BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thu Ba PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thu Ba PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA
Chuyên ngành: Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên) Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN MINH TUỆ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến giáo viên
hướng dẫn khoa học PGS.TS. NGUYỄN MINH TUỆ đã tận tâm hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, phòng Sau đại học,
khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan: Sở nông nghiệp và
phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và môi trường, Cục thống kê và chính
quyền tỉnh Sóc Trăng đã nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp các tư liệu để tác giả thực
hiện luận văn.
Cuối lời tác giả xin gửi lời cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,
giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn. Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Ba
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục kí hiệu, chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài: ................................................................................................. 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài: ............................................................. 2
2.1. Mục tiêu: ........................................................................................................ 2
2.2. Nhiệm vụ: ...................................................................................................... 2
2.3. Giới hạn: ........................................................................................................ 2
3. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: .............................................................. 3
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu: ............................................................. 4
4.1. Quan điểm: .................................................................................................... 4
4.2. Phương pháp nghiên cứu: .............................................................................. 5
5. Cấu trúc luận văn: ................................................................................................ 6
NỘI DUNG ................................................................................................................ 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỊA LÍ NÔNG NGHIỆP ..................................................................................................................................... 7
1.1. Cơ sở lí luận ...................................................................................................... 7
1.1.1. Quan niệm, vai trò và đặc điểm của nông nghiệp ...................................... 7
1.1.1.1 Quan niệm ............................................................................................. 7
1.1.1.2 Vai trò: .................................................................................................. 7
1.1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ................................................... 11
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp .............. 13
1.1.2.1. Vị trí địa lí kết hợp cùng khí hậu, thổ nhưỡng qui định sự có mặt của các hoạt động nông nghiệp ............................................................................. 13
1.1.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên .................................... 13
1.1.2.3. Kinh tế - xã hội .................................................................................. 16
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá ................................................................................ 20
1.1.3.1 GDP nông nghiệp và tỉ trọng GDP nông nghiệp so với GDP toàn nền kinh tế .............................................................................................................. 20
1.1.3.2 Giá trị sản xuất (GTSX) nông nghiệp , cơ cấu GTSX phân theo ngành và tốc độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp ...................................................... 21
1.1.3.3 Giá trị được tạo ra trên một ha đất nông nghiệp. ................................ 22
1.1.3.4 Năng suất lao động nông nghiệp ......................................................... 23
1.1.3.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cấp tỉnh......................... 23
1.1.4. Công nghiệp hóa ....................................................................................... 26
1.1.4.1 Khái niệm ............................................................................................ 26
1.1.4.2 Mục tiêu của quá trình CNH ............................................................... 27
1.1.4.3 Tác động của quá trình CNH .............................................................. 27
1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................ 28
1.2.1. Vài nét về phát triển nông nghiệp (nghĩa hẹp) ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 ......................................................................................................... 28
1.2.1.1. Những kết quả đạt được ..................................................................... 28
1.2.1.2. Những tồn tại, hạn chế ....................................................................... 31
1.2.2. Vài nét về phát triển nông nghiệp (nghĩa hẹp) ở ĐBSCL ........................ 32
CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG .................................................... 35
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng: .............. 35
2.1.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ: ................................................................... 35
2.1.1.1 Vị trí địa lí ........................................................................................... 35
2.1.1.2 Phạm vi lãnh thổ ................................................................................. 36
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ............................................ 37
2.1.2.1 Địa hình và đất .................................................................................... 37
2.1.2.2 Khí hậu ................................................................................................ 40
2.1.2.3 Nguồn nước ......................................................................................... 41
2.1.2.4 Sinh vật ............................................................................................... 44
2.1.3 Kinh tế - xã hội: ......................................................................................... 45
2.1.3.1 Dân cư – lao động ............................................................................... 45
2.1.3.2 Khoa học – công nghệ ......................................................................... 48
2.1.3.3 Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kĩ thuật ............................................ 49
2.1.3.4 Thị trường ........................................................................................... 51
2.1.3.5 Vốn ...................................................................................................... 52
2.1.3.6 Hợp tác quốc tế ................................................................................... 53
2.2. Đánh giá chung ............................................................................................... 54
2.3 Thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2000 - 2010 ....................................................................................................................... 57
2.3.1. Khái quát chung ........................................................................................ 57
2.3.1.1. Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế tỉnh Sóc Trăng .................. 57
2.3.1.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp (2000 – 2010) ......................................................................................................................... 59
2.3.2. Các ngành nông nghiệp ............................................................................ 60
2.3.2.1. Trồng trọt: .......................................................................................... 60
2.3.2.2. Chăn nuôi ........................................................................................... 81
2.3.2.3. Dịch vụ nông nghiệp .......................................................................... 86
2.3.3. Đánh giá chung ......................................................................................... 92
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG ............................................................................... 95
3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển .................................................. 95
3.1.1. Quan điểm ................................................................................................ 95
3.1.2. Mục tiêu phát triển ................................................................................... 96
3.1.3. Định hướng phát triển nông nghiệp.......................................................... 97
3.1.3.1. Theo ngành ......................................................................................... 97
3.1.3.2. Theo lãnh thổ ................................................................................... 107
3.2. Các giải pháp chủ yếu ................................................................................... 109
3.2.1 Chính sách phát triển nông nghiệp .......................................................... 109
3.2.2 Củng cố, hoàn thiện CSHT và CSVCKT phục vụ nông nghiệp ............. 110
3.2.3 Đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ: ............................ 112
3.2.4 Quy hoạch, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: ...................................... 113
3.2.5 Tổ chức sản xuất gắn với thị trường: ...................................................... 114
3.2.6 Bảo vệ môi trường bền vững: .................................................................. 116
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 117
KIẾN NGHỊ ........................................................................................................... 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 120
DANH MỤC KÍ HIỆU,CHỮ VIẾT TẮT
CNH : Công nghiệp hóa
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CSHT : Cơ sở hạ tầng
CSVCKT : Cơ sở vật chất kĩ thuật
: Doanh nghiệp DN
: Địa phương ĐP
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
: Tổng sản phẩm quốc nội GDP
GTSX : Giá trị sản xuất
: Hiện đại hóa HĐH
: Hợp tác xã HTX
HTXNN : Hợp tác xã nông nghiệp
: Chương trình quản lí dịch hại tổng hợp IPM
: Khu vực KV
: Ngân sách NS
ODA : Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
PTNT : Phát triển nông thôn
TW : Trung Ương
& : Và
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích và cơ cấu diện tích gieo trồng ................................................... 29
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng lúa các tỉnh vùng ĐBSCL năm 2010 ...................... 32
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Sóc Trăng năm 2010 ..................... 36
Bảng 2.2: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), GDP bình quân đầu người của tỉnh
Sóc Trăng giai đoạn 2000 – 2010 ............................................................ 57
Bảng 2.3: GTSX nông nghiệp và tỉ trọng của nó trong GTSX nông - lâm - thủy sản .
giai đoạn 2000 – 2010.............................................................................. 59
Bảng 2.4: GTSX ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng giai đoạn 2000 – 2010
(giá so sánh 1994, tỉ đồng) ....................................................................... 61
Bảng 2.5: Diện tích các loại cây trồng tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010) ..................... 62
Bảng 2.6: Diện tích, sản lượng và sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người
giai đoạn 2000 - 2010 ............................................................................. 63
Bảng 2.7: Diện tích và sản lượng lúa tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010) ...................... 65
Bảng 2.8: Diện tích và sản lượng lúa phân bố theo huyện thị (2000 – 2010) ......... 66
Bảng 2.9: Diện tích và sản lượng rau đậu tỉnh Sóc Trăng ....................................... 69
Bảng 2.10: Diện tích và sản lượng rau các loại phân theo huyện thị (2000 – 2010) 71
Bảng 2.11: Diện tích và sản lượng đậu các loại phân theo huyện thị (2000 – 2010) 73
Bảng 2.12: Diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm thời kì
2000 – 2010 ............................................................................................. 75
Bảng 2.13: Diện tích và sản lượng mía phân theo huyện thị ................................... 76
Bảng 2.14: Diện tích và sản lượng dừa tỉnh Sóc Trăng ............................................ 78
Bảng 2.15: Diện tích và sản lượng một số cây ăn quả thời kì 2000 – 2010 ............. 80
Bảng 2.16: Số lượng trâu phân theo huyện thị .......................................................... 82
Bảng 2.17: Số lượng bò phân theo huyện thị (Đơn vị:nghìn con) ............................ 83
Bảng 2.18: Số lượng lợn phân theo huyện thị (Đơn vị:nghìn con) ........................... 84
Bảng 2.19: Số lượng gia cầm phân theo huyện thị (Đơn vị: nghìn con) .................. 85
Bảng 3.1 : Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020 ......................... 106
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Sóc Trăng năm 2010 (%) ................................... 39
Hình 2.2: Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế giai đoạn
2005 – 2010 (%) ......................................................................................... 47
Hình 2.3: Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 (%) ........... 58
Hình 2.4: Cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành giai đoạn 2000 – 2010 (%) ........ 60
Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện diện tích cây công nghiệp tỉnh Sóc Trăng .................... 74
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Việt Nam là nước nông nghiệp, đang phấn đấu đến năm 2020 cơ bản là nước
công nghiệp theo hướng hiện đại. Trước tình hình thế giới đầy biến động, nông
nghiệp Việt Nam đã có những đóng góp tích cực vào việc ổn định kinh tế xã hội
(KT – XH) như: giải quyết việc làm cho người lao động, kiềm chế lạm phát, đảm
bảo an ninh lương thực, góp phần quan trọng vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước…
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lương thực thực phẩm
lớn nhất cả nước đã, đang và sẽ có những đóng góp đáng kể cho sản xuất nông
nghiệp cả nước. Sóc Trăng là 1 trong 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL, có
bình quân đất nông nghiệp trên đầu người khá cao, khí hậu ôn hòa, nguồn nước mặt
khá dồi dào, không bị ngập lũ, có 72 km giáp biển, điều kiện giao thương trong và
ngoài tỉnh thuận tiện. Đây là những tiền đề quan trọng cho phát triển nền nông
nghiệp đa dạng có lợi thế cạnh tranh cao. Thực tế nông nghiệp Sóc Trăng trong
những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến và đạt được những thành tựu đáng kể.
Năm 2010 giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) đạt 5033,3 tỉ
đồng, chiếm 8,1% vùng ĐBSCL, đứng thứ 6/13 tỉnh ĐBSCL và thứ 12/63 tỉnh,
thành phố cả nước; sản lượng lương thực có hạt đạt 1953,3 nghìn tấn đứng thứ 5
vùng ĐBSCL và cũng thứ 5 cả nước; bình quân lương thực có hạt: 1501,6 kg/người,
cao gấp 1,2 lần mức trung bình toàn vùng ĐBSCL và cao gấp 2,9 lần mức trung
bình cả nước. Tuy nhiên, nền nông nghiệp của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, chưa
tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và mong
muốn nền nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng phát triển bền vững, đóng góp nhiều hơn nữa
cho nông nghiệp cả nước, tôi chọn đề tài “Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trong thời kì công nghiệp hóa ”.
2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài:
2.1. Mục tiêu:
Trên cơ sở tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn, phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu về địa lí nông nghiệp, đề tài nhằm đánh giá các điều kiện
cho phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn 2000 – 2010
từ đó đề ra một số giải pháp khả thi cho nền nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng phát triển
bền vững và đạt hiệu quả cao.
2.2. Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Đúc kết có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về địa lí nông nghiệp,
làm cơ sở vận dụng vào địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
Đánh giá các nhân tố (tự nhiên, KT - XH) đến sự phát triển và phân bố nông
nghiệp tỉnh Sóc Trăng.
Phân tích thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai
đoạn 2000 – 2010.
Đề xuất một số giải pháp góp phần đưa nền nông nghiệp Sóc Trăng phát
triển có hiệu quả và bền vững.
2.3. Giới hạn:
Về nội dung
Do hạn chế về nguồn tư liệu cũng như điều kiện nghiên cứu nên đề tài tập
trung nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng theo nghĩa hẹp, bao gồm
trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.
Về thời gian
Phạm vi thời gian nghiên cứu nông nghiệp Sóc Trăng trong thời kì công
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nghiệp hóa là từ năm 2000 đến 2010 nên tác giả sử dụng cụm từ “giai đoạn 2000 –
3
2010” thay cho cụm từ “ thời kì công nghiệp hóa” nhằm cụ thể hóa thời gian và
định hướng đến năm 2020.
Về phương diện lãnh thổ: đề tài nghiên cứu sự phát triển và phân bố nông
nghiệp trên 1 thành phố, 10 huyện của tỉnh Sóc Trăng, có chú ý so sánh với các tỉnh
lân cận và vùng ĐBSCL.
3. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại vì
vậy là một trong những lĩnh vực quan trọng và được các nhà khoa học trên thế giới
cũng như Việt Nam nghiên cứu rất nhiều. Ở Việt Nam, dưới góc độ địa lí có thể kể
đến những giáo trình đã được giảng dạy ở khoa Địa lí các trường ĐHSP như:
Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội đại cương – PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ (chủ
biên), GS.TS. Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS. Lê Thông, NXB ĐHSP Hà Nội 2005,
trong đó có dành 1 chương phân tích về vai trò, đặc điểm, tình hình sản xuất và
phân bố nông nghiệp trên thế giới.
Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam – GS.TS. Lê Thông (chủ biên),
PGS.TS. Nguyễn Văn Phú, PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ, NXB ĐHSP 2011 (tái bản
lần thứ 4 có bổ sung, chỉnh lí) và giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam – GS.TS.
Nguyễn Viết Thịnh (chủ biên), NXB Giáo dục 2001. Trong 2 giáo trình này các tác
giả cũng dành 1 chương phân tích về Địa lí nông nghiệp Việt Nam, các ngành trồng
trọt, chăn nuôi.
Cuốn sách Việt Nam, các tỉnh và thành phố Việt Nam – GS.TS. Lê Thông
(chủ biên), NXB Giáo dục Việt Nam năm 2011 Trong nghiên cứu về nông nghiệp
Sóc Trăng có phân tích nền nông nghiệp của tỉnh.
Ngoài ra còn có các giáo trình khác nữa bàn về nông nghiệp (theo cả nghĩa
rộng lẫn nghĩa hẹp) tiêu biểu như: Giáo trình Kinh tế nông nghiệp – GS.TS. Nguyễn
Thế Nhã, PGS.TS. Vũ Đình Thắng, trong đó trình bày những vấn đề lí luận, phương
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
pháp luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp.
4
Cuốn Nông nghiệp nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau –
Đặng Kim Sơn hay Một số vấn đề đặt ra sau 30 năm phát triển nông nghiệp ở Đồng
bằng sông Cửu Long – Nguyễn Sinh Cúc…, trong đó các tác giả đã nghiên cứu sự
phân bố địa lí của sản xuất nông nghiệp, các điều kiện và đặc điểm phát triển nông
nghiệp nói chung giúp học viên có được những quan điểm, nhận thức về lý luận và
nhiều tài liệu cần thiết để kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về
phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng.
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu:
4.1. Quan điểm:
Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: đây là quan điểm có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong nghiên cứu địa lí nói chung địa lí nông nghiệp nói riêng. Quan điểm này
được vận dụng trong quá trình nghiên cứu để phân tích các mối quan hệ tổng hợp
giữa điều kiện tự nhiên với điều kiện KT - XH, phân tích cơ cấu nông nghiệp và
nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ giữa chúng. Bên cạnh đó, quan điểm này còn được
sử dụng nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ nông nghiệp nhằm phát hiện các mối quan
hệ đa chiều giữa các bộ phận kinh tế nông nghiệp với nhau và giữa chúng với điều
kiện sinh thái. Nghiên cứu sự khác biệt lãnh thổ nông nghiệp, tìm ra thế mạnh của
từng vùng sản xuất nông nghiệp ở Sóc Trăng để từ đó có kế hoạch bố trí, phân vùng
sản xuất nông nghiệp một cách hợp lí và hiệu quả.
Quan điểm lịch sử viễn cảnh: theo quan điểm lịch sử thì mỗi đối tượng địa
lí đều tồn tại trong một thời gian nhất định, chúng có quá trình phát sinh, phát triển
và suy vong. Vận dụng quan điểm này nghiên cứu quá trình phát triển nông nghiệp
tỉnh Sóc Trăng tôi sẽ có cái nhìn tổng quan về lịch sử phát triển nông nghiệp của
tỉnh trong khoảng thời gian nhất định để có những nhận định, phân tích về tình hình
phát triển và phân bố sản xuất nông nghiệp hiện tại, dự báo và đưa ra một số giải
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
pháp cho tương lai.
5
Quan điểm hệ thống: sử dụng quan điểm hệ thống trong quá trình nghiên
cứu địa lí KT - XH nói chung, nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng nói riêng là điều cần
thiết vì mỗi đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống. Tỉnh Sóc Trăng là một
hệ thống KT - XH nhỏ trong hệ thống KT - XH vùng ĐBSCL và trong cả nước.
Theo quan điểm này, trong hệ thống KT - XH tỉnh Sóc Trăng có các phân hệ nhỏ
hơn: hệ thống các ngành kinh tế, hệ thống dân cư, xã hội…chúng luôn có mối quan
hệ với nhau chỉ cần một thay đổi nhỏ của một phân hệ cũng có thể dẫn đến sự thay
đổi của cả hệ thống. Vì vậy khi nghiên cứu đề tài cần lưu ý đến tính hệ thống của
đối tượng.
Quan điểm phát triển bền vững: đối với việc nghiên cứu “Phát triển nông
nghiệp tỉnh Sóc Trăng thời kì công nghiệp hóa ” thì quan điểm phát triển bền
vững được xem như mục tiêu của quá trình nghiên cứu.
Quan điểm kinh tế: trong nghiên cứu địa lí KT - XH quan điểm kinh tế
được coi trọng là lẽ tự nhiên bởi lẽ phát triển kinh tế phải gắn liền với lợi nhuận.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng cũng không ngoài mục đích đó tuy nhiên
cũng cần tránh xu hướng bất chấp tất cả để có được lợi ích kinh tế vì điều này trái
ngược với quan điểm phát triển bền vững.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập tài liệu: phương pháp thu thập tài liệu là phương
pháp truyền thống được sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu địa
lí KT - XH nói riêng. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và phân bố nông
nghiệp theo khía cạnh ngành và lãnh thổ là việc làm phức tạp liên quan đến nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực. Trong quá trình thực hiện luận văn tôi sẽ tiến hành thu thập
tư liệu, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau gồm các tài liệu đã xuất bản, tài liệu của
các cơ quan lưu trữ (Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng, Ủy ban nhân nhân tỉnh Sóc
Trăng, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng,…) và tài liệu từ các trang
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
web,… để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình.
6
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: sau khi thu thập tài liệu, tôi sẽ
tiến hành xử lí nguồn tài liệu thu thập cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu bằng
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,…
Phương pháp chuyên gia: bằng cách trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của
các thầy giáo, các nhà khoa học, các cán bộ làm trong các Sở, ban ngành có liên
quan để hiểu rõ hơn về những thuật ngữ chuyên môn trong nông nghiệp, cách xử lý
các số liệu và hiện trạng của ngành nông nghiệp trong những năm qua…
Phương pháp khai thác thông tin, tranh ảnh, bản đồ trên internet sẽ giúp
ích rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, nhằm làm cho đề tài đảm bảo được tính
trực quan và cập nhật được những thông tin mới nhất.
Phương pháp bản đồ - GIS: đây là phương pháp không thể thiếu trong các
đề tài nghiên cứu địa lí nói chung và địa lí kinh tế - xã hội nói riêng. Bản đồ là
phương tiện hữu hiệu trong việc nghiên cứu đánh giá các nguồn lực, phân tích hiện
trạng phát triển và phân bố nông nghiệp theo không gian và thời gian.
5. Cấu trúc luận văn:
Đề tài: “Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp
hóa ” ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về Địa lí nông nghiệp
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh
Sóc Trăng.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
ĐỊA LÍ NÔNG NGHIỆP
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Quan niệm, vai trò và đặc điểm của nông nghiệp
1.1.1.1 Quan niệm
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con
người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm
như lương thực, thực phẩm,… và các dịch vụ nông nghiệp.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp.
1.1.1.2 Vai trò:
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc
phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những
nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những
nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không
nhiều, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng
lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó
là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công
nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương
thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của
con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Vai trò to lớn của nông nghiệp được thể hiện ở các điểm sau:
Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu cơ bản của con
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
người
8
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất cả xã hội loài
người. Từ khi ra đời đến nay, cùng với tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nông nghiệp
ngày càng được mở rộng, các giống cây trồng vật nuôi ngày càng đa dạng phong
phú . Các Mác đã khẳng định con người trước hết phải có ăn rồi sau đó mới nói đến
các hoạt động khác. Ông đã chỉ rõ: nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt
cho con người…và việc sản xuất ra tư liệu sinh hoạt là điều kiện đầu tiên cho sự
sống của họ và của mọi lĩnh vực sản xuất nói chung. Điều này khẳng định vai trò
đặc biệt quan trọng của nông nghiệp trong việc nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo
an ninh lương thực quốc gia cũng như ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Thực
tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh kinh tế chỉ có thể phát triển
một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực. Nếu không
đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ
sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không
yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn.
Nông nghiệp là một trong những ngành quan trọng cung cấp nguyên liệu cho
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho dân cư
Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các ngành công
nghiệp chế biến như: chế biến thực phẩm, đồ uống, công nghiệp dệt, da và đồ dùng
bằng da… Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng
lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị
trường ...Vì thế trong một chừng mực nhất định, nông nghiệp có ảnh hưởng đến sự
phát triển và phân bố các ngành công nghiệp chế biến.
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm hàng hóa
của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Ở hầu hết các nước đang phát triển các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp
hay dịch vụ được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là
khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp,
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát
9
triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng
sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc
đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng có thể cạnh tranh với thị
trường thế giới.
Nông nghiệp là ngành cung cấp khối lượng hàng hóa lớn để xuất khẩu mang lại
nguồn ngoại tệ cho đất nước
Quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) ở các nước đang phát
triển đặt ra nhu cầu lớn về ngoại tệ để có thể nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây
chuyền công nghệ… Một phần nhu cầu ngoại tệ đó có thể đáp ứng được thông qua
hoạt động xuất khẩu nông sản. Các sản phẩm nông – lâm – thuỷ hải sản thô hoặc đã
qua chế biến trở thành thế mạnh của các nước đang phát triển trong việc tham gia
vào quá trình phân công lao động quốc tế. Thí dụ ở Việt Nam, năm 2010, trong tổng
giá trị kim ngạch xuất khẩu gần 71,2 tỉ USD thì hàng nông sản chiếm 15,5% (nếu
kể cả thủy sản và lâm sản là 23,3%)
Nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ công nghiệp, đô thị và các
lĩnh vực hoạt động xã hội khác
Trong giai đoạn đầu của CNH, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập
trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự là
nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình
nông nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác đó
mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ
nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ
sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính qui luật trong
phân công lại lao động xã hội của mọi quốc gia trong quá trình CNH, hiện đại hoá
đất nước. Tuy nhiên, khả năng di chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành
kinh tế khác còn phụ thuộc vào việc nâng cao năng suất lao động trong nông
nghiệp, vào việc phát triển công nghiệp và dịch vụ ở thành thị và cả việc nâng cao
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
chất lượng nguồn lao động ở nông thôn.
10
Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế
trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của CNH, bởi vì đây là khu vực lớn
nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể
được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động
phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản v.v...
trong đó thuế có vị trí rất quan trọng “Kuznets cho rằng gánh nặng của thuế mà
nông nghiệp phải chịu là cao hơn nhiều so với dịch vụ Nhà nước cung cấp cho công
nghiệp”. Việc huy động vốn từ nông nghiệp để đầu tư phát triển công nghiệp là cần
thiết và đúng đắn trên cơ sở việc thực hiện bằng cơ chế thị trường, chứ không phải
bằng sự áp đặt của Chính phủ. Những điển hình về sự thành công của sự phát triển
ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho nông nghiệp.
Tuy nhiên vốn tích luỹ từ nông nghiệp chỉ là một trong những nguồn cần thiết phát
huy, phải coi trọng các nguồn vốn khác nữa để khai thác hợp lý, đừng quá cường
điệu vai trò tích luỹ vốn từ nông nghiệp.
Nông nghiệp trực tiếp tham gia vào việc giữ gìn cân bằng sinh thái, bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và môi trường
Quá trình phát triển nông nghiệp gắn liền với việc thường xuyên sử dụng đất
đai, nguồn nước, các loại hóa chất…đều có ảnh hưởng đến môi trường. Vì thế,
trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp
để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường. Việc bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái còn là điều kiện để sản xuất nông nghiệp
phát triển và đạt hiệu quả cao.
Tóm lại, từ quá khứ đến hiện tại cũng như sau này, nông nghiệp luôn có vị trí
quan trọng trong nền kinh tế. Tại các nước đang phát triển như nước ta, nông nghiệp
là ngành có liên quan trực tiếp đế việc làm, thu nhập và đời sống của đại đa số dân
cư. Vì vậy, nông nghiệp có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự ổn định kinh tế và
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
chính trị - xã hội.
11
1.1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt
Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung
kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao thông,… đất đai là cơ sở
làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao
thông,… để con người điều khiển các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động.
Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ
yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người
không thể tăng thêm, theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa
có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả
mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình
sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất
nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất
làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn
vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm.
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, cơ thể sống
Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh
trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự
thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt
vọng. Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời
tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết
quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản
xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp
sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản
xuất sau. Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường
xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai
tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
kiện từng vùng và từng địa phương.
12
Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ
Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao. Đây là một trong những nét có tính
đặc thù và điển hình của sản xuất nông nghiệp vì:
Thời gian lao động không trùng với thời gian sản xuất. Đặc điểm này xuất
phát từ chỗ cây trồng và vật nuôi là các sinh vật sống nên chúng có khả năng sinh
trưởng và phát triển, con người chỉ tác động vào những giai đoạn nhất định nào đó
mà thôi. Vì vậy trong nông nghiệp nhu cầu về lao động có thời gian cần nhiều có
thời gian cần ít, thậm chí có thời gian không cần lao động. Việc sử dụng lao động
và các tư liệu sản xuất không giống nhau trong suốt chu kì sản xuất là một trong các
hình thức biểu hiện của tính thời vụ.
Do sự biến đổi thời tiết, khí hậu và mỗi loại cây trồng vật nuôi có sự thích ứng
nhất định với điều kiện đó dẫn đến sản phẩm nông nghiệp mang tính thời vụ rất rõ
rệt ở các vùng lãnh thổ khác nhau. Vào mùa thu hoạch sản phẩm đó trở nên dư thừa
nhưng ngược lại không phải mùa thu hoạch thì sản phẩm đó trỏ nên rất hiếm.
Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xóa bỏ được, trong quá
trình sản xuất chỉ tìm cách thích nghi với nó. Do vậy cần áp dụng các biện pháp làm
giảm tính thời vụ như: thâm canh, tăng vụ, xen canh, luân canh, chuyên môn hóa
kết hợp với kinh doanh tổng hợp, sử dụng máy móc đa năng,… trong sản xuất nông
nghiệp.
Nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nhất là vào đất đai khí
hậu và nguồn nước. Đặc điểm này bắt nguồn từ chỗ đối tượng lao động của nông
nghiệp là cây trồng và vật nuôi. Chúng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có
đủ 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất
dưỡng chất trong đó yếu tố này không thể thay thế yếu tố kia. Các yếu tố trên kết
hợp và cùng tác động với nhau trong một thể thống nhất. Chỉ cần thay đổi một yếu
tố là có hàng loạt các kết hợp khác nhau và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nông
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nghiệp.
13
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp
1.1.2.1. Vị trí địa lí kết hợp cùng khí hậu, thổ nhưỡng qui định sự có mặt của các
hoạt động nông nghiệp
Vị trí địa lí của lãnh thổ với đất liền, với biển, với các quốc gia trong khu vực
và nằm trong một đới tự nhiên nhất định sẽ có ảnh hưởng tới phương hướng sản
xuất, tới việc trao đổi và phân công lao động trong nông nghiệp.
Thí dụ, vị trí của Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa đã qui định
nền nông nghiệp nước ta là một nền nông nghiệp nhiệt đới với các sản phẩm đặc
trưng là lúa gạo, cà phê, cao su, điều,... Các nông sản trao đổi trên thị trường thế
giới tất nhiên chủ yếu là sản phẩm của nền nông nghiệp nhiệt đới.
1.1.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Từ những đặc điểm đặc thù của sản xuất nông nghiệp, có thể thấy rằng sự phát
triển và phân bố của ngành này tuỳ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên. Sự phân đới nông nghiệp trên thế giới phụ thuộc vào sự phân đới tự
nhiên. Sự tồn tại của các nền nông nghiệp gắn liền với các đặc trưng của từng đới tự
nhiên. Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp, trong việc sử dụng lao động và các
nguồn lực khác, trong việc trao đổi sản phẩm cũng chịu sự tác động của điều kiện tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Tính bấp bênh, không ổn định của nông nghiệp
phần nhiều là do tai biến thiên nhiên và thời tiết khắc nghiệt. Mỗi loại cây trồng, vật
nuôi chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định.
Rõ ràng, các nhân tố tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó nổi lên hàng
đầu là đất, nước và khí hậu.
- Đất đai
Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu, là cơ sở để tiến hành trồng trọt và chăn
nuôi. Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai. Quĩ đất, cơ cấu sử
dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng rất lớn đến qui mô và phương
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
hướng sản xuất, cơ cấu và sự phân bố cây trồng, vật nuôi, mức độ thâm canh và
14
năng suất cây trồng. Đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nơi cung cấp
các chất dinh dưỡng cho cây trồng (các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca,
Mg... và các nguyên tố vi lượng).
Những vùng đất màu mỡ, phì nhiêu trên thế giới đều là những vùng nông
nghiệp trù phú. Chẳng hạn những vùng đất đen có tầng mùn dày, độ phì cao ở
những vùng ôn đới của châu Âu, Bắc Mỹ trở thành vựa lúa mỳ lớn trên thế giới.
Những kho lúa gạo của nhân loại thuộc về các vùng phù sa châu thổ sông Mê Công,
Trường Giang, sông Hằng, sông Hồng của châu Á gió mùa.
Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với việc phát triển và phân
bố nông nghiệp như đất nào cây ấy, tấc đất tấc vàng.
Tài nguyên đất nông nghiệp rất hạn chế, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên của
toàn thế giới. Ở nước ta tương ứng là 28,5% với 9,3 triệu ha. Xu hướng bình quân
diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ngày một giảm do gia tăng dân số, do xói
mòn, rửa trôi, do hoang mạc hoá và chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất công
nghiệp, đất đô thị và đất cho cơ sở hạ tầng. Vì vậy con người cần phải sử dụng hợp
lí diện tích đất nông nghiệp hiện có, duy trì và nâng cao độ phì cho đất.
- Khí hậu
Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, chế độ gió và cả
những bất thường của thời tiết như bão, lũ lụt, hạn hán, gió nóng… có ảnh hưởng
rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khả năng xen
canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Tính mùa của khí hậu quy định
tính mùa trong sản xuất và cả trong tiêu thụ sản phẩm.
Mỗi loại cây trồng, vật nuôi chỉ thích hợp với những điều kiện khí hậu nhất
định (nghĩa là trong điều kiện đó cây trồng, vật nuôi mới có thể phát triển bình
thường). Vượt quá giới hạn cho phép, chúng sẽ chậm phát triển, thậm chí bị chết.
Ví dụ, cây lúa ưa khí hậu nóng, ẩm, nhiệt độ trung bình tháng từ 20°C đến 30°C.
Nhiệt độ thấp nhất vào đầu thời kỳ sinh trưởng không xuống dưới 12°C. Trong quá
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trình sinh trưởng, cây lúa cần có nước ngập chân.
15
Những vùng dồi dào về nhiệt, ẩm và lượng mưa, về thời gian chiếu sáng và
cường độ bức xạ có thể cho phép trồng nhiều vụ trong năm với cơ cấu cây trồng,
vật nuôi phong phú, đa dạng, có khả năng xen canh gối vụ, chẳng hạn như vùng
nhiệt đới. Còn như vùng ôn đới, với một mùa đông tuyết phủ nên có ít vụ trong
năm. Trên thế giới, sự hình thành 5 đới trồng trọt chính (đới nhiệt đới, đới cận nhiệt,
đới ôn hoà có mùa hè dài và nóng, đới ôn hoà có mùa hè mát và ẩm và đới cận cực)
phụ thuộc rõ nét vào sự phân đới khí hậu.
- Nguồn nước
Muốn duy trì hoạt động nông nghiệp cần phải có đầy đủ nguồn nước ngọt cho
cây trồng, nước uống, nước tắm rửa cho gia súc. Nước đối với sản xuất nông nghiệp
là rất cần thiết như ông cha ta đã khẳng định “Nhất nước, nhì phân”.
