
LUẬN VĂN:
Tìm hiểu một số phương pháp cơ
bản trong việc nghiên cứu ngôn
ngữ Hồ Chí Minh

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào lịch sử như một anh hùng giải phóng dân tộc, một
danh nhân văn hóa thế giới. Người đó để lại những tác động sâu sắc, mạnh mẽ, làm
thay đổi hẳn tiến trỡnh phỏt triển của dõn tộc ta theo chiều hướng đi lên. Những tác
động đó trước hết biểu hiện ở đời sống vật chất, chế độ chính trị - xó hội, sau đó ở mặt
tinh thần. Những biến động thực tiễn mà Người tạo ra, có thể theo sự phát triển của
lịch sử, sẽ không dừng lại ở đó, nhưng các tác động về tinh thần sẽ tồn tại mói mói.
Chỳng hỡnh thành nờn cỏc mạch ngầm, nhờ cỏc mạch ngầm này mà bản sắc văn hóa
của dân tộc được duy trỡ và phỏt triển. Chủ tịch Hồ Chớ Minh đó tỏc động lên rất nhiều
mặt của xó hội Việt Nam.Vỡ vậy, phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh học nói
chung và nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh nói riêng là một trong những phương diện
của nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chúng ta biết rằng, ngôn ngữ của một dân tộc tuy là chung cho mọi thành viên
trong dân tộc nhưng mỗi cá nhân lại có cách sử dụng riêng và nắm bắt được ngôn ngữ
theo cách riêng. Trong ngôn ngữ học có khái niệm đặc ngữ. Ngôn ngữ tuy là chung
nhưng chỉ tồn tại dưới dạng các đặc ngữ - đặc ngữ xó hội, đặc ngữ địa lý, các phương
ngữ và các đặc ngữ cá nhân. Đặc ngữ cá nhân là một đối tượng nghiên cứu của ngôn
ngữ học. Ngôn ngữ Hồ Chí Minh cũng là một trong những đặc ngữ cá nhân. Có điều
nghiên cứu đặc ngữ cá nhân của những người thường thỡ tương đối đơn giản, cũn
nghiờn cứu đặc tính của các danh nhân như: nhà văn, nhà triết học… thỡ phức tạp hơn
nhiều.
Trên thế giới đó cú những cụng trỡnh nghiờn cứu về ngụn ngữ của A. Puskinm
của V. Huygo,… Ngụn ngữ Hồ Chớ Minh lại càng đa dạng, phong phú. Ngoài tiếng
Việt, Người cũn dựng nhiều thứ tiếng khác như: tiếng Pháp, tiếng Hán và một số ngoại
ngữ khác. Riêng trong tiếng Việt, ngoài cỏc tài liệu viết, cũn cú những bài Người nói
chuyện với cán bộ, với quần chúng…
Trước kia, việc đưa ra phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh cũn là một
trong những vấn đề ít được đi sâu nghiên cứu và chưa có một công trỡnh nào nghiờn
cứu riờng về vấn đề này, nhất là về phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chớ Minh.
Vỡ thế, đây là vấn đề đũi hỏi cần phải tiếp tục được nghiên cứu trong những năm đổi

mới của nước nhà. Đồng thời, nhằm làm rừ những khỏi niệm phương pháp cùng những
nội dung chủ yếu của phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh trên các lĩnh
vực hoạt động của mỡnh để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc…
trong khuôn khổ của một bài tiểu luận, tôi lựa chọn nội dung: “Tỡm hiểu một số
phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh” làm tiểu luận để
kết thúc phần học – Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn Hồ Chí Minh học.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề này chủ yếu nhằm:
Tỡm hiểu để đi tới xác định những phương pháp và cách thức tiếp cận ngôn
ngữ Hồ Chí Minh.
Giúp cho những cán bộ nghiên cứu muốn đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí
Minh, đánh giá, bỡnh luận về giỏ trị, hiệu quả của ngụn ngữ lónh tụ cũng như muốn
tỡm hiểu về con người Hồ Chí Minh qua ngôn ngữ của Người.
Thấy rừ sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo phương pháp ngôn ngữ Hồ Chí
Minh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của nước nhà.
Nõng cao ý thức, trỏch nhiệm trong việc đấu tranh chống lại những quan điểm
sai trái, thù địch của các thế lực trong và ngoài nước đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phục lục, nội
dung chính gồm 3 mục lớn:
I. Những vấn đề chung về phương pháp và phương pháp luận
II. Những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồ
Chí Minh
III. Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh
B. NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG PHÁP
LUẬN

