intTypePromotion=1
ADSENSE

Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện nay và những vấn đề lý luận cơ bản vận dụng cho Việt Nam: Phần 2

Chia sẻ: ViSatori ViSatori | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:202

38
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nối tiếp nội dung phần 1, phần 2 của tài liệu Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện nay và những vấn đề lý luận cơ bản vận dụng cho Việt Nam tiếp tục trình bày việc đánh giá tác động của lý luận đối với thực tiễn, dự báo một số xu hướng chính tác động đến quản lý và phát triển xã hội trong thập niên tới, đề xuất hệ giải pháp bảo đảm thúc đẩy phát triển xã hội bền vững và hoàn thiện quản lý phát triển xã hội theo các nguyên tắc dân chủ và hiện đại. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện nay và những vấn đề lý luận cơ bản vận dụng cho Việt Nam: Phần 2

Chương 4<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ THÀNH T ự ư LÝ LUẬN<br /> VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ<br /> PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM<br /> QUA 25 NĂM ĐỔI MỚI (1986-2010)<br /> I- NHẬN THỨC LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ<br /> NƯỚC TA VỀ PHÁT TRIỂN XẢ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT<br /> TRIỂN XẢ HỘI QUA 25 NĂM Đ ổ i MỚI (1986-2010)<br /> <br /> 1.<br /> Những hạn chế trong tư duy lý luận của<br /> Đảng, Nhà nước ta về phát triển xã hội và quản lý<br /> phát triển xã hội trước đổi mới<br /> Từ khi miền Bắc được giải phóng, b ắ t tay xây dựng<br /> chủ nghĩa xã hội, p h á t triể n xã hội trở t h à n h m ột bộ<br /> p h ậ n cấu th à n h chỉnh th ể p h á t triể n quốc gia - dân tộc,<br /> với nhiều nội dung rộng lớn và phức tạp, từ lao động và<br /> việc làm, bảo đảm các điều kiện sin h h oạt của n h â n dân,<br /> bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, p h á t triể n giáo dục, phòng<br /> và chống tệ n ạ n xã hội,... Đây là những v ấn đề liên quan<br /> trực tiếp đến cuộc sống h ằ n g ngày, h ằ n g giờ của n h â n<br /> dân, p h ả n á n h nhu cầu định hình các giá trị của chê độ<br /> mới và liên quan ch ặt chẽ đến thực hiện các nhiệm vụ<br /> phát triển kinh tế, văn hóa, bảo đảm an ninh, quốc phòng.<br /> 336<br /> <br /> Trước đổi mới, p h á t triể n xã hội và quản lý p h á t triể n<br /> được thực h iệ n tro ng những điều kiện chiến tra n h kéo dài<br /> và duy trì th ê chê k in h tê kê hoạch hóa tậ p trung bao cấp<br /> với mấy dặc đ iểm chủ yếu:<br /> - T ư tưởng bình quăn chủ nghĩa còn ảnh hưởng răt<br /> nặng nề trong xã hội. P h á bò xã hội cũ b ấ t công đã khó,<br /> nhưng kiến tạo m ột xã hội mới công bằng, bình đẳng<br /> lại càng khó hơn. Hai nguy cơ thường trực đ ặ t ra đối với<br /> th ế chê cầm quyền trong th iế t kê chính sách p h á t triể n<br /> xà hội mới là: 1) Tái lập các quan hệ bóc lột mới, n h ấ t<br /> là trong điều kiện sử dụng các yếu tô k in h tê tư bản chủ<br /> nghĩa để p h á t triể n lực lượng sản xuất; 2) Rơi vào chủ<br /> nghĩa bình quân, do t à n dư của tư tưởng tiểu nông còn ả n h<br /> hưởng n ặ n g nề tron g xã hội và cả trong tư duy lã n h đạo,<br /> mà trong nhiều trường hợp ngộ n h ậ n là công bằng, bình<br /> đẳng. T rên thực tế, trong quá trìn h xây dựng chủ nghĩa xã<br /> hội trước đổi mới, chúng ta đã bị rơi vào nguy cơ thứ hai.