intTypePromotion=1

Phương pháp giải tích xác định hiệu quả truyền ứng suất trong khối đắp khi sử dụng phương pháp khối đắp trên nền đất yếu gia cố bằng cọc cứng

Chia sẻ: Nguyễn Kim Tuyền Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
3
lượt xem
0
download

Phương pháp giải tích xác định hiệu quả truyền ứng suất trong khối đắp khi sử dụng phương pháp khối đắp trên nền đất yếu gia cố bằng cọc cứng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích những ứng xử cơ học để làm rõ cơ chế làm việc của khối đắp trên nền đất yếu gia cố bằng cọc cứng.Ngoài ra, bài báo cũng tiến hành phân tích một số các phương pháp giải tích nhằm xác định hiệu quả truyền ứng suất bên trong khối đắp đang được sử dụng phổ biến trên thế giới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phương pháp giải tích xác định hiệu quả truyền ứng suất trong khối đắp khi sử dụng phương pháp khối đắp trên nền đất yếu gia cố bằng cọc cứng

  1. Journal of Mining and Earth Sciences Vol. 61, Issue 6 (2020) 81 - 87 81 Analytical methods for stress transfer efficacy in the piled embankment Hung Van Pham *, Phuc Dinh Hoang, Thinh Duc Ta Faculty of Civil Engineering, Hanoi University of Mining and Geology, Hanoi, Vietnam ARTICLE INFO ABSTRACT Article history: Soft soil reinforced by rigid inclusions under embankment is a soft soil Received 06th Oct. 2020 improvement method, known as a piled embankment. It has been widely Accepted 14th Nov. 2020 studied and applied over the world, since 90’s decade of the last century. Available online 31st Dec. 2020 The behavior of a piled embankment is mainly based on the formation of Keywords: soil arching within the embankment and the negative skin friction around Arching, inclusion shaft. The paper investigates the mechanical behavior of a piled embankment to make clear the load transfer mechanism of the method. Embankment, Additionally, some of the analytical methods in determining the stress Pile, transfer efficacy are presented. Soft soil, Stress. Copyright © 2020 Hanoi University of Mining and Geology. All rights reserved. _____________________ *Corresponding author E - mail: phamvanhung@humg.edu.vn DOI: 10.46326/JMES.HTCS2020.11
  2. 82 Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất Tập 61, Kỳ 6 (2020) 81 - 87 Phương pháp giải tích xác định hiệu quả truyền ứng suất trong khối đắp khi sử dụng phương pháp khối đắp trên nền đất yếu gia cố bằng cọc cứng Phạm Văn Hùng *, Hoàng Đình Phúc, Tạ Đức Thịnh Khoa Xây dựng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội, Việt Nam THÔNG TIN BÀI BÁO TÓM TẮT Quá trình: Kỹ thuật gia cố nền đất yếu bằng cọc cứng cho nền đường đắp đã được Nhận bài 06/10/2020 nghiên cứu, ứng dụng trên thế giới từ những thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Chấp nhận 14/11/2020 Những ứng xử cơ học của hệ gia cố khối đắp-nền đất gia cố bằng cọc cứng Đăng online 31/12/2020 chủ yếu được giải thích dựa trên nguyên lý hình thành vòm ứng suất bên Từ khóa: trong khối đắp và sự hình thành ma sát âm quanh thân cọc. Bài báo sẽ tiến Cọc cứng, hành phân tích những ứng xử cơ học để làm rõ cơ chế làm việc của khối đắp trên nền đất yếu gia cố bằng cọc cứng. Ngoài ra, bài báo cũng tiến hành phân Đất yếu, tích một số các phương pháp giải tích nhằm xác định hiệu quả truyền ứng Hiệu ứng vòm, suất bên trong khối đắp đang được sử dụng phổ biến trên thế giới. Khối đắp, Ứng suất. © 2020 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Tất cả các quyền được bảo đảm. nền đất yếu. Các cọc được bố trí theo lưới hình tam 1. Mở đầu giác hay lưới hình vuông với khoảng cách s. Khối Kỹ thuật khối đắp trên đất yếu gia cố bằng cọc đắp bên trên với chiều cao H bằng vật liệu rời (cát cứng đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới trong hạt thô, đá dăm) đóng vai trò là lớp đệm truyền các dự án đường sắt, đường bộ, cầu, tường chắn, lực (Hình 1.a). Trong trường hợp nền đất rất yếu, bể chứa,… nhờ những ưu điểm như: giảm giá đáy khối đắp được tăng cường bằng một hoặc vài thành và thời gian xây dựng; cải thiện đáng kể sức lớp vải địa kỹ thuật (ĐKT) (Hình 1.b), hoặc đầu chịu tải của nền đất yếu làm giảm độ lún và chuyển cọc được mở rộng bằng mũ cọc. vị nghiêng của công trình và ít gây ảnh hưởng đến Ở Việt Nam, các nghiên cứu về kỹ thuật khối môi trường xung quanh. đắp trên đất yếu gia cố bằng cọc cứng chỉ được bắt Phương pháp gia cố nền đất yếu bằng khối đầu trong khoảng 10 năm gần đây bởi một số tác đắp trên đất yếu gia cố bằng cọc cứng (piled giả Nguyễn Võ Ngọc Huy (2009); Nguyễn Quốc embankment) bao gồm các cọc cứng bằng bê tông, Dũng (2012); Nguyễn Tuấn Phương và nnk. bê tông cốt thép, thép, ống thép nhồi bê tông, xi (2013); Phạm Anh Tuấn và Đỗ Hữu Đạo (2016); măng đất,... gia cố một phần hay toàn bộ chiều dày Phạm Văn Hùng và Vũ Minh Ngạn (2018). Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn còn khá hạn chế _____________________ * Tác giả liên hệ trong việc phân tích cơ chế truyền ứng suất bên trong khối đắp, độ lún của khối đắp, nền đất yếu E - mail: phamvanhung@humg.edu.vn và chuyển vị đầu cọc. DOI: 10.46326/JMES.HTCS2020.11
