BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH



ĐOÀN ANH KIỆT

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO KỸ NĂNG LÀM VIỆC

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KHU

CÔNG NGHỆ CAO TP.HCM

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. VÕ VĂN NAM



THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Khu Công nghệ cao TP.HCM được Chính phủ xác định là một dự án cấp quốc gia,

được Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII xác định là một trong 5 chương trình, công

trình mang tính đòn bẩy, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm 2006 – 2010

nhằm mục đích góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng tăng

các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn.

Khi đặt vấn đề tham gia đầu tư tại Khu Công nghệ cao TP HCM, các nhà đầu tư

thường quan tâm đến khả năng cung ứng lao động có trình độ thích hợp trong thời gian

trước mắt và kể cả phục vụ cho chiến lược mở rộng của bản thân mình. Con số được các

nhà đầu tư nêu ra thường là vài trăm trong thời gian đầu, lên đến vài ngàn, có trường hợp

hàng chục ngàn người sau năm, mười năm hoạt động.

Vì vậy nhu cầu nhân lực của chỉ riêng KCNC TPHCM đã là rất lớn chưa kể đến thị

trường lao động bên ngoài Khu. Vấn đề ở đây là để đáp ứng được nhu cầu lao động của

các nhà đầu tư, đặc biệt là của những nhà đầu tư trong KCNC TPHCM, nguồn nhân lực đã

qua đào tạo hiện nay cần phải được đào tạo bổ sung một cách kỹ lưỡng và toàn diện hơn.

Thực tế hoạt động tại KCNC TP HCM trong thời gian qua cho thấy sự sẵn sàng về

nguồn nhân lực tại chỗ cùng khả năng có được sự hỗ trợ về việc tuyển dụng và đào tạo

nhân sự là một trong những yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư của những nhà

đầu tư tiềm năng khi đến với KCNC. Ngược lại, có thể xem chính việc tổ chức đào tạo

nguồn nhân lực đón đầu nhu cầu của nhà đầu tư như một yếu tố thu hút đầu tư là công cụ

chiến lược để hướng việc đầu tư vào các lĩnh vực CNC nằm trong mục tiêu chuyển đổi cơ

cấu ngành công nghiệp của Thành phố.

Do vậy để đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong

KCNC, tại Kế hoạch triển khai Chương trình hành động thực hiện Công trình xây dựng

Khu Công nghệ cao giai đoạn 2006 – 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số

116/2006/UBND ngày 21/7/2006 của Ủy ban nhân dân thành phố), tại tiểu mục 1.6 Mục II.

Nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 5 năm 2006 – 2010 và tiểu mục 2 Mục III. Các chương trình

cụ thể giai đoạn 2006 – 2010, Thành phố đã có những quan điểm chỉ đạo rất rõ về việc đầu

tư cho đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động của KCNC TP.HCM.

Hiện tại đã kết thúc thời gian thực hiện chương trình hành động 5 năm 2006 – 2010,

chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể về thực trạng tổ chức và quản lý việc đào tạo bổ

sung kỹ năng trực tiếp đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp trong KCNC TP.HCM nhằm

điểm lại những gì đã thực hiện được, những gì chưa thực hiện cũng như những thiếu sót,

khó khăn nào cần khắc phục trong thời gian sắp tới. Từ những nhận xét trên tác giả quyết

định chọn đề tài “Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc đáp ứng yêu cầu của

2. Mục đích nghiên cứu

doanh nghiệp trong Khu Công nghệ cao TP.HCM” làm đề tài luận văn thạc sỹ.

Khảo sát thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc đáp ứng yêu cầu của doanh

nghiệp trong KCNC TP.HCM, trên cơ sở đó đề xuất các nội dung, phương thức đào tạo

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

hiệu quả, đáp ứng yêu cầu trực tiếp của doanh nghiệp.

3.1. Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý đào tạo kỹ năng làm việc tại KCNC TP.HCM

3.2. Đối tượng nghiên cứu

4. Giả thiết khoa học

Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc tại KCNC TP.HCM

Khi đánh giá đúng thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc tại KCNC TP.HCM

thì có thể đề xuất các nội dung, phương pháp phù hợp hơn nhằm tăng cường chất lượng

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

đào tạo đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đào tạo, đào tạo kỹ năng

- Khảo sát thực trạng về tổ chức và quản lý đào tạo kỹ năng trong KCNC TP.HCM

6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Đề xuất các nội dung, phương thức đào tạo hiệu quả.

Nghiên cứu thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc tại Trung tâm đào tạo trực

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:

thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM trong năm 2010.

Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan làm cơ

7.1.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

sở lý luận cho đề tài.