Nước có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi và
hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Những nơi có nguồn cung cấp nước dồi dào, thường
xuyên đều là những vùng nông nghiệp trù phù, chẳng hạn như vùng hạ lưu các con
sông lớn như Mêkông, Hoàng Hà… Ngược lại, nông nghiệp không thể phát triển
được ở những nơi khan hiếm nước như các vùng hoang mạc, bán hoang mạc…
Do ảnh hưởng của khí hậu và địa hình, nên nguồn nước trên thế giới phân bố không
đều và thay đổi theo mùa. Ở nước ta, mùa mưa lượng nước tập trung quá lớn, làm
dư thừa nước, còn mùa khô, ngược lại rất khan hiếm nước. Điều đó gây ra nhiều
khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Để khắc phục tình trạng thiếu nước trong mùa
khô và quá dư thừa nước trong mùa mưa, người ta đã xây dựng các công trình thuỷ
lợi, hồ chứa nước… để phục vụ tưới tiêu một cách chủ động. Sự suy giảm nguồn
nước ngọt cạn kiệt là một nguy cơ đe dọa sự tồn tại và phát triển nông nghiệp nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Vì vậy, chúng ta cần phải sử dụng hợp lí, tiết kiệm
và bảo vệ nguồn nước.
- Sinh vật
Sinh vật trong tự nhiên xưa kia là cơ sở để thuần dưỡng, tạo nên các giống cây
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trồng, vật nuôi. Sự đa dạng về thảm thực vật và hệ động vật, hay nói cách khác về
16
loài cây, con là tiền đề hình thành và phát triển các giống vật nuôi, cây trồng và tạo
khả năng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh
thái. Trên thế giới, sản lượng lương thực (lúa, ngô, khoai...) và các cây công nghiệp
quan trọng (cao su, cà phê, ca cao, bông, đay, dầu cọ, lạc…) tập trung ở vùng nhiệt
đới vì tại đây đã có tới 6 trên 10 trung tâm phát sinh cây trồng.
Các diện tích đồng cỏ, bãi chăn thả và diện tích mặt nước tự nhiên là cơ sở
thức ăn tự nhiên để phát triển ngành chăn nuôi. Ngày nay, mặc dù ngành chăn nuôi
được đẩy mạnh nhờ ứng dụng phương pháp chăn nuôi công nghiệp dựa trên nguồn
thức ăn được chế biến theo phương pháp công nghiệp, nhưng nguồn thức ăn tự
nhiên vẫn còn vai trò quan trọng.
Có thể nói, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Đất, khí hậu,
nước với tư cách là tài nguyên nông nghiệp quyết định khả năng (tự nhiên) nuôi
trồng các loại cây, con cụ thể trong từng lãnh thổ và khả năng áp dụng các quy trình
kĩ thuật để sản xuất ra sản phẩm.
1.1.2.3. Kinh tế - xã hội
Dân cư, nguồn lao động
Dân cư và lao động ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp dưới hai góc độ: là
lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn tiêu thụ các nông sản.
+ Dưới góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp để tạo ra các sản phẩm nông
nghiệp, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển theo chiều rộng
(mở rộng diện tích, khai hoang…) và theo chiều sâu (thâm canh, tăng vụ…). Các
cây trồng, vật nuôi đòi hỏi nhiều công chăm sóc thường được phân bố ở các vùng
đông dân, nhiều lao động. Không phải ngẫu nhiên, vùng lúa gạo được thâm canh
cao nhất của nước ta lại xuất hiện ở đồng bằng sông Hồng. Các cây trồng, vật nuôi
tốn ít công chăm sóc hơn có thể phân bố ở các vùng thưa dân.
Nguồn lao động không chỉ được xem xét về mặt số lượng, mà còn cả về mặt
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
chất lượng, như trình độ học vấn, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp, tình
17
trạng thể lực của người lao động... Nếu nguồn lao động đông và tăng nhanh, trình
độ học vấn và tay nghề thấp, thiếu việc làm sẽ trở thành gánh nặng cho nông nghiệp
nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.
+ Dưới góc độ là nguồn tiêu thụ, cần quan tâm đến truyền thống, tập quán ăn
uống, quy mô dân số với khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm.
Chăn nuôi lợn ở các nước Nam Á và Trung Đông không phát triển, thậm chí
không có như ở Bănglađet và Pakixtan do các quốc gia Hồi giáo không ăn thịt lợn.
Ở Ấn Độ, một nước đa dân tộc và tôn giáo, ngành chăn nuôi lợn và bò cũng bị ảnh
hưởng bởi tập quán kiêng ăn thịt bò của đạo Hinđu và không ăn thịt lợn của tín đồ
Hồi giáo.
Ở các nước đang phát triển thuộc khu vực Á- Phi, dân số đông và tăng nhanh.
Trong cơ cấu nông nghiệp luôn có sự mất cân đối. Tỷ trọng chăn nuôi rất nhỏ bé so
với trồng trọt, vì lương thực sản xuất ra chủ yếu để dành cho người.
Khoa học – công nghệ
Khoa học - công nghệ đã thực sự trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng và
phát triển nông nghiệp. Nhờ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, con người
hạn chế được những ảnh hưởng của tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt động nông
nghiệp, tạo ra nhiều giống cây, con mới cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tạo
điều kiện hình thành các vùng chuyên canh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH.
Các biện pháp kỹ thuật như điện khí hoá (sử dụng điện trong nông nghiệp và
nông thôn), cơ giới hoá (sử dụng máy móc trong các khâu làm đất, chăm sóc và thu
hoạch), thủy lợi hoá (xây dựng hệ thống kênh tưới tiêu hoặc áp dụng tưới tiêu theo
khoa học), hoá học hoá (sử dụng rộng rãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, các
chất kích thích cây trồng, vật nuôi), sinh học hoá (áp dụng công nghệ sinh học như
lai giống, biến đổi gien, cấy mô…) nếu được áp dụng rộng rãi thì năng suất trên một
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
đơn vị diện tích và của một người lao động sẽ thực sự được nâng cao.
18
Trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn về năng suất lao động. Ở các nước phát
triển, bình quân một lao động nông nghiệp có thể sản xuất từ 8 đến 14 tấn lương
thực, từ 1,5 đến 2,0 tấn thịt các loại, đủ nuôi sống cho 30 đến 80 người, trong khi đó
ở các nước đang phát triển tương ứng chỉ là 1 tấn lương thực, 50 - 100 kg thịt, đủ
cho nhu cầu 2 - 4 người. Rõ ràng việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
nông nghiệp ở các nước đang phát triển còn rất hạn chế trong khi nông nghiệp là
ngành kinh tế chính của các nước này. Việt Nam cũng là một nước đang phát triển
và nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đáng tự hào của Việt Nam. Việt Nam
trở thành một nước mạnh về xuất khẩu nhiều lĩnh vực trong đó có đóng góp của
nông nghiệp. Bên cạnh các yếu tố như đất, sự sáng tạo, cần cù của người nông dân
thì yếu tố mới về giống, công nghệ, chế biến và bảo quản hết sức quan trọng trong
việc phát triển ngành nông nghiệp... Việt Nam có điều kiện để phát triển nông
nghiệp vì thế phải đặt mục tiêu trong giai đoạn 10 năm tới không chỉ là một nước
mạnh mà còn phải phát triển bền vững về nông nghiệp.
Thực tế nhiều năm qua ngành nông nghiệp cũng khẳng định vai trò của khoa
học công nghệ trong việc đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh
tranh của nền nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào việc đạt được những thành tựu
của ngành trong thời gian vừa qua. Nhiều giống cây trồng vật nuôi mới đã được tạo
ra, nhiều quy trình công nghệ được phát triển và ứng dụng trong sản xuất góp phần
nâng cao năng suất và sản lượng nông sản ở các vùng sinh thái khác nhau. Đáng
chú ý là chất lượng nguyên liệu và nông sản đã từng bước được cải thiện, nâng cao
tính cạnh tranh của nông sản xuất xứ Việt Nam tại thị trường nội địa và quốc tế.
Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kĩ thuật
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã tạo ra bước chuyển biến mới trong
ngành nông nghiệp, đã và đang đưa nông nghiệp trở thành ngành sản xuất tiên tiến -
một dạng sản xuất kiểu công nghiệp. Nội dung chủ yếu của cuộc cách mạng này là
đưa nông nghiệp lên giai đoạn đại cơ khí, đẩy mạnh các quá trình liên kết, nâng cao
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
vai trò của khoa học và biến nó thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong nông
19
nghiệp. Áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất kĩ thuật hoàn thiện giúp con người hạn chế những ảnh hưởng của
điều kiện tự nhiên, chủ động hơn trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nâng
cao năng suất và sản lượng nông nghiệp.
Thị trường
Trong nền kinh tế hàng hóa, thị trường tiêu thụ là yếu tố cơ bản tác động đến
cơ cấu, quy mô và giá trị của sản phẩm nông nghiệp, có tác dụng thúc đẩy nông
nghiệp phát triển và ngược lại. Nhu cầu của thị trường quyết định hướng sản xuất
nông nghiệp. Mọi biến động trên thị trường đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực
đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Thị trường cũng có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và phát triển vùng
chuyên môn hóa nông nghiệp. Ở các nước trên thế giới, xung quanh các thành phố
trung tâm công nghiệp lớn đều hình thành vành đai nông nghiệp ngoại thành mà
hướng chuyên môn hóa là sản xuất rau xanh, thịt, sữa, trứng, dù rằng có thể điều
kiện tự nhiên không thật thuận lợi. Điều đó chỉ có thể lí giải được bằng nhân tố thị
trường tiêu thụ.
Vốn
Nguồn vốn có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển và phân bố nông
nghiệp, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Nguồn vốn tăng
nhanh, được phân bố và sử dụng một cách có hiệu quả sẽ tác động đến tăng trưởng
và mở rộng sản xuất, đáp ứng các chương trình phát triển nông nghiệp (như nuôi
trồng thuỷ sản, đánh bắt xa bờ), đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào nông
nghiệp…
Chính sách
Quan hệ sở hữu và chính sách nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới con
đường phát triển và các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp. Chính sách khoán
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
10 ở Việt Nam từ năm 1988 là một thí dụ sinh động. Hộ nông dân được coi là một
20
đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để phát triển sản
xuất, được tự do trao đổi hàng hoá, mua bán vật tư. Kinh tế hộ nông dân đã tạo đà
cho việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng sẵn có, sản xuất nông nghiệp nước ta
tăng lên rõ rệt. Có thể nói chính sách khoán hộ đã tạo động lực cho tăng trưởng
nông nghiệp trong những năm 90 của thế kỉ XX.
Ngoài ra các chương trình giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân đã thúc đẩy
nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ.
Bối cảnh trong nước và khu vực: không chỉ thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp
và giá cả nông sản mà còn có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành phát triển các
vùng nông nghiệp chuên môn hóa.
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá
Việc lựa chọn các chỉ tiêu trong nghiên cứu kinh tế - xã hội là một vấn đề rất
quan trọng nhằm đưa ra những căn cứ để đánh giá một cách sát thực nhất vấn đề
nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp và mang tính khả thi cao.
Trong đánh giá phát triển nông nghiệp (theo nghĩa rộng), các nhà kinh tế
thường dựa vào các chỉ tiêu chủ yếu sau:
1.1.3.1 GDP nông nghiệp và tỉ trọng GDP nông nghiệp so với GDP toàn nền kinh
tế
Chỉ tiêu này phản ánh vị trí của ngành nông nghiệp trong cơ cấu toàn bộ nền
kinh tế của một vùng, quốc gia hay khu vực, đồng thời cũng là thước đo để đánh giá
trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với các nước đang phát triển có
điểm xuất phát thấp, nền kinh tế dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, tỉ trọng
của nông nghiệp thường chiếm từ 20% – 30% GDP. Trong khi đó, ở các nước phát
triển, nông nghiệp chỉ chiếm từ 1% – 7%. Hay ở Việt Nam , GDP nông - lâm - thủy
sản chiếm 20,6% năm 2010, riêng nông nghiệp chiếm trên 2/3.
Theo xu hướng phát triển hiện nay sẽ có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
tỉ trọng của ngành nông nghiệp, tăng tỉ trọng của công nghiệp và dịch vụ. Nông
21
nghiệp sẽ ngày càng chiếm một tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế, song quy mô giá
trị sản xuất vẫn không ngừng tăng lên nhờ việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KHKT
vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
1.1.3.2 Giá trị sản xuất (GTSX) nông nghiệp , cơ cấu GTSX phân theo ngành và tốc
độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp
- Giá trị sản xuất nông nghiệp là tổng giá trị sản xuất và dịch vụ nông nghiệp
được tạo ra trên một đơn vị lãnh thổ, trong một thời kì nhất định, thường là 1 năm.
GTSX nông nghiệp được tính theo giá thực tế và giá so sánh năm 1994.
- Cơ cấu GTSX nông nghiệp: được hiểu là tương quan về GTSX giữa các bộ
phận (trồng trọt – chăn nuôi – dịch vụ) trong tổng thể hoạt động kinh tế nông
nghiệp, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại cả về số lượng và chất
lượng giữa các bộ phận đó với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong
những điều kiện KT - XH nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục
tiêu cụ thể.
Cơ cấu GTSX nông nghiệp tùy thuộc vào chiến lược phát triển và điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên theo xu hướng chung, cơ cấu
nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của ngành chăn nuôi và dịch vụ
nông nghiệp, giảm tỉ trọng của trồng trọt.
Cơ cấu GTSX trong nội bộ ngành nông nghiệp hiện có sự chuyển dịch theo
hướng:
Trong nông nghiệp, giảm tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng của ngành
chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.Trong nội bộ ngành trồng trọt, chăn nuôi cũng có
sự khác nhau
- Trong trồng trọt: giảm diện tích cây trồng không mang lại hiệu quả kinh tế
cao (như lương thực), tăng diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau đậu, thực
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
phẩm,…
22
- Trong chăn nuôi: đẩy mạnh chăn nuôi lợn, bò (đặc biệt là bò sữa), gia cầm,
giảm số lượng các vật nuôi không mang lại hiệu quả kinh tế cao, rủi ro
Như vậy, chỉ tiêu GTSX và cơ cấu GTSX nông nghiệp phân theo ngành vừa
phản ánh sự tăng lên về sản lượng nông nghiệp vừa thể hiện sự chuyển biến về mặt
chất lượng của sự phát triển nông nghiệp.
Tốc độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp
Tốc độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp là một chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh
mức độ phát triển, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Tốc độ này thường thấp hơn
rất nhiều so với các ngành công nghiệp và dịch vụ, bởi vì: nông nghiệp phụ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên, hàm chứa nhiều rủi ro; tiềm năng khai thác từ các yếu
tố tự nhiên (như đất đai, nguồn nước) là có giới hạn; giá trị của các sản phẩm nông
nghiệp thường thấp hơn nhiều so với các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ. Do vậy,
để GTSX nông nghiệp tăng lên được 1% thì khó hơn rất nhiều so với mức tăng 5 –
6% của ngành công nghiệp hay dịch vụ.
Trong tốc độ tăng trưởng GTSX nông nghiệp
Ngành chăn nuôi có tốc độ tăng trưởng cao hơn ngành trồng trọt và dịch vụ
nông nghiệp
Trong nội bộ ngành trồng trọt thì tốc độ tăng trưởng cao thuộc về nhóm cây
rau đậu, cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả.
1.1.3.3 Giá trị được tạo ra trên một ha đất nông nghiệp.
𝑃
Công thức tính:
𝑆 Trong đó: P: Giá trị sản xuất (triệu đồng)
𝐺 =
S: Diện tích gieo trồng (ha)
G: GTSX/ha đất nông nghiệp (triệu đồng/ha)
Đây là chỉ tiêu cụ thể nhất phản ánh hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, thể
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
hiện khả năng tăng năng suất bằng việc áp dụng các biện pháp KHKT, cải tiến kĩ
23
thuật sản xuất, cải tạo đất. Như đã phân tích ở trên, tiềm năng về diện tích cũng như
độ phì tự nhiên của đất là có hạn, vậy nên, trên cùng một diện tích đất nông nghiệp,
giá trị sản phẩm nông nghiệp được tạo ra càng nhiều khi càng sử dụng có hiệu quả
các biện pháp KHKT, thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất và việc lựa chọn cơ cấu
cây trồng, vật nuôi hợp lí. Chính vì vậy, ở các nước phát triển, tuy diện tích nông
nghiệp không còn nhiều và ngày càng bị thu hẹp nhưng giá trị mà ngành nông
nghiệp tạo ra lại ngày càng tăng, đó chính là kết quả của sự phát triển nền nông
nghiệp hiện đại công nghệ cao.
1.1.3.4 Năng suất lao động nông nghiệp
𝑃
𝐿
Công thức tính:
𝑁 = Trong đó:
P: Giá trị sản xuất nông nghiệp (triệu đồng)
L: Số lao động nông nghiệp (người)
N: Năng suất lao động nông nghiệp (triệu đồng/lao động)
Năng suất lao động nông nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc sử
dụng lao động và khả năng áp dụng KHKT trong sản xuất nông nghiệp. Hoạt động
sản xuất nông nghiệp cần nhiều sức lao động của con người nhưng giá trị tạo ra lại
không cao nên năng suất lao động nông nghiệp thường thấp hơn nhiều so với các
ngành kinh tế khác. Mặt khác, tỉ lệ sử dụng thời gian trong lao động nông nghiệp
cũng thấp hơn so với trong công nghiệp và dịch vụ do tính chất thời vụ của sản xuất
nông nghiệp. Mức độ áp dụng KHKT càng cao thì GTSX được tạo ra trong nông
nghiệp ngày càng tăng trên một số lượng lao động nông nghiệp ngày càng giảm.
1.1.3.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cấp tỉnh
Theo nhà Địa lí Nga K.I.Ivanov: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là
một hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
lãnh thổ dựa trên cơ sở các quy trình kỹ thuật công nghệ hiện đại sử dụng có hiệu
24
quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao
động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất.
Có nhiều hình thức TCLTNN với những đặc trưng khác nhau. Đối với cấp
tỉnh phổ biến nhất có các hình thức TCLTNN là: hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã,
vùng chuyên canh và tiểu vùng nông nghiệp.
Hộ gia đình (nông hộ)
Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội tự chủ cùng một lúc thực hiện nhiều chức
năng mà ở các đơn vị kinh tế khác không thể có được. Hộ là một tế bào của xã hội
với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết thống, mà mỗi thành viên đều
có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại của gia đình. Hộ
gia đình là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến ở các nước đang phát
triển thuộc châu Á, trong đó có Việt Nam.
Các đặc điểm cơ bản của hộ gia đình: sản xuất chủ yếu nhằm thoả mãn nhu
cầu tiêu dùng của gia đình, ít có quan hệ với thị trường; quy mô đất đai nhỏ bé, biểu
hiện rõ tính chất tiểu nông; quy mô vốn nhỏ, chủ yếu được trích từ tiết kiệm trong
thu nhập ít ỏi của gia đình, mức tích luỹ thấp làm hạn chế khả năng đầu tư tái sản
xuất; kỹ thuật canh tác và công cụ sản xuất lạc hậu, thô sơ, mang nặng tính truyền
thống; chủ yếu sử dụng lao động gia đình.
Hộ gia đình tuy là hình thức TCLTNN ở trình độ thấp, nhưng có vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đặc biệt, đối với các nước
đang phát triển, hộ gia đình là đơn vị cơ sở trong việc bảo tồn xã hội, phát triển kinh
tế nông thôn, và đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại, thúc đẩy nông thôn quá độ tiến
lên một trình độ cao hơn - nông thôn sản xuất hàng hoá.
Trang trại: Trang trại là thuật ngữ gọi tắt của trang trại nông nghiệp,
chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trang
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trại là hình thức phát triển cao hơn của nông hộ.
25
Sự hình thành trang trại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình CNH.
Sự phát triển của ngành công nghiệp đặt ra nhu cầu lớn về nguồn cung cấp nguyên
liệu từ nông nghiệp và đó là điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá
mà trang trại là một hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp thích hợp. CNH càng
cao thì kinh tế trang trại càng phát triển.
Các đặc điểm cơ bản của trang trại bao gồm: Mục đích sản xuất là nhằm tạo
ra nông sản hàng hoá theo nhu cầu thị trường; quy mô sản xuất tương đối lớn, tuỳ
theo tính chất và loại hàng hoá nông sản mà nó sản xuất và khác nhau giữa các nước
cũng như giữa các vùng trong từng nước. Phần lớn các trang trại đều có thuê, mướn
lao động, có thể là thường xuyên hoặc theo thời vụ…
Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN)
HTXNN là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát
huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả
hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Những đặc điểm cơ bản của HTXNN: HTXNN là tổ chức liên kết kinh tế tự
nguyện của những nông hộ, nông trại có chung yêu cầu về những dịch vụ cho sản
xuất, kinh doanh. HTXNN được thành lập dựa vào việc cùng góp vốn của các thành
viên và mỗi xã viên đều có quyền bình đẳng. Mục đích kinh doanh của HTX là
nhằm cung cấp dịch vụ cho xã viên, đáp ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng
của dịch vụ, đồng thời cũng tuân theo nguyên tắc tái sản xuất mở rộng.
Các HTX nông nghiệp hiện nay chủ yếu là các HTX dịch vụ kinh tế - kỹ
thuật (như: tín dụng, cung ứng vật tư, chế biến, tiêu thụ nông sản, dịch vụ thú y, cơ
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
khí nông nghiệp…)
26
Vùng chuyên canh:
Vùng chuyên canh là hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tương đối phổ biến ở
các nước cũng như ở Việt Nam. Trên một lãnh thổ sản xuất nhất định hoạt động sản
xuất có sự tập trung cao độ với quy mô lớn được đầu tư trên cơ sở thâm canh,
chuyên môn hóa một (hoặc một vài) loại nông phẩm nhằm mang lại hiệu quả cao về
KT - XH.
Vùng chuyên canh có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Mức độ tập trung hóa đất đai rất lớn trên một lãnh thổ nhất định, thuận lợi
cho phát triển một vài cây trồng, vật nuôi nào đó.
- Chuyên môn hóa sản xuất ở trình độ cao
- Sản xuất được tiến hành gắn với thâm canh, áp dụng khoa học công nghệ.
- Hình thức sản xuất tại các vùng chuyên canh là hộ gia đình và trang trại.
Tiểu vùng nông nghiệp
- Tiểu vùng nông nghiệp là một lãnh thổ có quy mô tương đối lớn có những
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng
- Có một vài sản phẩm chuyên môn hóa đặc trưng
Đây là hình thức phù hợp và phổ biến đối với cấp tỉnh.
1.1.4. Công nghiệp hóa
1.1.4.1 Khái niệm
Theo văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam X, CNH là quá trình chuyển
đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, quản lý xã
hội từ dựa vào lao động thủ công là chính chuyển sang dựa vào lao động kết hợp
cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật, tiên tiến hiện đại để tạo ra
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
năng suất lao động cao.
27
1.1.4.2 Mục tiêu của quá trình CNH
Mục tiêu tổng quát
CNH là mục tiêu lâu dài, xây dựng Việt Nam trở thành nước công nghiệp có
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản suất, đời sống vật chất, tinh
thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Ra sức phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành
nước công nghiệp, với tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác.
Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp với tỷ
trọng trong GDP của nông nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%,
dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ trọng lao động trong tổng lao động xã hội, lao động công
nghiệp và dịch vụ là 50%, nông nghiệp là 50%.
1.1.4.3 Tác động của quá trình CNH
- CNH ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc
hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản
chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa.
CNH là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết về con
người và khoa học - công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động
và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm
cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân
dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
- CNH tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản xuất, nhờ đó mà
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nâng cao vai trò của người lao động - nhân tố trung tâm của nền kinh tế xã hội chủ
28
nghĩa; tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- CNH là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng
xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là tác dụng góp phần tăng cường quyền lực, sức mạnh và
hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.
- CNH tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh
trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế.
- CNH đất nước thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quá
trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập trung làm cho
quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn.
- CNH không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển cao mà
còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hoá nền quốc phòng - an
ninh. Sự nghiệp quốc phòng và an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hoá,
kinh tế, xã hội.
- CNH tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ về kinh tế - chính trị, văn hoá
- xã hội, quốc phòng và an ninh. Thành công của sự nghiệp CNH nền kinh tế quốc
dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và
nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà CNH kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng
tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Vài nét về phát triển nông nghiệp (nghĩa hẹp) ở Việt Nam trong giai đoạn
2000 - 2010
1.2.1.1. Những kết quả đạt được
GTSX nông nghiệp tăng nhanh, từ 129.087,9 tỉ đồng năm 2000 lên 528.738,9
tỉ đồng năm 2010, tăng gấp 4,1 lần. Tốc độ tăng trưởng bình quân năm giai đoạn
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
2000 – 2010 là 4,2%/năm, trong đo trồng trọt: 3,6%, chăn nuôi: 6,8% và dịch vụ
29
nông nghiệp là 2,8% (Nguồn Số liệu thống kê vị thế kinh tế - xã hội 63 tỉnh, thành
phố Việt Nam, NXB Thống Kê năm 2011)
Cơ cấu ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch song chậm và không ổn định
theo hướng giảm tỉ trọng ngành trồng trọt ( từ 78,3% năm 2000, xuống 73,6% năm
2005 và nhích lên 73,9% năm 2010, tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi ( tương ứng là
19,3%, 24,6% và 24,5%), dịch vụ nông nghiệp vừa không đáng kể lại giảm đi
(2,4%, 1,8% và 1,6%).
Diện tích và cơ cấu diện tích gieo trồng có sự biến động
Bảng 1.1 Diện tích và cơ cấu diện tích gieo trồng
Năm 2000 Năm 2010
100% 13925,4 100% 12644,3 Tổng diện tích gieo trồng
(nghìn ha)
Trong đó:
62,1 8641,4 68,8 8399,1 Cây lương thực có hạt
20,0 2787,6 17,6 2229,4 Cây công nghiệp
5,6 776,3 2,1 565,0 Cây ăn quả
12,3 1720,1 11,5 1450,8 Cây khác
- Sản lượng lương thực có hạt tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường nhờ thực hiện chính sách đẩy mạnh CNH,
HĐH song song với chú trọng phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm. Đến hết
năm 2000, sản lượng lương thực có hạt của cả nước đạt 34,5 triệu tấn, đến năm
2010 lên tới 44,6 triệu tấn nâng mức lương thực có hạt bình quân đầu người từ
444,9 kg/người năm 2000 lên 480,9 kg/người năm 2005 và 513 kg/người năm 2010.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Đây là nền tảng rất quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ công nghiệp
30
và xuất khẩu. Xuất khẩu lúa gạo tăng từ 3,48 triệu tấn năm 2000, lên 5,3 triệu tấn
năm 2005 và 6,9 triệu tấn năm 2010
Phát triển cây công nghiệp đặc biệt là cây công nghiệp lâu năm mang lại hiệu
quả cao cả về kinh tế - xã hội và môi trường
Diện tích cây công nghiệp hàng năm có tăng nhưng chậm (từ 778,1 nghìn ha
năm 2000 lên 861,5 nghìn ha năm 2005 và giảm còn 800,2 nghìn ha năm 2010) với
các cây chủ lực là mía và đậu tương.
Diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng khá và liên tục ( từ 1451,3 nghìn ha
năm 2000 lên 1633,6 nghìn ha năm 2005 và 1987,4 nghìn ha năm 2010). Việt Nam
ở trong top đầu các nước trồng và xuất khẩu một số cây công nghiệp lâu năm như:
cao su, cà phê, điều, hồ tiêu,… Năm 2000, giá trị xuất khẩu chỉ 6 mặt hàng cây công
nghiệp (cao su, cà phê, điều, tiêu, lạc nhân và chè) đạt gần 6 tỉ USD, chiếm 8,3%
tổng kim ngạch xuất khẩu.
- Chăn nuôi phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá
Ngành chăn nuôi trong nhiều năm qua luôn đạt tốc độ tăng trưởng dương về
giá trị sản xuất, trung bình giai đoạn 2000 – 2010 đạt 6,8%.
Chăn nuôi lợn đạt mức tăng trưởng cao. Tổng đàn lợn đạt 20,2 triệu con năm
2000 lên 27,4 triệu con năm 2010. Hướng cơ bản đã được khẳng định trong việc
giải quyết giống cho chăn nuôi lợn là lợn lai kinh tế. Chăn nuôi bò phát triển tương
đối ổn định qua các năm. Số lượng đàn bò tăng từ 4,1 triệu con năm 2000 lên 5,9
triệu con năm 2010. Hướng mới trong chăn nuôi bò là lấy sữa. Tổng đàn trâu đạt
2,9 triệu con (năm 2010).
- Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ
Đó là sự hình thành các vùng chuyên môn hoá trong sản xuất nông nghiệp.
Cho đến nay, ngành nông nghiệp nước ta đã hình thành những vùng chuyên môn
hoá rõ rệt, phù hợp với hướng sản xuất hàng hoá, tạo ra những sản phẩm có chất
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
31
* Trong sản xuất lương thực, thực phẩm: hình thành hai vùng chuyên canh lớn
là ĐBSCL và Đồng bằng sông Hồng.
ĐBSCL là trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm số một của cả nước,
chiếm tới 46,4% diện tích cây lương thực có hạt của cả nước (năm 2010), 48,8%
sản lượng lương thực có hạt, 90% giá trị gạo xuất khẩu của cả nước. Riêng về cây
lúa, vùng chiếm tới 52,8% diện tích và trên 54,3% sản lượng lúa toàn quốc. Đồng
bằng sông Hồng là trọng điểm thứ hai về sản xuất lương thực, thực phẩm với 14,2%
diện tích và 18,0% sản lượng lúa cả nước với thế mạnh chính là cây lúa, rau màu,
chăn nuôi lợn và gia cầm.
* Về cây công nghiệp: Hình thành ba vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn
là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung du Miền núi Bắc Bộ. Trong đó, Đông Nam
Bộ là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất với những điều kiện thuận lợi về
tự nhiên và KT - XH, các sản phẩm cây công nghiệp chính như: cao su, cà phê,
điều,… Vùng chuyên canh Tây Nguyên với sản phẩm đặc trưng: cà phê, cao su, hồ
tiêu, chè, dâu tằm. Ở Trung du miền núi phía Bắc, trên địa hình núi và cao nguyên,
hình thành những đồi chè, những nông trường trồng lạc và thuốc lá, ngoài ra vùng
còn có thế mạnh về cây dược liệu.
Một hướng chuyên môn hoá mới trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong
những năm gần đây là sự hình thành các vành đai thực phẩm xung quanh đô thị với
nhiệm vụ cung cấp nguồn thực phẩm an toàn, được thực hiện một cách có quy
hoạch.
1.2.1.2. Những tồn tại, hạn chế
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm so với yêu cầu đẩy
mạnh CNH, HĐH.
- Nông nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, khả năng ứng phó
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trước những biến động của tự nhiên trong sản xuất nông nghiệp còn yếu.
32
- Chất lượng nông sản hàng hoá thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thị trường trong
và ngoài nước. Sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến và khâu bảo quản sau thu hoạch
còn yếu và thiếu. Chưa có mối quan hệ hữu cơ đáng kể nào giữa các cơ quan nghiên
cứu, chế tạo với doanh nghiệp và nông dân, do vậy, Quyết định 80 về “liên kết bốn
nhà” đang có chiều hướng chìm lắng do không có ai chịu trách nhiệm trên thực tế.
1.2.2. Vài nét về phát triển nông nghiệp (nghĩa hẹp) ở ĐBSCL
Là vùng trọng điểm số một về sản xuất lương thực, thực phẩm, những bước
tiến của ngành nông nghiệp ĐBSCL không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với nền
kinh tế toàn vùng mà còn có tác động không nhỏ đến sự ổn định và phát triển của
nền kinh tế đất nước. Giá trị sản xuất tăng nhanh từ 40625,1 tỉ đồng (giá so sánh
1994) năm 2000 lên 56078,8 tỉ đồng năm 2010 (tăng gấp 1,4 lần), chiếm 31,1%
GTSX nông nghiệp cả nước. Cơ cấu ngành nông nghiệp của vùng ít có sự biến
động, trong đó ngành trồng trọt luôn chiếm ưu thế với trên 77,0%, ngành chăn nuôi
có xu hướng tăng nhẹ, hiện chiếm gần 16,0%, tỉ trọng dịch vụ cao hơn các vùng
khác ở mức 6 – 7%.
- Trồng trọt là ngành có thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của vùng dựa
trên lợi thế về khí hậu, đất và nguồn nước. Trong đó, cây lúa vẫn là cây chủ lực, là
sản phẩm chuyên môn hoá lớn nhất của vùng, chiếm 99,1 diện tích và sản lượng cây
lương thực có hạt 52,8% diện tích và 54,3% sản lượng cả nước; bình quân thóc trên
đầu người đạt 1260 kg năm 2010 (gấp 2,5 lần mức trung bình cả nước). ĐBSCL là
vùng xuất khẩu gạo chủ yếu với 90% tổng khối lượng gạo xuất khẩu của cả nước,
đạt 3 – 4 triệu tấn/năm (tương đương 3 tỉ USD).
