CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬNNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến ngành giáo dục Thị xã Bình Long
Tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT
Họ và
tên
Ngày
tháng
năm sinh
Nơi công
tác
Chức
danh
Trình
độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%) đóng
góp vào việc tạo ra
sáng kiến
1
THỊ
THỎA
18/11/1977
Trường
Tiểu học
An Lộc
A, thị xã
Bình
Long,
tỉnh Bình
Phước
Giáo
viên
dạy
lớp 3
ĐHSP
Tiểu
học
100%
1. tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: PHƯƠNG PHÁP GIÚP
HỌC SINH LỚP 3 THỰC HIỆN TỐT DẠNG TOÁN “GII BÀI TOÁN
BẰNG HAI PHÉP TÍNH GIAI ĐOẠN CUỐI KÌ 1”
2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng
kiến.
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục (môn Toán)
4. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 16/11/2020
5. Mô tả bản chất của sáng kiến
5.1. Tính mới của sáng kiến:
nhà trường Tiểu học, mỗi môn hc đều góp phần o việc hình
thành, phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người
Việt Nam. Trong đó n Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện
phương pháp duy, suy luận, giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh, độc
lập, sáng tạo, hình thành các phẩm chất của người lao động mới.
Với học sinh khối lớp 3 “Giải toán lời văn” dạng toán khó
nhiều dạng i mới lần đầu tiên các em mới được tiếp cận, đặc biệt giải
toán bằng hai phép tính ở giai đoạn đầu rất khó khăn đối với các em và càng khó
khăn hơn đối với học sinh tiếp thu chậm, học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức
năng môn Toán. Đây là mt vấn đề rất nan giải, đòi hỏi mỗi giáo viên phải luôn
trăn trở và quan m.
2
Qua quá trình đứng lớp 3 bản thân tôi còn nhận thấy các em giải toán
bằng hai phép tính giai đoạn cuối 1 chưa tốt do khnăng duy, suy nghĩ
của các em còn yếu hoặc do một số nguyên nhân sau:
- Học sinh lớp 3 mới tiếp cận chương trình về giải bài toán bằng hai phép
tính, năng đọc hiểu của các em chưa cao nên việc c định đgặp nhiều khó
khăn.
- Các em chưa nghiên cu đtoán, một số em vốn tiếng Việt còn hạn
chế nên việc xác lập mối quan hệ giữa các dkiện của bài toán còn gặp nhiều
khó khăn.
- em chưa nắm chắc hệ thống các bài toán đơn đã được học, chưa xác
định được dạng toán dẫn đến còn lúng túng trong việc phát hiện mối quan hệ
logic giữa các bài toán hoặc thiếu tự tin trong việc tìm lời giải, cách giải hoặc
hạn chế trong việc lựa chọn các phép giải.
- Kĩ năng vận dụng kiến thức vừa học để giải bài tập còn hạn chế.
- Phần lớn các em chưa chú ý đến khâu kiểm tra, các em thường nghĩ rằng
bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số của bài.
Nhận thức được điều đó, trong giai đoạn cuối học 1 năm hc 2020 -
2021 này, tôi đã áp dụng những phương pháp theo tôi hn tn mới đng
cao chất lượng giải bài toán bằng hai phép tính ở lớp mình phụ trách.
5.2. Nội dung sáng kiến:
Với mong muốn giúp học sinh lớp 3/1 mình phụ trách thực hiện tốt giải
bài toán bằng hai phép tính trong giai đoạn cuối học 1 năm học 2020-2021,
tôi đã vận dụng những pơng pháp sau:
Một là giúp các em giải tốt các bài toán đơn
- Muốn giải được các bài toán bằng hai phép tính, trước hết các em phải
giải thành thạo các bài toán đơn (bài toán lời văn giải bằng một phép tính).
Các bước giải i toán bằng hai phép tính liên quan đến những dạng toán lời
văn đã học lớp 1, 2 một số i toán đơn lớp 3 như: gấp một số lên nhiều
lần, giảm đi một số lần, tìm một trong các phần bằng nhau của một số,…
- Tôi đã giúp học sinh có thói quen đọc và hiểu đúng đbài, nắm vững ý
nghĩa của phép nhân và phép chia đồng thời giúp c em hiểu đúng các từ quan
trọng (nếu có) trong đề toán để lp pp tính giải thích hợp.
