intTypePromotion=3

Quá trình tự học và phương pháp dạy tự học cho sinh viên

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
135
lượt xem
34
download

Quá trình tự học và phương pháp dạy tự học cho sinh viên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong khuôn khổ báo cáo này người viết muốn tập trung đề cập những vấn đề liên quan đến khái niệm tự học, nội dung hoạt động tự học, các hình thức dạy tự học, đặc biệt là quan tâm đến các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho SV. Để từ đó thúc đẩy quá trình rèn luyện kĩ năng tự học cho SV, góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

 

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quá trình tự học và phương pháp dạy tự học cho sinh viên

  1. QÚA TRÌNH TỰ HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỰ HỌC  CHO SINH VIÊN Th.S Dương Thị Thanh Huyền Bộ môn Khoa học Xã hội & Nhân văn 1. MỞ ĐẦU            Trong thời đại mà khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng như  hiện nay, nhà   trường dù tốt đến mấy cũng không thể  đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học   cũng như  đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội. Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự  học cho sinh viên (SV) là một công việc có vị  trí cực kì quan trọng trong các nhà   trường đại học. Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách   thức khác nhau mỗi SV mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về tri thức khoa   học về đời sống xã hội. Từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống, công việc bởi năng  lực toàn diện của mình.              Vấn đề tự học tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm   quán triệt sâu sắc từ  nhiều năm qua. Nghị  quyết Trung  ương V khóa 8 từng nêu rõ:   “ Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo   của học sinh, Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự  học cho học sinh, phát triển   mạnh mẽ phong trao tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”.        Trên tinh thần ấy, rõ ràng Đảng ta đã coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có  vị trí cực kì quan trọng trong chiến lược giáo dục ­ đào tạo của đất nước. Trong khuôn   khổ  báo cáo này chúng tôi muốn tập trung đề  cập những vấn đề  liên quan đến khái  niệm tự  học, nội dung hoạt động tự  học, các hình thức dạy tự  học, đặc biệt là quan   tâm đến các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự  học cho SV. Để  từ  đó thúc đẩy quá trình   rèn luyện kĩ năng tự  học cho SV, góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy  học, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.  2. NỘI DUNG        Trước hết cần xác định rõ khái niệm tự học là gì? Vị trí của hoạt động tự học đối   với quá trình học tập nghiên cứu của mỗi người ra sao? Nội dung phương pháp tự học   bao gồm những vấn đề  nào?... Đây là những vấn đề  mà các nhà nghiên cứu giáo dục  đã dày công nghiên cứu từ  lâu. Tuy nhiên, cần nhận thức một điều rằng: do sự  chi  phối của điều kiện lịch sử mà việc vận dụng những tri thức cũng như  phương pháp   dạy tự học trong từng giai đoạn cần có sự khác nhau. Nhất là ở xã hội hiện tại, khi mà  thông tin tri thức khoa học bùng nổ tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng,   người học rất khó định hướng trong việc lựa chọn tiếp cận tri thức thì vai trò hướng   dẫn của người thầy là rất cần thiết. 2.1. KHÁI NIỆM TỰ HỌC a. Tự học là gì?         Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường trung học   chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự  học là   hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự  mình động não, suy   nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ  (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng các  