+ Phương pháp điều tra bằng phiếu thu thập số liệu, thông tin từ học viên,

cán bộ quản lý, giảng viên, doanh nghiệp. Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu gồm 2

loại:

- Phiếu 1: Hỏi doanh nghiệp về thực trạng đào tạo kỹ năng của đơn vị.

- Phiếu 2: Hỏi ý kiến học viên, giảng viên về thực trạng đào tạo kỹ năng tại

Trung tâm đào tạo.

+ Phương pháp trò chuyện chuyên gia: Thu thập các ý kiến của các chuyên

7.1.3. Phương pháp thống kê toán học

gia trong lĩnh vực quản lý, nghiên cứu khoa học.

Dùng phần mềm SPSS for Windows xử lý số liệu thu thập.

NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ VIỆC ĐÀO TẠO

1.1

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

KỸ NĂNG LÀM VIỆC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA DOANH NGHIỆP

"Ngày nay, hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, sự giàu mạnh hoặc đói nghèo

của một quốc gia phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục đại học. Những người có một

vốn liếng kỹ năng và năng lực học tập lớn hơn sẽ có thể mong đợi một cuộc sống với

những thành tựu kinh tế chưa từng có, trong lúc những ai không được học hành đến nơi

đến chốn trong những thập niên tới sẽ phải đối mặt với viễn cảnh tăm tối của một cuộc

sống lặng lẽ trong tuyệt vọng" (Malcom Gillis, Hiệu Trưởng Trường Đại học Rice,1999 )

Vấn đề chất lượng đào tạo nguồn nhân lực từ trước đến nay là một đề tài có tính

thời sự, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên đây là vấn đề khó,

phức tạp với phạm vi rộng và phong phú, do vậy các đề tài đi sâu nghiên cứu lính vực này

còn ít với nội dung nghiên cứu khá rộng. Nhiều tài liệu giáo trình về quản lý đào tạo nghề

đã được biên soạn và phát hành như: Năm 1999, trường đào tạo cán bộ công đoàn Hà Nội

với đề tài: “Đánh giá thực trạng tay nghề của công nhân Hà Nội”, đề xuất các giải pháp

nâng cao tay nghề cho công nhân trong các ngành trọng điểm của Hà Nội. Năm 2002 với

bài viết “Đánh giá một cách khách quan nhất công tác đào tạo nghề đã đạt được những

thành công nhất định“ Lao động & Xã hội của bộ trưởng Bộ LĐTB&XH. Với thông tin thị

trường lao động, trang 1-2 của tác giả Đỗ Trọng Hùng (2002) “Thực hiện tốt chiến lược đào

tạo nghề góp phần phát triển thị trường lao đông” Tác giả Nguyễn Minh Đường, với “Tổ

chức và quản lý quá trình đào tạo“ (năm 1996) và nhiều tài liệu khác. Với việc “ Cải tiến

mục tiêu và nội dung đào tạo nghề” (1990); “ Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng quá

trình đào tạo nguồn nhân lực “(2001), “ Đổi mới công tác quản lý trong các trường đào tạo

nghề đáp ứng sự nghiệp công ngiệp hóa , hiện đại hóa“ (Kỷ yếu hội thảo của sở Lao đông-

TBXH Hà Nội) và “ Giáo dục nghề nghiệp- những vấn đề và giải pháp” (2005) của PGS.TS

Nguyễn Viết Sự. “Định hướng nghề nghiệp và việc làm“ (2004) của Tổng cục Dạy nghề.

Với việc “Đào tạo nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí Minh” Những bất cập trong lĩnh

vực này và giải pháp.v.v. Tất cả cho chúng ta thấy các đề tài đã đề cập đến chất lượng tay

nghề, chất lượng công tác đào tạo nguồn nhân lực trong những năm qua và đề xuất những

giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong thời gian tới nhằm

phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các công trình nghiên cứu khoa học, từ

trên những hướng tiếp cận khác nhau, đã cũng đề cập đến những khó khăn, thuận lợi,

những nỗ lực và sự chuyển biến tích cực của công tác đào tạo nguồn nhân lực trong những

năm qua. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, sự nỗ lực của toàn ngành

dạy nghề, sự nghiệp dạy nghề đã được phục hồi và đang tiếp tục phát triển mạnh, đạt

được một số thành tựu đáng khích lệ: Mạng lưới cơ sở dạy nghề từng bước được phát

triển theo quy hoạch. doanh. Các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo nghề được cải

thiện một bước như nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, chương

trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học nghề đã được đầu tư, nâng cấp.

