intTypePromotion=1

Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại

Chia sẻ: Nhadamne Nhadamne | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
55
lượt xem
3
download

Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kiểm định sức chịu đựng rủi ro- Stress test (ST) ngày càng được quan tâm từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007- 2009 nhưng thực tế ST đã được các ngân hàng quốc tế sử dụng từ những năm 1990. Nội dung chi tiết của ST trong ngân hàng rất đa dạng phụ thuộc vào từng nền kinh tế và các nhà điều hành chính sách, nhưng về cơ bản, chúng thường dùng để kiểm tra tình hình hoạt động các ngân hàng khi môi trường kinh tế có những diễn biến bất lợi bao gồm cả yếu tố vĩ mô, tài sản- nợ và các hoạt động ngoại bảng. ST được thiết kế không chỉ để hiểu được các rủi ro của ngân hàng mà còn chắc chắn rằng ngân hàng sẽ chuẩn bị tốt lượng vốn cần thiết khi đối mặt với các tình huống bất lợi nhằm làm giảm tổn thất tiềm tàng. ST rủi ro thị trường (RRTT) là một cấu phần quan trọng trong ST, bao gồm cả ST nội bộ được thực hiện bởi ngân hàng hay ST được thực hiện bởi các nhà điều hành chính sách tài chính. Trong suốt cuộc khủng hoảng 2007-2009, tổn thất lớn nhất thường được phát hiện trong danh mục nhạy cảm với lãi suất thị trường. ST RRTT được thực hiện cho danh mục trong sổ kinh doanh của ngân hàng, bằng cách sử dụng các kịch bản có thể xảy ra cho các yếu tố RRTT. Bài viết này sẽ giới thiệu nội dung cơ bản về ST và các nguyên tắc của Ủy Ban Basel liên quan đến phương pháp ST tại ngân hàng, nhấn mạnh đến phương pháp luận về quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại

Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng<br /> rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại<br /> <br /> Nguyễn Thị Diễm Hương<br /> Học viện Ngân hàng<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Kiểm định sức chịu đựng rủi ro- Stress test (ST) ngày càng được quan tâm<br /> từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007- 2009 nhưng thực tế ST đã được<br /> các ngân hàng quốc tế sử dụng từ những năm 1990. Nội dung chi tiết của<br /> ST trong ngân hàng rất đa dạng phụ thuộc vào từng nền kinh tế và các nhà<br /> điều hành chính sách, nhưng về cơ bản, chúng thường dùng để kiểm tra tình<br /> hình hoạt động các ngân hàng khi môi trường kinh tế có những diễn biến<br /> bất lợi bao gồm cả yếu tố vĩ mô, tài sản- nợ và các hoạt động ngoại bảng.<br /> ST được thiết kế không chỉ để hiểu được các rủi ro của ngân hàng mà còn<br /> chắc chắn rằng ngân hàng sẽ chuẩn bị tốt lượng vốn cần thiết khi đối mặt<br /> với các tình huống bất lợi nhằm làm giảm tổn thất tiềm tàng. ST rủi ro thị<br /> trường (RRTT) là một cấu phần quan trọng trong ST, bao gồm cả ST nội<br /> bộ được thực hiện bởi ngân hàng hay ST được thực hiện bởi các nhà điều<br /> hành chính sách tài chính. Trong suốt cuộc khủng hoảng 2007-2009, tổn<br /> thất lớn nhất thường được phát hiện trong danh mục nhạy cảm với lãi suất<br /> thị trường. ST RRTT được thực hiện cho danh mục trong sổ kinh doanh<br /> <br /> <br /> Market risk stress testing Methodology<br /> Abstract: Stress test has received increased attention from financial institutions, regulations and experts since<br /> financial crisis 2008. In reality, Stress test has been actively adopted by international banks since the 1990s. ST<br /> processes are varied among banks depending on economy background and supervisors but they are often<br /> applied to test the performance of banks in the downturn of the economy through macro factors, assets-<br /> liabilities and off-balance sheet items. Stress test is designed not only to understand bank’s risk profile but<br /> also to ensure that banks have adequate capital to reduce potential losses in adverse scenarios. Market risk<br /> stress test is an important component of stress test including internal stresstest in banks and macro stress<br /> test excuted by supervisors. During the 2008 financial crisis, the significant losses were often found in the<br /> portfolio which were sensitive to market interest rates. Market risk stress test is applied for porfolios in the<br /> trading book, using possible scenarios of market risk factors. This paper describes the basics of stress test and<br /> Basel Commitees principles to design and governance stress test in banks. In additional, it emphasizes the<br /> methodology of market risk tress test in banks.<br /> Keywords: market risk, stress test, market risk stress test.<br /> <br /> <br /> Huong Thi Diem Nguyen, MEc.<br /> Email: huongnt@hvnh.edu.vn<br /> Banking Academy of Vietnam<br /> <br /> Ngày nhận: 15/05/2019 Ngày nhận bản sửa: 10/06/2019 Ngày duyệt đăng: 17/06/2019<br /> <br /> © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> ISSN 1859 - 011X 39 Số 208- Tháng 9. 2019<br /> Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại<br /> <br /> <br /> <br /> của ngân hàng, bằng cách sử dụng các kịch bản có thể xảy ra cho các yếu<br /> tố RRTT. Bài viết này sẽ giới thiệu nội dung cơ bản về ST và các nguyên<br /> tắc của Ủy Ban Basel liên quan đến phương pháp ST tại ngân hàng, nhấn<br /> mạnh đến phương pháp luận về quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro<br /> thị trường tại ngân hàng.