intTypePromotion=1
ADSENSE

Quan điểm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng chuyển đổi số trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

16
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Quan điểm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng chuyển đổi số trong các văn kiện đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam trình bày nội dung về đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số - một quan điểm đột phá quan trọng trong các văn kiện Đại học XIII của Đảng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quan điểm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng chuyển đổi số trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam

  1. Kỷ yếu hội thâo phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tiềm năng của địa phương và khu vực |175 QUAN ĐIỂM ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRÊN NỀN TẢNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ThS. Nguyễn Thị Hà Khoa Chính trị - Luật, Đại học Hà Tĩnh Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ với yếu tố đặc trƣng, đặc thù của công nghệ số đã mở ra cơ hội phát triển chƣa từng có trong các lĩnh vực ngành nghề. Nội dung công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) trên nền tảng về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số đƣợc xác định là nội dung quan trọng nhằm sớm đƣa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại. Phát triển hạ tầng số, phát triển kinh tế tri thức, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ, phát triển kinh tế vùng gắn với việc đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, hoàn thiện các thể chế phát triển đô thị và kinh tế đô thị là 5 vấn đề cơ bản cần đƣợc giải quyết mạnh mẽ để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời gian tới. Từ khóa: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, kinh tế số, văn kiện Đại hội XIII 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong sự nghiệp CNH.HĐH, Đảng ta luôn nhất quán xác định khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nội dung CNH.HĐH trên nền tảng về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam gần đây đƣợc xác định là nội dung quan trọng nhằm sớm đƣa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại. Chuyển đổi số, phát triển kinh tế số là thời cơ, cơ hội lớn để Việt Nam đẩy mạnh CNH.HĐH, phát triển đất nƣớc, thu hẹp khoảng cách phát triển với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1. Nội dung về đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số - một qu n điểm đột phá quan trọn tron c c văn iện Đại hội XIII củ Đảng Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ với yếu tố đặc trƣng, đặc thù của công nghệ số đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Công nghệ số là một bƣớc phát triển ở trình độ cao hơn của công nghệ thông tin. Với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, chuỗi khối; các thông tin, dữ liệu đều đƣợc chuyển thành thông tin, dữ liệu điện tử, đƣợc số hóa, đƣợc lƣu trữ, truyền tải với dung lƣợng lớn hơn, đƣợc xử lý nhanh hơn, cho phép lƣu trữ khối lƣợng thông tin to lớn và tạo ra khả năng khai thác, xử lý thông tin hiệu quả đã làm thay đổi mạnh mẽ phƣơng thức sản xuất, tổ chức và sinh hoạt xã hội, tạo ra sự phát triển nhảy vọt của nhiều doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều quốc gia.
  2. 176| Phần I. Những vấn đề chung về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tiềm năng... Số hóa đang dần trở thành xu thế, là bƣớc đi quan trọng để thực hiện nền kinh tế số và xã hội số, mở ra cơ hội phát triển chƣa từng có trong tất cả các lĩnh vực và ngành kinh tế, từ công nghiệp, nông nghiệp thông minh cho đến dịch vụ số; Từ sản xuất đến phân phối và lƣu thông hàng hóa cho đến các hạ tầng hỗ trợ nhƣ giao thông vận tải, logistics, tài chính, ngân hàng. Chuyển đổi số không những làm thay đổi mô hình sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng, cũng nhƣ đời sống văn hóa - xã hội mà còn thay đổi