  2. phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay   những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản   thân người học”.        Tác giả Nguyễn Kỳ  ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn về khái   niệm tự  học: “Tự  học là người học tích cực chủ  động, tự  mình tìm ra tri thức kinh   nghiệm bằng hành động của mình, tự  thể  hiện mình. Tự  học là tự  đặt mình vào tình   huống học, vào vị  trí nghiên cứu, xử  lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử   nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.        Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng  11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “  Học bao giờ  và lúc nào   cũng chủ yếu là tự  học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ  nhiều thế  hệ  của   nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình   kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.      Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng,  gắn bó chặt chẽ  với khái niệm   tự  thân.  Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá   nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự  thân ấy. Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi SV phải tự thân tiếp nhận tri thức   từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự  thân bồi dưỡng tâm hồn của mình  ở mọi nơi mọi lúc. b. Vị trí vai trò của tự học       Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học.         Từ  lâu các nhà sư  phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự  học.   Trong quá trình hoạt động dạy học (DH) giảng viên (GV) không chỉ  dừng lại  ở  việc   truyền thụ  những tri thức có sẵn, chỉ  cần yêu cầu SV ghi nhớ  mà quan trọng hơn là  phải định hướng, tổ chức cho SV tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới   của các vấn đề khoa học. Giúp SV không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách  tìm đến những tri thức ấy. Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác  định rõ: càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy   học thì cốt lõi chính là dạy tự  học. Phương pháp tự  học là cầu nối giữa học tập và  nghiên cứu khoa học. Bởi vì SV đại học không phải là những học sinh cấp bốn. Họ  cần có thói quen nghiên cứu khoa học, mà để  có được thói quen  ấy thì không thể  không thông qua con đường tự  học. Muốn thành công trên bước đường học tập và   nghiên cứu thì phải có khả  năng phát hiện và tự  giải quyết những vấn đề  mà cuộc   sống, khoa học đặt ra.        Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ   cho quá trình học tập.       Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự  chủ  động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.Và, một trong những nhiệm vụ  quan trọng của   giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học. Bởi từ đó nền giáo dục mới mong  đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích  ứng với mọi thị  trường lao   động, góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực  tự  học) như  một điều kiện, kết quả  của sự phát triển nhân cách thế  hệ  trẻ  trong xã   hội hiện đại. Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều   mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự  hưng phấn  
  3. tích cực. Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập. Có hứng thú  người học mới có được sự  tự  giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá. Hứng thú là   động lực dẫn tới tự giác. Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ  sở  sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác. Nó bảo đảm cho sự định hình tính  độc lập trong học tập.        Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng  định năng lực phẩm chất và để cống hiến. Tự học giúp con người thích ứng với mọi   biến cố  của sự  phát triển kinh tế  ­ xã hội. Bằng con đường tự  học mỗi cá nhân sẽ  không cảm thấy bị  lạc hậu so với thời cuộc, thích  ứng và bắt nhịp nhanh với những  tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ  môi trường nghề nghiệp. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng  tự  học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ  tạo cho họ  lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.         Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp tự  học, đặc biệt là sự  tự  giác, ý chí tích cực chủ  động sáng tạo sẽ  khơi dậy năng lực   tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học.   2.2. NỘI DUNG CỦA TỰ HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỰ HỌC CHO SINH VIÊN  2.2.1. Nội dung của quá trình tự học        Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho SV tự học như thế nào để có   hiệu quả thiết thực là một vấn đề  hoàn toàn không đơn giản. Ngoài việc tìm hiểu khái  niệm, những vấn đề  liên quan đến động cơ, thói quen học tập của SV thì mỗi GV rất   cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phương cách tối ưu rèn   luyện phương pháp tự học cho SV. Đặc biệt là việc nhận diện xem những phương pháp  đó ngoài sự  thích  ứng chung cho mọi SV có đáp  ứng được cho từng nhóm đối tượng   trong những giai đoạn và điều kiện, hoàn cảnh khác nhau trong suốt quá trình đào tạo  hay không.         Để  đáp  ứng yêu cầu nêu trên cần xác định rõ những yêu cầu cơ  bản của hoạt  động tự  học như: nội dung của hoạt động tự  học gồm mấy vấn đề, để  tiếp cận nó  phải tuân thủ  theo qui trình nào, điều kiện để  áp dụng có hiệu quả  các yêu cầu ra   sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự học tích cực tương ứng.        Với tất cả  các lĩnh vực khoa học, việc dạy tự  học có những điểm chung, thống  nhất về cách thức cũng như phương pháp. Đó là những vấn đề được xác định như sau: a/ Xây dựng động cơ học tập       Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập. Người   học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên. Bởi vì,  thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính  toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu. Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện   tại đặt ra cho mỗi người những tố  chất cần thiết chứ không phải là những điểm số  đẹp, những chứng chỉ như vật trang sức vào đời mà không có thực lực vì động cơ học  tập lệch lạc. Có động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn tự giác say mê, học tập   với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận.       Trong rất nhiều động cơ học tập của SV, có thể khuôn tách thành hai nhóm cơ bản:
  4. ­ Các động cơ hứng thú nhận thức. ­ Các động cơ trách nhiệm trong học tập.         Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người   học một cách tự  nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, động và chứa   nhiều những yếu tố nghịch lí, gợi sự tò mò. Động cơ này sẽ  xuất hiện thường xuyên  khi GV biết tăng cường tổ  chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các  biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học.        Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý thức   về  ý nghĩa xã hội của sự học. Giống như nghĩa vụ  đối với Tổ  quốc, trách nhiệm đối   với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó các em mới có ý thức kỉ luật   trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ  GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội và sự điều chỉnh của dư luận.        Cả hai động cơ  trên không phải là một quá trình hình thành tự  phát, cũng chẳng  được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự  giác thầm lặng   từ bên trong. Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lí  lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dây hứng thú   học tập và năng lực tiềm tàng nơi SV. Và, điều quan trọng hơn là tạo mọi điều kiện  để các em tự kích thích động cơ học tập của mình.         Đối với phần đông những người trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò giải trí   hấp dẫn nhất thời để  toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới vô cùng   mỏng manh. Nó đòi hỏi sự  quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ  cùng nghi lực đủ  để  chiến thắng chính bản thân mình. Đối với người trưởng thành, khi mục đích cuộc đời đã  rõ, ý thức trách nhiệm đối với công việc đã được xác định và sự  học đã trở  thành niềm   vui thì việc xác định động cơ thái độ học tập nói chung không khó khăn như thế hệ trẻ.   