Phong trào thi đua dạy tốt học tốt trong toàn ngành đã được đẩy mạnh. Các hoạt động

như hội thi học sinh giỏi nghề, hội giảng giáo viên dạy nghề, hội thi thiết bị dạy nghề tự

làm … đã trở thành hoạt động thường xuyên từ cơ sở dạy nghề đến toàn quốc mang lại

hiệu quả thiết thực. Chất lượng và hiệu quả dạy nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực tỷ

lệ học sinh tốt nghiệp luôn đạt 96%, khoảng 70% học sinh ra trường tìm được việc làm.

Học sinh ra trường đáp ứng được nhu cầu của thị truờng lao động. Tuy vấn đề quản lý

đào tạo nghề cũng đã đạt được một số thành tích đáng kể song trong nhiều năm qua chưa

được nghiên cứu một cách có hệ thống. Chính vì vậy công tác quản lý chất lượng đào tạo

nghề là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ. Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng

trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần thực hiện thành công các mục

tiêu phát triển kinh tế trong khu vực. Đây cũng là nỗ lực của Ban quản lý Khu Công nghệ

cao TP.HCM cùng chung tay với thành phố thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

thành phố giai đoạn 2011 – 2015, trong đó, “Chương trình nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực” được coi là 1 trong 06 chương trình đột phá để thực hiện kế hoạch này.

1.2 Một số khái niệm

1.2.1

Quản lý

Quản lý là sự công tác liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý,

tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội,

kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp

và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối

tượng. Đối tượng quản lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có

thể là một con người, sự vật cụ thể. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp

người, công cụ, phương tiện tài chính,… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục

tiêu định trước. Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định

hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ. Quản lý

là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động

của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của quản lý, phải bằng cách

nào đó để người chịu quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để

sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Quản lý là một môn khoa học

sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học,

thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo

và tinh tế để đạt tới mục đích.

Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành

động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu

chung. Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ

chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để

quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên. Quản lý (tiếng Anh là

Management) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một

tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài

nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thực và giá trị vô hình).

1.2.2

Giáo dục

Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày "Giáo dục là hiện

tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của

các thế hệ loài người…” [giáo trình giáo dục học đại cương].

Định nghĩa trên nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn

mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không thấy nói đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối

cùng của việc đó.

John Dewey cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn mục tiêu cuối

cùng của việc giáo dục, dạy dỗ. Theo J. Dewey, cá nhân con người không bao giờ vượt qua

được qui luật của sự chết, và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá

nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến

thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì

tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại

xã hội. Hơn nữa, J. Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng

còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy [4, 17 – 26].

Tuy nhiên, cả hai cách định nghĩa hoặc hiểu như trên về giáo dục vẫn chú trọng đến

khía cạnh xã hội của giáo dục nhiều hơn. Còn con người thì sao?

Từ “ giáo dục” trong tiếng Anh là "education". Đây là một từ gốc Latin ghép bởi hai

từ: "Ex" và "Ducere" _ "Ex-Ducere". Có nghĩa là dẫn ("Ducere") con người vượt ra khỏi

("Ex") hiện tại của họ mà vươn tới những gì thiện hảo, tốt lành hơn, hạnh phúc hơn.

Cách định nghĩa thứ ba có tính nhân bản cao hơn. Trong định nghĩa thứ ba này, sự

hoàn thiện của mỗi cá nhân mới là mục tiêu sâu xa của giáo dục, người giáo dục (thế hệ

trước) có nghĩa vụ phải dẫn hướng, phải chuyển lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể

1.2.3

Quản lý giáo dục

để làm cho thế hệ sau phát triển hơn, hạnh phúc hơn.

Nội dung khái niệm quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm QLGD. Tuy

vậy, xét trên bình diện chung, chúng ta có thể tiếp cận một số khái niệm QLGD như sau:

Tiến sỹ Hồ Văn Liên cho rằng QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý

đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả

mong muốn một cách có hiệu quả nhất. Tùy theo việc xác định đối tượng quản lý mà

QLGD được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau.

Tác giả Trần Kiểm quan niệm QLGD được phân chia thành 2 cấp: vĩ mô và vi mô.

Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có

kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống

(từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và

hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo

dục.“ Đối với cấp vi mô: ”QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức,

có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo

viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và

ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà

trường.”

Quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo: ”QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động

điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo

yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công

tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; Tuy nhiên vẫn là giáo dục

thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân,

các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Như vậy QLGD là quản lý một quá trình kinh tế xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài

hòa sự phân hóa xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu phát

1.2.4

Đào tạo

triển KT-XH

Theo giáo trình kinh tế lao động “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến

thức nhất định và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được

một số công việc nhất định. Đào tạo gồm đào tạo kiến thức phổ thông và đào tạo kiến thức

chuyên nghiệp “.