  3. Phạm Văn Hùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 61(6), 81 - 87 83 a) B T¶i träng với góc ma sát trong lớn (sức kháng cắt lớn), phần Khèi ®¾p/nÒn ®¾p khối đắp phía trên đầu cọc cứng sẽ cản trở dịch H chuyển của khối đất trên phía đất yếu, nhờ nhận d NÒn ®Êt yÕu thêm một phần lực ma sát từ khối bên cạnh truyền L Cäc cøng xuống, hiện tượng này là tăng ứng suất tác dụng Líp ®Êt/®¸ cøng xuống đầu cọc, và do đó giảm ứng suất tác dụng s xuống nền đất yếu. Hiện tượng này được nhiều tác giả trên thế giới gọi là hiệu ứng vòm. b) B T¶i träng Bên cạnh đó, nền đất yếu phía dưới khối đắp Khèi ®¾p/nÒn ®¾p có xu hướng lún nhiều hơn so với chuyển vị của đầu cọc, hiện tượng này làm phát sinh lực ma sát H d V¶i/l-íi ®Þa kü thuËt âm (hướng xuống dưới) tác dụng quanh thân cọc. NÒn ®Êt yÕu Tải trọng tác dụng lên đầu cọc và lực ma sát âm sẽ L Cäc cøng được truyền dọc thân cọc xuống nền đất cứng phía s Líp ®Êt/®¸ cøng dưới (Hình 2). Do đó, áp lực tác dụng lên đất yếu đã giảm đi rất nhiều và giảm nhanh theo chiều sâu, dẫn đến sự giảm đáng kể độ lún của nền đất yếu Hình 1. Sơ đồ gia cố nền đất yếu: a) Khối đắp và khối đắp. Để đánh giá hiệu quả của phương trên đất yếu gia cố bằng cọc cứng không có lưới pháp khối đắp trên đất yếu gia cố bằng cọc cứng, địa kỹ thuật; b) Khối đắp trên đất yếu gia cố các nghiên cứu thường tập trung vào hiệu ứng bằng cọc cứng có lưới địa kỹ thuật. vòm bên trong khối đắp và độ lún của khối đắp và đất yếu. Bài báo sẽ tiến hành phân tích những ứng xử cơ học của khối đắp trên nền đất yếu gia cố bằng a) T¶i träng, cọc cứng để làm rõ bản chất cơ chế làm việc của hệ. Bên cạnh đó, bài báo cũng tiến hành phân tích Khèi ®¾p/nÒn ®-êng một số các phương pháp giải tích nhằm xác định hiệu ứng vòm bên trong khối đắp đang được sử HiÖu øng vßm dụng phổ biến trên thế giới. Lùc ma s¸t ©m 2. Cơ chế làm việc của khối đắp trên nền đất  Cäc cøng yếu gia cố bằng cọc cứng - Các thông số biểu diễn hiệu quả truyền lực trong khối đắp NÒn ®Êt yÕu Cơ chế truyền lực của hệ khối đắp - đất yếu gia cố bằng cọc cứng dựa trên hai cơ chế chính, bao Hình 2. Các hiện tượng truyền tải trọng bên trong gồm cơ chế truyền lực bên trong khối đắp (hiệu hệb)khối đắp trên đất yếu gia cố bằng cọc cứng. T¶i träng, ứng vòm) và lực ma sát âm của cọc. Hiệu ứng vòm Ba thông số thường được sử dụng để đánh giá Khèi ®¾p/nÒn ®-êng là một hiện tượng phổ biến xảy ra trong các bài hiệu quả sự truyền ứng suất bên trong khối đắp toán địa kỹ thuật khi có kết cấu độ cứng lớn (biên (hiệu ứng vòm), bao gồm: HiÖu øng vßm cứng) và đất cùng tham gia chịu lực, khi đó ứng suất được truyền từ phần đất chảy dẻo xuống các • Hệ số tập trung ứng suất, SCR hay n, V¶i/l-íi ®Þa kü thuËt vùng biên cứng bên cạnh, hiện tượng này dẫn đến Hệ số tập trung ứng suất, n, được định Lùc ma s¸t ©m nghĩa ứng suất bên trên sẽ truyền chủ yếu xuống vùng  là tỷ lệ ứng suất thẳng đứng ở đỉnh cọc Cäc cøng chia với biên cứng và do đó giảm ứng suất truyền xuống ứng suất thẳng đứng ở đỉnh đất xung quanh. NÒn ®Êt yÕu vùng đất phía dưới. Trong bài toán khối đắp trên 𝜎𝑝 nền đất yếu gia cố bằng cọc cứng, do độ cứng của 𝑆𝐶𝑅 = (1) cọc lớn hơn nhiều so với nền đất yếu, nền đất yếu 𝜎𝑠 sẽ có xu hướng lún nhiều hơn so với cọc, phần khối đắp phía trên đất yếu cũng có xu hướng dịch • Hệ số giảm ứng suất, SRR, chuyển cùng. Tuy nhiên, nhờ làm bằng vật liệu rời Hệ số giảm ứng suất, SRR, là tỷ lệ ứng suất tác