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng lúa các tỉnh vùng ĐBSCL năm 2010
Diện tích Sản lượng
Tỉnh
Nghìn ha % Nghìn tấn %
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
3970,5 Toàn vùng 100 21569,8 100
33
470,7 2275,8 Long An
11,9 10,6 243,5 1317,1 Tiền Giang
6,1 6,1 80,2 367,6 Bến Tre
2,0 1,7 232,7 1156,0 Trà Vinh
5,9 5,4 170,0 923,1 Vĩnh Long
4,3 4,3 465,1 2783,1 Đồng Tháp
11,7 12,9 590,1 3592,4 An Giang
14,9 16,2 641,0 3485,1 Kiên Giang
16,1 16,2 209,4 1189,6 Cần Thơ
5,3 5,5 210,6 1088,0 Hậu Giang
5,3 5,0 350,0 1939,0 Sóc Trăng
8,8 9,0 168,7 849,1 Bạc Liêu
4,2 3,9 138,5 503,9 Cà Mau
3,5 2,3 (Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2010)
Cây công nghiệp hằng năm chủ yếu là cây mía, đay, dứa, cói,… Trong đó, cây
mía có diện tích (57,5 nghìn ha) và sản lượng (4715,3 nghìn tấn) đứng đầu cả nước
với các chỉ số tương ứng là 21,6% và 29,6%.
Dừa là cây công nghiệp lâu năm truyền thống của vùng ĐBSCL, diện tích
trồng dừa 117,8 nghìn ha (84% cả nước), trồng nhiều ở Bến Tre, Trà Vinh
Cây ăn quả: cùng với cây lương thực, là thế mạnh nổi bật của vùng với diện
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
tích 285,8 nghìn ha năm 2010, chiếm 36,8% diện tích cả nước, được trồng nhiều
34
nhất ở vùng ven sông Tiền, sông Hậu. Tập đoàn cây ăn quả rất phong phú trong đó
đứng đầu cả nước là cam, chanh, quýt, chuối, xoài, nhãn, bưởi,…. Các sản phẩm
nổi tiếng như bưởi Năm Roi, bưởi da xanh Bến Tre, xoài cát Hòa Lộc, quýt đường
Sa Đéc, vú sữa Lò Rèn,…
- Ngành chăn nuôi: chiếm tỉ trọng nhỏ nhất trong cơ cấu nông nghiệp vùng
ĐBSCL. Các vật nuôi chính là lợn, bò lấy thịt, gia cầm,…Hình thức nuôi chủ yếu là
theo hộ gia đình, quy mô nhỏ, nguồn vốn ít.
Trong giai đoạn 2000 – 2010, số lượng đàn gia súc, gia cầm của vùng có nhiều
biến động phức tạp. Số lượng đàn trâu giảm do nhu cầu sức kéo, cày đã được thay
thế bằng máy móc. Đàn bò tiếp tục tăng với tốc độ khá nhanh, từ 197.2 nghìn con
năm 2000 lên 691,1 nghìn con năm 2010. Số lượng đàn lợn có tăng nhưng tốc độ
chưa cao, từ 2976,6 nghìn con năm 2000 lên 3798,8 nghìn con năm 2010, tăng 1,28
lần trong cả thời kì. Đàn gia cầm của vùng đạt 60,7 triệu con chiếm tới 20,2% cả
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nước, chủ yếu là gà, vịt, ngan, ngỗng.
35
CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH
SÓC TRĂNG
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng:
2.1.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ:
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Sóc Trăng là tỉnh thuộc ĐBSCL, nằm ở đoạn cuối của dòng sông Hậu đổ vào
Biển Đông tại cửa Định An và Tranh Đề, có phần đất liền nằm từ 9°12' - 9°56' vĩ độ
bắc và 105°33' - 106°23' kinh độ đông. Phía bắc và tây bắc giáp tỉnh Hậu Giang,
phía nam và tây nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông bắc giáp Trà Vinh, phía đông và
đông nam giáp biển với chiều dài 72 km. Trung tâm thành phố Sóc Trăng cách
Thành phố Hồ Chí Minh 240 km và cách thành phố Cần Thơ 60 km theo quốc lộ
1A. Có thể nói là rất thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,
đặc biệt là về phát triển nông nghiệp.
Tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là
"xứ", "cõi", Kh'leang là "kho", "vựa", "chỗ chứa bạc". Srok Kh'leang là xứ có kho
chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là "Sốc-Kha-Lang" rồi sau đó thành
Sóc Trăng.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là: 3311,8 km2 chiếm gần 8,2% diện tích vùng
ĐBSCL và 1% diện tích cả nước , đứng thứ 43/63 tỉnh, thành phố, với số dân là
1300,8 nghìn người (2010) chiếm 7,5% dân số vùng ĐBSCL và 1,5% dân số toàn
quốc, đứng thứ 22/63 tỉnh, thành phố.
Nằm không xa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Sóc Trăng có nhiều điều
kiện thuận lợi để phát triển kinh tế thông qua các mối liên hệ qua lại về sản xuất,
hàng hóa, công nghệ…
Nhờ mạng lưới giao thông nên Sóc Trăng có thể giao lưu dễ dàng với các tỉnh
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trong nước và cả quốc tế.
36
2.1.1.2 Phạm vi lãnh thổ
Tỉnh Sóc Trăng trong thời Pháp thuộc là một phần của tỉnh Bạc Liêu. Năm
1956, dưới thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, Sóc Trăng được lập thành tỉnh riêng
lấy tên là tỉnh Ba Xuyên, tỉnh lỵ có tên là Khánh Hưng.
Tháng 2/1976, tỉnh mới Hậu Giang được thành lập từ hai tỉnh Sóc Trăng và
Cần Thơ cũ. Từ 26/12/1991, tỉnh Sóc Trăng được tái lập từ tỉnh Hậu Giang.
Sóc Trăng hiện nay gồm có 1 thành phố, 10 huyện với 97 xã, phường và 12 thị
trấn
Bảng 2.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Sóc Trăng năm 2010
DIỆN
DÂN SỐ
ĐƠN
VỊ
HÀNH
SỐ
TT
(nghìn
CHÍNH
MẬT ĐỘ DÂN (người/km2)
người)
TÍCH ( km2)
Thành phố Sóc 1 76,1 136,8 1798 Trăng
2 H. Châu Thành 236,3 101,4 429
3 H. Cù Lao Dung 261,4 63,3 242
4 H . Kế Sách 353,0 158,7 450
5 H. Long Phú 263,8 112,8 428
6 H. Mỹ Tú 368,3 107,0 291
7 H. Mỹ Xuyên 371,8 156,4 421
8 H. Ngã Năm 242,2 80,2 331
9 H. Thạnh Trị 287,6 86,1 299
10 H. Vĩnh Châu 473,4 164,8 348
11 H. Trần Đề 377,9 133,2 353
393 Tỉnh Sóc Trăng 3.311,8 1300,8
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
37
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.1.2.1 Địa hình và đất
Địa hình:
Địa hình Sóc Trăng tương đối bằng phẳng, đại bộ phận lãnh thổ của tỉnh thuộc
phần đất liền. Phần nhỏ còn lại kẹp giữa hai nhánh sông Hậu là một dải cù lao với diện tích hàng trăm km2.
Địa hình của tỉnh có dạng lòng chảo với độ cao trung bình từ 0.5 đến 1.0 m so
với mực nước biển. Độ dốc trung bình 1,5 cm/km, vùng có cao độ từ 0,8 m trở lên
khoảng 100.000 ha chiếm 30,2 % tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh (330.945 ha),
vùng cao độ từ 0,4 - 0,8 m khoảng 160.000 ha chiếm 48,3 %, vùng cao độ thấp
trũng dưới 0,4 m chiếm 70.945 ha chiếm 11,5 %. Hướng dốc chính của địa hình từ
ba phía là sông Hậu, Biển Đông và kênh Quản Lộ thấp dần vào trung tâm. Do địa
hình là lòng chảo nên khu vực thấp nhất ở phía Nam huyện Mỹ Tú, Thạnh Trị khó
thoát nước bị ngập úng kéo dài. Về cơ bản có thể phân chia thành 3 vùng địa hình:
- Vùng địa hình trũng: có cao trình thấp từ 0 - 0,5 m tập trung ở phía Tây và
ven kinh Cái Lân. Ở đây phần lớn đất bị nhiễm phèn, mùa mưa thường bị ngập úng
nên ảnh hưởng không tốt đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân trong
vùng.
- Vùng địa hình trung bình: phân bố không tập trung và bị phân chia bởi các
giồng cát có cao trình trung bình từ 0,6 - 1,0 m, thường bị ngập khi triều cường. Vì
vậy để đảm bảo sản xuất phải có đê bao chống lũ.
- Vùng địa hình cao: có cao trình trung bình từ 1 - 1,2 m tập trung ven sông
Hậu và kéo dài đến sông Mỹ Thanh trong phạm vi các huyện Long Phú, Mỹ Xuyên,
Vĩnh Châu, Kế Sách và thành phố Sóc Trăng . Đây là vùng ít bị ngập lũ và không
úng lâu thuận lợi cho bố trí sản xuất, phân bố dân cư và phát triển cơ sở hạ tầng.
Đất đai:
Tài nguyên đất của Sóc Trăng khá màu mỡ, thích hợp cho việc trồng lúa, cây
công nghiệp hàng năm, cây ăn quả, cây thực phẩm.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
- Toàn tỉnh lớp đất thổ nhưỡng được chia thành 6 nhóm đất chính:
38
Nhóm đất cát: có diện tích 8.491 ha chiếm 2,65 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
phân bố trên các giống cát chủ yếu ở huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên và thành phố
Sóc Trăng. Nhóm đất cát được hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển
trong suốt quá trình lấn biển ở vùng cửa sông. Các dòng cát được hình thành tương
đối cao từ 1,2 – 2 m. Thành phần cơ giới nhẹ chủ yếu là cát mịn đến cát pha thịt.
Đất được khai thác trồng rau màu và cây lâu năm.
Nhóm đất phù sa: có diện tích 6.372 ha chiếm 2 % gồm 3 loại đất chủ yếu
trong đó là đất phù sa đốm rỉ, đất phù sa glây và đất phù sa trung tính. Nhóm đất
này phần lớn nằm ven sông Hậu thuộc khu vực huyện Kế Sách, một phần phía Bắc
huyện Long Phú, Mỹ Tú. Đất có thành phần cơ giới từ thịt pha sét đến sét pha thịt
nên thích hợp cho việc trồng lúa tăng vụ, cây ăn trái đặc sản, cây công nghiệp. Nhìn
chung đất đai phần lớn được khai thác để đưa hết vào gieo trồng.
Nhóm đất glây: có diện tích 1.076 ha chiếm 0,3 %, phân bố nhiều ở huyện Kế
Sách, đất có tính chua có tầng sét dày. Đối với với loại đất này phải chống chua và
cải tạo thành phần cơ giới để đưa vào sử dung có hiệu quả trong nông nghiệp.
Nhóm đất mặn: có diện tích 158.547 ha chiếm 49,5 % phân bố ở huyện Vĩnh
Châu, Mỹ Xuyên, Long Phú, Thạnh Trị,…Vào mùa khô đất bị xâm nhập mặn
chiếm đến 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh.
Nhóm đất mặn được chia ra các loại sau:
Đất mặn ít và trung bình: thành phần cơ giới chủ yếu là đất sét trung bình đến
sét nặng thích hợp cho việc trồng lúa.
Đất mặn nhiều: thành phần cơ giới từ thịt đến thịt pha sét, hiện nay được sử
dụng vào việc nuôi tôm và trồng lúa một vụ hoặc chuyên canh tôm hoặc canh tác
một vụ tôm một vụ lúa.
Đất mặn sú vẹt đước: tập trung ở bờ biển thuộc hai huyện Long Phú, Vĩnh
Châu. Đất có tính chất mặn thường xuyên và bị ngập triều vì vậy thích hợp cho việc
trồng các loại cây chịu được ngập mặn như: mắm, đước, vẹt, bần, dừa nước… Các
loại cây này tuy có giá trị không cao nhưng là loại cây chắn sóng và lấn biển tuyệt
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
vời. Hiện nay đất này dùng để nuôi tôm.
39
Nhóm đất phèn: có diện tích 75.823 ha chiếm 23,7 % phân bố chủ yếu ở vùng
trũng 3 huyện là Mỹ Tú, Thạnh Trị và Ngã Năm. Đất phèn là nhóm đất có vấn đề
nghiêm trọng bởi ngoài tác hại do các chất độc phèn nhóm đất phèn còn bị nhiễm
mặn nên gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vào sản xuất.
Nhóm đất nhân tác: có diện tích 46.146 ha chiếm 14,4 %, phân bố trên địa
bàn toàn tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất ở huyện Kế Sách, Long Phú, Mỹ Tú.
Hầu hết đất đai ở Sóc Trăng có thành phần cơ giới nặng (hàm lượng sét
thường > 40 %), giàu chất hữu cơ, đa số có tầng mặt tơi xốp, tầng mùn dày >30 cm,
hàm lượng mùn cao, lân tổng số từ nghèo đến trung bình (0,05 - 0,1 %), lân dễ tiêu
nghèo (<5 mg/100g đất), kali tổng số trung bình (1 - 1,5 %), kali dễ tiêu trung bình
(15-30 mg/100 g đất), hàm lượng cation trao đổi kiềm trong đất trung bình, dung
tích hấp thụ từ trung bình đến khá (CEC = 13 - 19 mc/100 g đất)
Nhìn chung đất thổ nhưỡng của Sóc Trăng là rất màu mỡ, đáp ứng đủ nhu
cầu sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, độ PH trong đất hơi thấp (hơi chua) song
nhờ kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất của nông dân, đặc biệt từ sau giải phóng
(30/4/1975) đến nay nhờ quan tâm đầu tư công trình thủy lợi nên lượng phèn trong
đất đã giảm đáng kể, hệ số quay vòng đất, năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi
đã tăng nhanh chóng.
- Hiện trạng sử dụng đất
Đất sản xuất nông nghiệp
8.6
8.8
Đất lâm nghiệp
Đất nuôi trồng thủy sản
16.5
62.9
Đất ở và đất chuyên dùng
3.2
Đất khác và đất chưa sử dụng
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Hình 2.1 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Sóc Trăng năm 2010 (%)
40
2.1.2.2 Khí hậu
Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng chịu ảnh hưởng khá mạnh chế độ khí hậu nhiệt đới gió
mùa, trong năm hình thành 2 mùa khá rõ nét, mùa khô 6 tháng, từ khoảng giữa
tháng 11 đến giữa tháng 5, mùa mưa 6 tháng còn lại, với các đặc trưng chủ yếu (số
liệu đo nhiều năm tại TP Sóc Trăng) như sau:
+ Nhiệt độ: trung bình nhiều năm 26,80C, cao nhất trung bình 31 - 350C, cao nhất tuyệt đối 37,80C, thấp nhất trung bình 26 - 280C, thấp nhất tuyệt đối 16,20C. Tổng tích nhiệt hàng năm từ 9.6000C - 9.8000C. Không có sự phân hoá mùa đáng kể
về nhiệt độ trong năm với nền nhiệt độ cao và ổn định.
+ Ánh sáng: trung bình nhiều năm từ 2.500 - 2.600 giờ/năm, mùa khô 8 - 10
giờ/ngày, mùa mưa 4,5 - 6,5 giờ /ngày .
+ Độ ẩm không khí : trung bình nhiều năm 83,4 %, cao nhất 95 %, thấp nhất
40 %, mùa mưa độ ẩm cao (83 - 86 %), mùa khô độ ẩm thấp (70 - 75 %).
+ Độ bốc hơi mặt nước: trung bình nhiều năm 1.198 mm, tương đương 65%
lượng mưa/năm, các tháng 1, 2, 3, 4 có lượng bốc hơi khá cao trên 100 mm/tháng.
+ Chế độ gió: trong năm hình thành 2 hướng gió chính là Đông Bắc từ tháng
11 - tháng 4 và Tây Nam từ tháng 5 - tháng 10, tốc độ gió trung bình 2,2 - 2,5 m/s,
cao nhất 20 - 31 m/s.
+ Chế độ mưa: Sóc Trăng là vùng có lượng mưa khá lớn >1.800 mm/năm,
trung bình nhiều năm là 1.846 mm/năm, năm cao nhất 2.611 mm/năm, năm thấp
nhất 1.159 mm/năm, tháng 8, 9, 10 là các tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm,
trong mùa mưa lượng mưa tập trung trên 90% tổng lượng cả năm, nhưng gần như
năm nào cũng thường xảy ra hạn, tuy không nghiêm trọng nhưng nó có thể làm tăng
chi phí sản xuất, giảm năng suất, chất lượng đối với cây trồng.
So với các vùng khác trên cả nước, diễn biến khí tượng trong toàn tỉnh Sóc
Trăng là hết sức thuận lợi cho phát triển cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là cơ cấu thời
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
vụ, năng suất, chất lượng, độ ổn định trong sản xuất.
41
2.1.2.3 Nguồn nước
Nước mặt: Sóc Trăng có mạng lưới sông ngòi dày đặc thuận lợi cho phát triển
nông nghiệp, giao thông vận tải lẫn công nghiệp.
Sông Hậu là nguồn tiếp nước ngọt chủ yếu cho Sóc Trăng, đoạn nằm trên địa
bàn tỉnh dài 60 km, rộng 1.200 - 1.500 m, sâu 8 - 13 m, có lưu lượng mùa lũ khoảng 28.000 - 30.000 m3/s, mùa kiệt 1.500 - 3.000 m3/s, đây là một trong chín nhánh của
sông Mê Công đổ trực tiếp ra biển Đông cho nên chịu ảnh hưởng rất mạnh của thủy
triều biển Đông. Nước sông Hậu được đưa về địa phận tỉnh Sóc Trăng qua các
tuyến kênh chủ yếu như: Cái Côn, Cái Trâm, Đại Ngãi, Vạch Vọp, Số Một, Kế Sách, Ngan Rô, Ba Xuyên… với lưu lượng vào khoảng 55 – 60 m3/s. Các tuyến
kênh chính đó cùng với hàng chục kênh nhỏ khác hợp thành hệ thống kênh tự nhiên
và nhân tạo vừa dẫn ngọt vừa xả lũ, rửa phèn, mặn cho khu vực. Đặc biệt kênh Cái
Côn nối liền với kênh xáng Quản Lộ - Phụng Hiệp đi Ngã Năm là tuyến kênh sườn
quan trọng dẫn nước ngọt cho tỉnh Sóc Trăng trong chương trình ngọt hóa bán đảo
Cà Mau của Chính Phủ.
Chất lượng nước trên sông rạch đang khá tốt, độ mặn trên sông Hậu xảy ra
chủ yếu vào 6 tháng mùa khô, tại Đại Ngãi cách cửa sông 40 km, mặn thường diễn
ra từ tháng 1 - tháng 5, nồng độ từ 4 - 6gr/l, cao nhất 12 - 14 gr/l, tại vùng ven biển
và cửa sông Hậu, cửa sông Mỹ Thanh thường xảy ra từ 10 - 11 tháng/năm, nồng độ
trong mùa khô từ 20 - 30 gr/l, cao nhất 35 - 40 gr/l, trên sông Mỹ Thanh tại cầu Nhu
Gia 8 - 10 gr/l, cao nhất 12 - 15 gr/l, xảy ra từ tháng 12 - tháng 6, trên kinh Quản Lộ
- Phụng Hiệp tại đầu kinh Nàng Rền 4 - 14 gr/l, xảy ra từ tháng 2 - tháng 5. Độ PH trên sông rạch lớn >= 6, độ phù sa trên sông Hậu 300 - 400 mg/m3, hàm lượng các
chất hữu cơ như: BOD, COD, chất rắn lơ lửng trong nước vẫn còn đảm bảo dưới
mức cho phép theo quy định về chất lượng nước mặt (TCVN 5942-1995).
Chất lượng nước sông Hậu thuộc loại tốt, độ PH = 7 - 10, hàm lượng phù sa
trung bình từ tháng 8 đến tháng 10 trong khoảng 0,27 - 3 kg/m nhưng do địa hình
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
thấp lại nằm cập sông Hậu và các kênh dẫn nước lớn, các sông không có hệ thống
42
đê nên nước sông ngày lên xuống hai lần tự chảy vào đồng ruộng đem lại lượng phù
sa lớn đáng kể bồi đắp bổ sung độ phì nhiêu đất đai của tỉnh.
Nước dưới đất: Qua kết quả khoan thăm dò và khai thác nước ngầm dưới
đất thì ở Sóc Trăng có 4 tầng chứa nước dưới đất như sau :
Tầng 1 : Ho-lô-xen phân bố ở độ sâu 35 - 60 m
Tầng 2 : Plei-xto-xen phân bố ở độ sâu 60 - 120 m
Tầng 3 : Pli-o-xen phân bố ở độ sâu 120 - 180 m
Tầng 4 : Mi-o-xen phân bố ở độ sâu >300 m
Thực tế ở Sóc Trăng đang khai thác sử dụng phổ biến ở tầng 2 (tầng Plei-xto-
xen, độ sâu 60 - 120 m) có chất lượng và trữ lượng tốt, chi phí đầu tư thấp, một số
khu vực giồng cát khai thác ở tầng 4 (tầng Mioxen, độ sâu >300m), chất lượng rất
tốt, nhưng chi phí cao.
Chế độ thủy văn:
Chế độ thủy văn ở các sông ngòi và kênh rạch Sóc Trăng bị chi phối bởi 3 yếu
tố chính: thủy triều biển Đông, mưa nội vùng, dòng chảy sông Hậu và sông Mỹ
Thanh được phân hóa khá rõ theo mùa.
Thủy triều:
Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng hỗn hợp thuỷ triều biển Đông và biển Tây, nhưng
chủ yếu là triều biển Đông, thông qua nhiều sông rạch lớn trong tỉnh.
Triều biển Đông là chế độ bán nhất triều, biên độ thuỷ triều giao động từ 230
- 280 cm, cao nhất 310 - 330 cm, mực nước đỉnh triều bình quân 140 - 180 cm, cao
nhất 230 - 240 cm, mực nước chân triều giao động từ 80 - 160 cm, thấp nhất là 180
- 190 cm (mực nước biển), độ mặn trung bình tại cửa sông Mỹ Thanh 20 - 30 g/l,
cao nhất 35 - 40 g/l.
Tại Đại Ngãi, nơi cách cửa sông 40 km, biên độ thuỷ triều giao động từ 220 -
260 cm, cao nhất 300-320 cm, mực nước đỉnh triều bình quân 120 - 160 cm, cao
nhất 220 - 230 cm, mực nước chân triều giao động từ 75 - 155 cm, thấp nhất là 175
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
- 180 cm (dưới mực nước biển), không chênh lệch nhiều so vùng cửa sông.
43
Triều biển Tây là chế độ nhật triều, có biên độ nhỏ, tại cửa Rạch Giá cách
Sóc Trăng 85 km, mực nước bình quân đỉnh triều giao động từ 47 cm đến 66 cm,
cao nhất 80 - 85 cm, mực nước bình quân chân triều từ 10 - 32 cm, thấp nhất từ 50
- 55 cm, biên độ thuỷ triều từ 56 - 80 cm.
Chế độ thủy văn sông Hậu và sông Mỹ Thanh
Sông Hậu rộng từ 1000 – 1500m, đoạn chạy qua tỉnh Sóc Trăng dài 60km. Từ
tháng 7 đến tháng 12, dòng chảy sông Hậu chịu tác động mạnh của dòng chảy chế
độ thượng nguồn. Từ cuối tháng 11, đầu tháng 12 đến tháng 5, lưu lượng thượng
nguồn giảm, thủy triều biển Đông tác động mạnh mẽ trên toàn hệ thống kênh rạch
tỉnh. Mực nước đỉnh cao xuống thấp nhất vào cuối tháng 4 trung bình khoảng
100cm, mực nước chân triều xuống thấp nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 ở trong
khoảng cao trình – 80cm so với mực nước biển. Sông Hậu là nguồn cung cấp nước
chủ yếu cho Sóc Trăng. Tuy nhiên sự truyền triều vào trong cũng gây một số khó
khăn như đưa mặn vào nội địa khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt trầm trọng
vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, kết hợp với triều cường thường gây ngập cho
vùng cù lao. Điều này tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh Sóc Trăng.
Sông Mỹ Thanh nằm trọn trong địa bàn tỉnh Sóc Trăng chảy qua các huyện:
Vĩnh Châu, Long Phú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị và Mỹ Tú, sông tuy ngắn nhưng khá
rộng, chiều rộng trung bình khoảng 200m, đoạn cửa sông khoảng 240 – 300 m,
chiều sâu trung bình 11,5 – 14 m. Chế độ thủy văn sông Mỹ Thanh ảnh hưởng trực
tiếp của chế độ thủy triều biển Đông, nước sông Hậu đổ về và chế độ mưa nội vùng.
Sông chỉ có nước ngọt vào mùa mưa, bị xâm nhập mặn trong suốt mùa khô, sông có
chức năng như là trục tiêu canh tác vào mùa mưa và đồng thời dẫn mặn xâm nhập
vào đồng ruộng trong mùa khô. Đây là điều kiện để hình thành vùng nuôi trồng thủy
sản nước lợ với diện tích và tiềm năng lớn nếu được khai thác hợp lí và bền vững.
Trên các sông rạch lớn, dưới ảnh hưởng của sự truyền triều, các giá trị mực
nước đỉnh, chân, biên độ đều giảm dần theo khoảng cách so với sông Hậu và biển
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Đông và hình thành 1 số điểm giáp nước trên kinh Quản Lộ - Phụng Hiệp, kinh
44
Phụng Hiệp - Sóc Trăng,… tại đó biên độ thủy triều và tốc độ dòng chảy đều rất
thấp.
Trong nội đồng do hệ thống kinh mương phân bố không đều, việc nạo vét
hàng năm không thường xuyên nên sự truyền triều tiếp tục giảm mạnh và hình
thành nhiều vùng giáp nước. Qua tính toán khả năng tưới tiêu, ngập úng cho thấy
khả năng tưới tiêu tự chảy của Sóc Trăng khá lớn, tiết kiệm đáng kể chi phí xăng
dầu trong việc bơm nước phục vụ sản xuất, ngập úng chủ yếu xảy ra ở vùng trũng 3
huyện Mỹ Tú, Thạnh Trị và Ngã Năm, độ ngập tối đa 1,2m, thời gian ngập 2 - 3
tháng trong năm.
Chế độ mưa nội vùng
Chế độ mưa có tác động rất lớn đến dòng chảy kênh rạch nội vùng nhưng ảnh
hưởng không lớn đến dòng chảy của sông chính. Các trận mưa đầu mùa có tác dụng
tốt cho việc tiêu độc trong đồng ruộng. Mưa lớn và tập trung trong thời kì giữa và
cuối mùa mưa, cùng với mực nước sông Hậu dâng cao gây ngập úng cho các khu
vực trũng thấp, đáng kể là vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp có khoảng 6.000ha bị ngập
úng với độ sâu 0,6 - 1m làm hạn chế khả năng tăng vụ và đa dạng hóa cây trồng.
Với những diễn biến nguồn nước như trên, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nên
3 vùng sinh thái: ngọt - lợ - mặn rất thuận lợi để Sóc Trăng phát triển một nền nông
nghiệp đa dạng, bền vững, hầu hết sản phẩm đều có năng suất, đặc biệt chất lượng
là rất cao.
Tuy nhiên dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, mực nước biển đang
có xu hướng dâng cao một cách từ từ.
2.1.2.4 Sinh vật
Diện tích rừng của Sóc Trăng tương đối ít với diện tích 11.356 ha với các loại
cây chính: tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước phân bố ở 4 huyện Vĩnh Châu, Long
Phú, Mỹ Tú và Cù Lao Dung. Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven
biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn.
Thủy sản Sóc Trăng rất đa dạng, phong phú, các thủy vực trong tỉnh có hơn
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
320 loài tôm, cá và nhuyễn thể. Trong đó:
45
Thủy sản nước mặn, lợ: có 60 loài tôm cá và nhuyễn thể với 24 loài có giá trị
kinh tế bao gồm:
Cá: các loại cá màu gà, cá ngát, cá chẽm…
Tôm: ở vùng cửa sông có nhiều loài giáp xác trong đó có các loài tôm có giá
trị kinh tế cao: tôm thẻ bạc, tôm sú, tôm đất, tôm bạc nghệ, tôm chỉ,…
Các loại khác: nghêu, sò, ghẹ, cua biển…
Vùng biển của tỉnh có trữ lượng hải sản khoảng 1,2 triệu tấn với khả năng cho
phép khai thác khoảng 630 nghìn tấn/ năm. Đây chính là điều kiện thuận lợi để cho
tỉnh phát triển ngành công nghiệp thủy sản.
Thủy sản nước ngọt: có 260 loài, trong đó có 57 loài có giá trị kinh tế:
Cá: chủ yếu là các loài cá đen như: lóc, trê, rô, sặc,…và các loài cá trắng như:
mè vinh, cá chày…
Tôm: có khoảng 8 loài có giá trị kinh tế trong đó đặc biệt quan trọng nhất là
tôm sú và tôm càng xanh.
Nhìn chung điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Sóc Trăng
khá thuận lợi cho nông nghiệp, công nghiệp chế biến thủy hải sản phát triển.
2.1.3 Kinh tế - xã hội:
2.1.3.1 Dân cư – lao động
Dân số và phân bố dân cư
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2010 là 1300,8 nghìn người, xếp thứ 6 vùng
ĐBSCL và thứ 22/63 tỉnh thành phố của cả nước, trong đó nam 646,5 nghìn người
(chiếm 49,70 %), nữ 654,3 nghìn người (chiếm 50,30 %); dân thành thị 292,1 nghìn
người (chiếm 22,5 %), dân nông thôn 1.008,7 nghìn người (chiếm 77,5 %), mật độ dân số 393 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 0,95% thấp hơn mức
trung bình cả nước (1,03%) song cao hơn mức trung bình toàn vùng ĐBSCL
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
(0,83%)
46
Các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh chủ yếu gồm : Kinh, Khơ me và Hoa .
Năm 2010 dân tộc Kinh chiếm 64,2 %, dân tộc Khơ me có chiếm 30,7 % dân tộc
Hoa chiếm 5,0 %, còn lại là các dân tộc khác.
Tổng số hộ là gần 310,6 nghìn hộ, trong đó hộ dân nông thôn chiếm 79,5 %
tổng số hộ toàn tỉnh.
Mức tăng dân số có sự phân hóa rõ rệt giữa nông thôn và thành thị. Ở thành
thị, tốc độ tăng dân số trung bình năm chậm hơn do tỉ suất tử thô của nông thôn cao
hơn nhiều so với thành thị.
Gia tăng cơ học: hầu như không có ý nghĩa đối với sự phát triển dân số tỉnh
Sóc Trăng. Việc di dân diễn ra chậm, quy mô nhỏ.
Phân bố dân cư Năm 2010, mật độ dân số toàn tỉnh Sóc Trăng là 393 người/ km2 cao gấp 1,5
lần mức trung bình cả nước song chỉ bằng 92,2% mức trung bình toàn vùng
ĐBSCL. Về mức độ tập trung dân số, Sóc Trăng đứng thứ 9/13 tỉnh, thành phố
vùng ĐBSCL (chỉ trên Cà Mau, Kiên Giang, Long An và Bạc Liêu) và đứng thứ
25/63 tỉnh, thành phố của cả nước.
Trên địa bàn tỉnh, dân cư tập trung đông đúc ở thành phố Sóc Trăng (1798 người/km2, cao gấp 4,6 lần mức trung bình toàn tỉnh, gấp 7,4 lần huyện có mật độ
dân số thấp nhất là Cù Lao Dung. Các huyện có mật độ dân số cao là Kế Sách, Long
Phú và Mỹ Xuyên.
Nguồn lao động
Do có số dân tương đối đông nên lực lượng lao động khá dồi dào và tăng hàng
năm, từ 592,3 nghìn người các 2000 lên 720,3 nghìn lao động năm 2005 và đạt
762,3 nghìn lao động các 2010. Lao động đang làm việc trong ngành kinh tế chiếm
tỉ trọng khá cao và đang có sự chuyển dịch tích cực theo hướng CNH: giảm tỉ trọng
khu vực nông - lâm - thủy sản, tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
vụ.
47
Hình 2.2 Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế
giai đoạn 2005 – 2010 (%)
Trình độ văn hóa và chuyên môn kĩ thuật ngày càng tăng. Tỉ lệ biết chữ của
dân số từ 15 tuổi trở lên đạt 86,5%.