<br /> Từ khóa: Rủi ro thị trường, kiểm tra sức chịu đựng, kiểm định sức chịu<br /> <br /> <br /> <br /> 1. Giới thiệu về kiểm định sức chịu BCBS (2009) mô tả ST là tập hợp các kỹ<br /> đựng rủi ro và rủi ro thị trường thuật khác nhau được sử dụng bởi các tổ<br /> chức tài chính nhằm đo lường những tổn<br /> 1.1. Khái niệm kiểm định sức chịu đựng thương tiềm ẩn dưới những sự kiện ngoại<br /> rủi ro (ST) lệ, bất thường (extreme & exceptional)<br /> nhưng có thể xảy ra (plausible). Kết quả<br /> Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel của Stress test thường đánh giá sự thay đổi<br /> (Basel Comitee on Banking Supervision- của (1) các chỉ số tài chính về vốn, mức<br /> BCBS,1999) cho rằng, các tình huống độ tổn thất (solvency stress test), hoặc (2)<br /> bất lợi cần phải bao hàm các yếu tố có các tỷ lệ an toàn về thanh khoản (liquidity<br /> thể tạo ra các tổn thất hoặc thu nhập bất stress test). Nói một cách khác, ST giúp cơ<br /> thường trong danh mục kinh doanh của quan quản lý và các tổ chức tài chính chủ<br /> ngân hàng thương mại (NHTM) và chúng động đối phó những tình huống xấu nhất<br /> sẽ cung cấp các thông tin về tác động của có thể. ST được sử dụng như một công cụ<br /> tình huống này lên các trạng thái của ngân bổ sung và hoàn thiện cho các mô hình<br /> hàng. BCBS (1999) cũng đề xuất các chỉ thống kê truyền thống như Value at risk<br /> tiêu định tính và định lượng để nhận biết (Var) trong quản lý rủi ro.<br /> các tình huống căng thẳng có thể xảy ra.<br /> Những chỉ tiêu này nên nhấn mạnh vào hai Tóm lại, ST là các kỹ thuật nhằm đo lường<br /> mục tiêu chính của ST là nhằm đánh giá sự nhạy cảm của danh mục hoặc của hệ<br /> lượng vốn cần thiết của ngân hàng để hấp thống trước các cú sốc cực độ nhưng có<br /> thụ các tổn thất lớn tiềm tàng và để nhận khả năng xảy ra. Hiểu một cách đơn giản,<br /> biết các bước mà ngân hàng cần phải thực ST ước lượng giá trị một danh mục thay<br /> hiện để giảm thiểu rủi ro và bảo toàn vốn. đổi như thế nào dưới sự thay đổi lớn của<br /> một hoặc nhiều yếu tố rủi ro.<br /> Berkowitz (1999) cho rằng ST là lựa chọn<br /> các tình huống bất lợi và hiếm, sau đó, đưa 1.2. Các nguyên tắc của Basel liên quan<br /> các tình huống này vào mô hình định giá. đến hoạt động ST tại NHTM<br /> Như vậy, việc lựa chọn các tình huống ST<br /> phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của chuyên Theo BCBS (2009), cuộc khủng hoảng tài<br /> gia, điều này khiến cho các nhà điều hành chính đã bộc lộ các tồn tại trong thực tiễn<br /> chính sách gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai ST trước khi bắt đầu xuất hiện<br /> kiểm tra lại chương trình ST của ngân các dấu hiệu khủng hoảng trên bốn khía<br /> hàng. cạnh:<br /> <br /> <br /> <br /> 40 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 208- Tháng 9. 2019<br /> NGUYỄN THỊ DIỄM HƯƠNG<br /> <br /> <br /> <br /> (i) Áp dụng ST và kết hợp ST trong quản mức độ chi tiết và phạm vi rủi ro được<br /> trị rủi ro: các NHTM thường thực hiện ST xem xét. Một số ngân hàng đã bắt đầu giải<br /> một cách độc lập và không liên quan đến quyết các vấn đề và các tồn tại của ST<br /> các lĩnh vực kinh doanh chính, vì vậy các cho các rủi ro đã được xác định ở trên. Ủy<br /> cấp quản lý các lĩnh vực kinh doanh này ban Basel cũng đã ban hành các nguyên<br /> không nhận thấy ST hữu ích đối với họ. tắc triển khai và giám sát ST hiệu quả với<br /> Thêm vào đó, ST chủ yếu được thực hiện mức độ áp dụng cần phải phù hợp với quy<br /> bởi các đơn vị độc lập tập trung vào từng mô và mức độ phức tạp trong hoạt động<br /> dòng sản phẩm kinh doanh hoặc từng rủi kinh doanh của ngân hàng và mức độ<br /> ro cụ thể. Chính vì vậy, chúng tạo ra rào tổng quát của rủi ro NHTM có thể chấp<br /> cản tổ chức khi kết hợp các kết quả ST nhận được. Bản đề xuất các nguyên tắc<br /> định tính và định lượng trong NH. triển khai và giám sát ST hiệu quả gồm<br /> 21 nguyên tắc tương đương với 4 phần:<br /> (ii) Phương pháp luận ST: Trong một thời Nguyên tắc 1-6 đề cập đến việc áp dụng<br /> gian dài ổn định, các thông tin quá khứ thể và cần phải kết hợp ST trong quản trị rủi<br /> hiện các điều kiện khá bình ổn nên các mô ro; nguyên tắc 7-10 là về phương pháp ST<br /> hình ST không thể hiện được các cú sốc và lựa chọn kịch bản; nguyên tắc 11-15 là<br /> nghiêm trọng tiềm tàng cũng như không các lĩnh vực đặc biệt cần phải tập trung;<br /> tạo ra các tổn thương trong hệ thống. và cuối cùng nguyên tắc 16-21 là khuyến<br /> nghị cho cơ quan giám sát. Như vậy,<br /> (iii) Lựa chọn kịch bản: Các kịch bản lịch các nguyên tắc này sẽ góp phần giúp các<br /> sử thường được triển khai dựa trên các sự NHTM triển khai ST hiệu quả hơn.<br /> kiện thị trường nghiêm trọng trong quá<br /> khứ. ST không thể bao hàm các rủi ro của 1.3. Tổng quan rủi ro thị trường<br /> các sản phẩm trong khi chúng là trung tâm<br /> của cuộc khủng hoảng. Đối với các kịch Theo Saunders (2008), RRTT được định<br /> bản giả định, NHTM thường chỉ áp dụng nghĩa là rủi ro liên quan đến sự biến động<br /> các kịch bản nghiêm trọng vừa phải vì các thu nhập của ngân hàng trong danh mục<br /> kịch bản cực độ thường được xem là khó kinh doanh gây ra bởi giá của tài sản, lãi<br /> xảy ra trong thực tế. suất, biến động thị trường và thanh khoản<br /> của thị trường. Chính vì vậy, những rủi ro<br /> (iv) ST cho từng rủi ro và sản phẩm cụ như rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá có ảnh<br /> thể: Các rủi ro cụ thể không được đề cập hưởng lớn đến RRTT. Tuy nhiên RRTT<br /> đến trong nội dung của hầu hết các ST là: nhấn mạnh đến những rủi ro liên quan đến<br /> rủi ro liên quan đến các sản phẩm cấu trúc hoạt động kinh doanh các tài sản, nợ và<br /> phức tạp dưới các điều kiện thanh khoản phái sinh hơn là việc nắm giữ chúng nhằm<br /> căng thẳng, rủi ro cơ bản liên quan đến đầu tư dài hạn, tạo vốn hoặc mục đích<br /> chiến lược phòng ngừa rủi ro, rủi ro chứng phòng ngừa rủi ro.