phƣơng thức quản lý nhà nƣớc. Vai trò, tầm quan trọng của chuyển đổi số đã thể hiện qua nhiều lợi ích mà ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng, trong đó có việc tiếp cận một cách nhanh nhất với tất cả các dịch vụ của xã hội, tạo dựng một môi trƣờng sống hiện đại, văn minh và linh hoạt Trong các văn kiện Đại hội XIII, trong cả Báo cáo chính trị, Báo cáo chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 và phƣơng hƣớng, kinh tế - xã hội 5 năm 2020-2025, nội dung về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ, công nghệ số, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số đƣợc đề cập nhiều lần, ở nhiều phần, liên quan đến những lĩnh vực khác nhau. Nhận định của Đảng ta về “công nghệ số” là: một yếu tố mới, quan trọng, có tác động lớn đến sự phát triển đất nƣớc trong những năm tới. Báo cáo chính trị của Đại hội XIII đánh giá: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc”[1; tr.106]. Trong Báo cáo chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 đã đánh giá: “Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Công nghệ số sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, làm thay đổi phƣơng thức quản lý Nhà nƣớc, mô hình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và đời sống văn hóa, xã hội”[1; tr.208,209]. Báo cáo xác định “thực hiện quyết liệt chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số, xã hội số”[1; Tr. 210, 211]. Chiến lƣợc đƣa ra 5 quan điểm phát triển thì đã có 2 quan điểm nhấn mạnh về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số. Cụ thể, quan điểm thứ nhất xác định “Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ số. Phải đổi mới tƣ duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, coi đây là nhân tố quyết định nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả và sức cạnh tranh”[1; tr.214.]. Quan điểm thứ hai về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa yêu cầu “Hệ thống pháp luật phải thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới”[1; tr.215]. Trong 12 định hƣớng phát triển đất nƣớc trong giai đoạn 2021-2030, định hƣớng thứ hai trong Báo cáo chính trị xác định: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”[1; tr.114]. Định hƣớng thứ ba nêu rõ: “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ”[1; Tr.115]. Riêng về lĩnh vực kinh tế, kinh tế số đƣợc đƣa thành một trong những chỉ tiêu chủ yếu của phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc trong những năm tới. Cụ thể, đến năm 2025, kinh tế số phải đạt khoảng 20% GDP; với việc đẩy mạnh chuyển đổi số, năng suất lao động xã hội phải đạt bình quân trên 6,5%/năm, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trƣởng phải đạt khoảng 45%. Đến năm 2030, kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt trên 6,5%/năm, đóng góp của TFP vào tăng trƣởng đạt 50%. Đồng thời, Đại hội chủ trƣơng trong quá trình thực hiện, quyết tâm phấn đấu đạt các mục tiêu và chỉ
  3. Kỷ yếu hội thâo phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tiềm năng của địa phương và khu vực |177 tiêu ở mức cao nhất [1; tr.113, 114]. Với nền kinh tế yêu cầu cần phải “thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ”[1; tr.121] và “Nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ, chất lƣợng nguồn nhân lực của đất nƣớc, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và phát triển kinh tế số”[1, tr.123]. Các văn kiện Đại hội XIII cũng đã đề ra một cách đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nhằm thực hiện các định hƣớng, quan điểm và chỉ tiêu đề ra về chuyển đổi số trong từng ngành, từng lĩnh vực. Cụ thể nhƣ sau: Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa: Cần phải quan tâm tới chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, nhƣ: “Xây dựng khung khổ pháp luật, môi trƣờng thuận lợi thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số”[1; tr.218, 219]. “Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trƣờng, các loại thị trƣờng... Phát triển thị trƣờng hàng hóa, dịch vụ theo phƣơng thức tổ chức, giao dịch văn minh, hiện đại, thƣơng mại điện tử. Phát triển đồng bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trƣờng tài chính, tiền tệ, thị trƣờng chứng khoán, thị trƣờng bảo hiểm... trên nền tảng công nghệ số với kết cấu hạ tầng, công nghệ và phƣơng thức giao dịch hiện đại”[1; tr.133.]. Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và Phƣơng hƣớng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 cụ thể hóa những chủ trƣơng hoàn thiện thể chế kinh tế “Xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý, thử nghiệm cơ chế, chính sách đặc thù để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, kinh tế số,..” [1; tr.223]; Với nền kinh tế yêu cầu cần phải “thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trƣờng, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu”[1, tr.121] và “Nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ, chất lƣợng nguồn nhân lực của đất nƣớc, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và phát triển kinh tế số”[15] Về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới mô hình tăng trƣởng kinh tế, phát triển các ngành, lĩnh vực: Chuyển đổi số, phát triển kinh tế số đƣợc xác định là một yêu cầu lớn, một nội dung quan trọng, là mũi nhọn đƣợc khuyến khích, ƣu tiên phát triển. Báo cáo chính trị đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp về chuyển đổi số cho từng ngành, lĩnh vực. Trong lĩnh vực công nghiệp, Báo cáo chính trị xác định “Cơ cấu lại công nghiệp, nâng cao trình độ công nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi sang công nghệ số, tập trung phát triển những ngành công nghiệp nền tảng,… Ƣu tiên phát triển nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trƣờng” [1; tr.123]. “Đẩy mạnh chuyển đổi số, phƣơng thức sản xuất kinh doanh trong công nghiệp, tăng khả năng kết nối, tiếp cận thông tin, dữ liệu để tăng cơ hội kinh doanh mới và tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu” [1; tr.244]. Với ngành công nghiệp truyền thống, hàng xuất khẩu mà Việt Nam có tiềm năng, lợi thế, Báo cáo chính trị chủ trƣơng cần tiếp tục phát triển, nhƣng đòi hỏi phải đổi mới công nghệ, ứng dụng các công nghệ cao, hiện đại, nhất là công nghệ số, phải chuyển đổi số. Trong 5 năm 2021-2025, các ngành công nghiệp đƣợc tập trung hay ƣu tiên phát triển đều phần lớn cũng là những ngành gắn với công nghệ số, kinh tế số, nhƣ: “Công nghệ thông tin và viễn thông, điện tử, trí tuệ nhân tạo, sản xuất robot, công nghiệp ôtô, sản xuất phần mềm, sản phẩm số, năng lƣợng sạch, năng lƣợng tái tạo. Tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với công nghệ thông minh”[2; tr.106].
  4. 178| Phần I. Những vấn đề chung về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tiềm năng... Trong lĩnh vực nông nghiệp, yêu cầu “Chú trọng phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái; phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phƣơng. Gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; sản xuất với bảo quản, chế biến, tiêu thụ” [1; Tr.125]. Lĩnh vực nông nghiệp đƣợc cơ cấu lại cũng hƣớng tới phát triển công nghệ cao, có hàm lƣợng tri thức “phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hƣớng hiện đại, công nghệ cao nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, thông minh”[2, tr.108, 109] Trong lĩnh vực dịch vụ, chủ trƣơng “Phát triển khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là các dịch vụ có giá trị gia tăng cao... Hiện đại hóa các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ... theo các chuẩn mực quốc tế” [1; Tr.126]. dịch vụ đƣợc cơ cấu lại cũng hƣớng tới phát triển dịch vụ thông minh, giá trị gia tăng cao,“Đẩy mạnh, ƣu tiên phát triển những ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lƣợng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao”. Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng, Báo cáo chính trị xác định “đột phá chiến lƣợc về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại”. Báo cáo nêu rõ, cần phải “tạo bứt phá trong phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông; xây dựng, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia”[1; Tr.127]. Phƣơng hƣớng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 đề ra nhiệm vụ “Đẩy mạnh công nghiệp hóa dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ; trong đó, tập trung phát triển những ngành ƣu tiên có mức độ s n sàng cao nhƣ công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, an toàn, an ninh mạng; công nghiệp chế tạo thông minh; tài chính - ngân hàng, thƣơng mại điện tử; nông nghiệp số, du lịch số, công nghiệp văn hóa số; y tế, giáo dục và đào tạo”[2; tr.105]. Chiến lƣợc phát triển 10 năm 2021-2030 xác định: “Thực hiện chuyển đổi số trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nƣớc, sản xuất kinh doanh, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên quốc gia ”[1; tr.227, 235]; “Thực hiện chuyển đổi số trong tất cả các doanh nghiệp và cơ quan nhà nƣớc”[1; tr.227, 235]; “xã hội số gắn với bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”[1; tr.247]“Thực hiện chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện để phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số. Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số, đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số”[1; tr.225]. Phƣơng hƣớng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 xác định: “Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số. Đẩy nhanh xây dựng khung chính sách, pháp luật đối với xây dựng chính phủ điện tử, hƣớng tới chính phủ số. Xây dựng, thử nghiệm, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới ứng dụng công nghệ cao, mô hình kinh tế chia sẻ, giao dịch, quản lý các tài sản kỹ thuật số, đầu tƣ mạo hiểm, các phƣơng thức thanh toán mới, hệ thống xác định rõ định danh điện tử. Sớm hoàn thành và đƣa vào khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quan trọng và nền tảng kết nối, chia sẻ quốc gia”[2; tr.99] Tóm lại, Chuyển đổi số nói chung và kinh tế số nói riêng đang trở thành đặc trƣng và xu hƣớng phát triển quan trọng. Đối với quốc gia đang phát triển nhƣ Việt Nam, nếu tích cực chuyển đổi số, phát triển kinh tế số. xã hội số sẽ là thời cơ để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nƣớc, sẽ có cơ hội lớn để thu hẹp khoảng cách phát triển, để đi cùng các nƣớc trong khu vực và trên thế giới
  5. Kỷ yếu hội thâo phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tiềm năng của địa phương và khu vực |179 2.2. Đẩy mạnh CNH.HĐH trên nền tảng về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số - Một số vấn đề cần tập trung giải quyết Công nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đƣa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa - xã hội của đất nƣớc lên trình độ mới. Đối với sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa có vai trò tạo điều kiện, tiền đề vật chất - kỹ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ trƣơng tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa của chúng ta cho đến nay đƣợc xác định đầy đủ là công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong các văn kiện của Đại hội Đảng gần đây, nội dung CNH.HĐH đƣợc xác định là nội dung quan trọng nhằm thực hiện quá trình công nghiệp hóa rút ngắn để sớm đƣa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại. Trong sự nghiệp CNH.HĐH, Đảng ta luôn nhất quán xác định khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng thúc đẩy đất nƣớc phát triển nhanh và bền vững. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trƣơng: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Nội dung CNH.HĐH trên nền tảng về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số đƣợc xác định là nội dung quan trọng nhằm sớm đƣa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại. Văn kiện lần này nhấn mạnh những nội dung cốt lõi cần thực hiện cho giai đoạn tới, phù hợp với điều kiện và bối cảnh trong nƣớc và quốc tế, nhất là tận dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nói chung, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ nói riêng. Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng lợi thế và còn dƣ địa lớn để làm động lực cho tăng trƣởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vƣợt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới” [1; Tr.235]. Nội dung này thể hiện rất rõ CNH.HĐH phải dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ để có sự bứt phá, vƣợt lên trong một số ngành và lĩnh vực. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh cần đồng thời chú trọng cả những ngành công nghiệp nền tảng và những ngành mới, công nghệ cao quyết định sự bứt phá về năng suất, chất lƣợng và hiệu quả của nền kinh tế. Thực hiện chủ trƣơng cơ cấu lại ngành nông nghiệp, chú trọng đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ (du lịch, thƣơng mại, viễn thông, công nghệ - thông tin, vận tải, lô-gis-stic, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tƣ vấn pháp lý, bảo hiểm, chứng khoán, dịch vụ y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, dịch vụ văn hóa, thể thao, dịch vụ thƣơng mại...) theo hƣớng chuyên nghiệp, hiện đại, văn minh, đạt tốc độ tăng trƣởng cao. Để đáp ứng mục tiên đẩy mạnh CNH.HĐH trong thời gian tới cần giải quyết đƣợc một số vấn đề cơ bản trƣớc mắt nhƣ sau: Thứ nhất, Phát triển hạ tầng số trong tiến trình CNH.HĐH Hạ tầng số với thành phần cốt lõi là hạ tầng viễn thông kết nối đến từng cá nhân, hạ tầng điện toán đám mây, nền tảng định danh và xác thực số cần đƣợc thúc đẩy đầu tƣ phát triển để đi cùng nhịp với các nƣớc trên thế giới về ứng dụng công nghệ mới…. phù hợp xu thế phát triển. Xây dựng kết cấu hạ tầng đƣợc khẳng định là nội dung quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, đƣợc xác định là một trong ba đột phá chiến lƣợc. Phát triển khoa học và công nghệ mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của xã hội và nền kinh tế. Mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình, mỗi doanh nghiệp và tổ chức ở các quốc gia có nhu cầu thông tin có thể truy cập một cách dễ dàng, khai thác, sử dụng thông tin trong các hoạt động của mình một cách tự nhiên, một nhu cầu tất yếu không thể thiếu trong cuộc sống. Tuy nhiên, hạ tầng thông tin chƣa đáp ứng đƣợc các
  6. 180| Phần I. Những vấn đề chung về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tiềm năng... yêu cầu ứng dụng các phƣơng thức quản lý thông minh, phƣơng tiện tự động, sản xuất thông minh… Việc tiếp cận dịch vụ hạ tầng viễn thông chƣa thỏa đáng, chƣa đƣợc đồng đều, đặc biệt là những vùng ở nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa còn hạn chế. Vì vậy cần thiết phải đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Nhanh chóng giải quyết tình trạng hệ thống hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin còn chậm về tốc độ, độ phủ chƣa lớn. Cùng với đó là mục tiêu đảm bảo 100% ngƣời dân có phƣơng tiện thông minh kết nối (smartphone, laptop,…), đƣợc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ số tiên tiến với chất lƣợng cao và giá cả phù hợp cơ bản cần đƣợc đáp ứng. Thứ hai, Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần gắn phát triển kinh tế tri thức với chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển Toàn cầu hóa đã truyền bá và chuyển giao những thành quả mới về khoa học, công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh đẩy nhanh sự phát triển lực lƣợng sản xuất. Toàn cầu hóa trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 diễn ra mạnh mẽ nhƣ hiện nay sẽ mang lại những nguồn lực rất quan trọng và cần thiết cho các nƣớc đang phát triển, tạo khả năng đƣa kiến thức và kinh nghiệm đến với nhiều quốc gia dân tộc và đặc biệt là tạo tiền đề và điều kiện cho các quốc gia đi sau rút ngắn lộ trình công nghiệp hóa. Xu thế toàn cầu hóa đặc biệt toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển kinh tế tri thức đang làm thay đổi mạnh mẽ nội dung và bƣớc đi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nó đòi hỏi quá trình này ở những nƣớc đi sau, nhƣ Việt Nam, phải