Lưu ý: “nhiều hơn” cũng có nghĩa là hơn, dài hơn, cao hơn, nặng hơn,
“ít hơn” cũng có nghĩa là kém, ngắn hơn, thấp hơn, nhẹ hơn,…
“một nửa”
2
1
“một đôi” (dép, đũa,…) là 2 chiếc (dép, đũa,…)
“gấp đôi là gấp 2 lần
3
Đồng thời, mỗi dạng bài i đều chốt cách giải ràng cho các em nắm
vững.
Hai giúp các em giải tốt các bài toán bằng hai phép tính
Trong chương trình Toán 3, c dạng toán bằng hai phép tính (toán hợp)
được sắp xếp học vào thời điểm từ sau giữa 1 đến cuối năm học. giai đoạn
cuối kì 1, học sinh được học các dạng toán hợp phổ biến như:
- Các bài toán liên quan về nhiều hơn, ít hơn.
Ví dụ: i 1 (SGK Toán 3 trang 50)
Anh 15 tấm bưu ảnh, emít hơn anh 7 tấm bưu ảnh. Hỏi cả hai anh
em có bao nhiêu tấm bưu ảnh?
i 2 (SGK Toán 3 trang 50)
Thùng thứ nhất đựng 18l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ
nhất 6l dầu. Hỏi c hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?
- Các i toán liên quan về gấp một số lên nhiều lần, giảm đi một slần,
tìm một trong các phần bằng nhau của một số.
Ví dụ:
i 3 (SGK Toán 3 trang 58)
Thu hoạch thửa ruộng thứ nhất được 127kg chua, thửa ruộng thứ
hai được nhiều gấp 3 lần số cà chua thửa ruộng thứ nhất. Hỏi thu hoạchcả
hai tha ruộng được bao nhiêu ki--gam cà chua?
i 3 (SGK Toán 3 trang 69)
Một công ti dự đnh xây 36 ngôi nhà, đến nay đã xây được 9
1 số ngôi nhà
đó. Hỏi công ti còn phải xây tiếp bao nhiêu ngôi nhà nữa ?
- Ngoài ra còn có một số dạng toán hợp kc nhưng ít gặp như:
Ví dụ: i 3 (SGK Toán 3 trang 80)
Mẹ hái được 60 quả táo, chị hái được 35 quả táo. Số táo của cả mẹ và chị
được xếp đều vào 5 hộp. Hỏi mỗi hộp có bao nhiêu quả táo?
i 3 (SGK Toán 3 trang 82)
240 quyển sách xếp đều vào 2 t, mỗi t 4 ngăn. Hỏi mỗi ngăn
bao nhiêu quynch, biết rằng mỗi ngăn có số sách như nhau?
Đểc em thể giải đúng bài toán theo yêu cầu đề ra, i đã tạo cho các
em có thói quen thực hiện tốt quy trình giải toán bằng cách:
a.Đọc kĩ đề toán.
4
các bài toán lời văn, nội dung của mỗi bài toán đều thể hiện những
cái đã biết, đã cho, cái cần tìm, mối liên quan giữa các dkiện trong bài toán.
Học sinh muốn giải được một bài toán thì trước hết các em phải hiểu đề toán.
như vậy mới tìm ra được lời giải phép nh đúng. thế ở mỗi đề toán tôi gọi
2 3 học sinh đọc to đề, cả lớp theo dõi, đọc thầm bằng mắt dùng thước kẻ, bút
chì gạch 1 gạch dưới phần cho biết, gạch 2 gạch dưới phần yêu cầu của bài toán.
Sau khi đọc đề, tôi yêu cầu các em phát hiện, tìm những từ quan trọng cần
chú ý như: “nhiều hơn” “ít hơn” “gấp” “giảm đi” tất cả“còn lại”,yêu
cầu các em phải hiểu các từ đó để thực hiện phép tính đúng.
b.Tóm tắt bài toán
Tóm tắt i toán diễn đạt ni dung bài toán ngắn gọn dễ hiểu hơn
làm nổi bật yếu tố đã cho cả yếu tố cần tìm. Khi các em đã hiểu nội dung bài
toán, tôi hướng dẫn các em tóm tắt bài toán. Đối với những i toán mẫu, giáo
viên cần hướng dẫn kĩ để học sinh biết cách tóm tắt bài toán.