Theo quá trình quản trị nhân lực thì đào tạo được biểu hiện là các hoạt động nhằm

giúp cho người lao động có thể thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình

Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên

quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng,

nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và

khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Như vậy khái niệm đào tạo thường có

nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một

người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào

tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo

1.2.5

Quản lý đào tạo

lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo...

Với khái niệm đào tạo đã nêu như trên thì quản lý đào tạo có thể được xem như là

một quá trình gồm 4 bước:

1.5.5.1. Xác định nhu cầu đào tạo

1.5.5.2. Nội dung huấn luyện, đào tạo

1.5.5.3. Phân loại hình thức đào tạo

1.5.5.1. Xác định nhu cầu đào tạo

1.5.5.4. Lên kế hoạch đào tạo:

Nhu cầu đào tạo dựa trên các nguồn sau:

* Các kế hoạch và mục tiêu chiến lược và tác nghiệp trong tương lai.

* Các nhu cầu sắp tới về cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ và công

nhân kỹ thuật.

* Sự thay đổi về qui trình công nghệ, công cụ và trang thiết bị.

1.5.5.2. Nội dung huấn luyện, đào tạo

* Các yêu cầu về pháp luật và chế định, các tiêu chuẩn tác động đến tổ chức.

* Giải thích đường lối chính sách, mục tiêu.

* Hướng dẫn quy trình hoạt động.

1.5.5.3. Phân loại hình thức đào tạo

* Hướng dẫn quy định, nội quy của công ty.

Một trong những nhiệm vu quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định các hình

thức đào tạo thích hợp. Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo, đồng

thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của đào tạo. Tùy theo yêu cầu và điều kiện

thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác. Những hình

thức đào tạo đang được áp dụng chủ yếu hiện nay là:

- Kèm cặp trong sản xuất: là hình thức đào tạo nghề trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu là

thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức. Kèm cặp trong sản xuất

được tiến hành dưới hai hình thức: kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo tổ chức, đội sản

xuất. Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợ học nghề được một công nhân có trình độ tay

nghề cao hướng dẫn. Người hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế

hoạch. Với hình thức kèm cặp theo tổ, đội sản xuất, thợ học nghề được tổ chức thành từng

tổ và phân công cho những công nhân dạy nghề thoát ly sản xuất chuyên trách trình độ

nghề nghiệp và phương pháp sư phạm nhất định. Quá trình đào tạo được tiến hành qua

các bước: Bước 1: Phân công những công nhân có tay nghề cao vừa sản xuất vừa hướng

dẫn thợ học nghề. Trong bước này, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa phải giảng cho

người học về cấu tạo máy móc thiết bị, nguyên tắc vận hành, qui trình công nghệ, phương

pháp làm việc. Người học theo dõi những thao tác, phương pháp làm việc của người

hướng dẫn. Đồng thời doanh nghiệp hoặc phân xưởng tổ chức dạy lý thuyết cho người

học do kỹ sư hay kỹ thuật viên đảm nhận. Bước 2: Giao việc làm thử, người học bắt tay

vào làm thử dưới sự kiểm tra uốn nắn của người hướng dẫn. Bước 3: Giao việc hoàn toàn

cho người học nghề khi người học nghề có thể tiến hành công việc độc lập được, những

người hướng dẫn vẫn thường xuyên theo dõi giúp đỡ.

- Các lớp cạnh doanh nghiệp: là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm đào tạo riêng cho

mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực. Chủ yếu đào tạo nghề cho

công nhân mới được tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề, chuyển giao công

nghệ, kỹ thuật mới. Hình thức đào tạo này không đòi hỏi có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ

thuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào các điều kiện sẵn có của doanh

nghiệp. Chương trình đào tạo gồm hai phần: lý thuyết và thực hành sản xuất, phần lý

thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách, phần thực hành được

tiến hành ở các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn.

- Các trường chính qui: Đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật

hiện đại, các Bộ hoặc Ngành thường tổ chức các trường dạy nghề tập trung, qui mô lớn,

đào tạo công nhân có trình độ cao, chủ yếu là đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ

thuật viên có trình độ cao. Thời gian đào tạo từ hai đến bốn năm tùy theo nghề đào tạo, ra

trường được cấp bằng nghề. Khi tổ chức các trường dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý,

đội ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo. Để nâng cao chất lượng

đào tạo các trường cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

+ Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy.

+ Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, các phòng

thí nghiệm, xưởng trường. Nhà trường cần tổ chức các phân xưởng sản xuất vừa phục vụ

cho giảng dạy vừa sản xuất của cải vật chất cho xã hội. Nếu không có điều kiện tổ chức

xưởng sản xuất thì nên để gần các doanh nghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi

cho dạy và học. Các tài liệu và sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các

nghề, các trường.

- Các trung tâm dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường dưới một năm. Chủ

yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động.

Ngoài các hình thức đào tạo nêu trên, đối với các công ty, doanh nghiệp còn có các hình

thức đào tạo khác như:

* Đào tạo khi tuyển dụng: Nội dung, lịch sử hình thành của công ty, nội qui lao động, qui

định của công ty, qui định về an toàn, chính sách và qui định về lương bổng, các chế độ,

giờ làm việc, tăng ca v.v.

* Đào tạo định kỳ: An toàn lao động, hướng dẫn thực hiện công việc v.v.

* Đào tạo đột xuất: Thay đổi môi trường làm việc, máy móc v.v.

* Đào tạo nội bộ: Là hình thức do công ty tự tổ chức.

1.5.5.4. Kế hoạch đào tạo:

* Đào tạo bên ngoài: Đào tạo tại các đơn vị chuyên đào tạo bên ngoài.

* Kế hoạch đào tạo là kế hoạch áp dụng cho năm/quý/tháng.

* Số lượng đào tạo cho các nguồn lực cần thiết: trong đó gồm các đối tượng đào tạo: Cán

bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ và công nhân kỹ thuật v.v .

* Chương trình đào tạo để phục vụ cho công việc gì? và ảnh hưởng tích cực cho công việc

ra sao?

* Phương pháp đào tạo: Đào tạo mới hay tái đào tạo, đào tạo tại chỗ (sự hỗ trợ về nội bộ)

hay qua trường lớp (sự hỗ trợ của các chuyên gia), đào tạo ngắn hạn hay dài hạn, đào tạo

bổ sung….

* Nội dung đào tạo: Phải gắn liền với công việc.

1.3 Nội dung quản lý đào tạo

1.3.1

Quản lý mục tiêu

* Thời gian đào tạo: Ngắn hạn hay dài hạn, tập trung hay bán tập trung.

Với mục tiêu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" nhằm đáp

ứng đòi hỏi sự phát triển KT-XH, cùng với các hệ thống giáo dục khác, hệ thống dạy nghề

có chức năng chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dục nói trên. Đào tạo nghề góp phần

quan trọng vào mục tiêu đào tạo nhân lực: "Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo con người

lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương

tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện

cho người lao động có khả năng tìm việc làm đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, củng cố

quốc phòng an ninh". Dạy nghề trong thời kỳ CNH-HĐH bao hàm nội dung rất phong

phú từ "Dạy chữ, dạy người" tới dạy nghề, dạy đạo lý nghề nghiệp, dạy pháp luật, tác

phong công nghiệp. Dạy nghề phải gắn liền với giải quyết việc làm, với sử dụng người lao

động có tay nghề, với phát triển nhân lực bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài. Để đảm bảo

phát triển nguồn nhân lực, Nghị quyết Đại hội IX đã chỉ rõ "Tiếp tục đổi mới chương trình,

nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động, có chất

lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao. Gắn việc hình

thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, với hệ thống các trường đào tạo nghề.

Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước. Mở

rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động". Trước yêu cầu phát triển

nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH, công tác đào tạo nghề cần phải được đẩy

mạnh cả về số lượng và chất lượng theo 2 hướng đào tạo nghề dài hạn và ngắn hạn, trong

đó đào tạo nghề dài hạn giữ vai trò chủ đạo. Chính vì vậy giáo dục đào tạo nói chung và

đào tạo nghề nói riêng có tầm quan trọng góp phần quyết định chất lượng nguồn nhân lực

đáp ứng sự nghiệp đổi mới và hội nhập của đất nước.“ Để đáp ứng yêu cầu về con người

và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH,

cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về GD-ĐT”.