<br /> khoán, rủi ro lan truyền và rủi ro thanh<br /> khoản tài trợ vốn. Định nghĩa RRTT lần đầu tiên được Ủy<br /> ban Basel đề cập trong Bản sửa đổi Hiệp<br /> Ủy ban Basel đã nhận ra tầm quan trọng ước vốn nhằm kết hợp rủi ro thị trường<br /> của ST như một cấu phần của quản lý rủi năm 1996. Trong văn bản này, RRTT<br /> ro nên cần phải được tăng cường cả về được tổng quát là rủi ro liên quan đến<br /> <br /> <br /> Số 208- Tháng 9. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 41<br /> Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại<br /> <br /> <br /> <br /> những tổn thất của trạng thái nội và ngoại 2. Quy trình kiểm định sức chịu đựng<br /> bảng cân đối gây ra bởi những biến động rủi ro thị trường<br /> trong giá cả thị trường, bao gồm: (a)<br /> Những rủi ro gắn liền với những công cụ 2.1. Khái niệm kiểm định sức chịu đựng<br /> lãi suất và cổ phiếu trong sổ kinh doanh; rủi ro thị trường và so sánh với kiểm<br /> (b) Rủi ro tỷ giá và rủi ro hàng hóa trong định sức chịu đựng rủi ro tín dụng<br /> ngân hàng. Có thể thấy RRTT xuất phát<br /> từ tất cả các trạng thái trong sổ kinh doanh Khái niệm ST RRTT: Đánh giá sức chịu<br /> của ngân hàng và từ rủi ro hàng hóa và rủi đựng RRTT là kỹ thuật kiểm tra tính ổn<br /> ro tỷ giá trong bảng cân đối kế toán của định, khả năng chịu đựng của tổ chức<br /> ngân hàng. tài chính trước những biến động của thị<br /> trường. Theo Ngân hàng Thanh toán quốc<br /> BCBS (2016) đã sửa đổi và bổ sung định tế (BIS, 2001), những biến động của thị<br /> nghĩa về RRTT như sau: “RRTT là rủi ro trường có thể ảnh hưởng đến khả năng<br /> liên quan đến những tổn thất gây ra bởi sự chịu đựng của các tổ chức tài chính, các<br /> biến động trong giá cả thị trường. Những ngân hàng là những yếu tố như: lãi suất, tỷ<br /> rủi ro này bao gồm nhưng không bị giới giá, giá chứng khoán, giá hàng hóa…<br /> hạn bởi: (a) Rủi ro vỡ nợ, rủi ro lãi suất,<br /> rủi ro chênh lệch tín dụng (credit spread So sánh ST RRTT và ST rủi ro tín dụng:<br /> risk), rủi ro cổ phiếu, rủi ro tỷ giá và rủi Hiện nay, hầu hết các tài liệu trong và<br /> ro hàng hóa trong sổ kinh doanh; (b) Rủi ngoài nước nghiên cứu về ST có xu hướng<br /> ro tỷ giá và rủi ro hàng hóa trong sổ ngân đề cập nhiều đến ST rủi ro tín dụng vì rủi<br /> hàng”. Như vậy, Ủy ban Basel đã bổ sung ro tín dụng gây ra tổn thất khá lớn cho các<br /> thêm rủi ro vỡ nợ và rủi ro chênh lệch tín NHTM, trong khi đó các nghiên cứu về<br /> dụng trong sổ kinh doanh vào định nghĩa ST RRTT chưa có nhiều mặc dù RRTT<br /> RRTT. Điều này được giải thích là do đang ngày càng đóng một vai trò quan<br /> cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng trọng tại các NHTM và là yêu cầu bắt<br /> nổ năm 2007 cho thấy khung vốn trước buộc nếu triển khai Basel II. Tuy nhiên,<br /> đó cho RRTT chưa bao hàm một số rủi ro ST rủi ro tín dụng và ST RRTT vẫn tồn tại<br /> quan trọng trong sổ kinh doanh ngân hàng, những khác biệt cơ bản về phương pháp<br /> chính vì vậy, đã góp phần gây ra những ST.<br /> tổn thất và đòn bẩy tài chính tăng cao cho<br /> ngân hàng (BCBS, 2010). ST RRTT và rủi ro tín dụng có chung mục<br /> đích cuối cùng là ước lượng sự tác động<br /> Tóm lại, RRTT bao gồm các rủi ro tổn thất của các kịch bản nghiêm trọng nhưng có<br /> tài chính phát sinh bởi sự biến động bất lợi khả năng xảy ra lên giá trị của các danh<br /> của lãi suất, tỷ giá, giá cả thị trường của mục ngân hàng. ST RRTT thường được<br /> chứng khoán và hàng hóa và các tham số hiểu là ST sổ kinh doanh ngân hàng. So<br /> có liên quan như khả năng vỡ nợ và rủi ro với sổ ngân hàng, sổ kinh doanh có nhiều<br /> chênh lệch tín dụng. Rủi ro thị trường bao công cụ với trạng thái đa dạng và các yếu<br /> gồm bốn loại rủi ro chính: Rủi ro lãi suất, tố rủi ro. Hơn nữa, các tổn thất hạch toán<br /> rủi ro tỷ giá, rủi ro trạng thái cổ phiếu và theo giá thị trường cho sổ kinh doanh<br /> rủi ro hàng hóa. thường được đo lường vào một thời gian<br /> nhất định. Cụ thể, các trạng thái phái sinh<br /> <br /> <br /> 42 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 208- Tháng 9. 2019<br /> NGUYỄN THỊ DIỄM HƯƠNG<br /> <br /> <br /> <br /> là kết quả của hoạt động ngoại bảng của được cho là không đơn giản.<br /> các tổ chức tài chính thường là nội dung<br /> trọng tâm của ST RRTT. Các phương 2.2. Quy trình kiểm định sức chịu đựng<br /> pháp đo lường rủi ro như Var, là công cụ rủi ro thị trường<br /> chủ yếu nhằm đo lường lượng vốn rủi ro<br /> cũng như tính toán vốn pháp lý cho các Như đã nói ở trên, các nghiên cứu trong và<br /> hoạt động đó. Basel 2.5 cũng đã giới thiệu ngoài nước liên quan đến ST tại NHTM<br /> khái niệm “Stress Var”. thường có xu hướng tập trung vào phương<br /> pháp, quy trình rủi ro tín dụng, ít có các<br /> Ngược lại, ST rủi ro tín dụng được thực nghiên cứu tập trung vào ST RRTT.