  4. 84 Phạm Văn Hùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 61(6), 81 - 87 dụng xuống đất yếu giữa các cọc, σs, với ứng suất 2. 𝑠 trung bình tác dụng bởi tải trọng nền đắp với ứng 𝑆𝑅𝑅 = [𝑠 2 suất bên trên nền đắp, σ: (𝑠 + 𝑎)(𝑠 2 − 𝑎2 ) 𝑝𝑐′ (4) 𝜎𝑠 −𝑎 (2 )] 𝑆𝑅𝑅 = (2) 𝛾. 𝐻 + 𝑞 𝜎 Hệ số giảm ứng suất phản ánh mức độ của tải 𝑣ớ𝑖 𝐻 > 1,4(𝑠 − 𝑎) (4) trọng truyền xuống nền đất yếu. Khi SRR = 0, ứng 2,8. 𝑠. 𝛾 suất trên nền đất yếu bằng không. Nó có nghĩa là 𝑆𝑅𝑅 = [𝑠 2 (𝑠 + 𝑎)2 (𝛾𝐻 + 𝑞) tất cả các tải được chuyển lên các cọc, hiệu ứng 𝑝𝑐′ vòm hoàn toàn (full arching). Khi hệ số giảm ứng −𝑎 ( 2 )] (5) suất bằng SRR = 1,0, nghĩa là tất cả tải trọng được 𝛾. 𝐻 + 𝑞 truyền xuống nền đất, không có hiệu ứng vòm (no 𝑣ớ𝑖 𝐻 ≤ 1,4(𝑠 − 𝑎) arching). Trong bài toán gia cố bằng cọc cứng, hệ số giảm ứng suất nằm trong khoảng từ 0÷1. Để Trong đó: a - kích thước của cọc; s - khoảng nâng cao hiệu quả hiệu quả truyền ứng suất (hay cách từ tim cọc đến tim cọc; H - Chiều cao khối đắp; hiệu ứng vòm), hệ số giảm ứng suất càng nhỏ các γ - Trọng lượng thể tích của đất đắp; γ.H - Ứng suất tốt. đáy móng; σc - Ứng suất lên đỉnh (mũ) cọc. • Hệ số hiệu quả của cọc, E 3.2. Các phương pháp Tezaghi điều chỉnh Hệ số hiệu quả của cọc, theo định nghĩa của Phương pháp Terzaghi điều chỉnh 1 Hewlett và Randolph (1988) và Low và nnk. Russell và Pierpoint (1997) đã điều chỉnh lý (1994), là phần trọng lượng của khối đắp và tải thuyết vòm đất của Terzaghi để phát triển công trọng bên trên được truyền cho các cọc cứng: thức tính hệ số giảm ứng suất có kể đến bố trí các cọc trong không gian ba chiều. P E (3) (𝑠 2 − 𝑎2 ) s 2 (H  q) 𝑆𝑅𝑅3𝐷 = [1 4. 𝐻. 𝑎. 𝐾. 𝑡𝑎𝑛𝜙 (6) Trong đó P - là tải trọng được mang bởi cọc và −4. 𝐻. 𝑎. 𝐾. 𝑡𝑎𝑛𝜙 − 𝑒𝑥𝑝 ( )] s là khoảng cách từ cọc tới cọc. 𝑠 2 − 𝑎2 Phương pháp Terzaghi điều chỉnh 2 3. Các phương pháp giải tích nhằm xác định cơ Vài năm sau, Russell và nnk. (2003) đã trình chế truyền lực bên trong khối đắp nền đường bày một phiên bản sửa đổi của phương pháp Các phương pháp giải tích được xây dựng chủ Terzaghi. Russell và nnk. (2003) giả sử rằng phần yếu dựa vào các hệ số giảm ứng suất và một số của khối đắp được đặt dưới dạng hình chữ thập có quan điểm trong tính toán khác nhau. chiều cao là n·H, và phần đắp được đặt bên trên hình chữ thập được coi là tải phân bố. Hệ số giảm 3.1. Phương pháp BS 8006 ứng suất dựa trên phân tích của Russell và nnk. (2003), bằng: Tiêu chuẩn Anh ban đầu xuất phát từ nghiên (𝑠 2 − 𝑎2 ). 