Quản lý mục tiêu đào tạo nghề là quản lý việc xây dựng và thực hiện mục tiêu của

tổ chức trong quá trình đào tạo nghề, là quản lý một hệ thống những yêu cầu lâu dài và

trước mắt của xã hội đối với sự phát triển nhân cách của người được đào tạo, đối với

những phẩm chất và năng lực cần có của người học sau từng giai đoạn học tập. Quản lý

việc xây dựng mục tiêu đào tạo thực chất là xây dựng bản kế hoạch đào tạo theo chu

trình: Thu thập thông tin nghành nghề, Lập kế hoạch (kế hoạch nhân lực, vật lực, tài lực),

Tổ chức thực hiện (quản lý tiến độ thực hiện mục tiêu), Chỉ đạo (đôn đốc, giám sát phối

hợp với các đơn vị), Kiểm tra (kiểm tra từng phần, kiểm tra tổng thể ) .Quản lý mục tiêu

đào tạo trong quá trình đào tạo được thực hiện theo chu trình tương tự như quản lý xây

1.3.2

Quản lý chương trình

dựng mục tiêu đào tạo

Là quản lý việc xây dựng nội dung đào tạo, kế hoạch đào tạo và nội dung chương

trình giảng dạy, quản lý quá trình đào tạo thực tế của giáo viên và học sinh sao cho kế

hoạch, nội dung, chương trình giảng dạy được thực hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian,

quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo. Khi xác định nội dung đào tạo cho một

nghề cụ thể phải lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đề ra, phát huy được tài

nguyên, tiềm năng mà con người đang có cần khai thác, phù hợp với phương hướng và

chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, của địa phương, phản ánh và tiếp thu

1.3.3

Quản lý đào tạo kỹ năng

được tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Đào tạo kỹ năng là một phương pháp để giúp phát triển nhân viên với hai mục đích:

giúp nhân viên có được kỹ năng phù hợp với công nghệ tiên tiến và các hoạt động kinh

doanh của công ty.

Đào tạo kỹ năng có thể ở dạng chính thức hoặc không chính thức. Đào tạo không chính

thức nhìn chung được thực hiện thông qua hình thức đào tạo tại chỗ (OJT - on-the-job

training). Đây là hình thức đào tạo ít tốn kém nhất vì nó không tách nhân viên ra khỏi quy

trình sản xuất. Đào tạo tại chỗ cũng là phương pháp thông dụng nhất để phát triển kỹ

năng làm việc tại các công ty Mỹ. Đối với các công ty Nhật thì phương pháp đào tạo tại

chỗ là yếu tố then chốt trong hệ thống đào tạo nhằm phát triển nhân viên cho nghề nghiệp

lâu dài

Đào tạo chính thức, theo thông lệ của các công ty Mỹ, có quy củ hơn đào tạo tại chỗ

hoặc đào tạo qua mạng. Hình thức đào tạo này có thể được sử dụng để nâng cao kỹ năng

dành riêng cho công ty lẫn kỹ năng phổ quát có thể chuyển giao. Tuy nhiên, đào tạo chính

thức tốn kém hơn đào tạo tại chỗ vì nhân viên bị tách khỏi công việc của họ, phải mời

giảng viên, và phải phát triển cũng như cập nhật tài liệu. Đào tạo chính thức ở nhiều công

ty lớn được thực hiện thông qua các "trường đào tạo doanh nghiệp" hiện đang ngày càng

phát triển

Kinh doanh kiếm tiền là một thế giới khác lạ so với những gì được học trong trường

lớp và một trong những minh chứng rõ nét là có những kỹ năng không được dạy trong

trường lớp nhưng lại vô cùng quan trọng cho công việc mỗi người. Do vậy mà nhiều

người dù học hành rất giỏi lại không thành công trong kinh doanh và ngược lại, có những

người chật vật lắm mới ra trường được nhưng lại không mất nhiều thời gian để đạt được

những thành công trong công việc. Do đó đào tạo kỹ năng là một phần không thể thiếu

cùng với việc đào tạo kiến thức chuyên môn trong hầu hết các nền giáo dục tại các quốc

gia khác nhau.

Việc đào tạo có phải là sự lãng phí không? Câu trả lời sẽ là "có" và "không". Khi đào tạo

tập trung vào các kỹ năng phù hợp để phục vụ mục tiêu doanh nghiệp cũng như của

người học, việc đào tạo sẽ đem lại nhiều lợi ích. Còn ngược lại, nó có thể là một nỗ lực tốn

kém và không phát huy hiệu quả.

Quản lý đào tạo kỹ năng ngoài việc giúp cho người học có được những kỹ năng cần

1.3.4

Quản lý phương pháp – tổ chức

thiết cho công việc còn phải đảm bảo việc nâng cấp liên tục kiến thức chuyên môn.

Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã, đang và sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ với qui mô và

phạm vi ngày càng lớn. Sự phát triển của khoa học và công nghệ cho phép các nhà sản

xuất, nhà cung cấp dịch vụ nhạy bén có khả năng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khách

hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Tình hình trên đã khiến cho chất lượng trở thành yếu tố cạnh tranh, trở thành yếu tố

quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chất lượng đã trở thành một “ngôn

ngữ” phổ biến. Để thu hút khách hàng, các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là tổ chức)

cần đưa chất lượng vào nội dung quản lý. Sự hòa nhập của chất lượng vào mọi yếu tố của

tổ chức từ hoạt động quản lý đến tác nghiệp sẽ là điều phổ biến và tất yếu đối với bất kỳ

một tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển. Chất lượng không tự sinh ra, không phải là

một kết quả ngẫu nhiên mà là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan

chặt chẽ với nhau. Đó là kết quả của một quá trình. Muốn đạt được chất lượng mong

muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này.

Quản lý chất lượng ngày nay không chỉ được áp dụng trong ngành công nghiệp, mà

còn trong các ngành dịch vụ, kế cả dịch vụ hành chính công, trong mọi loại hình công ty,

từ quy mô lớn đến quy mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không.

Quản lý chất lượng đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và để đạt được

mục tiêu chất lượng.

Quản lý chất lượng phải được xem xét như một quá trình, kết quả của quản lý sẽ

đạt được tốt khi các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình. Quá trình là

một dãy các sự kiện nhờ đó biến đổi đầu vào thành đầu ra. Để quá trình đạt được hiệu quả

thì giá trị của đầu ra phải lớn hơn đầu vào, có nghĩa là quá trình gia tăng giá trị.

Trong một tổ chức, đầu vào của quá trình này là đầu ra của quá trình trước đó, và

toàn bộ quá trình trong tổ chức tạo thành hệ thống mạng lưới của quá trình.

Quản lý hoạt động của một tổ chức thực chất là quản lý các quá trình và các mối

quan hệ giữa chúng. Quản lý tốt mạng lưới quá trình này cùng với sự đảm bảo đầu vào

nhận được từ bên cung cấp, sẽ đảm bảo chất lượng đầu ra để thỏa mãn nhu cầu khách

hàng.

Trên thực tế hiện nay, quản lý và tổ chức làm việc theo nhóm mang lại hiệu quả cao,

1.3.5

Quản lý đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên

tuy nhiên nếu không tuân thủ theo đúng cách sẽ gặp thất bại.

Bao gồm công tác tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ

giảng viên và cán bộ công nhân viên. Quản lý đội ngũ giảng viên bao gồm cả cả việc quản

lý thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giảng viên, của từng giảng viên qua các nội

dung: - Quản lý kế hoạch giảng dạy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lý sinh

hoạt chuyên môn, theo dõi chỉ đạo việc hoàn thiện các hồ sơ sổ sách chuyên môn nghiệp

vụ. - Theo dõi đôn đốc việc thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy.

- Theo dõi chỉ đạo thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện việc học tập, bồi dưỡng nâng

cao trình độ chuyên môn và sư phạm của đội ngũ giảng viên , của từng giảng viên. - Nắm

được các ưu điểm, khuyết điểm, đánh giá được sự tiến bộ các mặt về chính trị tư tưởng,

phẩm chất đạo đức của từng giảng viên. - Tự đánh giá của giảng viên được xem là nội

dung quan trọng, tự đánh giá sẽ tạo cơ sở cần thiết để đánh giá tổng thể về hiệu quả hoạt

động của giảng viên - Đánh giá giảng viên thông qua học viên. - Kiểm tra đánh giá giảng

viên thông qua đồng nghiệp và người quản lý được xem là cần thiết. - Kiểm tra đánh giá

được tiến hành theo định kỳ và đột xuất thông các hình thức: Kiểm tra việc lên lớp, hội

1.3.6

Quản lý học viên

giảng, dự giờ, sinh hoạt sư phạm.

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là sự trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất

định”. “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh

thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng ấy dần dần có được những

phẩm chất nhân cách năng lực như yêu cầu đề ra”. “Rèn luyện là luyện tập nhiều trong

thực tiễn để đạt đến trình độ vững vàng, thành thạo”.

Quản lý học viên bao gồm nhiều nội dung quan trọng, trong đó tập trung vào: xây

dựng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, phong cách của học viên; bồi dưỡng kiến

thức; trang bị kiến thức chuyên môn nghiệp vụ; quản lý, giáo dục, rèn luyện học viên chấp

hành nội qui, qui định của nhà trường; giáo dục, rèn luyện thể chất, chăm lo đời sống vật

chất và tinh thần của học viên.

Hoạt động quản lý học viên không chỉ giới hạn trong quy trình dạy học. Những

hoạt động ngoài huấn luyện đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nhân cách

học viên theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo.