Thông thường một bài toán từ chỗ tính” hoặc hỏi” trở về trước cái
bài toán đã cho, đã biết. Từ “tính” hoặc “hỏi” trở về sau cần tìm. Khi đọc
xong đề toán, tôi yêu cầu học sinh trả lời:
Bài tn cho biết gì?
Bài tn hỏi gì?
Sau khi học sinh trả lời, tôi nhấn mạnh bằng cách gạch dưới những dữ
kiện của bài toán: cái đã biết, đã cho, cái cần tìm thực hiện tóm tắt mẫu
bảng. Tuỳ theo nội dung bài toán tôi hướng dẫn, tóm tắt bằng lời hay đồ
đoạn thẳng. Đối với dạng toán về “nhiều hơn”, ít hơn”, “gấp một số lên nhiều
lần”, “giảm đi một s lần” tôi hướng c em m tắt bằng đồ đoạn thẳng để
thể hiện rõ nội dung bài toán. Nhờ đó mà với những dạng toán nêu bài toán theo
tóm tắt rồi giải như bài 3 (SGK Toán 3 trang 50):
Nêu bài toán theo tóm tắt sau rồi giải bài toán đó:
Học sinh nhìn vào phần m tắt trên thể phát hiện ngay được bài toán thuộc
dạng toán “giải bằng hai phép tính có liên quan đến nhiều hơn” và từ đó dễ dàng
đặt được đề toán như sau:
Bao gạo cân nặng 27kg, bao nnặng n bao gạo 5kg. Hỏi cả hai bao
đó cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
c.c định dạng toán
27 kg
Bao ngô
ạo
5kg
? kg
5
c định dạng toán là khâu quan trọng vì có xác định đúng dạng toán
từng bước giải các em mới tìm được phép tính hợp lí.
Ví dụ: i 1 (SGK Toán 3 trang 51)
Quãng đường từ nhà đến chợ huyện i 5km, quãng đường từ chợ huyện
đến bưu đin tỉnh dài gấp 3 lần quãng đường từ nhà đến chợ huyện (theo đồ
sau). Hỏi quãng đưng từ nhà đến bưu đin tỉnh dài bao nhiêu ki-lô-mét?
Nhà Chợ huyện Bưu điện tỉnh
5km
? km
Với i toán trên, học sinh lớp 3 phải biết được quãng đường tchợ
huyện đến bưu điện tỉnh dài gấp 3 lần quãng đường t nhà đến chợ huyện
dạng tn “gấp một số n nhiều lần” thực hiện bằng tính nhân để tìm được
độ dài quãng đường đó: 5 × 3 = 15 (km)
n tính quãng đường từ nhà đến bưu điện tỉnh chính tính tổng số độ
dài hai quãng đường: từ nhà đến chợ huyện và từ chợ huyện đến bưu điện tỉnh.
(dạng toán tìm tổng hai số) thực hiện bằng tính cộng đ tìm được độ dài
quãng đường đó: 5 + 15 = 20 (km).
Tuy nhiên bài toán cũng có thể giải bằng cách khác như sau:
Nếu xem quãng đường từ nhà đến chợ huyện là 1 phần thì quãng đường từ
chợ huyện đến bưu điện tỉnh là 3 phần, ta có:
Tổng số phần bằng nhau là:
1 + 3 = 4 (phần)
Quãng đường từ nhà đến u điện tỉnh dài là:
5 × 4 = 20 (km)
Đáp số: 20km.
Trong quá trình c định dạng tn, tôi còn kết hợp cho các em nhắc lại
quy tắc đã học (nếu có). Chẳng hạn muốn gấp một số lên nhiều lần, ta lấy số đó
nhân với s lần; muốn giảm một số đi nhiều lần ta chia số đó cho s lần,...
d. Phân tích bài toán
Phân tích bài toán đm ra bước giải của một bài toán. Từ việc giải một
bài toán đơn sang bài toán hợp, hc sinh phải giải quyết một nhiệm vụ khó khăn
phân tích bài toán hợp thành c bài toán đơn. Trên tinh thần dạy học phát
triển, việc làm choc em nắm được các phương pháp chung và các thủ thuật cơ
bản thường ng đgiải các i toán đa dạng nhưng thường gặp và những