Tuy nhiên không phải là hoàn toàn không có. Vì suy cho cùng ai cũng có những nhu cầu   riêng và từ  đó có những hứng thú khác nhau. Vấn đề  là phải biết kết hợp biện chứng   giữa nội sinh và ngoại sinh, tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh   thức, khơi dậy trên cơ sở những điều kiện tốt từ  bên ngoài. Trong đó người thầy đóng   vai trò chủ đạo.  b/ Xây dựng kế hoạch học tập        Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và kế   hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng. Trong đó kế hoạch phải được xác  định với tính hướng đích cao. Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng môn,  từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng giai   đoạn cụ  thể  sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình. Vấn đề  kế  tiếp là   phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp   và dành thời gian công sức cho nó. Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn  hiệu quả  sẽ  không cao. Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần  việc một cách hợp lí logic về  cả  nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn   thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế  hoạch. Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi. c/ Tự mình nắm vững nội dung tri thức        Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất. Khối lượng   kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề  nông hay 
  5. sâu, rộng hay hẹp, có bề  vững không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân  người học trong bước mang tính đột phá này. Nó bao gồm các hoạt động:       ­  Tiếp cận thông tin: Lựa chọn và chủ  động tiếp nhận thông tin từ  nhiều nguồn   khác nhau và từ  những hoạt động đã được xác định như  đọc sách, nghe giảng, xem  truyền hình, tra cứu từ Internet, cemine, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra…   Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh   và linh hoạt. Xã hội hiện đại đang khiến phần lớn SV rời xa sách và chỉ quan tâm đến   các phương tiện nghe nhìn khác. Đơn giản vì nó thỏa mãn trí tò mò, giúp cho tai nghe  mắt thấy tức thời. Đó là chưa kể  đến sự  nhiễu loạn thông tin mà nếu không vững  vàng thì giới trẻ  sẽ  rất dễ  sa vào những cạm bẫy thiếu lành mạnh,  ảnh hưởng trực  tiếp đến sự phát triển nhân cách, tâm hồn. Trong lúc từ cổ  chí kim, muốn làm chủ  tri  thức nhân loại thì con đường tốt nhất của mọi người là đọc sách. Đọc sách là phương   pháp tự học rẻ tiền và hiệu quả nhất. Khi làm việc với sách ta phải sử dụng năng lực   tổng hợp toàn diện và có sự  xuất hiện của hoạt động của trí não, một hoạt động tối   ưu trong quá trình tự  học. Do vậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc  không thể  tách rời trong yêu cầu tự  học. Ngoài việc tiếp nhận tri thức còn phải biết  đối thoại, gợi mở, thắc mắc hay đề  xuất những vấn đề  cần lưu ý sau khi đọc sách,   hoặc chí ít là học cách viết, lối diễn đạt từ những cuốn sách hay. Đó là cách đọc sáng   tạo. Khác với sự giải trí đơn giản hay cảm nhận thông thường.     ­ Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự  học không bao giờ diễn ra   trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được. Quá trình này có  thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…      ­ Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học để  giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống,  viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học, tổng thuật… SV thường gặp rất nhiều khó khăn.   Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư  liệu nhưng việc tập hợp phân loại nội dung   để kiến giải một vấn đề lại không thực hiện được. Trong trường hợp này cần khoanh  vùng vấn đề trong một giới hạn đừng quá rộng. Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề  nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị  thực tiễn là đáp ứng yêu cầu. Trong khâu   này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất cho đối   tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết.      ­ Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức   hay diển ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa học, thảo  luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức.  Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ năng trình bày (bằng   lời nói hay văn bản) cho người học. Giúp người học chủ  động, tự  tin trong giao tiếp   ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt.  d/ Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập:        Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức: Dùng các   thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét   của tập thể thông qua thảo luận, tự  đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu…   Tất cả  đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên. Thông qua   nó người học tự  đối thoại để  thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì 