đồng thời thực hiện hai quá trình: xây dựng nền công nghiệp theo hƣớng hiện đại và phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình CNH.HĐH là đòi hỏi tất yếu đối với nƣớc ta để đi nhanh tới mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, góp phần đƣa Việt Nam cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại. Trong nền kinh tế tri thức, tri thức tham gia vào quá trình quản lý, điều khiển sản xuất, đồng thời trực tiếp là một thành tố trong các sản phẩm cũng nhƣ nguyên liệu sản xuất. Nó có tốc độ hoạt động và đổi mới nhanh, trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển. Phƣơng thức phát triển cơ bản của nền kinh tế tri thức là xây dựng một xã hội học tập, Đây vừa là cách thức đúng đắn để đạt mục tiêu phát triển con ngƣời đồng thời phát triển nguồn nhân lực chính nhằm tạo lập cơ sở quan trọng để tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức. Phát triển nguồn nhân lực cần đƣợc thực hiện theo hai hƣớng: Phát triển con ngƣời là nền tảng và hiện đại hóa khâu giáo dục, đào tạo là trung tâm. Đây đƣợc xem là đầu tƣ mang tính hiệu quả nhất. Đặc biệt, việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định phát huy những năng lực nội sinh. Để tạo môi trƣờng, khơi dậy sức mạnh của toàn dân tiến vào nền kinh tế tri thức vai trò của giáo dục - đào tạo trong việc nâng cao năng lực của con ngƣời cần thiết đƣợc quan tâm đúng mức. Cần có các biện pháp đẩy nhanh, đẩy mạnh, có hiệu quả công tác đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29. Mặt khác, bên cạnh việc nhà nƣớc cần tạo khung pháp lý thúc đẩy, thu hút, khuyến khích đầu tƣ và hỗ trợ các điều kiện cần thiết để phát triển khoa học công nghệ, cần đồng thời xây dựng chiến lƣợc đào tạo, bồi dƣỡng và trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, kỹ sƣ trƣởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút, trọng dụng các nhà khoa học, công nghệ tài giỏi ở trong nƣớc và ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài. Có cơ chế phù hợp khuyến khích các nhà khoa học tham vấn, giám sát, phản biện và đóng góp xây dựng chủ trƣơng, chính sách.
  7. Kỷ yếu hội thâo phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tiềm năng của địa phương và khu vực |181 Thứ ba, nâng cao nhận thức về việc đạt đƣợc quyền tiếp cận kỹ thuật số công bằng và phổ cập Chuyển đổi số có liên quan, tác động tới mọi thành viên xã hội về nhiều mặt, từ việc làm, cách thức tổ chức làm việc, cách sống, an ninh, an toàn, bí mật cá nhân của mỗi ngƣời... Sự thiếu hiểu biết, thiếu s n sàng của các thành viên trong xã hội sẽ là trở ngại cho chuyển đổi số, làm chậm quá trình CNH.HĐH. Bởi vậy, nâng cao nhận thức, hiểu biết về công nghệ số, chuyển đổi số là sự chuẩn bị về tâm lý, kỹ năng cần thiết để có thể thích ứng, chủ động tham gia là yêu cầu đầu tiên, rất quan trọng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa theo hƣớng hiện đại. Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng đầu tƣ vào hạ tầng kỹ thuật số cần đẩy mạnh công tác quảng bá, tuyên truyền trong toàn xã hội, trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị về ý nghĩa, tầm quan trọng trong chuyển đổi số. Cần thiết phải tạo đƣợc sự chuyển đổi mạnh mẽ nhận thức của toàn dân về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ nói chung, công nghệ số và chuyển đổi số nói riêng là tạo ra cơ hội, điều kiện thuận lợi để đất nƣớc ta thực hiện phƣơng thức phát triển đi tắt, đón đầu góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH.HĐH, đƣa đất nƣớc tiến kịp các nƣớc phát triển trên thế giới. Thứ tư, phát triển kinh tế vùng gắn với việc đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Đẩy mạnh CNH, HĐH đòi hỏi tập trung phát triển trƣớc hết một số vùng có khả năng tăng trƣởng mạnh nhất, những vùng có thế mạnh tiềm năng tự nhiên tạo động lực lan tỏa đến các vùng khác trong. Nông nghiệp, nông thôn luôn là mục tiêu quan trọng của quá trình CNH.HĐH. Tƣ duy phát triển nông nghiệp đòi hỏi phải trên nền tảng đổi mới sáng tạo, tối ƣu hóa, hiện đại hóa dựa