<br /> hiện chủ yếu cho danh mục trong sổ ngân Markovic (2011) và Akhatar (2013) là một<br /> hàng, bao gồm các danh mục nợ, chứng trong số ít các nghiên cứu tập trung vào<br /> khoán hoặc các trạng thái được nắm giữ phương pháp luận ST RRTT. Markovic<br /> để đầu tư cũng như đầu tư vốn trực tiếp. (2011) tập trung vào quy trình ST RRTT<br /> Kết quả của ST cho rủi ro tín dụng thường tại các tổ chức tài chính quốc tế với danh<br /> là tính toán tổn thất trong một khoảng mục khá phức tạp, quy trình do Markovic<br /> thời gian nhất định dựa trên tác động của đề xuất gồm 7 bước bao gồm xác định<br /> sự thay đổi xếp hạng, xác suất vỡ nợ và phạm vi và hình thức ST, lựa chọn nhóm<br /> tổn thất ước tính. Việc lựa chọn các kịch tài sản, xác định khoảng thời gian cho ST,<br /> bản cho ST rủi ro tín dụng đa dạng hơn lựa chọn yếu tố rủi ro, chuẩn bị dữ liệu,<br /> vì các thành phần trong danh mục có thể xây dựng cú sốc thị trường và áp dụng cú<br /> chịu tác động của các điều kiện thị trường sốc thị trường và tính toán lãi lỗ của danh<br /> khác nhau. Tuy nhiên, các trạng thái sổ mục. Tuy nhiên, nghiên cứu của Markovic<br /> kinh doanh cũng chịu tác động của rủi ro cũng đề cập đến yếu tố rủi ro tín dụng<br /> tín dụng nếu các yếu tố rủi ro bao gồm cả và rủi ro thanh khoản là những yếu tố<br /> chênh lệch tín dụng (credit spread). Hơn có thể gây ra tác động lớn đến danh mục<br /> nữa, cả trạng thái sổ kinh doanh và sổ sổ kinh doanh của các tổ chức tài chính<br /> ngân hàng đều chịu tác động của rủi ro đối quốc tế nên nội dung quy trình khá phức<br /> tác cho các giao dịch tài chính phái sinh tạp. Trong khi đó, Akhatar (2013) chỉ tập<br /> hoặc chứng khoán. trung vào một số bước của ST RRTT như<br /> thiết kế kịch bản, đánh giá và tính toán lãi<br /> Một sự khác biệt nữa giữa hai loại rủi ro lỗ của các danh mục trong bối cảnh căng<br /> này xuất phát từ rủi ro thanh khoản. Sự thẳng. Bài viết sẽ hệ thống lại quy trình<br /> thay đổi trong thanh khoản có thể có tác ST RRTT dựa trên các nghiên cứu có liên<br /> động ngay lập tức và nghiêm trọng đến quan. Bài viết sẽ hệ thống lại quy trình<br /> giá trị của trạng thái sổ kinh doanh. Cuộc ST RRTT gồm 7 bước dựa trên việc tổng<br /> khủng hoảng tài chính 2007- 2009 nhấn quan nghiên cứu của Markovic (2011),<br /> mạnh tác động nghiêm trọng của thanh Akhatar (2013) và các quy định của BCBS<br /> khoản mà trước đó chưa được chú ý nhiều (2009) về ST.<br /> trong ST trước khi cuộc khủng hoảng xảy<br /> ra. Trong khi các ngân hàng, cơ quan quản 2.2.1. Xác định phạm vi và loại hình ST<br /> lý và các nhà nghiên cứu đã nhận ra tầm<br /> quan trọng của quản lý rủi ro thanh khoản, Bước đầu tiên để phát triển ST là xác định<br /> việc kết hợp rủi ro thanh khoản vào ST mục tiêu của ST, từ đó xác định loại hình<br /> <br /> <br /> Số 208- Tháng 9. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 43<br /> Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại<br /> <br /> <br /> <br /> ST phù hợp vì mỗi loại ST phục vụ cho vỡ nợ của Nga năm 1998, và cuộc khủng<br /> một mục tiêu khác nhau. Các bài kiểm tra hoảng kinh tế thế giới mới nhất gây ra là<br /> độ nhạy tập trung vào một yếu tố rủi ro cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn vào<br /> trong một thời điểm xác định và thường năm 2008.<br /> sử dụng để đánh giá một danh mục được<br /> phòng ngừa rủi ro như thế nào dưới các Xác định phạm vi ST cũng là một vấn đề<br /> biến động tiêu cực trong một yếu tố rủi ro. quan trọng. Trong trường hợp đơn giản<br /> Các bài kiểm tra kịch bản tập trung vào nhất, có thể thực hiện một bài ST trên<br /> các thay đổi được xác định trước của một một danh mục duy nhất; ví dụ, thị trường<br /> nhóm các yếu tố rủi ro thông qua thiết lập chứng khoán Anh. Nếu mục tiêu là để ST<br /> sự kiện hoặc kịch bản. Các sự kiện này một đơn vị kinh doanh như FICC (Fixed<br /> khá đa dạng từ khủng hoảng thị trường Income, Currency and Commodities unit-<br /> chứng khoán đến khủng hoảng nợ. Mục tài sản có thu nhập cố định, tiền tệ và hàng<br /> tiêu của các bài kiểm tra này để xác định hóa), sẽ mất nhiều thời gian và công sức<br /> tác động tiềm ẩn của các sự kiện lên danh hơn để phát triển thử nghiệm. Một bài ST<br /> mục. toàn ngân hàng là đòi hỏi khắt khe nhất,<br /> vì nó bao gồm tất cả các tài sản có thể bán<br /> Thiết lập các giả định kịch bản có vẻ đơn được bởi một ngân hàng và liên quan đến<br /> giản. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải sự hợp tác chặt chẽ của các bộ phận khác<br /> lúc nào cũng dễ dàng lường trước những nhau. Lợi ích của một bài kiểm tra toàn<br /> thay đổi trong điều kiện thị trường có liên ngân hàng là cung cấp cho ban quản lý<br /> quan đến danh mục đầu tư. Đó là lý do (hoặc cơ quan quản lý) một cái nhìn tổng<br /> tại sao các NHTM cần phải tiến hành các quan toàn diện về các rủi ro mà công ty<br /> thử nghiệm nhiều tình huống, bao gồm cả đã thực hiện. Bằng cách tổng hợp các kết<br /> các tình huống về sự cố thị trường nghiêm quả của ST RRTT toàn ngân hàng sẽ cho<br /> trọng. Các NHTM cũng có thể tìm thấy ra một giá trị duy nhất cho các tổn thất<br /> một kịch bản xấu nhất, ví dụ như kịch bản dự kiến nếu<br /> ​​ có thể xảy ra sự kiện bất lợi.<br /> mà danh mục đầu tư sẽ bị ảnh hưởng nặng Bên cạnh đó, nó cũng cho phép phân tích<br /> nề nhất. Việc tạo ra một kịch bản xấu nhất kết quả lãi/ lỗ trên một số khía cạnh quan<br /> đòi hỏi phải phân tích các động thái trong trọng, từ đó xác định các tổn thương tiềm<br /> tất cả các yếu tố rủi ro liên quan, rõ ràng, ẩn của ngân hàng.<br /> không phải là một vấn đề dễ dàng.