  6. chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để  từ  đó có hướng khắc phục hay phát  huy.        Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản. Muốn hoạt động học tập có hiệu quả  nhất thiết SV phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chính nội lực   của bản thân. Vì nội lực mới chính là nhân tố  quyết định cho sự  phát triển. Ngoài ra,  rất cần tới vai trò của người thầy với tư cách là ngoại lực trong việc trang bị cho SV   một hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học.  Nhờ đó hoạt động tự học tự đào tạo của SV mới đi vào chiều sâu thực chất. 2.2.2. Dạy phương pháp tự học cho sinh viên        Ngoài những nội dung và phương pháp chung được trình bày ở trên mỗi môn học,  mỗi đối tượng đều có những đặc thù riêng. Và, với GV cũng vậy, cũng với những   phương pháp giống nhau nhưng cách sử dụng của mỗi người ở những thời điểm cũng  có sự khác nhau. Do vậy, việc tìm ra những cách thức dạy tự học cụ thể cho từng lĩnh  vực là công việc rất có ý nghĩa. Tâm lí chung với đối tượng SV các chuyên ngành  thuộc khối Tự nhiên – Kĩ thuật thường ngại các môn KHXH – NV có nhiều chữ, một   phần do không thuộc sở trường một phần quĩ thời gian ngày càng eo hẹp, việc học các   học phần này thường chiếm nhiều thời gian. Do vậy trong báo cáo này, việc xác định  các phương pháp dạy cho SV tự học các môn thuộc KHXH –NV được chúng tôi quan  tâm  nhiều hơn.        Dạy phương pháp tự học cho SV ở các môn Khoa học tự nhiên – Kĩ thuật đã được   định hình từ lâu bằng những yêu cầu cụ thể rõ ràng như thực hành bài tập, vẽ sơ đồ… Việc kiểm tra SV có thực hiện yêu cầu học tập mà GV giao hay không cũng vì thế mà  dễ xác định và đỡ mất thời gian hơn. Còn đối với các môn thuộc lĩnh vực Xã hội Nhân  văn không hề dễ dàng. Từ  đặc thù của lĩnh vực chuyên ngành xã hội, qua nghiên cứu  các tài liệu về phương pháp dạy học và thực tế giảng dạy nhiều năm chúng tôi đã rút  ra bốn vấn đề cốt lõi có thể áp dụng trong quá trình dạy tự học cho SV. Đó là:   a/ Dạy cách lập kế hoạch học tập       Trên cơ sở đề cương môn học, vào đầu mỗi học phần GV cần hướng dẫn SV lập   kế  hoạch học tập sao cho kế hoạch đó phải  ở  trong tầm với của mình, phù hợp với   điều kiện của mình. Tất nhiên có thể điều chỉnh khi điều kiện thay đổi. Quán triệt để  SV hiểu rõ: mọi kế  hoạch phải được xây dựng trên những mục tiêu cụ  thể  và hoàn   toàn phấn đấu thực hiện được. Trong đó có sự phân biệt rõ việc chính việc phụ, việc   làm ngay và việc làm sau. Có như thế mới từng bước góp nhặt tri thức tích lũy kết quả  học tập một cách bền vững. Việc sử  dụng và tận dụng tốt quĩ thời gian cũng cần   được đặt ra để  không phải bị  động trước khối lượng các môn học cũng như  áp lực   công việc. b/ Dạy cách nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học.       Nghe giảng và ghi chép là những kĩ năng mà ai cũng phải sử  dụng trong quá trình  học tập. Trình độ nghe và ghi chép của người học không giống nhau ở những môn học  khác nhau. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập. Tuy nhiên đây là vấn đề mà   xưa nay chưa có ai nghiên cứu. Mỗi người đều phải tự  mình rèn luyện thói quen ghi  chép để có thể có được những thông tin cần thiết về môn học. Điều quan trọng trước   tiên là GV cần truyền đạt cho SV những nguyên tắc chính của hoạt động nghe – ghi  