1. Những vấn đề về Phương pháp
Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ lao động sản xuất đến nghiên
cứu khoa học hay sáng tạo văn học nghệ thuật, từ những hoạt đọng chinh phục tư nhiên
đến đấu tranh xó hội, trờn tất cả cỏc lĩnh vực chớnh trị, kinh tế, quõn sự, ngoại giao,
văn hóa, giáo dục… vấn đề phương pháp bao giờ cũng được đặt ra để lựa chọn, sử dụng
nhằm thực hiện những ý tưởng, những mục tiêu đó định. Trong quá trỡnh nhận thức và
cải tạo thế giới, loài người đó sỏng tạo ra rất nhiều phương pháp, bởi vỡ nhận thức và
cải tạo thế giới chỉ có thể thực hiện được bằng những phương pháp nhất định.
Chớnh quỏ trỡnh nhận thức và cải tạo ấy lại kiểm nghiêm phương pháp nào là
đúng, phương pháp nào là sai, chỉ có phương pháp đúng đắng mới giúp cho con người
có được những tư tưởng đúng đắn và thực hiện hóa những tư tưởng đúng đắn ấy trong
đời sống của con người và xó hội, trong thực tiễn cải tạo thế giới khách quan. Từ đó
đem lại sự phát triển không ngừng của khoa học tự nhiên. Phương pháp đúng đắn là
công cụ để nhận thức thế giới ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn và cải tạo thế giới
ngày càng hiệu quả hơn theo những quy luật khách quan của nó.
Vậy, phương pháp là gỡ? Từ trước đến nay đó cú nhiều định nghĩa về phương
pháp. Không ít người đó cho rằng phương pháp chỉ là sản phẩm thuần túy của tư duy,
xuất phát hoàn toàn từ ý muốn chủ quan của con người, chỉ là những gỡ thuộc về chủ
thể nhận thức và cải tạo thế giới khỏch quan… nhưng phương pháp mà con người tỡm
kiếm, lựa chọn, sử dụng lại nhất thiết phải xuất phỏt từ cơ sở khách quan đó chứ không
thể khác được.
Phương pháp được con người xác định không có mục đích tự thân, không có
phương pháp vỡ phương pháp, mà bao giờ cũng là nhằm tác động vào những đối tượng,
khách thể nhất định. Chính mục tiêu tác động vào đối tượng, khách thể đó đũi hỏi con
người tỡm kiếm, lựa chọn sử dụng phương pháp đúng đắn, phù hợp. Sự phù hợp của hai
mặt chủ quan và khách quan là điều kiện quyết định để có được phương pháp đúng đắn,
khoa học và phương pháp sẽ là sai lầm nếu nó chỉ là kết quả của sự tỡm kiếm chủ quan.
N.K. Crupxcaia đó hoàn toàn cú lý khi nờu ra luận điểm: Phương pháp, nếu được đặt ra
một cách đúng đắn phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, dựa trên cơ sở nghiên
cứu lịch sử phát triển của lĩnh vực kiến thức ấy(1).
1 N.K.Crupxcaia: Bàn về công tác huấn luyện, Mátxcơva, 1946, tr156

Nhà bác học nổi tiếng T. Páplốp đó đưa ra định nghĩa: phương pháp khoa học –
đó là quy luật bên trong của sự vận động của tư duy con người xem như quy luật khách
quan đó được “cấy lại” và “chuyển hóa” vào trong ý thức con người và được sử dụng
một cách tự giác, có kế hoạch như công cụ để giải thích và biến đổi thế giới. “Phương
pháp khoa học là những quy luật bản chất nội tại của vận động nhận thức khoa học
được chúng ta sử dụng một cách có ý thức để đạt đến những thành tựu chân lý đúng
đắn hơn, nhanh chóng hơn, đầy đủ hơn” (2).
Từ những hoạt động hết sức đa dạng của con người, từ những chỉ dẫn của các
nhà kinh điển mácxít, từ những kiến thức về phương pháp mà nhiều người đó đưa ra, có
thể rút ra một số kết luận sau đây:
Hoạt động của con người trong bất cứ lĩnh vực nào đều là hoạt động có mục
đích nhất định. Phương pháp chính là cách thức giúp cho con người định hướng và điểu
chỉnh hoạt động để đi tới mục đích đó.
Cơ sở và cũng là điểm xuất phát của phương pháp phải là đối tượng, khách thể
mà con người tác động bằng hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm biến đổi
đối tượng, khách thể ấy, chứ hoàn toàn không phải tư duy biện chứng của mỡnh. Vỡ
vậy, phải hiểu rừ đối tượng, khách thể với quy luật khách quan quy định sự tồn tại và
vận động của nó, con người mới tỡm được phương pháp đúng đắn, thích hợp để tác
động vào đối tượng, khách thể có hiệu quả.
Phương pháp là cách thức, với tính chất là quy luật vận động nội tại của tư duy,
phản ánh quy luật vận động của đối tượng, khách thể của thế giới khách quan, được con
người sử dụng có ý thức.
Có phương pháp đúng đắn và phương pháp sai lầm, phương pháp đúng đắn cũn
được gọi là phương pháp khoa học.
Từ những nội dung được trỡnh bày ở trờn, cú thể xỏc định:
Phương pháp là toàn bộ những cách thức với tính chất là một hệ thống các
nguyên tắc xuất phát từ những quy luật tồn tại và vận động của đối tượng, khách thể đó
được nhận thức, để định hướng và điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động
2 T. Páplốp: Thuyết phản ánh, Mátxcơva, 1968, tr401