𝛾 cứu của Jone và nnk. (1990), điểm khác biệt của 𝑆𝑅𝑅3𝐷 = Tiêu chuẩn Anh so với các phương pháp khác là 4. 𝑎. (𝛾. 𝐻 + 𝑞). 𝐾. 𝑡𝑎𝑛𝜙 tính ứng suất trung bình trên đỉnh cọc thay vì tính −4. 𝑎. 𝐻. 𝐾. 𝑡𝑎𝑛𝜙. 𝑛 [1 − 𝑒𝑥𝑝 ( )] (7) ứng suất trên khoảng đất nền không có cọc. 𝑠 2 − 𝑎2 BS 8006 sử dụng công thức Marston để thiết 𝛾. (1 − 𝑛). 𝐻 + 𝑞 −4. 𝑎. 𝐻. 𝐾. 𝑡𝑎𝑛𝜙. 𝑛 + . 𝑒𝑥𝑝 ( ) lập tỉ số giữa ứng suất thẳng đứng tác dụng lên (𝛾. 𝐻 + 𝑞) 𝑠 2 − 𝑎2 đỉnh cọc với ứng suất thẳng đứng trung bình tác Trong đó q = tải trọng phân bố, n = 1,0 cho dụng lên đáy móng khối đắp (σs = γH), sử dụng điều kiện trạng thái giới hạn cuối cùng và 0,8 cho công thức thường dùng trong tính toán tải trọng điều kiện trạng thái giới hạn khả năng phục vụ và suy giảm lên các cọc. K = hệ số của áp lực ngang của đất, mà Russell và nnk. (2003) giả sử bằng 0,5.
  5. Phạm Văn Hùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 61(6), 81 - 87 85 3.5. Phương pháp của Guido 3.3. Phương pháp Hewlett và Randolph 1988 Trường hợp nền đường có tải trọng bên trên, Hewlett và Randolph (1988) đưa ra mô hình hệ số giảm ứng suất được tính bằng: lý thuyết dựa vào các thí nghiệm trên đất hạt thô. (𝑠 − 𝑎). 𝛾 Các phân tích của họ cố gắng giải thích hiệu ứng 𝑆𝑅𝑅 = (10) vòm trong thực tế sát đúng hơn giả thuyết lăng trụ 3√2. (𝛾. 𝐻 + 𝑞) thẳng đứng của Terzaghi. Các vòm tạo ra truyền phần lớn tải trọng của khối đắp xuống mũ cọc, còn 3.6. Phương pháp của Thụy Điển đất giữa các cọc chỉ chịu tải trọng khối đất phía dưới vòm (Hình 3). Tương tự như mô hình được đề xuất trong phương pháp Guido, mô hình vòm đất hình tam 𝑆𝑅𝑅 = giác cũng được trình bày bởi Carlsson (1987). Tài 1 (8) liệu biên soạn của Carlsson (1987) là tiếng Thụy 2𝐾𝑝 𝑎 (1−𝐾𝑝 ) 𝑎 𝑎 𝑎2 ( )[(1− ) −(1− ).(1+ .𝐾𝑝 )]+(1− 2 ) Điển, nhưng nó được thảo luận bằng tiếng Anh bởi 𝐾𝑝 +1 𝑠 𝑠 𝑠 𝑠 Rogbeck và nnk. (1998); Horgan và Sarsby Trong đó Kp = hệ số Rankine của áp lực đất (2002). Trong không gian hai chiều, phương pháp thụ động = (1+sin ' )/(1-sin' ), với ' = góc ma Thụy Điển xem xét một cái nêm đất có diện tích sát của vật liệu đắp. mặt cắt ngang dưới đất hình vòng cung có diện tích được xấp xỉ bằng một cái nêm với một góc bên 3.4. Phương pháp của Đức (EBGEO 2004) trong đỉnh của nêm bằng 30o, như trong Hình 4. Kempfert và nnk. (2004) trình bày bản bằng Phương pháp Thụy Điển áp dụng cách tiếp cận tiếng Anh phương pháp thiết kế trong EBGEO chiều cao tới hạn sao cho phần tải trọng phân bố 2004 (German Recommendations for phía trên đỉnh của nêm được truyền trực tiếp vào Geosynthetic Reinforced Earth Structures). Các các cọc. Do đó, chiều cao tới hạn là 1,87.