  7. chép. Với các môn KHXH – NV thường có dung lượng câu chữ nhiều, việc vừa chú ý  theo dõi để  tri nhận thông tin vừa mong muốn ghi chép thật đầy đủ  khiến đôi lúc trở  thành một thách đố lớn. Các em thường mang lối học thụ động, quen tách việc nghe và  ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều SV chỉ  chờ GV đọc mới có thể  ghi chép được  nội dung bài học nếu ngược lại thì đành bỏ  trống vở  khiến tâm lí bị   ức chế   ảnh   hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến thức. Thực tế đó đòi hỏi người học phải tập trung   tư  tưởng cao độ  để  có khả  năng lĩnh hội vấn đề  một cách khoa học nhất. Phải rèn   luyện để có khả năng huy động vốn từ, sử dụng tốc độ ghi chép nhanh bằng các hình   thức viết tắt, gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ  hình vẽ  những ý chính, các luận điểm   quan trọng mà GV nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần là điều vô cùng cần thiết. Ngoài ra,   trong quá trình học tập trên lớp, nếu có vấn đề  nào không hiểu cần đánh dấu để  hỏi   ngay sau khi GV ngừng giảng nhằm đào sâu kiến thức và tiết kiệm thời gian. Rất tiếc,   trên thực tế đây là điểm yếu mà phần lớn SV không quan tâm rèn luyện để có được.       Muốn tạo điều kiện cho SV nghe giảng và ghi chép tốt, GV cần lưu ý:       ­ Nội dung bài giảng phải mới mẻ, thiết thực, cần thiết có thể  tạo ra những tình   huống giả định yêu cầu SV suy nghĩ phản biện (d/c).        ­ Các câu hỏi, vấn đề  đặt ra trong giờ  giảng phải có sự  chọn lọc kĩ lưỡng, tập   trung vào trọng tâm bài học như  một cách phát tín hiệu cho SV xác định nội dung   chính. ­  Đưa vào bài giảng những tình huống lí thú, những mẫu chuyện sinh động lấy từ  thực tế  có liên quan trực tiếp đến đời sống hay lĩnh vực chuyên ngành của từng đối  tượng SV để gây sự chú ý cũng như tạo cảm giác hứng thú cho người học. (d/c) ­ Sau hoặc trong khi giảng bài có thể  yêu cầu SV tự  đặt ra những câu hỏi, tình  huống sát với nội dung bài học để thay đổi không khí, tăng cường sự chú ý của cả lớp. ­ Sự truyền cảm, mạch lạc trong lời giảng cũng là điều có ý nghĩa thu hút sự chú ý  của người học.        Tất cả những công việc này muốn thực hiện tốt phải có sự phối hợp nhịp nhàng   ăn ý của cả thầy và trò. Trong đó thầy đóng vai trò chủ  đạo trong việc hướng dẫn tổ  chức còn trò với tư  cách là chủ  thể  tích cực chủ  động sáng tạo cả  trong lĩnh hội tri  thức lẫn rèn luyện kĩ năng và bộc lộ quan điểm, thái độ.   c/ Dạy cách học bài     Vấn đề mấu chốt theo quan điểm của chúng tôi chính là dạy cách học bài. GV cần   giới thiệu và hướng dẫn cho SV tự  học theo mô hình các nấc thang nhận thức của  Bloom. Tức là học cách phân tích, tổng hợp, học vận dụng tri thức vào từng tình   huống thực tiễn, học nhận xét đánh giá, so sánh đối chiếu các kiến thức… Bên cạnh   đó còn phải rèn luyện năng lực tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo để tìm   ra những hướng tiếp cận mới các vấn đề khoa học.       Việc đưa ra các tình huống vấn đề gắn với thực tiễn đời sống xã hội là ưu thế của   các học  phần thuộc  lĩnh vực XHNV.  GV  cần cho những tình huống sau mỗi bài/  chương/ mục và yêu cầu SV chuẩn bị trước. Sau đó tùy tình hình để cho từng cá nhân  hay từng nhóm (cả lớp) thảo luận, giải quyết.       Một trong những hình thức giúp SV làm việc nhóm tốt nhất là tạo cơ hội cho các em   diễn ngôn trực tiếp. Từ  cách lấy dẫn chứng để  chứng minh một vấn đề, giải thích,  phản biện, nêu quan điểm ý tưởng hay thuyết trình, giới thiệu, tổng thuật một sự kiện,  
  8. một vấn đề khoa học hoặc đơn giản chỉ là sự bày tỏ  chính kiến trước một hiện tượng.  Thông qua đó người dạy cũng có thể nắm được mức độ nhận thức của SV để có sự bổ  sung điều chỉnh hợp lí, kịp thời. Đảm bảo chất lượng giờ  giảng luôn được cải thiện   theo hướng tích cực. d/ Dạy cách nghiên cứu        Trước hết là dạy cách xác định đề tài, chủ đề nghiên cứu sao cho phù hợp với sở  trường năng lực của mình và yêu cầu của chuyên ngành đào tạo. Tiếp đến là dạy cách  lựa chọn và tập hợp, phân loại thông tin và cách xử  lí thông tin trong khuôn khổ  thời  gian cho phép. Cơ sở lí luận của các môn KHXH&NV thường mang tính hàn lâm, tính  kế  thừa cao. Trong lúc trên thực tế  các vấn đề  xã hội lại thay đổi từng giây. Vì thế  việc xác định nguồn tài liệu, điều tra, thực nghiệm cũng đòi hỏi mỗi người phấn đấu   nắm bắt kịp thời những vấn đề mang tính thời sự nóng hổi cũng là một thách thức lớn.   