Trình độ của người lao động đã được nâng lên nhiều thông qua các Chương
trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, Chương trình Bảo vệ
cây trồng, vật nuôi, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Chương trình đạo tạo kỹ thuật cho
người lao động…Tỷ lệ lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kĩ thuật năm
2010 đạt trên 15 %. Tuy nhiên so nhu cầu vẫn còn rất thấp, nhất là trong khâu cơ
giới hóa, chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH - HĐH.
Nhìn chung lao động của Sóc Trăng khá dồi dào là một thế mạnh trong quá
trình phát triển nông nghiệp nói riêng, phát triển KT - XH nói chung. Song lao động
trong nông nghiệp với thời gian nông nhàn khá cao nên vấn đề giải quyết việc làm
vẫn đang là một thách thức lớn của tỉnh.
Về trình độ sản xuất cơ bản nông dân Sóc Trăng khá nhạy bén với việc ứng
dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật nhưng hạn chế về khâu đào tạo nên khả năng tiếp
nhận kịp thời các tiến bộ khoa học kĩ thuật còn hạn chế.
Từ thực trạng trên cho thấy lao động của tỉnh Sóc Trăng có ưu điểm về số
lượng nhưng hạn chế về mặt chất lượng. Vì vậy, để phát huy lợi thế của nguồn lao
động đòi hỏi các cấp các ngành tỉnh Sóc Trăng quan tâm hơn nữa đến việc nâng cao
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
chất lượng nguồn lao động.
48
2.1.3.2 Khoa học – công nghệ
Với đội ngũ chuyên môn ngày càng được tăng cường cả về số lượng và trình
độ chuyên môn nghiệp vụ từ tỉnh đến huyện, xã và đội ngũ công tác viên tham gia
đông đảo, đến nay công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng
tiến bộ, đã góp phần quan trọng vào việc làm tăng diện tích gieo trồng, năng suất,
chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Chuyển giao về giống, đến năm 2010 nhiều giống cây trồng, vật nuôi chất
lượng cao từ Viện,1 số dự án hợp tác Quốc tế đã được nhập, khảo nghiệm, sản xuất
thử và đại trà trên địa bàn toàn tỉnh, điển hình là các giống lúa, mía, bò, heo, gia
cầm, tôm nước lợ chất lượng cao đang sử dụng khá phổ biến . Đến năm 2010 có
70% giống lúa chất lượng cao, 80% giống mía mới, 67% giống bò lai, trên 90%
giống heo cao sản, 60% giống tôm sú đạt chất lượng đã được áp dụng phần tăng
đáng kể năng suất, chất lượng . Bên cạnh đó vẫn còn một số giống phục vụ phát
triển cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày chưa được quan tâm nhiều nên còn hạn
chế về năng suất, nguồn vốn phục vụ chương trình giống còn thấp, mới đáp ứng
khoảng 40% so nhu cầu, quản lý nhà nước về giống còn hạn chế, gây nhiều khó
khăn cho nông dân.
Công tác khuyến nông, khuyến ngư đã được quan tâm tập trung mạnh, hàng
năm công tác tập huấn chuyển giao kỹ thuật đã thực hiện được 300 - 500 cuộc/năm,
bình quân 40 - 50 người/cuộc, xây dựng mô hình trình diễn 300 - 400 điểm/năm,
hội thảo 35 - 40 cuộc/năm, thực hiện khuyến nông trên phương tiện phát thanh,
truyền hình mỗi tuần hai buổi, hàng ngàn áp phích, tờ bướm v.v. đã góp phần không
nhỏ nâng cao trình độ sản xuất cho nông dân. Bên cạnh đó cũng cần cải tiến nội
dung, phương pháp…để lôi cuốn nông dân tự nguyện tham gia và tiếp thụ tốt nội
dung chương trình .
Công tác bảo vệ cây trồng, vật nuôi rất được quan tâm và tập trung mạnh vào
công tác dự tính, tập huấn kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thú y, tổ chức
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
phòng trừ dịch bệnh, nhờ đó mà đã hạn chế được đáng kể dịch bệnh trên địa bàn
49
tỉnh . Hạn chế hiện nay là chưa quản lý tốt chất lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc
thú y, thức ăn chăn nuôi, phân bón
2.1.3.3 Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng
* Giao thông
Được đầu tư nâng cấp tương đối đều khắp trên địa bàn toàn tỉnh, là tiền đề hết
sức quan trọng làm cho tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh tăng nhanh . Hiện
nay mạng lưới giao thông thủy bộ toàn tỉnh đã được đầu tư nâng cấp như sau:
Mạng lưới giao thông đường bộ: Tổng chiều dài 4.028,8 km, trong đó:
+ Quốc lộ : 04 tuyến, tổng chiều dài 239,4 km, đường cấp 3 đồng bằng, mặt
trải nhựa, rộng 6-12 m, tải trọng H30.
+ Đường tỉnh : 14 tuyến, dài 409,3 km, đường cấp 4,5 đồng bằng, mặt trải
nhựa, rộng 4-8 m, tải trọng H8-H13.
+ Đường huyện : 44 tuyến, tổng chiều dài 337 km, mặt trải nhựa, bê tông xi
măng, cấp phối và đường đất, rộng 3,5 - 6 m, tải trọng H3,5-H8.
+ Đường giao thông nông thôn (liên xã, liên ấp) : 158 tuyến, tổng chiều dài
690,29 km, mặt đường chủ yếu là bê tông xi măng, rộng 2 m, tải trọng 1,5-2 tấn,
hiện còn 14 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã.
Với mạng lưới cầu đường bộ như trên, đến năm 2008 về cơ bản đã giải quyết
được việc đi lại quanh năm giữa tỉnh đến huyện, xã bằng nhiều loại phương tiện
giao thông đường bộ. Hạn chế tồn tại là mặt đường hẹp, tải trọng cầu, đường thấp,
chất lượng đường còn yếu;
- Mạng lưới giao thông đường thuỷ hiện có 659 km đường, có thể đáp ứng
phương tiện trọng tải 100 tấn trở lên, bao gồm :
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
+ Tuyến giao thông do TW quản lý : 03 tuyến, dài 136 km .
50
+ Tuyến giao thông thuỷ nội vùng do tỉnh quản lý : dài 523 km, mặt sông
rộng 20 - 50 m, sâu 3 - 5 m, tải trọng tối đa 100 - 200 tấn/1 phương tiện .
Như vậy, đường thủy Sóc Trăng có vị trí hết sức quan trọng: từ Sóc Trăng
người dân có thể di chuyển bằng đường thủy đến tất cả các tỉnh ĐBSCL, sang
Campuchia, Lào, và xuôi dòng Mê Công ra biển Đông đi ra thế giới. Tuy nhiên vấn
đề nạo vét, cải tạo lòng sông còn hạn chế nên cũng ảnh hưởng đến hoạt động đường
sông của tỉnh.
Mạng lưới giao thông thuỷ nội vùng bao gồm hàng ngàn kinh rạch chằng chịt
vừa phục vụ giao thông vừa lấy nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp,
nuôi trồng thuỷ sản.
* Hệ thống điện: Nguồn điện ở Sóc Trăng được cấp từ lưới truyền tải điện
Quốc gia qua các trạm biến áp 110/22 KV tại TP Sóc Trăng, Đại Ngãi, Trần Đề và
TP Bạc Liêu, ngoài ra còn được cấp 1 phần từ trạm biến áp Vị Thanh (Hậu Giang) .
Từ lưới điện cao áp, lưới phân phối điện trung thế (22 KV) đã phủ khắp địa bàn 105
xã, phường toàn tỉnh với tổng chiều dài 2.046 km, trong đó đường dây 3 pha 914
km, đường dây 1 pha 1.132 km . Lưới hạ thế 0,4 KV với tổng chiều dài 2.730 km,
gồm 3 pha 220/380 v và 1 pha 220 V . Bán kính phục vụ của đường dây hạ thế là
600-800 m đối với thành thị và 800-1200 m đối với nông thôn
Đến năm 2008 có 100% số xã phường có điện, 85% hộ gia đình sử dụng điện .
Cơ cấu sử dụng điện cho tiêu dùng dân cư là 69%, công nghiệp xây dựng là 23%,
thương nghiệp - dịch vụ là 2%, nông - lâm - ngư nghiệp 3%, hoạt động khác 3%.
Như vậy có thể thấy điện phục vụ sản xuất nông nghiệp - thủy sản còn rất thấp, chủ
yếu do thiếu đường dây hạ thế 0,4 KV.
*Mạng lưới bưu điện: được đầu tư đáng kể từ khi tái lập tỉnh, đến năm 2010
có 1 bưu cục trung tâm và 10 bưu cục ở các huyện, 35 khu vực và 58 bưu điện văn
hóa xã, tổng số máy điện thoại : 567,6 nghìn máy, trong đó máy cố định 180,2
nghìn máy, di động 387,4 nghìn máy, bình quân 16.1 máy /100 dân sử dụng điện
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
thoại cố định, số thuê bao internet 20620. Đến năm 2008 mạng lưới viễn thông đã
51
được số hóa 100%, sử dụng kỹ thuật hiện đại, các máy truyền dẫn vi ba, cáp quang,
mạng dịch vụ viễn thông, đã giúp cho hoạt động thông tin liên lạc trở nên hết sức
thuận lợi.
Cơ sở vật chất kĩ thuật: Đến nay, toàn tỉnh đã đầu tư, nâng cấp 07 dự án
Thủy lợi lớn là: DA Kế Sách, Long Phú - Tiếp Nhật, Ba Rinh - Tà Liêm, Quản Lộ -
Phụng Hiệp, Thạnh Mỹ, Ven Biển Đông, Cù lao sông Hậu .Tổng số công trình các
loại gồm :
- Đê ngăn mặn, triều dâng cấp I (B> 4 m) : 383 km
- Cống ngăn mặn và điều tiết nước : 1.029 cống ( TĐ: >2m : 75 cống)
- Kinh cấp I (B> 17 m) 1.131 km
- Kinh cấp II (B>10 m) 4.699 km
- Kinh nội đồng (B>3 m) 3.789 km, mật độ 17m/ha
- Trạm bơm cố định 02 trạm chủ yếu phục vụ phòng chống cháy rừng
- Máy bơm rời trong dân hiện có 73.190 máy các loại công suất 4 - 12 CV,
bình quân 2 hộ có 1 máy
Với mức đầu tư từ nguồn Ngân sách hàng năm của TW và Địa phương, bình
quân 100 tỷ đồng/năm, đến cuối năm 2010 hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu
cầu ngăn mặn cho vùng ngọt, phòng chống triều cường các huyện vùng ven biển,
điều tiết nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, góp phần cải tạo
môi trường, phát triển giao thông thủy bộ, phục vụ các ngành kinh tế-xã hội khác .
Hạn chế còn tồn tại là chưa có khả năng chủ động nguồn nước theo nhu cầu phát
triển cây trồng, vật nuôi.
2.1.3.4 Thị trường
Trong lĩnh vực nông nghiệp thị trường có vai trò quan trọng trong việc xác
định các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, phát huy thế mạnh của từng loại đất.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Với địa thế khá thuận lợi cùng với hệ thống giao thông thủy, bộ đa dạng tạo điều
52
kiện phát triển kinh tế liên vùng đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả
thị trường nước ngoài như các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, EU…Với nhu
cầu của thị trường trong nước gồm: lúa đặc sản, ngô, đậu, rau, cây ăn quả, rau các
loại, bò, lợn, gia cầm,…và thị trường nước ngoài gồm: lúa, gạo, thủy hải sản… đã
thúc đẩy việc quy hoạch phát triển các vùng chuyên canh cây trồng vật nuôi phù
hợp, đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường.
Thị trường tiêu thụ nông sản ổn định là yếu tố quan trọng để phát triển nông
nghiệp ổn định. Song, thị trường trong tỉnh, trong nước và nước ngoài không ổn
định, giá cả hàng hóa bấp bênh gây thiệt hại cho người nông dân. Do đó, nhà nước
cần có những biện pháp điều tiết giá cả hợp lí để bảo vệ quyền lợi cho người dân.
Tóm lại, thị trường là động lực thúc đẩy sự phát triển sản xuất và phân bố
nông nghiệp ngược lại nông nghiệp muốn phát triển thì phải vận động theo quy luật
của thị trường, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
2.1.3.5 Vốn
- Giai đoạn 2000 – 2005:
Tổng vốn đầu tư 5 năm cho thuỷ lợi, nông - lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh
là: 1.003,5 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách: 993,3 tỷ đồng, huy động nhân dân:
10,2 tỷ đồng. Chia ra:
Công trình do Bộ Nông nghiệp & PTNT chủ quản đầu tư : 300,3 tỷ;
Công trình do tỉnh chủ quản đầu tư: 547,9 tỷ;
Công trình do huyện chủ quản đầu tư: 155,3 tỷ ( trong đó vốn ngân sách:
145,1 tỷ, vốn dân: 10,2 tỷ);
Cơ cấu vốn đầu tư cho các ngành là: thuỷ lợi 683,1 tỷ, chiếm 68,08% tổng vốn
đầu tư, nông nghiệp 12,6 tỷ, chiếm 1,26 %, lâm nghiệp 162,2 tỷ, chiếm 16,16%, các
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
chương trình mục tiêu Quốc gia và cơ sở hạ tầng khác 145,5 tỷ, chiếm 14,5%.
53
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn nước ngoài (ODA): 467,8 tỷ đồng,
chiếm 46,62%, vốn ngân sách trong nước 525,5 tỷ, chiếm 52,36%; vốn dân: 10,2 tỷ
đồng chiếm 1,02% .
Kết quả do đầu tư mang lại là tăng khả năng tưới tiêu, ngăn mặn cho lúa, màu,
cây ăn trái từ 134,0 nghìn ha năm 2000 lên 176,0 nghìn ha canh tác (năm 2005)
trong điều kiện thời tiết bình thường, tạo nguồn cho 44,0 nghìn ha đất nuôi trồng
thuỷ sản, cung cấp nước hợp vệ sinh cho hộ dân nông thôn đến năm 2005 đạt
70,5%.
Nhìn chung, các dự án thuộc ngành nông nghiệp & phát triển nông thôn 5 năm
qua là phù hợp với quy hoạch, có nhu cầu bức xúc, tránh được lãng phí trong các
khâu đầu tư và phục vụ có hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn, phòng chống bão lụt v.v .
- Giai đoạn 2006 – 2010:
Nguồn vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp giai đoạn này từ các nguồn vốn của
Trung ương (TW), vốn đầu tư nước ngoài, từ các chương trình mục tiêu quốc
gia…tính từ 2006 đến cuối năm 2010 là 546.410 triệu đồng trong đó vốn ngân sách
447.045 triệu đồng, chủ yếu tập trung đầu tư thủy lợi, đê, cầu cống, bờ kè và tập
huấn khuyến nông, khuyến ngư, xây dựng các mô hình sản xuất để nhân rộng, cung
cấp nước sạch.
2.1.3.6 Hợp tác quốc tế
Là lĩnh vực rất được ngành quan tâm đẩy mạnh hợp tác và mang lại hiệu quả
cao trong 5 năm qua. Ngoài các Dự án lớn đang tiếp tục thực hiện như: Dự án
Ngành cơ sở hạ tầng nông thôn do ADB tài trợ, Dự án Bảo vệ và phát triển những
vùng đất ngập nước ven biển do WB tài trợ, Dự án phát triển thủy lợi ĐBSCL do
WB tài trợ, Còn có 1 số Dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp
(ASPS) do DANIDA tài trợ rất có hiệu quả đối với sản xuất nông - lâm - nghiệp và
PTNT , gồm : Hợp phần IPM, hợp phần Sau Thu hoạch và Hợp phần giống, phối
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
hợp thực hiện với Dự án Nâng cao Đời sống Nông thôn do CIDA tài trợ và các
54
chương trình, dự án do các tổ chức phi chính phủ tài trợ như Tổ chức Heifer - Hoa
Kỳ, tổ chức ACTMANG - Nhật bản. Trong 5 năm đã phát hiện và xây dựng dự án
kêu gọi nước ngoài đầu tư và đã được chấp thuận, đó là: Dự án Bảo tồn sinh cảnh
vùng đất ngập nước Cù Lao Dung do Chính Phủ đức tài trợ, kinh phí 44 tỷ; Dự án
thí điểm nâng cao chất lượng cây trồng và vật nuôi tỉnh Sóc Trăng do CIDA tài trợ,
kinh phí 35,7 tỷ.
Đến năm 2010 toàn ngành nông nghiệp đã thu hút được các dự án đầu tư vốn
ODA và FDI như sau:
Dự án vốn ODA, tổng số 06 Dự án, tổng vốn đầu tư 475,5 tỷ đồng (dự án cơ
sở hạ tầng nông thôn 110,9 tỷ đồng, Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp
31,1tỷ, Hợp phần IPM 26,2 tỷ, dự án Bảo vệ và phát triển những vùng đất nông
nghiệp ven biển 195,4 tỷ, Hợp phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
56,8 tỷ, dự án nâng cao chất lượng cây trồng vật nuôi 37,2 tỷ, dự án quản lý nguồn
tài nguyên thiên nhiên 44,0 tỷ đồng) . Nếu tính cả dự án phát triển Thủy lợi ĐBSCL
(phần trên địa bàn Sóc Trăng) thì nguồn vốn ODA đầu tư cho ngành Nông nghiệp
& PTNT là khoảng 850 tỷ đồng, trong đó vốn đối ứng trong nước khoảng 250 tỷ
đồng.
Dự án, Chương trình do các tổ chức Phi Chính phủ tài trợ, tổng số 03 Chương
trình, Dự án ( Chương trình Heifer thực hiện từ năm 1993, kéo dài đến năm 2011,
vốn tài trợ bình quân hàng năm 250 triệu/năm ; Chương trình hỗ trợ trồng rừng
phòng hộ do tổ chức ACMANG Nhật Bản tài trợ, thực hiện từ 2004 đến nay, vốn hỗ
trợ bình quân 40 - 50 triệu đồng/năm ; dự án các sự lựa chọn và quyền sở hữu cấp
nước và vệ sinh môi trường cho cư dân nghèo nông thôn vùng ĐBSCL, thực hiện từ
2005 - 2010, tổng mức vốn cam kết 1,6 triệu USD)
2.2. Đánh giá chung
Thuận lợi
- Sóc Trăng có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng và
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
phong phú là tiền đề cơ bản cho nông nghiệp phát triển:
55
+ Vị trí địa lý khá thuận lợi để phát triển nhanh kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc
biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp
+ Yếu tố khí hậu hết sức lý tưởng cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng
thủy sản nhờ nền nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào quanh năm, các yếu tố khí hậu khá
ổn định theo thời gian và không gian, ít bị thiên tai bão lụt
+ Nguồn nước khá dồi dào đủ đáp ứng nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thủy sản trên phần lớn diện tích trong tỉnh, khả năng lợi dụng
thủy triều tưới tự, tiêu chảy là rất lớn
+ Thổ nhưỡng giàu chất hữu cơ, đa số có tầng mặt tơi xốp, tầng mùn dày,
hàm lượng mùn cao, độ phèn mặn trong đất đã được cải tạo đáng kể. Tiềm năng đất
đai sản xuất nông nghiệp còn khá lớn, điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, nước
phong phú, với vị trí địa lý thuận lợi Sóc trăng có các lợi thế để phát triển sản xuất
các loại nông sản truyền thống được thị trường ưa chuộng như lúa gạo, hành tím,
mía, một số loại trái cây...
+ Tài nguyên sinh vật khá đa dạng và phong phú, thích nghi cao với cả 3
vùng sinh thái ngọt, lợ và mặn, rất thuận lợi để phát triển 1 nền nông nghiệp đa
dạng, với 1 số các sản phẩm chủ lực có năng suất, chất lượng rất cao như lúa gạo,
hành tím, cây ăn trái đặc sản, tôm sú, có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị trường
thế giới
+ Thuộc vùng ĐBSCL nhưng Sóc Trăng ít bị ảnh hưởng về lũ và giông bão
- Cơ sở hạ tầng đã và đang đầu tư cho nông nghiệp tạo sức bật mới cho sản
xuất
- Thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, đang được
triển khai ứng dụng sẽ tạo bước đột phá tăng về năng suất, chất lượng và hiệu quả
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
sản xuất.
56
- Chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân tiếp tục đổi mới sẽ tạo động
lực và thời cơ mới cho phát triển sản xuất: chính sách đất đai, đầu tư, khoa học công
nghệ, chính sách an sinh xã hội.
So với các vùng trên cả nước, kể cả các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, lợi thế về tự
nhiên của Sóc Trăng là rất cơ bản, hết sức thuận lợi cho việc đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là trong lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp
Tồn tại
Bên cạnh những thuận lợi, Sóc Trăng cũng có những hạn chế nhất định ảnh
hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp
+ Do có hai mùa mưa, nắng cho nên nhu cầu nước ngọt trong mùa khô khá
căng thẳng, trong khi mùa mưa thì hơi bị thừa và phân bố mưa không đều nên vẫn
có thời điểm hạn thiếu nước và có thời điểm mưa dài ngày gây ngập úng khá
nghiêm trọng . Trong mùa khô, đặc biệt 3 tháng trọng điểm (3,4,5) thiếu hụt nước
ngọt nghiêm trọng, kết hợp lượng bốc hơi cao, tốc độ gió mạnh khiến cho khoảng
40% diện tích không sản xuất được, còn trong 3 tháng cao điểm mùa mưa có
khoảng 35- 40% diện tích ngập úng. Nhìn chung khả năng khắc phục thiếu nước và
ngập úng ở các vùng trên còn rất hạn chế do hạ tầng thủy lợi còn thiếu đồng bộ.
Thêm vào nữa, thời tiết diễn biến phức tạp, mưa nắng không theo quy luật nhất
định, mùa mưa thường bị ảnh hưởng bão lụt, mưa dầm, mùa nắng bị xâm nhập mặn
sâu, đã làm ảnh hưởng và thiệt hại đáng kể đến lúa, màu, cây ăn trái cả về diện tích,
đặc biệt là ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng.
+ Đất trong tỉnh phần lớn có độ PH trong đất tương đối thấp, ngoài ra còn
23,7% là đất nhiễm phèn, điều này đã có ảnh hưởng nhất định đến sự phát sinh phát
triển của cây trồng vật nuôi.
+ Dịch cúm gia cầm tiếp tục đe dọa làm cho người chăn nuôi gia cầm trong
tỉnh không những không phát triển chăn nuôi được, mà còn thiệt hại nghiêm trọng
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
do không tiêu thụ được sản phẩm trứng, thịt gia cầm.
57
+ Giá cả vật tư, phân bón, giá thức ăn gia súc gia cầm tiếp tục ở mức cao,
làm cho chi phí cao, lợi nhuận tăng ít, dù giá bán tương đối cao.
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, tuy đã được đầu tư khá lớn, nhưng
khi thời tiết diễn biến ngày một phức tạp và so với nhu cầu sản xuất nông nghiệp
ngày càng tăng, thì vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.
+ Trình độ dân trí còn thấp
+ Công nghiệp chế biến còn nhỏ lẻ, mức độ cơ giới hóa trong sản xuất còn
thấp chưa có tác động tích cực đến phát triển sản xuất
+ Sóc Trăng ở xa các thị trường tiêu thụ nông sản lớn nên chi phí vận chuyển
lớn, khó kêu gọi đầu tư. Mặt khác thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định, giá cả
bấp bênh, công tác dự báo thị trường, xúc tiến thương mại còn làm được rất ít so với
yêu cầu,…cũng là những trở ngại lớn cho nông nghiệp Sóc Trăng.
2.3 Thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai đoạn
2000 - 2010
2.3.1. Khái quát chung
2.3.1.1. Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế tỉnh Sóc Trăng
Quy mô GDP của toàn tỉnh ngày càng tăng, trong đó có phần đóng góp quan
trọng của khu vực nông - lâm - thủy sản
Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), GDP bình quân đầu người của
tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2000 - 2010
Chỉ tiêu
2000
2005
2010
GDP (tỉ đồng, giá thực tế)
5034,5 9265,6 26497,7
% so với vùng ĐBSCL
7,0
6,5
7,2
GDP/người (triệu đồng)
4,2
7,4
20,4
% so với vùng ĐBSCL
95,5
88,0
95,8
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
58
GDP toàn tỉnh giai đoạn 2005 – 2010 tăng nhanh hơn giai đoạn 2000 – 2005
vượt bậc (17232,1 tỉ đồng so với 4231,1 tỉ đồng) cho thấy kinh tế Sóc Trăng đã có
sự phát triển đáng kể so với trước đây. Tuy nhiên, so với vùng ĐBSCL thì GDP tỉnh
Sóc Trăng chiếm tỉ trọng thấp hơn các tỉnh khác nhiều chỉ chiếm 7,0% năm 2000 và
tăng lên 7,2% năm 2010.
GDP/người tăng nhanh giai đoạn 2005 đến 2010 từ 7,4 triệu đồng lên 20,4
triệu đồng tăng 13 triệu đồng/người. Trước đó, giai đoạn 2000 - 2005 GDP/người
tăng chậm hơn chỉ tăng 3 triệu đồng/ người trong vòng 5 năm (chiếm 88% so với
vùng ĐBSCL)
Trong cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế , tuy tỉ trọng khu vực nông - lâm -
thủy sản của tỉnh có giảm đi nhưng giá trị tuyệt đối vẫn không ngừng tăng lên
Hình 2.3 Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2010
Trong GDP của khu vực 1 thì riêng nông nghiệp chiếm 58,3% các 2005 và
66,4% các 2010. Còn nếu so với GDP toàn nền kinh tế thì tương ứng là 33,6% và
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
37,4%
59
2.3.1.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp (2000 – 2010)
Trong cơ cấu GTSX khu vực nông - lâm - thủy sản thì nông nghiệp luôn
chiếm vị trí chủ đạo, mặc dù tỉ trọng có giảm đi nhường chỗ cho thủy sản.
Bảng 2.3 GTSX nông nghiệp và tỉ trọng của nó trong GTSX nông - lâm -
thủy sản giai đoạn 2000 – 2010
Chỉ tiêu Năm 2000 2005 2009 2010
29038,7 21824,6 10470,0 5093,6 GTSX nông - lâm - thủy sản (tỉ đồng)
giá thực tế
GTSX nông nghiệp (tỉ đồng) 18724,2 13115,0 5897,4 3586,8
% so với nông - lâm - thủy sản 64,5 60,1 56,3 70,4
Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
GTSX nông – lâm – thủy sản tăng liên tục giai đoạn 2000 – 2010 từ 5093,6 tỉ đồng
năm 2000 lên 29038,7 tỉ đồng năm 2010 ( tăng 23945,1 tỉ đồng).
Tuy tỉ trọng đóng góp trong GTSX nông – lâm – thủy sản giảm từ 70,4% năm 2000
xuống 64,5% năm 2010 (giảm 5,9%) nhưng GTSX nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng
tăng dần qua các năm từ 3586,8 tỉ đồng năm 2000 lên 18724,2 tỉ đồng năm 2010
(tăng 15137,4 tỉ đồng)
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Trong cơ cấu GTSX của ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt là thế mạnh của tỉnh
60
Hình 2.4 Cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành giai đoạn 2000 – 2010
Trong cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành ta thấy tỉ trọng ngành trồng trọt, dịch
vụ nông nghiệp có xu hướng giảm còn tỉ trọng ngành chăn nuôi có xu hướng tăng
lên tuy nhiên không đều qua các năm. Cụ thể tỉ trọng ngành trồng trọt giảm không
liên tục giai đoạn 2000 - 2010 từ 87,7% năm 2000 xuống 85,9% năm 2002 đến
2005 tăng lên 86,5% sau đó giảm liên tục đến 2009 còn 82%, năm 2010 lại tăng lên
87,1%. Tỉ trọng ngành chăn nuôi cũng tăng không liên tục vào giai đoạn trên từ
năm 2000 đến 2002 tăng từ 9% lên 10,7%, 2005 giảm xuống còn 9,9%, 2009 tăng
lên 15,1% và 2010 giảm xuống còn 10,6%. Tỉ trọng nông nghiệp có tăng chút ít giai
đoạn 2000 – 2005 (từ 3,3% lên 3,6%) nhưng sau đó lại giảm còn 2,3% năm 2010.
2.3.2. Các ngành nông nghiệp
2.3.2.1. Trồng trọt:
Trồng trọt là ngành kinh tế chủ chốt trong ngành nông nghiệp tỉnh, với ưu thế
về đất đai , khí hậu và nguồn nước, Sóc Trăng có điều kiện phát triển đa dạng các
loại cây trồng. Cơ cấu cây trồng trong tỉnh gồm: cây lương thực, cây thực phẩm,
cây công nghiệp, cây ăn quả và một số loại cây trồng khác. Trong đó cây lương
thực chiếm tỉ trọng lớn nhất về GTSX và diện tích gieo trồng. Về GTSX, năm 2010
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
cây lương thực chiếm 66,4%, kế đến là cây thực phẩm chiếm 12,9%, cây lâu năm
61
trong đó chủ yếu là cây ăn quả: 13%, cây công nghiệp hàng năm 6,6% và các loại
cây khác chiếm 1,1%
Bảng 2.4 GTSX ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng giai đoạn
Chia ra (%)
Cây
Cây lương
Cây
lấy
Rau đậu Cây công
Cây
2000 – 2010 (giá so sánh 1994, tỉ đồng)
Tổng số
Năm
khác
bột có củ
công
thực
có
nghiệp
(tỉ đồng)
nghiệp
hàng năm
hạt
lâu năm
2000
0,7
3,4
6,3
5,6
0,3
75,1
3138,1
2005
1,5
12,4
6,3
10,6
0,5
68,7
3470,0
2009
0,5
13,3
6,4
13,2
0,6
66,0
3948,0
2010
0,6
13,0
6,6
12,9
0,5
66,4
4330,6
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Từ năm 2000 - 2010 trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt phải đối mặt
với nhiều khó khăn thách thức như thiên tai và những biến động phức tạp về thời
tiết, hạn hán, xâm nhập mặn, sâu bệnh hại gia tăng, giá cả phân bón và các loại vật
tư nông nghiệp tăng cao và không ổn định, áp lực cạnh tranh về chất lượng nông
sản,... đã gây nhiều khó khăn cho phát triển sản xuất trồng trọt, nhưng được sự quan
tâm thường xuyên của Tỉnh Ủy, UBND tỉnh, các Bộ, Ngành trung ương và các địa
phương, một số chính sách mới được ban hành, các chương trình, dự án và hợp tác
quốc tế tiếp tục được triển khai,... nên trong lĩnh vực trồng trọt nói riêng và sản xuất
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nông nghiệp nói chung tiếp tục có bước phát triển tương đối toàn diện và ổn định.
62
Chia ra
Lúa
Bảng 2.5 Diện tích các loại cây trồng tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010)
Tổng diện tích
Cây ăn quả
Cây khác
Năm
(nghìn ha)
Cây thực phẩm
Cây lương thực có hạt
Cây công nghiệp lâu năm
Cây công nghiệp hàng năm
2000
375,4
370,4
11,6
4,9
16,6
13,8
21,5
443,8
2005
324,4
321,6
12,3
3,1
26,9
22,4
18,1
407,2
2009
338,5
334,6
13,8
3,1
34,5
25,6
16,3
431,8
2010
353,8
350,0
14,8
3,0
37,2
26,2
16,5
451,5
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
- Cây lương thực
Kinh tế Sóc Trăng chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với lương thực là cây trồng
chính. Cây lương thực luôn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu diện tích cây trồng và
GTSX . Năm 2010, cây lương thực có hạt toàn tỉnh chiếm 66,4% GTSX và 78,4%
diện tích gieo trồng. Về cơ cấu cây lương thực gồm có cây lúa, ngô và các cây chất
bột có củ. Năm 2010 cây lúa chiếm 98,9% diện tích và 99,3% sản lượng lương thực.