(s-a). khuyến nghị được cung cấp bởi Kempfert và nnk. Theo phương pháp này, hệ số suy giảm ứng (2004) đã được phát triển dựa trên lý thuyết dẻo, suất được xác định bằng công thức. thí nghiệm mô hình và kết quả phân tích số. Tương (𝑠 − 𝑎).  𝑆𝑆𝑅 = (11) tự Hewlett và Randolph (1998), Kempfert và nnk. 4. 𝐻 + 𝑞). 𝑡𝑎𝑛15𝑜 (𝛾. (2004) xem xét mô hình vòm đất hình vòm cong (Hình 3). Hệ số giảm ứng suất được xác định như 3.7. So sánh các phương pháp giải tích sau: Trong nghiên cứu, tác giả đi phân tích bài toán 1 ℎ𝑔 1 1 cụ thể với chiều cao nền đường H = 4 m, đắp bằng 𝑆𝑅𝑅 = (1+𝜆)𝜒 + 𝐻 .[ 𝜆 𝜒 − (1+𝜆)𝜒] (9) vật liệu cát, có góc ma sát trong ’ = 35o, cọc có (1+ ) 4 đường kính khác nhau dc = 0,5; 0,7 và 1,0 m, 2 .𝜆 ℎ𝑔 2 1 2 khoảng cách giữa các cọc không đổi bằng s = 2,0 Trong đó: 𝜆 = ; 𝜆1 = 8 . (𝑠𝑔 − 𝑑𝑐 ) ; 𝜆1 m, tương ứng ta có hệ số a/s = 0,25; 0,35 và 0,50. 𝑠𝑔2 +2.𝑑𝑐 .𝑠𝑔 −𝑑𝑐2 𝜙′ Hệ số giảm ứng suất (SRR) được tính toán theo 7 𝜆2 = 2.𝑠𝑔2 ; 𝐾𝑐 = 𝑡𝑎𝑛2 (45 + 2 ) ; 𝜒= phương pháp nêu trên. Các kết quả tính toán được 𝑑𝑐 .(𝐾𝑐 −1) 𝑠𝑔 𝑠𝑔 𝜆2 .𝑠𝑔 ; Với ℎ𝑔 = 2 nếu 𝐻 >= 2 ; ℎ𝑔 = 𝐻 nếu 𝑠𝑔 𝐻< 2 ; dc = đường kính của các cọc. Hình 3. Mô tả mô hình vòm đất của Hewlett và Hình 4. Mô hình vòm đất hình lăng trụ của Randolph (1988). phương pháp Thụy Điển.
  6. 86 Phạm Văn Hùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 61(6), 81 - 87 thể hiện chi tiết trong Bảng 1. Có thể thấy rằng, các effect of soils over voids and piles kết quả tính toán từ các phương pháp lý thuyết có incorporating geosynthetic reinforcement. sự khác nhau đáng kể, do các giả thuyết khác nhau Geosynthetics - Seventh ICG - Delmas, Gourc and khi xây dựng phương pháp. Thêm nữa, khi mật độ Girard (Eds.), Swets & Zeitlinger, Lisse ISBN 90 gia cố tăng thì hệ số giảm ứng suất giảm đi đáng kể 5809 523 1, pp. 373-378. trong tất cả các phương pháp. Jones, C. J. F. P., Lawson, C. R., Ayres, D. J., (1990). Geotextile reinforced piled embankments, 4. Kết luận Geotextiles. Geomembranes and Related Nguyên lý lý thuyết, thực nghiệm để giải thích Products, Den Hoedt (ed.) © 1990 Balkema, một số bài toán theo hiệu ứng vòm đã được phát Rotterdam, ISBN 90 6191 119 2, pp 155- 160 triển từ rất sớm (Terzaghi, 1943). Tuy nhiên, hiện Kempfert, H. G., Gobel, C., Alexiew, D., Heitz, C., nay ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề có tính mới. (2004). German recommendations for Soil Nghiên cứu hiệu ứng vòm bên trong khối đắp Reinforcement above Pile-Elements. trong bài báo góp phần làm sáng tỏ các lý thuyết, EUROGeo3, Third Geosynthetic Conference, thực nghiệm và mô hình số trước đây của một số Munchen, 1: 279-283. các tác giả trên thế giới. Có một số phương pháp giải tích đã được xây Nguyễn Quốc Dũng, (2012). Một số vấn đề kỹ dựng để đánh giá hiệu ứng vòm bên trong khối thuật trong thiết kế khối đắp trên nền cọc. Tạp đắp thông qua một số