Những Phê Phán về Chủ Nghĩa Tư
Bản, phụ lục-PHN1
Phê Phán Ch Nghĩa Đế Quốc: Hobson và Lenin
Trong số những nhà kinh tế chúng ta đã nói đến, tất cả quan tâm
của họ đều hướng về thuyết trọng thương, xu thế phát triển ra
quốc tế của tư bản chủ nghĩa, ngoại thương, đầu tư . Cuộc
tranh luận diễn ra bàn về những nguyên nhân dẫn đến thành
công nhất cho xu hướng này nhưng chẳng có ai đặt nghi vấn về
mc đích khát vọng của nó. Những người theo thuyết trọng
thương muốn hàng hoá mình được xuất khẩu đi (và cả đầu tư ở
những nơi họ đã tạo điều kiện thuận lợi cho mậu dịch) và những
người theo thuyết cổ điển thì lại muốn sử dụng bằng những
phương pháp riêng của mình (dùng những chính sách nhà nước
nhằm tạo rào cản đối với hàng nhập khẩu). Smith chỉ phê phán
chủ nghĩa thực dân mt khi ông thấy rằngđang làm mt dần đi
những cơ hội thông thương và ông cũng chẳng bao giờ nghi ngờ
vmục đích thật sự của việc mậu dịch và đầu tư.
Thm chí trong bài phân tích của Marx về sự lớn mạnh và phát
triển của chủ nghĩa tư bản, mặc dù ông có nhận thức sâu sắc về
hiện tượng chủ nghĩa thực dân và sự phát triển của các nước đế
quốc, nhưng ông nhận thấy rằng cả hai vấn đề này cũng chính là
những đặc tính tích luỹ tư sản -- c hai đây được hiểu như
sự phát triển và quá trình tích lu của các giai cấp - và do vậy ông
cho nó là "điều bình thường". Ngay cả trong Bản Tuyên Ngôn
Cộng Sản, Marx nghĩ rằng chủ nghĩa tư bản chính là một hiện
tượng đang ngày một lan rộng khắp toàn cầu:
"Giai cấp tư sản thông qua bốc lột thị trường thế giới đã áp đặt
mt phương thức mang tính toàn cầu vào quá trình sản xuất cũng
như tiêu thụ vào từng quốc gia. Và điều này tht đáng xấu hổ,
đã lôi kéo cả những ngành mà by lâu nay người dân luôn bám
vào. Tất cả những ngành cũ kỹ lỗi thời này đãđang bị mai một
dần. Chúng bị đào thải bởi những ngành mới hơn, những ngành
đang trở thành vn đề sống còn cho tất cả những quốc gia tiên
tiến, những ngành chế biến không dùng nguyên vật liệu tại chổ
nửa mà dùng nguyên vật liệu từ cả những vùng xa xôi khác,
những ngành mà sản phẩm của nó không những được tiêu th
trong nước mà còn vươn ra cả thế giới."
Ông cũng quan tâm đến nước Anh đã thôn tính Ai-Len thế nào
cả cái cách mà Anh dùng những gì bốc lột được từ tầng lớp lao
động Ai-Len để mở rộng chủ nghĩa tư bản của mình. Những
người Ai-Len b ép buộc làm việc và bị đánh thuế (nhớ rằng chính
William Petty đã đặt ra thứ thuế đó) và họ bị "xuất" sang Anh
nhằm được dùng để đối phó với những công nhân đình công tại
đây. Tư sản Anh dùng quốc tịch và tính vô thần để duy trì cai tr
tầng lớp lao động bị tách biệt này:
"Tầng lớp lao động ở mỗi trung tâm công nghiệp hay trung tâm
thương mại ở Anh đều được chia ra làm hai phe cả, một là giai
cấp vô sản Anh, hai là giai cấp vô sản Ai-Len. Những công nhân
bản xứ Anh không ưa gì những công nhân người Ai-Len, họ xem
những người Ai-Len này như đối thủ của họ vậy bởi vì cnh
những người này đã làm giảm đi mức sống của họ. Những người
công nhân Anh còn tự xem mình như là thành viên của giai cấp
thống trị và hiển nhiên họ trở thành công cụ của giai cấp quý tộc
và tư sản Anh chống lại người Ai-Len, do vậy họ tự nâng cao vị
trí thống trị của mình. Họ còn có những định kiến chống lại người
Ai-Len về tôn giáo, về vấn đề xã hội hay quốc gia. Thái độ này
của họ đối với nguời Ai-Len cũng giống như thái độ của những
"người dân da trắng nghèo" đối với những người dân da đen thời
nô lệ ở Mỹ trước đây vậy. Còn người Ai-Len đáp lại bằng cách
chỉ quan tâm đến vấn đề tiền bạc. Họ xem những công nhân Anh
là như những kẻ đồng loã và là thứ công cụ ngu ngốc của giai
cấp thống trị Anh ở Ai-Len.
Điều đối kháng này bduy trì một cách giả tạo và bị thổi phồng lên
bởi báo chí, kinh thánh, truyện tranh, nói chung là bằng tất cả
những phương tiện do giai cấp tư sản đưa ra. Đối với tầng lớp
lao động Anh, chuyện này họ hoàn toàn mù tịt mặc dù họ có tổ
chức đàng hoàng. Sở dĩ chuyện này được giữ kín như thế là do
giai cấp tư sản muốn duy trì quyn lực của mình. Và chỉ có họ
mới thật sự biết được điều này".
Ông cũng nghiên cứu đến đế quốc Anh tại Ấn Độ, đến vai trò của
công ty Đông Ấn (East Indies Company) và đến cả những cách
người Anh dùng để bốc lột sức lao động của công nhân Ấn và
độc quyền cả những thị trường nước này. Nhưng trong những
bài viết của mình, Marx chỉ đưa ra những mt khác nhau của
"chủ nghĩa đế quốc" chứ không hề đưa ra bất kỳ một học thuyết
riêng nào dành cho nó. Nhưng do từ lâu trước đây, tư bản đã trãi
rộng khắp thế giới, nên Marx cảm thấy chưa cần thiết lắm để đưa
ra một học thuyết riêng như thế để phê phán cái xu hướng mang
tính quốc tế này trong những bài phê bình chủ nghĩa tư bản của
mình.
Tuy nhiên vào thế kỷ 19, khi những tham vọng quyền lực của
những nước đế quốc cũng như những hành động thôn tính của
tư bản ngày càng rộng lớn ở nhiều nước, thì đã làm xuất hiện hai