Tài liệu sẽ lấy từ nguồn nào, giới hạn phạm vi bao nhiêu, cách viện dẫn những thông   tin ra sao cho chính xác, trích dẫn những vấn đề  điển hình nào cho có tính thuyết   phục… là những vấn đề  cần được hướng dẫn kĩ lưỡng chu đáo từ  phía GV. Một đề  cương nghiên cứu chuẩn mực, khoa học trong cấu trúc chung từ tổng quan của vấn đề  nghiên cứu, các cấp độ nội dung cần triển khai và cách xác định phương pháp nghiên   cứu phản ánh rất rõ năng lực của mỗi SV. Cần hình thành và rèn luyện cho các em  sớm có được kĩ năng ấy. Ngoài ra, việc tự kiểm tra đánh giá kết quả  nghiên cứu trên   cơ sở tranh thủ ý kiến của bạn bè thầy cô cũng đem lại lợi ích thiết dụng cho người   nghiên cứu, nhất là những SV bước đầu làm quen với khoa học.       Bốn vấn đề cốt lõi nêu trên chỉ là những chỉ dẫn cần thiết, mang tính định hướng.  Còn việc vận dụng ra sao còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố: Sự cố gắng đầy ý chí nghị  lực của người học, sự mẫn cán tận tâm và chu toàn của người dạy cùng những điều   kiện tiên quyết khác. Duy có một điều không cần bàn cãi là phương pháp dạy học  ở  bậc học đại học hiện nay không thể thiếu việc dạy cách học. 3. KẾT LUẬN          Hiện nay, trong các trường đại học, một bộ phận khá lớn SV còn thụ động trong   việc tiếp nhận tri thức. Phương pháp học tập, nhất là phương pháp tự  học luôn là bài   toán khó cho không ít SV kể cả SV năm cuối. Thế nhưng vấn đề này vẫn chưa được   quan tâm đúng mức. Do áp lực của khối lượng công việc luôn quá tải nên GV chỉ mãi  lo thực hiện chức năng của mình mà ít quan tâm đến rèn luyện kĩ năng toàn diện trong   đó tự  học cho SV trong đó kĩ năng tự  học. Vì vậy, mỗi trường đại học hiện đại cần  đưa phương pháp tự học vào mục tiêu đào tạo. Bởi lẽ, nó không chỉ cần thiết cho SV   khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi ra trường hòa nhập với xã hội, trong suốt   cuộc đời. Khi tự  học, mỗi SV hoàn toàn có điều kiện để  tự  nghiền ngẫm những vấn  đề nảy sinh trong học tập theo một phong cách riêng với những yêu cầu và điều kiện   thích hợp. Điều đó không chỉ giúp bản thân SV nắm được vấn đề một cách chắc chắn   và bền vững; chủ động bồi dưỡng phương pháp học tập và kĩ năng vận dụng tri thức  mà còn là dịp tốt để  rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động độc lập sáng tạo. Đó là   những phẩm chất mà chỉ  có chính bản thân SV tự  rèn luyện kiên trì mới có được,  không một ai có thể  cung cấp hay làm thay cho mình. Thực tế  cũng đã chứng minh,  
  9. mỗi thành công của SV trên con đường học tập nghiên cứu không bao giờ  là kết quả  của lối học tập thụ động, đối phó, chờ thời.         Từ đó, dễ nhận thấy rằng: cùng với đòi hỏi của xu thế hội nhập toàn cầu trên tất  cả các lĩnh vực và với một xã hội đầy biến động như  xã hội nước ta về sử  dụng lao   động, tiền lương, sự đãi ngộ và quá trình đào tạo ngày càng đi vào chiều sâu thực chất  thì hoạt động dạy học, đặc biệt là dạy cách học chắc chắn sẽ  tìm được sự  đồng   thuận cao của cộng đồng và là mảnh đất tốt cho bất kì ai có khát vọng học tập suốt  đời.                                                                                                                                                                                      TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Bá Hoành, Tháng 7/1998, Vị trí của tự học tự đào tạo trong quá trình dạy   học giáo dục và đào tạo, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục. 2. Lưu Xuân Mới, 2001, Phương pháp dạy học đại học, Nxb Giáo dục. 3. Lê Đức Ngọc, Tháng 8/2004,  Dạy cách học một trong những giải pháp nâng   cao chất lượng đào tạo đại học, Tạp chí Dạy và học ngày nay. 4. Vũ văn Tảo, Tháng 4/2001, Học và dạy cách học, Tạp chí Tự học. 5. Thái Duy Tuyên, 2003,  Dạy tự  học cho sinh viên trong các nhà trường Cao   đẳng Đại học chuyên nghiệp, Chuyên đề  Phương pháp dạy học cho học viên  Cao học, ĐH Huế.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản