................ 2

3. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: .............................................................. 3

4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu: ............................................................. 4

4.1. Quan điểm: .................................................................................................... 4

4.2. Phương pháp nghiên cứu: .............................................................................. 5

5. Cấu trúc luận văn: ................................................................................................ 6

NỘI DUNG ................................................................................................................ 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỊA LÍ NÔNG NGHIỆP ..................................................................................................................................... 7

1.1. Cơ sở lí luận ...................................................................................................... 7

1.1.1. Quan niệm, vai trò và đặc điểm của nông nghiệp ...................................... 7

1.1.1.1 Quan niệm ............................................................................................. 7

1.1.1.2 Vai trò: .................................................................................................. 7

1.1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ................................................... 11

1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp .............. 13

1.1.2.1. Vị trí địa lí kết hợp cùng khí hậu, thổ nhưỡng qui định sự có mặt của các hoạt động nông nghiệp ............................................................................. 13

1.1.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên .................................... 13

1.1.2.3. Kinh tế - xã hội .................................................................................. 16

1.1.3. Các tiêu chí đánh giá ................................................................................ 20

1.1.3.1 GDP nông nghiệp và tỉ trọng GDP nông nghiệp so với GDP toàn nền kinh tế .............................................................................................................. 20

1.1.3.2 Giá trị sản xuất (GTSX) nông nghiệp , cơ cấu GTSX phân theo ngành và tốc độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp ...................................................... 21

1.1.3.3 Giá trị được tạo ra trên một ha đất nông nghiệp. ................................ 22

1.1.3.4 Năng suất lao động nông nghiệp ......................................................... 23

1.1.3.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cấp tỉnh......................... 23

1.1.4. Công nghiệp hóa ....................................................................................... 26

1.1.4.1 Khái niệm ............................................................................................ 26

1.1.4.2 Mục tiêu của quá trình CNH ............................................................... 27

1.1.4.3 Tác động của quá trình CNH .............................................................. 27

1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................ 28

1.2.1. Vài nét về phát triển nông nghiệp (nghĩa hẹp) ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 ......................................................................................................... 28

1.2.1.1. Những kết quả đạt được ..................................................................... 28

1.2.1.2. Những tồn tại, hạn chế ....................................................................... 31

1.2.2. Vài nét về phát triển nông nghiệp (nghĩa hẹp) ở ĐBSCL ........................ 32

CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG .................................................... 35

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng: .............. 35

2.1.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ: ................................................................... 35

2.1.1.1 Vị trí địa lí ........................................................................................... 35

2.1.1.2 Phạm vi lãnh thổ ................................................................................. 36

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ............................................ 37

2.1.2.1 Địa hình và đất .................................................................................... 37

2.1.2.2 Khí hậu ................................................................................................ 40

2.1.2.3 Nguồn nước ......................................................................................... 41

2.1.2.4 Sinh vật ............................................................................................... 44

2.1.3 Kinh tế - xã hội: ......................................................................................... 45

2.1.3.1 Dân cư – lao động ............................................................................... 45

2.1.3.2 Khoa học – công nghệ ......................................................................... 48

2.1.3.3 Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kĩ thuật ............................................ 49

2.1.3.4 Thị trường ........................................................................................... 51

2.1.3.5 Vốn ...................................................................................................... 52

2.1.3.6 Hợp tác quốc tế ................................................................................... 53

2.2. Đánh giá chung ............................................................................................... 54

2.3 Thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2000 - 2010 ....................................................................................................................... 57

2.3.1. Khái quát chung ........................................................................................ 57

2.3.1.1. Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế tỉnh Sóc Trăng .................. 57

2.3.1.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp (2000 – 2010) ......................................................................................................................... 59

2.3.2. Các ngành nông nghiệp ............................................................................ 60

2.3.2.1. Trồng trọt: .......................................................................................... 60

2.3.2.2. Chăn nuôi ........................................................................................... 81

2.3.2.3. Dịch vụ nông nghiệp .......................................................................... 86

2.3.3. Đánh giá chung ......................................................................................... 92

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG ............................................................................... 95

3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển .................................................. 95

3.1.1. Quan điểm ................................................................................................ 95

3.1.2. Mục tiêu phát triển ................................................................................... 96

3.1.3. Định hướng phát triển nông nghiệp.......................................................... 97

3.1.3.1. Theo ngành ......................................................................................... 97

3.1.3.2. Theo lãnh thổ ................................................................................... 107

3.2. Các giải pháp chủ yếu ................................................................................... 109

3.2.1 Chính sách phát triển nông nghiệp .......................................................... 109

3.2.2 Củng cố, hoàn thiện CSHT và CSVCKT phục vụ nông nghiệp ............. 110

3.2.3 Đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ: ............................ 112

3.2.4 Quy hoạch, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: ...................................... 113

3.2.5 Tổ chức sản xuất gắn với thị trường: ...................................................... 114

3.2.6 Bảo vệ môi trường bền vững: .................................................................. 116

KẾT LUẬN ............................................................................................................ 117

KIẾN NGHỊ ........................................................................................................... 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 120

DANH MỤC KÍ HIỆU,CHỮ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hóa

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

CSHT : Cơ sở hạ tầng

CSVCKT : Cơ sở vật chất kĩ thuật

: Doanh nghiệp DN

: Địa phương ĐP

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

: Tổng sản phẩm quốc nội GDP

GTSX : Giá trị sản xuất

: Hiện đại hóa HĐH

: Hợp tác xã HTX

HTXNN : Hợp tác xã nông nghiệp

: Chương trình quản lí dịch hại tổng hợp IPM

: Khu vực KV

: Ngân sách NS

ODA : Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

PTNT : Phát triển nông thôn

TW : Trung Ương

& : Và

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích và cơ cấu diện tích gieo trồng ................................................... 29

Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng lúa các tỉnh vùng ĐBSCL năm 2010 ...................... 32

Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Sóc Trăng năm 2010 ..................... 36

Bảng 2.2: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), GDP bình quân đầu người của tỉnh

Sóc Trăng giai đoạn 2000 – 2010 ............................................................ 57

Bảng 2.3: GTSX nông nghiệp và tỉ trọng của nó trong GTSX nông - lâm - thủy sản .

giai đoạn 2000 – 2010.............................................................................. 59

Bảng 2.4: GTSX ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng giai đoạn 2000 – 2010

(giá so sánh 1994, tỉ đồng) ....................................................................... 61

Bảng 2.5: Diện tích các loại cây trồng tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010) ..................... 62

Bảng 2.6: Diện tích, sản lượng và sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người

giai đoạn 2000 - 2010 ............................................................................. 63

Bảng 2.7: Diện tích và sản lượng lúa tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010) ...................... 65

Bảng 2.8: Diện tích và sản lượng lúa phân bố theo huyện thị (2000 – 2010) ......... 66

Bảng 2.9: Diện tích và sản lượng rau đậu tỉnh Sóc Trăng ....................................... 69

Bảng 2.10: Diện tích và sản lượng rau các loại phân theo huyện thị (2000 – 2010) 71

Bảng 2.11: Diện tích và sản lượng đậu các loại phân theo huyện thị (2000 – 2010) 73

Bảng 2.12: Diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm thời kì

2000 – 2010 ............................................................................................. 75

Bảng 2.13: Diện tích và sản lượng mía phân theo huyện thị ................................... 76

Bảng 2.14: Diện tích và sản lượng dừa tỉnh Sóc Trăng ............................................ 78

Bảng 2.15: Diện tích và sản lượng một số cây ăn quả thời kì 2000 – 2010 ............. 80

Bảng 2.16: Số lượng trâu phân theo huyện thị .......................................................... 82

Bảng 2.17: Số lượng bò phân theo huyện thị (Đơn vị:nghìn con) ............................ 83

Bảng 2.18: Số lượng lợn phân theo huyện thị (Đơn vị:nghìn con) ........................... 84

Bảng 2.19: Số lượng gia cầm phân theo huyện thị (Đơn vị: nghìn con) .................. 85

Bảng 3.1 : Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020 ......................... 106

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Sóc Trăng năm 2010 (%) ................................... 39

Hình 2.2: Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế giai đoạn

2005 – 2010 (%) ......................................................................................... 47

Hình 2.3: Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 (%) ........... 58

Hình 2.4: Cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành giai đoạn 2000 – 2010 (%) ........ 60

Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện diện tích cây công nghiệp tỉnh Sóc Trăng .................... 74

1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài:

Việt Nam là nước nông nghiệp, đang phấn đấu đến năm 2020 cơ bản là nước

công nghiệp theo hướng hiện đại. Trước tình hình thế giới đầy biến động, nông

nghiệp Việt Nam đã có những đóng góp tích cực vào việc ổn định kinh tế xã hội

(KT – XH) như: giải quyết việc làm cho người lao động, kiềm chế lạm phát, đảm

bảo an ninh lương thực, góp phần quan trọng vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả

nước…

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lương thực thực phẩm

lớn nhất cả nước đã, đang và sẽ có những đóng góp đáng kể cho sản xuất nông

nghiệp cả nước. Sóc Trăng là 1 trong 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL, có

bình quân đất nông nghiệp trên đầu người khá cao, khí hậu ôn hòa, nguồn nước mặt

khá dồi dào, không bị ngập lũ, có 72 km giáp biển, điều kiện giao thương trong và

ngoài tỉnh thuận tiện. Đây là những tiền đề quan trọng cho phát triển nền nông

nghiệp đa dạng có lợi thế cạnh tranh cao. Thực tế nông nghiệp Sóc Trăng trong

những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến và đạt được những thành tựu đáng kể.

Năm 2010 giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) đạt 5033,3 tỉ

đồng, chiếm 8,1% vùng ĐBSCL, đứng thứ 6/13 tỉnh ĐBSCL và thứ 12/63 tỉnh,

thành phố cả nước; sản lượng lương thực có hạt đạt 1953,3 nghìn tấn đứng thứ 5

vùng ĐBSCL và cũng thứ 5 cả nước; bình quân lương thực có hạt: 1501,6 kg/người,

cao gấp 1,2 lần mức trung bình toàn vùng ĐBSCL và cao gấp 2,9 lần mức trung

bình cả nước. Tuy nhiên, nền nông nghiệp của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, chưa

tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và mong

muốn nền nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng phát triển bền vững, đóng góp nhiều hơn nữa

cho nông nghiệp cả nước, tôi chọn đề tài “Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trong thời kì công nghiệp hóa ”.

2

2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài:

2.1. Mục tiêu:

Trên cơ sở tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn, phương pháp luận và

phương pháp nghiên cứu về địa lí nông nghiệp, đề tài nhằm đánh giá các điều kiện

cho phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn 2000 – 2010

từ đó đề ra một số giải pháp khả thi cho nền nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng phát triển

bền vững và đạt hiệu quả cao.

2.2. Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

 Đúc kết có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về địa lí nông nghiệp,

làm cơ sở vận dụng vào địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

 Đánh giá các nhân tố (tự nhiên, KT - XH) đến sự phát triển và phân bố nông

nghiệp tỉnh Sóc Trăng.

 Phân tích thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai

đoạn 2000 – 2010.

 Đề xuất một số giải pháp góp phần đưa nền nông nghiệp Sóc Trăng phát

triển có hiệu quả và bền vững.

2.3. Giới hạn:

 Về nội dung

Do hạn chế về nguồn tư liệu cũng như điều kiện nghiên cứu nên đề tài tập

trung nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng theo nghĩa hẹp, bao gồm

trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.

 Về thời gian

Phạm vi thời gian nghiên cứu nông nghiệp Sóc Trăng trong thời kì công

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nghiệp hóa là từ năm 2000 đến 2010 nên tác giả sử dụng cụm từ “giai đoạn 2000 –

3

2010” thay cho cụm từ “ thời kì công nghiệp hóa” nhằm cụ thể hóa thời gian và

định hướng đến năm 2020.

 Về phương diện lãnh thổ: đề tài nghiên cứu sự phát triển và phân bố nông

nghiệp trên 1 thành phố, 10 huyện của tỉnh Sóc Trăng, có chú ý so sánh với các tỉnh

lân cận và vùng ĐBSCL.

3. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:

Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại vì

vậy là một trong những lĩnh vực quan trọng và được các nhà khoa học trên thế giới

cũng như Việt Nam nghiên cứu rất nhiều. Ở Việt Nam, dưới góc độ địa lí có thể kể

đến những giáo trình đã được giảng dạy ở khoa Địa lí các trường ĐHSP như:

 Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội đại cương – PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ (chủ

biên), GS.TS. Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS. Lê Thông, NXB ĐHSP Hà Nội 2005,

trong đó có dành 1 chương phân tích về vai trò, đặc điểm, tình hình sản xuất và

phân bố nông nghiệp trên thế giới.

 Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam – GS.TS. Lê Thông (chủ biên),

PGS.TS. Nguyễn Văn Phú, PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ, NXB ĐHSP 2011 (tái bản

lần thứ 4 có bổ sung, chỉnh lí) và giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam – GS.TS.

Nguyễn Viết Thịnh (chủ biên), NXB Giáo dục 2001. Trong 2 giáo trình này các tác

giả cũng dành 1 chương phân tích về Địa lí nông nghiệp Việt Nam, các ngành trồng

trọt, chăn nuôi.

 Cuốn sách Việt Nam, các tỉnh và thành phố Việt Nam – GS.TS. Lê Thông

(chủ biên), NXB Giáo dục Việt Nam năm 2011 Trong nghiên cứu về nông nghiệp

Sóc Trăng có phân tích nền nông nghiệp của tỉnh.

 Ngoài ra còn có các giáo trình khác nữa bàn về nông nghiệp (theo cả nghĩa

rộng lẫn nghĩa hẹp) tiêu biểu như: Giáo trình Kinh tế nông nghiệp – GS.TS. Nguyễn

Thế Nhã, PGS.TS. Vũ Đình Thắng, trong đó trình bày những vấn đề lí luận, phương

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

pháp luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp.

4

 Cuốn Nông nghiệp nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau –

Đặng Kim Sơn hay Một số vấn đề đặt ra sau 30 năm phát triển nông nghiệp ở Đồng

bằng sông Cửu Long – Nguyễn Sinh Cúc…, trong đó các tác giả đã nghiên cứu sự

phân bố địa lí của sản xuất nông nghiệp, các điều kiện và đặc điểm phát triển nông

nghiệp nói chung giúp học viên có được những quan điểm, nhận thức về lý luận và

nhiều tài liệu cần thiết để kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn.

Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về

phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng.

4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu:

4.1. Quan điểm:

 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: đây là quan điểm có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng trong nghiên cứu địa lí nói chung địa lí nông nghiệp nói riêng. Quan điểm này

được vận dụng trong quá trình nghiên cứu để phân tích các mối quan hệ tổng hợp

giữa điều kiện tự nhiên với điều kiện KT - XH, phân tích cơ cấu nông nghiệp và

nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ giữa chúng. Bên cạnh đó, quan điểm này còn được

sử dụng nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ nông nghiệp nhằm phát hiện các mối quan

hệ đa chiều giữa các bộ phận kinh tế nông nghiệp với nhau và giữa chúng với điều

kiện sinh thái. Nghiên cứu sự khác biệt lãnh thổ nông nghiệp, tìm ra thế mạnh của

từng vùng sản xuất nông nghiệp ở Sóc Trăng để từ đó có kế hoạch bố trí, phân vùng

sản xuất nông nghiệp một cách hợp lí và hiệu quả.

 Quan điểm lịch sử viễn cảnh: theo quan điểm lịch sử thì mỗi đối tượng địa

lí đều tồn tại trong một thời gian nhất định, chúng có quá trình phát sinh, phát triển

và suy vong. Vận dụng quan điểm này nghiên cứu quá trình phát triển nông nghiệp

tỉnh Sóc Trăng tôi sẽ có cái nhìn tổng quan về lịch sử phát triển nông nghiệp của

tỉnh trong khoảng thời gian nhất định để có những nhận định, phân tích về tình hình

phát triển và phân bố sản xuất nông nghiệp hiện tại, dự báo và đưa ra một số giải

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

pháp cho tương lai.

5

 Quan điểm hệ thống: sử dụng quan điểm hệ thống trong quá trình nghiên

cứu địa lí KT - XH nói chung, nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng nói riêng là điều cần

thiết vì mỗi đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống. Tỉnh Sóc Trăng là một

hệ thống KT - XH nhỏ trong hệ thống KT - XH vùng ĐBSCL và trong cả nước.

Theo quan điểm này, trong hệ thống KT - XH tỉnh Sóc Trăng có các phân hệ nhỏ

hơn: hệ thống các ngành kinh tế, hệ thống dân cư, xã hội…chúng luôn có mối quan

hệ với nhau chỉ cần một thay đổi nhỏ của một phân hệ cũng có thể dẫn đến sự thay

đổi của cả hệ thống. Vì vậy khi nghiên cứu đề tài cần lưu ý đến tính hệ thống của

đối tượng.

 Quan điểm phát triển bền vững: đối với việc nghiên cứu “Phát triển nông

nghiệp tỉnh Sóc Trăng thời kì công nghiệp hóa ” thì quan điểm phát triển bền

vững được xem như mục tiêu của quá trình nghiên cứu.

 Quan điểm kinh tế: trong nghiên cứu địa lí KT - XH quan điểm kinh tế

được coi trọng là lẽ tự nhiên bởi lẽ phát triển kinh tế phải gắn liền với lợi nhuận.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng cũng không ngoài mục đích đó tuy nhiên

cũng cần tránh xu hướng bất chấp tất cả để có được lợi ích kinh tế vì điều này trái

ngược với quan điểm phát triển bền vững.

4.2. Phương pháp nghiên cứu:

 Phương pháp thu thập tài liệu: phương pháp thu thập tài liệu là phương

pháp truyền thống được sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu địa

lí KT - XH nói riêng. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và phân bố nông

nghiệp theo khía cạnh ngành và lãnh thổ là việc làm phức tạp liên quan đến nhiều

ngành, nhiều lĩnh vực. Trong quá trình thực hiện luận văn tôi sẽ tiến hành thu thập

tư liệu, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau gồm các tài liệu đã xuất bản, tài liệu của

các cơ quan lưu trữ (Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng, Ủy ban nhân nhân tỉnh Sóc

Trăng, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng,…) và tài liệu từ các trang

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

web,… để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình.

6

 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: sau khi thu thập tài liệu, tôi sẽ

tiến hành xử lí nguồn tài liệu thu thập cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu bằng

phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,…

 Phương pháp chuyên gia: bằng cách trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của

các thầy giáo, các nhà khoa học, các cán bộ làm trong các Sở, ban ngành có liên

quan để hiểu rõ hơn về những thuật ngữ chuyên môn trong nông nghiệp, cách xử lý

các số liệu và hiện trạng của ngành nông nghiệp trong những năm qua…

 Phương pháp khai thác thông tin, tranh ảnh, bản đồ trên internet sẽ giúp

ích rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, nhằm làm cho đề tài đảm bảo được tính

trực quan và cập nhật được những thông tin mới nhất.

 Phương pháp bản đồ - GIS: đây là phương pháp không thể thiếu trong các

đề tài nghiên cứu địa lí nói chung và địa lí kinh tế - xã hội nói riêng. Bản đồ là

phương tiện hữu hiệu trong việc nghiên cứu đánh giá các nguồn lực, phân tích hiện

trạng phát triển và phân bố nông nghiệp theo không gian và thời gian.

5. Cấu trúc luận văn:

Đề tài: “Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp

hóa ” ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm có 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về Địa lí nông nghiệp

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh

Sóc Trăng.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng

7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

ĐỊA LÍ NÔNG NGHIỆP

1.1. Cơ sở lí luận

1.1.1. Quan niệm, vai trò và đặc điểm của nông nghiệp

1.1.1.1 Quan niệm

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con

người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm

như lương thực, thực phẩm,… và các dịch vụ nông nghiệp.

Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp.

1.1.1.2 Vai trò:

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc

phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những

nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những

nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không

nhiều, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng

lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó

là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công

nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương

thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của

con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Vai trò to lớn của nông nghiệp được thể hiện ở các điểm sau:

 Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu cơ bản của con

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

người

8

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất cả xã hội loài

người. Từ khi ra đời đến nay, cùng với tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nông nghiệp

ngày càng được mở rộng, các giống cây trồng vật nuôi ngày càng đa dạng phong

phú . Các Mác đã khẳng định con người trước hết phải có ăn rồi sau đó mới nói đến

các hoạt động khác. Ông đã chỉ rõ: nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt

cho con người…và việc sản xuất ra tư liệu sinh hoạt là điều kiện đầu tiên cho sự

sống của họ và của mọi lĩnh vực sản xuất nói chung. Điều này khẳng định vai trò

đặc biệt quan trọng của nông nghiệp trong việc nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo

an ninh lương thực quốc gia cũng như ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Thực

tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh kinh tế chỉ có thể phát triển

một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực. Nếu không

đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ

sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không

yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn.

 Nông nghiệp là một trong những ngành quan trọng cung cấp nguyên liệu cho

công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho dân cư

Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các ngành công

nghiệp chế biến như: chế biến thực phẩm, đồ uống, công nghiệp dệt, da và đồ dùng

bằng da… Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng

lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị

trường ...Vì thế trong một chừng mực nhất định, nông nghiệp có ảnh hưởng đến sự

phát triển và phân bố các ngành công nghiệp chế biến.

 Nông nghiệp và nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm hàng hóa

của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Ở hầu hết các nước đang phát triển các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp

hay dịch vụ được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là

khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp,

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát

9

triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng

sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc

đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng có thể cạnh tranh với thị

trường thế giới.

 Nông nghiệp là ngành cung cấp khối lượng hàng hóa lớn để xuất khẩu mang lại

nguồn ngoại tệ cho đất nước

Quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) ở các nước đang phát

triển đặt ra nhu cầu lớn về ngoại tệ để có thể nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây

chuyền công nghệ… Một phần nhu cầu ngoại tệ đó có thể đáp ứng được thông qua

hoạt động xuất khẩu nông sản. Các sản phẩm nông – lâm – thuỷ hải sản thô hoặc đã

qua chế biến trở thành thế mạnh của các nước đang phát triển trong việc tham gia

vào quá trình phân công lao động quốc tế. Thí dụ ở Việt Nam, năm 2010, trong tổng

giá trị kim ngạch xuất khẩu gần 71,2 tỉ USD thì hàng nông sản chiếm 15,5% (nếu

kể cả thủy sản và lâm sản là 23,3%)

 Nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ công nghiệp, đô thị và các

lĩnh vực hoạt động xã hội khác

Trong giai đoạn đầu của CNH, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập

trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự là

nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình

nông nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác đó

mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ

nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ

sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính qui luật trong

phân công lại lao động xã hội của mọi quốc gia trong quá trình CNH, hiện đại hoá

đất nước. Tuy nhiên, khả năng di chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành

kinh tế khác còn phụ thuộc vào việc nâng cao năng suất lao động trong nông

nghiệp, vào việc phát triển công nghiệp và dịch vụ ở thành thị và cả việc nâng cao

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

chất lượng nguồn lao động ở nông thôn.

10

 Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế

trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của CNH, bởi vì đây là khu vực lớn

nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể

được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động

phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản v.v...

trong đó thuế có vị trí rất quan trọng “Kuznets cho rằng gánh nặng của thuế mà

nông nghiệp phải chịu là cao hơn nhiều so với dịch vụ Nhà nước cung cấp cho công

nghiệp”. Việc huy động vốn từ nông nghiệp để đầu tư phát triển công nghiệp là cần

thiết và đúng đắn trên cơ sở việc thực hiện bằng cơ chế thị trường, chứ không phải

bằng sự áp đặt của Chính phủ. Những điển hình về sự thành công của sự phát triển

ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho nông nghiệp.

Tuy nhiên vốn tích luỹ từ nông nghiệp chỉ là một trong những nguồn cần thiết phát

huy, phải coi trọng các nguồn vốn khác nữa để khai thác hợp lý, đừng quá cường

điệu vai trò tích luỹ vốn từ nông nghiệp.

 Nông nghiệp trực tiếp tham gia vào việc giữ gìn cân bằng sinh thái, bảo vệ tài

nguyên thiên nhiên và môi trường

Quá trình phát triển nông nghiệp gắn liền với việc thường xuyên sử dụng đất

đai, nguồn nước, các loại hóa chất…đều có ảnh hưởng đến môi trường. Vì thế,

trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp

để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường. Việc bảo vệ nguồn tài

nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái còn là điều kiện để sản xuất nông nghiệp

phát triển và đạt hiệu quả cao.

Tóm lại, từ quá khứ đến hiện tại cũng như sau này, nông nghiệp luôn có vị trí

quan trọng trong nền kinh tế. Tại các nước đang phát triển như nước ta, nông nghiệp

là ngành có liên quan trực tiếp đế việc làm, thu nhập và đời sống của đại đa số dân

cư. Vì vậy, nông nghiệp có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự ổn định kinh tế và

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

chính trị - xã hội.

11

1.1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

 Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt

Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung

kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao thông,… đất đai là cơ sở

làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao

thông,… để con người điều khiển các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động.

Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ

yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người

không thể tăng thêm, theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa

có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả

mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình

sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất

nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất

làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn

vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm.

 Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, cơ thể sống

Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh

trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự

thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt

vọng. Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời

tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết

quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản

xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp

sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản

xuất sau. Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường

xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai

tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

kiện từng vùng và từng địa phương.

12

 Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ

Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao. Đây là một trong những nét có tính

đặc thù và điển hình của sản xuất nông nghiệp vì:

Thời gian lao động không trùng với thời gian sản xuất. Đặc điểm này xuất

phát từ chỗ cây trồng và vật nuôi là các sinh vật sống nên chúng có khả năng sinh

trưởng và phát triển, con người chỉ tác động vào những giai đoạn nhất định nào đó

mà thôi. Vì vậy trong nông nghiệp nhu cầu về lao động có thời gian cần nhiều có

thời gian cần ít, thậm chí có thời gian không cần lao động. Việc sử dụng lao động

và các tư liệu sản xuất không giống nhau trong suốt chu kì sản xuất là một trong các

hình thức biểu hiện của tính thời vụ.

Do sự biến đổi thời tiết, khí hậu và mỗi loại cây trồng vật nuôi có sự thích ứng

nhất định với điều kiện đó dẫn đến sản phẩm nông nghiệp mang tính thời vụ rất rõ

rệt ở các vùng lãnh thổ khác nhau. Vào mùa thu hoạch sản phẩm đó trở nên dư thừa

nhưng ngược lại không phải mùa thu hoạch thì sản phẩm đó trỏ nên rất hiếm.

Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xóa bỏ được, trong quá

trình sản xuất chỉ tìm cách thích nghi với nó. Do vậy cần áp dụng các biện pháp làm

giảm tính thời vụ như: thâm canh, tăng vụ, xen canh, luân canh, chuyên môn hóa

kết hợp với kinh doanh tổng hợp, sử dụng máy móc đa năng,… trong sản xuất nông

nghiệp.

 Nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên

Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nhất là vào đất đai khí

hậu và nguồn nước. Đặc điểm này bắt nguồn từ chỗ đối tượng lao động của nông

nghiệp là cây trồng và vật nuôi. Chúng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có

đủ 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất

dưỡng chất trong đó yếu tố này không thể thay thế yếu tố kia. Các yếu tố trên kết

hợp và cùng tác động với nhau trong một thể thống nhất. Chỉ cần thay đổi một yếu

tố là có hàng loạt các kết hợp khác nhau và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nông

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nghiệp.

13

1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp

1.1.2.1. Vị trí địa lí kết hợp cùng khí hậu, thổ nhưỡng qui định sự có mặt của các

hoạt động nông nghiệp

Vị trí địa lí của lãnh thổ với đất liền, với biển, với các quốc gia trong khu vực

và nằm trong một đới tự nhiên nhất định sẽ có ảnh hưởng tới phương hướng sản

xuất, tới việc trao đổi và phân công lao động trong nông nghiệp.

Thí dụ, vị trí của Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa đã qui định

nền nông nghiệp nước ta là một nền nông nghiệp nhiệt đới với các sản phẩm đặc

trưng là lúa gạo, cà phê, cao su, điều,... Các nông sản trao đổi trên thị trường thế

giới tất nhiên chủ yếu là sản phẩm của nền nông nghiệp nhiệt đới.

1.1.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Từ những đặc điểm đặc thù của sản xuất nông nghiệp, có thể thấy rằng sự phát

triển và phân bố của ngành này tuỳ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên

thiên nhiên. Sự phân đới nông nghiệp trên thế giới phụ thuộc vào sự phân đới tự

nhiên. Sự tồn tại của các nền nông nghiệp gắn liền với các đặc trưng của từng đới tự

nhiên. Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp, trong việc sử dụng lao động và các

nguồn lực khác, trong việc trao đổi sản phẩm cũng chịu sự tác động của điều kiện tự

nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Tính bấp bênh, không ổn định của nông nghiệp

phần nhiều là do tai biến thiên nhiên và thời tiết khắc nghiệt. Mỗi loại cây trồng, vật

nuôi chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định.

Rõ ràng, các nhân tố tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó nổi lên hàng

đầu là đất, nước và khí hậu.

- Đất đai

Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu, là cơ sở để tiến hành trồng trọt và chăn

nuôi. Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai. Quĩ đất, cơ cấu sử

dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng rất lớn đến qui mô và phương

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

hướng sản xuất, cơ cấu và sự phân bố cây trồng, vật nuôi, mức độ thâm canh và

14

năng suất cây trồng. Đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nơi cung cấp

các chất dinh dưỡng cho cây trồng (các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca,

Mg... và các nguyên tố vi lượng).

Những vùng đất màu mỡ, phì nhiêu trên thế giới đều là những vùng nông

nghiệp trù phú. Chẳng hạn những vùng đất đen có tầng mùn dày, độ phì cao ở

những vùng ôn đới của châu Âu, Bắc Mỹ trở thành vựa lúa mỳ lớn trên thế giới.

Những kho lúa gạo của nhân loại thuộc về các vùng phù sa châu thổ sông Mê Công,

Trường Giang, sông Hằng, sông Hồng của châu Á gió mùa.

Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với việc phát triển và phân

bố nông nghiệp như đất nào cây ấy, tấc đất tấc vàng.

Tài nguyên đất nông nghiệp rất hạn chế, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên của

toàn thế giới. Ở nước ta tương ứng là 28,5% với 9,3 triệu ha. Xu hướng bình quân

diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ngày một giảm do gia tăng dân số, do xói

mòn, rửa trôi, do hoang mạc hoá và chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất công

nghiệp, đất đô thị và đất cho cơ sở hạ tầng. Vì vậy con người cần phải sử dụng hợp

lí diện tích đất nông nghiệp hiện có, duy trì và nâng cao độ phì cho đất.

- Khí hậu

Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, chế độ gió và cả

những bất thường của thời tiết như bão, lũ lụt, hạn hán, gió nóng… có ảnh hưởng

rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khả năng xen

canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Tính mùa của khí hậu quy định

tính mùa trong sản xuất và cả trong tiêu thụ sản phẩm.

Mỗi loại cây trồng, vật nuôi chỉ thích hợp với những điều kiện khí hậu nhất

định (nghĩa là trong điều kiện đó cây trồng, vật nuôi mới có thể phát triển bình

thường). Vượt quá giới hạn cho phép, chúng sẽ chậm phát triển, thậm chí bị chết.

Ví dụ, cây lúa ưa khí hậu nóng, ẩm, nhiệt độ trung bình tháng từ 20°C đến 30°C.

Nhiệt độ thấp nhất vào đầu thời kỳ sinh trưởng không xuống dưới 12°C. Trong quá

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trình sinh trưởng, cây lúa cần có nước ngập chân.

15

Những vùng dồi dào về nhiệt, ẩm và lượng mưa, về thời gian chiếu sáng và

cường độ bức xạ có thể cho phép trồng nhiều vụ trong năm với cơ cấu cây trồng,

vật nuôi phong phú, đa dạng, có khả năng xen canh gối vụ, chẳng hạn như vùng

nhiệt đới. Còn như vùng ôn đới, với một mùa đông tuyết phủ nên có ít vụ trong

năm. Trên thế giới, sự hình thành 5 đới trồng trọt chính (đới nhiệt đới, đới cận nhiệt,

đới ôn hoà có mùa hè dài và nóng, đới ôn hoà có mùa hè mát và ẩm và đới cận cực)

phụ thuộc rõ nét vào sự phân đới khí hậu.

- Nguồn nước

Muốn duy trì hoạt động nông nghiệp cần phải có đầy đủ nguồn nước ngọt cho

cây trồng, nước uống, nước tắm rửa cho gia súc. Nước đối với sản xuất nông nghiệp

là rất cần thiết như ông cha ta đã khẳng định “Nhất nước, nhì phân”.

Nước có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi và

hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Những nơi có nguồn cung cấp nước dồi dào, thường

xuyên đều là những vùng nông nghiệp trù phù, chẳng hạn như vùng hạ lưu các con

sông lớn như Mêkông, Hoàng Hà… Ngược lại, nông nghiệp không thể phát triển

được ở những nơi khan hiếm nước như các vùng hoang mạc, bán hoang mạc…

Do ảnh hưởng của khí hậu và địa hình, nên nguồn nước trên thế giới phân bố không

đều và thay đổi theo mùa. Ở nước ta, mùa mưa lượng nước tập trung quá lớn, làm

dư thừa nước, còn mùa khô, ngược lại rất khan hiếm nước. Điều đó gây ra nhiều

khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Để khắc phục tình trạng thiếu nước trong mùa

khô và quá dư thừa nước trong mùa mưa, người ta đã xây dựng các công trình thuỷ

lợi, hồ chứa nước… để phục vụ tưới tiêu một cách chủ động. Sự suy giảm nguồn

nước ngọt cạn kiệt là một nguy cơ đe dọa sự tồn tại và phát triển nông nghiệp nói

riêng và nền kinh tế nói chung. Vì vậy, chúng ta cần phải sử dụng hợp lí, tiết kiệm

và bảo vệ nguồn nước.

- Sinh vật

Sinh vật trong tự nhiên xưa kia là cơ sở để thuần dưỡng, tạo nên các giống cây

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trồng, vật nuôi. Sự đa dạng về thảm thực vật và hệ động vật, hay nói cách khác về

16

loài cây, con là tiền đề hình thành và phát triển các giống vật nuôi, cây trồng và tạo

khả năng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh

thái. Trên thế giới, sản lượng lương thực (lúa, ngô, khoai...) và các cây công nghiệp

quan trọng (cao su, cà phê, ca cao, bông, đay, dầu cọ, lạc…) tập trung ở vùng nhiệt

đới vì tại đây đã có tới 6 trên 10 trung tâm phát sinh cây trồng.

Các diện tích đồng cỏ, bãi chăn thả và diện tích mặt nước tự nhiên là cơ sở

thức ăn tự nhiên để phát triển ngành chăn nuôi. Ngày nay, mặc dù ngành chăn nuôi

được đẩy mạnh nhờ ứng dụng phương pháp chăn nuôi công nghiệp dựa trên nguồn

thức ăn được chế biến theo phương pháp công nghiệp, nhưng nguồn thức ăn tự

nhiên vẫn còn vai trò quan trọng.

Có thể nói, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Đất, khí hậu,

nước với tư cách là tài nguyên nông nghiệp quyết định khả năng (tự nhiên) nuôi

trồng các loại cây, con cụ thể trong từng lãnh thổ và khả năng áp dụng các quy trình

kĩ thuật để sản xuất ra sản phẩm.

1.1.2.3. Kinh tế - xã hội

 Dân cư, nguồn lao động

Dân cư và lao động ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp dưới hai góc độ: là

lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn tiêu thụ các nông sản.

+ Dưới góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp để tạo ra các sản phẩm nông

nghiệp, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển theo chiều rộng

(mở rộng diện tích, khai hoang…) và theo chiều sâu (thâm canh, tăng vụ…). Các

cây trồng, vật nuôi đòi hỏi nhiều công chăm sóc thường được phân bố ở các vùng

đông dân, nhiều lao động. Không phải ngẫu nhiên, vùng lúa gạo được thâm canh

cao nhất của nước ta lại xuất hiện ở đồng bằng sông Hồng. Các cây trồng, vật nuôi

tốn ít công chăm sóc hơn có thể phân bố ở các vùng thưa dân.

Nguồn lao động không chỉ được xem xét về mặt số lượng, mà còn cả về mặt

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

chất lượng, như trình độ học vấn, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp, tình

17

trạng thể lực của người lao động... Nếu nguồn lao động đông và tăng nhanh, trình

độ học vấn và tay nghề thấp, thiếu việc làm sẽ trở thành gánh nặng cho nông nghiệp

nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.

+ Dưới góc độ là nguồn tiêu thụ, cần quan tâm đến truyền thống, tập quán ăn

uống, quy mô dân số với khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm.

Chăn nuôi lợn ở các nước Nam Á và Trung Đông không phát triển, thậm chí

không có như ở Bănglađet và Pakixtan do các quốc gia Hồi giáo không ăn thịt lợn.

Ở Ấn Độ, một nước đa dân tộc và tôn giáo, ngành chăn nuôi lợn và bò cũng bị ảnh

hưởng bởi tập quán kiêng ăn thịt bò của đạo Hinđu và không ăn thịt lợn của tín đồ

Hồi giáo.

Ở các nước đang phát triển thuộc khu vực Á- Phi, dân số đông và tăng nhanh.

Trong cơ cấu nông nghiệp luôn có sự mất cân đối. Tỷ trọng chăn nuôi rất nhỏ bé so

với trồng trọt, vì lương thực sản xuất ra chủ yếu để dành cho người.

 Khoa học – công nghệ

Khoa học - công nghệ đã thực sự trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng và

phát triển nông nghiệp. Nhờ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, con người

hạn chế được những ảnh hưởng của tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt động nông

nghiệp, tạo ra nhiều giống cây, con mới cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tạo

điều kiện hình thành các vùng chuyên canh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH.

Các biện pháp kỹ thuật như điện khí hoá (sử dụng điện trong nông nghiệp và

nông thôn), cơ giới hoá (sử dụng máy móc trong các khâu làm đất, chăm sóc và thu

hoạch), thủy lợi hoá (xây dựng hệ thống kênh tưới tiêu hoặc áp dụng tưới tiêu theo

khoa học), hoá học hoá (sử dụng rộng rãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, các

chất kích thích cây trồng, vật nuôi), sinh học hoá (áp dụng công nghệ sinh học như

lai giống, biến đổi gien, cấy mô…) nếu được áp dụng rộng rãi thì năng suất trên một

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

đơn vị diện tích và của một người lao động sẽ thực sự được nâng cao.

18

Trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn về năng suất lao động. Ở các nước phát

triển, bình quân một lao động nông nghiệp có thể sản xuất từ 8 đến 14 tấn lương

thực, từ 1,5 đến 2,0 tấn thịt các loại, đủ nuôi sống cho 30 đến 80 người, trong khi đó

ở các nước đang phát triển tương ứng chỉ là 1 tấn lương thực, 50 - 100 kg thịt, đủ

cho nhu cầu 2 - 4 người. Rõ ràng việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất

nông nghiệp ở các nước đang phát triển còn rất hạn chế trong khi nông nghiệp là

ngành kinh tế chính của các nước này. Việt Nam cũng là một nước đang phát triển

và nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đáng tự hào của Việt Nam. Việt Nam

trở thành một nước mạnh về xuất khẩu nhiều lĩnh vực trong đó có đóng góp của

nông nghiệp. Bên cạnh các yếu tố như đất, sự sáng tạo, cần cù của người nông dân

thì yếu tố mới về giống, công nghệ, chế biến và bảo quản hết sức quan trọng trong

việc phát triển ngành nông nghiệp... Việt Nam có điều kiện để phát triển nông

nghiệp vì thế phải đặt mục tiêu trong giai đoạn 10 năm tới không chỉ là một nước

mạnh mà còn phải phát triển bền vững về nông nghiệp.

Thực tế nhiều năm qua ngành nông nghiệp cũng khẳng định vai trò của khoa

học công nghệ trong việc đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh

tranh của nền nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào việc đạt được những thành tựu

của ngành trong thời gian vừa qua. Nhiều giống cây trồng vật nuôi mới đã được tạo

ra, nhiều quy trình công nghệ được phát triển và ứng dụng trong sản xuất góp phần

nâng cao năng suất và sản lượng nông sản ở các vùng sinh thái khác nhau. Đáng

chú ý là chất lượng nguyên liệu và nông sản đã từng bước được cải thiện, nâng cao

tính cạnh tranh của nông sản xuất xứ Việt Nam tại thị trường nội địa và quốc tế.

 Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kĩ thuật

Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã tạo ra bước chuyển biến mới trong

ngành nông nghiệp, đã và đang đưa nông nghiệp trở thành ngành sản xuất tiên tiến -

một dạng sản xuất kiểu công nghiệp. Nội dung chủ yếu của cuộc cách mạng này là

đưa nông nghiệp lên giai đoạn đại cơ khí, đẩy mạnh các quá trình liên kết, nâng cao

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

vai trò của khoa học và biến nó thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong nông

19

nghiệp. Áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng và

cơ sở vật chất kĩ thuật hoàn thiện giúp con người hạn chế những ảnh hưởng của

điều kiện tự nhiên, chủ động hơn trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nâng

cao năng suất và sản lượng nông nghiệp.

 Thị trường

Trong nền kinh tế hàng hóa, thị trường tiêu thụ là yếu tố cơ bản tác động đến

cơ cấu, quy mô và giá trị của sản phẩm nông nghiệp, có tác dụng thúc đẩy nông

nghiệp phát triển và ngược lại. Nhu cầu của thị trường quyết định hướng sản xuất

nông nghiệp. Mọi biến động trên thị trường đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực

đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Thị trường cũng có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và phát triển vùng

chuyên môn hóa nông nghiệp. Ở các nước trên thế giới, xung quanh các thành phố

trung tâm công nghiệp lớn đều hình thành vành đai nông nghiệp ngoại thành mà

hướng chuyên môn hóa là sản xuất rau xanh, thịt, sữa, trứng, dù rằng có thể điều

kiện tự nhiên không thật thuận lợi. Điều đó chỉ có thể lí giải được bằng nhân tố thị

trường tiêu thụ.

 Vốn

Nguồn vốn có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển và phân bố nông

nghiệp, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Nguồn vốn tăng

nhanh, được phân bố và sử dụng một cách có hiệu quả sẽ tác động đến tăng trưởng

và mở rộng sản xuất, đáp ứng các chương trình phát triển nông nghiệp (như nuôi

trồng thuỷ sản, đánh bắt xa bờ), đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào nông

nghiệp…

 Chính sách

Quan hệ sở hữu và chính sách nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới con

đường phát triển và các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp. Chính sách khoán

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

10 ở Việt Nam từ năm 1988 là một thí dụ sinh động. Hộ nông dân được coi là một

20

đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để phát triển sản

xuất, được tự do trao đổi hàng hoá, mua bán vật tư. Kinh tế hộ nông dân đã tạo đà

cho việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng sẵn có, sản xuất nông nghiệp nước ta

tăng lên rõ rệt. Có thể nói chính sách khoán hộ đã tạo động lực cho tăng trưởng

nông nghiệp trong những năm 90 của thế kỉ XX.

Ngoài ra các chương trình giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân đã thúc đẩy

nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ.

 Bối cảnh trong nước và khu vực: không chỉ thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp

và giá cả nông sản mà còn có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành phát triển các

vùng nông nghiệp chuên môn hóa.

1.1.3. Các tiêu chí đánh giá

Việc lựa chọn các chỉ tiêu trong nghiên cứu kinh tế - xã hội là một vấn đề rất

quan trọng nhằm đưa ra những căn cứ để đánh giá một cách sát thực nhất vấn đề

nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp và mang tính khả thi cao.

Trong đánh giá phát triển nông nghiệp (theo nghĩa rộng), các nhà kinh tế

thường dựa vào các chỉ tiêu chủ yếu sau:

1.1.3.1 GDP nông nghiệp và tỉ trọng GDP nông nghiệp so với GDP toàn nền kinh

tế

Chỉ tiêu này phản ánh vị trí của ngành nông nghiệp trong cơ cấu toàn bộ nền

kinh tế của một vùng, quốc gia hay khu vực, đồng thời cũng là thước đo để đánh giá

trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với các nước đang phát triển có

điểm xuất phát thấp, nền kinh tế dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, tỉ trọng

của nông nghiệp thường chiếm từ 20% – 30% GDP. Trong khi đó, ở các nước phát

triển, nông nghiệp chỉ chiếm từ 1% – 7%. Hay ở Việt Nam , GDP nông - lâm - thủy

sản chiếm 20,6% năm 2010, riêng nông nghiệp chiếm trên 2/3.

Theo xu hướng phát triển hiện nay sẽ có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

tỉ trọng của ngành nông nghiệp, tăng tỉ trọng của công nghiệp và dịch vụ. Nông

21

nghiệp sẽ ngày càng chiếm một tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế, song quy mô giá

trị sản xuất vẫn không ngừng tăng lên nhờ việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KHKT

vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

1.1.3.2 Giá trị sản xuất (GTSX) nông nghiệp , cơ cấu GTSX phân theo ngành và tốc

độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp

- Giá trị sản xuất nông nghiệp là tổng giá trị sản xuất và dịch vụ nông nghiệp

được tạo ra trên một đơn vị lãnh thổ, trong một thời kì nhất định, thường là 1 năm.

GTSX nông nghiệp được tính theo giá thực tế và giá so sánh năm 1994.

- Cơ cấu GTSX nông nghiệp: được hiểu là tương quan về GTSX giữa các bộ

phận (trồng trọt – chăn nuôi – dịch vụ) trong tổng thể hoạt động kinh tế nông

nghiệp, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại cả về số lượng và chất

lượng giữa các bộ phận đó với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong

những điều kiện KT - XH nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục

tiêu cụ thể.

Cơ cấu GTSX nông nghiệp tùy thuộc vào chiến lược phát triển và điều kiện tự

nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên theo xu hướng chung, cơ cấu

nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của ngành chăn nuôi và dịch vụ

nông nghiệp, giảm tỉ trọng của trồng trọt.

Cơ cấu GTSX trong nội bộ ngành nông nghiệp hiện có sự chuyển dịch theo

hướng:

Trong nông nghiệp, giảm tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng của ngành

chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.Trong nội bộ ngành trồng trọt, chăn nuôi cũng có

sự khác nhau

- Trong trồng trọt: giảm diện tích cây trồng không mang lại hiệu quả kinh tế

cao (như lương thực), tăng diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau đậu, thực

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

phẩm,…

22

- Trong chăn nuôi: đẩy mạnh chăn nuôi lợn, bò (đặc biệt là bò sữa), gia cầm,

giảm số lượng các vật nuôi không mang lại hiệu quả kinh tế cao, rủi ro

Như vậy, chỉ tiêu GTSX và cơ cấu GTSX nông nghiệp phân theo ngành vừa

phản ánh sự tăng lên về sản lượng nông nghiệp vừa thể hiện sự chuyển biến về mặt

chất lượng của sự phát triển nông nghiệp.

Tốc độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp

Tốc độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp là một chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh

mức độ phát triển, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Tốc độ này thường thấp hơn

rất nhiều so với các ngành công nghiệp và dịch vụ, bởi vì: nông nghiệp phụ thuộc

nhiều vào điều kiện tự nhiên, hàm chứa nhiều rủi ro; tiềm năng khai thác từ các yếu

tố tự nhiên (như đất đai, nguồn nước) là có giới hạn; giá trị của các sản phẩm nông

nghiệp thường thấp hơn nhiều so với các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ. Do vậy,

để GTSX nông nghiệp tăng lên được 1% thì khó hơn rất nhiều so với mức tăng 5 –

6% của ngành công nghiệp hay dịch vụ.

Trong tốc độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp

Ngành chăn nuôi có tốc độ tăng trưởng cao hơn ngành trồng trọt và dịch vụ

nông nghiệp

Trong nội bộ ngành trồng trọt thì tốc độ tăng trưởng cao thuộc về nhóm cây

rau đậu, cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả.

1.1.3.3 Giá trị được tạo ra trên một ha đất nông nghiệp.

𝑃

Công thức tính:

𝑆 Trong đó: P: Giá trị sản xuất (triệu đồng)

𝐺 =

S: Diện tích gieo trồng (ha)

G: GTSX/ha đất nông nghiệp (triệu đồng/ha)

Đây là chỉ tiêu cụ thể nhất phản ánh hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, thể

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

hiện khả năng tăng năng suất bằng việc áp dụng các biện pháp KHKT, cải tiến kĩ

23

thuật sản xuất, cải tạo đất. Như đã phân tích ở trên, tiềm năng về diện tích cũng như

độ phì tự nhiên của đất là có hạn, vậy nên, trên cùng một diện tích đất nông nghiệp,

giá trị sản phẩm nông nghiệp được tạo ra càng nhiều khi càng sử dụng có hiệu quả

các biện pháp KHKT, thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất và việc lựa chọn cơ cấu

cây trồng, vật nuôi hợp lí. Chính vì vậy, ở các nước phát triển, tuy diện tích nông

nghiệp không còn nhiều và ngày càng bị thu hẹp nhưng giá trị mà ngành nông

nghiệp tạo ra lại ngày càng tăng, đó chính là kết quả của sự phát triển nền nông

nghiệp hiện đại công nghệ cao.

1.1.3.4 Năng suất lao động nông nghiệp

𝑃

𝐿

Công thức tính:

𝑁 = Trong đó:

P: Giá trị sản xuất nông nghiệp (triệu đồng)

L: Số lao động nông nghiệp (người)

N: Năng suất lao động nông nghiệp (triệu đồng/lao động)

Năng suất lao động nông nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc sử

dụng lao động và khả năng áp dụng KHKT trong sản xuất nông nghiệp. Hoạt động

sản xuất nông nghiệp cần nhiều sức lao động của con người nhưng giá trị tạo ra lại

không cao nên năng suất lao động nông nghiệp thường thấp hơn nhiều so với các

ngành kinh tế khác. Mặt khác, tỉ lệ sử dụng thời gian trong lao động nông nghiệp

cũng thấp hơn so với trong công nghiệp và dịch vụ do tính chất thời vụ của sản xuất

nông nghiệp. Mức độ áp dụng KHKT càng cao thì GTSX được tạo ra trong nông

nghiệp ngày càng tăng trên một số lượng lao động nông nghiệp ngày càng giảm.

1.1.3.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cấp tỉnh

Theo nhà Địa lí Nga K.I.Ivanov: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là

một hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

lãnh thổ dựa trên cơ sở các quy trình kỹ thuật công nghệ hiện đại sử dụng có hiệu

24

quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao

động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất.

Có nhiều hình thức TCLTNN với những đặc trưng khác nhau. Đối với cấp

tỉnh phổ biến nhất có các hình thức TCLTNN là: hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã,

vùng chuyên canh và tiểu vùng nông nghiệp.

 Hộ gia đình (nông hộ)

Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội tự chủ cùng một lúc thực hiện nhiều chức

năng mà ở các đơn vị kinh tế khác không thể có được. Hộ là một tế bào của xã hội

với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết thống, mà mỗi thành viên đều

có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại của gia đình. Hộ

gia đình là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến ở các nước đang phát

triển thuộc châu Á, trong đó có Việt Nam.

Các đặc điểm cơ bản của hộ gia đình: sản xuất chủ yếu nhằm thoả mãn nhu

cầu tiêu dùng của gia đình, ít có quan hệ với thị trường; quy mô đất đai nhỏ bé, biểu

hiện rõ tính chất tiểu nông; quy mô vốn nhỏ, chủ yếu được trích từ tiết kiệm trong

thu nhập ít ỏi của gia đình, mức tích luỹ thấp làm hạn chế khả năng đầu tư tái sản

xuất; kỹ thuật canh tác và công cụ sản xuất lạc hậu, thô sơ, mang nặng tính truyền

thống; chủ yếu sử dụng lao động gia đình.

Hộ gia đình tuy là hình thức TCLTNN ở trình độ thấp, nhưng có vai trò quan

trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đặc biệt, đối với các nước

đang phát triển, hộ gia đình là đơn vị cơ sở trong việc bảo tồn xã hội, phát triển kinh

tế nông thôn, và đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại, thúc đẩy nông thôn quá độ tiến

lên một trình độ cao hơn - nông thôn sản xuất hàng hoá.

 Trang trại: Trang trại là thuật ngữ gọi tắt của trang trại nông nghiệp,

chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trang

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trại là hình thức phát triển cao hơn của nông hộ.

25

Sự hình thành trang trại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình CNH.

Sự phát triển của ngành công nghiệp đặt ra nhu cầu lớn về nguồn cung cấp nguyên

liệu từ nông nghiệp và đó là điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá

mà trang trại là một hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp thích hợp. CNH càng

cao thì kinh tế trang trại càng phát triển.

Các đặc điểm cơ bản của trang trại bao gồm: Mục đích sản xuất là nhằm tạo

ra nông sản hàng hoá theo nhu cầu thị trường; quy mô sản xuất tương đối lớn, tuỳ

theo tính chất và loại hàng hoá nông sản mà nó sản xuất và khác nhau giữa các nước

cũng như giữa các vùng trong từng nước. Phần lớn các trang trại đều có thuê, mướn

lao động, có thể là thường xuyên hoặc theo thời vụ…

 Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN)

HTXNN là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích

chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát

huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả

hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Những đặc điểm cơ bản của HTXNN: HTXNN là tổ chức liên kết kinh tế tự

nguyện của những nông hộ, nông trại có chung yêu cầu về những dịch vụ cho sản

xuất, kinh doanh. HTXNN được thành lập dựa vào việc cùng góp vốn của các thành

viên và mỗi xã viên đều có quyền bình đẳng. Mục đích kinh doanh của HTX là

nhằm cung cấp dịch vụ cho xã viên, đáp ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng

của dịch vụ, đồng thời cũng tuân theo nguyên tắc tái sản xuất mở rộng.

Các HTX nông nghiệp hiện nay chủ yếu là các HTX dịch vụ kinh tế - kỹ

thuật (như: tín dụng, cung ứng vật tư, chế biến, tiêu thụ nông sản, dịch vụ thú y, cơ

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

khí nông nghiệp…)

26

 Vùng chuyên canh:

Vùng chuyên canh là hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tương đối phổ biến ở

các nước cũng như ở Việt Nam. Trên một lãnh thổ sản xuất nhất định hoạt động sản

xuất có sự tập trung cao độ với quy mô lớn được đầu tư trên cơ sở thâm canh,

chuyên môn hóa một (hoặc một vài) loại nông phẩm nhằm mang lại hiệu quả cao về

KT - XH.

Vùng chuyên canh có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Mức độ tập trung hóa đất đai rất lớn trên một lãnh thổ nhất định, thuận lợi

cho phát triển một vài cây trồng, vật nuôi nào đó.

- Chuyên môn hóa sản xuất ở trình độ cao

- Sản xuất được tiến hành gắn với thâm canh, áp dụng khoa học công nghệ.

- Hình thức sản xuất tại các vùng chuyên canh là hộ gia đình và trang trại.

 Tiểu vùng nông nghiệp

- Tiểu vùng nông nghiệp là một lãnh thổ có quy mô tương đối lớn có những

điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng

- Có một vài sản phẩm chuyên môn hóa đặc trưng

Đây là hình thức phù hợp và phổ biến đối với cấp tỉnh.

1.1.4. Công nghiệp hóa

1.1.4.1 Khái niệm

Theo văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam X, CNH là quá trình chuyển

đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, quản lý xã

hội từ dựa vào lao động thủ công là chính chuyển sang dựa vào lao động kết hợp

cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật, tiên tiến hiện đại để tạo ra

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

năng suất lao động cao.

27

1.1.4.2 Mục tiêu của quá trình CNH

 Mục tiêu tổng quát

CNH là mục tiêu lâu dài, xây dựng Việt Nam trở thành nước công nghiệp có

cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến

bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản suất, đời sống vật chất, tinh

thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,

dân chủ, văn minh. Ra sức phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành

nước công nghiệp, với tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác.

 Mục tiêu cụ thể

Đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp với tỷ

trọng trong GDP của nông nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%,

dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ trọng lao động trong tổng lao động xã hội, lao động công

nghiệp và dịch vụ là 50%, nông nghiệp là 50%.

1.1.4.3 Tác động của quá trình CNH

- CNH ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế xã

hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc

hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản

chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

CNH là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết về con

người và khoa học - công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động

và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm

cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân

dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

- CNH tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản xuất, nhờ đó mà

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nâng cao vai trò của người lao động - nhân tố trung tâm của nền kinh tế xã hội chủ

28

nghĩa; tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

- CNH là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc giữa giai

cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng

xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là tác dụng góp phần tăng cường quyền lực, sức mạnh và

hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.

- CNH tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh

trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế.

- CNH đất nước thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quá

trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập trung làm cho

quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn.

- CNH không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển cao mà

còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hoá nền quốc phòng - an

ninh. Sự nghiệp quốc phòng và an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hoá,

kinh tế, xã hội.

- CNH tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ về kinh tế - chính trị, văn hoá

- xã hội, quốc phòng và an ninh. Thành công của sự nghiệp CNH nền kinh tế quốc

dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và

nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà CNH kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng

tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Vài nét về phát triển nông nghiệp (nghĩa hẹp) ở Việt Nam trong giai đoạn

2000 - 2010

1.2.1.1. Những kết quả đạt được

GTSX nông nghiệp tăng nhanh, từ 129.087,9 tỉ đồng năm 2000 lên 528.738,9

tỉ đồng năm 2010, tăng gấp 4,1 lần. Tốc độ tăng trưởng bình quân năm giai đoạn

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

2000 – 2010 là 4,2%/năm, trong đo trồng trọt: 3,6%, chăn nuôi: 6,8% và dịch vụ

29

nông nghiệp là 2,8% (Nguồn Số liệu thống kê vị thế kinh tế - xã hội 63 tỉnh, thành

phố Việt Nam, NXB Thống Kê năm 2011)

Cơ cấu ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch song chậm và không ổn định

theo hướng giảm tỉ trọng ngành trồng trọt ( từ 78,3% năm 2000, xuống 73,6% năm

2005 và nhích lên 73,9% năm 2010, tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi ( tương ứng là

19,3%, 24,6% và 24,5%), dịch vụ nông nghiệp vừa không đáng kể lại giảm đi

(2,4%, 1,8% và 1,6%).

Diện tích và cơ cấu diện tích gieo trồng có sự biến động

Bảng 1.1 Diện tích và cơ cấu diện tích gieo trồng

Năm 2000 Năm 2010

100% 13925,4 100% 12644,3 Tổng diện tích gieo trồng

(nghìn ha)

Trong đó:

62,1 8641,4 68,8 8399,1 Cây lương thực có hạt

20,0 2787,6 17,6 2229,4 Cây công nghiệp

5,6 776,3 2,1 565,0 Cây ăn quả

12,3 1720,1 11,5 1450,8 Cây khác

- Sản lượng lương thực có hạt tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng

ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường nhờ thực hiện chính sách đẩy mạnh CNH,

HĐH song song với chú trọng phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm. Đến hết

năm 2000, sản lượng lương thực có hạt của cả nước đạt 34,5 triệu tấn, đến năm

2010 lên tới 44,6 triệu tấn nâng mức lương thực có hạt bình quân đầu người từ

444,9 kg/người năm 2000 lên 480,9 kg/người năm 2005 và 513 kg/người năm 2010.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Đây là nền tảng rất quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ công nghiệp

30

và xuất khẩu. Xuất khẩu lúa gạo tăng từ 3,48 triệu tấn năm 2000, lên 5,3 triệu tấn

năm 2005 và 6,9 triệu tấn năm 2010

Phát triển cây công nghiệp đặc biệt là cây công nghiệp lâu năm mang lại hiệu

quả cao cả về kinh tế - xã hội và môi trường

Diện tích cây công nghiệp hàng năm có tăng nhưng chậm (từ 778,1 nghìn ha

năm 2000 lên 861,5 nghìn ha năm 2005 và giảm còn 800,2 nghìn ha năm 2010) với

các cây chủ lực là mía và đậu tương.

Diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng khá và liên tục ( từ 1451,3 nghìn ha

năm 2000 lên 1633,6 nghìn ha năm 2005 và 1987,4 nghìn ha năm 2010). Việt Nam

ở trong top đầu các nước trồng và xuất khẩu một số cây công nghiệp lâu năm như:

cao su, cà phê, điều, hồ tiêu,… Năm 2000, giá trị xuất khẩu chỉ 6 mặt hàng cây công

nghiệp (cao su, cà phê, điều, tiêu, lạc nhân và chè) đạt gần 6 tỉ USD, chiếm 8,3%

tổng kim ngạch xuất khẩu.

- Chăn nuôi phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá

Ngành chăn nuôi trong nhiều năm qua luôn đạt tốc độ tăng trưởng dương về

giá trị sản xuất, trung bình giai đoạn 2000 – 2010 đạt 6,8%.

Chăn nuôi lợn đạt mức tăng trưởng cao. Tổng đàn lợn đạt 20,2 triệu con năm

2000 lên 27,4 triệu con năm 2010. Hướng cơ bản đã được khẳng định trong việc

giải quyết giống cho chăn nuôi lợn là lợn lai kinh tế. Chăn nuôi bò phát triển tương

đối ổn định qua các năm. Số lượng đàn bò tăng từ 4,1 triệu con năm 2000 lên 5,9

triệu con năm 2010. Hướng mới trong chăn nuôi bò là lấy sữa. Tổng đàn trâu đạt

2,9 triệu con (năm 2010).

- Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ

Đó là sự hình thành các vùng chuyên môn hoá trong sản xuất nông nghiệp.

Cho đến nay, ngành nông nghiệp nước ta đã hình thành những vùng chuyên môn

hoá rõ rệt, phù hợp với hướng sản xuất hàng hoá, tạo ra những sản phẩm có chất

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.

31

* Trong sản xuất lương thực, thực phẩm: hình thành hai vùng chuyên canh lớn

là ĐBSCL và Đồng bằng sông Hồng.

ĐBSCL là trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm số một của cả nước,

chiếm tới 46,4% diện tích cây lương thực có hạt của cả nước (năm 2010), 48,8%

sản lượng lương thực có hạt, 90% giá trị gạo xuất khẩu của cả nước. Riêng về cây

lúa, vùng chiếm tới 52,8% diện tích và trên 54,3% sản lượng lúa toàn quốc. Đồng

bằng sông Hồng là trọng điểm thứ hai về sản xuất lương thực, thực phẩm với 14,2%

diện tích và 18,0% sản lượng lúa cả nước với thế mạnh chính là cây lúa, rau màu,

chăn nuôi lợn và gia cầm.

* Về cây công nghiệp: Hình thành ba vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn

là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung du Miền núi Bắc Bộ. Trong đó, Đông Nam

Bộ là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất với những điều kiện thuận lợi về

tự nhiên và KT - XH, các sản phẩm cây công nghiệp chính như: cao su, cà phê,

điều,… Vùng chuyên canh Tây Nguyên với sản phẩm đặc trưng: cà phê, cao su, hồ

tiêu, chè, dâu tằm. Ở Trung du miền núi phía Bắc, trên địa hình núi và cao nguyên,

hình thành những đồi chè, những nông trường trồng lạc và thuốc lá, ngoài ra vùng

còn có thế mạnh về cây dược liệu.

Một hướng chuyên môn hoá mới trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong

những năm gần đây là sự hình thành các vành đai thực phẩm xung quanh đô thị với

nhiệm vụ cung cấp nguồn thực phẩm an toàn, được thực hiện một cách có quy

hoạch.

1.2.1.2. Những tồn tại, hạn chế

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm so với yêu cầu đẩy

mạnh CNH, HĐH.

- Nông nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, khả năng ứng phó

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trước những biến động của tự nhiên trong sản xuất nông nghiệp còn yếu.

32

- Chất lượng nông sản hàng hoá thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thị trường trong

và ngoài nước. Sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến và khâu bảo quản sau thu hoạch

còn yếu và thiếu. Chưa có mối quan hệ hữu cơ đáng kể nào giữa các cơ quan nghiên

cứu, chế tạo với doanh nghiệp và nông dân, do vậy, Quyết định 80 về “liên kết bốn

nhà” đang có chiều hướng chìm lắng do không có ai chịu trách nhiệm trên thực tế.

1.2.2. Vài nét về phát triển nông nghiệp (nghĩa hẹp) ở ĐBSCL

Là vùng trọng điểm số một về sản xuất lương thực, thực phẩm, những bước

tiến của ngành nông nghiệp ĐBSCL không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với nền

kinh tế toàn vùng mà còn có tác động không nhỏ đến sự ổn định và phát triển của

nền kinh tế đất nước. Giá trị sản xuất tăng nhanh từ 40625,1 tỉ đồng (giá so sánh

1994) năm 2000 lên 56078,8 tỉ đồng năm 2010 (tăng gấp 1,4 lần), chiếm 31,1%

GTSX nông nghiệp cả nước. Cơ cấu ngành nông nghiệp của vùng ít có sự biến

động, trong đó ngành trồng trọt luôn chiếm ưu thế với trên 77,0%, ngành chăn nuôi

có xu hướng tăng nhẹ, hiện chiếm gần 16,0%, tỉ trọng dịch vụ cao hơn các vùng

khác ở mức 6 – 7%.

- Trồng trọt là ngành có thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của vùng dựa

trên lợi thế về khí hậu, đất và nguồn nước. Trong đó, cây lúa vẫn là cây chủ lực, là

sản phẩm chuyên môn hoá lớn nhất của vùng, chiếm 99,1 diện tích và sản lượng cây

lương thực có hạt 52,8% diện tích và 54,3% sản lượng cả nước; bình quân thóc trên

đầu người đạt 1260 kg năm 2010 (gấp 2,5 lần mức trung bình cả nước). ĐBSCL là

vùng xuất khẩu gạo chủ yếu với 90% tổng khối lượng gạo xuất khẩu của cả nước,

đạt 3 – 4 triệu tấn/năm (tương đương 3 tỉ USD).

Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng lúa các tỉnh vùng ĐBSCL năm 2010

Diện tích Sản lượng

Tỉnh

Nghìn ha % Nghìn tấn %

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

3970,5 Toàn vùng 100 21569,8 100

33

470,7 2275,8 Long An

11,9 10,6 243,5 1317,1 Tiền Giang

6,1 6,1 80,2 367,6 Bến Tre

2,0 1,7 232,7 1156,0 Trà Vinh

5,9 5,4 170,0 923,1 Vĩnh Long

4,3 4,3 465,1 2783,1 Đồng Tháp

11,7 12,9 590,1 3592,4 An Giang

14,9 16,2 641,0 3485,1 Kiên Giang

16,1 16,2 209,4 1189,6 Cần Thơ

5,3 5,5 210,6 1088,0 Hậu Giang

5,3 5,0 350,0 1939,0 Sóc Trăng

8,8 9,0 168,7 849,1 Bạc Liêu

4,2 3,9 138,5 503,9 Cà Mau

3,5 2,3 (Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2010)

Cây công nghiệp hằng năm chủ yếu là cây mía, đay, dứa, cói,… Trong đó, cây

mía có diện tích (57,5 nghìn ha) và sản lượng (4715,3 nghìn tấn) đứng đầu cả nước

với các chỉ số tương ứng là 21,6% và 29,6%.

Dừa là cây công nghiệp lâu năm truyền thống của vùng ĐBSCL, diện tích

trồng dừa 117,8 nghìn ha (84% cả nước), trồng nhiều ở Bến Tre, Trà Vinh

Cây ăn quả: cùng với cây lương thực, là thế mạnh nổi bật của vùng với diện

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

tích 285,8 nghìn ha năm 2010, chiếm 36,8% diện tích cả nước, được trồng nhiều

34

nhất ở vùng ven sông Tiền, sông Hậu. Tập đoàn cây ăn quả rất phong phú trong đó

đứng đầu cả nước là cam, chanh, quýt, chuối, xoài, nhãn, bưởi,…. Các sản phẩm

nổi tiếng như bưởi Năm Roi, bưởi da xanh Bến Tre, xoài cát Hòa Lộc, quýt đường

Sa Đéc, vú sữa Lò Rèn,…

- Ngành chăn nuôi: chiếm tỉ trọng nhỏ nhất trong cơ cấu nông nghiệp vùng

ĐBSCL. Các vật nuôi chính là lợn, bò lấy thịt, gia cầm,…Hình thức nuôi chủ yếu là

theo hộ gia đình, quy mô nhỏ, nguồn vốn ít.

Trong giai đoạn 2000 – 2010, số lượng đàn gia súc, gia cầm của vùng có nhiều

biến động phức tạp. Số lượng đàn trâu giảm do nhu cầu sức kéo, cày đã được thay

thế bằng máy móc. Đàn bò tiếp tục tăng với tốc độ khá nhanh, từ 197.2 nghìn con

năm 2000 lên 691,1 nghìn con năm 2010. Số lượng đàn lợn có tăng nhưng tốc độ

chưa cao, từ 2976,6 nghìn con năm 2000 lên 3798,8 nghìn con năm 2010, tăng 1,28

lần trong cả thời kì. Đàn gia cầm của vùng đạt 60,7 triệu con chiếm tới 20,2% cả

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nước, chủ yếu là gà, vịt, ngan, ngỗng.

35

CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH

SÓC TRĂNG

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng:

2.1.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ:

2.1.1.1 Vị trí địa lí

Sóc Trăng là tỉnh thuộc ĐBSCL, nằm ở đoạn cuối của dòng sông Hậu đổ vào

Biển Đông tại cửa Định An và Tranh Đề, có phần đất liền nằm từ 9°12' - 9°56' vĩ độ

bắc và 105°33' - 106°23' kinh độ đông. Phía bắc và tây bắc giáp tỉnh Hậu Giang,

phía nam và tây nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông bắc giáp Trà Vinh, phía đông và

đông nam giáp biển với chiều dài 72 km. Trung tâm thành phố Sóc Trăng cách

Thành phố Hồ Chí Minh 240 km và cách thành phố Cần Thơ 60 km theo quốc lộ

1A. Có thể nói là rất thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,

đặc biệt là về phát triển nông nghiệp.

Tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là

"xứ", "cõi", Kh'leang là "kho", "vựa", "chỗ chứa bạc". Srok Kh'leang là xứ có kho

chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là "Sốc-Kha-Lang" rồi sau đó thành

Sóc Trăng.

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là: 3311,8 km2 chiếm gần 8,2% diện tích vùng

ĐBSCL và 1% diện tích cả nước , đứng thứ 43/63 tỉnh, thành phố, với số dân là

1300,8 nghìn người (2010) chiếm 7,5% dân số vùng ĐBSCL và 1,5% dân số toàn

quốc, đứng thứ 22/63 tỉnh, thành phố.

Nằm không xa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Sóc Trăng có nhiều điều

kiện thuận lợi để phát triển kinh tế thông qua các mối liên hệ qua lại về sản xuất,

hàng hóa, công nghệ…

Nhờ mạng lưới giao thông nên Sóc Trăng có thể giao lưu dễ dàng với các tỉnh

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trong nước và cả quốc tế.

36

2.1.1.2 Phạm vi lãnh thổ

Tỉnh Sóc Trăng trong thời Pháp thuộc là một phần của tỉnh Bạc Liêu. Năm

1956, dưới thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, Sóc Trăng được lập thành tỉnh riêng

lấy tên là tỉnh Ba Xuyên, tỉnh lỵ có tên là Khánh Hưng.

Tháng 2/1976, tỉnh mới Hậu Giang được thành lập từ hai tỉnh Sóc Trăng và

Cần Thơ cũ. Từ 26/12/1991, tỉnh Sóc Trăng được tái lập từ tỉnh Hậu Giang.

Sóc Trăng hiện nay gồm có 1 thành phố, 10 huyện với 97 xã, phường và 12 thị

trấn

Bảng 2.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Sóc Trăng năm 2010

DIỆN

DÂN SỐ

ĐƠN

VỊ

HÀNH

SỐ

TT

(nghìn

CHÍNH

MẬT ĐỘ DÂN (người/km2)

người)

TÍCH ( km2)

Thành phố Sóc 1 76,1 136,8 1798 Trăng

2 H. Châu Thành 236,3 101,4 429

3 H. Cù Lao Dung 261,4 63,3 242

4 H . Kế Sách 353,0 158,7 450

5 H. Long Phú 263,8 112,8 428

6 H. Mỹ Tú 368,3 107,0 291

7 H. Mỹ Xuyên 371,8 156,4 421

8 H. Ngã Năm 242,2 80,2 331

9 H. Thạnh Trị 287,6 86,1 299

10 H. Vĩnh Châu 473,4 164,8 348

11 H. Trần Đề 377,9 133,2 353

393 Tỉnh Sóc Trăng 3.311,8 1300,8

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

37

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

2.1.2.1 Địa hình và đất

 Địa hình:

Địa hình Sóc Trăng tương đối bằng phẳng, đại bộ phận lãnh thổ của tỉnh thuộc

phần đất liền. Phần nhỏ còn lại kẹp giữa hai nhánh sông Hậu là một dải cù lao với diện tích hàng trăm km2.

Địa hình của tỉnh có dạng lòng chảo với độ cao trung bình từ 0.5 đến 1.0 m so

với mực nước biển. Độ dốc trung bình 1,5 cm/km, vùng có cao độ từ 0,8 m trở lên

khoảng 100.000 ha chiếm 30,2 % tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh (330.945 ha),

vùng cao độ từ 0,4 - 0,8 m khoảng 160.000 ha chiếm 48,3 %, vùng cao độ thấp

trũng dưới 0,4 m chiếm 70.945 ha chiếm 11,5 %. Hướng dốc chính của địa hình từ

ba phía là sông Hậu, Biển Đông và kênh Quản Lộ thấp dần vào trung tâm. Do địa

hình là lòng chảo nên khu vực thấp nhất ở phía Nam huyện Mỹ Tú, Thạnh Trị khó

thoát nước bị ngập úng kéo dài. Về cơ bản có thể phân chia thành 3 vùng địa hình:

- Vùng địa hình trũng: có cao trình thấp từ 0 - 0,5 m tập trung ở phía Tây và

ven kinh Cái Lân. Ở đây phần lớn đất bị nhiễm phèn, mùa mưa thường bị ngập úng

nên ảnh hưởng không tốt đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân trong

vùng.

- Vùng địa hình trung bình: phân bố không tập trung và bị phân chia bởi các

giồng cát có cao trình trung bình từ 0,6 - 1,0 m, thường bị ngập khi triều cường. Vì

vậy để đảm bảo sản xuất phải có đê bao chống lũ.

- Vùng địa hình cao: có cao trình trung bình từ 1 - 1,2 m tập trung ven sông

Hậu và kéo dài đến sông Mỹ Thanh trong phạm vi các huyện Long Phú, Mỹ Xuyên,

Vĩnh Châu, Kế Sách và thành phố Sóc Trăng . Đây là vùng ít bị ngập lũ và không

úng lâu thuận lợi cho bố trí sản xuất, phân bố dân cư và phát triển cơ sở hạ tầng.

 Đất đai:

Tài nguyên đất của Sóc Trăng khá màu mỡ, thích hợp cho việc trồng lúa, cây

công nghiệp hàng năm, cây ăn quả, cây thực phẩm.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

- Toàn tỉnh lớp đất thổ nhưỡng được chia thành 6 nhóm đất chính:

38

Nhóm đất cát: có diện tích 8.491 ha chiếm 2,65 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh,

phân bố trên các giống cát chủ yếu ở huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên và thành phố

Sóc Trăng. Nhóm đất cát được hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển

trong suốt quá trình lấn biển ở vùng cửa sông. Các dòng cát được hình thành tương

đối cao từ 1,2 – 2 m. Thành phần cơ giới nhẹ chủ yếu là cát mịn đến cát pha thịt.

Đất được khai thác trồng rau màu và cây lâu năm.

Nhóm đất phù sa: có diện tích 6.372 ha chiếm 2 % gồm 3 loại đất chủ yếu

trong đó là đất phù sa đốm rỉ, đất phù sa glây và đất phù sa trung tính. Nhóm đất

này phần lớn nằm ven sông Hậu thuộc khu vực huyện Kế Sách, một phần phía Bắc

huyện Long Phú, Mỹ Tú. Đất có thành phần cơ giới từ thịt pha sét đến sét pha thịt

nên thích hợp cho việc trồng lúa tăng vụ, cây ăn trái đặc sản, cây công nghiệp. Nhìn

chung đất đai phần lớn được khai thác để đưa hết vào gieo trồng.

Nhóm đất glây: có diện tích 1.076 ha chiếm 0,3 %, phân bố nhiều ở huyện Kế

Sách, đất có tính chua có tầng sét dày. Đối với với loại đất này phải chống chua và

cải tạo thành phần cơ giới để đưa vào sử dung có hiệu quả trong nông nghiệp.

Nhóm đất mặn: có diện tích 158.547 ha chiếm 49,5 % phân bố ở huyện Vĩnh

Châu, Mỹ Xuyên, Long Phú, Thạnh Trị,…Vào mùa khô đất bị xâm nhập mặn

chiếm đến 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh.

Nhóm đất mặn được chia ra các loại sau:

Đất mặn ít và trung bình: thành phần cơ giới chủ yếu là đất sét trung bình đến

sét nặng thích hợp cho việc trồng lúa.

Đất mặn nhiều: thành phần cơ giới từ thịt đến thịt pha sét, hiện nay được sử

dụng vào việc nuôi tôm và trồng lúa một vụ hoặc chuyên canh tôm hoặc canh tác

một vụ tôm một vụ lúa.

Đất mặn sú vẹt đước: tập trung ở bờ biển thuộc hai huyện Long Phú, Vĩnh

Châu. Đất có tính chất mặn thường xuyên và bị ngập triều vì vậy thích hợp cho việc

trồng các loại cây chịu được ngập mặn như: mắm, đước, vẹt, bần, dừa nước… Các

loại cây này tuy có giá trị không cao nhưng là loại cây chắn sóng và lấn biển tuyệt

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

vời. Hiện nay đất này dùng để nuôi tôm.

39

Nhóm đất phèn: có diện tích 75.823 ha chiếm 23,7 % phân bố chủ yếu ở vùng

trũng 3 huyện là Mỹ Tú, Thạnh Trị và Ngã Năm. Đất phèn là nhóm đất có vấn đề

nghiêm trọng bởi ngoài tác hại do các chất độc phèn nhóm đất phèn còn bị nhiễm

mặn nên gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vào sản xuất.

Nhóm đất nhân tác: có diện tích 46.146 ha chiếm 14,4 %, phân bố trên địa

bàn toàn tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất ở huyện Kế Sách, Long Phú, Mỹ Tú.

Hầu hết đất đai ở Sóc Trăng có thành phần cơ giới nặng (hàm lượng sét

thường > 40 %), giàu chất hữu cơ, đa số có tầng mặt tơi xốp, tầng mùn dày >30 cm,

hàm lượng mùn cao, lân tổng số từ nghèo đến trung bình (0,05 - 0,1 %), lân dễ tiêu

nghèo (<5 mg/100g đất), kali tổng số trung bình (1 - 1,5 %), kali dễ tiêu trung bình

(15-30 mg/100 g đất), hàm lượng cation trao đổi kiềm trong đất trung bình, dung

tích hấp thụ từ trung bình đến khá (CEC = 13 - 19 mc/100 g đất)

Nhìn chung đất thổ nhưỡng của Sóc Trăng là rất màu mỡ, đáp ứng đủ nhu

cầu sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, độ PH trong đất hơi thấp (hơi chua) song

nhờ kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất của nông dân, đặc biệt từ sau giải phóng

(30/4/1975) đến nay nhờ quan tâm đầu tư công trình thủy lợi nên lượng phèn trong

đất đã giảm đáng kể, hệ số quay vòng đất, năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi

đã tăng nhanh chóng.

- Hiện trạng sử dụng đất

Đất sản xuất nông nghiệp

8.6

8.8

Đất lâm nghiệp

Đất nuôi trồng thủy sản

16.5

62.9

Đất ở và đất chuyên dùng

3.2

Đất khác và đất chưa sử dụng

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Hình 2.1 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Sóc Trăng năm 2010 (%)

40

2.1.2.2 Khí hậu

Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng chịu ảnh hưởng khá mạnh chế độ khí hậu nhiệt đới gió

mùa, trong năm hình thành 2 mùa khá rõ nét, mùa khô 6 tháng, từ khoảng giữa

tháng 11 đến giữa tháng 5, mùa mưa 6 tháng còn lại, với các đặc trưng chủ yếu (số

liệu đo nhiều năm tại TP Sóc Trăng) như sau:

+ Nhiệt độ: trung bình nhiều năm 26,80C, cao nhất trung bình 31 - 350C, cao nhất tuyệt đối 37,80C, thấp nhất trung bình 26 - 280C, thấp nhất tuyệt đối 16,20C. Tổng tích nhiệt hàng năm từ 9.6000C - 9.8000C. Không có sự phân hoá mùa đáng kể

về nhiệt độ trong năm với nền nhiệt độ cao và ổn định.

+ Ánh sáng: trung bình nhiều năm từ 2.500 - 2.600 giờ/năm, mùa khô 8 - 10

giờ/ngày, mùa mưa 4,5 - 6,5 giờ /ngày .

+ Độ ẩm không khí : trung bình nhiều năm 83,4 %, cao nhất 95 %, thấp nhất

40 %, mùa mưa độ ẩm cao (83 - 86 %), mùa khô độ ẩm thấp (70 - 75 %).

+ Độ bốc hơi mặt nước: trung bình nhiều năm 1.198 mm, tương đương 65%

lượng mưa/năm, các tháng 1, 2, 3, 4 có lượng bốc hơi khá cao trên 100 mm/tháng.

+ Chế độ gió: trong năm hình thành 2 hướng gió chính là Đông Bắc từ tháng

11 - tháng 4 và Tây Nam từ tháng 5 - tháng 10, tốc độ gió trung bình 2,2 - 2,5 m/s,

cao nhất 20 - 31 m/s.

+ Chế độ mưa: Sóc Trăng là vùng có lượng mưa khá lớn >1.800 mm/năm,

trung bình nhiều năm là 1.846 mm/năm, năm cao nhất 2.611 mm/năm, năm thấp

nhất 1.159 mm/năm, tháng 8, 9, 10 là các tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm,

trong mùa mưa lượng mưa tập trung trên 90% tổng lượng cả năm, nhưng gần như

năm nào cũng thường xảy ra hạn, tuy không nghiêm trọng nhưng nó có thể làm tăng

chi phí sản xuất, giảm năng suất, chất lượng đối với cây trồng.

So với các vùng khác trên cả nước, diễn biến khí tượng trong toàn tỉnh Sóc

Trăng là hết sức thuận lợi cho phát triển cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là cơ cấu thời

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

vụ, năng suất, chất lượng, độ ổn định trong sản xuất.

41

2.1.2.3 Nguồn nước

 Nước mặt: Sóc Trăng có mạng lưới sông ngòi dày đặc thuận lợi cho phát triển

nông nghiệp, giao thông vận tải lẫn công nghiệp.

Sông Hậu là nguồn tiếp nước ngọt chủ yếu cho Sóc Trăng, đoạn nằm trên địa

bàn tỉnh dài 60 km, rộng 1.200 - 1.500 m, sâu 8 - 13 m, có lưu lượng mùa lũ khoảng 28.000 - 30.000 m3/s, mùa kiệt 1.500 - 3.000 m3/s, đây là một trong chín nhánh của

sông Mê Công đổ trực tiếp ra biển Đông cho nên chịu ảnh hưởng rất mạnh của thủy

triều biển Đông. Nước sông Hậu được đưa về địa phận tỉnh Sóc Trăng qua các

tuyến kênh chủ yếu như: Cái Côn, Cái Trâm, Đại Ngãi, Vạch Vọp, Số Một, Kế Sách, Ngan Rô, Ba Xuyên… với lưu lượng vào khoảng 55 – 60 m3/s. Các tuyến

kênh chính đó cùng với hàng chục kênh nhỏ khác hợp thành hệ thống kênh tự nhiên

và nhân tạo vừa dẫn ngọt vừa xả lũ, rửa phèn, mặn cho khu vực. Đặc biệt kênh Cái

Côn nối liền với kênh xáng Quản Lộ - Phụng Hiệp đi Ngã Năm là tuyến kênh sườn

quan trọng dẫn nước ngọt cho tỉnh Sóc Trăng trong chương trình ngọt hóa bán đảo

Cà Mau của Chính Phủ.

Chất lượng nước trên sông rạch đang khá tốt, độ mặn trên sông Hậu xảy ra

chủ yếu vào 6 tháng mùa khô, tại Đại Ngãi cách cửa sông 40 km, mặn thường diễn

ra từ tháng 1 - tháng 5, nồng độ từ 4 - 6gr/l, cao nhất 12 - 14 gr/l, tại vùng ven biển

và cửa sông Hậu, cửa sông Mỹ Thanh thường xảy ra từ 10 - 11 tháng/năm, nồng độ

trong mùa khô từ 20 - 30 gr/l, cao nhất 35 - 40 gr/l, trên sông Mỹ Thanh tại cầu Nhu

Gia 8 - 10 gr/l, cao nhất 12 - 15 gr/l, xảy ra từ tháng 12 - tháng 6, trên kinh Quản Lộ

- Phụng Hiệp tại đầu kinh Nàng Rền 4 - 14 gr/l, xảy ra từ tháng 2 - tháng 5. Độ PH trên sông rạch lớn >= 6, độ phù sa trên sông Hậu 300 - 400 mg/m3, hàm lượng các

chất hữu cơ như: BOD, COD, chất rắn lơ lửng trong nước vẫn còn đảm bảo dưới

mức cho phép theo quy định về chất lượng nước mặt (TCVN 5942-1995).

Chất lượng nước sông Hậu thuộc loại tốt, độ PH = 7 - 10, hàm lượng phù sa

trung bình từ tháng 8 đến tháng 10 trong khoảng 0,27 - 3 kg/m nhưng do địa hình

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

thấp lại nằm cập sông Hậu và các kênh dẫn nước lớn, các sông không có hệ thống

42

đê nên nước sông ngày lên xuống hai lần tự chảy vào đồng ruộng đem lại lượng phù

sa lớn đáng kể bồi đắp bổ sung độ phì nhiêu đất đai của tỉnh.

 Nước dưới đất: Qua kết quả khoan thăm dò và khai thác nước ngầm dưới

đất thì ở Sóc Trăng có 4 tầng chứa nước dưới đất như sau :

Tầng 1 : Ho-lô-xen phân bố ở độ sâu 35 - 60 m

Tầng 2 : Plei-xto-xen phân bố ở độ sâu 60 - 120 m

Tầng 3 : Pli-o-xen phân bố ở độ sâu 120 - 180 m

Tầng 4 : Mi-o-xen phân bố ở độ sâu >300 m

Thực tế ở Sóc Trăng đang khai thác sử dụng phổ biến ở tầng 2 (tầng Plei-xto-

xen, độ sâu 60 - 120 m) có chất lượng và trữ lượng tốt, chi phí đầu tư thấp, một số

khu vực giồng cát khai thác ở tầng 4 (tầng Mioxen, độ sâu >300m), chất lượng rất

tốt, nhưng chi phí cao.

 Chế độ thủy văn:

Chế độ thủy văn ở các sông ngòi và kênh rạch Sóc Trăng bị chi phối bởi 3 yếu

tố chính: thủy triều biển Đông, mưa nội vùng, dòng chảy sông Hậu và sông Mỹ

Thanh được phân hóa khá rõ theo mùa.

Thủy triều:

Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng hỗn hợp thuỷ triều biển Đông và biển Tây, nhưng

chủ yếu là triều biển Đông, thông qua nhiều sông rạch lớn trong tỉnh.

Triều biển Đông là chế độ bán nhất triều, biên độ thuỷ triều giao động từ 230

- 280 cm, cao nhất 310 - 330 cm, mực nước đỉnh triều bình quân 140 - 180 cm, cao

nhất 230 - 240 cm, mực nước chân triều giao động từ 80 - 160 cm, thấp nhất là 180

- 190 cm (mực nước biển), độ mặn trung bình tại cửa sông Mỹ Thanh 20 - 30 g/l,

cao nhất 35 - 40 g/l.

Tại Đại Ngãi, nơi cách cửa sông 40 km, biên độ thuỷ triều giao động từ 220 -

260 cm, cao nhất 300-320 cm, mực nước đỉnh triều bình quân 120 - 160 cm, cao

nhất 220 - 230 cm, mực nước chân triều giao động từ 75 - 155 cm, thấp nhất là 175

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

- 180 cm (dưới mực nước biển), không chênh lệch nhiều so vùng cửa sông.

43

Triều biển Tây là chế độ nhật triều, có biên độ nhỏ, tại cửa Rạch Giá cách

Sóc Trăng 85 km, mực nước bình quân đỉnh triều giao động từ 47 cm đến 66 cm,

cao nhất 80 - 85 cm, mực nước bình quân chân triều từ 10 - 32 cm, thấp nhất từ 50

- 55 cm, biên độ thuỷ triều từ 56 - 80 cm.

Chế độ thủy văn sông Hậu và sông Mỹ Thanh

Sông Hậu rộng từ 1000 – 1500m, đoạn chạy qua tỉnh Sóc Trăng dài 60km. Từ

tháng 7 đến tháng 12, dòng chảy sông Hậu chịu tác động mạnh của dòng chảy chế

độ thượng nguồn. Từ cuối tháng 11, đầu tháng 12 đến tháng 5, lưu lượng thượng

nguồn giảm, thủy triều biển Đông tác động mạnh mẽ trên toàn hệ thống kênh rạch

tỉnh. Mực nước đỉnh cao xuống thấp nhất vào cuối tháng 4 trung bình khoảng

100cm, mực nước chân triều xuống thấp nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 ở trong

khoảng cao trình – 80cm so với mực nước biển. Sông Hậu là nguồn cung cấp nước

chủ yếu cho Sóc Trăng. Tuy nhiên sự truyền triều vào trong cũng gây một số khó

khăn như đưa mặn vào nội địa khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt trầm trọng

vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, kết hợp với triều cường thường gây ngập cho

vùng cù lao. Điều này tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh Sóc Trăng.

Sông Mỹ Thanh nằm trọn trong địa bàn tỉnh Sóc Trăng chảy qua các huyện:

Vĩnh Châu, Long Phú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị và Mỹ Tú, sông tuy ngắn nhưng khá

rộng, chiều rộng trung bình khoảng 200m, đoạn cửa sông khoảng 240 – 300 m,

chiều sâu trung bình 11,5 – 14 m. Chế độ thủy văn sông Mỹ Thanh ảnh hưởng trực

tiếp của chế độ thủy triều biển Đông, nước sông Hậu đổ về và chế độ mưa nội vùng.

Sông chỉ có nước ngọt vào mùa mưa, bị xâm nhập mặn trong suốt mùa khô, sông có

chức năng như là trục tiêu canh tác vào mùa mưa và đồng thời dẫn mặn xâm nhập

vào đồng ruộng trong mùa khô. Đây là điều kiện để hình thành vùng nuôi trồng thủy

sản nước lợ với diện tích và tiềm năng lớn nếu được khai thác hợp lí và bền vững.

Trên các sông rạch lớn, dưới ảnh hưởng của sự truyền triều, các giá trị mực

nước đỉnh, chân, biên độ đều giảm dần theo khoảng cách so với sông Hậu và biển

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Đông và hình thành 1 số điểm giáp nước trên kinh Quản Lộ - Phụng Hiệp, kinh

44

Phụng Hiệp - Sóc Trăng,… tại đó biên độ thủy triều và tốc độ dòng chảy đều rất

thấp.

Trong nội đồng do hệ thống kinh mương phân bố không đều, việc nạo vét

hàng năm không thường xuyên nên sự truyền triều tiếp tục giảm mạnh và hình

thành nhiều vùng giáp nước. Qua tính toán khả năng tưới tiêu, ngập úng cho thấy

khả năng tưới tiêu tự chảy của Sóc Trăng khá lớn, tiết kiệm đáng kể chi phí xăng

dầu trong việc bơm nước phục vụ sản xuất, ngập úng chủ yếu xảy ra ở vùng trũng 3

huyện Mỹ Tú, Thạnh Trị và Ngã Năm, độ ngập tối đa 1,2m, thời gian ngập 2 - 3

tháng trong năm.

Chế độ mưa nội vùng

Chế độ mưa có tác động rất lớn đến dòng chảy kênh rạch nội vùng nhưng ảnh

hưởng không lớn đến dòng chảy của sông chính. Các trận mưa đầu mùa có tác dụng

tốt cho việc tiêu độc trong đồng ruộng. Mưa lớn và tập trung trong thời kì giữa và

cuối mùa mưa, cùng với mực nước sông Hậu dâng cao gây ngập úng cho các khu

vực trũng thấp, đáng kể là vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp có khoảng 6.000ha bị ngập

úng với độ sâu 0,6 - 1m làm hạn chế khả năng tăng vụ và đa dạng hóa cây trồng.

Với những diễn biến nguồn nước như trên, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nên

3 vùng sinh thái: ngọt - lợ - mặn rất thuận lợi để Sóc Trăng phát triển một nền nông

nghiệp đa dạng, bền vững, hầu hết sản phẩm đều có năng suất, đặc biệt chất lượng

là rất cao.

Tuy nhiên dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, mực nước biển đang

có xu hướng dâng cao một cách từ từ.

2.1.2.4 Sinh vật

Diện tích rừng của Sóc Trăng tương đối ít với diện tích 11.356 ha với các loại

cây chính: tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước phân bố ở 4 huyện Vĩnh Châu, Long

Phú, Mỹ Tú và Cù Lao Dung. Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven

biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn.

Thủy sản Sóc Trăng rất đa dạng, phong phú, các thủy vực trong tỉnh có hơn

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

320 loài tôm, cá và nhuyễn thể. Trong đó:

45

Thủy sản nước mặn, lợ: có 60 loài tôm cá và nhuyễn thể với 24 loài có giá trị

kinh tế bao gồm:

Cá: các loại cá màu gà, cá ngát, cá chẽm…

Tôm: ở vùng cửa sông có nhiều loài giáp xác trong đó có các loài tôm có giá

trị kinh tế cao: tôm thẻ bạc, tôm sú, tôm đất, tôm bạc nghệ, tôm chỉ,…

Các loại khác: nghêu, sò, ghẹ, cua biển…

Vùng biển của tỉnh có trữ lượng hải sản khoảng 1,2 triệu tấn với khả năng cho

phép khai thác khoảng 630 nghìn tấn/ năm. Đây chính là điều kiện thuận lợi để cho

tỉnh phát triển ngành công nghiệp thủy sản.

Thủy sản nước ngọt: có 260 loài, trong đó có 57 loài có giá trị kinh tế:

Cá: chủ yếu là các loài cá đen như: lóc, trê, rô, sặc,…và các loài cá trắng như:

mè vinh, cá chày…

Tôm: có khoảng 8 loài có giá trị kinh tế trong đó đặc biệt quan trọng nhất là

tôm sú và tôm càng xanh.

Nhìn chung điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Sóc Trăng

khá thuận lợi cho nông nghiệp, công nghiệp chế biến thủy hải sản phát triển.

2.1.3 Kinh tế - xã hội:

2.1.3.1 Dân cư – lao động

 Dân số và phân bố dân cư

Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2010 là 1300,8 nghìn người, xếp thứ 6 vùng

ĐBSCL và thứ 22/63 tỉnh thành phố của cả nước, trong đó nam 646,5 nghìn người

(chiếm 49,70 %), nữ 654,3 nghìn người (chiếm 50,30 %); dân thành thị 292,1 nghìn

người (chiếm 22,5 %), dân nông thôn 1.008,7 nghìn người (chiếm 77,5 %), mật độ dân số 393 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 0,95% thấp hơn mức

trung bình cả nước (1,03%) song cao hơn mức trung bình toàn vùng ĐBSCL

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

(0,83%)

46

Các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh chủ yếu gồm : Kinh, Khơ me và Hoa .

Năm 2010 dân tộc Kinh chiếm 64,2 %, dân tộc Khơ me có chiếm 30,7 % dân tộc

Hoa chiếm 5,0 %, còn lại là các dân tộc khác.

Tổng số hộ là gần 310,6 nghìn hộ, trong đó hộ dân nông thôn chiếm 79,5 %

tổng số hộ toàn tỉnh.

Mức tăng dân số có sự phân hóa rõ rệt giữa nông thôn và thành thị. Ở thành

thị, tốc độ tăng dân số trung bình năm chậm hơn do tỉ suất tử thô của nông thôn cao

hơn nhiều so với thành thị.

Gia tăng cơ học: hầu như không có ý nghĩa đối với sự phát triển dân số tỉnh

Sóc Trăng. Việc di dân diễn ra chậm, quy mô nhỏ.

Phân bố dân cư Năm 2010, mật độ dân số toàn tỉnh Sóc Trăng là 393 người/ km2 cao gấp 1,5

lần mức trung bình cả nước song chỉ bằng 92,2% mức trung bình toàn vùng

ĐBSCL. Về mức độ tập trung dân số, Sóc Trăng đứng thứ 9/13 tỉnh, thành phố

vùng ĐBSCL (chỉ trên Cà Mau, Kiên Giang, Long An và Bạc Liêu) và đứng thứ

25/63 tỉnh, thành phố của cả nước.

Trên địa bàn tỉnh, dân cư tập trung đông đúc ở thành phố Sóc Trăng (1798 người/km2, cao gấp 4,6 lần mức trung bình toàn tỉnh, gấp 7,4 lần huyện có mật độ

dân số thấp nhất là Cù Lao Dung. Các huyện có mật độ dân số cao là Kế Sách, Long

Phú và Mỹ Xuyên.

 Nguồn lao động

Do có số dân tương đối đông nên lực lượng lao động khá dồi dào và tăng hàng

năm, từ 592,3 nghìn người các 2000 lên 720,3 nghìn lao động năm 2005 và đạt

762,3 nghìn lao động các 2010. Lao động đang làm việc trong ngành kinh tế chiếm

tỉ trọng khá cao và đang có sự chuyển dịch tích cực theo hướng CNH: giảm tỉ trọng

khu vực nông - lâm - thủy sản, tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

vụ.

47

Hình 2.2 Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế

giai đoạn 2005 – 2010 (%)

Trình độ văn hóa và chuyên môn kĩ thuật ngày càng tăng. Tỉ lệ biết chữ của

dân số từ 15 tuổi trở lên đạt 86,5%.

Trình độ của người lao động đã được nâng lên nhiều thông qua các Chương

trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, Chương trình Bảo vệ

cây trồng, vật nuôi, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Chương trình đạo tạo kỹ thuật cho

người lao động…Tỷ lệ lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kĩ thuật năm

2010 đạt trên 15 %. Tuy nhiên so nhu cầu vẫn còn rất thấp, nhất là trong khâu cơ

giới hóa, chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH - HĐH.

Nhìn chung lao động của Sóc Trăng khá dồi dào là một thế mạnh trong quá

trình phát triển nông nghiệp nói riêng, phát triển KT - XH nói chung. Song lao động

trong nông nghiệp với thời gian nông nhàn khá cao nên vấn đề giải quyết việc làm

vẫn đang là một thách thức lớn của tỉnh.

Về trình độ sản xuất cơ bản nông dân Sóc Trăng khá nhạy bén với việc ứng

dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật nhưng hạn chế về khâu đào tạo nên khả năng tiếp

nhận kịp thời các tiến bộ khoa học kĩ thuật còn hạn chế.

Từ thực trạng trên cho thấy lao động của tỉnh Sóc Trăng có ưu điểm về số

lượng nhưng hạn chế về mặt chất lượng. Vì vậy, để phát huy lợi thế của nguồn lao

động đòi hỏi các cấp các ngành tỉnh Sóc Trăng quan tâm hơn nữa đến việc nâng cao

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

chất lượng nguồn lao động.

48

2.1.3.2 Khoa học – công nghệ

Với đội ngũ chuyên môn ngày càng được tăng cường cả về số lượng và trình

độ chuyên môn nghiệp vụ từ tỉnh đến huyện, xã và đội ngũ công tác viên tham gia

đông đảo, đến nay công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng

tiến bộ, đã góp phần quan trọng vào việc làm tăng diện tích gieo trồng, năng suất,

chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm

Chuyển giao về giống, đến năm 2010 nhiều giống cây trồng, vật nuôi chất

lượng cao từ Viện,1 số dự án hợp tác Quốc tế đã được nhập, khảo nghiệm, sản xuất

thử và đại trà trên địa bàn toàn tỉnh, điển hình là các giống lúa, mía, bò, heo, gia

cầm, tôm nước lợ chất lượng cao đang sử dụng khá phổ biến . Đến năm 2010 có

70% giống lúa chất lượng cao, 80% giống mía mới, 67% giống bò lai, trên 90%

giống heo cao sản, 60% giống tôm sú đạt chất lượng đã được áp dụng phần tăng

đáng kể năng suất, chất lượng . Bên cạnh đó vẫn còn một số giống phục vụ phát

triển cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày chưa được quan tâm nhiều nên còn hạn

chế về năng suất, nguồn vốn phục vụ chương trình giống còn thấp, mới đáp ứng

khoảng 40% so nhu cầu, quản lý nhà nước về giống còn hạn chế, gây nhiều khó

khăn cho nông dân.

Công tác khuyến nông, khuyến ngư đã được quan tâm tập trung mạnh, hàng

năm công tác tập huấn chuyển giao kỹ thuật đã thực hiện được 300 - 500 cuộc/năm,

bình quân 40 - 50 người/cuộc, xây dựng mô hình trình diễn 300 - 400 điểm/năm,

hội thảo 35 - 40 cuộc/năm, thực hiện khuyến nông trên phương tiện phát thanh,

truyền hình mỗi tuần hai buổi, hàng ngàn áp phích, tờ bướm v.v. đã góp phần không

nhỏ nâng cao trình độ sản xuất cho nông dân. Bên cạnh đó cũng cần cải tiến nội

dung, phương pháp…để lôi cuốn nông dân tự nguyện tham gia và tiếp thụ tốt nội

dung chương trình .

Công tác bảo vệ cây trồng, vật nuôi rất được quan tâm và tập trung mạnh vào

công tác dự tính, tập huấn kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thú y, tổ chức

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

phòng trừ dịch bệnh, nhờ đó mà đã hạn chế được đáng kể dịch bệnh trên địa bàn

49

tỉnh . Hạn chế hiện nay là chưa quản lý tốt chất lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc

thú y, thức ăn chăn nuôi, phân bón

2.1.3.3 Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kĩ thuật

 Cơ sở hạ tầng

* Giao thông

Được đầu tư nâng cấp tương đối đều khắp trên địa bàn toàn tỉnh, là tiền đề hết

sức quan trọng làm cho tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh tăng nhanh . Hiện

nay mạng lưới giao thông thủy bộ toàn tỉnh đã được đầu tư nâng cấp như sau:

Mạng lưới giao thông đường bộ: Tổng chiều dài 4.028,8 km, trong đó:

+ Quốc lộ : 04 tuyến, tổng chiều dài 239,4 km, đường cấp 3 đồng bằng, mặt

trải nhựa, rộng 6-12 m, tải trọng H30.

+ Đường tỉnh : 14 tuyến, dài 409,3 km, đường cấp 4,5 đồng bằng, mặt trải

nhựa, rộng 4-8 m, tải trọng H8-H13.

+ Đường huyện : 44 tuyến, tổng chiều dài 337 km, mặt trải nhựa, bê tông xi

măng, cấp phối và đường đất, rộng 3,5 - 6 m, tải trọng H3,5-H8.

+ Đường giao thông nông thôn (liên xã, liên ấp) : 158 tuyến, tổng chiều dài

690,29 km, mặt đường chủ yếu là bê tông xi măng, rộng 2 m, tải trọng 1,5-2 tấn,

hiện còn 14 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã.

Với mạng lưới cầu đường bộ như trên, đến năm 2008 về cơ bản đã giải quyết

được việc đi lại quanh năm giữa tỉnh đến huyện, xã bằng nhiều loại phương tiện

giao thông đường bộ. Hạn chế tồn tại là mặt đường hẹp, tải trọng cầu, đường thấp,

chất lượng đường còn yếu;

- Mạng lưới giao thông đường thuỷ hiện có 659 km đường, có thể đáp ứng

phương tiện trọng tải 100 tấn trở lên, bao gồm :

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

+ Tuyến giao thông do TW quản lý : 03 tuyến, dài 136 km .

50

+ Tuyến giao thông thuỷ nội vùng do tỉnh quản lý : dài 523 km, mặt sông

rộng 20 - 50 m, sâu 3 - 5 m, tải trọng tối đa 100 - 200 tấn/1 phương tiện .

Như vậy, đường thủy Sóc Trăng có vị trí hết sức quan trọng: từ Sóc Trăng

người dân có thể di chuyển bằng đường thủy đến tất cả các tỉnh ĐBSCL, sang

Campuchia, Lào, và xuôi dòng Mê Công ra biển Đông đi ra thế giới. Tuy nhiên vấn

đề nạo vét, cải tạo lòng sông còn hạn chế nên cũng ảnh hưởng đến hoạt động đường

sông của tỉnh.

Mạng lưới giao thông thuỷ nội vùng bao gồm hàng ngàn kinh rạch chằng chịt

vừa phục vụ giao thông vừa lấy nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp,

nuôi trồng thuỷ sản.

* Hệ thống điện: Nguồn điện ở Sóc Trăng được cấp từ lưới truyền tải điện

Quốc gia qua các trạm biến áp 110/22 KV tại TP Sóc Trăng, Đại Ngãi, Trần Đề và

TP Bạc Liêu, ngoài ra còn được cấp 1 phần từ trạm biến áp Vị Thanh (Hậu Giang) .

Từ lưới điện cao áp, lưới phân phối điện trung thế (22 KV) đã phủ khắp địa bàn 105

xã, phường toàn tỉnh với tổng chiều dài 2.046 km, trong đó đường dây 3 pha 914

km, đường dây 1 pha 1.132 km . Lưới hạ thế 0,4 KV với tổng chiều dài 2.730 km,

gồm 3 pha 220/380 v và 1 pha 220 V . Bán kính phục vụ của đường dây hạ thế là

600-800 m đối với thành thị và 800-1200 m đối với nông thôn

Đến năm 2008 có 100% số xã phường có điện, 85% hộ gia đình sử dụng điện .

Cơ cấu sử dụng điện cho tiêu dùng dân cư là 69%, công nghiệp xây dựng là 23%,

thương nghiệp - dịch vụ là 2%, nông - lâm - ngư nghiệp 3%, hoạt động khác 3%.

Như vậy có thể thấy điện phục vụ sản xuất nông nghiệp - thủy sản còn rất thấp, chủ

yếu do thiếu đường dây hạ thế 0,4 KV.

*Mạng lưới bưu điện: được đầu tư đáng kể từ khi tái lập tỉnh, đến năm 2010

có 1 bưu cục trung tâm và 10 bưu cục ở các huyện, 35 khu vực và 58 bưu điện văn

hóa xã, tổng số máy điện thoại : 567,6 nghìn máy, trong đó máy cố định 180,2

nghìn máy, di động 387,4 nghìn máy, bình quân 16.1 máy /100 dân sử dụng điện

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

thoại cố định, số thuê bao internet 20620. Đến năm 2008 mạng lưới viễn thông đã

51

được số hóa 100%, sử dụng kỹ thuật hiện đại, các máy truyền dẫn vi ba, cáp quang,

mạng dịch vụ viễn thông, đã giúp cho hoạt động thông tin liên lạc trở nên hết sức

thuận lợi.

 Cơ sở vật chất kĩ thuật: Đến nay, toàn tỉnh đã đầu tư, nâng cấp 07 dự án

Thủy lợi lớn là: DA Kế Sách, Long Phú - Tiếp Nhật, Ba Rinh - Tà Liêm, Quản Lộ -

Phụng Hiệp, Thạnh Mỹ, Ven Biển Đông, Cù lao sông Hậu .Tổng số công trình các

loại gồm :

- Đê ngăn mặn, triều dâng cấp I (B> 4 m) : 383 km

- Cống ngăn mặn và điều tiết nước : 1.029 cống ( TĐ: >2m : 75 cống)

- Kinh cấp I (B> 17 m) 1.131 km

- Kinh cấp II (B>10 m) 4.699 km

- Kinh nội đồng (B>3 m) 3.789 km, mật độ 17m/ha

- Trạm bơm cố định 02 trạm chủ yếu phục vụ phòng chống cháy rừng

- Máy bơm rời trong dân hiện có 73.190 máy các loại công suất 4 - 12 CV,

bình quân 2 hộ có 1 máy

Với mức đầu tư từ nguồn Ngân sách hàng năm của TW và Địa phương, bình

quân 100 tỷ đồng/năm, đến cuối năm 2010 hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu

cầu ngăn mặn cho vùng ngọt, phòng chống triều cường các huyện vùng ven biển,

điều tiết nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, góp phần cải tạo

môi trường, phát triển giao thông thủy bộ, phục vụ các ngành kinh tế-xã hội khác .

Hạn chế còn tồn tại là chưa có khả năng chủ động nguồn nước theo nhu cầu phát

triển cây trồng, vật nuôi.

2.1.3.4 Thị trường

Trong lĩnh vực nông nghiệp thị trường có vai trò quan trọng trong việc xác

định các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, phát huy thế mạnh của từng loại đất.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Với địa thế khá thuận lợi cùng với hệ thống giao thông thủy, bộ đa dạng tạo điều

52

kiện phát triển kinh tế liên vùng đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả

thị trường nước ngoài như các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, EU…Với nhu

cầu của thị trường trong nước gồm: lúa đặc sản, ngô, đậu, rau, cây ăn quả, rau các

loại, bò, lợn, gia cầm,…và thị trường nước ngoài gồm: lúa, gạo, thủy hải sản… đã

thúc đẩy việc quy hoạch phát triển các vùng chuyên canh cây trồng vật nuôi phù

hợp, đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường.

Thị trường tiêu thụ nông sản ổn định là yếu tố quan trọng để phát triển nông

nghiệp ổn định. Song, thị trường trong tỉnh, trong nước và nước ngoài không ổn

định, giá cả hàng hóa bấp bênh gây thiệt hại cho người nông dân. Do đó, nhà nước

cần có những biện pháp điều tiết giá cả hợp lí để bảo vệ quyền lợi cho người dân.

Tóm lại, thị trường là động lực thúc đẩy sự phát triển sản xuất và phân bố

nông nghiệp ngược lại nông nghiệp muốn phát triển thì phải vận động theo quy luật

của thị trường, đáp ứng yêu cầu của thị trường.

2.1.3.5 Vốn

- Giai đoạn 2000 – 2005:

Tổng vốn đầu tư 5 năm cho thuỷ lợi, nông - lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh

là: 1.003,5 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách: 993,3 tỷ đồng, huy động nhân dân:

10,2 tỷ đồng. Chia ra:

Công trình do Bộ Nông nghiệp & PTNT chủ quản đầu tư : 300,3 tỷ;

Công trình do tỉnh chủ quản đầu tư: 547,9 tỷ;

Công trình do huyện chủ quản đầu tư: 155,3 tỷ ( trong đó vốn ngân sách:

145,1 tỷ, vốn dân: 10,2 tỷ);

Cơ cấu vốn đầu tư cho các ngành là: thuỷ lợi 683,1 tỷ, chiếm 68,08% tổng vốn

đầu tư, nông nghiệp 12,6 tỷ, chiếm 1,26 %, lâm nghiệp 162,2 tỷ, chiếm 16,16%, các

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

chương trình mục tiêu Quốc gia và cơ sở hạ tầng khác 145,5 tỷ, chiếm 14,5%.

53

Cơ cấu nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn nước ngoài (ODA): 467,8 tỷ đồng,

chiếm 46,62%, vốn ngân sách trong nước 525,5 tỷ, chiếm 52,36%; vốn dân: 10,2 tỷ

đồng chiếm 1,02% .

Kết quả do đầu tư mang lại là tăng khả năng tưới tiêu, ngăn mặn cho lúa, màu,

cây ăn trái từ 134,0 nghìn ha năm 2000 lên 176,0 nghìn ha canh tác (năm 2005)

trong điều kiện thời tiết bình thường, tạo nguồn cho 44,0 nghìn ha đất nuôi trồng

thuỷ sản, cung cấp nước hợp vệ sinh cho hộ dân nông thôn đến năm 2005 đạt

70,5%.

Nhìn chung, các dự án thuộc ngành nông nghiệp & phát triển nông thôn 5 năm

qua là phù hợp với quy hoạch, có nhu cầu bức xúc, tránh được lãng phí trong các

khâu đầu tư và phục vụ có hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ

sản, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn, phòng chống bão lụt v.v .

- Giai đoạn 2006 – 2010:

Nguồn vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp giai đoạn này từ các nguồn vốn của

Trung ương (TW), vốn đầu tư nước ngoài, từ các chương trình mục tiêu quốc

gia…tính từ 2006 đến cuối năm 2010 là 546.410 triệu đồng trong đó vốn ngân sách

447.045 triệu đồng, chủ yếu tập trung đầu tư thủy lợi, đê, cầu cống, bờ kè và tập

huấn khuyến nông, khuyến ngư, xây dựng các mô hình sản xuất để nhân rộng, cung

cấp nước sạch.

2.1.3.6 Hợp tác quốc tế

Là lĩnh vực rất được ngành quan tâm đẩy mạnh hợp tác và mang lại hiệu quả

cao trong 5 năm qua. Ngoài các Dự án lớn đang tiếp tục thực hiện như: Dự án

Ngành cơ sở hạ tầng nông thôn do ADB tài trợ, Dự án Bảo vệ và phát triển những

vùng đất ngập nước ven biển do WB tài trợ, Dự án phát triển thủy lợi ĐBSCL do

WB tài trợ, Còn có 1 số Dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp

(ASPS) do DANIDA tài trợ rất có hiệu quả đối với sản xuất nông - lâm - nghiệp và

PTNT , gồm : Hợp phần IPM, hợp phần Sau Thu hoạch và Hợp phần giống, phối

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

hợp thực hiện với Dự án Nâng cao Đời sống Nông thôn do CIDA tài trợ và các

54

chương trình, dự án do các tổ chức phi chính phủ tài trợ như Tổ chức Heifer - Hoa

Kỳ, tổ chức ACTMANG - Nhật bản. Trong 5 năm đã phát hiện và xây dựng dự án

kêu gọi nước ngoài đầu tư và đã được chấp thuận, đó là: Dự án Bảo tồn sinh cảnh

vùng đất ngập nước Cù Lao Dung do Chính Phủ đức tài trợ, kinh phí 44 tỷ; Dự án

thí điểm nâng cao chất lượng cây trồng và vật nuôi tỉnh Sóc Trăng do CIDA tài trợ,

kinh phí 35,7 tỷ.

Đến năm 2010 toàn ngành nông nghiệp đã thu hút được các dự án đầu tư vốn

ODA và FDI như sau:

Dự án vốn ODA, tổng số 06 Dự án, tổng vốn đầu tư 475,5 tỷ đồng (dự án cơ

sở hạ tầng nông thôn 110,9 tỷ đồng, Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp

31,1tỷ, Hợp phần IPM 26,2 tỷ, dự án Bảo vệ và phát triển những vùng đất nông

nghiệp ven biển 195,4 tỷ, Hợp phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

56,8 tỷ, dự án nâng cao chất lượng cây trồng vật nuôi 37,2 tỷ, dự án quản lý nguồn

tài nguyên thiên nhiên 44,0 tỷ đồng) . Nếu tính cả dự án phát triển Thủy lợi ĐBSCL

(phần trên địa bàn Sóc Trăng) thì nguồn vốn ODA đầu tư cho ngành Nông nghiệp

& PTNT là khoảng 850 tỷ đồng, trong đó vốn đối ứng trong nước khoảng 250 tỷ

đồng.

Dự án, Chương trình do các tổ chức Phi Chính phủ tài trợ, tổng số 03 Chương

trình, Dự án ( Chương trình Heifer thực hiện từ năm 1993, kéo dài đến năm 2011,

vốn tài trợ bình quân hàng năm 250 triệu/năm ; Chương trình hỗ trợ trồng rừng

phòng hộ do tổ chức ACMANG Nhật Bản tài trợ, thực hiện từ 2004 đến nay, vốn hỗ

trợ bình quân 40 - 50 triệu đồng/năm ; dự án các sự lựa chọn và quyền sở hữu cấp

nước và vệ sinh môi trường cho cư dân nghèo nông thôn vùng ĐBSCL, thực hiện từ

2005 - 2010, tổng mức vốn cam kết 1,6 triệu USD)

2.2. Đánh giá chung

 Thuận lợi

- Sóc Trăng có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng và

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

phong phú là tiền đề cơ bản cho nông nghiệp phát triển:

55

+ Vị trí địa lý khá thuận lợi để phát triển nhanh kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc

biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp

+ Yếu tố khí hậu hết sức lý tưởng cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng

thủy sản nhờ nền nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào quanh năm, các yếu tố khí hậu khá

ổn định theo thời gian và không gian, ít bị thiên tai bão lụt

+ Nguồn nước khá dồi dào đủ đáp ứng nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông

nghiệp, nuôi trồng thủy sản trên phần lớn diện tích trong tỉnh, khả năng lợi dụng

thủy triều tưới tự, tiêu chảy là rất lớn

+ Thổ nhưỡng giàu chất hữu cơ, đa số có tầng mặt tơi xốp, tầng mùn dày,

hàm lượng mùn cao, độ phèn mặn trong đất đã được cải tạo đáng kể. Tiềm năng đất

đai sản xuất nông nghiệp còn khá lớn, điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, nước

phong phú, với vị trí địa lý thuận lợi Sóc trăng có các lợi thế để phát triển sản xuất

các loại nông sản truyền thống được thị trường ưa chuộng như lúa gạo, hành tím,

mía, một số loại trái cây...

+ Tài nguyên sinh vật khá đa dạng và phong phú, thích nghi cao với cả 3

vùng sinh thái ngọt, lợ và mặn, rất thuận lợi để phát triển 1 nền nông nghiệp đa

dạng, với 1 số các sản phẩm chủ lực có năng suất, chất lượng rất cao như lúa gạo,

hành tím, cây ăn trái đặc sản, tôm sú, có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị trường

thế giới

+ Thuộc vùng ĐBSCL nhưng Sóc Trăng ít bị ảnh hưởng về lũ và giông bão

- Cơ sở hạ tầng đã và đang đầu tư cho nông nghiệp tạo sức bật mới cho sản

xuất

- Thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, đang được

triển khai ứng dụng sẽ tạo bước đột phá tăng về năng suất, chất lượng và hiệu quả

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

sản xuất.

56

- Chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân tiếp tục đổi mới sẽ tạo động

lực và thời cơ mới cho phát triển sản xuất: chính sách đất đai, đầu tư, khoa học công

nghệ, chính sách an sinh xã hội.

So với các vùng trên cả nước, kể cả các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, lợi thế về tự

nhiên của Sóc Trăng là rất cơ bản, hết sức thuận lợi cho việc đẩy nhanh tốc độ phát

triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là trong lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp

 Tồn tại

Bên cạnh những thuận lợi, Sóc Trăng cũng có những hạn chế nhất định ảnh

hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp

+ Do có hai mùa mưa, nắng cho nên nhu cầu nước ngọt trong mùa khô khá

căng thẳng, trong khi mùa mưa thì hơi bị thừa và phân bố mưa không đều nên vẫn

có thời điểm hạn thiếu nước và có thời điểm mưa dài ngày gây ngập úng khá

nghiêm trọng . Trong mùa khô, đặc biệt 3 tháng trọng điểm (3,4,5) thiếu hụt nước

ngọt nghiêm trọng, kết hợp lượng bốc hơi cao, tốc độ gió mạnh khiến cho khoảng

40% diện tích không sản xuất được, còn trong 3 tháng cao điểm mùa mưa có

khoảng 35- 40% diện tích ngập úng. Nhìn chung khả năng khắc phục thiếu nước và

ngập úng ở các vùng trên còn rất hạn chế do hạ tầng thủy lợi còn thiếu đồng bộ.

Thêm vào nữa, thời tiết diễn biến phức tạp, mưa nắng không theo quy luật nhất

định, mùa mưa thường bị ảnh hưởng bão lụt, mưa dầm, mùa nắng bị xâm nhập mặn

sâu, đã làm ảnh hưởng và thiệt hại đáng kể đến lúa, màu, cây ăn trái cả về diện tích,

đặc biệt là ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng.

+ Đất trong tỉnh phần lớn có độ PH trong đất tương đối thấp, ngoài ra còn

23,7% là đất nhiễm phèn, điều này đã có ảnh hưởng nhất định đến sự phát sinh phát

triển của cây trồng vật nuôi.

+ Dịch cúm gia cầm tiếp tục đe dọa làm cho người chăn nuôi gia cầm trong

tỉnh không những không phát triển chăn nuôi được, mà còn thiệt hại nghiêm trọng

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

do không tiêu thụ được sản phẩm trứng, thịt gia cầm.

57

+ Giá cả vật tư, phân bón, giá thức ăn gia súc gia cầm tiếp tục ở mức cao,

làm cho chi phí cao, lợi nhuận tăng ít, dù giá bán tương đối cao.

+ Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, tuy đã được đầu tư khá lớn, nhưng

khi thời tiết diễn biến ngày một phức tạp và so với nhu cầu sản xuất nông nghiệp

ngày càng tăng, thì vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.

+ Trình độ dân trí còn thấp

+ Công nghiệp chế biến còn nhỏ lẻ, mức độ cơ giới hóa trong sản xuất còn

thấp chưa có tác động tích cực đến phát triển sản xuất

+ Sóc Trăng ở xa các thị trường tiêu thụ nông sản lớn nên chi phí vận chuyển

lớn, khó kêu gọi đầu tư. Mặt khác thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định, giá cả

bấp bênh, công tác dự báo thị trường, xúc tiến thương mại còn làm được rất ít so với

yêu cầu,…cũng là những trở ngại lớn cho nông nghiệp Sóc Trăng.

2.3 Thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai đoạn

2000 - 2010

2.3.1. Khái quát chung

2.3.1.1. Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế tỉnh Sóc Trăng

Quy mô GDP của toàn tỉnh ngày càng tăng, trong đó có phần đóng góp quan

trọng của khu vực nông - lâm - thủy sản

Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), GDP bình quân đầu người của

tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2000 - 2010

Chỉ tiêu

2000

2005

2010

GDP (tỉ đồng, giá thực tế)

5034,5 9265,6 26497,7

% so với vùng ĐBSCL

7,0

6,5

7,2

GDP/người (triệu đồng)

4,2

7,4

20,4

% so với vùng ĐBSCL

95,5

88,0

95,8

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

58

GDP toàn tỉnh giai đoạn 2005 – 2010 tăng nhanh hơn giai đoạn 2000 – 2005

vượt bậc (17232,1 tỉ đồng so với 4231,1 tỉ đồng) cho thấy kinh tế Sóc Trăng đã có

sự phát triển đáng kể so với trước đây. Tuy nhiên, so với vùng ĐBSCL thì GDP tỉnh

Sóc Trăng chiếm tỉ trọng thấp hơn các tỉnh khác nhiều chỉ chiếm 7,0% năm 2000 và

tăng lên 7,2% năm 2010.

GDP/người tăng nhanh giai đoạn 2005 đến 2010 từ 7,4 triệu đồng lên 20,4

triệu đồng tăng 13 triệu đồng/người. Trước đó, giai đoạn 2000 - 2005 GDP/người

tăng chậm hơn chỉ tăng 3 triệu đồng/ người trong vòng 5 năm (chiếm 88% so với

vùng ĐBSCL)

Trong cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế , tuy tỉ trọng khu vực nông - lâm -

thủy sản của tỉnh có giảm đi nhưng giá trị tuyệt đối vẫn không ngừng tăng lên

Hình 2.3 Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2010

Trong GDP của khu vực 1 thì riêng nông nghiệp chiếm 58,3% các 2005 và

66,4% các 2010. Còn nếu so với GDP toàn nền kinh tế thì tương ứng là 33,6% và

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

37,4%

59

2.3.1.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp (2000 – 2010)

Trong cơ cấu GTSX khu vực nông - lâm - thủy sản thì nông nghiệp luôn

chiếm vị trí chủ đạo, mặc dù tỉ trọng có giảm đi nhường chỗ cho thủy sản.

Bảng 2.3 GTSX nông nghiệp và tỉ trọng của nó trong GTSX nông - lâm -

thủy sản giai đoạn 2000 – 2010

Chỉ tiêu Năm 2000 2005 2009 2010

29038,7 21824,6 10470,0 5093,6 GTSX nông - lâm - thủy sản (tỉ đồng)

giá thực tế

GTSX nông nghiệp (tỉ đồng) 18724,2 13115,0 5897,4 3586,8

% so với nông - lâm - thủy sản 64,5 60,1 56,3 70,4

Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

GTSX nông – lâm – thủy sản tăng liên tục giai đoạn 2000 – 2010 từ 5093,6 tỉ đồng

năm 2000 lên 29038,7 tỉ đồng năm 2010 ( tăng 23945,1 tỉ đồng).

Tuy tỉ trọng đóng góp trong GTSX nông – lâm – thủy sản giảm từ 70,4% năm 2000

xuống 64,5% năm 2010 (giảm 5,9%) nhưng GTSX nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng

tăng dần qua các năm từ 3586,8 tỉ đồng năm 2000 lên 18724,2 tỉ đồng năm 2010

(tăng 15137,4 tỉ đồng)

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Trong cơ cấu GTSX của ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt là thế mạnh của tỉnh

60

Hình 2.4 Cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành giai đoạn 2000 – 2010

Trong cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành ta thấy tỉ trọng ngành trồng trọt, dịch

vụ nông nghiệp có xu hướng giảm còn tỉ trọng ngành chăn nuôi có xu hướng tăng

lên tuy nhiên không đều qua các năm. Cụ thể tỉ trọng ngành trồng trọt giảm không

liên tục giai đoạn 2000 - 2010 từ 87,7% năm 2000 xuống 85,9% năm 2002 đến

2005 tăng lên 86,5% sau đó giảm liên tục đến 2009 còn 82%, năm 2010 lại tăng lên

87,1%. Tỉ trọng ngành chăn nuôi cũng tăng không liên tục vào giai đoạn trên từ

năm 2000 đến 2002 tăng từ 9% lên 10,7%, 2005 giảm xuống còn 9,9%, 2009 tăng

lên 15,1% và 2010 giảm xuống còn 10,6%. Tỉ trọng nông nghiệp có tăng chút ít giai

đoạn 2000 – 2005 (từ 3,3% lên 3,6%) nhưng sau đó lại giảm còn 2,3% năm 2010.

2.3.2. Các ngành nông nghiệp

2.3.2.1. Trồng trọt:

Trồng trọt là ngành kinh tế chủ chốt trong ngành nông nghiệp tỉnh, với ưu thế

về đất đai , khí hậu và nguồn nước, Sóc Trăng có điều kiện phát triển đa dạng các

loại cây trồng. Cơ cấu cây trồng trong tỉnh gồm: cây lương thực, cây thực phẩm,

cây công nghiệp, cây ăn quả và một số loại cây trồng khác. Trong đó cây lương

thực chiếm tỉ trọng lớn nhất về GTSX và diện tích gieo trồng. Về GTSX, năm 2010

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

cây lương thực chiếm 66,4%, kế đến là cây thực phẩm chiếm 12,9%, cây lâu năm

61

trong đó chủ yếu là cây ăn quả: 13%, cây công nghiệp hàng năm 6,6% và các loại

cây khác chiếm 1,1%

Bảng 2.4 GTSX ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng giai đoạn

Chia ra (%)

Cây

Cây lương

Cây

lấy

Rau đậu Cây công

Cây

2000 – 2010 (giá so sánh 1994, tỉ đồng)

Tổng số

Năm

khác

bột có củ

công

thực

nghiệp

(tỉ đồng)

nghiệp

hàng năm

hạt

lâu năm

2000

0,7

3,4

6,3

5,6

0,3

75,1

3138,1

2005

1,5

12,4

6,3

10,6

0,5

68,7

3470,0

2009

0,5

13,3

6,4

13,2

0,6

66,0

3948,0

2010

0,6

13,0

6,6

12,9

0,5

66,4

4330,6

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Từ năm 2000 - 2010 trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt phải đối mặt

với nhiều khó khăn thách thức như thiên tai và những biến động phức tạp về thời

tiết, hạn hán, xâm nhập mặn, sâu bệnh hại gia tăng, giá cả phân bón và các loại vật

tư nông nghiệp tăng cao và không ổn định, áp lực cạnh tranh về chất lượng nông

sản,... đã gây nhiều khó khăn cho phát triển sản xuất trồng trọt, nhưng được sự quan

tâm thường xuyên của Tỉnh Ủy, UBND tỉnh, các Bộ, Ngành trung ương và các địa

phương, một số chính sách mới được ban hành, các chương trình, dự án và hợp tác

quốc tế tiếp tục được triển khai,... nên trong lĩnh vực trồng trọt nói riêng và sản xuất

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nông nghiệp nói chung tiếp tục có bước phát triển tương đối toàn diện và ổn định.

62

Chia ra

Lúa

Bảng 2.5 Diện tích các loại cây trồng tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010)

Tổng diện tích

Cây ăn quả

Cây khác

Năm

(nghìn ha)

Cây thực phẩm

Cây lương thực có hạt

Cây công nghiệp lâu năm

Cây công nghiệp hàng năm

2000

375,4

370,4

11,6

4,9

16,6

13,8

21,5

443,8

2005

324,4

321,6

12,3

3,1

26,9

22,4

18,1

407,2

2009

338,5

334,6

13,8

3,1

34,5

25,6

16,3

431,8

2010

353,8

350,0

14,8

3,0

37,2

26,2

16,5

451,5

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

- Cây lương thực

Kinh tế Sóc Trăng chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với lương thực là cây trồng

chính. Cây lương thực luôn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu diện tích cây trồng và

GTSX . Năm 2010, cây lương thực có hạt toàn tỉnh chiếm 66,4% GTSX và 78,4%

diện tích gieo trồng. Về cơ cấu cây lương thực gồm có cây lúa, ngô và các cây chất

bột có củ. Năm 2010 cây lúa chiếm 98,9% diện tích và 99,3% sản lượng lương thực.

Trong vòng 10 năm diện tích và sản lượng cây lương thực có sự thay đổi. Năm

2010 diện tích gieo trồng lương thực đã giảm 21,6 nghìn ha so với năm 2000 chủ

yếu là giảm diện tích kém hiệu quả ở vùng mặn, vùng trũng phèn. Nguyên nhân chủ

yếu do chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây lương thực kém hiệu quả sang

trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, trồng tràm hoặc nuôi trồng thủy sản phù hợp với

kế hoạch chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh đề ra. Sản lượng lương thực

trong giai đoạn này lại tăng 356,3 nghìn tấn. Đạt được kết quả này là do nổ lực của

ngành nông nghiệp trong công tác khuyến nông, tiến hành thâm canh tăng vụ, nâng

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

cao chất lượng giống cây trồng vật nuôi,…

63

Bảng 2.6 Diện tích, sản lượng và sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu

người giai đoạn 2000 - 2010

Năm

2000

2005

2009

2010

Chỉ tiêu

375,4

324,4

338,5

353,8

Tổng diện tích cây lương thực có hạt (nghìn ha)

370,4

321,6

334,6

350,0

Trong đó: lúa

2,7

2,8

3,9

3,7

Ngô

1624,6

1643,7

1795,3

1980,9

Tổng sản lượng lương thực có hạt (nghìn tấn)

1618,0

1634,2

1780,4

1966,6

Trong đó: lúa

6,6

9,5

14,9

14,3

Ngô

1361,0

1306,0

1388

1503

Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người (kg/người)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Các huyện dẫn đầu về diện tích và sản lượng lương thực có hạt năm 2010 là

Trần Đề (51,2 nghìn ha và 284,0 nghìn tấn), Mỹ Tú (50,3 nghìn ha và 278,9 nghìn

tấn), Thạnh Trị (47,3 nghìn ha 279,6 nghìn tấn) Long Phú (45,1 nghìn ha và 267,5

nghìn tấn) và Châu Thành (43,6 nghìn ha và 243,3 nghìn tấn),…

Nhìn chung sản lượng lương thực có hạt bình quân theo đầu người toàn tỉnh

rất cao và tăng lên qua các năm, từ 1361 kg/người năm 2000 lên 1503 kg/người

năm 2010. Với mức này gấp 2,9 lần mức trung bình cả nước và gấp 1,2 lần toàn

vùng ĐBSCL, đứng 5/63 tỉnh cả nước. Một số huyện có sản lượng bình quân lương

thực đầu người cao là: Thạnh Trị (3248 kg/người), Ngã Năm (2631 kg/người), Mỹ

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Tú (2606 kg/người) và Châu Thành (2400 kg/người)

64

Cây lúa

Sóc Trăng là một trong các tỉnh trọng điểm về sản xuất lương thực của cả

nước và ĐBSCL. Trong cơ cấu cây lương thực thì cây lúa chiếm ưu thế tuyệt đối

(chiếm 98,9% diện tích cây lương thực và 99,3% sản lượng lương thực) (2010)

Tuy nhiên, nhu cầu đất trồng lúa trong những năm qua và trong thời gian tới

có xu hướng giảm do nhiều nguyên nhân tác động, diện tích gieo trồng lúa đã giảm

từ 370,4 nghìn ha (năm 2000) xuống 321,6 nghìn ha (năm 2005), giảm 48,8 nghìn

ha, chủ yếu là giảm diện tích trồng lúa kém hiệu quả ở vùng mặn, vùng trũng phèn

chuyển sang nuôi thủy sản và trồng cây khác có giá trị. Sau đó diện tích gieo trồng

lúa có tăng lên và đến năm 2010 đạt 350,0 nghìn ha.

Năng suất lúa tăng ổn định và nhanh, năm 2000 năng suất bình quân là 43,7

tạ/ha, đến năm 2005 là 50,8 ta/ha, và đạt 55,4 tạ/ha năm 2010, đứng thứ 4 vùng

ĐBSCL và 18/63 tỉnh, thành phố cả nước.

Sản lượng lúa luôn giữ ổn định ở mức 1,6 triệu tấn. Đến năm 2010 mặc dù

diện tích gieo trồng đã giảm nhưng do năng suất tăng, nên sản lượng đạt trên 1,9

triệu tấn, đứng thứ 5 vùng ĐBSCL và 5/63 tỉnh, thành phố cả nước.

Đặc biệt từ năm 2002 nông nghiệp Sóc Trăng rất quan tâm mở rộng diện tích

lúa đặc sản để nâng cao giá trị lúa, gạo, năm 2001 toàn tỉnh có 100 ha lúa đặc sản,

thì năm 2005 toàn tỉnh đã sản xuất được 23,3 nghìn ha, và đến nay được gần 45

nghìn ha, tăng 44470 ha. Đây là bước phát triển về chất trong cơ cấu sản xuất lúa

trong những năm qua.

Những năm gần đây diện tích gieo trồng lúa vụ Đông xuân và vụ Mùa tăng do

nông dân ở vùng nuôi tôm không bỏ trống diện tích gieo trồng lúa trên nền đất tôm

lúa như trước đây mà lấp lại bằng một vụ lúa nhằm luân canh đất, cải tạo môi

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trường cho nuôi tôm vụ sau có hiệu quả.

65

Bảng 2.7 Diện tích và sản lượng lúa tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010)

Diện tích ( nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Lúa mùa

Tổng số

Tổng số

Năm

Lúa Hè thu

Lúa Hè thu

Lúa mùa

Lúa Đông xuân

Lúa Đông xuân

2000

132,0

171,3

67,1

640,6

737,0

240,4

370,4

1618,0

2005

136,0

154,4

31,2

752,5

764,1

117,6

321,6

1634,2

2009

138,6

169,1

26,9

811,8

852,2

116,4

334,6

1780,4

2010

139,6

188,6

21,8

872,4

995,1

99,1

350,0

1966,6

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Nhìn chung, trong những năm qua Sóc Trăng sản xuất lúa đã phát triển theo

hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả gắn với yêu cầu của thị trường. Diện tích gieo

trồng lúa hàng năm giảm (do những năm gần đây cùng với tiến trình CNH và quá

trình đô thị hóa, đất trồng lúa ngày càng giảm do phải dành diện tích cho phát triển

công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị, đồng thời một phần chuyển sang nuôi trồng

thủy sản và các cây khác có giá trị hơn), nhưng năng suất, sản lượng vẫn liên tục

tăng, an ninh lương thực được đảm bảo nhờ trình độ thâm canh của nông dân ngày

càng tăng, áp dụng nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp

(giống lúa mới, mô hình mới, kĩ thuật mới…). Trung bình mỗi năm sản lượng lúa

đạt hơn 1,6 triệu tấn, Sóc Trăng đã trở thành một trong những tỉnh có sản lượng lúa

lớn của vùng ĐBSCL, góp phần vào việc đảm bảo an ninh lương thực của cả nước.

Về phân bố, cây lúa có mặt ở khắp các huyện trong tỉnh Sóc Trăng, trong đó

trồng nhiều nhất là ở các huyện Trần Đề (51,1 nghìn ha), Mỹ Tú (49,9 nghìn ha),

Thạnh Trị (47,2 nghìn ha), Long Phú (44,7 nghìn ha) và Châu Thành (43,4 nghìn

ha). Đây cũng là những huyện sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh Sóc Trăng và mang

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

về sản lượng lương thực đáng kể cho tỉnh.

66

Bảng 2.8 Diện tích và sản lượng lúa phân bố theo huyện thị (2000 – 2010)

2000

2005

2010

Năm

Đơn vị

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

(Đơn vị: diện tích :nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)

TOÀN TỈNH

370,4

1618,0

321,6

1634,2

350,0

1966,6

9,1

42,0

8,2

43,3

9,4

49,8

TP Sóc Trăng

-

-

-

-

43,4

242,9

H. Châu Thành

H . Kế Sách

45,3

225,6

43,2

227,2

36,7

204,9

H. Mỹ Tú

80,6

355,3

90,1

444,4

49,9

278,0

H. Cù Lao

-

-

0,1

0,6

0,2

0,9

Dung

H. Long Phú

53,4

269,2

48,0

263,6

44,7

265,7

H. Mỹ Xuyên

64,0

267,6

50,1

236,3

28,1

137,2

H. Ngã Năm

-

36,3

184,8

36,0

210,8

-

H. Thạnh Trị

95,9

385,0

42,8

226,1

47,2

279,4

22,0

73,3

7,9

3,3

13,3

2,6

H. Vĩnh Châu

-

-

-

52,0

283,7

-

H. Trần Đề

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Sóc Trăng hiện là tỉnh đứng hàng thứ 5 vùng ĐBSCL và cả nước về diện tích,

sản lượng lúa sau Kiên Giang, An Giang, Long An và Đồng Tháp.

Đặc điểm nổi bật trong sản xuất lúa ở Sóc Trăng từ 2000 đến nay là giảm

mạnh diện tích gieo cấy trên các giống lúa cũ và nhân nhanh các giống lúa mới (lúa

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

thơm ST3, ST5) đã mang lại thành công đáng kể cho nông nghiệp tỉnh nhà. Hiện

67

nay diện tích gieo trồng lúa đặc sản không ngừng tăng lên và gạo thơm Sóc Trăng

trở thành một thương hiệu nổi tiếng trên cả nước.

Bên cạnh đó cây màu lương thực cũng đóng vai trò quan trọng đối với ngành

trồng trọt trong việc tận dụng đất đai, xen canh gối vụ và nâng cao hệ số sử dụng

đất. Cây màu lương thực còn đáp ứng một phần về nhu cầu lương thực cho nhân

dân và cung cấp thức ăn cho chăn nuôi cũng như nguyên liệu cho công nghiệp chế

biến. Cây màu lương thực chiếm tỉ lệ nhỏ về diện tích và sản lượng lương thực toàn

tỉnh. Cây màu được trồng phân tán khắp tỉnh. Trong số các loại cây màu thì cây

bắp, cây khoai lang, cây khoai mì (sắn) là quan trọng nhất do thời gian sinh trưởng

ngắn nên rất thích hợp trồng xen canh luân vụ với các loại cây trồng khác.

Cây bắp (ngô)

Cây bắp là cây quan trọng nhất trong các loại cây màu lương thực (chiếm

8,3% diện tích cây màu lương thực năm 2010) vừa cung cấp thức ăn cho người vừa

là nguồn nguyên liệu cho chăn nuôi. Bắp được trồng nhiều trên các bãi bồi ven

sông, trồng xen đất lúa, trên đất trồng cây công nghiệp hàng năm. Diện tích, năng

suất và sản lượng bắp nhìn chung ngày một tăng.

Diện tích bắp năm 2000 đạt 2,7 nghìn ha đến năm 2010 đạt 3,7 nghìn ha tăng

1 nghìn ha sau 10 năm, sản lượng bắp cũng tăng 7,6 nghìn tấn từ 6,7 nghìn tấn năm

2000 lên 14,3 nghìn tấn năm 2010. Năng suất không ngừng tăng từ 24,7 tạ/ha

(2000) tăng lên 38,3 tạ/ha (2010). Bắp được trồng nhiều, diện tích lớn và sản lượng

cao tại các huyện: Cù Lao Dung 2,0 nghìn ha đạt 9,7 nghìn tấn, Long Phú 4,5 nghìn

ha đạt 1,8 nghìn tấn, Mỹ Tú 4,2 nghìn ha đạt 0,9 nghìn tấn (2010). Sản lượng bắp

của 3 huyện này chiếm 86,0% sản lượng toàn tỉnh, riêng Cù Lao Dung đã chiếm

67,1% sản lượng bắp toàn tỉnh, dẫn đầu về năng suất bắp toàn tỉnh (48,5 tạ/ha) chủ

yếu là trồng bắp lai và bắp nếp xen canh trên đất lúa. Tuy nhiên người dân cho rằng

trồng bắp cực công, thu hoạch bán cũng khó, nếu dự trữ dễ bị mốc. Bắp là cây trồng

có nhu cầu nước không cao, thích hợp vùng đất giồng cao nên mùa thuận vẫn là vụ

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

xuân hè, mùa khô hạn.

68

Cây khoai lang

Cây khoai lang cũng là cây trồng chủ yếu trong nhóm cây màu lương thực

đứng thứ 2 sau bắp. Năm 2010, cây khoai lang chiếm 5,7% trong cơ cấu cây màu

lương thực và 5,9% tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh.

Khoai lang là cây ngắn ngày, ưu khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi nhiều ánh sáng,

không kén đất, thích hợp đất pha cát hoặc đất thịt nhẹ, dễ thoát nước. Tương đối dễ

tính, khoai lang được trồng luân canh với cây công nghiệp hàng năm hoặc trên đất

lúa, diện tích trồng cơ bản ngày một tăng năm 2000 toàn tỉnh có 1,5 nghìn ha đất

trồng khoai lang sản lượng 14,0 nghìn tấn đến năm 2005 giảm xuống còn 1,4 nghìn

ha với sản lượng 14,6 nghìn tấn nhưng đến 2010 tăng lên 2,9 nghìn ha với sản

lượng 30,6 nghìn tấn. Năng suất khoai lang cũng không ngừng cải thiện từ 96,40

tạ/ha năm 2000 đến năm 2010 đạt 118,8 tạ/ha. Hiện nay người dân rất ưu chuộng

giống khoai lang nhật vì năng suất cao (2,5 – 4 tấn/công) và dễ trồng nên có xu

hướng chuyển sang trồng 1 vụ lúa 2 vụ khoai. Các huyện trồng nhiều khoai lang:

Cù Lao Dung 1,3 nghìn ha, Thạnh Trị 0,4 nghìn ha, Vĩnh Châu 0,3 nghìn ha.

Cây khoai mì (sắn)

Khoai mì là cây có khả năng chịu hạn, thích hợp với nhiều loại đất miễn sao

tơi xốp, thoát nước. Khoai mì giữ đất gần 1 năm, có ít điều kiện luân canh với cây

trồng khác. Khoai mì chủ yếu trồng để phục vụ cho chăn nuôi.

Diện tích trồng khoai mì tăng 0,4 nghìn ha từ năm 2000 đến nay (từ 0,4 ha

năm 2000 lên đến 0,8 ha năm 2010), năng suất và sản lượng cũng không ngừng tăng

lên. Năm 2010 sản lượng khoai mì toàn tỉnh đạt 7,5 nghìn tấn (năng suất 90,1 tạ/ha),

tăng 4,9 nghìn tấn so với năm 2000. Về phân bố khoai mì trồng nhiều nhất ở 2

huyện: Cù Lao Dung (0,3 nghìn ha) và Thạnh Trị (0,3 nghìn ha). Cù Lao Dung hiện

là huyện dẫn đầu tỉnh về diện tích, năng suất, sản lượng cây khoai mì (34,9% diện

tích, 37,5% sản lượng toàn tỉnh)

Tóm lại, cây màu lương thực được trồng chủ yếu trên đất giồng cát và đất cù

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

lao. Ngoài ra nó còn được trồng xen canh trên đất lúa hoặc cây công nghiệp ngắn

69

ngày để tận dụng đất vì vậy chúng phân bố hầu hết ở các huyện trong tỉnh. Nhìn

chung cây màu lương thực ở Sóc Trăng còn tăng chậm về diện tích, thị trường tiêu

thụ chưa được thuận lợi bằng các loại cây trồng khác.

- Cây thực phẩm

Sóc Trăng là tỉnh có điều kiện phát triển phong phú các loại cây thực phẩm

phù hợp với thời tiết và điều kiện từng mùa, từng vùng như: rau muống, bầu, bí,

mướp, cà tím, cà chua, dưa chuột, hành tím, cải xanh, đậu đũa, đậu xanh…

Giai đoạn 2000 - 2010 diện tích và sản lượng trồng rau, đậu ở Sóc Trăng

không ngừng tăng lên. Năm 2000 diện tích trồng rau đậu chỉ có 16,6 nghìn ha đến

năm 2010 đạt 37,2 nghìn ha tăng 20,6 nghìn ha. Sản lượng rau, đậu cũng không

ngừng tăng lên từ 163,7 nghìn tấn năm 2000 lên 321,3 nghìn tấn năm 2005 và 463,5

nghìn tấn năm 2010.

Bảng 2.9 Diện tích và sản lượng rau đậu tỉnh Sóc Trăng

Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)

16,6 2000 163,7

26,9 2005 321,3

34,5 2009 425,2

37,2 2010 463,5

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Cây rau

Sóc Trăng là tỉnh ở ĐBSCL có diện tích trồng rau tươi khá lớn và phong phú

về chủng loại, phân bố ở nhiều huyện trong tỉnh.

Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc áp dụng phân bón hóa học,

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

các loại thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau ngày càng nhiều góp phần vào việc

70

nâng cao năng suất, sản lượng rau tươi. Song, do nhu cầu nâng cao năng suất, một

số người dân trồng rau đã lạm dụng lượng lớn phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực

vật … trong sản xuất rau làm suy giảm chất lượng rau tươi, sản xuất ra sản phẩm

rau không đảm bảo an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của

người tiêu dùng.

Trước thực trạng này, trong những năm qua ngành nông nghiệp Sóc Trăng đã

có nhiều chương trình hướng dẫn nông dân sản xuất rau theo hướng an toàn, bằng

các giải pháp kỹ thuật canh tác theo IPM. Ở Xã Đại Tâm huyện Mỹ Xuyên, một

trong những trọng điểm trồng màu của tỉnh. Với 300 ha đất trồng mỗi năm cung cấp

một lượng lớn rau màu đi các nơi trong và ngoài tỉnh. Vì vậy, việc tuyên truyền về

sản xuất rau an toàn được địa phương quan tâm.

Qua đó, người trồng rau đã ngày càng ý thức hơn trong sản xuất rau màu an

toàn trước khi đưa ra chợ. Tuy vậy, việc sản xuất rau an toàn hiện tại chưa phát triển

rộng do vướng phải đầu ra. Nhằm giúp người dân trồng rau biết được các mối nguy

có khả năng làm cho sản phẩm rau mất an toàn, từ đó có biện pháp ngăn chặn, đảm

bảo chất lượng rau, an toàn cho sức khỏe của người tiêu dùng, hướng đến mô hình

sản xuất rau đảm bảo an toàn thực phẩm. Các mối nguy an toàn thực phẩm trong

sản xuất rau bao gồm các tác nhân hóa học, sinh học và vật lý trong thực phẩm có

khả năng gây tác động có hại đến sức khỏe con người. Để có được sản phẩm rau an

toàn thực phẩm, người trồng rau cần giảm thiểu tối đa những mối nguy vừa nêu.

Hiện nay tỉnh có xu hướng tăng diện tích trồng rau và tăng sản lượng rau.

Năm 2000 diện tích trồng rau là 13,8 nghìn ha sản lượng đạt 161,0 nghìn tấn đến

năm 2010 diện tích tăng lên 33,5 ha và sản lượng đạt 459,4 nghìn tấn, tăng 19,7

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nghìn ha và 298,4 nghìn tấn trong vòng 10 năm.

71

Bảng 2.10 Diện tích và sản lượng rau các loại phân theo huyện thị (2000 – 2010)

2000

2005

2009

2010

Năm

Đơn vị

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

(Đơn vị: diện tích : nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)

13,7

161,0

23,6

317,6

30,8

421,2

33,5

459,4

TOÀN TỈNH

TP. Sóc

0,6

5,2

0,9

8,2

1,1

11,1

1,0

10,9

Trăng

H. Châu

-

-

-

-

1,7

24,3

1,8

24,5

Thành

H . Kế Sách

0,9

9,6

0,9

9,8

0,6

7,3

0,7

8,0

H. Mỹ Tú

1,4

14,9

1,9

25,1

2,0

26,4

2,6

34,2

H. Cù Lao

-

-

1,9

23,7

1,8

23,0

1,6

21,0

Dung

H. Long Phú

3,142

32,3

4,7

52,1

5,0

55,0

3,2

36,6

H. Mỹ

2,6

29,0

4,1

45,3

5,3

61,3

3,5

40,9

Xuyên

H. Ngã Năm

-

-

1,0

11,7

1,3

14,3

1,6

18,1

H. Thạnh Trị

1,3

13,1

2,0

23,4

4,3

47,2

4,4

50,2

H. Vĩnh

3,7

57,0

6,1

118,3

7,7

151,4

9,0

168,8

Châu

-

-

-

-

-

-

4,2

46,8

H. Trần Đề

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Rau các loại trồng chủ yếu ở huyện Vĩnh Châu chiếm 26% diện tích và 37,2%

sản lượng toàn tỉnh và Mỹ Xuyên chiếm 17,2% diện tích và 14,3% sản lượng toàn

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

tỉnh (năm 2010). Ngoài ra, hiện nay tỉnh cũng đã hình thành các vùng chuyên canh

72

rau an toàn ở Thành phố Sóc Trăng, xã Đại Tâm, Tham Đôn thuộc huyện Mỹ

Xuyên…

Trong tập đoàn cây rau, ở Sóc Trăng có một đặc sản có chất lượng cao và có

khả năng xuất khẩu với số lượng lớn là củ hành tím. Tỉnh đã mở rộng diện tích, tăng

năng suất và sản lượng cây hành tím. Năm 2000, toàn tỉnh có 1,9 nghìn ha hành tím

với sản lượng 26,8 nghìn tấn. Năm 2010 tăng lên 6,6 nghìn ha và sản lượng đạt

121,6 nghìn tấn với năng suất 184,8 tạ/ha.

Huyện Vĩnh Châu là một trong ba khu vực có diện tích sản xuất hành lớn nhất

nước với diện tích 6,5 nghìn ha. Hành tím Vĩnh Châu gắn liền với đời sống người

đồng bằng, bởi không chỉ là một loại gia vị chứa nhiều tinh dầu, hoạt chất có lợi cho

sức khỏe, mà hành còn là loại dược phẩm chữa trị rất hiệu quả nhiều chứng bệnh

dân gian như cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, nhiễm trùng đường ruột v.v..., những

bệnh mà ngày xưa, ông bà gọi là bệnh do "sơn lam chướng khí" gây nên. Hiện nay,

nhân dân ta thường dùng hành để chế biến thức ăn và ăn tươi như làm dưa hành,

ngâm giấm... Thường xuyên dùng hành trong ẩm thực hàng ngày không những làm

cho khẩu vị chúng ta thơm ngon hơn, mà còn có thể ngừa được một số bệnh thông

thường mà không cần dùng thuốc.

Hành tím đã giúp đời sống người dân Vĩnh Châu khá lên so với nhiều năm

trước. Tuy vẫn còn nhiều khó khăn vì chưa ổn định được giá thành sản phẩm,

nhưng người dân vẫn yên tâm sản xuất bởi hiện nay nhu cầu của thị trường rất lớn,

nhất là thị trường xuất khẩu sản phẩm tươi qua Nhật Bản và Indonesia.

Cây đậu

Đậu cũng là cây thực phẩm ngắn ngày, có thể trồng thành vùng chuyên canh

hoặc trồng xen với cây hoa màu khác như: bắp, khoai lang,…Đậu có nhiều loại như

đậu xanh, đậu đen, đậu trắng,…dùng làm nguyên liệu để sản xuất bánh kẹo các loại.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Đậu có thể trồng nhiều vụ trong năm nhưng nhiều nhất là vụ xuân hè.

73

Diện tích trồng đậu tăng từ 2,8 nghìn ha năm 2000 lên 3,3 nghìn ha năm 2005

và đạt 3,7 nghìn ha vào năm 2010. Sản lượng năm 2000 là 2,7 nghìn tấn , 3,7 nghìn

tấn năm 2005 và 2010 đạt 4,1 nghìn tấn.

Đậu được phân bố ở tất cả các huyện trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất là

ở các huyện Cù Lao Dung (0,7 nghìn ha và 0,8 nghìn tấn), Long Phú (0,5 nghìn ha

đạt 5,7 nghìn tấn), Ngã Năm (0,7 nghìn ha đạt 6,5 nghìn tấn) (2010).

Bảng 2.11 Diện tích và sản lượng đậu các loại phân theo huyện thị (2000 – 2010)

(Đơn vị: diện tích : nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)

Năm

2000

2005

2009

2010

Đơn vị

DIỆN TÍCH

SẢN LƯỢNG

DIỆN TÍCH

SẢN LƯỢNG

DIỆN TÍCH

SẢN LƯỢNG

DIỆN TÍCH

SẢN LƯỢNG

TOÀN TỈNH

2,8

2,7

3,3

3234

3,7

4,0

3,7

4,1

0,1

0,1

0,1

123

0,2

0,2

0,1

0,2

TP Sóc Trăng

-

-

-

-

-

-

0,1

0,1

H. Châu Thành

H . Kế Sách

0,4

0,4

0,2

383

0,2

0,2

0,2

0,2

H. Mỹ Tú

0,1

0,1

0,2

87

0,1

0,1

0,2

0,3

H. Cù Lao Dung

-

-

0,9

1018

0,8

0,9

0,7

0,8

H. Long Phú

1,4

1,3

0,8

801

0,8

0,8

0,5

0,6

H. Mỹ Xuyên

0,6

0,5

0,5

467

0,2

0,3

0,2

0,2

H. Ngã Năm

-

-

0,1

-

0,6

0,6

0,7

0,6

H. Thạnh Trị

0,1

0,09

0,4

157

0,6

0,5

0,6

0,6

0,2

0,2

0,1

198

0,1

0,1

0,2

0,2

H. Vĩnh Châu

-

-

-

-

-

-

0,3

0,3

H. Trần Đề

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Đặc biệt ở Sóc Trăng trong các loại đậu thì đậu xanh được trồng nhiều nhất

chiếm 50,6% diện tích gieo trồng các loại đậu toàn tỉnh năm 2010. Những năm gần

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

đây diện tích gieo trồng đậu xanh giảm nhưng sản lượng vẫn ổn định. Năm 2000

74

diện tích gieo trồng đậu xanh 2,3 nghìn ha đến 2010 còn 1,9 nghìn ha (giảm 0,4

nghìn ha) sản lượng năm 2000 và 2010 đạt 2,2 nghìn tấn.

- Cây công nghiệp

Hiệu quả kinh tế của trồng cây công nghiệp thường cao hơn so với trồng cây

lương thực, sản phẩm cây công nghiệp cũng có giá trị xuất khẩu cao. Việc trồng cây

công nghiệp tập trung tạo ra vùng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến, góp phần vào

sự nghiệp CNH. Phát triển cây công nghiệp còn có tác dụng tận dụng tài nguyên,

phá thế độc canh trong nông nghiệp và góp phần bảo vệ môi trường. Năm 2010,

diện tích cây công nghiệp Sóc Trăng đạt 17,8 nghìn ha (chiếm 3,9% diện tích gieo

trồng toàn tỉnh), trong đó diện tích cây công nghiệp hàng năm là 14,8 nghìn ha và

cây công nghiệp lâu năm là 3,0 nghìn ha.

Hình 2.5 Biểu đồ thể hiện diện tích cây công nghiệp tỉnh Sóc Trăng

+ Cây công nghiệp hàng năm

Cây công nghiệp hàng năm là loại cây quan trọng và khá thích hợp với điều

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

kiện của Sóc Trăng, diện tích gieo trồng 10 năm qua nhìn chung tăng nhưng không

75

nhiều từ 11,6 nghìn ha năm 2000 lên 14,8 nghìn ha năm 2010, tăng 3,2 nghìn ha.

Những cây công nghiệp hàng năm chính là mía, đậu tương,…

Bảng 2.12 Diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm thời kì

2000 – 2010

Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) Năm

Đậu Mía Mía Đậu tương tương

10,2 0,4 775,0 0,5 2000

11,0 0,7 926,3 1,1 2005

12,9 0,7 1118,6 1,3 2009

13,9 3,7 1297,0 7,3 2010

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Cây mía

Cây mía là cây lấy đường chủ yếu của nước ta nói chung và Sóc Trăng nói

riêng. Trong nhóm cây công nghiệp ngắn ngày của tỉnh cây mía dẫn đầu về diện

tích và sản lượng đồng thời có tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các cây công

nghiệp khác. Diện tích mía ổn định từ năm 2000 đến nay đều trên 10000 ha, cao

nhất là năm 2007 đạt 13,1 nghìn ha, sản lượng mía năm 2000 đạt 775,0 nghìn tấn

đến năm 2010 đạt 1297,0 nghìn tấn, tăng 5,0 nghìn tấn. Năng suất cây mía cũng

không ngừng tăng lên qua các năm từ 758,5 tạ/ha năm 2000 đến 844 tạ/ha năm

2005 và đạt 930,96 tạ/ha năm 2010. Sóc Trăng đã hình thành các vùng mía nguyên

liệu ở 3 huyện Cù Lao Dung, Mỹ Tú và Long Phú giai đoạn 2010 - 2015 với tổng

diện tích 11.912 ha cho ba nhà máy đường: Công ty cổ phần mía đường Sóc Trăng,

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Cần Thơ và Công ty cổ phần mía đường cồn Long Phát. Tỉnh tiếp tục xây dựng và

76

nâng cấp cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi vùng trồng mía. Trên cơ sở đó tổ chức

lại việc trồng mía, từ nhỏ lẻ sang tập trung, hình thành những cánh đồng mía rộng

lớn để có điều kiện thâm canh, tăng năng suất. Trong đó, thay đổi giống mới được

ưu tiên hàng đầu để phát huy lợi thế về thổ nhưỡng. Ngành nông nghiệp tăng cường

hướng dẫn nông dân sử dụng các giống mía mới có năng suất, trữ đường cao; áp

dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để hạ giá thành sản

phẩm. Ðồng thời đẩy mạnh công tác nghiên cứu, triển khai thực hiện cơ giới hóa

trong khâu làm đất, chăm sóc để nâng cao năng suất, chất lượng và khắc phục tình

trạng thiếu lao động khi đến thời vụ thu hoạch mía. Công ty cổ phần mía đường Sóc

Trăng, ngoài việc đầu tư trang thiết bị, nâng cấp dây chuyền sản xuất còn thực hiện

nhiều phương thức tiết kiệm các chi phí sản xuất, hạn chế việc thu mua mía có chữ

đường thấp, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm năng lực cạnh tranh trên thị

trường. Ngoài ra, nhà máy tiếp tục nâng công suất hoạt động để giảm chi phí. Bên

cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi để nhà máy có

đủ vốn đầu tư và trực tiếp thu mua mía của nông dân, không để thương lái ép giá

nông dân như đã từng xảy ra.

Bảng 2.13 Diện tích và sản lượng mía phân theo huyện thị (Đơn vị: diện tích:

nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)

Năm

2000

2005

2009

2010

Đơn vị

DIỆN TÍCH

SẢN LƯỢNG

DIỆN TÍCH

SẢN LƯỢNG

DIỆN TÍCH

SẢN LƯỢNG

DIỆN TÍCH

SẢN LƯỢNG

TOÀN TỈNH

775,0

11,0

926,3

112,9

1120,2

13,9

1297,0

10,2

0,02

1,1

0,005

0,3

0,004

0,04

0,004

0,4

TP Sóc Trăng

-

-

-

-

0,2

11,9

0,2

11,9

H. Châu Thành

H . Kế Sách

0,08

4,4

0,03

1,4

0,06

3,6

0,06

3,7

H. Mỹ Tú

2,7

147,5

2,9

187,3

3,5

254,5

3,8

334,2

H. Cù Lao

-

-

6,3

601,8

7,2

701,6

7,8

784,8

Dung

H. Long Phú

7,0

603,0

1,4

110,7

1,5

117,5

1,3

101,3

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

77

H. Mỹ Xuyên

0,05

2,5

-

-

-

-

-

-

H. Ngã Năm

-

2,1

0,3

2,7

0,02

-

0,03

1,6

H. Thạnh Trị

0,3

0,3

16,0

0.3

22,1

27,2

0,5

41,0

0,01

0,5

0,01

0,8

0,01

0,8

0,02

1,4

H. Vĩnh Châu

-

-

-

-

-

-

0,2

16,8

H. Trần Đề

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Cây đậu tương (đậu nành)

Cây đậu tương lấy hạt làm thực phẩm (đậu phụ, xì dầu, tương, sữa đậu nành,

sữa bột…) hoặc ép lấy dầu. hạt đậu tương có tỉ lệ đạm, chất béo cao nhất trong các

loại đậu. Cây đậu tương đứng thứ 2 về diện tích và sản lượng trong nhóm cây công

nghiệp ngắn ngày sau mía. Trong 10 năm qua cây đậu tương phát triển về diện tích

gieo trồng lẫn sản lượng. Cây đậu tương chủ yếu được trồng ở các nơi có địa hình

cao và trung bình thuộc huyện Kế Sách, một phần ở phía bắc huyện Long Phú và

phía đông huyện Mỹ Tú.

+ Cây công nghiệp lâu năm

Cũng giống như các tinh vùng ĐBSCL khác, Sóc Trăng chủ yếu tập trung

trồng dừa. Dừa là loại cây công nghiệp nhiệt đới phát triển trong điều kiện nhiệt độ từ 28 – 320 C, ánh sáng trung bình mỗi ngày từ 6 – 8 giờ, độ ẩm trong đất từ 60 –

70%. Vì vậy ở Sóc Trăng vùng nước ngọt và nước lợ thuộc huyện Mỹ Xuyên, Long

Phú là nơi thích hợp nhất cho việc trồng dừa.

Dừa có rất nhiều công dụng: cơm dừa khô được ép lấy dầu sử dụng trong công

nghiệp hoặc để ăn, cơm dừa nạo là một loại thực phẩm, nước dừa để giải khát, đóng

hộp, gáo dừa làm than hoạt tính còn vỏ dừa, lá dừa là nguyên liệu để sản xuất hàng

thủ công mỹ nghệ, gỗ thân dừa còn có giá trị xây dựng, làm hàng gia dụng. Nếu có

được các cơ sở công nghiệp chế biến tốt thì sản phẩm từ cây dừa càng phong phú đa

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

dạng và vươn xa hơn ra thị trường thế giới.

78

Bảng 2.14 Diện tích và sản lượng dừa tỉnh Sóc Trăng

Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)

4,9 2000 21,7

3,1 2005 15,2

3,1 2009 15,0

3,0 2010 15,0

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Diện tích trồng dừa ở Sóc Trăng trong 10 năm trở lại đây giảm từ 4,9 nghìn ha

năm 2000 xuống còn 3,0 nghìn ha năm 2010, giảm 1,9 nghìn ha. Nguyên nhân chủ

yếu là do tác động của thị trường, giá cả thu mua thấp làm cho thu nhập từ dừa

không cao nên người dân đã bỏ dừa chuyển sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế

cao hơn. Mặt khác , ngành trồng trọt Sóc Trăng đã từng bước chuyển đổi cơ cấu cây

trồng, tăng dần diện tích trồng cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày có hiệu quả

cao hơn. So với Bến Tre trải qua nhiều thăng trầm trong quá trình chuyển dịch cơ

cấu cây trồng nhưng với diện tích 49,0 nghìn ha (chiếm 34% diện tích trồng dừa cả

nước), dẫn đầu cả nước về diện tích, năng suất và sản lượng dừa trái (hơn 324 triệu

trái/ năm). Cây dừa Bến Tre vẫn được xác định là cây trồng có thế mạnh lâu dài, là

cây công nghiệp lâu năm chủ lực của tỉnh. Nhiều năm qua, những sản phẩm từ cây

dừa là nguồn thu ngoại tệ rất đáng kể. Cây dừa của Bến Tre đã đóng góp nhiều vào

tên tuổi thương hiệu của xứ sở, tạo ra giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công

nghiệp từ 22 – 25%, kim ngạch xuất khẩu từ 60 – 90 triệu USD, chiếm khoảng 47%

giá trị xuất khẩu, đứng thứ hai sau xuất khẩu thủy sản.

- Cây ăn quả

Sóc Trăng có nhiều lợi thế trồng cây ăn quả với nhiều loại như: nhãn, xoài,

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

cam, chanh, sapoche, chuối…Do nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng nên diện tích

79

trồng cây ăn quả ở Sóc Trăng cũng tăng, năm 2000 toàn tỉnh có 13,8 ha trồng cây

ăn quả đến năm 2010 tăng lên 26,2 nghìn ha, tăng 12,4 nghìn ha.

Cây ăn trái ở Sóc Trăng hiện tập trung nhiều ở các khu vực ven sông Hậu,

kênh rạch và đất giồng cát. Theo chương trình phát triển cây ăn trái từ nay đến năm

2010 của tỉnh, 3 khu vực này cũng là những nơi có quy hoạch phát triển vùng cây

ăn trái chuyên canh. Trong đó, vùng ven sông Hậu, nơi có địa hình cao, thoát thủy

tốt, không bị ảnh hưởng mặn thuộc huyện Kế Sách sẽ phát triển cây măng cụt, sầu

riêng hạt lép, xoài cát Hòa Lộc.

Các vùng phía Bắc huyện Cù Lao Dung, Long Phú (xã An Thạnh I, Đại Ngãi,

Song Phụng…) ảnh hưởng nước lợ vào mùa nắng và các vùng đất từ trung bình đến

thấp thuộc huyện Long Phú, Ngã Năm và Thạnh Trị có thể phát triển bưởi da xanh,

bưởi năm roi, cam mật, quýt đường, xoài cát chu, xoài Thái, chuối các loại. Riêng

những vùng đất giồng cát cao thuộc các huyện Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu và thị

xã Sóc Trăng sẽ phát triển vú sữa lò rèn, mít nghệ, me, nhãn xuồng…

Cùng với việc tập trung phát triển diện tích cây ăn trái theo hướng chuyên

canh, vấn đề chất lượng trái cũng được nông dân đặc biệt quan tâm, những giống

kém chất lượng đã được nông dân thay thế dần như xoài được thay bằng giống xoài

cát Hòa Lộc, cát Chu, giống sầu riêng hạt lép Chín Hóa đã thay các giống sầu riêng

khác...Có nhiều mô hình làm vườn cho thu nhập từ 100 triệu đồng/ha trở lên đối với

những vườn trồng sầu riêng và cây có múi (mô hình bưởi Năm roi ở xã Kế Thành,

Kế An – mô hình sầu riêng hạt lép ở xã An Lạc Tây, Nhơn Mỹ - mô hình măng cụt

ở xã Nhơn Mỹ, Xuân Hòa...).

Tình hình cải tạo vườn tạp tuy có khó khăn về vốn, nhưng bình quân mỗi năm

cải tạo từ 1.500 đến 2000 ha, nhiều nhà vườn mạnh dạn đầu tư cải tạo vườn tạp để

trồng các loại cây cho thu nhập cao, có triển vọng về thị trường, Diện tích cây ăn

trái tăng do một số địa phương cải tạo vườn tạp và chuyển một số diện tích sản xuất

lúa không có hiệu quả sang trồng cây ăn trái, đồng thời trong những năm qua tỉnh

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

đã quan tâm đầu tư cho các chương trình phát triển cây ăn trái trên địa bàn tỉnh.

80

Việc quy hoạch này có thể đảm bảo để Sóc Trăng trở thành trung tâm cây ăn

trái lớn với diện tích ổn định 35.000 ha vào năm 2020, trong đó diện tích vùng trồng

cây ăn trái chuyên canh sẽ không ngừng mở rộng theo từng năm, đảm bảo thương

hiệu trái cây Sóc Trăng từng bước đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

Tuy nhiên, thực trạng kinh tế vườn Sóc Trăng thời gian qua cho thấy, việc

phát triển cây ăn trái phần lớn vẫn theo hướng tự phát, nông dân vẫn tự lo từ sản

xuất đến tiêu thụ, vì thế những cây ăn trái có thế mạnh của Sóc Trăng chưa phát huy

được lợi thế. Đó là do:

- Chất lượng trái thương phẩm chưa đủ sức cạnh tranh với thị trường tiêu thụ,

không đáp ứng kịp thời thị trường về số lượng, chất lượng và độ đồng đều

- Giá cả trái cây bấp bênh, thị trường không ổn định, khâu thu mua tiêu thụ các

loại trái cây hầu hết do các thương lái, nông dân không tự tin gắn bó với loại cây

chủ lực của địa phương mình để đầu tư vốn trong sản xuất.

- Nguyên nhân sâu xa và quan trọng hàng đầu dẫn đến những bất cập trong

phát triển kinh tế vườn ở Sóc Trăng vẫn la tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún,

chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm của thị

trường. Hiện nay, sản xuất cây ăn trái trong tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn, hạn

chế về chế biến, bảo quản, thị trường tiêu thụ... nên việc cải thiện, nâng cao hiệu

quả, chất lượng sản phẩm còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển cây

ăn trái của tỉnh.

Bảng 2.15 Diện tích và sản lượng một số cây ăn quả thời kì 2000 – 2010

(Đơn vị: diện tích: nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)

Nhãn

Xoài

Bưởi

Chuối

Năm

Diện tích 2,8 4,3 3,0 3,0

Sản lượng 7,1 13,8 17,3 18,9

Diện tích 0,2 1,6 1,7 1,8

Sản lượng 0,9 9,6 12,4 12,6

Cam, chanh Sản Diện lượng tích 16,0 1,9 15,6 3,0 26,7 3,4 27,6 3,7

Sản lượng 61,1 61,4 77,6 85,5

Diện tích - 1,9 3,8 4,0

Diện tích 1,0 0,2 0,2 0,2

Diện tích 5,8 8,6 9,9 9,7

Sapoche Sản lượng 13,8 1,2 1,1 1,1

Sản lượng - 4,7 10,6 15,3 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

2000 2005 2009 2010

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

81

Chuối

Chuối là loại cây dễ trồng và phổ biến ở ĐBSCL. Riêng ở tỉnh Sóc Trăng,

trong các loại cây ăn quả chuối chiếm tỉ lệ lớn nhất. Diện tích trồng chuối năm 2010

là 9,7 nghìn ha chiếm 37% diện tích cây ăn quả. Sản lượng chuối năm 2010 đạt 85,5

nghìn tấn, tăng 24,4 nghìn tấn so với năm 2000. Xu hướng hiện nay của tỉnh là tăng

diện tích và sản lượng chuối. Chuối được trồng nhiều ở các huyện Mỹ Tú, Kế Sách,

Mỹ Xuyên, Cù Lao Dung…

Nhãn

Cây nhãn đứng thứ hai về diện tích trong các loại cây ăn quả, sau cây chuối.

Cây nhãn được trồng nhiều ở các huyện Kế Sách (1,6 nghìn ha; 12,2 nghìn tấn),

Vĩnh Châu (0,3 nghìn ha; 1,3 nghìn tấn), Cù Lao Dung (0,6 nghìn ha; 3,8 nghìn

tấn). Việc lồng ghép các giống nhãn mới như nhãn tiêu, nhãn xuồng cơm vàng đã

được trồng khá phổ biến. Diện tích nhãn năm 2000: 2,8 nghìn ha đến năm 2002 tăng

lên 4710 ha, trong những năm trở lại đây diện tích trồng nhãn giảm đáng kể do hiệu

quả kinh tế không cao nên người dân chuyển sang trồng cây khác.

Cam, chanh

Cam, chanh được trồng nhiều trên những vùng đất phù sa cao tương đối nhẹ

thuộc các huyện Kế Sách (1,7 nghìn ha; 14,8 nghìn tấn), Mỹ Tú (0,5 nghìn ha; 2,4

nghìn tấn), Châu Thành (0,5 nghìn ha; 3,1 nghìn tấn), Long Phú (0,4 nghìn ha; 3,8

nghìn tấn). Trong những năm gần đây, cam, chanh được đưa vào trồng trên những

quy mô lớn trong phong trào cải tạo vườn tạo. Đến năm 2010, diện tích cam, chanh

ở Sóc Trăng đạt 3,7 nghìn ha (tăng 1,8 nghìn ha so với năm 2000) và cho sản lượng

27,6 nghìn tấn (tăng 11,6 tấn so với năm 2000).

2.3.2.2. Chăn nuôi

- Gia súc (trâu, bò, lợn)

Trâu, bò, lợn là các loại gia súc được nuôi phổ biến để lấy thịt, sữa, da và các

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

sản phẩm khác. Ngoài ra trâu bò còn là nguồn sức kéo trong nông nghiệp.

82

 Chăn nuôi trâu:

Chăn nuôi trâu ở Sóc Trăng chủ yếu phục vụ cho mục đích lấy sức kéo. Trâu

là vật nuôi rất quen thuộc với nông dân, dễ nuôi, sản phẩm dễ tiêu thụ được người

tiêu dùng ngày càng ưa chuộng. Điều kiện sinh thái vùng khá thích hợp cho việc

chăn nuôi trâu. Tuy nhiên, chăn nuôi trâu đòi hỏi phải có địa bàn chăn thả rộng,

diện tích đồng cỏ lớn trong khi diện tích đồng cỏ của tỉnh ngày càng thu hẹp nên chỉ

có thể chăn nuôi hộ gia đình với số lượng ít. Nhìn chung từ 2000 – 2005 số lượng

trâu giảm đáng kể từ 3,1 nghìn con (2000) còn 1,5 nghìn con (2005) và tăng dần trở

lại từ 2005 đến 2010 đạt 3,3 nghìn con tập trung nhiều ở các huyện Thạnh Trị (1,9

nghìn con), Ngã Năm (0,5 nghìn con), Mỹ Tú (0,5 nghìn con) (2010)

Bảng 2.16 Số lượng trâu phân theo huyện thị (Đơn vị: nghìn con)

Năm

2000

2005

2009

2010

TOÀN TỈNH

3,1

1,5

3,3

3,3

TP. Sóc Trăng

0,07

0,01

0,007

0,01

H. Châu Thành

-

-

0,07

0,05

H . Kế Sách

0,001

-

-

-

H. Mỹ Tú

0,5

0,3

0,4

0,5

H. Cù Lao Dung

-

-

-

-

H. Long Phú

0,8

0,05

0,1

0,02

H. Mỹ Xuyên

0,5

0,05

0,2

0,2

H. Ngã Năm

-

0,1

0,5

0,5

H. Thạnh Trị

0,9

0,9

2,0

1,9

H. Vĩnh Châu

0,4

0,03

0,02

0,02

H. Trần Đề

-

-

-

0,09

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

 Chăn nuôi bò:

Bò cũng là vật nuôi quen thuộc với nông dân, dễ nuôi có thể chăn thả hoặc

nuôi chuồng, rất thích hợp chăn nuôi hộ gia đình, có thể phát triển chăn nuôi trang

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trại quy mô vừa, nhu cầu thực phẩm thịt, sữa bò trên thị trường rất lớn. Số lượng bò

83

không ngừng gia tăng từ 2000 đến 2010 từ 3,3 nghìn con lên đến 31,6 nghìn con do

được khuyến khích chăn nuôi và được sự hỗ trợ của nhiều chương trình. Bò sữa bắt

đầu phát triển từ năm 2004 với số lượng ngày càng tăng. Bò được nuôi ở hầu hết

các huyện trong đó nhiều nhất là huyện Mỹ Xuyên (6,6 nghìn con), ít nhất là huyện

Ngã Năm (0,5 nghìn con).

Năm

2000

2005

2009

2010

Bảng 2.17 Số lượng bò phân theo huyện thị (Đơn vị:nghìn con)

17,6

32,5

31,6

3,3

TOÀN TỈNH

0,08

0,6

1,3

1,1

TP Sóc Trăng

-

-

2,6

2,4

H. Châu Thành

0,04

1,1

1,0

1,0

H . Kế Sách

0,4

3,7

2,9

4,6

H. Mỹ Tú

-

0,9

1,2

1,3

H. Cù Lao Dung

0,6

2,3

5,3

3,2

H. Long Phú

0,6

4,2

9,2

6,6

H. Mỹ Xuyên

-

0,6

1,2

0,5

H. Ngã Năm

0,1

2,3

4,3

4,5

H. Thạnh Trị

1,5

1,9

3,5

2,9

H. Vĩnh Châu

-

-

-

3,5

H. Trần Đề

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

 Chăn nuôi lợn:

Lợn là vật nuôi chính gắn bó lâu đời với nhà nông, hiện tại trên 80% hộ nông

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

dân nuôi lợn. Lợn có thể nuôi theo hình thức hộ gia đình số lượng nhỏ đến hình

84

thức trang trại quy mô lớn. Hiện trong tỉnh đã hình thành các trang trại nuôi lợn

công nghiệp với quy mô lớn.

Bảng 2.18 Số lượng lợn phân theo huyện thị (Đơn vị:nghìn con)

Năm 2000 2005 2009 2010

TOÀN TỈNH 224,7 276,2 291,4 267,0

TP Sóc Trăng 13,8 16,0 21,6 20,7

H. Châu Thành - - 27,9 28,3

H . Kế Sách 30,9 42,3 39,8 35,4

H. Long Phú 44,4 40,2 42,1 22,5

H. Cù Lao Dung - 10,4 10,8 9,9

H. Mỹ Tú 36,0 43,9 24,5 24,3

H. Mỹ Xuyên 37,9 41,2 41,2 20,0

H. Thạnh Trị 32,9 25,4 28,2 29,3

H. Ngã Năm - 24,7 48,5 48,8

H. Vĩnh Châu 28,8 32,1 6,9 7,5

H. Trần Đề - - - 20,4

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Số lượng lợn nuôi giai đoạn 2000 – 2010 nhìn chung tăng nhưng không đáng

kể và dao động qua các năm. Từ 2000 đến 2005 tăng từ 224,7 nghìn con lên 276,2

nghìn con đến 2010 giảm xuống còn 267,0 nghìn con. Hạn chế lớn nhất đối với

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

người chăn nuôi lợn hiện nay là giá thức ăn công nghiệp quá cao làm cho giá thành

85

sản xuất cao, người nuôi lãi thấp, vốn đầu tư nhiều, chất lượng con giống và công

nghệ chăm sóc nuôi dưỡng chưa đồng bộ nên năng suất thấp.

Các huyện nuôi nhiều lợn: Ngã Năm (48,8 nghìn con), Kế Sách (35,4 nghìn

con), Thạnh Trị (24,3 nghìn con)

- Gia cầm

Ngoài chăn nuôi gia súc, Sóc Trăng còn chăn nuôi số lượng lớn đàn gia cầm

cung cấp trứng, thịt. Gia cầm là vật nuôi chính đối với nhà nông, có điều kiện phát

triển với hình thức nuôi trang trại công nghiệp đối với đàn gà và chăn nuôi thủy cầm

quy mô lớn nhờ lợi thế vùng sông nước ĐBSCL, tận dụng được thức ăn rơi vãi và

thức ăn tự nhiên, cân bằng sinh thái đồng ruộng. Hạn chế đối với việc phát triển

ngành chăn nuôi gia cầm là khó kiểm soát dịch bệnh đặc biệt là dịch cúm gia cầm

có nguy cơ bùng phát cao.

Bảng 2.19 Số lượng gia cầm phân theo huyện thị (Đơn vị: nghìn con)

Năm 2000 2005 2009 2010

TOÀN TỈNH 2852,1 2132,170 4153,672 4493,9

TP Sóc Trăng 142,8 77,760 98,434 97,7

H. Châu Thành - - 991,640 1364,9

H . Kế Sách 530,4 394,560 787,244 679,1

H. Mỹ Tú 551,9 634,0 503,3 536,0

H. Cù Lao Dung - 27,3 54,6 56,4

H. Long Phú 271,6 178,0 272,4 201,4

H. Mỹ Xuyên 275,0 88,5 219,6 132,8

H. Ngã Năm - 299,9 628,0 665,4

H. Thạnh Trị 724,8 314,4 466,0 470,2

H. Vĩnh Châu 355,5 117,7 132,4 106,9

H. Trần Đề - - - 183,1

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

86

Đàn gia cầm giai đoạn 2000 – 2010 phát triển khá mạnh tăng 1641,8 nghìn

con, năm 2004 số lượng nuôi giảm đáng kể do dịch bệnh, năm 2005 trở về sau số

lượng nuôi tăng trở lại do khống chế được dịch bệnh. Trong quá trình phát triển

chăn nuôi gia cầm tỉnh cũng đã có những chủ trương chuyển đổi cơ cấu giống, tăng

tỉ lệ các giống gà công nghiệp, gà Tam Hoàng, vịt siêu thịt, giống ngan Pháp,… có

giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường và tăng thu nhập cho người dân.

Đàn gia cầm được nuôi nhiều nhất ở vùng đất phù sa ngọt ven sông Hậu thuộc

huyện Châu Thành 1364,9 nghìn con (chiếm 30,4% đàn gia cầm toàn tỉnh), Kế Sách

679,0 nghìn con ( chiếm 15% đàn gia cầm toàn tỉnh) (2010).

Nhìn tổng thể, ngành chăn nuôi Sóc Trăng thời gian qua có sự phát triển theo

chiều hướng tích cực đặc biệt có sự chuyển đổi cơ cấu giống nhằm nâng cao năng

suất và chất lượng sản phẩm. Ngày càng nhiều các trang trại chăn nuôi lợn sinh sản,

lợn thịt, nuôi gia cầm… với phương thức áp dụng tiến bộ kĩ thuật cao trong khâu

con giống, chuồng trại, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc thú y nên thu nhập được nâng

cao.

Tuy nhiên so với tiềm năng của tỉnh, ngành chăn nuôi phát triển còn chậm,

quy mô sản xuất nhỏ, phân tán. Trình độ chăn nuôi đa số còn lạc hậu dẫn đến nguy

cơ dịch bệnh cao và khó kiểm soát. Mặt khác, ngành chăn nuôi chưa có một quy

hoạch cụ thể, tình hình gia thức ăn luôn cao, chất lượng con giống, công tác quản lí

giống, thú y tuy đã cố gắng nhiều nhưng vẫn còn bất cập, chính sách khuyến khích

phát triển chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức. Đó là những nguyên nhân chủ

yếu làm cho ngành chăn nuôi của Sóc Trăng còn kém phát triển.

2.3.2.3. Dịch vụ nông nghiệp

 Dịch vụ cung ứng vật tư, máy móc nông nghiệp

Dịch vụ này được xem như cầu nối giúp người nông dân tiếp cận với công

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nghệ, máy móc trang thiết bị hiện đại phục vụ nông nghiệp. Qua đó, góp phần ngăn

87

chặn suy thoái kinh tế và thúc đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp - nông thôn

trong thời đại mới.

Dịch vụ cung ứng vật tư, máy móc nông nghiệp cung cấp các thiết bị máy móc

, thiết bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất và chế biến nông nghiệp như: máy

gặt đập liên hợp, máy tuốt lúa; máy xay sát, máy bơm nước, máy, ghe xuồng gắn

động cơ; máy nổ, động cơ, máy phát điện; máy gieo hạt, cắt cỏ, băm cỏ, máy

nghiền, máy trộn thức ăn, đóng bánh thức ăn, máy vắt sữa, máy ấp nở gia cầm; máy

kéo, cày, xới, làm đất, xe tải nhỏ…Hiện nay trên địa bàn tỉnh có nhiều cơ sở cung

ứng vật tư, máy móc nông nghiệp nhưng chưa đa dạng về chủng loại và hạn chế về

số lượng.

 Dịch vụ cung ứng phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngoài giống cây trồng, vật nuôi thì

phân bón, thức ăn chăn nuôi và thuốc bảo vệ thực vật cũng đóng vai trò quan trọng

không kém. Trong trồng trọt, việc sử dụng phân bón hợp lý, chất lượng cao và áp

dụng dúng cách các biện pháp bảo vệ thực vật sẽ làm tăng năng suất cây trồng, đem

lại hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất. Cũng như vậy, trong chăn nuôi, nếu biết

chọn lọc và sử dụng các loại thức ăn gia súc, gia cầm có chất lượng, phù hợp với

từng giống vật nuôi sẽ đem lại năng suất cao cho người nông dân.

Dịch vụ cung ứng phân bón, thức ăn chăn nuôi và thuốc bảo vệ thực vật Sóc

Trăng ra đời như một dịch vụ tiện ích hỗ trợ tích cực cho người nông dân trong hoạt

động nông nghiệp.

 Dịch vụ cung ứng giống cây trồng vật nuôi

Giống cây trồng, vật nuôi đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt

động sản xuất nông nghiệp. Giống tốt được coi như một trong những trợ thủ đắc lực

nhất giúp nông dân tăng nhanh hơn hàm lượng chất xám trong nông sản.

Hiện nay, nông nghiệp nước ta đang cố gắng vượt qua những thử thách để có

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

lợi thế trong cạnh tranh ở thị trường quốc tế cũng như trong nước. Tính cạnh tranh

88

thể hiện ngày một rõ nét trong nền kinh tế thị trường hội nhập WTO, chủ yếu trên

cơ sở phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp đô thị, nông

nghiệp công nghệ cao...

Để duy trì và phát triển bền vững trong một môi trường sản xuất nông nghiệp

đầy tính cạnh tranh như vậy, người nông dân luôn muốn tìm kiếm các giống cây

trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao để đưa vào sản xuất. Nắm bắt được nhu

cầu đó nông nghiệp Sóc Trăng đã tích cực nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi để

phục vụ cho nhu cầu sản xuất của nông dân cũng là góp phần thúc đẩy nâng cao

năng suất của ngành nông nghiệp.

 Dịch vụ cho vay vốn hỗ trợ sản xuất

Hiện nay dịch vụ này đóng góp đáng kể cho ngành nông nghiệp giúp nông dân

có điều kiện phát triển kinh tế với mức ưu đãi cho vay đến 80% vốn nhu cầu thực

tế. Trong đó đáng kể nhất là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã hỗ

trợ tích cực nhu cầu vay vốn của nông dân trong địa bàn tỉnh.

Một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng

 Trang trại

Năm 2010, Sóc Trăng có 6,1 nghìn trang trại ( đứng thứ 4 ĐBSCL sau: An

Giang, Bạc Liêu, Kiên Giang) trong đó có 3,1 nghìn trang trại trồng cây hàng năm,

13 trang trại trồng cây lâu năm, 113 trang trại chăn nuôi và 2,7 nghìn trang trại nuôi

trồng thủy sản (Nguồn: Tổng cục thống kê)

Cũng như các tỉnh ĐBSCL, mô hình trang trại được hình thành và phát triển

mạnh mẽ trong thời gian gần đây ở Sóc Trăng. Các chủ trang trại là những người

nông dân sản xuất giỏi, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, có ý chí làm giàu,

nhạy bén với các ứng dụng khoa học kĩ thuật nên tỉ lệ thành công trong hoạt động

trang trại ngày càng cao.

Đại bộ phận trang trại thuộc dạng kinh doanh tổng hợp do sử dụng nguồn vốn,

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

lao động gia đình là chính nên phần lớn các trang trại đều thâm canh và sản xuất đa

89

canh theo các mô hình kết hợp VAC, VACR, RAC,… Các trang trại hình thành dựa

vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, tập quán sản xuất từng địa phương. Tuy nhiên cũng

có các trang trại có quy mô sản xuất lớn từ vài chục đến vài trăm ha, thu nhập từ vài

tỉ đến vài trăm tỉ đồng và giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động. Phần lớn

trang trại đều ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như đầu tư đồng bộ

con giống, thức ăn, chuồng trại, hệ thống xử lý nước thải…Tuy nhiên, tỉ lệ thất bại

trong kinh tế trang trại không phải ít dẫn đến phá sản là điều khó tránh khỏi. Các

trang trại phá sản là do dịch bệnh, chi phí đầu vào cao, nhưng giá bán ra thấp hoặc

thị trường bấp bênh, trình độ chuyên môn và quản lý của các chủ trang trại kém nên

không hiệu quả. Thêm vào đó, cơ chế, chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với kinh

tế trang trại hầu như rất khó đến tay những đối tượng được hưởng. Do đó, để kinh tế

trang trại hoạt động hiệu quả thì theo tôi cần xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế

trang trại phù hợp với tình hình sản xuất từng địa phương như vùng sản xuất lúa,

cây ăn quả, nuôi cá tra, heo, trâu bò và gia cầm,…mở lớp đào tạo kỹ năng quản lý,

kỹ thuật sản xuất cho các trường hợp đạt các tiêu chí thành lập trang trại. Các chính

sách về vốn, thuế, đất đai, xúc tiến thương mại nhanh chóng đến tay các chủ trang

trại mới kích thích họ đầu tư sản xuất hiệu quả cao.

 Vùng chuyên canh

Vùng chuyên canh lúa:

Hiện nay, diện tích sản xuất giống lúa thơm ST của Sóc Trăng đã lên đến hàng

chục ngàn ha, nhưng chủ yếu tập trung vùng nhiễm phèn, mặn và vùng sản xuất 2

vụ/năm do đạt chất lượng cao nhất. Đây là nét đặc thù và cũng là lợi thế lớn nhất

của nghề trồng lúa Sóc Trăng. Việc sản xuất lúa thơm ở Sóc Trăng hiện đã được

nâng lên một tầm cao mới thông qua việc áp dụng qui trình sản xuất Golbal GAP và

được quy hoạch thành những vùng chuyên canh hàng ngàn, đến hàng chục ngàn ha

như: vùng tôm - lúa Mỹ Xuyên, vùng chuyên canh lúa đặc sản xuất khẩu Ngã Năm,

Long Phú, Mỹ Tú... Tại những vùng chuyên canh này, các chế phẩm sinh học trong

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

cải tạo đất, phòng trừ dịch hại, phân hữu cơ vi sinh… đã được người dân áp dụng

90

rộng rãi. Đặc biệt, lúa thơm ST trồng trên vùng đất nuôi tôm có chất lượng và độ an

toàn vệ sinh thực phẩm rất cao do ít sử dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu, rầy.

Đây cũng chính là lý do để lúa thơm ST giữ vững ngôi đầu về giá tiêu thụ, kể cả

trong thời điểm khó khăn nhất về thị trường.

Không thua kém các giống lúa thơm ST, lúa Tài Nguyên Mùa ở Thạnh Trị

cũng đang chiếm lĩnh thị trường trong nước do có chất lượng cao và phù hợp với

khẩu vị của người Việt Nam. Một vùng chuyên canh lúa Tài Nguyên đã hình thành

tại huyện Thạnh Trị trên diện tích hơn 10 ngàn ha sau khi công tác phục tráng, bảo

tồn giống được tiến hành. Nhận thấy tiềm năng và cơ hội kinh doanh từ giống lúa

này, DNTN Châu Hưng đã tiến hành đăng ký và được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp

chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá.

Vùng chuyên canh hành tím

Vĩnh Châu là vùng chuyên canh nông sản đặc sản hành tím. Cây hành tím đã

có mặt trên đồng đất giồng cát này hơn 100 năm nay, nhưng vẫn giữ được hương vị

cay nồng đặc trưng của nó. Hiện nay, qui trình sản xuất, bảo quản hành tím được cải

thiện rất nhiều để sản phẩm vừa đạt năng suất, chất lượng cao, vừa đảm bảo an toàn

vệ sinh thực phẩm. Chính điều này đã thu hút nhiều doanh nghiệp đến Vĩnh Châu

thu mua, xuất khẩu hành tím như: Công ty Thái Bình Dương, DNTN Đức Vinh,

Công ty rau quả Lâm Đồng…

Mỗi năm, Vĩnh Châu sản xuất khoảng 4 ngàn ha hành tím với sản lượng hành

thương phẩm bình quân 70-80 ngàn tấn, chủ yếu được xuất khẩu sang các nước

trong khu vực Đông Nam Á như: Inđônexia, Mã Lai, Philippin… Đã có nhận định

về hành tím Vĩnh Châu như sau: “Chỉ có hành tím Vĩnh Châu mới đủ sức cạnh

tranh về chất lượng và giá cả với các nước trong khu vực. Bởi hành tím Vĩnh Châu

có màu sắc đẹp, hương vị cay nồng đặc trưng, bảo quản tự nhiên được lâu và giá

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

thành hợp lý”.

91

Bên cạnh cây hành tím vốn đã thành danh trên thị trường, một số cây màu

khác cũng đã và đang dần hình thành nên những vùng sản xuất tập trung và đã được

xuất khẩu đi các nước như: khoai lang Nhật, ớt, cà tím, nấm rơm…

Vùng chuyên canh cây ăn trái

Cây ăn trái đặc sản chỉ tập trung nơi vùng ngọt ven bờ sông Hậu. Nổi tiếng và

được thị trường ưa chuộng nhiều nhất phải kể đến đặc sản bưởi Năm roi Kế Thành.

Tại đây đã xây dựng được HTX chuyên canh bưởi Năm roi với diện tích trên 17 ha

và qui trình Global GAP đang được triển khai để HTX có thể ký kết hợp đồng tiêu

thụ với Công ty Hoàng Gia - một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu bưởi và các sản

phẩm từ bưởi. Còn tính chung toàn huyện, diện tích bưởi Năm roi hiện đã vượt trên

4 ngàn ha. Không chỉ nổi tiếng với sản phẩm bưởi Năm roi, trên địa bàn huyện Kế

Sách còn có những loại cây ăn trái nổi tiếng vì có chất lượng thơm ngon như: sầu

riêng hạt lép, vú sữa Lò rèn, măng cụt… Trong số 13,5 nghìn ha cây ăn trái của

huyện hiện có đến 8,6 nghìn ha loại cây đặc sản như: bưởi Năm roi (4,2 nghìn ha),

sầu riêng hạt lép (1 nghìn ha), măng cụt (2,1 nghìn ha), vú sữa Lò rèn (1,3 nghìn

ha).

 Các vùng sinh thái nông nghiệp

Trên cơ sở về đặc điểm địa hình, đất, nước và khí hậu là các yếu tố quyết định

khả năng phát triển cây trồng, vật nuôi, Sóc Trăng hình thành 3 vùng sinh thái nông

nghiệp chính là vùng ngọt - vùng lợ - vùng mặn và tiểu vùng đất giồng cát

- Vùng ngọt: bao gồm khu vực đất thuộc các huyện Kế Sách, Châu Thành, TP.

Sóc Trăng và một phần của các huyện Mỹ Tú, Ngã Năm, Thạnh Trị, Long Phú, Cù

Lao Dung, trong đó:

. Tiểu vùng đất phù sa ngọt: tập trung hầu hết ở huyện Kế Sách, TP.Sóc Trăng,

một phần của Long Phú, Mỹ Tú, Ngã Năm và phía Bắc Cù Lao Dung. Tổng diện

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

tích tự nhiên: 64,4 nghìn ha

92

. Tiểu vùng trũng, đất phèn, mặn ít và trung bình: thuộc phạm vi của huyện

Thạnh Trị, một phần của Ngã Năm, Mỹ Tú. Tổng diện tích tự nhiên: 94,0 nghìn ha,

vùng này có lợi thế về bình quân ruộng đất cao, có nước ngọt quanh năm, nhưng có

hạn chế về đất phèn, có nguy cơ bị xâm nhập mặn, một số khu vực vùng trũng bị

ngập úng tương đối sâu

- Vùng lợ: gồm khu vực từ ven sông Hậu đến sông Mỹ Thanh thuộc phạm vi

của huyện Long Phú và Mỹ Xuyên, hiện có nước ngọt từ 6-9 tháng. Tổng diện tích

tự nhiên: 88,2 nghìn ha. Vùng này có lợi thế về không ngập lũ, về lâu dài có thể kéo

dài thời gian có nước ngọt từ 9-11 tháng ở khu vực phía Bắc và 6-9 tháng ở khu vực

phía Nam và 6 tháng ở khu vực ven sông Mỹ Thanh

- Vùng mặn: bao gồm 2 khu vực:

. Tiểu vùng đất phù sa nhiễm mặn của huyện Vĩnh Châu (phía Nam sông Mỹ

Thanh), mức ngập nông, có nước ngọt 6 tháng. Tổng diện tích tự nhiên 46,3 nghìn

ha. Vùng này có hạn chế về nước ngọt cho phát triển nông nghiệp.