trên thành tựu Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ. Theo đó, phải chủ động phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái dựa trên tiến bộ khoa học - công nghệ. Phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phƣơng, đổi mới tổ chức, phát triển kinh tế hợp tác, thu hút doanh nghiệp đầu tƣ, cải tiến quản lý nhà nƣớc để nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả, sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản. Gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ, sản xuất với bảo quản, chế biến, xây dựng thƣơng hiệu, tiêu thụ, nâng cao giá trị nông sản trong chuỗi giá trị. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, kết nối nông thôn với đô thị Thứ năm, hoàn thiện các thể chế phát triển đô thị và kinh tế đô thị làm động lực phát triển từng vùng, địa phƣơng. Đô thị hóa và kinh tế đô thị luôn là chiến lƣợc trọng tâm của quá trình CNH.HĐH. Đô thị luôn là trung tâm, kinh tế đô thị là điều kiện thuận lợi để tiếp thu, ứng dụng, nghiên cứu, sáng tạo khoa học - công nghệ và có sức lan tỏa lớn. Do vậy, phát triển đô thị, kinh tế đô thị là mắt xích quan trọng trong quá trình CNH.HĐH. Hƣớng tới hình thành các trung tâm đô thị nhằm tạo nền tảng hạ tầng và các nguồn lực, nhất là nguồn lực về khoa học - công nghệ cho sự phát triển và chuyển đổi số. Xây dựng đô thị hiện đại, văn minh, thông minh cần nâng cao khả năng kiểm soát quá trình đô thị hóa, phát triển đô thị vệ tinh, hạn chế xu hƣớng tập trung quá mức vào các đô thị lớn Tóm lại, Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ tạo ra động lực, tài nguyên mới cho sự phát triển. Việt Nam tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ để có sự đổi mới, sáng tạo sẽ tạo nên những bƣớc phát triển bứt phá, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
  8. 182| Phần I. Những vấn đề chung về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tiềm năng... 3. KẾT LUẬN Trong các văn kiện của Đại hội Đảng XIII, nội dung CNH.HĐH đƣợc đề cập khá toàn diện và cụ thể về tiêu chí, nội dung, cách thức thực hiện, đồng thời nhấn mạnh những nội dung cốt lõi cần thực hiện phù hợp với điều kiện, bối cảnh trong nƣớc và quốc tế, nhất là tận dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nói chung, thành tựu đặc trƣng, đặc thù của công nghệ số của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ nói riêng. Công nghiệp hoá, hiện đại hóa là đòi hỏi tất yếu đối với nƣớc ta để đi nhanh tới mục tiêu của công cuộc xây dựng xã hội mới. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, nếu nƣớc ta không tận dụng đƣợc thời cơ, phát huy sức mạnh của dân tộc để rút ngắn quá trình CNH.HĐH thì nƣớc ta sẽ bị tụt hậu rất xa và sẽ không tránh khỏi sự đe dọa của làn sóng toàn cầu hóa.Việc đẩy mạnh giải quyết một số vấn đề cơ bản trƣớc mắt nhƣ: phát triển hạ tầng số, phát triển kinh tế tri thức, chuyển dịch cơ cấu lao động, đẩy mạnh CNH.HĐH trong nông nghiệp và nông thôn,… trong thời gian tới sẽ góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn iện Đại hội ại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG, HN, 2021, tập 1. [2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021) Văn iện Đại hội ại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG, HN, 2021, tập 2. [3]. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52/NQ-TW về một số chủ trương, chính s ch chủ ộng tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, ngày 27/09/2019. [4]. Chính phủ (2020), Quyết ịnh số 749/QĐ-TTg của Thủ tư ng Chính phủ: Phê duyệt “Chương trình Chuyển i số quốc gia ến năm 2025, ịnh hư ng ến năm 2030”; [5]. Nguyễn Mạnh Hùng (2021), Kinh nghiệm phát triển kinh tế số ở một số quốc gia và giá trị tham khảo v i Việt Nam, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu-trao-doi/kinh-nghiem-phat-trien-kinh-te-so-o- mot-so-quoc-gia-va-gia-tri-tham-khao-voi-viet-nam--%E2%80%8B.html. [6]. Lê Công Sự (2020), Nhận diện về kinh tế tri thức, NXB Chính trị quốc gia.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2