Trong vòng 10 năm diện tích và sản lượng cây lương thực có sự thay đổi. Năm
2010 diện tích gieo trồng lương thực đã giảm 21,6 nghìn ha so với năm 2000 chủ
yếu là giảm diện tích kém hiệu quả ở vùng mặn, vùng trũng phèn. Nguyên nhân chủ
yếu do chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây lương thực kém hiệu quả sang
trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, trồng tràm hoặc nuôi trồng thủy sản phù hợp với
kế hoạch chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh đề ra. Sản lượng lương thực
trong giai đoạn này lại tăng 356,3 nghìn tấn. Đạt được kết quả này là do nổ lực của
ngành nông nghiệp trong công tác khuyến nông, tiến hành thâm canh tăng vụ, nâng
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
cao chất lượng giống cây trồng vật nuôi,…
63
Bảng 2.6 Diện tích, sản lượng và sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu
người giai đoạn 2000 - 2010
Năm
2000
2005
2009
2010
Chỉ tiêu
375,4
324,4
338,5
353,8
Tổng diện tích cây lương thực có hạt (nghìn ha)
370,4
321,6
334,6
350,0
Trong đó: lúa
2,7
2,8
3,9
3,7
Ngô
1624,6
1643,7
1795,3
1980,9
Tổng sản lượng lương thực có hạt (nghìn tấn)
1618,0
1634,2
1780,4
1966,6
Trong đó: lúa
6,6
9,5
14,9
14,3
Ngô
1361,0
1306,0
1388
1503
Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người (kg/người)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Các huyện dẫn đầu về diện tích và sản lượng lương thực có hạt năm 2010 là
Trần Đề (51,2 nghìn ha và 284,0 nghìn tấn), Mỹ Tú (50,3 nghìn ha và 278,9 nghìn
tấn), Thạnh Trị (47,3 nghìn ha 279,6 nghìn tấn) Long Phú (45,1 nghìn ha và 267,5
nghìn tấn) và Châu Thành (43,6 nghìn ha và 243,3 nghìn tấn),…
Nhìn chung sản lượng lương thực có hạt bình quân theo đầu người toàn tỉnh
rất cao và tăng lên qua các năm, từ 1361 kg/người năm 2000 lên 1503 kg/người
năm 2010. Với mức này gấp 2,9 lần mức trung bình cả nước và gấp 1,2 lần toàn
vùng ĐBSCL, đứng 5/63 tỉnh cả nước. Một số huyện có sản lượng bình quân lương
thực đầu người cao là: Thạnh Trị (3248 kg/người), Ngã Năm (2631 kg/người), Mỹ
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Tú (2606 kg/người) và Châu Thành (2400 kg/người)
64
Cây lúa
Sóc Trăng là một trong các tỉnh trọng điểm về sản xuất lương thực của cả
nước và ĐBSCL. Trong cơ cấu cây lương thực thì cây lúa chiếm ưu thế tuyệt đối
(chiếm 98,9% diện tích cây lương thực và 99,3% sản lượng lương thực) (2010)
Tuy nhiên, nhu cầu đất trồng lúa trong những năm qua và trong thời gian tới
có xu hướng giảm do nhiều nguyên nhân tác động, diện tích gieo trồng lúa đã giảm
từ 370,4 nghìn ha (năm 2000) xuống 321,6 nghìn ha (năm 2005), giảm 48,8 nghìn
ha, chủ yếu là giảm diện tích trồng lúa kém hiệu quả ở vùng mặn, vùng trũng phèn
chuyển sang nuôi thủy sản và trồng cây khác có giá trị. Sau đó diện tích gieo trồng
lúa có tăng lên và đến năm 2010 đạt 350,0 nghìn ha.
Năng suất lúa tăng ổn định và nhanh, năm 2000 năng suất bình quân là 43,7
tạ/ha, đến năm 2005 là 50,8 ta/ha, và đạt 55,4 tạ/ha năm 2010, đứng thứ 4 vùng
ĐBSCL và 18/63 tỉnh, thành phố cả nước.
Sản lượng lúa luôn giữ ổn định ở mức 1,6 triệu tấn. Đến năm 2010 mặc dù
diện tích gieo trồng đã giảm nhưng do năng suất tăng, nên sản lượng đạt trên 1,9
triệu tấn, đứng thứ 5 vùng ĐBSCL và 5/63 tỉnh, thành phố cả nước.
Đặc biệt từ năm 2002 nông nghiệp Sóc Trăng rất quan tâm mở rộng diện tích
lúa đặc sản để nâng cao giá trị lúa, gạo, năm 2001 toàn tỉnh có 100 ha lúa đặc sản,
thì năm 2005 toàn tỉnh đã sản xuất được 23,3 nghìn ha, và đến nay được gần 45
nghìn ha, tăng 44470 ha. Đây là bước phát triển về chất trong cơ cấu sản xuất lúa
trong những năm qua.
Những năm gần đây diện tích gieo trồng lúa vụ Đông xuân và vụ Mùa tăng do
nông dân ở vùng nuôi tôm không bỏ trống diện tích gieo trồng lúa trên nền đất tôm
lúa như trước đây mà lấp lại bằng một vụ lúa nhằm luân canh đất, cải tạo môi
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trường cho nuôi tôm vụ sau có hiệu quả.
65
Bảng 2.7 Diện tích và sản lượng lúa tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010)
Diện tích ( nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Lúa mùa
Tổng số
Tổng số
Năm
Lúa Hè thu
Lúa Hè thu
Lúa mùa
Lúa Đông xuân
Lúa Đông xuân
2000
132,0
171,3
67,1
640,6
737,0
240,4
370,4
1618,0
2005
136,0
154,4
31,2
752,5
764,1
117,6
321,6
1634,2
2009
138,6
169,1
26,9
811,8
852,2
116,4
334,6
1780,4
2010
139,6
188,6
21,8
872,4
995,1
99,1
350,0
1966,6
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Nhìn chung, trong những năm qua Sóc Trăng sản xuất lúa đã phát triển theo
hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả gắn với yêu cầu của thị trường. Diện tích gieo
trồng lúa hàng năm giảm (do những năm gần đây cùng với tiến trình CNH và quá
trình đô thị hóa, đất trồng lúa ngày càng giảm do phải dành diện tích cho phát triển
công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị, đồng thời một phần chuyển sang nuôi trồng
thủy sản và các cây khác có giá trị hơn), nhưng năng suất, sản lượng vẫn liên tục
tăng, an ninh lương thực được đảm bảo nhờ trình độ thâm canh của nông dân ngày
càng tăng, áp dụng nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp
(giống lúa mới, mô hình mới, kĩ thuật mới…). Trung bình mỗi năm sản lượng lúa
đạt hơn 1,6 triệu tấn, Sóc Trăng đã trở thành một trong những tỉnh có sản lượng lúa
lớn của vùng ĐBSCL, góp phần vào việc đảm bảo an ninh lương thực của cả nước.
Về phân bố, cây lúa có mặt ở khắp các huyện trong tỉnh Sóc Trăng, trong đó
trồng nhiều nhất là ở các huyện Trần Đề (51,1 nghìn ha), Mỹ Tú (49,9 nghìn ha),
Thạnh Trị (47,2 nghìn ha), Long Phú (44,7 nghìn ha) và Châu Thành (43,4 nghìn
ha). Đây cũng là những huyện sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh Sóc Trăng và mang
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
về sản lượng lương thực đáng kể cho tỉnh.
66
Bảng 2.8 Diện tích và sản lượng lúa phân bố theo huyện thị (2000 – 2010)
2000
2005
2010
Năm
Đơn vị
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
(Đơn vị: diện tích :nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)
TOÀN TỈNH
370,4
1618,0
321,6
1634,2
350,0
1966,6
9,1
42,0
8,2
43,3
9,4
49,8
TP Sóc Trăng
-
-
-
-
43,4
242,9
H. Châu Thành
H . Kế Sách
45,3
225,6
43,2
227,2
36,7
204,9
H. Mỹ Tú
80,6
355,3
90,1
444,4
49,9
278,0
H. Cù Lao
-
-
0,1
0,6
0,2
0,9
Dung
H. Long Phú
53,4
269,2
48,0
263,6
44,7
265,7
H. Mỹ Xuyên
64,0
267,6
50,1
236,3
28,1
137,2
H. Ngã Năm
-
36,3
184,8
36,0
210,8
-
H. Thạnh Trị
95,9
385,0
42,8
226,1
47,2
279,4
22,0
73,3
7,9
3,3
13,3
2,6
H. Vĩnh Châu
-
-
-
52,0
283,7
-
H. Trần Đề
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Sóc Trăng hiện là tỉnh đứng hàng thứ 5 vùng ĐBSCL và cả nước về diện tích,
sản lượng lúa sau Kiên Giang, An Giang, Long An và Đồng Tháp.
Đặc điểm nổi bật trong sản xuất lúa ở Sóc Trăng từ 2000 đến nay là giảm
mạnh diện tích gieo cấy trên các giống lúa cũ và nhân nhanh các giống lúa mới (lúa
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
thơm ST3, ST5) đã mang lại thành công đáng kể cho nông nghiệp tỉnh nhà. Hiện
67
nay diện tích gieo trồng lúa đặc sản không ngừng tăng lên và gạo thơm Sóc Trăng
trở thành một thương hiệu nổi tiếng trên cả nước.
Bên cạnh đó cây màu lương thực cũng đóng vai trò quan trọng đối với ngành
trồng trọt trong việc tận dụng đất đai, xen canh gối vụ và nâng cao hệ số sử dụng
đất. Cây màu lương thực còn đáp ứng một phần về nhu cầu lương thực cho nhân
dân và cung cấp thức ăn cho chăn nuôi cũng như nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến. Cây màu lương thực chiếm tỉ lệ nhỏ về diện tích và sản lượng lương thực toàn
tỉnh. Cây màu được trồng phân tán khắp tỉnh. Trong số các loại cây màu thì cây
bắp, cây khoai lang, cây khoai mì (sắn) là quan trọng nhất do thời gian sinh trưởng
ngắn nên rất thích hợp trồng xen canh luân vụ với các loại cây trồng khác.
Cây bắp (ngô)
Cây bắp là cây quan trọng nhất trong các loại cây màu lương thực (chiếm
8,3% diện tích cây màu lương thực năm 2010) vừa cung cấp thức ăn cho người vừa
là nguồn nguyên liệu cho chăn nuôi. Bắp được trồng nhiều trên các bãi bồi ven
sông, trồng xen đất lúa, trên đất trồng cây công nghiệp hàng năm. Diện tích, năng
suất và sản lượng bắp nhìn chung ngày một tăng.
Diện tích bắp năm 2000 đạt 2,7 nghìn ha đến năm 2010 đạt 3,7 nghìn ha tăng
1 nghìn ha sau 10 năm, sản lượng bắp cũng tăng 7,6 nghìn tấn từ 6,7 nghìn tấn năm
2000 lên 14,3 nghìn tấn năm 2010. Năng suất không ngừng tăng từ 24,7 tạ/ha
(2000) tăng lên 38,3 tạ/ha (2010). Bắp được trồng nhiều, diện tích lớn và sản lượng
cao tại các huyện: Cù Lao Dung 2,0 nghìn ha đạt 9,7 nghìn tấn, Long Phú 4,5 nghìn
ha đạt 1,8 nghìn tấn, Mỹ Tú 4,2 nghìn ha đạt 0,9 nghìn tấn (2010). Sản lượng bắp
của 3 huyện này chiếm 86,0% sản lượng toàn tỉnh, riêng Cù Lao Dung đã chiếm
67,1% sản lượng bắp toàn tỉnh, dẫn đầu về năng suất bắp toàn tỉnh (48,5 tạ/ha) chủ
yếu là trồng bắp lai và bắp nếp xen canh trên đất lúa. Tuy nhiên người dân cho rằng
trồng bắp cực công, thu hoạch bán cũng khó, nếu dự trữ dễ bị mốc. Bắp là cây trồng
có nhu cầu nước không cao, thích hợp vùng đất giồng cao nên mùa thuận vẫn là vụ
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
xuân hè, mùa khô hạn.
68
Cây khoai lang
Cây khoai lang cũng là cây trồng chủ yếu trong nhóm cây màu lương thực
đứng thứ 2 sau bắp. Năm 2010, cây khoai lang chiếm 5,7% trong cơ cấu cây màu
lương thực và 5,9% tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh.
Khoai lang là cây ngắn ngày, ưu khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi nhiều ánh sáng,
không kén đất, thích hợp đất pha cát hoặc đất thịt nhẹ, dễ thoát nước. Tương đối dễ
tính, khoai lang được trồng luân canh với cây công nghiệp hàng năm hoặc trên đất
lúa, diện tích trồng cơ bản ngày một tăng năm 2000 toàn tỉnh có 1,5 nghìn ha đất
trồng khoai lang sản lượng 14,0 nghìn tấn đến năm 2005 giảm xuống còn 1,4 nghìn
ha với sản lượng 14,6 nghìn tấn nhưng đến 2010 tăng lên 2,9 nghìn ha với sản
lượng 30,6 nghìn tấn. Năng suất khoai lang cũng không ngừng cải thiện từ 96,40
tạ/ha năm 2000 đến năm 2010 đạt 118,8 tạ/ha. Hiện nay người dân rất ưu chuộng
giống khoai lang nhật vì năng suất cao (2,5 – 4 tấn/công) và dễ trồng nên có xu
hướng chuyển sang trồng 1 vụ lúa 2 vụ khoai. Các huyện trồng nhiều khoai lang:
Cù Lao Dung 1,3 nghìn ha, Thạnh Trị 0,4 nghìn ha, Vĩnh Châu 0,3 nghìn ha.
Cây khoai mì (sắn)
Khoai mì là cây có khả năng chịu hạn, thích hợp với nhiều loại đất miễn sao
tơi xốp, thoát nước. Khoai mì giữ đất gần 1 năm, có ít điều kiện luân canh với cây
trồng khác. Khoai mì chủ yếu trồng để phục vụ cho chăn nuôi.
Diện tích trồng khoai mì tăng 0,4 nghìn ha từ năm 2000 đến nay (từ 0,4 ha
năm 2000 lên đến 0,8 ha năm 2010), năng suất và sản lượng cũng không ngừng tăng
lên. Năm 2010 sản lượng khoai mì toàn tỉnh đạt 7,5 nghìn tấn (năng suất 90,1 tạ/ha),
tăng 4,9 nghìn tấn so với năm 2000. Về phân bố khoai mì trồng nhiều nhất ở 2
huyện: Cù Lao Dung (0,3 nghìn ha) và Thạnh Trị (0,3 nghìn ha). Cù Lao Dung hiện
là huyện dẫn đầu tỉnh về diện tích, năng suất, sản lượng cây khoai mì (34,9% diện
tích, 37,5% sản lượng toàn tỉnh)
Tóm lại, cây màu lương thực được trồng chủ yếu trên đất giồng cát và đất cù
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
lao. Ngoài ra nó còn được trồng xen canh trên đất lúa hoặc cây công nghiệp ngắn
69
ngày để tận dụng đất vì vậy chúng phân bố hầu hết ở các huyện trong tỉnh. Nhìn
chung cây màu lương thực ở Sóc Trăng còn tăng chậm về diện tích, thị trường tiêu
thụ chưa được thuận lợi bằng các loại cây trồng khác.
- Cây thực phẩm
Sóc Trăng là tỉnh có điều kiện phát triển phong phú các loại cây thực phẩm
phù hợp với thời tiết và điều kiện từng mùa, từng vùng như: rau muống, bầu, bí,
mướp, cà tím, cà chua, dưa chuột, hành tím, cải xanh, đậu đũa, đậu xanh…
Giai đoạn 2000 - 2010 diện tích và sản lượng trồng rau, đậu ở Sóc Trăng
không ngừng tăng lên. Năm 2000 diện tích trồng rau đậu chỉ có 16,6 nghìn ha đến
năm 2010 đạt 37,2 nghìn ha tăng 20,6 nghìn ha. Sản lượng rau, đậu cũng không
ngừng tăng lên từ 163,7 nghìn tấn năm 2000 lên 321,3 nghìn tấn năm 2005 và 463,5
nghìn tấn năm 2010.
Bảng 2.9 Diện tích và sản lượng rau đậu tỉnh Sóc Trăng
Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)
16,6 2000 163,7
26,9 2005 321,3
34,5 2009 425,2
37,2 2010 463,5
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Cây rau
Sóc Trăng là tỉnh ở ĐBSCL có diện tích trồng rau tươi khá lớn và phong phú
về chủng loại, phân bố ở nhiều huyện trong tỉnh.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc áp dụng phân bón hóa học,
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
các loại thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau ngày càng nhiều góp phần vào việc
70
nâng cao năng suất, sản lượng rau tươi. Song, do nhu cầu nâng cao năng suất, một
số người dân trồng rau đã lạm dụng lượng lớn phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực
vật … trong sản xuất rau làm suy giảm chất lượng rau tươi, sản xuất ra sản phẩm
rau không đảm bảo an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của
người tiêu dùng.
Trước thực trạng này, trong những năm qua ngành nông nghiệp Sóc Trăng đã
có nhiều chương trình hướng dẫn nông dân sản xuất rau theo hướng an toàn, bằng
các giải pháp kỹ thuật canh tác theo IPM. Ở Xã Đại Tâm huyện Mỹ Xuyên, một
trong những trọng điểm trồng màu của tỉnh. Với 300 ha đất trồng mỗi năm cung cấp
một lượng lớn rau màu đi các nơi trong và ngoài tỉnh. Vì vậy, việc tuyên truyền về
sản xuất rau an toàn được địa phương quan tâm.
Qua đó, người trồng rau đã ngày càng ý thức hơn trong sản xuất rau màu an
toàn trước khi đưa ra chợ. Tuy vậy, việc sản xuất rau an toàn hiện tại chưa phát triển
rộng do vướng phải đầu ra. Nhằm giúp người dân trồng rau biết được các mối nguy
có khả năng làm cho sản phẩm rau mất an toàn, từ đó có biện pháp ngăn chặn, đảm
bảo chất lượng rau, an toàn cho sức khỏe của người tiêu dùng, hướng đến mô hình
sản xuất rau đảm bảo an toàn thực phẩm. Các mối nguy an toàn thực phẩm trong
sản xuất rau bao gồm các tác nhân hóa học, sinh học và vật lý trong thực phẩm có
khả năng gây tác động có hại đến sức khỏe con người. Để có được sản phẩm rau an
toàn thực phẩm, người trồng rau cần giảm thiểu tối đa những mối nguy vừa nêu.
Hiện nay tỉnh có xu hướng tăng diện tích trồng rau và tăng sản lượng rau.
Năm 2000 diện tích trồng rau là 13,8 nghìn ha sản lượng đạt 161,0 nghìn tấn đến
năm 2010 diện tích tăng lên 33,5 ha và sản lượng đạt 459,4 nghìn tấn, tăng 19,7
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nghìn ha và 298,4 nghìn tấn trong vòng 10 năm.
71
Bảng 2.10 Diện tích và sản lượng rau các loại phân theo huyện thị (2000 – 2010)
2000
2005
2009
2010
Năm
Đơn vị
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
(Đơn vị: diện tích : nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)
13,7
161,0
23,6
317,6
30,8
421,2
33,5
459,4
TOÀN TỈNH
TP. Sóc
0,6
5,2
0,9
8,2
1,1
11,1
1,0
10,9
Trăng
H. Châu
-
-
-
-
1,7
24,3
1,8
24,5
Thành
H . Kế Sách
0,9
9,6
0,9
9,8
0,6
7,3
0,7
8,0
H. Mỹ Tú
1,4
14,9
1,9
25,1
2,0
26,4
2,6
34,2
H. Cù Lao
-
-
1,9
23,7
1,8
23,0
1,6
21,0
Dung
H. Long Phú
3,142
32,3
4,7
52,1
5,0
55,0
3,2
36,6
H. Mỹ
2,6
29,0
4,1
45,3
5,3
61,3
3,5
40,9
Xuyên
H. Ngã Năm
-
-
1,0
11,7
1,3
14,3
1,6
18,1
H. Thạnh Trị
1,3
13,1
2,0
23,4
4,3
47,2
4,4
50,2
H. Vĩnh
3,7
57,0
6,1
118,3
7,7
151,4
9,0
168,8
Châu
-
-
-
-
-
-
4,2
46,8
H. Trần Đề
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Rau các loại trồng chủ yếu ở huyện Vĩnh Châu chiếm 26% diện tích và 37,2%
sản lượng toàn tỉnh và Mỹ Xuyên chiếm 17,2% diện tích và 14,3% sản lượng toàn
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
tỉnh (năm 2010). Ngoài ra, hiện nay tỉnh cũng đã hình thành các vùng chuyên canh
72
rau an toàn ở Thành phố Sóc Trăng, xã Đại Tâm, Tham Đôn thuộc huyện Mỹ
Xuyên…
Trong tập đoàn cây rau, ở Sóc Trăng có một đặc sản có chất lượng cao và có
khả năng xuất khẩu với số lượng lớn là củ hành tím. Tỉnh đã mở rộng diện tích, tăng
năng suất và sản lượng cây hành tím. Năm 2000, toàn tỉnh có 1,9 nghìn ha hành tím
với sản lượng 26,8 nghìn tấn. Năm 2010 tăng lên 6,6 nghìn ha và sản lượng đạt
121,6 nghìn tấn với năng suất 184,8 tạ/ha.
Huyện Vĩnh Châu là một trong ba khu vực có diện tích sản xuất hành lớn nhất
nước với diện tích 6,5 nghìn ha. Hành tím Vĩnh Châu gắn liền với đời sống người
đồng bằng, bởi không chỉ là một loại gia vị chứa nhiều tinh dầu, hoạt chất có lợi cho
sức khỏe, mà hành còn là loại dược phẩm chữa trị rất hiệu quả nhiều chứng bệnh
dân gian như cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, nhiễm trùng đường ruột v.v..., những
bệnh mà ngày xưa, ông bà gọi là bệnh do "sơn lam chướng khí" gây nên. Hiện nay,
nhân dân ta thường dùng hành để chế biến thức ăn và ăn tươi như làm dưa hành,
ngâm giấm... Thường xuyên dùng hành trong ẩm thực hàng ngày không những làm
cho khẩu vị chúng ta thơm ngon hơn, mà còn có thể ngừa được một số bệnh thông
thường mà không cần dùng thuốc.
Hành tím đã giúp đời sống người dân Vĩnh Châu khá lên so với nhiều năm
trước. Tuy vẫn còn nhiều khó khăn vì chưa ổn định được giá thành sản phẩm,
nhưng người dân vẫn yên tâm sản xuất bởi hiện nay nhu cầu của thị trường rất lớn,
nhất là thị trường xuất khẩu sản phẩm tươi qua Nhật Bản và Indonesia.
Cây đậu
Đậu cũng là cây thực phẩm ngắn ngày, có thể trồng thành vùng chuyên canh
hoặc trồng xen với cây hoa màu khác như: bắp, khoai lang,…Đậu có nhiều loại như
đậu xanh, đậu đen, đậu trắng,…dùng làm nguyên liệu để sản xuất bánh kẹo các loại.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Đậu có thể trồng nhiều vụ trong năm nhưng nhiều nhất là vụ xuân hè.
73
Diện tích trồng đậu tăng từ 2,8 nghìn ha năm 2000 lên 3,3 nghìn ha năm 2005
và đạt 3,7 nghìn ha vào năm 2010. Sản lượng năm 2000 là 2,7 nghìn tấn , 3,7 nghìn
tấn năm 2005 và 2010 đạt 4,1 nghìn tấn.
Đậu được phân bố ở tất cả các huyện trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất là
ở các huyện Cù Lao Dung (0,7 nghìn ha và 0,8 nghìn tấn), Long Phú (0,5 nghìn ha
đạt 5,7 nghìn tấn), Ngã Năm (0,7 nghìn ha đạt 6,5 nghìn tấn) (2010).
Bảng 2.11 Diện tích và sản lượng đậu các loại phân theo huyện thị (2000 – 2010)
(Đơn vị: diện tích : nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)
Năm
2000
2005
2009
2010
Đơn vị
DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG
DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG
DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG
DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG
TOÀN TỈNH
2,8
2,7
3,3
3234
3,7
4,0
3,7
4,1
0,1
0,1
0,1
123
0,2
0,2
0,1
0,2
TP Sóc Trăng
-
-
-
-
-
-
0,1
0,1
H. Châu Thành
H . Kế Sách
0,4
0,4
0,2
383
0,2
0,2
0,2
0,2
H. Mỹ Tú
0,1
0,1
0,2
87
0,1
0,1
0,2
0,3
H. Cù Lao Dung
-
-
0,9
1018
0,8
0,9
0,7
0,8
H. Long Phú
1,4
1,3
0,8
801
0,8
0,8
0,5
0,6
H. Mỹ Xuyên
0,6
0,5
0,5
467
0,2
0,3
0,2
0,2
H. Ngã Năm
-
-
0,1
-
0,6
0,6
0,7
0,6
H. Thạnh Trị
0,1
0,09
0,4
157
0,6
0,5
0,6
0,6
0,2
0,2
0,1
198
0,1
0,1
0,2
0,2
H. Vĩnh Châu
-
-
-
-
-
-
0,3
0,3
H. Trần Đề
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Đặc biệt ở Sóc Trăng trong các loại đậu thì đậu xanh được trồng nhiều nhất
chiếm 50,6% diện tích gieo trồng các loại đậu toàn tỉnh năm 2010. Những năm gần
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
đây diện tích gieo trồng đậu xanh giảm nhưng sản lượng vẫn ổn định. Năm 2000
74
diện tích gieo trồng đậu xanh 2,3 nghìn ha đến 2010 còn 1,9 nghìn ha (giảm 0,4
nghìn ha) sản lượng năm 2000 và 2010 đạt 2,2 nghìn tấn.
- Cây công nghiệp
Hiệu quả kinh tế của trồng cây công nghiệp thường cao hơn so với trồng cây
lương thực, sản phẩm cây công nghiệp cũng có giá trị xuất khẩu cao. Việc trồng cây
công nghiệp tập trung tạo ra vùng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến, góp phần vào
sự nghiệp CNH. Phát triển cây công nghiệp còn có tác dụng tận dụng tài nguyên,
phá thế độc canh trong nông nghiệp và góp phần bảo vệ môi trường. Năm 2010,
diện tích cây công nghiệp Sóc Trăng đạt 17,8 nghìn ha (chiếm 3,9% diện tích gieo
trồng toàn tỉnh), trong đó diện tích cây công nghiệp hàng năm là 14,8 nghìn ha và
cây công nghiệp lâu năm là 3,0 nghìn ha.
Hình 2.5 Biểu đồ thể hiện diện tích cây công nghiệp tỉnh Sóc Trăng
+ Cây công nghiệp hàng năm
Cây công nghiệp hàng năm là loại cây quan trọng và khá thích hợp với điều
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
kiện của Sóc Trăng, diện tích gieo trồng 10 năm qua nhìn chung tăng nhưng không
75
nhiều từ 11,6 nghìn ha năm 2000 lên 14,8 nghìn ha năm 2010, tăng 3,2 nghìn ha.
Những cây công nghiệp hàng năm chính là mía, đậu tương,…
Bảng 2.12 Diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm thời kì
2000 – 2010
Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) Năm
Đậu Mía Mía Đậu tương tương
10,2 0,4 775,0 0,5 2000
11,0 0,7 926,3 1,1 2005
12,9 0,7 1118,6 1,3 2009
13,9 3,7 1297,0 7,3 2010
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Cây mía
Cây mía là cây lấy đường chủ yếu của nước ta nói chung và Sóc Trăng nói
riêng. Trong nhóm cây công nghiệp ngắn ngày của tỉnh cây mía dẫn đầu về diện
tích và sản lượng đồng thời có tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các cây công
nghiệp khác. Diện tích mía ổn định từ năm 2000 đến nay đều trên 10000 ha, cao
nhất là năm 2007 đạt 13,1 nghìn ha, sản lượng mía năm 2000 đạt 775,0 nghìn tấn
đến năm 2010 đạt 1297,0 nghìn tấn, tăng 5,0 nghìn tấn. Năng suất cây mía cũng
không ngừng tăng lên qua các năm từ 758,5 tạ/ha năm 2000 đến 844 tạ/ha năm
2005 và đạt 930,96 tạ/ha năm 2010. Sóc Trăng đã hình thành các vùng mía nguyên
liệu ở 3 huyện Cù Lao Dung, Mỹ Tú và Long Phú giai đoạn 2010 - 2015 với tổng
diện tích 11.912 ha cho ba nhà máy đường: Công ty cổ phần mía đường Sóc Trăng,
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Cần Thơ và Công ty cổ phần mía đường cồn Long Phát. Tỉnh tiếp tục xây dựng và
76
nâng cấp cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi vùng trồng mía. Trên cơ sở đó tổ chức
lại việc trồng mía, từ nhỏ lẻ sang tập trung, hình thành những cánh đồng mía rộng
lớn để có điều kiện thâm canh, tăng năng suất. Trong đó, thay đổi giống mới được
ưu tiên hàng đầu để phát huy lợi thế về thổ nhưỡng. Ngành nông nghiệp tăng cường
hướng dẫn nông dân sử dụng các giống mía mới có năng suất, trữ đường cao; áp
dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để hạ giá thành sản
phẩm. Ðồng thời đẩy mạnh công tác nghiên cứu, triển khai thực hiện cơ giới hóa
trong khâu làm đất, chăm sóc để nâng cao năng suất, chất lượng và khắc phục tình
trạng thiếu lao động khi đến thời vụ thu hoạch mía. Công ty cổ phần mía đường Sóc
Trăng, ngoài việc đầu tư trang thiết bị, nâng cấp dây chuyền sản xuất còn thực hiện
nhiều phương thức tiết kiệm các chi phí sản xuất, hạn chế việc thu mua mía có chữ
đường thấp, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm năng lực cạnh tranh trên thị
trường. Ngoài ra, nhà máy tiếp tục nâng công suất hoạt động để giảm chi phí. Bên
cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi để nhà máy có
đủ vốn đầu tư và trực tiếp thu mua mía của nông dân, không để thương lái ép giá
nông dân như đã từng xảy ra.
Bảng 2.13 Diện tích và sản lượng mía phân theo huyện thị (Đơn vị: diện tích:
nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)
Năm
2000
2005
2009
2010
Đơn vị
DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG
DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG
DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG
DIỆN TÍCH
SẢN LƯỢNG
TOÀN TỈNH
775,0
11,0
926,3
112,9
1120,2
13,9
1297,0
10,2
0,02
1,1
0,005
0,3
0,004
0,04
0,004
0,4
TP Sóc Trăng
-
-
-
-
0,2
11,9
0,2
11,9
H. Châu Thành
H . Kế Sách
0,08
4,4
0,03
1,4
0,06
3,6
0,06
3,7
H. Mỹ Tú
2,7
147,5
2,9
187,3
3,5
254,5
3,8
334,2
H. Cù Lao
-
-
6,3
601,8
7,2
701,6
7,8
784,8
Dung
H. Long Phú
7,0
603,0
1,4
110,7
1,5
117,5
1,3
101,3
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
77
H. Mỹ Xuyên
0,05
2,5
-
-
-
-
-
-
H. Ngã Năm
-
2,1
0,3
2,7
0,02
-
0,03
1,6
H. Thạnh Trị
0,3
0,3
16,0
0.3
22,1
27,2
0,5
41,0
0,01
0,5
0,01
0,8
0,01
0,8
0,02
1,4
H. Vĩnh Châu
-
-
-
-
-
-
0,2
16,8
H. Trần Đề
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Cây đậu tương (đậu nành)
Cây đậu tương lấy hạt làm thực phẩm (đậu phụ, xì dầu, tương, sữa đậu nành,
sữa bột…) hoặc ép lấy dầu. hạt đậu tương có tỉ lệ đạm, chất béo cao nhất trong các
loại đậu. Cây đậu tương đứng thứ 2 về diện tích và sản lượng trong nhóm cây công
nghiệp ngắn ngày sau mía. Trong 10 năm qua cây đậu tương phát triển về diện tích
gieo trồng lẫn sản lượng. Cây đậu tương chủ yếu được trồng ở các nơi có địa hình
cao và trung bình thuộc huyện Kế Sách, một phần ở phía bắc huyện Long Phú và
phía đông huyện Mỹ Tú.
+ Cây công nghiệp lâu năm
Cũng giống như các tinh vùng ĐBSCL khác, Sóc Trăng chủ yếu tập trung
trồng dừa. Dừa là loại cây công nghiệp nhiệt đới phát triển trong điều kiện nhiệt độ từ 28 – 320 C, ánh sáng trung bình mỗi ngày từ 6 – 8 giờ, độ ẩm trong đất từ 60 –
70%. Vì vậy ở Sóc Trăng vùng nước ngọt và nước lợ thuộc huyện Mỹ Xuyên, Long
Phú là nơi thích hợp nhất cho việc trồng dừa.
Dừa có rất nhiều công dụng: cơm dừa khô được ép lấy dầu sử dụng trong công
nghiệp hoặc để ăn, cơm dừa nạo là một loại thực phẩm, nước dừa để giải khát, đóng
hộp, gáo dừa làm than hoạt tính còn vỏ dừa, lá dừa là nguyên liệu để sản xuất hàng
thủ công mỹ nghệ, gỗ thân dừa còn có giá trị xây dựng, làm hàng gia dụng. Nếu có
được các cơ sở công nghiệp chế biến tốt thì sản phẩm từ cây dừa càng phong phú đa
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
dạng và vươn xa hơn ra thị trường thế giới.