<br /> - C hịu tác đ ộ n g bởi hoàn cảnh chiến tranh, n ê n chính<br /> sách p h á t tr iể n xã hội vừa p hải làm n h iệ m vụ huy dộng<br /> sức d â n , vừa p h ả i bồi dưỡng sức d â n . Huy động sức dân<br /> cho k h á n g chiến đòi hỏi phải giải quyết tố t những vấn<br /> đề về mô h ìn h tổ chức và phương p h á p tiế n h à n h n h ằ m<br /> bảo đảm k h ả n ă n g động viên sức người, sức của ở mức<br /> cao n h ấ t và k hô n g d ẫ n tới các b ấ t ổn ở h ậu phương, m à ở<br /> đó cơ chê kê hoạch h ó a tậ p tru n g bao cấp và chê độ công<br /> hừu có những k h ía cạn h phù hợp. Bồi dưỡng sức d ân vừa<br /> th ế hiện b ả n c h ấ t của chế độ, vừa tạo tiề m lực để huy<br /> động được sức d â n m ộ t cách ổn định, lâu dài phục vụ cuộc<br /> k h á n g chiến.<br /> 337<br /> <br /> - Quản lý p h á t triển xã hội được thực h iện trong điều<br /> kiện duy trì mô h ình kinh tế “công hữu, k ế hoạch hóa,<br /> p h i th ị t r ư ờ n g Theo quan niệm lúc bấy giờ, việc thù tiêu<br /> các hình thức sở hữu tư n h â n sẽ tạo được công bằn g xã<br /> hội ngay từ quyền sở hữu tư liệu sản xuất và nhờ đó “triệ t<br /> tậ n gốc” các b ấ t bình đẳng nảy sinh từ chế độ tư hữu. Kê<br /> hoạch hóa nền kinh t ế sẽ cho phép gắn k ế t giữa khâu sản<br /> xuất với khâu ph ân phối k ế t quả sản xuất b ằ n g áp đ ặ t ý<br /> chí của N hà nước, bằng bao cấp từ tư liệu sản xu ấ t đến tư<br /> liệu tiêu dùng, hiện vật hóa chế độ tiền lương. T h iế t lập<br /> sự quản lý trực tiếp của Nhà nước thô ng qua “thị trường<br /> có tổ chức” sẽ tr iệ t tiêu được các biểu hiện tự p h á t của<br /> “thị trường tự do” có nguy cơ đẩy xã hội đến rối loạn, ả n h<br /> hưởng tiêu cực đến đời sống của n h â n dân.<br /> - Quản lý p h á t triển xã hội được thực h iện bang ý chí<br /> tuyệt đối của N h à nước, không n h ậ n thức đ ầ y đủ vai trò<br /> của các chủ th ể ngoài nhà nước và n h â n d â n tham gia<br /> p h á t triển xã hội. v ề đầu tư, quan niệm lúc bấy giờ cho<br /> rằng, đầu tư của N hà nước gần như là nguồn lực tuyệt<br /> đối để thực hiện các chính sách p h á t triể n xã hội. v ề<br /> p h â n phối, N hà nước thực hiện bằn g bao cấp giá trị hiện<br /> vậ t cho dân và được xem là cách thức tối ưu, k h ẳ n g định<br /> tín h c h ất “vì d â n ” của chê độ và nhờ đó bảo đảm công<br /> bằng, bình đẳng. Trong trường hợp này, người Hân là đối<br /> tượng trô ng chờ thụ hưởng chính sách p h á t triể n xã hội<br /> của N hà nước mà không phải là chủ th ể k iến tạ o nên các<br /> chính sách ấy.<br /> C hính sách p h á t triể n xã hội nêu tr ê n phù hợp với<br /> yêu cầu của đấ t nước trong ho àn cảnh gặp chiến tra n h ,<br /> 338<br /> <br /> n h ấ t là báo đ á m sự ôn định cùa hậu phương thô ng qua<br /> các chê độ tương trợ lao động, điều hòa lương thực - thực<br /> p hẩm , p h â n phối b ằ n g hiện vật...; xây dựng được m ột<br /> xã hội tron g t r ậ t tự và ổn định, con người sống có trách<br /> nhiệm với nhau. Nhưng việc kéo dài mô h ìn h p h á t triể n<br /> xã hội nêu trê n khi chiến tra n h k ế t thúc đã dẫn tới những<br /> hậu quả tiêu cực:<br /> - Việc th ủ tiêu các hình thức sở hữu tư n h â n về tư liệu<br /> sản