các chỉ tiêu về hệ số tập chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số trung ứng suất, hệ số giảm ứng suất, hệ số hiệu quả 11/2012. của cọc,… Tuy nhiên, các phương pháp này vẫn có Nguyễn Tuấn Phương, Châu Ngọc Ẩn, Võ Phán, những sai khác khá lớn. (2013). Phân tích ứng xử của lớp cát đệm kết Bảng 1. Giá trị SRR tính theo 7 phương pháp. hợp vải địa kỹ thuật trên đầu cọc trong nền nhà xưởng chịu tải phân bố đều. Tạp chí Khoa học SRR Phương pháp Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường, số 40 (2013). a/s = 0,25 a/s = 0,35 a/s = 0,50 BS 8006 1,310 0,927 0,165 Nguyễn Võ Ngọc Huy, (2009). Nghiên cứu giải Terzaghi 1 0,704 0,602 0,453 pháp cọc bê tông tiết diện nhỏ kết hợp vải địa Terzaghi 2 0,505 0,432 0,325 kỹ thuật để xây dựng nhà kho, nhà xưởng trên Hewlett và nền đất yếu với diện tích lớn tại khu Hiệp 0,481 0,282 0,115 Phước, Nhà Bè, Hồ Chí Minh. Luận văn Thạc sỹ Randolph EBGEO 0,386 0,282 0,084 kỹ thuật, Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh. Guido 0,063 0,055 0,042 Pham Van Hung, Vu Minh Ngan, (2018). Influence Thụy Điển 1,000 0,870 0,669 of embankment height and soil paramters on piled embankments by 3D numerical Những đóng góp của tác giả simulation. In Proceedings of International Lên ý tưởng: Tạ Đức Thịnh; Viết bản thảo bài conference VIETGEO 2018, 21st and 22nd báo: Phạm Văn Hùng; Đánh giá và chỉnh sửa: September, 2018 in Dong Hoi city, Quang Binh, Hoàng Đình Phúc Vietnam, pp.172-179. Phạm Anh Tuấn, Đỗ Hữu Đạo, (2016). Nghiên cứu Tài liệu tham khảo một số hình thức phá hoại cho hệ cọc kết hợp Carlsson, (1987). Reinforced Soil, Principles for gia cường lưới địa kỹ thuật trong gia cố nền Calculation. Terratema AB, Linköping (1987). đắp. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi (in Swedish). trường, số 55 (11/2016). Hewlett, W. J., Randolph, M. F., (1988). Analysis of Rogbeck, Y., Gustavsson, S., Södergren I., piled embankments. Ground Engineering Lindquist, D., (1998). Reinforced piled 21(3): 12-18. embankments in Sweden - design aspects. Proceedings of the Sixth International Horgan, G. J., Sarsby, R. W., (2002). The arching Conference on Geosynthetics, pp. 755-762.
  7. Phạm Văn Hùng và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 61(6), 81 - 87 87 Russell D., Pierpoint N., (1997). An assessment of Proceeding of the 56th Annual Canadian design methods for piled embankments. Geotechnical Conference, Winnipeg, September Ground Engineering, 39-44. 29-October 1, Winnipeg, Canada. Russel D., Naughton P. J., Kempton G. T., (2003). A Terzaghi, K., (1943). Theoretical Soil Mechanics. new design procedure for piled embankments. John Wiley and Sons, New York.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2