78
Bảng 2.14 Diện tích và sản lượng dừa tỉnh Sóc Trăng
Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)
4,9 2000 21,7
3,1 2005 15,2
3,1 2009 15,0
3,0 2010 15,0
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Diện tích trồng dừa ở Sóc Trăng trong 10 năm trở lại đây giảm từ 4,9 nghìn ha
năm 2000 xuống còn 3,0 nghìn ha năm 2010, giảm 1,9 nghìn ha. Nguyên nhân chủ
yếu là do tác động của thị trường, giá cả thu mua thấp làm cho thu nhập từ dừa
không cao nên người dân đã bỏ dừa chuyển sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế
cao hơn. Mặt khác , ngành trồng trọt Sóc Trăng đã từng bước chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, tăng dần diện tích trồng cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày có hiệu quả
cao hơn. So với Bến Tre trải qua nhiều thăng trầm trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu cây trồng nhưng với diện tích 49,0 nghìn ha (chiếm 34% diện tích trồng dừa cả
nước), dẫn đầu cả nước về diện tích, năng suất và sản lượng dừa trái (hơn 324 triệu
trái/ năm). Cây dừa Bến Tre vẫn được xác định là cây trồng có thế mạnh lâu dài, là
cây công nghiệp lâu năm chủ lực của tỉnh. Nhiều năm qua, những sản phẩm từ cây
dừa là nguồn thu ngoại tệ rất đáng kể. Cây dừa của Bến Tre đã đóng góp nhiều vào
tên tuổi thương hiệu của xứ sở, tạo ra giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp từ 22 – 25%, kim ngạch xuất khẩu từ 60 – 90 triệu USD, chiếm khoảng 47%
giá trị xuất khẩu, đứng thứ hai sau xuất khẩu thủy sản.
- Cây ăn quả
Sóc Trăng có nhiều lợi thế trồng cây ăn quả với nhiều loại như: nhãn, xoài,
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
cam, chanh, sapoche, chuối…Do nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng nên diện tích
79
trồng cây ăn quả ở Sóc Trăng cũng tăng, năm 2000 toàn tỉnh có 13,8 ha trồng cây
ăn quả đến năm 2010 tăng lên 26,2 nghìn ha, tăng 12,4 nghìn ha.
Cây ăn trái ở Sóc Trăng hiện tập trung nhiều ở các khu vực ven sông Hậu,
kênh rạch và đất giồng cát. Theo chương trình phát triển cây ăn trái từ nay đến năm
2010 của tỉnh, 3 khu vực này cũng là những nơi có quy hoạch phát triển vùng cây
ăn trái chuyên canh. Trong đó, vùng ven sông Hậu, nơi có địa hình cao, thoát thủy
tốt, không bị ảnh hưởng mặn thuộc huyện Kế Sách sẽ phát triển cây măng cụt, sầu
riêng hạt lép, xoài cát Hòa Lộc.
Các vùng phía Bắc huyện Cù Lao Dung, Long Phú (xã An Thạnh I, Đại Ngãi,
Song Phụng…) ảnh hưởng nước lợ vào mùa nắng và các vùng đất từ trung bình đến
thấp thuộc huyện Long Phú, Ngã Năm và Thạnh Trị có thể phát triển bưởi da xanh,
bưởi năm roi, cam mật, quýt đường, xoài cát chu, xoài Thái, chuối các loại. Riêng
những vùng đất giồng cát cao thuộc các huyện Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu và thị
xã Sóc Trăng sẽ phát triển vú sữa lò rèn, mít nghệ, me, nhãn xuồng…
Cùng với việc tập trung phát triển diện tích cây ăn trái theo hướng chuyên
canh, vấn đề chất lượng trái cũng được nông dân đặc biệt quan tâm, những giống
kém chất lượng đã được nông dân thay thế dần như xoài được thay bằng giống xoài
cát Hòa Lộc, cát Chu, giống sầu riêng hạt lép Chín Hóa đã thay các giống sầu riêng
khác...Có nhiều mô hình làm vườn cho thu nhập từ 100 triệu đồng/ha trở lên đối với
những vườn trồng sầu riêng và cây có múi (mô hình bưởi Năm roi ở xã Kế Thành,
Kế An – mô hình sầu riêng hạt lép ở xã An Lạc Tây, Nhơn Mỹ - mô hình măng cụt
ở xã Nhơn Mỹ, Xuân Hòa...).
Tình hình cải tạo vườn tạp tuy có khó khăn về vốn, nhưng bình quân mỗi năm
cải tạo từ 1.500 đến 2000 ha, nhiều nhà vườn mạnh dạn đầu tư cải tạo vườn tạp để
trồng các loại cây cho thu nhập cao, có triển vọng về thị trường, Diện tích cây ăn
trái tăng do một số địa phương cải tạo vườn tạp và chuyển một số diện tích sản xuất
lúa không có hiệu quả sang trồng cây ăn trái, đồng thời trong những năm qua tỉnh
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
đã quan tâm đầu tư cho các chương trình phát triển cây ăn trái trên địa bàn tỉnh.
80
Việc quy hoạch này có thể đảm bảo để Sóc Trăng trở thành trung tâm cây ăn
trái lớn với diện tích ổn định 35.000 ha vào năm 2020, trong đó diện tích vùng trồng
cây ăn trái chuyên canh sẽ không ngừng mở rộng theo từng năm, đảm bảo thương
hiệu trái cây Sóc Trăng từng bước đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Tuy nhiên, thực trạng kinh tế vườn Sóc Trăng thời gian qua cho thấy, việc
phát triển cây ăn trái phần lớn vẫn theo hướng tự phát, nông dân vẫn tự lo từ sản
xuất đến tiêu thụ, vì thế những cây ăn trái có thế mạnh của Sóc Trăng chưa phát huy
được lợi thế. Đó là do:
- Chất lượng trái thương phẩm chưa đủ sức cạnh tranh với thị trường tiêu thụ,
không đáp ứng kịp thời thị trường về số lượng, chất lượng và độ đồng đều
- Giá cả trái cây bấp bênh, thị trường không ổn định, khâu thu mua tiêu thụ các
loại trái cây hầu hết do các thương lái, nông dân không tự tin gắn bó với loại cây
chủ lực của địa phương mình để đầu tư vốn trong sản xuất.
- Nguyên nhân sâu xa và quan trọng hàng đầu dẫn đến những bất cập trong
phát triển kinh tế vườn ở Sóc Trăng vẫn la tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún,
chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm của thị
trường. Hiện nay, sản xuất cây ăn trái trong tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn, hạn
chế về chế biến, bảo quản, thị trường tiêu thụ... nên việc cải thiện, nâng cao hiệu
quả, chất lượng sản phẩm còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển cây
ăn trái của tỉnh.
Bảng 2.15 Diện tích và sản lượng một số cây ăn quả thời kì 2000 – 2010
(Đơn vị: diện tích: nghìn ha; sản lượng: nghìn tấn)
Nhãn
Xoài
Bưởi
Chuối
Năm
Diện tích 2,8 4,3 3,0 3,0
Sản lượng 7,1 13,8 17,3 18,9
Diện tích 0,2 1,6 1,7 1,8
Sản lượng 0,9 9,6 12,4 12,6
Cam, chanh Sản Diện lượng tích 16,0 1,9 15,6 3,0 26,7 3,4 27,6 3,7
Sản lượng 61,1 61,4 77,6 85,5
Diện tích - 1,9 3,8 4,0
Diện tích 1,0 0,2 0,2 0,2
Diện tích 5,8 8,6 9,9 9,7
Sapoche Sản lượng 13,8 1,2 1,1 1,1
Sản lượng - 4,7 10,6 15,3 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
2000 2005 2009 2010
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
81
Chuối
Chuối là loại cây dễ trồng và phổ biến ở ĐBSCL. Riêng ở tỉnh Sóc Trăng,
trong các loại cây ăn quả chuối chiếm tỉ lệ lớn nhất. Diện tích trồng chuối năm 2010
là 9,7 nghìn ha chiếm 37% diện tích cây ăn quả. Sản lượng chuối năm 2010 đạt 85,5
nghìn tấn, tăng 24,4 nghìn tấn so với năm 2000. Xu hướng hiện nay của tỉnh là tăng
diện tích và sản lượng chuối. Chuối được trồng nhiều ở các huyện Mỹ Tú, Kế Sách,
Mỹ Xuyên, Cù Lao Dung…
Nhãn
Cây nhãn đứng thứ hai về diện tích trong các loại cây ăn quả, sau cây chuối.
Cây nhãn được trồng nhiều ở các huyện Kế Sách (1,6 nghìn ha; 12,2 nghìn tấn),
Vĩnh Châu (0,3 nghìn ha; 1,3 nghìn tấn), Cù Lao Dung (0,6 nghìn ha; 3,8 nghìn
tấn). Việc lồng ghép các giống nhãn mới như nhãn tiêu, nhãn xuồng cơm vàng đã
được trồng khá phổ biến. Diện tích nhãn năm 2000: 2,8 nghìn ha đến năm 2002 tăng
lên 4710 ha, trong những năm trở lại đây diện tích trồng nhãn giảm đáng kể do hiệu
quả kinh tế không cao nên người dân chuyển sang trồng cây khác.
Cam, chanh
Cam, chanh được trồng nhiều trên những vùng đất phù sa cao tương đối nhẹ
thuộc các huyện Kế Sách (1,7 nghìn ha; 14,8 nghìn tấn), Mỹ Tú (0,5 nghìn ha; 2,4
nghìn tấn), Châu Thành (0,5 nghìn ha; 3,1 nghìn tấn), Long Phú (0,4 nghìn ha; 3,8
nghìn tấn). Trong những năm gần đây, cam, chanh được đưa vào trồng trên những
quy mô lớn trong phong trào cải tạo vườn tạo. Đến năm 2010, diện tích cam, chanh
ở Sóc Trăng đạt 3,7 nghìn ha (tăng 1,8 nghìn ha so với năm 2000) và cho sản lượng
27,6 nghìn tấn (tăng 11,6 tấn so với năm 2000).
2.3.2.2. Chăn nuôi
- Gia súc (trâu, bò, lợn)
Trâu, bò, lợn là các loại gia súc được nuôi phổ biến để lấy thịt, sữa, da và các
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
sản phẩm khác. Ngoài ra trâu bò còn là nguồn sức kéo trong nông nghiệp.
82
Chăn nuôi trâu:
Chăn nuôi trâu ở Sóc Trăng chủ yếu phục vụ cho mục đích lấy sức kéo. Trâu
là vật nuôi rất quen thuộc với nông dân, dễ nuôi, sản phẩm dễ tiêu thụ được người
tiêu dùng ngày càng ưa chuộng. Điều kiện sinh thái vùng khá thích hợp cho việc
chăn nuôi trâu. Tuy nhiên, chăn nuôi trâu đòi hỏi phải có địa bàn chăn thả rộng,
diện tích đồng cỏ lớn trong khi diện tích đồng cỏ của tỉnh ngày càng thu hẹp nên chỉ
có thể chăn nuôi hộ gia đình với số lượng ít. Nhìn chung từ 2000 – 2005 số lượng
trâu giảm đáng kể từ 3,1 nghìn con (2000) còn 1,5 nghìn con (2005) và tăng dần trở
lại từ 2005 đến 2010 đạt 3,3 nghìn con tập trung nhiều ở các huyện Thạnh Trị (1,9
nghìn con), Ngã Năm (0,5 nghìn con), Mỹ Tú (0,5 nghìn con) (2010)
Bảng 2.16 Số lượng trâu phân theo huyện thị (Đơn vị: nghìn con)
Năm
2000
2005
2009
2010
TOÀN TỈNH
3,1
1,5
3,3
3,3
TP. Sóc Trăng
0,07
0,01
0,007
0,01
H. Châu Thành
-
-
0,07
0,05
H . Kế Sách
0,001
-
-
-
H. Mỹ Tú
0,5
0,3
0,4
0,5
H. Cù Lao Dung
-
-
-
-
H. Long Phú
0,8
0,05
0,1
0,02
H. Mỹ Xuyên
0,5
0,05
0,2
0,2
H. Ngã Năm
-
0,1
0,5
0,5
H. Thạnh Trị
0,9
0,9
2,0
1,9
H. Vĩnh Châu
0,4
0,03
0,02
0,02
H. Trần Đề
-
-
-
0,09
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Chăn nuôi bò:
Bò cũng là vật nuôi quen thuộc với nông dân, dễ nuôi có thể chăn thả hoặc
nuôi chuồng, rất thích hợp chăn nuôi hộ gia đình, có thể phát triển chăn nuôi trang
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trại quy mô vừa, nhu cầu thực phẩm thịt, sữa bò trên thị trường rất lớn. Số lượng bò
83
không ngừng gia tăng từ 2000 đến 2010 từ 3,3 nghìn con lên đến 31,6 nghìn con do
được khuyến khích chăn nuôi và được sự hỗ trợ của nhiều chương trình. Bò sữa bắt
đầu phát triển từ năm 2004 với số lượng ngày càng tăng. Bò được nuôi ở hầu hết
các huyện trong đó nhiều nhất là huyện Mỹ Xuyên (6,6 nghìn con), ít nhất là huyện
Ngã Năm (0,5 nghìn con).
Năm
2000
2005
2009
2010
Bảng 2.17 Số lượng bò phân theo huyện thị (Đơn vị:nghìn con)
17,6
32,5
31,6
3,3
TOÀN TỈNH
0,08
0,6
1,3
1,1
TP Sóc Trăng
-
-
2,6
2,4
H. Châu Thành
0,04
1,1
1,0
1,0
H . Kế Sách
0,4
3,7
2,9
4,6
H. Mỹ Tú
-
0,9
1,2
1,3
H. Cù Lao Dung
0,6
2,3
5,3
3,2
H. Long Phú
0,6
4,2
9,2
6,6
H. Mỹ Xuyên
-
0,6
1,2
0,5
H. Ngã Năm
0,1
2,3
4,3
4,5
H. Thạnh Trị
1,5
1,9
3,5
2,9
H. Vĩnh Châu
-
-
-
3,5
H. Trần Đề
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Chăn nuôi lợn:
Lợn là vật nuôi chính gắn bó lâu đời với nhà nông, hiện tại trên 80% hộ nông
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
dân nuôi lợn. Lợn có thể nuôi theo hình thức hộ gia đình số lượng nhỏ đến hình
84
thức trang trại quy mô lớn. Hiện trong tỉnh đã hình thành các trang trại nuôi lợn
công nghiệp với quy mô lớn.
Bảng 2.18 Số lượng lợn phân theo huyện thị (Đơn vị:nghìn con)
Năm 2000 2005 2009 2010
TOÀN TỈNH 224,7 276,2 291,4 267,0
TP Sóc Trăng 13,8 16,0 21,6 20,7
H. Châu Thành - - 27,9 28,3
H . Kế Sách 30,9 42,3 39,8 35,4
H. Long Phú 44,4 40,2 42,1 22,5
H. Cù Lao Dung - 10,4 10,8 9,9
H. Mỹ Tú 36,0 43,9 24,5 24,3
H. Mỹ Xuyên 37,9 41,2 41,2 20,0
H. Thạnh Trị 32,9 25,4 28,2 29,3
H. Ngã Năm - 24,7 48,5 48,8
H. Vĩnh Châu 28,8 32,1 6,9 7,5
H. Trần Đề - - - 20,4
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
Số lượng lợn nuôi giai đoạn 2000 – 2010 nhìn chung tăng nhưng không đáng
kể và dao động qua các năm. Từ 2000 đến 2005 tăng từ 224,7 nghìn con lên 276,2
nghìn con đến 2010 giảm xuống còn 267,0 nghìn con. Hạn chế lớn nhất đối với
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
người chăn nuôi lợn hiện nay là giá thức ăn công nghiệp quá cao làm cho giá thành
85
sản xuất cao, người nuôi lãi thấp, vốn đầu tư nhiều, chất lượng con giống và công
nghệ chăm sóc nuôi dưỡng chưa đồng bộ nên năng suất thấp.
Các huyện nuôi nhiều lợn: Ngã Năm (48,8 nghìn con), Kế Sách (35,4 nghìn
con), Thạnh Trị (24,3 nghìn con)
- Gia cầm
Ngoài chăn nuôi gia súc, Sóc Trăng còn chăn nuôi số lượng lớn đàn gia cầm
cung cấp trứng, thịt. Gia cầm là vật nuôi chính đối với nhà nông, có điều kiện phát
triển với hình thức nuôi trang trại công nghiệp đối với đàn gà và chăn nuôi thủy cầm
quy mô lớn nhờ lợi thế vùng sông nước ĐBSCL, tận dụng được thức ăn rơi vãi và
thức ăn tự nhiên, cân bằng sinh thái đồng ruộng. Hạn chế đối với việc phát triển
ngành chăn nuôi gia cầm là khó kiểm soát dịch bệnh đặc biệt là dịch cúm gia cầm
có nguy cơ bùng phát cao.
Bảng 2.19 Số lượng gia cầm phân theo huyện thị (Đơn vị: nghìn con)
Năm 2000 2005 2009 2010
TOÀN TỈNH 2852,1 2132,170 4153,672 4493,9
TP Sóc Trăng 142,8 77,760 98,434 97,7
H. Châu Thành - - 991,640 1364,9
H . Kế Sách 530,4 394,560 787,244 679,1
H. Mỹ Tú 551,9 634,0 503,3 536,0
H. Cù Lao Dung - 27,3 54,6 56,4
H. Long Phú 271,6 178,0 272,4 201,4
H. Mỹ Xuyên 275,0 88,5 219,6 132,8
H. Ngã Năm - 299,9 628,0 665,4
H. Thạnh Trị 724,8 314,4 466,0 470,2
H. Vĩnh Châu 355,5 117,7 132,4 106,9
H. Trần Đề - - - 183,1
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010
86
Đàn gia cầm giai đoạn 2000 – 2010 phát triển khá mạnh tăng 1641,8 nghìn
con, năm 2004 số lượng nuôi giảm đáng kể do dịch bệnh, năm 2005 trở về sau số
lượng nuôi tăng trở lại do khống chế được dịch bệnh. Trong quá trình phát triển
chăn nuôi gia cầm tỉnh cũng đã có những chủ trương chuyển đổi cơ cấu giống, tăng
tỉ lệ các giống gà công nghiệp, gà Tam Hoàng, vịt siêu thịt, giống ngan Pháp,… có
giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường và tăng thu nhập cho người dân.
Đàn gia cầm được nuôi nhiều nhất ở vùng đất phù sa ngọt ven sông Hậu thuộc
huyện Châu Thành 1364,9 nghìn con (chiếm 30,4% đàn gia cầm toàn tỉnh), Kế Sách
679,0 nghìn con ( chiếm 15% đàn gia cầm toàn tỉnh) (2010).
Nhìn tổng thể, ngành chăn nuôi Sóc Trăng thời gian qua có sự phát triển theo
chiều hướng tích cực đặc biệt có sự chuyển đổi cơ cấu giống nhằm nâng cao năng
suất và chất lượng sản phẩm. Ngày càng nhiều các trang trại chăn nuôi lợn sinh sản,
lợn thịt, nuôi gia cầm… với phương thức áp dụng tiến bộ kĩ thuật cao trong khâu
con giống, chuồng trại, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc thú y nên thu nhập được nâng
cao.
Tuy nhiên so với tiềm năng của tỉnh, ngành chăn nuôi phát triển còn chậm,
quy mô sản xuất nhỏ, phân tán. Trình độ chăn nuôi đa số còn lạc hậu dẫn đến nguy
cơ dịch bệnh cao và khó kiểm soát. Mặt khác, ngành chăn nuôi chưa có một quy
hoạch cụ thể, tình hình gia thức ăn luôn cao, chất lượng con giống, công tác quản lí
giống, thú y tuy đã cố gắng nhiều nhưng vẫn còn bất cập, chính sách khuyến khích
phát triển chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức. Đó là những nguyên nhân chủ
yếu làm cho ngành chăn nuôi của Sóc Trăng còn kém phát triển.
2.3.2.3. Dịch vụ nông nghiệp
Dịch vụ cung ứng vật tư, máy móc nông nghiệp
Dịch vụ này được xem như cầu nối giúp người nông dân tiếp cận với công
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nghệ, máy móc trang thiết bị hiện đại phục vụ nông nghiệp. Qua đó, góp phần ngăn
87
chặn suy thoái kinh tế và thúc đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp - nông thôn
trong thời đại mới.
Dịch vụ cung ứng vật tư, máy móc nông nghiệp cung cấp các thiết bị máy móc
, thiết bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất và chế biến nông nghiệp như: máy
gặt đập liên hợp, máy tuốt lúa; máy xay sát, máy bơm nước, máy, ghe xuồng gắn
động cơ; máy nổ, động cơ, máy phát điện; máy gieo hạt, cắt cỏ, băm cỏ, máy
nghiền, máy trộn thức ăn, đóng bánh thức ăn, máy vắt sữa, máy ấp nở gia cầm; máy
kéo, cày, xới, làm đất, xe tải nhỏ…Hiện nay trên địa bàn tỉnh có nhiều cơ sở cung
ứng vật tư, máy móc nông nghiệp nhưng chưa đa dạng về chủng loại và hạn chế về
số lượng.
Dịch vụ cung ứng phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngoài giống cây trồng, vật nuôi thì
phân bón, thức ăn chăn nuôi và thuốc bảo vệ thực vật cũng đóng vai trò quan trọng
không kém. Trong trồng trọt, việc sử dụng phân bón hợp lý, chất lượng cao và áp
dụng dúng cách các biện pháp bảo vệ thực vật sẽ làm tăng năng suất cây trồng, đem
lại hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất. Cũng như vậy, trong chăn nuôi, nếu biết
chọn lọc và sử dụng các loại thức ăn gia súc, gia cầm có chất lượng, phù hợp với
từng giống vật nuôi sẽ đem lại năng suất cao cho người nông dân.
Dịch vụ cung ứng phân bón, thức ăn chăn nuôi và thuốc bảo vệ thực vật Sóc
Trăng ra đời như một dịch vụ tiện ích hỗ trợ tích cực cho người nông dân trong hoạt
động nông nghiệp.
Dịch vụ cung ứng giống cây trồng vật nuôi
Giống cây trồng, vật nuôi đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt
động sản xuất nông nghiệp. Giống tốt được coi như một trong những trợ thủ đắc lực
nhất giúp nông dân tăng nhanh hơn hàm lượng chất xám trong nông sản.
Hiện nay, nông nghiệp nước ta đang cố gắng vượt qua những thử thách để có
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
lợi thế trong cạnh tranh ở thị trường quốc tế cũng như trong nước. Tính cạnh tranh
88
thể hiện ngày một rõ nét trong nền kinh tế thị trường hội nhập WTO, chủ yếu trên
cơ sở phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp đô thị, nông
nghiệp công nghệ cao...
Để duy trì và phát triển bền vững trong một môi trường sản xuất nông nghiệp
đầy tính cạnh tranh như vậy, người nông dân luôn muốn tìm kiếm các giống cây
trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao để đưa vào sản xuất. Nắm bắt được nhu
cầu đó nông nghiệp Sóc Trăng đã tích cực nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi để
phục vụ cho nhu cầu sản xuất của nông dân cũng là góp phần thúc đẩy nâng cao
năng suất của ngành nông nghiệp.
Dịch vụ cho vay vốn hỗ trợ sản xuất
Hiện nay dịch vụ này đóng góp đáng kể cho ngành nông nghiệp giúp nông dân
có điều kiện phát triển kinh tế với mức ưu đãi cho vay đến 80% vốn nhu cầu thực
tế. Trong đó đáng kể nhất là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã hỗ
trợ tích cực nhu cầu vay vốn của nông dân trong địa bàn tỉnh.
Một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng
Trang trại
Năm 2010, Sóc Trăng có 6,1 nghìn trang trại ( đứng thứ 4 ĐBSCL sau: An
Giang, Bạc Liêu, Kiên Giang) trong đó có 3,1 nghìn trang trại trồng cây hàng năm,
13 trang trại trồng cây lâu năm, 113 trang trại chăn nuôi và 2,7 nghìn trang trại nuôi
trồng thủy sản (Nguồn: Tổng cục thống kê)
Cũng như các tỉnh ĐBSCL, mô hình trang trại được hình thành và phát triển
mạnh mẽ trong thời gian gần đây ở Sóc Trăng. Các chủ trang trại là những người
nông dân sản xuất giỏi, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, có ý chí làm giàu,
nhạy bén với các ứng dụng khoa học kĩ thuật nên tỉ lệ thành công trong hoạt động
trang trại ngày càng cao.
Đại bộ phận trang trại thuộc dạng kinh doanh tổng hợp do sử dụng nguồn vốn,
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
lao động gia đình là chính nên phần lớn các trang trại đều thâm canh và sản xuất đa
89
canh theo các mô hình kết hợp VAC, VACR, RAC,… Các trang trại hình thành dựa
vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, tập quán sản xuất từng địa phương. Tuy nhiên cũng
có các trang trại có quy mô sản xuất lớn từ vài chục đến vài trăm ha, thu nhập từ vài
tỉ đến vài trăm tỉ đồng và giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động. Phần lớn
trang trại đều ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như đầu tư đồng bộ
con giống, thức ăn, chuồng trại, hệ thống xử lý nước thải…Tuy nhiên, tỉ lệ thất bại
trong kinh tế trang trại không phải ít dẫn đến phá sản là điều khó tránh khỏi. Các
trang trại phá sản là do dịch bệnh, chi phí đầu vào cao, nhưng giá bán ra thấp hoặc
thị trường bấp bênh, trình độ chuyên môn và quản lý của các chủ trang trại kém nên
không hiệu quả. Thêm vào đó, cơ chế, chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với kinh
tế trang trại hầu như rất khó đến tay những đối tượng được hưởng. Do đó, để kinh tế
trang trại hoạt động hiệu quả thì theo tôi cần xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế
trang trại phù hợp với tình hình sản xuất từng địa phương như vùng sản xuất lúa,
cây ăn quả, nuôi cá tra, heo, trâu bò và gia cầm,…mở lớp đào tạo kỹ năng quản lý,
kỹ thuật sản xuất cho các trường hợp đạt các tiêu chí thành lập trang trại. Các chính
sách về vốn, thuế, đất đai, xúc tiến thương mại nhanh chóng đến tay các chủ trang
trại mới kích thích họ đầu tư sản xuất hiệu quả cao.
Vùng chuyên canh
Vùng chuyên canh lúa:
Hiện nay, diện tích sản xuất giống lúa thơm ST của Sóc Trăng đã lên đến hàng
chục ngàn ha, nhưng chủ yếu tập trung vùng nhiễm phèn, mặn và vùng sản xuất 2
vụ/năm do đạt chất lượng cao nhất. Đây là nét đặc thù và cũng là lợi thế lớn nhất
của nghề trồng lúa Sóc Trăng. Việc sản xuất lúa thơm ở Sóc Trăng hiện đã được
nâng lên một tầm cao mới thông qua việc áp dụng qui trình sản xuất Golbal GAP và
được quy hoạch thành những vùng chuyên canh hàng ngàn, đến hàng chục ngàn ha
như: vùng tôm - lúa Mỹ Xuyên, vùng chuyên canh lúa đặc sản xuất khẩu Ngã Năm,
Long Phú, Mỹ Tú... Tại những vùng chuyên canh này, các chế phẩm sinh học trong
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
cải tạo đất, phòng trừ dịch hại, phân hữu cơ vi sinh… đã được người dân áp dụng
90
rộng rãi. Đặc biệt, lúa thơm ST trồng trên vùng đất nuôi tôm có chất lượng và độ an
toàn vệ sinh thực phẩm rất cao do ít sử dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu, rầy.
Đây cũng chính là lý do để lúa thơm ST giữ vững ngôi đầu về giá tiêu thụ, kể cả
trong thời điểm khó khăn nhất về thị trường.
Không thua kém các giống lúa thơm ST, lúa Tài Nguyên Mùa ở Thạnh Trị
cũng đang chiếm lĩnh thị trường trong nước do có chất lượng cao và phù hợp với
khẩu vị của người Việt Nam. Một vùng chuyên canh lúa Tài Nguyên đã hình thành
tại huyện Thạnh Trị trên diện tích hơn 10 ngàn ha sau khi công tác phục tráng, bảo
tồn giống được tiến hành. Nhận thấy tiềm năng và cơ hội kinh doanh từ giống lúa
này, DNTN Châu Hưng đã tiến hành đăng ký và được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp
chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá.
Vùng chuyên canh hành tím
Vĩnh Châu là vùng chuyên canh nông sản đặc sản hành tím. Cây hành tím đã
có mặt trên đồng đất giồng cát này hơn 100 năm nay, nhưng vẫn giữ được hương vị
cay nồng đặc trưng của nó. Hiện nay, qui trình sản xuất, bảo quản hành tím được cải
thiện rất nhiều để sản phẩm vừa đạt năng suất, chất lượng cao, vừa đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm. Chính điều này đã thu hút nhiều doanh nghiệp đến Vĩnh Châu
thu mua, xuất khẩu hành tím như: Công ty Thái Bình Dương, DNTN Đức Vinh,
Công ty rau quả Lâm Đồng…
Mỗi năm, Vĩnh Châu sản xuất khoảng 4 ngàn ha hành tím với sản lượng hành
thương phẩm bình quân 70-80 ngàn tấn, chủ yếu được xuất khẩu sang các nước
trong khu vực Đông Nam Á như: Inđônexia, Mã Lai, Philippin… Đã có nhận định
về hành tím Vĩnh Châu như sau: “Chỉ có hành tím Vĩnh Châu mới đủ sức cạnh
tranh về chất lượng và giá cả với các nước trong khu vực. Bởi hành tím Vĩnh Châu
có màu sắc đẹp, hương vị cay nồng đặc trưng, bảo quản tự nhiên được lâu và giá
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
thành hợp lý”.
91
Bên cạnh cây hành tím vốn đã thành danh trên thị trường, một số cây màu
khác cũng đã và đang dần hình thành nên những vùng sản xuất tập trung và đã được
xuất khẩu đi các nước như: khoai lang Nhật, ớt, cà tím, nấm rơm…
Vùng chuyên canh cây ăn trái
Cây ăn trái đặc sản chỉ tập trung nơi vùng ngọt ven bờ sông Hậu. Nổi tiếng và
được thị trường ưa chuộng nhiều nhất phải kể đến đặc sản bưởi Năm roi Kế Thành.
Tại đây đã xây dựng được HTX chuyên canh bưởi Năm roi với diện tích trên 17 ha
và qui trình Global GAP đang được triển khai để HTX có thể ký kết hợp đồng tiêu
thụ với Công ty Hoàng Gia - một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu bưởi và các sản
phẩm từ bưởi. Còn tính chung toàn huyện, diện tích bưởi Năm roi hiện đã vượt trên
4 ngàn ha. Không chỉ nổi tiếng với sản phẩm bưởi Năm roi, trên địa bàn huyện Kế
Sách còn có những loại cây ăn trái nổi tiếng vì có chất lượng thơm ngon như: sầu
riêng hạt lép, vú sữa Lò rèn, măng cụt… Trong số 13,5 nghìn ha cây ăn trái của
huyện hiện có đến 8,6 nghìn ha loại cây đặc sản như: bưởi Năm roi (4,2 nghìn ha),
sầu riêng hạt lép (1 nghìn ha), măng cụt (2,1 nghìn ha), vú sữa Lò rèn (1,3 nghìn
ha).
Các vùng sinh thái nông nghiệp
Trên cơ sở về đặc điểm địa hình, đất, nước và khí hậu là các yếu tố quyết định
khả năng phát triển cây trồng, vật nuôi, Sóc Trăng hình thành 3 vùng sinh thái nông
nghiệp chính là vùng ngọt - vùng lợ - vùng mặn và tiểu vùng đất giồng cát
- Vùng ngọt: bao gồm khu vực đất thuộc các huyện Kế Sách, Châu Thành, TP.
Sóc Trăng và một phần của các huyện Mỹ Tú, Ngã Năm, Thạnh Trị, Long Phú, Cù
Lao Dung, trong đó:
. Tiểu vùng đất phù sa ngọt: tập trung hầu hết ở huyện Kế Sách, TP.Sóc Trăng,
một phần của Long Phú, Mỹ Tú, Ngã Năm và phía Bắc Cù Lao Dung. Tổng diện
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
tích tự nhiên: 64,4 nghìn ha
92
. Tiểu vùng trũng, đất phèn, mặn ít và trung bình: thuộc phạm vi của huyện
Thạnh Trị, một phần của Ngã Năm, Mỹ Tú. Tổng diện tích tự nhiên: 94,0 nghìn ha,
vùng này có lợi thế về bình quân ruộng đất cao, có nước ngọt quanh năm, nhưng có
hạn chế về đất phèn, có nguy cơ bị xâm nhập mặn, một số khu vực vùng trũng bị
ngập úng tương đối sâu
- Vùng lợ: gồm khu vực từ ven sông Hậu đến sông Mỹ Thanh thuộc phạm vi
của huyện Long Phú và Mỹ Xuyên, hiện có nước ngọt từ 6-9 tháng. Tổng diện tích
tự nhiên: 88,2 nghìn ha. Vùng này có lợi thế về không ngập lũ, về lâu dài có thể kéo
dài thời gian có nước ngọt từ 9-11 tháng ở khu vực phía Bắc và 6-9 tháng ở khu vực
phía Nam và 6 tháng ở khu vực ven sông Mỹ Thanh
- Vùng mặn: bao gồm 2 khu vực:
. Tiểu vùng đất phù sa nhiễm mặn của huyện Vĩnh Châu (phía Nam sông Mỹ
Thanh), mức ngập nông, có nước ngọt 6 tháng. Tổng diện tích tự nhiên 46,3 nghìn
ha. Vùng này có hạn chế về nước ngọt cho phát triển nông nghiệp.