<br /> 2.2.2. Lựa chọn nhóm tài sản<br /> Một cách để tạo ra một kịch bản toàn<br /> diện là sao chép đầy đủ các động thái của Bước tiếp theo trong ST RRTT là phân<br /> các yếu tố rủi ro của một sự kiện lịch sử chia danh mục đầu tư thành các nhóm tài<br /> cụ thể. Các kịch bản lịch sử như vậy có sản phù hợp bao gồm các chứng khoán<br /> thể bao gồm các sự kiện thị trường bất có các yếu tố rủi ro tương tự. Sự phân<br /> lợi được biết đến rộng rãi. Trong thực tế, chia phụ thuộc vào loại danh mục đầu tư<br /> phổ biến nhất là cuộc khủng hoảng dầu đang được ST. Nếu nó chỉ chứa trái phiếu,<br /> mỏ năm 1973/74, sự cố thị trường chứng chẳng hạn, nó có thể được chia nhỏ theo<br /> khoán vào Thứ Hai Đen 1987, cuộc khủng vùng xuất xứ, xếp hạng tín dụng của nhà<br /> hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, sự thất bại phát hành, hoặc theo lĩnh vực kinh doanh<br /> của Quản lý vốn dài hạn (LTCM) và sự của các tổ chức phát hành.<br /> <br /> <br /> 44 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 208- Tháng 9. 2019<br /> NGUYỄN THỊ DIỄM HƯƠNG<br /> <br /> <br /> <br /> Cách phổ biến để phân chia danh mục được dự báo. Trong phương pháp tiêu<br /> đầu tư giao dịch của một NHTM là phân chuẩn, độ biến động được xác định dựa<br /> chia vào các nhóm RRTT như: cổ phiếu, trên một số ngày giao dịch nhất định trong<br /> ngoại hối, sản phẩm lãi suất, chênh lệch quá khứ (giả sử 250), sử dụng trọng số<br /> tín dụng và hàng hóa. Sự lựa chọn tương bằng nhau cho mỗi quan sát. Trong các<br /> ứng với sự phân chia thị trường điển hình phương pháp nâng cao hơn như EWMA<br /> (và tương ứng với sự phân chia điển hình hoặc GARCH (Markovic, 2011), thông<br /> trong các ngân hàng lớn nhất toàn cầu). tin thị trường mới hơn có trọng số khác<br /> Điều quan trọng cần lưu ý là mỗi nhóm (nhiều hơn) so với thông tin thị trường cũ.<br /> trong số năm nhóm có thể được phân chia Ưu điểm của những phương pháp này là<br /> nhỏ hơn thành các danh mục cấu phần phù thông tin mới được sử dụng trong hệ thống<br /> hợp. ngay khi nó xuất hiện. Trong thời kỳ căng<br /> thẳng tài chính, các phương pháp EWMA<br /> 2.2.3. Lựa chọn các yếu tố rủi ro và GARCH cung cấp dự báo biến động<br /> tốt hơn so với phương pháp tiêu chuẩn<br /> Một trong những vấn đề khó khăn nhất (Markovic, 2011). Ngoài ra, một phương<br /> liên quan đến ST là tìm ra các yếu tố rủi pháp khác thường được sử dụng là phương<br /> ro phù hợp nhất, tức là tập hợp các biến pháp biến động hàm ý (Christoffersen,<br /> số ảnh hưởng nhiều nhất đến giá trị của 2003).<br /> danh mục đầu tư. Trong việc lựa chọn các<br /> yếu tố rủi ro, NHTM phải chấp nhận sự Các yếu tố rủi ro khác của sản phẩm liên<br /> đánh đổi giữa tính đầy đủ và khả năng vận quan đến lãi suất là lãi suất và biến động<br /> hành/ tốc độ thực hiện của mô hình ST. của chúng đối với các kỳ hạn khác nhau.<br /> Chọn nhiều yếu tố rủi ro sẽ làm giảm nguy Số lượng kỳ hạn được sử dụng phụ thuộc<br /> cơ bỏ qua các rủi ro quan trọng. Mặt khác, vào độ chính xác mong muốn của bài ST.<br /> việc giới thiệu quá nhiều yếu tố rủi ro có Theo thông lệ, người ta thường sử dụng<br /> thể khiến các bài ST trở nên quá phức tạp một vài kỳ hạn lãi suất ngắn hạn, một vài<br /> và không thực tế. Do đó, NHTM cần phải kỳ hạn lãi suất trung hạn và một kỳ hạn<br /> lựa chọn những yếu tố rủi ro ảnh hưởng dài hạn. Nguyên nhân là các nhà đầu tư<br /> nghiêm trọng đến giá trị của danh mục đầu biết rằng lãi suất sẽ đảo ngược về giá trị<br /> tư, đồng thời hạn chế các yếu tố rủi ro ở trung bình và kỳ vọng chúng sẽ trở lại<br /> mức có thể quản lý được. mức trung bình đó trong dài hạn.<br /> <br /> Việc xác định các yếu tố rủi ro phụ thuộc 2.2.4. Lựa chọn dữ liệu<br /> vào từng danh mục đầu tư. Đối với danh<br /> mục đầu tư trái phiếu, các yếu tố rủi ro Thu thập dữ liệu hợp lệ để xây dựng các<br /> liên quan có thể là lãi suất chuẩn hoặc xếp cú sốc là một quá trình quan trọng nhưng<br /> hạng tín dụng. Đối với cổ phiếu, hàng hóa, phức tạp, bao gồm việc phân tích các<br /> phái sinh và sản phẩm FX, lợi nhuận trên dữ liệu chuỗi thời gian khác nhau từ các<br /> giá giao ngay thường được lựa chọn làm nguồn dữ liệu khác nhau. Dữ liệu chuỗi<br /> yếu tố rủi ro. thời gian cần phải được khớp theo loại, kỳ<br /> hạn, đơn vị và tần suất. Dữ liệu thu thập<br /> Khi các yếu tố rủi ro được chọn, các biến được thường có vấn đề nghiêm trọng về<br /> động và mối tương quan của chúng cần tính nhất quán của dữ liệu.<br /> <br /> <br /> Số 208- Tháng 9. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 45<br /> Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại<br /> <br /> <br /> <br /> Định giá theo giá thị trường là một trong lệch chuẩn hoặc tăng giá dầu tới một mức<br /> những khía cạnh quan trọng của đánh giá độ xác định. Nói một cách đơn giản, đây là<br /> rủi ro tài chính vì giá thị trường thể hiện kịch bản giả định. Đối với phân tích kịch<br /> chính xác nhất giá trị của chứng khoán, bản lịch sử, tình trạng thị trường trong<br /> tức là giá mà tại đó chúng có thể được một khoảng thời gian lịch sử xác định liên<br /> mua hoặc bán trên thị trường tự do. Ngay quan đến danh mục của ngân hàng được<br /> cả khi giá theo mô hình đôi khi có thể là sử dụng. Các kịch bản này bao gồm khủng<br /> đại diện tốt hơn cho giá trị nội tại, tuy hoảng tín dụng 2007- 2009… Đối với<br /> nhiên, một chứng khoán sẽ luôn được giao phân tích kịch bản tồi tệ, việc nghiên cứu<br /> dịch theo giá thị trường, không phải giá tự động các thay đổi tương lai theo điều<br /> mô hình. Đây là lý do tại sao, bất cứ khi kiện thị trường được thực hiện nhằm đánh<br /> nào có thể, dữ liệu giá nên được thu thập giá lợi nhuận và rủi ro dưới kịch bản đó.