. Tiểu vùng đất phù sa nhiễm mặn: bao gồm phần đất của huyện Cù Lao Dung

và một phần huyện Long Phú. Tổng diện tích tự nhiên: 29,5 nghìn ha. Chủ yếu là

đất phù sa nhiễm mặn, có nước ngọt quanh năm ở khu vực phía Bắc, 9 tháng ở khu

vực giữa và 6-9 tháng ở khu vực phía Nam.

Tóm lại, nông nghiệp Sóc Trăng được phân bố rộng khắp ở các tiểu vùng

trong tỉnh. Việc bố trí sản xuất hợp lí giữa các tiểu vùng và việc chuyển đổi cơ cấu

sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên KT - XH của từng tiểu vùng là điều kiện

quan trọng để tăng cường và nâng cao hiệu quả của ngành nông nghiệp.

2.3.3. Đánh giá chung

- Thành tựu

Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính của tỉnh Sóc Trăng, tỉ trọng GDP

ngành chăn nuôi, trồng trọt chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp (năm

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

2010: 51,4%), giá trị sản xuất nông nghiệp trên giá trị sản xuất nông, lâm , ngư

93

nghiệp giảm dần qua các năm nhưng vẫn còn chiếm tỉ trọng cao (46,7% năm 2010)

do thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng ngành nông

nghiệp, lâm nghiệp, tăng tỉ trọng ngành ngư nghiệp. Bên cạnh đó trong nội bộ

ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch: giảm tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ

trọng ngành chăn nuôi

+ Đã có sự chuyển dịch nhanh theo hướng tăng hiệu quả sử dụng đất nông

nghiệp, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng, nhiều mô hình sản xuất có hiệu

quả cao đã từng bước mở rộng và phát triển tốt.

+ Trong ngành trồng trọt, diện tích, năng suất và chất lượng cây trồng, ngày

càng tăng, việc sử dụng các loại giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật ngày càng phổ

biến, kinh nghiệm và việc áp dụng quy trình kỹ thuật vào sản xuất ngày càng được

nông dân quan tâm hơn, đặc biệt là trong sản xuất lương thực (lúa). Đã hình thành

được các vùng sản xuất lúa gạo tập trung chất lượng cao, vùng mía nguyên liệu,

vùng sản xuất hành tím . Tình hình cơ giới hoá áp dụng vào sản xuất đã có chuyển

biến, riêng trồng lúa đến năm 2010 mức độ cơ giới hoá khâu làm đất đạt 95%, sạ

cấy 10%, bơm nước 80%, cắt 2%, suốt 100%, vận chuyển 50%, phơi sấy 10% . Đã

xuất hiện nhiều mô hình sản xuất đa dạng cho giá trị sản xuất và lợi nhuận cao, có

khả năng nhân rộng thành vùng tập trung, quy mô lớn, như :

. Mô hình chuyên canh cây ăn trái: cam, quýt, bưởi 5 roi, bưởi da xanh, vú

sữa, măng cụt, sầu riêng…giá trị sản xuất bình quân đạt từ 60-100 triệu

đồng/ha/năm, lợi nhuận 30-50 triệu đồng/ha, có mô hình đạt 100-200 triệu/ha

. Mô hình chuyên canh mía với giống mới, kết hợp trồng đậu xanh, giá trị

sản xuất bình quân đạt từ 55-60 triệu đồng/ha, lợi nhuận 25-30 triệu /ha

. Mô hình chuyên trồng rau màu thực phẩm, giá trị sản xuất bình quân 65

triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận 30-32 triệu/ha/năm

. Mô hình 2 vụ lúa 1 vụ màu thực phẩm dưới chân ruộng đã xuất hiện ở

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nhiều vùng trong tỉnh, sản xuất bình quân 60 triệu/ha, lợi nhuận 25-30 triệu/ha

94

. Mô hình 2 vụ lúa kết hợp trồng nấm rơm đã xuất hiện ở nhiều vùng trong

tỉnh, sản xuất bình quân 50 triệu/ha, lợi nhuận 25-30 triệu/ha

+ Trong ngành chăn nuôi việc cải tiến hệ thống chuồng trại, sử dụng giống

lai và áp dụng phương pháp gieo tinh nhân tạo hiện nay khá phổ biến, đã hình thành

nhiều trang trại chăn nuôi heo, gia cầm quy mô lớn mang lại hiệu quả cao

- Hạn chế

Bên cạnh những thành tựu đạt được, nông nghiệp Sóc Trăng phải đối mặt với

những khó khăn thách thức:

Sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, phân tán rất khó khăn cho việc áp

dụng khoa học công nghệ và tiêu thụ sản phẩm.

Chi phí và giá thành sản xuất còn cao

Chất lượng sản phẩm không ổn định

Lợi nhuận đối với nông dân thấp

Nguyên nhân cơ bản là do sản xuất vẫn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nên

rủi ro cao, cơ giới hóa trong một số khâu thu hoạch đạt thấp, bảo quản, chế biến còn

yếu, thị trường không ổn định, tổ chức sản xuất và tiêu thụ còn yếu, quản lý nhà

nước về giá, chất lượng phân bón, thức ăn chưa tốt, quá trình thực hiện chuyển dịch

cơ cấu nông nghiệp còn thiếu bền vững do ảnh hưởng thị trường, tình hình ứng

dụng quy trình kỹ thuật vào sản xuất chưa đồng đều, việc nhân mô hình hiệu quả

cao ra diện rộng còn chậm, nguồn vốn trong dân hạn chế .

Vì vậy, để nông nghiệp Sóc Trăng phát triển ngày càng hoàn thiện thì cần có

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

phương hướng phát triển đúng đắn.

95

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT

TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG

3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển

3.1.1. Quan điểm

- Phát triển sản xuất nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc

gia, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và cho chế biến, xuất khẩu.

- Phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng trên cơ sở nhu cầu của thị trường

gắn với vệ sinh an toàn thực phẩm, phát huy lợi thế của từng vùng, đẩy mạnh

chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhằm đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện chuyển dịch lao

động.

- Phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế

biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập

trung quy mô lớn phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.

- Phát triển nông nghiệp dựa trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học công

nghệ, đẩy mạnh thâm canh và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, nguồn nước, lao

động, tạo điều kiện nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.

- Giúp nông dân nâng cao trình độ và kiến thức trong việc ứng dụng khoa học

kỹ thuật vào sản xuất, dần dần xóa bỏ tập quán sản xuất cũ, biết hạch toán kinh tế,

giảm chi phí, hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao thu nhập, sản

xuất có lãi, nâng cao đời sống.

- Phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn với thực hiện các chính sách trong

nông nghiệp, trên cơ sở huy động được mọi nguồn lực của tất cả các thành phần

kinh tế, kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước, để đảm bảo sản xuất hiệu quả, phát

triển bền vững và an toàn môi trường sinh thái, tăng nhanh thu nhập, ổn định đời

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

sống cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.

96

3.1.2. Mục tiêu phát triển

 Mục tiêu tổng quát

Phấn đấu đến năm 2020 ngành nông nghiệp Sóc Trăng cơ bản đáp ứng yêu

cầu một nền sản xuất nông nghiệp theo mô hình CNH và HĐH, với việc hình thành

vùng sản xuất tập trung cho một số cây con chủ lực, có nhiều lợi thế cạnh tranh trên

thị trường. Cụ thể:

Tiếp tục xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, đa dạng và bền vững

dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế và tiềm năng; áp dụng khoa học công nghệ làm

ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và tăng khả

năng cạnh tranh trên thị trường;

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và nguồn vốn; tăng nhanh thu

nhập và đời sống của nông dân. Duy trì sản lượng lúa hướng vào nâng cao chất

lượng, giá trị và hiệu quả kinh tế.

Chuyển dịch mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi; ổn định và từng bước phát triển

các vùng chuyên canh cây ăn quả, rau màu và đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc

quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp,

dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có quan hệ sản xuất phù

hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ngày càng hiện đại.

 Mục tiêu cụ thể

- Tốc độ tăng GDP bình quân toàn tỉnh : giai đoạn 2011-2015 : 14,5%, giai

đoạn 2016 - 2020 : 14%/năm, trong đó : tốc độ tăng GDP bình quân trong KV1 là :

6,5% - 6,0% - 5%/năm

- Cơ cấu GDP KV1 năm 2015 - 2020 là : 28 % - 20 %

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất KV1 bình quân : giai đoạn 2011-2015 : 7,5%,

giai đoạn 2016 - 2020 : 5,5%/năm, trong đó : nông nghiệp : 3,9% - 4,1% ( Trồng

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trọt : 1,7% - 1,6%, Chăn nuôi : 13,2% - 11%, Dịch vụ: 9,4% - 8%);

97

- Cơ cấu giá trị sản xuất nội bộ ngành nông nghiệp (trồng trọt - chăn nuôi -

dịch vụ) đến 2015 : 64,5% - 29,2% - 6,3%, đến 2020 : 57% - 35,6% - 7,4%

3.1.3. Định hướng phát triển nông nghiệp

3.1.3.1. Theo ngành

 Trồng trọt (cây lương thực, cây công nghiệp…)

Khai thác triệt để các điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội, nỗ lực

khắc phục khó khăn, tập trung đầu tư, phát triển sản xuất với tinh thần sản xuất

thâm canh toàn diện, sản xuất hàng hóa tập trung, hiệu quả kinh tế cao. Tiếp tục ứng

dụng tốt các tiến bộ kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất để đẩy mạnh việc chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, hiệu quả thấp sang cơ cấu cây trồng tiến bộ hơn, phù hợp với điều

kiện cụ thể của từng địa phương và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong đó cần tăng

cường đầu tư cho hướng phát triển nông sản hàng hóa và nông sản làm nguyên liệu

chế biến.

- Ưu tiên phát triển các nhóm cây trồng, vật nuôi chủ lực, có lợi thế cạnh

tranh, có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định như lúa gạo, cây ăn trái, mía, hành

tím, lợn, bò, gia cầm.

- Phát triển nhóm cây trồng có ít lợi thế hơn như rau màu thực phẩm, bắp, đậu

nành, đậu phộng, dừa, chuối

- Hỗ trợ phát triển nhóm cây trồng chưa có lợi thế như khoai mì, khoai lang.

- Nghiên cứu phát triển cây ca cao để sản xuất cung cấp cho thị trường xuất

khẩu

Định hướng phát triển lúa gạo

- Cây lúa vẫn là cây lương thực quan trọng, mang tính ổn định nhất, tuy nhiên

trong giai đoạn tới cần nâng cao chất lượng và giá trị. Tiếp tục phát huy lợi thế về

trồng lúa ở các địa phương, nhất là các vùng ít bị ảnh hưởng xâm nhập mặn. Tập

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trung nâng cao năng suất, chất lượng bằng việc sử dụng các giống mới năng suất

98

cao, chất lượng phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Áp dụng

đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là "3 giảm 3 tăng" nhằm giảm giá thành

sản xuất lúa. Đồng thời mở rộng thực hiện chương trình lúa gạo để đạt mức sản

lượng lúa vào năm 2015 là 1,74 triệu tấn trên diện tích tích gieo trồng 307,7 nghìn

ha, định hướng đến năm 2020 giữ sản lượng ở mức 1,74 triệu tấn với diện tích ổn

định khoảng 280,0 nghìn ha.

Tỉnh Sóc Trăng với ưu thế về sản xuất lúa đặc sản, do vậy sẽ tập trung nghiên

cứu và phát triển các giống lúa thơm đặc sản, trong đó có hai giống đặc sản chủ lực

của tỉnh là giống lúa Tài Nguyên mùa và nhóm giống lúa ST. Hướng tới xây dựng

các vùng chuyên canh lúa đặc sản, vùng lúa chất lượng cao, tập trung với quy mô

diện tích lớn, phù hợp với từng vùng sinh thái trong tỉnh để tạo nguồn nguyên liệu

ổn định, đủ sản lượng lúa hàng hóa đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ của thị trường, tạo

điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh doanh lúa gạo ký kết hợp đồng đầu tư và

bao tiêu thu mua sản phẩm.

Dự kiến phát triển diện tích lúa đặc sản lên 80.000 ha vào năm 2020 tương

ứng với sản lượng khoảng 440,0 nghìn tấn, phục vụ nhu cầu trong nước và tham gia

xuất khẩu.

- Đối với các vùng trũng, phèn, vùng nhiễm mặn, điều kiện tưới tiêu khó khăn

cần hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi nội đồng, đầu tư cho thủy lợi nhỏ, tăng cường

công tác khuyến nông và hỗ trợ nông dân sản xuất để đảm bảo an ninh lương thực

tại chỗ. Riêng đối với vùng sản xuất tôm nước lợ, sẽ quy hoạch vùng sản xuất tôm -

lúa và khuyến cáo nông dân áp dụng quy trình trồng lúa lúa luân canh với nuôi tôm

nước lợ để đảm bảo môi trường nuôi được bền vững và ổn định

- Đối với vùng sản xuất 3 vụ lúa, tiếp tục vận động nông dân chuyển đổi 3 vụ

lúa ở nơi không có điều kiện thuận lợi về nước và đất sang sản xuất 2 vụ lúa/năm

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

hoặc 2 vụ lúa – 1 vụ màu có hiệu quả

99

Định hướng phát triển cây ăn trái

Cây ăn trái là một thế mạnh trên vùng ngọt của tỉnh do ít chịu ảnh hưởng lũ.

Trong những năm tới mở rộng diện tích các loại cây ăn trái chủ lực có lợi thế cạnh

tranh và để vườn cây phát triển đồng bộ thì cần tổ chức lại sản xuất quy mô lớn,

phát huy mô hình kinh tế hợp tác, khuyến khích các thành phần kinh tế trong và

ngoài tỉnh tham gia thu mua, chế biến, xuất khẩu… đẩy mạnh xúc tiến thương mại,

mở rộng thị trường, đầu tư hệ thống bảo quản, xử lý sau thu hoạch và tăng cường dự

báo thị trường để định hướng sản xuất.

Các huyện căn cứ vào điều kiện và thế mạnh của mình nên xác định từ 1 - 3

loại cây chủ lực để tập trung đầu tư. Ưu tiên chọn những loại cây có thể cạnh tranh

như măng cụt, bưởi, xoài, vú sửa, sầu riêng, nhãn, chôm chôm, chuối,…đồng thời

phải thay đổi giống mới có chất lượng, giá trị cao và quan tâm cải tạo vườn tạp.

Xác định cây chủ lực thứ tự ưu tiên phát triển:

- Cây măng cụt, sầu riêng hạt lép, xoài cát hoà lộc, cho vùng sinh thái thuận

lợi nhất thuộc khu vực ven sông Hậu, có địa hình cao, thoát thủy tốt, không bị ảnh

hưởng mặn thuộc huyện Kế Sách.

- Cây bưởi da xanh, bưởi năm roi, cam mật, quýt đường, xoài cát chu, các

giống xoài thái, chuối các loại cho các vùng đệm ảnh hưởng lợ vào mùa nắng gồm

các vùng phía Bắc huyện Cù Lao Dung, huyện Long Phú (xã An Thạnh Nhất, xã

Đại Ngãi, Song Phụng...), các vùng đất từ trung bình đến thấp thuộc huyện Mỹ Tú,

Ngã Năm và Thạnh Trị.

- Cây vú sữa lò rèn, mít nghệ, me, nhãn xuồng,…cho những vùng đất giồng

cát cao thuộc các huyện Châu Thành, Mỹ Tú, TP.Sóc Trăng, Mỹ Xuyên và huyện

Vĩnh Châu.

Xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản tập trung ở huyện Kế Sách và

đầu tư quy hoạch, khôi phục lại vùng chuyên canh cây nhãn, cây mãng cầu dai ở

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

vùng giồng cát huyện Vĩnh Châu. Tổ chức sản xuất theo hướng thâm canh, áp dụng

100

quy trình GAP đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Đối với các địa phương có điều kiện thích

nghi, chú trọng cải tạo về giống, trồng thâm canh để tiêu thụ nội địa. Dự kiến diện

tích cây ăn trái đến năm 2020 đạt khoảng 30,0 nghìn ha với sản lượng 225,0 nghìn

tấn trái các loại.

Định hướng phát triển cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày

Cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày là cây sinh trưởng và phát triển chủ

yếu là dựa hoàn toàn vào các yếu tố tự nhiên cơ bản: đất, nước và khí hậu. Do yếu

tố khí hậu ở Sóc Trăng khá đồng nhất, cho nên đất và nước là hai yếu tố chủ yếu, là

cơ sở khoa học để xác định các vùng có tiềm năng phát triển cho từng loại giống

cây màu nói chung trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đất thổ nhưỡng phân bố trên các

vùng sinh thái và nguồn nước thủy văn để xác định địa bàn phát triển tốt đối với cây

màu và cây công nghiệp ngắn ngày, định hướng phát triển các cây trồng chủ lực cho

cây màu trên địa bàn tỉnh như sau:

 Định hướng phát triển cây mía

Cây mía là loại cây công nghiệp ngắn ngày, là một trong những cây trồng chủ

lực của Sóc Trăng, thích hợp trên vùng đất cù lao và dọc sông Hậu, trồng được trên

vùng đất phèn, hiện nay đã hình thành các vùng chuyên trồng mía, sản xuất tập

trung ở các huyện Cù Lao Dung, Long Phú, Mỹ Tú. Diện tích gieo trồng năm 2010

là 12,9 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 867,52 tạ/ha, vùng có năng suất cao nhất

trung bình là huyện Cù Lao Dung 967,64 tạ/ha

Phát triển mía đường trong thời gian tới phải đảm bảo hiệu quả kinh tế-xã hội

và bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, phù hợp với quy hoạch chuyển đổi cơ cấu

nông nghiệp, từng bước nâng cấp, mở rộng công suất của nhà máy đường Sóc

Trăng theo hướng công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến.

Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các vùng nguyên liệu

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

mía, gắn lợi ích giữa nhà chế biến và người sản xuất nguyên liệu.

101

Trên cơ sở định hướng phát triển cây mía đến năm 2020, các địa phương có

diện tích gieo trồng mía cần đầu tư phát triển vùng nguyên liệu phù hợp với quy mô

công suất các nhà máy trong tỉnh và trong khu vực, theo quy hoạch đã được phê

duyệt của UBND tỉnh, đầu tư thâm canh diện tích mía hiện có, mở rộng diện tích ở

nơi có điều kiện theo hướng: trồng giống mía mới, áp dụng công nghệ canh tác tiên

tiến và đầu tư hệ thống tưới tiêu.

Ba huyện trọng điểm phát triển mía đường để xây dựng vùng nguyên liệu mía

tập trung, bố trí chủ yếu ở các huyện Cù Lao Dung, Long Phú và Mỹ Tú.

Theo định hướng đến năm 2020 phát triển diện tích trồng mía khoảng 13,0

nghìn ha, năng suất mía bình quân 160 tấn/ha, sản lượng mía đạt trên 2 triệu tấn

 Định hướng phát triển cây hành tím:

Cây hành tím có thể trồng trên nhiều loại đất, nhưng đất cần cao ráo, tơi xốp,

nhiều dinh dưỡng, hạn chế tối đa ngập úng, thích hợp nhất với vùng đất giồng cát là

loại đất phù sa ven biển. Đây là loại cây màu thực phẩm đặc sản, là mặt hàng truyền

thống và có khả năng phát triển của tỉnh, đã xuất khẩu sang một số nước, là cây

trồng chủ lực cho giá trị kinh tế cao, năng suất bình quân 20 tấn/ha, cao nhất có thể

đạt 25 tấn/ha/vụ. Vùng chuyên canh tác hành tím được tập trung ở huyện Vĩnh

Châu trên các giồng cát có điều kiện thích nghi tốt với loại rau thực phẩm này.

Dự kiến đến năm 2020 diện tích gieo trồng đạt 6,0 nghìn ha

 Định hướng phát triển rau, đậu các loại

Đầu tư phát triển các vùng sản xuất rau chất lượng cao, tập trung theo công

nghệ sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng thời khuyến khích phát triển trồng nấm

các loại, cung cấp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Vùng chuyên trồng màu thực phẩm tập trung chủ yếu một phần ở Cù Lao

Dung và trên các giồng cát thuộc Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Long Phú, Mỹ Tú, Châu

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Thành và Kế Sách.

102

Luân canh 2 vụ lúa - 1 vụ màu tập trung ở các huyện Long Phú, Mý Tú, Châu

Thành, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị và Kế Sách. Ngoài ra có thể phát triển ở các vùng

ngọt khác với điều kiện có hệ thống thủy lợi tưới tiêu tốt

Theo định hướng đến năm 2015 diện tích rau, đậu các loại đạt 37,6 nghìn ha,

đến năm 2020 khoảng 43.000 ha. Sản lượng 2015 ước đạt 419.750 tấn, năm 2020

ước đạt 516.000 tấn.

 Định hướng phát triển cây bắp lai:

Là cây lương thực ngắn ngày, thị trường tiêu thụ trong nước rất lớn, là loại cây

trồng có điều kiện phát triển ở Sóc Trăng, thích hợp trên đất cù lao và dọc sông

Hậu, có thể phát triển trên chân ruộng cao theo mô hình lúa – màu. Đưa các giống

bắp mới có năng suất cao, kết hợp các biện pháp đầu tư thâm canh tăng năng suất để

đạt sản lượng 22.500 tấn năm 2015 và 33.500 tấn vào năm 2020.

Dự kiến đến năm 2020 diện tích gieo trồng bắp lai đạt 5.000 ha/ diện tích bắp

8.000 ha

 Định hướng phát triển cây đậu nành

Là loại cây công nghiệp ngắn ngày có nhu cầu tiêu thụ cao trên thị trường

trong nước, thích hợp trên vùng đất cao, có thể phát triển mạnh trên đất lúa theo mô

hình lúa – màu. Dự kiến năm 2015 diện tích khoảng 950 ha, đến năm 2020 diện tích

gieo trồng đạt 1.600 ha với sản lượng 4.800 tấn

 Định hướng phát triển khoai lang, khoai mì

Tập trung đầu tư thâm canh tăng năng suất, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu công

nghiệp chế biến xuất khẩu, và chế biến thức ăn chăn nuôi, ổn định khoảng 8.800 ha,

Định hướng phát triển cây dừa:

Về tầm nhìn chiến lược dừa là một cây kinh tế có nhiều triển vọng lâu dài và

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

bền vững với những lý do:

103

- Điều kiện canh tác: tính thích nghi về thổ nhưỡng, sinh thái của cây dừa rất

rộng. Trong toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của tỉnh đều có thể trồng được dừa để

thay thế cây trồng khác. Tuy nhiên, ngoài yếu tố thổ nhưỡng và sinh thái ra, trong

thời gian tới còn có 2 điều kiện chi phối đến sản xuất nông nghiệp là: lao động và

biến đổi khí hậu toàn cầu (theo dự báo 20-30 năm tới, mực nước biển sẽ dâng cao

cách mặt nước hiện tại từ 30-40cm). Hai hạn chế này sẽ gây áp lực cho cây mía và

cây ăn trái nhưng lại thích nghi với cây dừa.

- Về thị trường tiêu thụ: so với nhu cầu tiêu thụ và nguyên liệu chế biến trong

những năm tới theo hướng gia tăng công nghiệp chế biến dừa, phải cần sản lượng

dừa trái từ 400 triệu trái trở lên, trong khi đó hiện nay chỉ mới đạt 312 triệu trái.

Từ những nhận định trên, cho thấy cây dừa đã và đang chiếm ưu thế rất lớn

trong cuộc sống con người và trong nền kinh tế, giá trị của cây dừa luôn được giữ

vững là một xu thế tất yếu.

Để nâng cao hiệu quả sản xuất dừa đòi hỏi cần tổ chức cải thiện chất lượng

vườn dừa với các giống mới có năng suất và tỷ lệ dầu cao, các địa phương cần có kế

hoạch phục hồi, phát triển vườn dừa. Nếu đầu tư công nghiệp chế biến, sử dụng hợp

lý sản phẩm từ dừa, có thị trường tiêu thụ, vẫn có thể khai thác tốt diện tích dừa

hiện có và phát triển lại các vùng trồng dừa.

Dự kiến đến năm 2020 diện tích cây dừa sẽ đạt khoảng 3.800 ha có sản lượng

16.244 tấn

Định hướng phát triển cây chuối:

Trái chuối là loại trái được mọi người sử dụng rất phổ biến không chỉ ở Việt

Nam mà trên toàn thế giới. Tại một số nước Châu Mỹ và Châu Phi, cây chuối được

trồng phổ biến và xuất khẩu đi khắp thế giới, mang lại giá trị kinh tế cao cho nông

dân. Trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, mặc dù chưa có những nghiên cứu, thử nghiệm

sản xuất chuối với quy mô lớn, tuy nhiên có thể nhận thấy người dân trồng chuối

khá phổ biến với mục đích chủ yếu là lấy trái để dùng trong gia đình và bán cho

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

thương lái với tính chất tự tiêu. Chuối phát triển tốt và cho trái quanh năm, nên có

104

thể khẳng định có thể phát triển cây chuối tốt và cho thu nhập nếu được quan tâm và

trồng với quy mô lớn.

Để cây chuối có thể phát triển tốt cần phải chú ý một số vấn đề về giống, kỹ

thuật và thị trường

Mặc dù chưa có những tổng kết hay đánh giá về hiệu quả kinh tế cũng như

hiệu quả môi trường nào của cây chuối trên địa bàn tỉnh, nhưng có thể khẳng định,

cây chuối sẽ mang lại thu nhập cao cho người dân nếu được đầu tư sản xuất với quy

mô lớn. Để phát triển được vùng trồng chuối với quy mô công nghiệp, thì các ngành

chức năng, các địa phương cần có những nghiên cứu cụ thể để xây dựng quy trình

kỹ thuật, quy hoạch vùng sản xuất cũng như các chính sách khác để khuyến khích

các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển cây chuối trên diện rộng một cách hợp lý,

thành vùng hàng hoá nhằm tăng hiệu quả kinh tế của loại cây trồng này, tạo nguồn

thu nhập cho người dân trong tỉnh.

Định hướng phát triển cây ca cao

Đây là loại cây trồng chưa thực sự phổ biến nhiều tại Việt nam, nhưng đã

được ghi nhận về chất lượng hạt tự nhiên, giá trị kinh tế và khả năng mở rộng trong

thời gian tới. Với lợi thế có thể trồng xen canh với các loại cây khác, không kén đất,

vốn đầu tư thấp nên dù mới tập trung phát triển trong 3 năm gần đây nhưng hiện cả

nước đã có trên 9.000 ha. Năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 240 tấn hạt

cacao.

Cây ca cao hiện được trồng tập trung ở các tỉnh ĐBSCL và Tây Nguyên, trong

đó, tỉnh Bến Tre là nơi có diện tích lớn nhất với 2.000 ha. Mô hình trồng ca cao

dưới tán dừa ở đây cũng là một trong những mô hình canh tác nông nghiệp cho thu

nhập cao nhất với năng suất bình quân khoảng 1,5 tấn hạt/ha.

Đề án "Phát triển cây ca cao đến năm 2015 và định hướng đến 2020" được Bộ

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt mới đây đã đặt mục tiêu đạt 80.000

ha ca cao, sản lượng hạt khô khoảng 110.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 100 -

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

120 triệu USD vào năm 2020

105

Để có thể phát triển cây ca cao ở Sóc Trăng, cần nghiên cứu phát triển ca cao

ở những nơi có điều kiện sinh thái phù hợp để thuận lợi trong đầu tư thâm canh và

tiêu thụ sản phẩm. Bố trí thành các vùng tập trung, trồng xen với cây dừa,...trước

mắt đang bố trí trồng thử nghiệm 50 ha ở huyện Kế Sách và Cù Lao Dung

 Chăn nuôi

Khai thác tối đa lợi thế của tỉnh về điều kiện tụ nhiên, KT - XH để phát triển

ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp, tạo khối lượng sản phẩm lớn, chất lượng

cao cung cấp cho thị trường tiêu thụ tươi sống, chế biến và xuất khẩu, từng bước

CNH - HĐH ngành chăn nuôi để tạo sự chuyển biến cơ bản về chất và lượng, đồng

thời tăng dần tỉ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông

nghiệp.

Từ nay đến năm 2020 từng bước hình thành được các vùng chăn nuôi tập

trung theo hướng chăn nuôi gia trại, trang trại và chăn nuôi công nghiệp là chính,

với 3 loài vật nuôi chính là : trâu bò, heo, gia cầm (gà, vịt), kết hợp chăn nuôi hộ gia

đình theo hướng an toàn sinh học ở những vùng xa dân cư tập trung . Phấn đấu tốc

độ tăng trưởng hàng năm từ nay đến năm 2020 từ 10 %/năm trở lên, tỷ trọng chăn

nuôi trong nông nghiệp đến năm 2015 đạt 24-25% và năm 2020 đạt khoảng 33-

35%.

+ Heo: Phát triển nuôi heo chất lượng cao ở một số vùng có lợi thế như Long

Phú, Kế Sách, Mỹ Tú, Thạnh trị, Ngã Năm, ... theo hướng sản xuất công nghiệp,

đảm bảo an toàn dịch bệnh để đáp ứng cho nhu cầu đô thị và khu công nghiệp; với

số lượng đàn heo đến năm 2020 đạt 900 nghìn con.

+ Trâu, bò: Phát triển mạnh đàn bò theo hướng thịt có năng suất cao, thịt

ngon, đáp ứng nhu cầu thị trường. Tổng đàn bò 120 nghìn con; đàn trâu 8 nghìn

con.

+ Gia cầm: Phát triển gia cầm chủ yếu là gà, vịt đáp ứng nhu cầu thịt, trứng

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

cho tiêu dùng và xuất khẩu, với số lượng 15 triệu con.

106

Bảng 3.1 Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020

Tốc độ phát triển

Chỉ tiêu

2010

Quy hoạch 2015

Quy hoạch 2020

2011 - 2020

1. Đàn trâu ( nghìn

4,5

3,3

8,0

14,2

con)

Sản phẩm thịt hơi

177,6

131,5

316

14,3

(Tấn)

2. Đàn bò ( nghìn

70,0

32,5

120,0

17,0

con)

Sản phẩm thịt hơi

1,9

1,0

3,3

17,0

( nghìn tấn)

TĐ: Đàn bò sữa

3,5

2,1

6,0

7,1

( nghìn con)

Sản phẩm sữa

2,1

1,6

3,6

7,1

( nghìn tấn)

3. Đàn heo ( nghìn

600,0

291,4

900,0

14,3

con)

Sản phẩm thịt hơi

93,9

45,6

140,9

14,2

( nghìn tấn)

4. Đàn Gia cầm(

4.154

10.000

15.000

12,1

nghìn con)

TĐ: Đàn vịt ( nghìn

5.760

1.999

8.100

10,2

con)

Sản phẩm thịt hơi

21,6

9,0

32,4

12,0

( nghìn tấn)

Sản phẩm trứng

72.093

173,55

260,33

12,1

(tr.quả)

5. Con khác ( nghìn

9,0

1,5

12,0

4,3

con)

Sản phẩm thịt hơi

33,0

10,2

39,6

4,2

(Tấn)

Tốc độ tăng GTSX

10,24

22,3

7,46

13,9

(%)

Cơ cấu GTSX

25,74

14,8

32,00

trong NN

79,5

77,6

79,6

Gia súc (%)

7,8

11,5

7,9

Gia cầm (%)

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

107

3.1.3.2. Theo lãnh thổ

Định hướng phát triển nông nghiệp các vùng trong tỉnh

Với quan điểm khai thác lợi thế của mỗi vùng để đầu tư phát triển nông

nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị nhằm tăng thu nhập và ổn định

đời sống của nhân dân trong từng vùng. Định hướng phát triển được đưa ra trên cơ

sở điều kiện tự nhiên, KT - XH, những lợi thế so sánh và hạn chế thách thức đối với

từng vùng.

 Vùng ngọt

Nhóm nông sản chủ lực của vùng gồm có: lúa gạo, cây ăn trái (bưởi, xoài,

nhãn, vú sữa, măng cụt, sầu riêng), rau màu các loại

- Tiếp tục thâm canh lúa, đưa giống lúa mới có năng suất, kết hợp sử dụng các

biện pháp thâm canh tăng năng suất lúa để sản lượng bảo đảm an ninh lương thực

tại chỗ. Phát triển vùng lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu

- Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển các loại rau, đậu và hoa

màu. Phát triển diện tích các sản phẩm có thế cạnh tranh và thay thế nhập khẩu

như bắp, đậu nành, là 2 loại nông sản có nhu cầu tiêu thụ trong nước rất lớn, trong

đó bắp lai chủ yếu làm nguyên liệu cho chế biến thức ăn gia súc, dự kiến sẽ được

phát triển trên cơ sở luân canh trên nền đất 2 vụ lúa + 1 vụ màu hoặc chuyên màu,

địa bàn chủ yếu ở huyện Cù Lao Dung, một phần ở Châu Thành, Mỹ Tú và Long

Phú

- Ổn định diện tích chuyên trồng mía phù hợp trên các vùng đất phèn, đất phù

sa thuộc các huyện Mỹ Tú

- Mở rộng diện tích cây ăn trái, phát triển các loại cây ăn trái đặc sản cung cấp

cho thị trường, dự kiến cây ăn trái sẽ được mở rộng diện tích theo 2 hướng: cải tạo

vườn tạp và lập vườn mới từ đất lúa trên nền đất phù sa ven sông (chủ yếu ở Kế

Sách, một phần Long Phú và phía Bắc huyện Cù Lao Dung). Kết hợp giữa phát

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

triển cây ăn trái với nuôi trồng thủy sản và nuôi ong, giữa xây dựng kết cấu hạ tầng

108

nông thôn và làm đẹp cảnh quan các vườn cây ăn trái để phát triển mạng lưới du

lịch sinh thái của tỉnh.