. Tiểu vùng đất phù sa nhiễm mặn: bao gồm phần đất của huyện Cù Lao Dung
và một phần huyện Long Phú. Tổng diện tích tự nhiên: 29,5 nghìn ha. Chủ yếu là
đất phù sa nhiễm mặn, có nước ngọt quanh năm ở khu vực phía Bắc, 9 tháng ở khu
vực giữa và 6-9 tháng ở khu vực phía Nam.
Tóm lại, nông nghiệp Sóc Trăng được phân bố rộng khắp ở các tiểu vùng
trong tỉnh. Việc bố trí sản xuất hợp lí giữa các tiểu vùng và việc chuyển đổi cơ cấu
sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên KT - XH của từng tiểu vùng là điều kiện
quan trọng để tăng cường và nâng cao hiệu quả của ngành nông nghiệp.
2.3.3. Đánh giá chung
- Thành tựu
Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính của tỉnh Sóc Trăng, tỉ trọng GDP
ngành chăn nuôi, trồng trọt chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp (năm
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
2010: 51,4%), giá trị sản xuất nông nghiệp trên giá trị sản xuất nông, lâm , ngư
93
nghiệp giảm dần qua các năm nhưng vẫn còn chiếm tỉ trọng cao (46,7% năm 2010)
do thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp, tăng tỉ trọng ngành ngư nghiệp. Bên cạnh đó trong nội bộ
ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch: giảm tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ
trọng ngành chăn nuôi
+ Đã có sự chuyển dịch nhanh theo hướng tăng hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng, nhiều mô hình sản xuất có hiệu
quả cao đã từng bước mở rộng và phát triển tốt.
+ Trong ngành trồng trọt, diện tích, năng suất và chất lượng cây trồng, ngày
càng tăng, việc sử dụng các loại giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật ngày càng phổ
biến, kinh nghiệm và việc áp dụng quy trình kỹ thuật vào sản xuất ngày càng được
nông dân quan tâm hơn, đặc biệt là trong sản xuất lương thực (lúa). Đã hình thành
được các vùng sản xuất lúa gạo tập trung chất lượng cao, vùng mía nguyên liệu,
vùng sản xuất hành tím . Tình hình cơ giới hoá áp dụng vào sản xuất đã có chuyển
biến, riêng trồng lúa đến năm 2010 mức độ cơ giới hoá khâu làm đất đạt 95%, sạ
cấy 10%, bơm nước 80%, cắt 2%, suốt 100%, vận chuyển 50%, phơi sấy 10% . Đã
xuất hiện nhiều mô hình sản xuất đa dạng cho giá trị sản xuất và lợi nhuận cao, có
khả năng nhân rộng thành vùng tập trung, quy mô lớn, như :
. Mô hình chuyên canh cây ăn trái: cam, quýt, bưởi 5 roi, bưởi da xanh, vú
sữa, măng cụt, sầu riêng…giá trị sản xuất bình quân đạt từ 60-100 triệu
đồng/ha/năm, lợi nhuận 30-50 triệu đồng/ha, có mô hình đạt 100-200 triệu/ha
. Mô hình chuyên canh mía với giống mới, kết hợp trồng đậu xanh, giá trị
sản xuất bình quân đạt từ 55-60 triệu đồng/ha, lợi nhuận 25-30 triệu /ha
. Mô hình chuyên trồng rau màu thực phẩm, giá trị sản xuất bình quân 65
triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận 30-32 triệu/ha/năm
. Mô hình 2 vụ lúa 1 vụ màu thực phẩm dưới chân ruộng đã xuất hiện ở
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nhiều vùng trong tỉnh, sản xuất bình quân 60 triệu/ha, lợi nhuận 25-30 triệu/ha
94
. Mô hình 2 vụ lúa kết hợp trồng nấm rơm đã xuất hiện ở nhiều vùng trong
tỉnh, sản xuất bình quân 50 triệu/ha, lợi nhuận 25-30 triệu/ha
+ Trong ngành chăn nuôi việc cải tiến hệ thống chuồng trại, sử dụng giống
lai và áp dụng phương pháp gieo tinh nhân tạo hiện nay khá phổ biến, đã hình thành
nhiều trang trại chăn nuôi heo, gia cầm quy mô lớn mang lại hiệu quả cao
- Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nông nghiệp Sóc Trăng phải đối mặt với
những khó khăn thách thức:
Sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, phân tán rất khó khăn cho việc áp
dụng khoa học công nghệ và tiêu thụ sản phẩm.
Chi phí và giá thành sản xuất còn cao
Chất lượng sản phẩm không ổn định
Lợi nhuận đối với nông dân thấp
Nguyên nhân cơ bản là do sản xuất vẫn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nên
rủi ro cao, cơ giới hóa trong một số khâu thu hoạch đạt thấp, bảo quản, chế biến còn
yếu, thị trường không ổn định, tổ chức sản xuất và tiêu thụ còn yếu, quản lý nhà
nước về giá, chất lượng phân bón, thức ăn chưa tốt, quá trình thực hiện chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp còn thiếu bền vững do ảnh hưởng thị trường, tình hình ứng
dụng quy trình kỹ thuật vào sản xuất chưa đồng đều, việc nhân mô hình hiệu quả
cao ra diện rộng còn chậm, nguồn vốn trong dân hạn chế .
Vì vậy, để nông nghiệp Sóc Trăng phát triển ngày càng hoàn thiện thì cần có
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
phương hướng phát triển đúng đắn.
95
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG
3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển
3.1.1. Quan điểm
- Phát triển sản xuất nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc
gia, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và cho chế biến, xuất khẩu.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng trên cơ sở nhu cầu của thị trường
gắn với vệ sinh an toàn thực phẩm, phát huy lợi thế của từng vùng, đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhằm đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện chuyển dịch lao
động.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế
biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập
trung quy mô lớn phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
- Phát triển nông nghiệp dựa trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học công
nghệ, đẩy mạnh thâm canh và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, nguồn nước, lao
động, tạo điều kiện nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
- Giúp nông dân nâng cao trình độ và kiến thức trong việc ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, dần dần xóa bỏ tập quán sản xuất cũ, biết hạch toán kinh tế,
giảm chi phí, hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao thu nhập, sản
xuất có lãi, nâng cao đời sống.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn với thực hiện các chính sách trong
nông nghiệp, trên cơ sở huy động được mọi nguồn lực của tất cả các thành phần
kinh tế, kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước, để đảm bảo sản xuất hiệu quả, phát
triển bền vững và an toàn môi trường sinh thái, tăng nhanh thu nhập, ổn định đời
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
sống cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
96
3.1.2. Mục tiêu phát triển
Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đến năm 2020 ngành nông nghiệp Sóc Trăng cơ bản đáp ứng yêu
cầu một nền sản xuất nông nghiệp theo mô hình CNH và HĐH, với việc hình thành
vùng sản xuất tập trung cho một số cây con chủ lực, có nhiều lợi thế cạnh tranh trên
thị trường. Cụ thể:
Tiếp tục xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, đa dạng và bền vững
dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế và tiềm năng; áp dụng khoa học công nghệ làm
ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường;
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và nguồn vốn; tăng nhanh thu
nhập và đời sống của nông dân. Duy trì sản lượng lúa hướng vào nâng cao chất
lượng, giá trị và hiệu quả kinh tế.
Chuyển dịch mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi; ổn định và từng bước phát triển
các vùng chuyên canh cây ăn quả, rau màu và đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc
quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp,
dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có quan hệ sản xuất phù
hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ngày càng hiện đại.
Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng GDP bình quân toàn tỉnh : giai đoạn 2011-2015 : 14,5%, giai
đoạn 2016 - 2020 : 14%/năm, trong đó : tốc độ tăng GDP bình quân trong KV1 là :
6,5% - 6,0% - 5%/năm
- Cơ cấu GDP KV1 năm 2015 - 2020 là : 28 % - 20 %
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất KV1 bình quân : giai đoạn 2011-2015 : 7,5%,
giai đoạn 2016 - 2020 : 5,5%/năm, trong đó : nông nghiệp : 3,9% - 4,1% ( Trồng
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trọt : 1,7% - 1,6%, Chăn nuôi : 13,2% - 11%, Dịch vụ: 9,4% - 8%);
97
- Cơ cấu giá trị sản xuất nội bộ ngành nông nghiệp (trồng trọt - chăn nuôi -
dịch vụ) đến 2015 : 64,5% - 29,2% - 6,3%, đến 2020 : 57% - 35,6% - 7,4%
3.1.3. Định hướng phát triển nông nghiệp
3.1.3.1. Theo ngành
Trồng trọt (cây lương thực, cây công nghiệp…)
Khai thác triệt để các điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội, nỗ lực
khắc phục khó khăn, tập trung đầu tư, phát triển sản xuất với tinh thần sản xuất
thâm canh toàn diện, sản xuất hàng hóa tập trung, hiệu quả kinh tế cao. Tiếp tục ứng
dụng tốt các tiến bộ kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất để đẩy mạnh việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, hiệu quả thấp sang cơ cấu cây trồng tiến bộ hơn, phù hợp với điều
kiện cụ thể của từng địa phương và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong đó cần tăng
cường đầu tư cho hướng phát triển nông sản hàng hóa và nông sản làm nguyên liệu
chế biến.
- Ưu tiên phát triển các nhóm cây trồng, vật nuôi chủ lực, có lợi thế cạnh
tranh, có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định như lúa gạo, cây ăn trái, mía, hành
tím, lợn, bò, gia cầm.
- Phát triển nhóm cây trồng có ít lợi thế hơn như rau màu thực phẩm, bắp, đậu
nành, đậu phộng, dừa, chuối
- Hỗ trợ phát triển nhóm cây trồng chưa có lợi thế như khoai mì, khoai lang.
- Nghiên cứu phát triển cây ca cao để sản xuất cung cấp cho thị trường xuất
khẩu
Định hướng phát triển lúa gạo
- Cây lúa vẫn là cây lương thực quan trọng, mang tính ổn định nhất, tuy nhiên
trong giai đoạn tới cần nâng cao chất lượng và giá trị. Tiếp tục phát huy lợi thế về
trồng lúa ở các địa phương, nhất là các vùng ít bị ảnh hưởng xâm nhập mặn. Tập
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trung nâng cao năng suất, chất lượng bằng việc sử dụng các giống mới năng suất
98
cao, chất lượng phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Áp dụng
đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là "3 giảm 3 tăng" nhằm giảm giá thành
sản xuất lúa. Đồng thời mở rộng thực hiện chương trình lúa gạo để đạt mức sản
lượng lúa vào năm 2015 là 1,74 triệu tấn trên diện tích tích gieo trồng 307,7 nghìn
ha, định hướng đến năm 2020 giữ sản lượng ở mức 1,74 triệu tấn với diện tích ổn
định khoảng 280,0 nghìn ha.
Tỉnh Sóc Trăng với ưu thế về sản xuất lúa đặc sản, do vậy sẽ tập trung nghiên
cứu và phát triển các giống lúa thơm đặc sản, trong đó có hai giống đặc sản chủ lực
của tỉnh là giống lúa Tài Nguyên mùa và nhóm giống lúa ST. Hướng tới xây dựng
các vùng chuyên canh lúa đặc sản, vùng lúa chất lượng cao, tập trung với quy mô
diện tích lớn, phù hợp với từng vùng sinh thái trong tỉnh để tạo nguồn nguyên liệu
ổn định, đủ sản lượng lúa hàng hóa đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ của thị trường, tạo
điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh doanh lúa gạo ký kết hợp đồng đầu tư và
bao tiêu thu mua sản phẩm.
Dự kiến phát triển diện tích lúa đặc sản lên 80.000 ha vào năm 2020 tương
ứng với sản lượng khoảng 440,0 nghìn tấn, phục vụ nhu cầu trong nước và tham gia
xuất khẩu.
- Đối với các vùng trũng, phèn, vùng nhiễm mặn, điều kiện tưới tiêu khó khăn
cần hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi nội đồng, đầu tư cho thủy lợi nhỏ, tăng cường
công tác khuyến nông và hỗ trợ nông dân sản xuất để đảm bảo an ninh lương thực
tại chỗ. Riêng đối với vùng sản xuất tôm nước lợ, sẽ quy hoạch vùng sản xuất tôm -
lúa và khuyến cáo nông dân áp dụng quy trình trồng lúa lúa luân canh với nuôi tôm
nước lợ để đảm bảo môi trường nuôi được bền vững và ổn định
- Đối với vùng sản xuất 3 vụ lúa, tiếp tục vận động nông dân chuyển đổi 3 vụ
lúa ở nơi không có điều kiện thuận lợi về nước và đất sang sản xuất 2 vụ lúa/năm
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
hoặc 2 vụ lúa – 1 vụ màu có hiệu quả
99
Định hướng phát triển cây ăn trái
Cây ăn trái là một thế mạnh trên vùng ngọt của tỉnh do ít chịu ảnh hưởng lũ.
Trong những năm tới mở rộng diện tích các loại cây ăn trái chủ lực có lợi thế cạnh
tranh và để vườn cây phát triển đồng bộ thì cần tổ chức lại sản xuất quy mô lớn,
phát huy mô hình kinh tế hợp tác, khuyến khích các thành phần kinh tế trong và
ngoài tỉnh tham gia thu mua, chế biến, xuất khẩu… đẩy mạnh xúc tiến thương mại,
mở rộng thị trường, đầu tư hệ thống bảo quản, xử lý sau thu hoạch và tăng cường dự
báo thị trường để định hướng sản xuất.
Các huyện căn cứ vào điều kiện và thế mạnh của mình nên xác định từ 1 - 3
loại cây chủ lực để tập trung đầu tư. Ưu tiên chọn những loại cây có thể cạnh tranh
như măng cụt, bưởi, xoài, vú sửa, sầu riêng, nhãn, chôm chôm, chuối,…đồng thời
phải thay đổi giống mới có chất lượng, giá trị cao và quan tâm cải tạo vườn tạp.
Xác định cây chủ lực thứ tự ưu tiên phát triển:
- Cây măng cụt, sầu riêng hạt lép, xoài cát hoà lộc, cho vùng sinh thái thuận
lợi nhất thuộc khu vực ven sông Hậu, có địa hình cao, thoát thủy tốt, không bị ảnh
hưởng mặn thuộc huyện Kế Sách.
- Cây bưởi da xanh, bưởi năm roi, cam mật, quýt đường, xoài cát chu, các
giống xoài thái, chuối các loại cho các vùng đệm ảnh hưởng lợ vào mùa nắng gồm
các vùng phía Bắc huyện Cù Lao Dung, huyện Long Phú (xã An Thạnh Nhất, xã
Đại Ngãi, Song Phụng...), các vùng đất từ trung bình đến thấp thuộc huyện Mỹ Tú,
Ngã Năm và Thạnh Trị.
- Cây vú sữa lò rèn, mít nghệ, me, nhãn xuồng,…cho những vùng đất giồng
cát cao thuộc các huyện Châu Thành, Mỹ Tú, TP.Sóc Trăng, Mỹ Xuyên và huyện
Vĩnh Châu.
Xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản tập trung ở huyện Kế Sách và
đầu tư quy hoạch, khôi phục lại vùng chuyên canh cây nhãn, cây mãng cầu dai ở
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
vùng giồng cát huyện Vĩnh Châu. Tổ chức sản xuất theo hướng thâm canh, áp dụng
100
quy trình GAP đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Đối với các địa phương có điều kiện thích
nghi, chú trọng cải tạo về giống, trồng thâm canh để tiêu thụ nội địa. Dự kiến diện
tích cây ăn trái đến năm 2020 đạt khoảng 30,0 nghìn ha với sản lượng 225,0 nghìn
tấn trái các loại.
Định hướng phát triển cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày là cây sinh trưởng và phát triển chủ
yếu là dựa hoàn toàn vào các yếu tố tự nhiên cơ bản: đất, nước và khí hậu. Do yếu
tố khí hậu ở Sóc Trăng khá đồng nhất, cho nên đất và nước là hai yếu tố chủ yếu, là
cơ sở khoa học để xác định các vùng có tiềm năng phát triển cho từng loại giống
cây màu nói chung trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đất thổ nhưỡng phân bố trên các
vùng sinh thái và nguồn nước thủy văn để xác định địa bàn phát triển tốt đối với cây
màu và cây công nghiệp ngắn ngày, định hướng phát triển các cây trồng chủ lực cho
cây màu trên địa bàn tỉnh như sau:
Định hướng phát triển cây mía
Cây mía là loại cây công nghiệp ngắn ngày, là một trong những cây trồng chủ
lực của Sóc Trăng, thích hợp trên vùng đất cù lao và dọc sông Hậu, trồng được trên
vùng đất phèn, hiện nay đã hình thành các vùng chuyên trồng mía, sản xuất tập
trung ở các huyện Cù Lao Dung, Long Phú, Mỹ Tú. Diện tích gieo trồng năm 2010
là 12,9 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 867,52 tạ/ha, vùng có năng suất cao nhất
trung bình là huyện Cù Lao Dung 967,64 tạ/ha
Phát triển mía đường trong thời gian tới phải đảm bảo hiệu quả kinh tế-xã hội
và bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, phù hợp với quy hoạch chuyển đổi cơ cấu
nông nghiệp, từng bước nâng cấp, mở rộng công suất của nhà máy đường Sóc
Trăng theo hướng công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các vùng nguyên liệu
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
mía, gắn lợi ích giữa nhà chế biến và người sản xuất nguyên liệu.
101
Trên cơ sở định hướng phát triển cây mía đến năm 2020, các địa phương có
diện tích gieo trồng mía cần đầu tư phát triển vùng nguyên liệu phù hợp với quy mô
công suất các nhà máy trong tỉnh và trong khu vực, theo quy hoạch đã được phê
duyệt của UBND tỉnh, đầu tư thâm canh diện tích mía hiện có, mở rộng diện tích ở
nơi có điều kiện theo hướng: trồng giống mía mới, áp dụng công nghệ canh tác tiên
tiến và đầu tư hệ thống tưới tiêu.
Ba huyện trọng điểm phát triển mía đường để xây dựng vùng nguyên liệu mía
tập trung, bố trí chủ yếu ở các huyện Cù Lao Dung, Long Phú và Mỹ Tú.
Theo định hướng đến năm 2020 phát triển diện tích trồng mía khoảng 13,0
nghìn ha, năng suất mía bình quân 160 tấn/ha, sản lượng mía đạt trên 2 triệu tấn
Định hướng phát triển cây hành tím:
Cây hành tím có thể trồng trên nhiều loại đất, nhưng đất cần cao ráo, tơi xốp,
nhiều dinh dưỡng, hạn chế tối đa ngập úng, thích hợp nhất với vùng đất giồng cát là
loại đất phù sa ven biển. Đây là loại cây màu thực phẩm đặc sản, là mặt hàng truyền
thống và có khả năng phát triển của tỉnh, đã xuất khẩu sang một số nước, là cây
trồng chủ lực cho giá trị kinh tế cao, năng suất bình quân 20 tấn/ha, cao nhất có thể
đạt 25 tấn/ha/vụ. Vùng chuyên canh tác hành tím được tập trung ở huyện Vĩnh
Châu trên các giồng cát có điều kiện thích nghi tốt với loại rau thực phẩm này.
Dự kiến đến năm 2020 diện tích gieo trồng đạt 6,0 nghìn ha
Định hướng phát triển rau, đậu các loại
Đầu tư phát triển các vùng sản xuất rau chất lượng cao, tập trung theo công
nghệ sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng thời khuyến khích phát triển trồng nấm
các loại, cung cấp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Vùng chuyên trồng màu thực phẩm tập trung chủ yếu một phần ở Cù Lao
Dung và trên các giồng cát thuộc Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Long Phú, Mỹ Tú, Châu
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Thành và Kế Sách.
102
Luân canh 2 vụ lúa - 1 vụ màu tập trung ở các huyện Long Phú, Mý Tú, Châu
Thành, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị và Kế Sách. Ngoài ra có thể phát triển ở các vùng
ngọt khác với điều kiện có hệ thống thủy lợi tưới tiêu tốt
Theo định hướng đến năm 2015 diện tích rau, đậu các loại đạt 37,6 nghìn ha,
đến năm 2020 khoảng 43.000 ha. Sản lượng 2015 ước đạt 419.750 tấn, năm 2020
ước đạt 516.000 tấn.
Định hướng phát triển cây bắp lai:
Là cây lương thực ngắn ngày, thị trường tiêu thụ trong nước rất lớn, là loại cây
trồng có điều kiện phát triển ở Sóc Trăng, thích hợp trên đất cù lao và dọc sông
Hậu, có thể phát triển trên chân ruộng cao theo mô hình lúa – màu. Đưa các giống
bắp mới có năng suất cao, kết hợp các biện pháp đầu tư thâm canh tăng năng suất để
đạt sản lượng 22.500 tấn năm 2015 và 33.500 tấn vào năm 2020.
Dự kiến đến năm 2020 diện tích gieo trồng bắp lai đạt 5.000 ha/ diện tích bắp
8.000 ha
Định hướng phát triển cây đậu nành
Là loại cây công nghiệp ngắn ngày có nhu cầu tiêu thụ cao trên thị trường
trong nước, thích hợp trên vùng đất cao, có thể phát triển mạnh trên đất lúa theo mô
hình lúa – màu. Dự kiến năm 2015 diện tích khoảng 950 ha, đến năm 2020 diện tích
gieo trồng đạt 1.600 ha với sản lượng 4.800 tấn
Định hướng phát triển khoai lang, khoai mì
Tập trung đầu tư thâm canh tăng năng suất, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu công
nghiệp chế biến xuất khẩu, và chế biến thức ăn chăn nuôi, ổn định khoảng 8.800 ha,
Định hướng phát triển cây dừa:
Về tầm nhìn chiến lược dừa là một cây kinh tế có nhiều triển vọng lâu dài và
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
bền vững với những lý do:
103
- Điều kiện canh tác: tính thích nghi về thổ nhưỡng, sinh thái của cây dừa rất
rộng. Trong toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của tỉnh đều có thể trồng được dừa để
thay thế cây trồng khác. Tuy nhiên, ngoài yếu tố thổ nhưỡng và sinh thái ra, trong
thời gian tới còn có 2 điều kiện chi phối đến sản xuất nông nghiệp là: lao động và
biến đổi khí hậu toàn cầu (theo dự báo 20-30 năm tới, mực nước biển sẽ dâng cao
cách mặt nước hiện tại từ 30-40cm). Hai hạn chế này sẽ gây áp lực cho cây mía và
cây ăn trái nhưng lại thích nghi với cây dừa.
- Về thị trường tiêu thụ: so với nhu cầu tiêu thụ và nguyên liệu chế biến trong
những năm tới theo hướng gia tăng công nghiệp chế biến dừa, phải cần sản lượng
dừa trái từ 400 triệu trái trở lên, trong khi đó hiện nay chỉ mới đạt 312 triệu trái.
Từ những nhận định trên, cho thấy cây dừa đã và đang chiếm ưu thế rất lớn
trong cuộc sống con người và trong nền kinh tế, giá trị của cây dừa luôn được giữ
vững là một xu thế tất yếu.
Để nâng cao hiệu quả sản xuất dừa đòi hỏi cần tổ chức cải thiện chất lượng
vườn dừa với các giống mới có năng suất và tỷ lệ dầu cao, các địa phương cần có kế
hoạch phục hồi, phát triển vườn dừa. Nếu đầu tư công nghiệp chế biến, sử dụng hợp
lý sản phẩm từ dừa, có thị trường tiêu thụ, vẫn có thể khai thác tốt diện tích dừa
hiện có và phát triển lại các vùng trồng dừa.
Dự kiến đến năm 2020 diện tích cây dừa sẽ đạt khoảng 3.800 ha có sản lượng
16.244 tấn
Định hướng phát triển cây chuối:
Trái chuối là loại trái được mọi người sử dụng rất phổ biến không chỉ ở Việt
Nam mà trên toàn thế giới. Tại một số nước Châu Mỹ và Châu Phi, cây chuối được
trồng phổ biến và xuất khẩu đi khắp thế giới, mang lại giá trị kinh tế cao cho nông
dân. Trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, mặc dù chưa có những nghiên cứu, thử nghiệm
sản xuất chuối với quy mô lớn, tuy nhiên có thể nhận thấy người dân trồng chuối
khá phổ biến với mục đích chủ yếu là lấy trái để dùng trong gia đình và bán cho
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
thương lái với tính chất tự tiêu. Chuối phát triển tốt và cho trái quanh năm, nên có
104
thể khẳng định có thể phát triển cây chuối tốt và cho thu nhập nếu được quan tâm và
trồng với quy mô lớn.
Để cây chuối có thể phát triển tốt cần phải chú ý một số vấn đề về giống, kỹ
thuật và thị trường
Mặc dù chưa có những tổng kết hay đánh giá về hiệu quả kinh tế cũng như
hiệu quả môi trường nào của cây chuối trên địa bàn tỉnh, nhưng có thể khẳng định,
cây chuối sẽ mang lại thu nhập cao cho người dân nếu được đầu tư sản xuất với quy
mô lớn. Để phát triển được vùng trồng chuối với quy mô công nghiệp, thì các ngành
chức năng, các địa phương cần có những nghiên cứu cụ thể để xây dựng quy trình
kỹ thuật, quy hoạch vùng sản xuất cũng như các chính sách khác để khuyến khích
các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển cây chuối trên diện rộng một cách hợp lý,
thành vùng hàng hoá nhằm tăng hiệu quả kinh tế của loại cây trồng này, tạo nguồn
thu nhập cho người dân trong tỉnh.
Định hướng phát triển cây ca cao
Đây là loại cây trồng chưa thực sự phổ biến nhiều tại Việt nam, nhưng đã
được ghi nhận về chất lượng hạt tự nhiên, giá trị kinh tế và khả năng mở rộng trong
thời gian tới. Với lợi thế có thể trồng xen canh với các loại cây khác, không kén đất,
vốn đầu tư thấp nên dù mới tập trung phát triển trong 3 năm gần đây nhưng hiện cả
nước đã có trên 9.000 ha. Năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 240 tấn hạt
cacao.
Cây ca cao hiện được trồng tập trung ở các tỉnh ĐBSCL và Tây Nguyên, trong
đó, tỉnh Bến Tre là nơi có diện tích lớn nhất với 2.000 ha. Mô hình trồng ca cao
dưới tán dừa ở đây cũng là một trong những mô hình canh tác nông nghiệp cho thu
nhập cao nhất với năng suất bình quân khoảng 1,5 tấn hạt/ha.
Đề án "Phát triển cây ca cao đến năm 2015 và định hướng đến 2020" được Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt mới đây đã đặt mục tiêu đạt 80.000
ha ca cao, sản lượng hạt khô khoảng 110.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 100 -
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
120 triệu USD vào năm 2020
105
Để có thể phát triển cây ca cao ở Sóc Trăng, cần nghiên cứu phát triển ca cao
ở những nơi có điều kiện sinh thái phù hợp để thuận lợi trong đầu tư thâm canh và
tiêu thụ sản phẩm. Bố trí thành các vùng tập trung, trồng xen với cây dừa,...trước
mắt đang bố trí trồng thử nghiệm 50 ha ở huyện Kế Sách và Cù Lao Dung
Chăn nuôi
Khai thác tối đa lợi thế của tỉnh về điều kiện tụ nhiên, KT - XH để phát triển
ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp, tạo khối lượng sản phẩm lớn, chất lượng
cao cung cấp cho thị trường tiêu thụ tươi sống, chế biến và xuất khẩu, từng bước
CNH - HĐH ngành chăn nuôi để tạo sự chuyển biến cơ bản về chất và lượng, đồng
thời tăng dần tỉ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông
nghiệp.
Từ nay đến năm 2020 từng bước hình thành được các vùng chăn nuôi tập
trung theo hướng chăn nuôi gia trại, trang trại và chăn nuôi công nghiệp là chính,
với 3 loài vật nuôi chính là : trâu bò, heo, gia cầm (gà, vịt), kết hợp chăn nuôi hộ gia
đình theo hướng an toàn sinh học ở những vùng xa dân cư tập trung . Phấn đấu tốc
độ tăng trưởng hàng năm từ nay đến năm 2020 từ 10 %/năm trở lên, tỷ trọng chăn
nuôi trong nông nghiệp đến năm 2015 đạt 24-25% và năm 2020 đạt khoảng 33-
35%.
+ Heo: Phát triển nuôi heo chất lượng cao ở một số vùng có lợi thế như Long
Phú, Kế Sách, Mỹ Tú, Thạnh trị, Ngã Năm, ... theo hướng sản xuất công nghiệp,
đảm bảo an toàn dịch bệnh để đáp ứng cho nhu cầu đô thị và khu công nghiệp; với
số lượng đàn heo đến năm 2020 đạt 900 nghìn con.
+ Trâu, bò: Phát triển mạnh đàn bò theo hướng thịt có năng suất cao, thịt
ngon, đáp ứng nhu cầu thị trường. Tổng đàn bò 120 nghìn con; đàn trâu 8 nghìn
con.
+ Gia cầm: Phát triển gia cầm chủ yếu là gà, vịt đáp ứng nhu cầu thịt, trứng
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
cho tiêu dùng và xuất khẩu, với số lượng 15 triệu con.
106
Bảng 3.1 Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020
Tốc độ phát triển
Chỉ tiêu
2010
Quy hoạch 2015
Quy hoạch 2020
2011 - 2020
1. Đàn trâu ( nghìn
4,5
3,3
8,0
14,2
con)
Sản phẩm thịt hơi
177,6
131,5
316
14,3
(Tấn)
2. Đàn bò ( nghìn
70,0
32,5
120,0
17,0
con)
Sản phẩm thịt hơi
1,9
1,0
3,3
17,0
( nghìn tấn)
TĐ: Đàn bò sữa
3,5
2,1
6,0
7,1
( nghìn con)
Sản phẩm sữa
2,1
1,6
3,6
7,1
( nghìn tấn)
3. Đàn heo ( nghìn
600,0
291,4
900,0
14,3
con)
Sản phẩm thịt hơi
93,9
45,6
140,9
14,2
( nghìn tấn)
4. Đàn Gia cầm(
4.154
10.000
15.000
12,1
nghìn con)
TĐ: Đàn vịt ( nghìn
5.760
1.999
8.100
10,2
con)
Sản phẩm thịt hơi
21,6
9,0
32,4
12,0
( nghìn tấn)
Sản phẩm trứng
72.093
173,55
260,33
12,1
(tr.quả)
5. Con khác ( nghìn
9,0
1,5
12,0
4,3
con)
Sản phẩm thịt hơi
33,0
10,2
39,6
4,2
(Tấn)
Tốc độ tăng GTSX
10,24
22,3
7,46
13,9
(%)
Cơ cấu GTSX
25,74
14,8
32,00
trong NN
79,5
77,6
79,6
Gia súc (%)
7,8
11,5
7,9
Gia cầm (%)
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
107
3.1.3.2. Theo lãnh thổ
Định hướng phát triển nông nghiệp các vùng trong tỉnh
Với quan điểm khai thác lợi thế của mỗi vùng để đầu tư phát triển nông
nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị nhằm tăng thu nhập và ổn định
đời sống của nhân dân trong từng vùng. Định hướng phát triển được đưa ra trên cơ
sở điều kiện tự nhiên, KT - XH, những lợi thế so sánh và hạn chế thách thức đối với
từng vùng.
Vùng ngọt
Nhóm nông sản chủ lực của vùng gồm có: lúa gạo, cây ăn trái (bưởi, xoài,
nhãn, vú sữa, măng cụt, sầu riêng), rau màu các loại
- Tiếp tục thâm canh lúa, đưa giống lúa mới có năng suất, kết hợp sử dụng các
biện pháp thâm canh tăng năng suất lúa để sản lượng bảo đảm an ninh lương thực
tại chỗ. Phát triển vùng lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu
- Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển các loại rau, đậu và hoa
màu. Phát triển diện tích các sản phẩm có thế cạnh tranh và thay thế nhập khẩu
như bắp, đậu nành, là 2 loại nông sản có nhu cầu tiêu thụ trong nước rất lớn, trong
đó bắp lai chủ yếu làm nguyên liệu cho chế biến thức ăn gia súc, dự kiến sẽ được
phát triển trên cơ sở luân canh trên nền đất 2 vụ lúa + 1 vụ màu hoặc chuyên màu,
địa bàn chủ yếu ở huyện Cù Lao Dung, một phần ở Châu Thành, Mỹ Tú và Long
Phú
- Ổn định diện tích chuyên trồng mía phù hợp trên các vùng đất phèn, đất phù
sa thuộc các huyện Mỹ Tú
- Mở rộng diện tích cây ăn trái, phát triển các loại cây ăn trái đặc sản cung cấp
cho thị trường, dự kiến cây ăn trái sẽ được mở rộng diện tích theo 2 hướng: cải tạo
vườn tạp và lập vườn mới từ đất lúa trên nền đất phù sa ven sông (chủ yếu ở Kế
Sách, một phần Long Phú và phía Bắc huyện Cù Lao Dung). Kết hợp giữa phát
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
triển cây ăn trái với nuôi trồng thủy sản và nuôi ong, giữa xây dựng kết cấu hạ tầng
108
nông thôn và làm đẹp cảnh quan các vườn cây ăn trái để phát triển mạng lưới du
lịch sinh thái của tỉnh.