<br /> trực tiếp từ thị trường. Ngoài ra, dữ liệu<br /> thị trường là cần thiết để hiệu chỉnh bất kỳ Cũng giống như ST cho các loại rủi ro<br /> mô hình nào, và từ đó có thể xác định giá khác, ST RRTT cũng dựa vào các kịch bản<br /> theo mô hình. giả định và lịch sử. Các kịch bản sử dụng<br /> trong ST toàn ngân hàng có xu hướng tập<br /> Định giá theo mô hình cũng là cần thiết trung vào các biến tài chính và vĩ mô như<br /> trong quá trình ST vì có nhiều chứng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, giá nhà<br /> khoán không được giao dịch thường xuyên và lãi suất. Các tổn thất xuất phát từ RRTT<br /> trên thị trường và do đó không có giá thị trong các kịch bản này thường khó để ước<br /> trường sẵn có. Đối với một chứng khoán lượng trực tiếp. Các ngân hàng thường<br /> không thường xuyên giao dịch, nên sử chuyển các kịch bản vĩ mô thành các yếu<br /> dụng phương pháp định giá theo mô hình. tố RRTT như sự thay đổi trong chênh lệch<br /> Nếu mô hình định giá cho chứng khoán tín dụng, giá hàng hóa và biến động của<br /> được xác định rõ ràng và thể hiện được giá các yếu tố khác được sử dụng để tính toán<br /> trị gần đúng của chứng khoán, các kết quả tổn thất cho các cú sốc thị trường.<br /> của ST sẽ hợp lý.<br /> Ví dụ, đánh giá hoán đổi rủi ro vỡ nợ phụ<br /> 2.2.5. Lựa chọn các kịch bản thuộc vào tỷ lệ phục hồi và xác suất vỡ nợ<br /> của các tài sản tham chiếu. Nếu các kịch<br /> Để thực hiện ST RRTT, các kịch bản bản vĩ mô được xác định với các yếu tố<br /> nghiêm trọng nhưng có thể xảy ra đã được GDP, tỷ lệ thất nghiệp và giá nhà, ngân<br /> lựa chọn. Việc lựa chọn các kịch bản do hàng sẽ phải sử dụng một mô hình bổ trợ<br /> đó vô cùng quan trọng nhưng khó tránh để chuyển các biến vĩ mô thành các xác<br /> được tính chủ quan cao. Cách tiếp cận suất vỡ nợ và tỷ lệ phục hồi. Cũng như<br /> truyền thống đối với các kịch bản sử dụng vậy, đối với các sản phẩm tài chính như<br /> 3 phương pháp: Kịch bản tiêu chuẩn, kịch chứng khoán, NHTM thường sử dụng hệ<br /> bản lịch sử và kịch bản tồi tệ. Việc phân thống như Intex để đánh giá chứng khoán.<br /> tích sử dụng các kịch bản tiêu chuẩn, giá Các yếu tố đầu vào cho Intex thường được<br /> trị của các danh mục được ước lượng bằng tính toán từ các kịch bản vĩ mô sử dụng<br /> cách làm căng thẳng các yếu tố rủi ro các mô hình bổ trợ. Đối với phần lớn các<br /> thông qua các cú sốc được xác định trước, tổn thất của RRTT, các biến cần thiết là<br /> ví dụ như thay đổi giá cổ phiếu một độ yếu tố đầu vào của mô hình định giá sử<br /> <br /> <br /> 46 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 208- Tháng 9. 2019<br /> NGUYỄN THỊ DIỄM HƯƠNG<br /> <br /> <br /> <br /> dụng cho các trạng thái sổ kinh doanh bao Mặc dù mục tiêu của các cơ quan quản lý<br /> gồm giá, biến động và các thông số khác trong việc xác định các giá trị cho các yếu<br /> như mức độ tương quan giữa các yếu tố tố đầu vào của đánh giá RRTT là nhằm<br /> đầu vào. Nhìn chung, các căng thẳng được tăng cường tính nhất quán và khả năng so<br /> mô hình hóa là các biến động lớn của các sánh giữa các ngân hàng, nhưng nó sẽ gặp<br /> yếu tố đầu vào này. phải các vấn đề như “một phương pháp<br /> không thể phù hợp cho tất cả các ngân<br /> Do sự linh hoạt tương đối lớn trong việc hàng” và “ bắt kịp những thay đổi”. Nhằm<br /> chuyển các biến vĩ mô thành các biến đảm bảo rằng các ST RRTT phản ánh<br /> được sử dụng nhiều trong ST RRTT, chính xác mức độ rủi ro của mỗi NHTM,<br /> tính tương đương và nhất quán trong và cơ quan quản lý cần phải đưa ra các yếu<br /> xuyên suốt các ngân hàng có thể là một tố đầu vào, đặc biệt là các yếu tố được<br /> thách thức trong ST RRTT so với ST rủi tạo ra bởi các NHTM, nhằm xem xét kỹ<br /> ro tín dụng. Chính vì vậy, trong nhiều lưỡng hơn về tính đại diện và toàn diện<br /> bài ST của cơ quan quản lý dựa trên Đạo của chúng.<br /> luật Dod-Frank (Dod-Frank Act) hoặc<br /> Chương trình Rà soát và Phân tích vốn 2.2.6. Lựa chọn khoảng thời gian trong ST<br /> toàn diện của Cục dự trữ liên bang Mỹ RRTT<br /> (Federal Reserve’s Comprehensive Capital<br /> Analysis and Review- Fed’ CCAR) và ST các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng<br /> ST giám sát được thực hiện bởi Cơ quan thường tập trung vào các tổn thất trong<br /> Ngân hàng Châu Âu (European Banking một khoảng thời gian dài 9 quý như đã áp<br /> Authority- EBA), các cơ quan quản lý dụng trong Đạo luật Dod-Frank và Fed’<br /> sẽ chỉ định các giá trị của các biến số sẽ CCAR. Một phần quan trọng của các ST<br /> tạo thành đầu vào của hệ thống đánh giá này là xác định danh mục sẽ thay đổi như<br /> RRTT mà NHTM cần phải thực hiện. Tuy thế nào trong khoảng thời gian căng thẳng.<br /> nhiên, ngay cả trong các trường hợp đó, Trong lịch sử, các bài ST về RRTT, chẳng<br /> các ngân hàng thường xuyên phải bổ sung hạn như các bài ST tập trung vào danh<br /> đầu vào của các yếu tố rủi ro mà các cơ mục kinh doanh, có thời gian rất ngắn, ví<br /> quan quản lý không chỉ định. Bên cạnh đó, dụ như 10 ngày hoặc thậm chí tức thời,<br /> khác với sổ ngân hàng có tài sản chủ yếu tùy thuộc vào tần suất giao dịch của các<br /> là tín dụng dài hạn, các danh mục trong sổ sản phẩm trong danh mục đầu tư. Như<br /> kinh doanh NHTM tạo ra nhiều trạng thái, vậy, thời gian trong ST RRTT ngắn hơn<br /> có thể có các trạng thái có lợi trong một xuất phát từ đặc trưng của sổ kinh doanh<br /> kịch bản bất lợi. Điều này gia tăng áp lực là giao dịch thường xuyên hơn và thời<br /> về phương pháp để xác minh các kết quả gian nắm giữ ngắn hơn.