xuât - m à lẽ ra chúng còn tồn tạ i khách quan trong<br /> thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - đã tr i ệ t tiêu động<br /> lực lợi ích mà các h ình thức sở hữu ấy tạo ra. C h ế độ công<br /> hừu được th iế t lập nóng vội chẳng những không có tác<br /> dụng “kéo” lực lượng sản xuất p h á t triể n , m à còn “kìm<br /> h ã m ” lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất bị kìm h ãm<br /> đã đây n ề n k in h t ế lâm vào khó k h ă n , khủn g h o ản g và<br /> do đó khôn g đủ các điều kiện v ậ t c h ất tối thiểu đáp ứng<br /> các nhu cầu p h á t triể n xã hội.<br /> - Việc th u ầ n túy dựa vào nguồn lực của N hà nước<br /> th ô n g qua bao cấp đã t r i ệ t tiêu k h ả n ă n g huy động các<br /> nguồn lực tro n g xã hội để p h á t tr iể n xã hội. Khi nguồn<br /> viện trợ b ên ngoài bị suy giảm , s ả n x u ấ t tro n g nước bị<br /> đình trệ , N h à nước k h ô ng còn k h ả n ă n g để “bao c ấp ” th ì<br /> các v ấ n đề xã hội càng bức xúc, - và khi khó k h ă n về xã<br /> hội càng bức xúc thì càn g tác động tiêu cực đối với n ề n<br /> sả n xuất, tạo n ê n vòng luẩn quẩn của khủng hoảng kinh<br /> tê - xả hội.<br /> - T h iế t lập hệ th ố n g “thị trường có tố chức” để p h â n<br /> phối k ế t quả s ả n xuất b ằ n g biện p h á p h à n h chính m ệ n h<br /> 339<br /> <br /> lệ n h đã tạo n ên những b ấ t b ìn h đẳng chính tron g hệ<br /> th ố n g ấy. Lực lượng n ắ m giữ “th ị trường có tố chức” trở<br /> t h à n h m ột tầ n g lớp đặc quyền tro ng thụ hưởng các tư liệu<br /> tiêu dùng hoặc tuồn h à n g ra “th ị trường tự do” đế thu lợi<br /> b ấ t chính. Nền kinh tê càn g gặp khó k h ă n th ì b ấ t bình<br /> đ ẳ n g nảy sinh từ hệ th ố n g p h â n phối ấy càng tã n g lên,<br /> với các tệ n ạ n đầu cơ, tích trữ, găm hàng , móc ngoặc,...<br /> là m cho đời sống người d â n càn g th ê m khó kh ă n .<br /> -<br /> <br /> P h â n phối bình qu ân chủ nghĩa đã tách rời giữa lao<br /> <br /> động và k ế t quả lao động, th o á t ly nguyên tắc p h â n phối<br /> th eo lao động vẫn được k h ẳ n g đ ịnh trê n nguyên lý. Kéo<br /> dài p h â n phối theo kiểu b ìn h quân chủ n ghĩa đã gây ra<br /> tìn h trạ n g trì trệ, lười biếng, ỷ lại, tr i ệ t tiêu mọi năng<br /> lực sán g tạo của người lao động. Các biểu h iện “dong công<br /> phó ng điểm ” trong các hợp tá c xã nông nghiệp hoặc tắc<br /> trá c h lao động trong các các xí nghiệp quốc doanh là hệ<br /> lụy của chê độ quản lý và p h â n phối ấy.<br /> Khủng hoảng kinh tê - xã hội diễn ra vào cuối th ậ p<br /> kỷ 70, đầu 80 th ê kỷ XX là h ệ quả của mô h ìn h k in h tê và<br /> ch ín h sách p h á t triể n xã hội n êu trê n , đòi hỏi Đ ảng phải<br /> đổi mới quan niệm về c h ín h sách p h á t triể n xã hội và xử<br /> lý mối quan hệ giữa p h á t tr i ể n k in h tê với p h á t triể n xã<br /> hội sao cho vừa định h ìn h được giá trị của chủ n ghĩa xả<br /> hội, vừa tạo động lực th ú c đẩy tă n g trưởng k in h tế. Đối<br /> mới trở th à n h m ện h lệ n h của cuộc sống, của chủ nghĩa<br /> xã hội, là nhu cầu cả từ p h ía Đ ả n g và n h â n dân, trong đó<br /> có đổi mới tư duy n h ậ n thức về p h á t triể n xã hội và quản<br /> lý p h á t triể n xã hội.<br /> 340<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2