Nghiên cứu phát triển cây ca cao gắn với công nghiệp chế biến phục vụ xuất
khẩu.
Vùng lợ:
Nhóm nông sản chủ lực gồm: lúa gạo, rau đậu các loại, dừa
Định hướng thâm canh phát triển 2 vụ lúa ở phía Bắc huyện Long Phú, Mỹ
Xuyên và xây dựng vùng 1 vụ lúa chất lượng cao luân canh trên nền đất nuôi 1 vụ
tôm sú ở khu vực các xã còn lại ở phía Nam và phía Tây của huyện Mỹ Xuyên
- Tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ sản xuất lúa thích hợp, tránh né
ảnh hưởng bất lợi của điều kiện khí hậu thủy văn
- Phát triển các loại rau màu có chất lượng, phục vụ tiêu dùng tại chổ và cung
cấp cho thị trường.
Vùng mặn
Nhóm nông sản chủ lực là rau màu các loại, mía, hành tím, lúa
Định hướng phát triển vùng chuyên canh cây hành tím được tập trung ở huyện
Vĩnh Châu trên các giồng cát có điều kiện thích nghi tốt cho loại cây trồng này, mở
rộng diện tích sản xuất để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường về loại sản phẩm này.
Phát triển diện tích trồng mía với những giống có năng suất, chất lượng và trữ
đường cao ở khu vực huyện Cù Lao Dung và ven sông Hậu thuộc huyện Long Phú
Xây dựng vùng luân canh lúa – tôm trên diện tích nuôi tôm sú có điều kiện
trồng lúa
Xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản của huyện Vĩnh Châu gồm
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
nhãn, mãng cầu (dai)
109
3.2. Các giải pháp chủ yếu
Để giúp cho ngành nông nghiệp Sóc Trăng phát triển ngày càng ổn định, hiệu
quả, bền vững theo tôi cần phải tiến hành các giải pháp sau:
3.2.1 Chính sách phát triển nông nghiệp
Tập trung đổi mới, hoàn chỉnh các nhóm chính sách sau đây:
Chính sách về đất đai:
- Quản lý chặt chẽ quỹ đất trồng lúa để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực
và lâu dài.
- Tăng giá trị đất nông nghiệp khi thu hồi, chuyển mục đích sử dụng hoặc thế
chấp vay vốn, góp vốn vào doanh nghiệp.
Chính sách đầu tư khuyến khích sản xuất
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch, cơ
sở chọn tạo và nhân giống cho các vùng sản xuất hàng hoá, các vùng khó khăn.
Chính sách đối với người sản xuất.
- Hỗ trợ đầu vào (giống, phân bón,...)
- Hỗ trợ đào tạo nghề (cả nghề trồng trọt và chuyển đổi ngành nghề).
- Hỗ trợ giữ đất lúa (theo diện tích).
- Chính sách bảo hiểm nông sản và bảo hiểm xã hội cho nông dân
Chính sách khoa học công nghệ, khuyến nông.
Thực hiện có hiệu quả việc xã hội hóa công tác khuyến nông theo quy định tại
Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 26/04/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Có
phương án đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn của mạng lưới khuyến nông đến
từng xã. Phải điều chỉnh chế độ thù lao đối với công tác khuyến nông để nhằm động
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
viên, khuyến khích cán bộ phát huy hết năng lực.
110
3.2.2 Củng cố, hoàn thiện CSHT và CSVCKT phục vụ nông nghiệp
Trên cơ sở kế thừa hệ thống công trình đã có, tiếp tục nâng cấp công trình đầu
mối, ưu tiên đầu tư chiều sâu để phát huy hiệu quả toàn hệ thống và đáp ứng nhu
cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại, các công trình chính cần đầu tư là : thủy lợi, giao
thông, điện, trạm trại nông nghiệp, mạng lưới chợ nông sản hàng hóa v.v. theo tinh
thần Quyết định 1980/QĐHC-CTUBND, tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 16131tỷ
đồng phân ra giai đoạn 2011-2015 : 7.555 tỷ, 2016-2020 : 5.326 tỷ đồng. Vốn
doanh nghiệp 2.210 tỷ đồng, vốn dân 1.040 tỷ đồng còn lại là vốn ngân sách.
Các mục tiêu đầu tư chủ yếu vào hạ tầng phục vụ sản xuất:
+ Thủy lợi : tiếp tục đầu tư các công trình từ đầu mối đến cấp 2 trên 7 vùng dự
án thủy lợi lớn của tỉnh theo hướng nâng cấp là chính, như : đê cấp 1, nạo vét các
trục kinh cấp 1 và cấp 2, tập trung ưu tiên đầu tư cho công trình nội đồng : kinh
mương, bờ bao, cống bọng nhỏ để chủ động hoàn toàn nguồn nước tưới, tiêu, trọng
tâm ưu tiên là vùng quy hoạch lúa và vùng nuôi tôm nước lợ chủ lực, vùng cây ăn
trái, vùng màu chuyên canh và màu kết hợp trên ruộng lúa, tổng vốn đầu tư dự kiến
: 2011-2015 3.983 tỷ, 2016-2020 : 2.618 tỷ đồng . Vốn dân 240 tỷ đồng
+ Giao thông : tiếp tục nâng cấp, xây mới các tuyến đường tỉnh, đường huyện,
hệ thống bến bãi đậu xe, cầu phà vượt sông, tập trung ưu tiên mạng lưới giao thông
nông thôn, trong đó ưu tiên đầu tư vùng sản phẩm chủ lực lúa gạo và nuôi tôm nước
lợ, tổng vốn đầu tư dự kiến : 7.733 tỷ, trong đó NS 6.963 tỷ (TW 5.763 tỷ, ĐP 1.200
tỷ), phân ra giai đoạn 2010-2010 : 1.233 tỷ, 2011-2015 : 3.255 tỷ, 2016-2020 :
2.475 tỷ đồng . Vốn dân 770 tỷ đồng ;
+ Điện : tiếp tục đầu tư nâng cấp đường dây trung hạ thế, cải tạo các trạm biến
thế, trong đó tập trung ưu tiên đường dây hạ thế 0,4 KV để phục vụ sản xuất nông
nghiệp, tổng vốn đầu tư dự kiến : 2.634 tỷ, trong đó vốn doanh nghiệp 80 %,
Chương trình của Nhà nước và dân 20 %, phân ra giai đoạn 2010 - 2010 : 711 tỷ
(NS 141 tỷ, DN 570 tỷ), 2011 - 2015 : 1.161 tỷ (NS 231 tỷ, DN 930 tỷ), 2016-2020
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
: 762 tỷ đồng (NS 152 tỷ, DN 610 tỷ);
111
+ Trạm trại nông nghiệp: Tiếp tục nâng cấp các trại giống hiện có với đủ trang
thiết bị cần thiết như phòng kiểm định hạt giống, máy chế biến hạt giống, kho chứa,
mặt bằng sản xuất v.v. Tổng vốn đầu tư dự kiến : 160 tỷ, trong đó NS 60 tỷ (TW 30
tỷ, ĐP 30 tỷ), doanh nghiệp 100 tỷ, 2011 - 2015 : 83 tỷ (NS 30 tỷ, DN 53 tỷ), 2016-
2020 : 67 tỷ đồng (NS 25 tỷ, DN 42 tỷ)
+ Chợ nông thôn, chợ đầu mối nông sản : tập trung nâng cấp, xây dựng mới
mạng lưới 156 chợ nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó có các chợ đầu mối
nông sản như : Chợ nông sản thị trấn Ngã Năm, Chợ Trái cây thị trấn Kế Sách, tổng
vốn đầu tư dự kiến : 150 tỷ, trong đó NS 120 tỷ (TW 60 tỷ, ĐP 60 tỷ), 2011 - 2015 :
56 tỷ, 2016 - 2020 : 56 tỷ đồng . Vốn dân 30 tỷ đồng
Giải pháp huy động vốn đầu tư cho hạ tầng : chủ yếu là từ ngân sách thông
qua việc làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng dự án, cơ chế thông thoáng v.v. để
thu hút vốn, như: vốn Trái phiếu Chính phủ, vay vốn nước ngoài : vốn JBIC, Phát
triển thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2, vốn doanh nghiệp đầu tư vào điện lực, trại giống
nông nghiệp và vốn người dân thông qua đất đai, đầu tư của các trang trại v.v..
Riêng giao thông có thể huy động thêm từ các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư theo
hình thức BOT v.v.., vốn đầu tư phát triển lưới điện ngoài vốn doanh nghiệp ngành
điện là chính thì cần lồng ghép vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia v.v. .
Đầu tư vào lĩnh vực phát triển sản xuất :
Bao gồm vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ thực hiện chuyển giao kỹ thuật, xúc
tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường,…và vốn trực tiếp cho
phát triển sản xuất của doanh nghiệp và nông dân, phân ra:
+ Tổng nhu cầu vốn đầu tư ngắn hạn (dưới 1 năm) khoảng 11.576 tỷ
đồng/năm, chủ yếu vốn tự có của dân và nguồn vay tín dụng và đầu tư của các
doanh nghiệp
+ Tổng nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn (1 - 5 năm) khoảng 3.889 tỷ đồng,
trong đó NS 752 tỷ đồng, để hỗ trợ thực hiện chuyển giao kỹ thuật, xúc tiến thương
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
mại, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường v.v.(trồng trọt 144 tỷ, chăn nuôi 92
112
tỷ, xúc tiến thương mại 12 tỷ, đào tạo nguồn nhân lực 400 tỷ, bảo vệ môi trường 6
tỷ đồng), còn lại vốn dân và doanh nghiệp khoảng 3.137 tỷ đồng
Giải pháp huy động vốn đầu tư cho phát triển sản xuất: thông qua đầu tư
hoàn chỉnh hạ tầng phục vụ sản xuất, các chính sách ưu đãi như đất đai, thuế v.v.,
đảm bảo ổn định về pháp luật nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp, người
dân tập trung vốn đầu tư phát triển sản xuất.
Khai toán tổng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư kết cấu hạ tầng và
đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2020:
Dự kiến nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước:
- Vốn đầu tư phát triển hạ tầng chủ chốt: dự kiến 18.298 tỷ đồng, trong đó
ngân sách TW chiếm 65%, tương đương 11.894 tỷ đồng, bình quân: 991 tỷ
đồng/năm (riêng thủy lợi, giao thông ngân sách TW chiếm 75-80%), ngân sách ĐP:
chiếm 15%, tương đương 2.745 tỷ đồng, bình quân 228 tỷ đồng/năm, doanh nghiệp
và người dân chiếm 20%
- Vốn sự nghiệp kinh tế : ngân sách TW chiếm 50%, tương đương 376 tỷ
đồng, bình quân : 31,3 tỷ đồng/năm, ngân sách ĐP: 50%, tương đương 376 tỷ đồng,
bình quân 31,3 tỷ đồng/năm
3.2.3 Đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ:
Để nhằm mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, độ đồng đều, an toàn vệ
sinh thực phẩm, góp phần giảm chi phí sản xuất, giá thành, tăng giá trị sản phẩm, từ
đó tăng khả năng cạnh tranh và thu nhập cho nông dân
+ Đẩy mạnh chuyển giao về giống : với mục tiêu đến năm 2020 có thể cung
cấp giống xác nhận, giá rẻ, sạch bệnh cho hầu hết nông dân trong tỉnh, để làm được
điều này thì trước hết là tăng cường hợp tác Viện, hình thành hệ thống kết nối giữa
nghiên cứu, khảo nghiệm sản xuất và cung ứng các loại giống chủ lực, giống mới
trên địa bàn tỉnh, nâng cấp, duy trì và mở rộng mạng lưới sản xuất, cung ứng giống
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
cây trồng, vật nuôi, mạng lưới gieo tinh nhân tạo… tập huấn quy trình sản xuất
113
giống tại nông hộ… triển khai thực hiện một số chính sách trong một số lĩnh vực
cần thiết như hỗ trợ ngân sách, hỗ trợ lãi suất, không đánh thuế kinh doanh giống,
đào tạo nhân lực… từng bước nâng cao vai trò Nhà nước trong công tác quản lý
giống
+ Đẩy mạnh và cải tiến nội dung, phương pháp công tác khuyến nông,
khuyến ngư : Tiếp tục củng cố đội ngũ làm công tác khuyến nông, khuyến ngư để
thực sự là bạn của nhà nông trong thời kỳ hội nhập, quan tâm hơn mạng lưới
khuyến nông cấp xã và đội ngũ cộng tác viên ổn định thông qua một số chính sách
hợp lý để khuyến khích họ làm việc tốt, ổn dịnh lâu dài . Mở rộng quy mô, nội dung
trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là xây dựng mô hình sản xuất, tham quan học tập,
xúc tiến thị trường… Khuyến khích các hoạt động dịch vụ tư vấn cho đối tượng có
nhu cầu cao.
+ Đẩy mạnh công tác Bảo vệ cây trồng, vật nuôi: tiếp tục củng cố đội ngũ
làm công tác bảo vệ cây trồng, vật nuôi, xây dựng mạng lưới đến tận cơ sở và hoạt
động thường xuyên để làm tốt công tác dự tính, dự báo, phát hiện dịch bệnh và đưa
ra biện pháp phòng trị kịp thời . Tiếp tục quan tâm đẩy mạnh các chương trình lớn
chuyên ngành như: Chương trình IPM trên cây trồng, Chương trình “3 giảm, 3
tăng” trên lúa, Chương trình VietGAP, HACCP, Chương trình tiêm phòng, điều trị
bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật, kiểm soát
giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y, tiêu độc khử trùng, xây dựng vùng an toàn dịch.
3.2.4 Quy hoạch, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực:
Bao gồm đào tạo lao động nông nghiệp và lao động nông thôn cho công
nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu lao động v.v.. Ở cấp xã, phường, tổ chức quy hoạch đào
tạo các lĩnh vực chuyên ngành để làm tốt chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn
như : Quản lý kinh tế, trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ lợi, giao thông, điện lực, cơ khí
nông nghiệp... Ở các cơ sở sản xuất kinh doanh, trang trại, hộ nông dân, nhu cầu
đào tạo rất đa dạng, cả về tập huấn chuyên môn kỹ thuật, tay nghề theo từng lĩnh
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
vực cụ thể, đặc biệt là sử dụng máy móc cơ giới hóa trên đồng ruộng . Phương thức
114
đào tạo, điểm trường, thời gian, nội dung…cần hết sức linh hoạt để giảm chi phí, từ
đó khuyến khích được nhiều người đi học . Cần tính toán nhu cầu phát triển cụ thể
của từng địa phương trên từng lĩnh vực và nội dung đào tạo để quy hoạch nguồn
nhân lực cho phù hợp . Nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ trong đào tạo sử dụng
nguồn nhân lực . Tranh thủ hỗ trợ của các dự án hợp tác Quốc tế.
3.2.5 Tổ chức sản xuất gắn với thị trường:
- Trong ngành trồng trọt,giải pháp cần tập trung là hình thành các vùng sản
xuất lúa, màu, cây ăn trái tập trung để gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với chuyển
giao kỹ thuật, bảo quản, chế biến và thị trường.
+ Cây lúa : khuyến khích kinh tế trang trại, đồng thời đẩy mạnh phát triển
mô hình tổ hợp tác sản xuất để hình thành các vùng sản xuất lúa tập trung quy mô
lớn, thực hiện đầy đủ quy trình sản xuất lúa, tiếp tục đầu tư thủy lợi, giao thông,
điện theo chiều sâu để phục vụ tốt hơn cho sản xuất, giảm chi phí, khuyến khích đầu
tư thêm nhà máy xay xát lúa gạo, đặc biệt là đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ,
đầu tư kho trữ lúa gạo theo hướng từng bước nâng cấp công nghệ bảo quản hiện đại,
mở rộng xuất khẩu, quản lý nhà nước đầu vào và đầu ra sản phẩm
+ Cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày: tập trung hình thành vùng chuyên
canh màu, quan tâm áp dụng giống mới, an toàn vệ sinh thực phẩm, khuyến khích
mô hình luân canh, xen canh, quan tâm đầu tư thủy lợi nội đồng thật hoàn chỉnh
đồng bộ, nhằm chủ động hoàn toàn nguồn nước, hạn chế tối đa ngập úng, từng bước
cơ giới hóa trong chăm sóc, thu hoạch, đặc biệt là đối với cây mía
+ Cây ăn trái : quan tâm xây dựng vùng cây ăn trái tập trung chất lượng cao,
an toàn vệ sinh thực phẩm, quản lý và hướng dẫn nông dân trong việc chọn giống
chất lượng cao, bố trí vùng cây ăn trái phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, nguồn nước,
quan tâm hợp tác liên kết trong sản xuất, xây dựng thương hiệu sản phẩm, chế biến,
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
tiêu thụ
115
- Trong ngành chăn nuôi, giải pháp chính cần tập trung là tổ chức lại sản xuất
ngành chăn nuôi và giết mổ, chế biến, tăng cường hệ thống kiểm soát chất lượng
con giống, thức ăn chăn nuôi, an toàn vệ sinh thực phẩm và môi trường
+ Chăn nuôi trâu bò: tập trung phát triển theo quy mô hộ gia đình là chính,
kết hợp với phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại gắn với phát triển đồng cỏ có
giống tốt để cho năng suất, chất lượng cao và thức ăn chăn nuôi công nghiệp, hướng
dẫn nông dân chăn nuôi an toàn từ khâu chuồng trại đến chăm sóc, phòng trừ dịch
bệnh, vệ sinh môi trường, vỗ béo trâu bò, vận chuyển tiêu thụ.
+ Chăn nuôi heo : tổ chức lại chăn nuôi theo hướng trang trại công nghiệp gắn
với giết mổ chế biến tập trung công nghiệp, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và
bảo vệ môi trường, tăng cường công tác cải tiến giống, xây dựng mạng lưới sản
xuất con giống tại chỗ thông qua việc hỗ trợ giống đực và cái, ưu tiên giống đực để
phục vụ nhu cầu sản xuất giống thương mại, kết hợp chăn nuôi heo với trồng trọt,
nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là có chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ
Biogas để tận dụng và xử lý nguồn chất thải nhằm làm tăng hiệu quả chăn nuôi, bảo
vệ môi trường, kết hợp tốt thức ăn công nghiệp với nguồn thức ăn sẵn có để giảm
chi phí.
+ Chăn nuôi gia cầm : tổ chức lại chăn nuôi gà theo hướng chăn nuôi công
nghiệp, an toàn sinh học thông qua việc xây dựng chuồng trại, chọn lọc con giống,
chọn lựa thức ăn, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, xây dựng tường rào ngăn cách, hệ
thống xử lý chất thải, vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại và môi trường chăn
nuôi. Tiếp tục quan tâm đẩy mạnh chăn nuôi vịt quy mô lớn, kiểm soát chặt, phát
triển chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học, tăng cường kiểm soát vận chuyển,
kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm soát giết mổ và tiêu thụ; tăng cường năng lực cho cán
bộ thú y cấp xã để làm tốt công tác thông tin dự báo, tiêm phòng, điều trị bệnh, bao
vây khống chế dịch bệnh ngay tại cơ sở
Tóm lại, để ngành nông nghiệp Sóc Trăng phát triển ngày càng hiệu quả, ổn
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
định, bền vững theo con đường CNH thì cần các giải pháp đồng bộ, song quan trọng
116
nhất là tổ chức sản xuất để hình thành được các vùng sản xuất cây con tập trung, có
nhiều lợi thế trên các vùng sinh thái của tỉnh, mà muốn hình thành được các vùng
sản xuất tập trung thì sắp tới phải tập trung mạnh hơn cho đầu tư kết cấu hạ tầng
phục vụ sản xuất đồng thời phải đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại và tổ kinh tế
hợp tác làm sao phủ khắp trên địa bàn sản xuất toàn tỉnh, có như vậy mới tạo điều
kiện để chuyển giao khoa học công nghệ, từ đó mới tạo ra khối lượng hàng hóa lớn,
chất lượng cao, giá thành thấp, lợi nhuận cao
3.2.6 Bảo vệ môi trường bền vững:
- Quan tâm bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi một cách hợp lý nhất về giống,
thời vụ, đặc biệt là sử dụng giống, phân bón, thức ăn hợp lý, khuyến khích mô hình
sản xuất luân canh, xen canh, đa canh, hạn chế trồng lúa 3 vụ và nuôi tôm sú 2
vụ/năm
- Quan tâm quản lý tài nguyên nước như : sử dụng tiết kiệm nước, quản lý
đầu vào và đầu ra của nguồn nước cho các mục tiêu phục vụ, kiểm soát chất lượng
nước, thực hiện tốt pháp lệnh về bảo vệ và khai thác tài nguyên nước mặt, nước
ngầm.
- Khuyến khích sử dụng các chế phẩm sinh học, tổ chức đánh giá môi trường
đất và nước…để có biện pháp bảo vệ môi trường trong vùng
- Đẩy mạnh truyền thông dưới mọi hình thức và sự tham gia tích cực của các
cấp các ngành, đoàn thể chính trị, xã hội là giải pháp tốt nhất để bảo vệ và phát triển
bền vững môi trường, tăng cường kiểm tra và thực hiện các biện pháp hành chính
đủ mạnh để răn đe, giáo dục tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh luật Bảo vệ
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
môi trường.
117
KẾT LUẬN
Nông nghiệp phát triển là điều kiện tiên quyết để CNH thành công: cung cấp
đủ lương thực, thực phẩm, nguyên liệu và lao động phục vụ phát triển công nghiệp.
Nông nghiệp phải thường xuyên đảm bảo nguồn cung ổn định về nông sản giá thấp
thì mới duy trì được mức lương ổn định cho lao động xã hội. Như vậy, nông nghiệp
là ngành sản xuất vật chất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Việc
nghiên cứu, phát triển nông nghiệp trên địa bàn cả nước nói chung, trên mỗi vùng,
miền, địa phương nói riêng cho hợp lí là vấn đề cấp thiết đối với nước ta để tiến
hành CNH thành công.
Riêng đối với Sóc Trăng là tỉnh nghèo, mới tái lập từ 1992 nên việc nghiên
cứu phát triển nông nghiệp của tỉnh có ý nghĩa rất to lớn. Nghiên cứu để đưa ra cái
nhìn tổng thể về hiện trạng phát triển và phân bố nông nghiệp từ đó đưa ra những
phương hướng, giải pháp để phát triển nông nghiệp hợp lí, mang lại hiệu quả cao
góp phần tích cực cho công cuộc CNH của đất nước . Qua thực tế nghiên cứu về
hiện trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng tác giả có một số nhận
định sau:
Sóc Trăng là tỉnh có rất nhiều lợi thế tự nhiên để phát triển một nền sản xuất
nông nghiệp hàng hóa mạnh, nhưng hiện tại sản xuất còn nhiều hạn chế nên hiệu
quả chưa cao, thu nhập GTSX /01ha đất nông nghiệp còn thấp, chưa tương xứng
với tiềm năng sẵn có, có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản vẫn là do kết cấu hạ
tầng phục vụ sản xuất còn yếu kém, nguồn nhân lực và lao động chưa đáp ứng với
nhu cầu sản xuất hàng hóa, cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện, đặc biệt ở khâu
đầu vào, đầu ra của sản phẩm nông thủy sản còn nhiều bất cập . Vì vậy chi phí sản
xuất còn cao và lợi nhuận thấp, không đủ tái sản xuất và mở rộng, chất lượng chưa
cao, hao hụt, rủi ro trong sản xuất còn lớn, khả năng cạnh tranh trên thị trường còn
hạn chế.
Tóm lại, với lợi thế tự nhiên, KT - XH ngành nông nghiệp Sóc Trăng rất có
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
điều kiện để sản xuất ra nhiều sản phẩm có năng suất, chất lượng cao, khối lượng
118
lớn, giá thành hạ, đặc biệt là lúa gạo, cá da trơn, cây ăn trái, rau màu thực phẩm…
Vấn đề đặt ra trong thời gian tới là cần tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản
xuất, tổ chức lại sản xuất theo hướng thị trường thì khả năng cạnh tranh hàng nông
sản Sóc Trăng trên thị trường là rất lớn.
KIẾN NGHỊ
Để khắc phục những hạn chế trong nông nghiệp như đã nêu trên thì tỉnh Sóc
Trăng phải:
+ Quan tâm mạnh hơn nữa đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt là hạ
tầng thủy lợi, giao thông, điện…để giúp cho sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh
về năng suất chất lượng, giảm thiểu rủi ro, giảm chi phí sản xuất.
- Đối với hệ thống thủy lợi, ngoài đầu tư công trình chính, công trình bức xúc,
nên ưu tiên đầu tư theo dạng khép kín đồng bộ gắn với từng dự án phát triển sản
xuất, đặc biệt là các dự án phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực có giá trị kinh tế
cao để huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư, có như vậy thì hệ thống mới đầu tư
nhanh và phát huy hiệu quả cao .
- Đối với mạng lưới giao thông, cần tập trung đầu tư giao thông đường bộ, ưu
tiên mở rộng mặt đường và nâng cấp tải trọng các tuyến đường tỉnh, đường huyện,
các tuyến giao thông gắn với dự án sản xuất nông nghiệp để tạo điều kiện mở rộng
sản xuất, đề ra những chính sách hấp dẫn về thu phí giao thông để huy động vốn từ
doanh nghiệp và người dân đầu tư vào công trình giao thông, đặc biệt là cầu giao
thông, các tuyến giao thông phục vụ sản xuất.
- Đối với công trình điện cần quan tâm đầu tư mở rộng mạng lưới các cấp, đặc
biệt là mạng lưới điện hạ thế 3 pha (0,4 KV) cho các vùng có cây con chủ lực có
nhu cầu cao về bơm nước như vùng sản xuất lúa - màu, vùng nuôi thủy sản nước lợ
…để thay thế dần các loại máy xăng, dầu nhằm góp phần giảm chi phí và phát triển
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
dịch vụ nông thôn .
119
- Quan tâm hơn nữa đầu tư mới và nâng cấp trạm trại nông nghiệp, kho trữ lúa
gạo và hàng nông thủy sản, mạng lưới chợ nông thôn nhằm làm tốt hơn công tác
giống, chuyển giao khoa học công nghệ, điều tiết và phát triển thị trường
+ Quan tâm mạnh hơn nữa đào tạo nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông
dân và nông thôn, nhằm tạo ra đội ngũ lao động có kiến thức cơ bản, có tay nghề để
làm việc trong ngành nông nghiệp, các ngành dịch và chuyển sang các ngành công
nghiệp
- Đối với đào tạo lao động làm nông nghiệp, cần tăng kinh phí cho công tác
khuyến nông khuyến ngư để mở rộng địa bàn, đối tượng, quy mô, đổi mới phương
pháp, nội dung, hình thức, tăng cường thời lượng chuyển giao khoa học kĩ thuật
công nghệ trên các phương tiện thông tin để thu hút được đông đảo lao động nông
nghiệp tham gia, cập nhật thường xuyên kiến thức, trình độ sản xuất, đặc biệt là các
quy trình sản xuất nông sản phục vụ xuất khẩu
- Đối với đào tạo lao động làm dịch vụ, cần mở ra các trường dạy nghề dịch
vụ ở ngay địa bàn nông thôn, nhất là dịch vụ sửa chữa cơ khí, máy móc nông
nghiệp, điều kiển máy nông nghiệp…để đáp ứng nhu cầu cơ giới hóa trong nông
nghiệp ngày 1 tăng nhanh
+ Quan tâm mạnh mẽ đến vấn đề tiêu thụ hàng nông, thủy sản, đặc biệt là
hàng nông sản xuất khẩu,để người nông dân có định hướng sản xuất đúng, từ đó yên
tâm đầu tư vào sản xuất theo nhu cầu đòi hỏi của thị trường và mang lại thu nhập
cao và ổn định cho người nông dân
Hầu hết hàng nông sản Sóc Trăng được đánh giá là có chất lượng tốt, thơm
ngon đậm đà rất được ưa chuộng trên thị trường, nếu làm tốt công tác xúc tiến
thương mại kết hợp với làm tốt chuyển giao khoa học công nghệ, tổ chức lại sản
xuất…thì chắc chắn sản phẩm làm ra sẽ có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
trường.
120
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Văn Bích, năm 2007. Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau hai
mươi năm đổi mới quá khứ và hiện tại, NXB Chính trị Quốc gia.
[2] Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2008. Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam
trong bối cảnh xu thế phát triển của kinh tế thế giới đến năm 2020, NXB Hà Nội.
[3] Cục thống kê Sóc Trăng, năm 2005. 30 năm Sóc Trăng xây dựng và phát
triển
[4] Cục thống kê Sóc Trăng, năm 2000, 2001, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009,
2010, Niên giám thống kê.
[5] PGS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa, PGS.TS.
Đặng Hữu Toàn (Đồng chủ biên), năm 2002, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam lí luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia.
[6] PGS.TS. Nguyễn Sinh Cúc, năm 2003, Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
thời kì đổi mới (1986 – 2002), NXB Thống Kê.
[7] Đỗ Thị Minh Đức, năm 2008, Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam
(Tập 1,2), NXB ĐHSP.
[8] Hội khoa học đất Việt Nam , năm 1996, Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp
Hà Nội.
[9] PGS.TS. Lâm Quang Huyên, năm 2002, Nông nghiệp nông thôn Nam Bộ
hướng tới thế kỉ 21, NXB Khoa học xã hội.
[10] GS.TS. Nguyễn Thế Nhã, PGS.TS. Vũ Đình Thắng, năm 2004. Giáo trình
Kinh tế nông nghiệp. NXB Đại học KTQD.
[11] Nhiều tác giả, năm 2000, Đồng bằng sông Cửu Long đón chào thế kỉ 21.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
NXB Văn Nghệ TPHCM.
121
[12] Nhiều tác giả, năm 2008. Nông dân, nông thôn, nông nghiệp những vấn
đề đang đặt ra. NXB Tri thức.
[13] PGS.TS. Đặng Văn Phan, năm 2009, Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt
Nam thời kì hội nhập, Trường Đại học Cửu Long.
[14] PGS.TS. Đặng Văn Phan, năm 2008, Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt
Nam, NXB Giáo dục.
[15] Đặng Kim Sơn, năm 2008, Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam
hôm nay và mai sau, NXB Chính trị quốc gia.
[16] Đặng Kim Sơn, năm 2006, Nông nghiệp nông thôn Việt Nam 20 năm đổi
mới và phát triển, NXB Chính trị quốc gia.
[17] Đặng Kim Sơn, năm 2001, Công nghiệp hóa từ nông nghiệp lý luận thực
tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp.
[18] Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Báo cáo tình hình sản xuất nông
nghiệp từ 2000 đến 2010
[19] Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Đề án phát triển ngành trồng
trọt tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020
[20] Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Báo cáo tổng hợp Quy hoạch
phát triển Nông nghiệp nông thôn tỉnh Sóc Trăng đến 2020
[21] Ngô Đăng Thành (Chủ biên), năm 2009, Các mô hình công nghiệp hóa
trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia.
[22] Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức, năm 2006, Giáo trình Địa lí kinh
tế xã hội Việt Nam ( Tập 1: phần Đại cương), NXB Giáo dục.
[23] GS.TS. Lê Thông (Chủ biên), năm 2006. Địa lí các tỉnh và thành phố
Việt Nam (tập 6: Các tỉnh và thành phố Đồng bằng sông Cửu Long ). NXB Giáo
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
dục.
122
[24] GS.TS. Lê Thông (Chủ biên), năm 2007. Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam.
NXB Đại học Sư phạm.
[25] Thời báo kinh tế Việt Nam, năm 2010. Kinh tế 2009 – 2010 Việt Nam và
thế giới.
[26] Tổng Cục thống kê, Niên giám thống kê 2000, 2005, 2010. NXB Thống
kê.
[27] PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên), GS.TS. Nguyễn Viết Thịnh,
GS.TS. Lê Thông, năm 2007. Địa lí kinh tế - xã hội đại cương, NXB Đại học Sư
phạm.
[28] PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên), năm 2009. Địa lí các vùng kinh
tế Việt Nam. NXB Giáo dục.
[29] Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp & Phát triển
nông thôn, 2008, 2009, 2010 Thống kê Nông – lâm – thuỷ sản.
[30] Một số trang WEB:
www.agroviet.gov.vn : Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp & Phát triển
nông thôn
www.cuctrongtrot.gov.vn : Cục trồng trọt
www.fao.org : Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Liên Hợp Quốc (FAO)
www.vaas.org.vn : Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
www.gso.gov.vn : Tổng cục thống kê