<br /> của ST RRTT. Bởi các kịch bản do các<br /> cơ quan quản lý cung cấp có thể đã không Sự lựa chọn khoảng thời gian không chỉ<br /> bao gồm tất cả các yếu tố rủi ro có thể xảy có tác động trực tiếp đến việc định giá<br /> ra mà một NHTM đã sử dụng, điều này danh mục đầu tư trong các bài ST, mà còn<br /> cho thấy mức độ không nhất quán của ST là căn cứ để ngân hàng đưa ra các biện<br /> RRTT cao hơn ST rủi ro tín dụng. Chính pháp như giảm mức rủi ro dựa trên kết<br /> vì vậy, hiệu quả của việc kiểm soát của cơ quả của các bài ST (Markovic, 2011). Ví<br /> quan quản lý trở nên vô cùng quan trọng. dụ, một khía cạnh quan trọng trong sự lựa<br /> <br /> <br /> Số 208- Tháng 9. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 47<br /> Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại<br /> <br /> <br /> <br /> chọn khoảng thời gian ST là điều gì sẽ ngừa rủi ro năng động nhằm giảm đáng<br /> xảy ra sau cú sốc ban đầu, hay nói cách kể các khoản tổn thất bất ngờ của danh<br /> khác là dư chấn. Alexander và Sheedy mục đầu tư. Tuy nhiên, trong một môi<br /> (2008) đã chỉ ra rằng hậu quả của một trường căng thẳng nghiêm trọng, không<br /> sự kiện gây sốc có thể bao gồm một số chắc chắn rằng các công cụ phòng ngừa<br /> hoặc tất cả những điều sau đây: Những rủi ro liệu còn tồn tại với đủ thanh khoản<br /> biến động lớn hơn nữa trong cùng một thị hay không. Những kinh nghiệm với cuộc<br /> trường; biến động lớn trong các thị trường khủng hoảng năm 1987 cho thấy các chiến<br /> khác và tương quan cao hơn giữa các thị lược phòng ngừa rủi ro năng động trong<br /> trường; và biến động trong các thị trường điều kiện thông thường đã thất bại khi<br /> quyền chọn tăng lên và thanh khoản thị không tính đến các phản hồi tích cực của<br /> trường giảm. Trong một bài ST RRTT ở nhu cầu phòng ngừa rủi ro trong điều kiện<br /> cấp độ danh mục đầu tư về RRTT, khoảng căng thẳng, đặc biệt khi có sự gián đoạn<br /> thời gian được sử dụng có thể giống như lớn. Việc kéo dài khoảng thời gian cho ST<br /> khoảng thời gian sử dụng trong VaR, RRTT nhằm thực hiện ST toàn ngân hàng<br /> chẳng hạn như 10 ngày. Trong một kịch có thể xuất hiện vấn đề khi cho rằng chiến<br /> bản như vậy, dư chấn có thể không xảy ra. lược phòng ngừa rủi ro năng động thực sự<br /> trong những điều kiện căng thẳng này vẫn<br /> Tuy nhiên, đối với các bài ST mở rộng tỏ ra hiệu quả như ở trong điều kiện bình<br /> toàn ngân hàng, khoảng thời gian trong thường.<br /> các bài ST RRTT thường được yêu cầu<br /> phải giống với các bài ST cho các rủi ro 2.2.7. Đánh giá lại và tính toán lãi, lỗ<br /> khác, như rủi ro tín dụng, bởi vì cần có dưới kịch bản căng thẳng<br /> một khoảng thời gian chung để tạo ra tính<br /> nhất quán giữa các rủi ro khác nhau. Hai Khi các kịch bản căng thẳng thị trường<br /> vấn đề sau cần được xem xét thận trọng được xác định, bước tiếp theo là đánh giá<br /> trong quá trình kéo dài thời gian cho trạng thái trong danh mục dưới các kịch<br /> RRTT. Đầu tiên là có liên quan dư chấn bản căng thẳng. Sự khác biệt trong giá<br /> nhắc đến ở trên. Ví dụ, nếu NHTM tính trị của các trạng thái dưới kịch bản căng<br /> tổn thất trong một năm bằng cách lấy tổn thẳng và giá trị hiện tại là chỉ tiêu lãi hoặc<br /> thất của 10 ngày và mở rộng nó đến một lỗ. Quá trình ước lượng lãi, lỗ trong bối<br /> năm thông qua phương pháp như nhân cảnh căng thẳng bao gồm một số bước<br /> với căn bậc hai của thời gian sẽ có thể sau:<br /> làm sai lệch các tổn thất, vì bỏ qua các<br /> dư chấn. Thứ hai là tác động của phòng Định giá theo giá thị trường (Mark-to-<br /> ngừa rủi ro (hedging), cách thức quản lý market) và định giá theo mô hình (market-<br /> và những giả định được thực hiện liên to-model)<br /> quan đến phòng ngừa rủi ro. Việc phòng<br /> ngừa rủi ro có được tính đến hay không Định giá nhằm mục đích báo cáo và quản<br /> và cách thức phòng ngừa rủi ro được điều lý rủi ro thường dựa vào hai phương pháp:<br /> chỉnh có khác nhau giữa các tổ chức hay (i) Định giá theo giá thị trường sử dụng<br /> không là những vấn đề cần phải quan giá đóng cửa; (ii) định giá theo mô hình<br /> tâm. Các ngân hàng thường lập luận rằng dựa trên mô hình phân tích hoặc số học<br /> họ có thể thực hiện các chiến lược phòng (Akhtar, 2013). Các mô hình này thường<br /> <br /> <br /> 48 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 208- Tháng 9. 2019<br /> NGUYỄN THỊ DIỄM HƯƠNG<br /> <br /> <br /> <br /> sử dụng các tham số đầu vào đã được điều động tiêu cực trong tương lai.<br /> chỉnh từ các mức giá thị trường hiện tại.<br /> Những mô hình định giá này tạo thành Đánh giá lại: Đánh giá dựa trên độ<br /> khung cho việc đánh giá lại hoặc định giá nhạy (sensitivity based revaluation),<br /> lại các trạng thái theo các kịch bản căng đánh giá dựa trên mạng lưới (grid based<br /> thẳng. Cho dù các trạng thái được đánh revaluation), đánh giá toàn diện<br /> giá theo giá thị trường hoặc theo mô hình,<br /> các mô hình định giá được sử dụng để tạo Khi định giá lại các trạng thái dưới các<br /> độ nhạy cảm rủi ro cho các yếu tố rủi ro. kịch bản được chỉ định, các NHTM có<br /> Ví dụ, tỷ lệ sự thay đổi giá/ giá giao ngay thể áp dụng độ nhạy cảm rủi ro thường<br /> thường được gọi là delta, trong khi tỷ lệ được tạo ra trong hệ thống định giá tại<br /> thay đổi về giá/ thay đổi biến động được văn phòng nhằm đánh giá lại các trạng<br /> gọi là vega... Những độ nhạy cảm rủi ro thái. Sự sai lệch có thể chấp nhận được<br /> này, như delta, gamma và vega, dựa trên khi các cú sốc yếu tố rủi ro là nhỏ. Đối<br /> chuỗi Taylor thể hiện sự thay đổi trong với các công cụ tuyến tính như vốn chủ<br /> định giá cho những thay đổi trong các sở hữu tiền mặt, việc sử dụng độ nhạy<br /> yếu tố rủi ro. Các NHTM thường sử dụng cảm rủi ro có thể chính xác. Tuy nhiên,<br /> phương pháp “va chạm và định giá lại “ khi đánh giá lại các trạng thái trong khi<br /> (bump-and-reprice) để ước tính các mức tồn tại mối quan hệ phi tuyến tính giữa<br /> độ nhạy cảm này (Akhtar, 2013). Các độ giá cả và các biến động của yếu tố rủi<br /> nhạy cảm rủi ro này được tổng hợp theo ro, việc sử dụng các đánh giá đầy đủ<br /> sản phẩm, đơn vị kinh doanh, pháp nhân, thông qua các nhà định giá được cho là<br /> dựa trên mức độ chi tiết của đo lường hiệu quả, vì chuỗi Taylor sử dụng độ<br /> rủi ro và báo cáo rủi ro kỳ vọng. Một khi nhạy rủi ro sẽ không hiệu quả đối với<br /> chúng ta có các nhà định giá và/hoặc độ các biến động lớn của các yếu tố rủi ro<br /> nhạy cảm rủi ro cho các trạng thái trong (Akhtar, 2013). Ngoài sử dụng độ nhạy<br /> danh mục đầu tư, các cú sốc thị trường cảm rủi ro hoặc sử dụng các đánh giá<br /> căng thẳng được áp dụng để định giá lại đầy đủ, trong đó tất cả các yếu tố rủi<br /> các trạng thái đó. ro liên quan đều bị sốc đồng thời, các<br /> NHTM cũng có thể sử dụng phương<br /> Mặc dù cú sốc thị trường thường có thể pháp định giá dựa vào lưới (grid based<br /> được áp dụng trực tiếp vào các yếu tố rủi revaluation). Đây là những đánh giá<br /> ro, nhưng trong nhiều trường hợp, chúng đầy đủ được ước tính trước cho các biến<br /> được thể hiện dưới dạng một tỷ lệ tương động xác định của các yếu tố rủi ro và<br /> đối hoặc tuyệt đối so với mức độ hiện có thể dành cho một yếu tố rủi ro hoặc<br /> tại của các yếu tố rủi ro (Akhtar, 2013). cho các sự biến động kết hợp của các<br /> Hơn nữa, dựa trên phương thức mô hình yếu tố rủi ro (hai hoặc nhiều lưới). Nếu<br /> định giá thu thập các yếu tố đầu vào thị kịch bản căng thẳng nằm ở giữa hoặc<br /> trường, NHTM có thể cần phải chuyển bên ngoài các điểm lưới được chỉ định<br /> đổi các yếu tố rủi ro đầu vào trong kịch trước (giả sử 1%, 5%, 10%...), phép nội<br /> bản căng thẳng sang các yếu tố đầu vào có suy và ngoại suy được sử dụng để ước<br /> thể sử dụng được trong các mô hình định tính lãi, lỗ cho các kịch bản đó. Mặc dù<br /> giá. Điều này cũng cần thiết nhằm tránh không đáng tin cậy như đánh giá lại đầy<br /> các điều kiện giới hạn, tỷ lệ âm hoặc biến đủ thông qua sử dụng các hệ thống định<br /> <br /> <br /> Số 208- Tháng 9. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 49<br /> Phương pháp luận quy trình kiểm định sức chịu đựng rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại<br /> <br /> <br /> <br /> giá, phương pháp này lại có lợi thế về NHNN để đáp ứng các chuẩn mực Basel<br /> tốc độ tính toán, đặc biệt là khi xử lý số II và các nghiên cứu tiếp theo có thể tập<br /> liệu lớn của các trạng thái và/ hoặc các trung vào quy trình thực hiện ST RRTT tại<br /> kịch bản. các NHTM Việt Nam ■<br /> <br /> 3. Kết luận<br /> <br /> ST RRTT là một công cụ quan trọng nhằm<br /> quản lý rủi ro, mức độ đủ vốn và hoạt<br /> động giám sát ngân hàng. Bài viết này đã<br /> giới thiệu những nội dung cơ bản của ST<br /> và tóm tắt các yếu tố quan trọng của ST<br /> RRTT tại các NHTM, các kịch bản khác<br /> nhau của các yếu tố RRTT được phát triển<br /> và các danh mục nhạy cảm với RRTT<br /> được đánh giá lại dưới các kịch bản nhằm<br /> ước tính tổn thất tiềm tàng. Quy trình ST<br /> RRTT bao gồm 7 bước được hệ thống lại<br /> gồm: Xác định phạm vi và loại hình ST;<br /> lựa chọn nhóm tài sản; lựa chọn các yếu tố<br /> rủi ro; lựa chọn dữ liệu; lựa chọn kịch bản;<br /> lựa chọn khoảng thời gian; đánh giá lại và<br /> tính toán lãi lỗ dưới kịch bản căng thẳng.<br /> Bài viết sẽ là căn cứ tham khảo về phương<br /> pháp luận cho các NHTM Việt Nam trong<br /> việc triển khai ST RRTT theo yêu cầu của<br /> <br /> Tài liệu tham khảo<br /> 1. Akhtar, S. and Hasan, I., 2013. Stress testing: Approaches, methods and applications. Risk Books,.<br /> 2. Alexander, C. and Sheedy, E., 2008. Developing a stress testing framework based on market risk models. Journal of<br /> Banking & Finance, 32(10), pp.2220-2236.<br /> 3. Berkowitz Jeremy (1999), A coherent framework for stress-testing, Nhà xuất bản Divisions of Research & Statistics<br /> and Monetary Affairs, Federal Reserve Board<br /> 4. BCBS (1996), Amendment to the capital accord to incorporate market risks<br /> 5. BCBS (1999), Framework for Supervising Information about Derivatives and Trading Activities<br /> 6. BCBS (2009), Principles for sound stress testing practices and supervision<br /> 7. BCBS (2010), Revisions to the Basel II market risk framework<br /> 8. BCBS (2009), Principles for sound stress testing practices and supervision<br /> 9. BCBS (2016), Minimum capital requirements for market risk<br /> 10. Cihák, M. 2004, ‘Stress testing – A review of key concepts’, CNB Interntional research and policy notes, 02/2004<br /> 11. Cornett, M.M. and Saunders, A., 2003. Financial institutions management: A risk management approach.<br /> McGraw-Hill/Irwin<br /> 12. Christoffersen, P. and Pelletier, D., 2004. Backtesting value-at-risk: A duration-based approach. Journal of<br /> Financial Econometrics, 2(1), pp.84-108.<br /> 13. Marković, P. and Urošević, B., 2011. Market risk stress testing for internationally active financial<br /> institutions. Economic annals, 56(188), pp.62-90.<br /> 14. Quagliariello, M. ed., 2009. Stress-testing the banking system: methodologies and applications. Cambridge<br /> University Press.<br /> <br /> <br /> <br /> 50 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 208- Tháng 9. 2019<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2