Nghiên cứu phát triển cây ca cao gắn với công nghiệp chế biến phục vụ xuất

khẩu.

 Vùng lợ:

Nhóm nông sản chủ lực gồm: lúa gạo, rau đậu các loại, dừa

Định hướng thâm canh phát triển 2 vụ lúa ở phía Bắc huyện Long Phú, Mỹ

Xuyên và xây dựng vùng 1 vụ lúa chất lượng cao luân canh trên nền đất nuôi 1 vụ

tôm sú ở khu vực các xã còn lại ở phía Nam và phía Tây của huyện Mỹ Xuyên

- Tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ sản xuất lúa thích hợp, tránh né

ảnh hưởng bất lợi của điều kiện khí hậu thủy văn

- Phát triển các loại rau màu có chất lượng, phục vụ tiêu dùng tại chổ và cung

cấp cho thị trường.

 Vùng mặn

Nhóm nông sản chủ lực là rau màu các loại, mía, hành tím, lúa

Định hướng phát triển vùng chuyên canh cây hành tím được tập trung ở huyện

Vĩnh Châu trên các giồng cát có điều kiện thích nghi tốt cho loại cây trồng này, mở

rộng diện tích sản xuất để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường về loại sản phẩm này.

Phát triển diện tích trồng mía với những giống có năng suất, chất lượng và trữ

đường cao ở khu vực huyện Cù Lao Dung và ven sông Hậu thuộc huyện Long Phú

Xây dựng vùng luân canh lúa – tôm trên diện tích nuôi tôm sú có điều kiện

trồng lúa

Xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản của huyện Vĩnh Châu gồm

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

nhãn, mãng cầu (dai)

109

3.2. Các giải pháp chủ yếu

Để giúp cho ngành nông nghiệp Sóc Trăng phát triển ngày càng ổn định, hiệu

quả, bền vững theo tôi cần phải tiến hành các giải pháp sau:

3.2.1 Chính sách phát triển nông nghiệp

Tập trung đổi mới, hoàn chỉnh các nhóm chính sách sau đây:

 Chính sách về đất đai:

- Quản lý chặt chẽ quỹ đất trồng lúa để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực

và lâu dài.

- Tăng giá trị đất nông nghiệp khi thu hồi, chuyển mục đích sử dụng hoặc thế

chấp vay vốn, góp vốn vào doanh nghiệp.

 Chính sách đầu tư khuyến khích sản xuất

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch, cơ

sở chọn tạo và nhân giống cho các vùng sản xuất hàng hoá, các vùng khó khăn.

 Chính sách đối với người sản xuất.

- Hỗ trợ đầu vào (giống, phân bón,...)

- Hỗ trợ đào tạo nghề (cả nghề trồng trọt và chuyển đổi ngành nghề).

- Hỗ trợ giữ đất lúa (theo diện tích).

- Chính sách bảo hiểm nông sản và bảo hiểm xã hội cho nông dân

 Chính sách khoa học công nghệ, khuyến nông.

Thực hiện có hiệu quả việc xã hội hóa công tác khuyến nông theo quy định tại

Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 26/04/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Có

phương án đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn của mạng lưới khuyến nông đến

từng xã. Phải điều chỉnh chế độ thù lao đối với công tác khuyến nông để nhằm động

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

viên, khuyến khích cán bộ phát huy hết năng lực.

110

3.2.2 Củng cố, hoàn thiện CSHT và CSVCKT phục vụ nông nghiệp

Trên cơ sở kế thừa hệ thống công trình đã có, tiếp tục nâng cấp công trình đầu

mối, ưu tiên đầu tư chiều sâu để phát huy hiệu quả toàn hệ thống và đáp ứng nhu

cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại, các công trình chính cần đầu tư là : thủy lợi, giao

thông, điện, trạm trại nông nghiệp, mạng lưới chợ nông sản hàng hóa v.v. theo tinh

thần Quyết định 1980/QĐHC-CTUBND, tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 16131tỷ

đồng phân ra giai đoạn 2011-2015 : 7.555 tỷ, 2016-2020 : 5.326 tỷ đồng. Vốn

doanh nghiệp 2.210 tỷ đồng, vốn dân 1.040 tỷ đồng còn lại là vốn ngân sách.

Các mục tiêu đầu tư chủ yếu vào hạ tầng phục vụ sản xuất:

+ Thủy lợi : tiếp tục đầu tư các công trình từ đầu mối đến cấp 2 trên 7 vùng dự

án thủy lợi lớn của tỉnh theo hướng nâng cấp là chính, như : đê cấp 1, nạo vét các

trục kinh cấp 1 và cấp 2, tập trung ưu tiên đầu tư cho công trình nội đồng : kinh

mương, bờ bao, cống bọng nhỏ để chủ động hoàn toàn nguồn nước tưới, tiêu, trọng

tâm ưu tiên là vùng quy hoạch lúa và vùng nuôi tôm nước lợ chủ lực, vùng cây ăn

trái, vùng màu chuyên canh và màu kết hợp trên ruộng lúa, tổng vốn đầu tư dự kiến

: 2011-2015 3.983 tỷ, 2016-2020 : 2.618 tỷ đồng . Vốn dân 240 tỷ đồng

+ Giao thông : tiếp tục nâng cấp, xây mới các tuyến đường tỉnh, đường huyện,

hệ thống bến bãi đậu xe, cầu phà vượt sông, tập trung ưu tiên mạng lưới giao thông

nông thôn, trong đó ưu tiên đầu tư vùng sản phẩm chủ lực lúa gạo và nuôi tôm nước

lợ, tổng vốn đầu tư dự kiến : 7.733 tỷ, trong đó NS 6.963 tỷ (TW 5.763 tỷ, ĐP 1.200

tỷ), phân ra giai đoạn 2010-2010 : 1.233 tỷ, 2011-2015 : 3.255 tỷ, 2016-2020 :

2.475 tỷ đồng . Vốn dân 770 tỷ đồng ;

+ Điện : tiếp tục đầu tư nâng cấp đường dây trung hạ thế, cải tạo các trạm biến

thế, trong đó tập trung ưu tiên đường dây hạ thế 0,4 KV để phục vụ sản xuất nông

nghiệp, tổng vốn đầu tư dự kiến : 2.634 tỷ, trong đó vốn doanh nghiệp 80 %,

Chương trình của Nhà nước và dân 20 %, phân ra giai đoạn 2010 - 2010 : 711 tỷ

(NS 141 tỷ, DN 570 tỷ), 2011 - 2015 : 1.161 tỷ (NS 231 tỷ, DN 930 tỷ), 2016-2020

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

: 762 tỷ đồng (NS 152 tỷ, DN 610 tỷ);

111

+ Trạm trại nông nghiệp: Tiếp tục nâng cấp các trại giống hiện có với đủ trang

thiết bị cần thiết như phòng kiểm định hạt giống, máy chế biến hạt giống, kho chứa,

mặt bằng sản xuất v.v. Tổng vốn đầu tư dự kiến : 160 tỷ, trong đó NS 60 tỷ (TW 30

tỷ, ĐP 30 tỷ), doanh nghiệp 100 tỷ, 2011 - 2015 : 83 tỷ (NS 30 tỷ, DN 53 tỷ), 2016-

2020 : 67 tỷ đồng (NS 25 tỷ, DN 42 tỷ)

+ Chợ nông thôn, chợ đầu mối nông sản : tập trung nâng cấp, xây dựng mới

mạng lưới 156 chợ nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó có các chợ đầu mối

nông sản như : Chợ nông sản thị trấn Ngã Năm, Chợ Trái cây thị trấn Kế Sách, tổng

vốn đầu tư dự kiến : 150 tỷ, trong đó NS 120 tỷ (TW 60 tỷ, ĐP 60 tỷ), 2011 - 2015 :

56 tỷ, 2016 - 2020 : 56 tỷ đồng . Vốn dân 30 tỷ đồng

Giải pháp huy động vốn đầu tư cho hạ tầng : chủ yếu là từ ngân sách thông

qua việc làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng dự án, cơ chế thông thoáng v.v. để

thu hút vốn, như: vốn Trái phiếu Chính phủ, vay vốn nước ngoài : vốn JBIC, Phát

triển thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2, vốn doanh nghiệp đầu tư vào điện lực, trại giống

nông nghiệp và vốn người dân thông qua đất đai, đầu tư của các trang trại v.v..

Riêng giao thông có thể huy động thêm từ các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư theo

hình thức BOT v.v.., vốn đầu tư phát triển lưới điện ngoài vốn doanh nghiệp ngành

điện là chính thì cần lồng ghép vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia v.v. .

Đầu tư vào lĩnh vực phát triển sản xuất :

Bao gồm vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ thực hiện chuyển giao kỹ thuật, xúc

tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường,…và vốn trực tiếp cho

phát triển sản xuất của doanh nghiệp và nông dân, phân ra:

+ Tổng nhu cầu vốn đầu tư ngắn hạn (dưới 1 năm) khoảng 11.576 tỷ

đồng/năm, chủ yếu vốn tự có của dân và nguồn vay tín dụng và đầu tư của các

doanh nghiệp

+ Tổng nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn (1 - 5 năm) khoảng 3.889 tỷ đồng,

trong đó NS 752 tỷ đồng, để hỗ trợ thực hiện chuyển giao kỹ thuật, xúc tiến thương

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

mại, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường v.v.(trồng trọt 144 tỷ, chăn nuôi 92

112

tỷ, xúc tiến thương mại 12 tỷ, đào tạo nguồn nhân lực 400 tỷ, bảo vệ môi trường 6

tỷ đồng), còn lại vốn dân và doanh nghiệp khoảng 3.137 tỷ đồng

Giải pháp huy động vốn đầu tư cho phát triển sản xuất: thông qua đầu tư

hoàn chỉnh hạ tầng phục vụ sản xuất, các chính sách ưu đãi như đất đai, thuế v.v.,

đảm bảo ổn định về pháp luật nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp, người

dân tập trung vốn đầu tư phát triển sản xuất.

Khai toán tổng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư kết cấu hạ tầng và

đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2020:

Dự kiến nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước:

- Vốn đầu tư phát triển hạ tầng chủ chốt: dự kiến 18.298 tỷ đồng, trong đó

ngân sách TW chiếm 65%, tương đương 11.894 tỷ đồng, bình quân: 991 tỷ

đồng/năm (riêng thủy lợi, giao thông ngân sách TW chiếm 75-80%), ngân sách ĐP:

chiếm 15%, tương đương 2.745 tỷ đồng, bình quân 228 tỷ đồng/năm, doanh nghiệp

và người dân chiếm 20%

- Vốn sự nghiệp kinh tế : ngân sách TW chiếm 50%, tương đương 376 tỷ

đồng, bình quân : 31,3 tỷ đồng/năm, ngân sách ĐP: 50%, tương đương 376 tỷ đồng,

bình quân 31,3 tỷ đồng/năm

3.2.3 Đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ:

Để nhằm mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, độ đồng đều, an toàn vệ

sinh thực phẩm, góp phần giảm chi phí sản xuất, giá thành, tăng giá trị sản phẩm, từ

đó tăng khả năng cạnh tranh và thu nhập cho nông dân

+ Đẩy mạnh chuyển giao về giống : với mục tiêu đến năm 2020 có thể cung

cấp giống xác nhận, giá rẻ, sạch bệnh cho hầu hết nông dân trong tỉnh, để làm được

điều này thì trước hết là tăng cường hợp tác Viện, hình thành hệ thống kết nối giữa

nghiên cứu, khảo nghiệm sản xuất và cung ứng các loại giống chủ lực, giống mới

trên địa bàn tỉnh, nâng cấp, duy trì và mở rộng mạng lưới sản xuất, cung ứng giống

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

cây trồng, vật nuôi, mạng lưới gieo tinh nhân tạo… tập huấn quy trình sản xuất

113

giống tại nông hộ… triển khai thực hiện một số chính sách trong một số lĩnh vực

cần thiết như hỗ trợ ngân sách, hỗ trợ lãi suất, không đánh thuế kinh doanh giống,

đào tạo nhân lực… từng bước nâng cao vai trò Nhà nước trong công tác quản lý

giống

+ Đẩy mạnh và cải tiến nội dung, phương pháp công tác khuyến nông,

khuyến ngư : Tiếp tục củng cố đội ngũ làm công tác khuyến nông, khuyến ngư để

thực sự là bạn của nhà nông trong thời kỳ hội nhập, quan tâm hơn mạng lưới

khuyến nông cấp xã và đội ngũ cộng tác viên ổn định thông qua một số chính sách

hợp lý để khuyến khích họ làm việc tốt, ổn dịnh lâu dài . Mở rộng quy mô, nội dung

trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là xây dựng mô hình sản xuất, tham quan học tập,

xúc tiến thị trường… Khuyến khích các hoạt động dịch vụ tư vấn cho đối tượng có

nhu cầu cao.

+ Đẩy mạnh công tác Bảo vệ cây trồng, vật nuôi: tiếp tục củng cố đội ngũ

làm công tác bảo vệ cây trồng, vật nuôi, xây dựng mạng lưới đến tận cơ sở và hoạt

động thường xuyên để làm tốt công tác dự tính, dự báo, phát hiện dịch bệnh và đưa

ra biện pháp phòng trị kịp thời . Tiếp tục quan tâm đẩy mạnh các chương trình lớn

chuyên ngành như: Chương trình IPM trên cây trồng, Chương trình “3 giảm, 3

tăng” trên lúa, Chương trình VietGAP, HACCP, Chương trình tiêm phòng, điều trị

bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật, kiểm soát

giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y, tiêu độc khử trùng, xây dựng vùng an toàn dịch.

3.2.4 Quy hoạch, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực:

Bao gồm đào tạo lao động nông nghiệp và lao động nông thôn cho công

nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu lao động v.v.. Ở cấp xã, phường, tổ chức quy hoạch đào

tạo các lĩnh vực chuyên ngành để làm tốt chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn

như : Quản lý kinh tế, trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ lợi, giao thông, điện lực, cơ khí

nông nghiệp... Ở các cơ sở sản xuất kinh doanh, trang trại, hộ nông dân, nhu cầu

đào tạo rất đa dạng, cả về tập huấn chuyên môn kỹ thuật, tay nghề theo từng lĩnh

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

vực cụ thể, đặc biệt là sử dụng máy móc cơ giới hóa trên đồng ruộng . Phương thức

114

đào tạo, điểm trường, thời gian, nội dung…cần hết sức linh hoạt để giảm chi phí, từ

đó khuyến khích được nhiều người đi học . Cần tính toán nhu cầu phát triển cụ thể

của từng địa phương trên từng lĩnh vực và nội dung đào tạo để quy hoạch nguồn

nhân lực cho phù hợp . Nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ trong đào tạo sử dụng

nguồn nhân lực . Tranh thủ hỗ trợ của các dự án hợp tác Quốc tế.

3.2.5 Tổ chức sản xuất gắn với thị trường:

- Trong ngành trồng trọt,giải pháp cần tập trung là hình thành các vùng sản

xuất lúa, màu, cây ăn trái tập trung để gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với chuyển

giao kỹ thuật, bảo quản, chế biến và thị trường.

+ Cây lúa : khuyến khích kinh tế trang trại, đồng thời đẩy mạnh phát triển

mô hình tổ hợp tác sản xuất để hình thành các vùng sản xuất lúa tập trung quy mô

lớn, thực hiện đầy đủ quy trình sản xuất lúa, tiếp tục đầu tư thủy lợi, giao thông,

điện theo chiều sâu để phục vụ tốt hơn cho sản xuất, giảm chi phí, khuyến khích đầu

tư thêm nhà máy xay xát lúa gạo, đặc biệt là đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ,

đầu tư kho trữ lúa gạo theo hướng từng bước nâng cấp công nghệ bảo quản hiện đại,

mở rộng xuất khẩu, quản lý nhà nước đầu vào và đầu ra sản phẩm

+ Cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày: tập trung hình thành vùng chuyên

canh màu, quan tâm áp dụng giống mới, an toàn vệ sinh thực phẩm, khuyến khích

mô hình luân canh, xen canh, quan tâm đầu tư thủy lợi nội đồng thật hoàn chỉnh

đồng bộ, nhằm chủ động hoàn toàn nguồn nước, hạn chế tối đa ngập úng, từng bước

cơ giới hóa trong chăm sóc, thu hoạch, đặc biệt là đối với cây mía

+ Cây ăn trái : quan tâm xây dựng vùng cây ăn trái tập trung chất lượng cao,

an toàn vệ sinh thực phẩm, quản lý và hướng dẫn nông dân trong việc chọn giống

chất lượng cao, bố trí vùng cây ăn trái phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, nguồn nước,

quan tâm hợp tác liên kết trong sản xuất, xây dựng thương hiệu sản phẩm, chế biến,

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

tiêu thụ

115

- Trong ngành chăn nuôi, giải pháp chính cần tập trung là tổ chức lại sản xuất

ngành chăn nuôi và giết mổ, chế biến, tăng cường hệ thống kiểm soát chất lượng

con giống, thức ăn chăn nuôi, an toàn vệ sinh thực phẩm và môi trường

+ Chăn nuôi trâu bò: tập trung phát triển theo quy mô hộ gia đình là chính,

kết hợp với phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại gắn với phát triển đồng cỏ có

giống tốt để cho năng suất, chất lượng cao và thức ăn chăn nuôi công nghiệp, hướng

dẫn nông dân chăn nuôi an toàn từ khâu chuồng trại đến chăm sóc, phòng trừ dịch

bệnh, vệ sinh môi trường, vỗ béo trâu bò, vận chuyển tiêu thụ.

+ Chăn nuôi heo : tổ chức lại chăn nuôi theo hướng trang trại công nghiệp gắn

với giết mổ chế biến tập trung công nghiệp, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và

bảo vệ môi trường, tăng cường công tác cải tiến giống, xây dựng mạng lưới sản

xuất con giống tại chỗ thông qua việc hỗ trợ giống đực và cái, ưu tiên giống đực để

phục vụ nhu cầu sản xuất giống thương mại, kết hợp chăn nuôi heo với trồng trọt,

nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là có chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ

Biogas để tận dụng và xử lý nguồn chất thải nhằm làm tăng hiệu quả chăn nuôi, bảo

vệ môi trường, kết hợp tốt thức ăn công nghiệp với nguồn thức ăn sẵn có để giảm

chi phí.

+ Chăn nuôi gia cầm : tổ chức lại chăn nuôi gà theo hướng chăn nuôi công

nghiệp, an toàn sinh học thông qua việc xây dựng chuồng trại, chọn lọc con giống,

chọn lựa thức ăn, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, xây dựng tường rào ngăn cách, hệ

thống xử lý chất thải, vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại và môi trường chăn

nuôi. Tiếp tục quan tâm đẩy mạnh chăn nuôi vịt quy mô lớn, kiểm soát chặt, phát

triển chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học, tăng cường kiểm soát vận chuyển,

kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm soát giết mổ và tiêu thụ; tăng cường năng lực cho cán

bộ thú y cấp xã để làm tốt công tác thông tin dự báo, tiêm phòng, điều trị bệnh, bao

vây khống chế dịch bệnh ngay tại cơ sở

Tóm lại, để ngành nông nghiệp Sóc Trăng phát triển ngày càng hiệu quả, ổn

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

định, bền vững theo con đường CNH thì cần các giải pháp đồng bộ, song quan trọng

116

nhất là tổ chức sản xuất để hình thành được các vùng sản xuất cây con tập trung, có

nhiều lợi thế trên các vùng sinh thái của tỉnh, mà muốn hình thành được các vùng

sản xuất tập trung thì sắp tới phải tập trung mạnh hơn cho đầu tư kết cấu hạ tầng

phục vụ sản xuất đồng thời phải đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại và tổ kinh tế

hợp tác làm sao phủ khắp trên địa bàn sản xuất toàn tỉnh, có như vậy mới tạo điều

kiện để chuyển giao khoa học công nghệ, từ đó mới tạo ra khối lượng hàng hóa lớn,

chất lượng cao, giá thành thấp, lợi nhuận cao

3.2.6 Bảo vệ môi trường bền vững:

- Quan tâm bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi một cách hợp lý nhất về giống,

thời vụ, đặc biệt là sử dụng giống, phân bón, thức ăn hợp lý, khuyến khích mô hình

sản xuất luân canh, xen canh, đa canh, hạn chế trồng lúa 3 vụ và nuôi tôm sú 2

vụ/năm

- Quan tâm quản lý tài nguyên nước như : sử dụng tiết kiệm nước, quản lý

đầu vào và đầu ra của nguồn nước cho các mục tiêu phục vụ, kiểm soát chất lượng

nước, thực hiện tốt pháp lệnh về bảo vệ và khai thác tài nguyên nước mặt, nước

ngầm.

- Khuyến khích sử dụng các chế phẩm sinh học, tổ chức đánh giá môi trường

đất và nước…để có biện pháp bảo vệ môi trường trong vùng

- Đẩy mạnh truyền thông dưới mọi hình thức và sự tham gia tích cực của các

cấp các ngành, đoàn thể chính trị, xã hội là giải pháp tốt nhất để bảo vệ và phát triển

bền vững môi trường, tăng cường kiểm tra và thực hiện các biện pháp hành chính

đủ mạnh để răn đe, giáo dục tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh luật Bảo vệ

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

môi trường.

117

KẾT LUẬN

Nông nghiệp phát triển là điều kiện tiên quyết để CNH thành công: cung cấp

đủ lương thực, thực phẩm, nguyên liệu và lao động phục vụ phát triển công nghiệp.

Nông nghiệp phải thường xuyên đảm bảo nguồn cung ổn định về nông sản giá thấp

thì mới duy trì được mức lương ổn định cho lao động xã hội. Như vậy, nông nghiệp

là ngành sản xuất vật chất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Việc

nghiên cứu, phát triển nông nghiệp trên địa bàn cả nước nói chung, trên mỗi vùng,

miền, địa phương nói riêng cho hợp lí là vấn đề cấp thiết đối với nước ta để tiến

hành CNH thành công.

Riêng đối với Sóc Trăng là tỉnh nghèo, mới tái lập từ 1992 nên việc nghiên

cứu phát triển nông nghiệp của tỉnh có ý nghĩa rất to lớn. Nghiên cứu để đưa ra cái

nhìn tổng thể về hiện trạng phát triển và phân bố nông nghiệp từ đó đưa ra những

phương hướng, giải pháp để phát triển nông nghiệp hợp lí, mang lại hiệu quả cao

góp phần tích cực cho công cuộc CNH của đất nước . Qua thực tế nghiên cứu về

hiện trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng tác giả có một số nhận

định sau:

Sóc Trăng là tỉnh có rất nhiều lợi thế tự nhiên để phát triển một nền sản xuất

nông nghiệp hàng hóa mạnh, nhưng hiện tại sản xuất còn nhiều hạn chế nên hiệu

quả chưa cao, thu nhập GTSX /01ha đất nông nghiệp còn thấp, chưa tương xứng

với tiềm năng sẵn có, có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản vẫn là do kết cấu hạ

tầng phục vụ sản xuất còn yếu kém, nguồn nhân lực và lao động chưa đáp ứng với

nhu cầu sản xuất hàng hóa, cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện, đặc biệt ở khâu

đầu vào, đầu ra của sản phẩm nông thủy sản còn nhiều bất cập . Vì vậy chi phí sản

xuất còn cao và lợi nhuận thấp, không đủ tái sản xuất và mở rộng, chất lượng chưa

cao, hao hụt, rủi ro trong sản xuất còn lớn, khả năng cạnh tranh trên thị trường còn

hạn chế.

Tóm lại, với lợi thế tự nhiên, KT - XH ngành nông nghiệp Sóc Trăng rất có

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

điều kiện để sản xuất ra nhiều sản phẩm có năng suất, chất lượng cao, khối lượng

118

lớn, giá thành hạ, đặc biệt là lúa gạo, cá da trơn, cây ăn trái, rau màu thực phẩm…

Vấn đề đặt ra trong thời gian tới là cần tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản

xuất, tổ chức lại sản xuất theo hướng thị trường thì khả năng cạnh tranh hàng nông

sản Sóc Trăng trên thị trường là rất lớn.

KIẾN NGHỊ

Để khắc phục những hạn chế trong nông nghiệp như đã nêu trên thì tỉnh Sóc

Trăng phải:

+ Quan tâm mạnh hơn nữa đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt là hạ

tầng thủy lợi, giao thông, điện…để giúp cho sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh

về năng suất chất lượng, giảm thiểu rủi ro, giảm chi phí sản xuất.

- Đối với hệ thống thủy lợi, ngoài đầu tư công trình chính, công trình bức xúc,

nên ưu tiên đầu tư theo dạng khép kín đồng bộ gắn với từng dự án phát triển sản

xuất, đặc biệt là các dự án phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực có giá trị kinh tế

cao để huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư, có như vậy thì hệ thống mới đầu tư

nhanh và phát huy hiệu quả cao .

- Đối với mạng lưới giao thông, cần tập trung đầu tư giao thông đường bộ, ưu

tiên mở rộng mặt đường và nâng cấp tải trọng các tuyến đường tỉnh, đường huyện,

các tuyến giao thông gắn với dự án sản xuất nông nghiệp để tạo điều kiện mở rộng

sản xuất, đề ra những chính sách hấp dẫn về thu phí giao thông để huy động vốn từ

doanh nghiệp và người dân đầu tư vào công trình giao thông, đặc biệt là cầu giao

thông, các tuyến giao thông phục vụ sản xuất.

- Đối với công trình điện cần quan tâm đầu tư mở rộng mạng lưới các cấp, đặc

biệt là mạng lưới điện hạ thế 3 pha (0,4 KV) cho các vùng có cây con chủ lực có

nhu cầu cao về bơm nước như vùng sản xuất lúa - màu, vùng nuôi thủy sản nước lợ

…để thay thế dần các loại máy xăng, dầu nhằm góp phần giảm chi phí và phát triển

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

dịch vụ nông thôn .

119

- Quan tâm hơn nữa đầu tư mới và nâng cấp trạm trại nông nghiệp, kho trữ lúa

gạo và hàng nông thủy sản, mạng lưới chợ nông thôn nhằm làm tốt hơn công tác

giống, chuyển giao khoa học công nghệ, điều tiết và phát triển thị trường

+ Quan tâm mạnh hơn nữa đào tạo nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông

dân và nông thôn, nhằm tạo ra đội ngũ lao động có kiến thức cơ bản, có tay nghề để

làm việc trong ngành nông nghiệp, các ngành dịch và chuyển sang các ngành công

nghiệp

- Đối với đào tạo lao động làm nông nghiệp, cần tăng kinh phí cho công tác

khuyến nông khuyến ngư để mở rộng địa bàn, đối tượng, quy mô, đổi mới phương

pháp, nội dung, hình thức, tăng cường thời lượng chuyển giao khoa học kĩ thuật

công nghệ trên các phương tiện thông tin để thu hút được đông đảo lao động nông

nghiệp tham gia, cập nhật thường xuyên kiến thức, trình độ sản xuất, đặc biệt là các

quy trình sản xuất nông sản phục vụ xuất khẩu

- Đối với đào tạo lao động làm dịch vụ, cần mở ra các trường dạy nghề dịch

vụ ở ngay địa bàn nông thôn, nhất là dịch vụ sửa chữa cơ khí, máy móc nông

nghiệp, điều kiển máy nông nghiệp…để đáp ứng nhu cầu cơ giới hóa trong nông

nghiệp ngày 1 tăng nhanh

+ Quan tâm mạnh mẽ đến vấn đề tiêu thụ hàng nông, thủy sản, đặc biệt là

hàng nông sản xuất khẩu,để người nông dân có định hướng sản xuất đúng, từ đó yên

tâm đầu tư vào sản xuất theo nhu cầu đòi hỏi của thị trường và mang lại thu nhập

cao và ổn định cho người nông dân

Hầu hết hàng nông sản Sóc Trăng được đánh giá là có chất lượng tốt, thơm

ngon đậm đà rất được ưa chuộng trên thị trường, nếu làm tốt công tác xúc tiến

thương mại kết hợp với làm tốt chuyển giao khoa học công nghệ, tổ chức lại sản

xuất…thì chắc chắn sản phẩm làm ra sẽ có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

trường.

120

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Văn Bích, năm 2007. Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau hai

mươi năm đổi mới quá khứ và hiện tại, NXB Chính trị Quốc gia.

[2] Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2008. Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam

trong bối cảnh xu thế phát triển của kinh tế thế giới đến năm 2020, NXB Hà Nội.

[3] Cục thống kê Sóc Trăng, năm 2005. 30 năm Sóc Trăng xây dựng và phát

triển

[4] Cục thống kê Sóc Trăng, năm 2000, 2001, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009,

2010, Niên giám thống kê.

[5] PGS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa, PGS.TS.

Đặng Hữu Toàn (Đồng chủ biên), năm 2002, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt

Nam lí luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia.

[6] PGS.TS. Nguyễn Sinh Cúc, năm 2003, Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

thời kì đổi mới (1986 – 2002), NXB Thống Kê.

[7] Đỗ Thị Minh Đức, năm 2008, Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam

(Tập 1,2), NXB ĐHSP.

[8] Hội khoa học đất Việt Nam , năm 1996, Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp

Hà Nội.

[9] PGS.TS. Lâm Quang Huyên, năm 2002, Nông nghiệp nông thôn Nam Bộ

hướng tới thế kỉ 21, NXB Khoa học xã hội.

[10] GS.TS. Nguyễn Thế Nhã, PGS.TS. Vũ Đình Thắng, năm 2004. Giáo trình

Kinh tế nông nghiệp. NXB Đại học KTQD.

[11] Nhiều tác giả, năm 2000, Đồng bằng sông Cửu Long đón chào thế kỉ 21.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

NXB Văn Nghệ TPHCM.

121

[12] Nhiều tác giả, năm 2008. Nông dân, nông thôn, nông nghiệp những vấn

đề đang đặt ra. NXB Tri thức.

[13] PGS.TS. Đặng Văn Phan, năm 2009, Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt

Nam thời kì hội nhập, Trường Đại học Cửu Long.

[14] PGS.TS. Đặng Văn Phan, năm 2008, Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt

Nam, NXB Giáo dục.

[15] Đặng Kim Sơn, năm 2008, Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam

hôm nay và mai sau, NXB Chính trị quốc gia.

[16] Đặng Kim Sơn, năm 2006, Nông nghiệp nông thôn Việt Nam 20 năm đổi

mới và phát triển, NXB Chính trị quốc gia.

[17] Đặng Kim Sơn, năm 2001, Công nghiệp hóa từ nông nghiệp lý luận thực

tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp.

[18] Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Báo cáo tình hình sản xuất nông

nghiệp từ 2000 đến 2010

[19] Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Đề án phát triển ngành trồng

trọt tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020

[20] Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Báo cáo tổng hợp Quy hoạch

phát triển Nông nghiệp nông thôn tỉnh Sóc Trăng đến 2020

[21] Ngô Đăng Thành (Chủ biên), năm 2009, Các mô hình công nghiệp hóa

trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia.

[22] Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức, năm 2006, Giáo trình Địa lí kinh

tế xã hội Việt Nam ( Tập 1: phần Đại cương), NXB Giáo dục.

[23] GS.TS. Lê Thông (Chủ biên), năm 2006. Địa lí các tỉnh và thành phố

Việt Nam (tập 6: Các tỉnh và thành phố Đồng bằng sông Cửu Long ). NXB Giáo

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

dục.

122

[24] GS.TS. Lê Thông (Chủ biên), năm 2007. Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam.

NXB Đại học Sư phạm.

[25] Thời báo kinh tế Việt Nam, năm 2010. Kinh tế 2009 – 2010 Việt Nam và

thế giới.

[26] Tổng Cục thống kê, Niên giám thống kê 2000, 2005, 2010. NXB Thống

kê.

[27] PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên), GS.TS. Nguyễn Viết Thịnh,

GS.TS. Lê Thông, năm 2007. Địa lí kinh tế - xã hội đại cương, NXB Đại học Sư

phạm.

[28] PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên), năm 2009. Địa lí các vùng kinh

tế Việt Nam. NXB Giáo dục.

[29] Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp & Phát triển

nông thôn, 2008, 2009, 2010 Thống kê Nông – lâm – thuỷ sản.

[30] Một số trang WEB:

www.agroviet.gov.vn : Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp & Phát triển

nông thôn

www.cuctrongtrot.gov.vn : Cục trồng trọt

www.fao.org : Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Liên Hợp Quốc (FAO)

www.vaas.org.vn : Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

www.gso.gov.vn : Tổng cục thống kê