Nguyên tắc về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, kết hợp

chặt chẽ giữa quá trình đào tạo và quá trình tự đào tạo, yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ giữa

hoạt động quản lý, giáo dục, rèn luyện của nhà trường với hoạt động tự quản lý, tự giáo

dục, tự rèn luyện của người học. Mặt khác, với tư cách người học là chủ thể của quá trình

tự quản lý, tự giáo dục, tự rèn luyện thì hoạt động quản lý, giáo dục, rèn luyện của nhà

trường được coi là nguyên nhân bên ngoài của quá trình quản lý, giáo dục, rèn luyện học

viên. Các hoạt động quản lý, giáo dục, rèn luyện của nhà trường về thực chất là tạo ra môi

trường văn hóa giáo dục lành mạnh để định hướng, điều khiển, hướng dẫn quá trình tự

quản lý, tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi học viên. Hoạt động quản lý, giáo dục, rèn

luyện học viên chỉ thực sự có hiệu lực, giá trị đích thực khi người học tự giác, tích cực, chủ

động, sáng tạo trong việc tiếp nhận các nội dung quản lý, giáo dục, rèn luyện của nhà

trường là yêu cầu khách quan của quá trình đào tạo, thành động cơ đúng, ý chí cao và có

phương pháp tự quản lý, tự giáo dục, tự rèn luyện. Đó là việc mỗi học viên coi việc thực

hiện thắng lợi mục tiêu mô hình đào tạo là vinh dự, trách nhiệm, là động lực thôi thúc

mình phấn đấu vươn lên. Đây chính là nguyên nhân bên trong của chất lượng quản lý,

giáo dục, rèn luyện học viên. Vì vậy, kết hợp chặt chẽ giữa việc tổ chức, định hướng, điều

khiển của đội ngũ cán bộ khung với tự định hướng, tự điều khiển, tự tổ chức các hoạt

động quản lý, giáo dục, rèn luyện của người học là một biện pháp quan trọng để nâng cao

1.3.7

Hoạch định trong quản lý đào tạo

chất lượng quản lý học viên hiện nay.

Trên cơ sở nội dung, chương trình và kế hoạch đã xác định, đội ngũ cán bộ khung,

luôn theo dõi nắm chắc, hiểu đúng, đánh giá chính xác chất lượng từng học viên về mọi

mặt làm cơ sở cho việc điều chỉnh kế hoạch giáo dục bồi dưỡng học viên, giúp học viên

từng bước củng cố, hoàn thiện phẩm chất, năng lực theo mục tiêu yêu cầu đào tạo.

Thông qua việc xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, chương trình các môn học

và tổ chức thực hiện có hiệu quả các vấn đề đó sẽ bảo đảm cho quá trình đào tạo truyền

thụ cho người học đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng được xác định trong chương

trình đào tạo theo đúng phương hướng, tư tưởng chỉ đạo nhằm đạt tới mục tiêu yêu cầu

đào tạo. Chương trình huấn luyện được coi như là cương lĩnh hoạt động của người dạy và

người học, nó định hướng cho mọi hoạt động quản lý, giáo dục, rèn luyện học viên. Căn

cứ vào đó mà xây dựng thời khóa biểu, kiểm tra đôn đốc, chỉ đạo các hoạt động quản lý

học viên theo đúng nội dung, phương pháp đã xác định. Thực tế cho thấy dạy học ở bất cứ

một Nhà trường nào cũng luôn phải coi thời khóa biểu là pháp lệnh, là kỷ cương của nhà

trường. Nó là công cụ đóng vai trò trực tiếp làm cho các hoạt động quản lý học viên được

1.3.8

Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo

thực hiện một cách tỷ mỷ, chuẩn xác và khoa học đến từng ngày, từng giờ.

Thực hiện kế hoạch đào tạo của đơn vị, phòng Đào tạo – quản lý học viên phối hợp

cùng các khoa, giáo viên tổ chức thực hiện đúng chương trình đào tạo – huấn luyện; Qui

định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Tích cực đổi mới hình thức và phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin, sử

dụng tối đa, có hiệu quả các phương tiện dạy học hiện đại (máy vi tính, máy chiếu

projector, …) vào trong giảng dạy, tạo ra môi trường học tập tốt nhất cho sinh viên.

Hàng ngày, cán bộ phòng Đào tạo – quản lý học viên cùng với các khoa, giáo viên

thường xuyên kiểm tra việc thực hiện chế độ, nề nếp giảng dạy, học tập như: việc chấp

hành thời gian, địa điểm, nội dung giảng dạy, học tập, giảng viên lên lớp; kịp thời rút kinh

nghiệm, khắc phục, sửa chữa các sai sót trong quá trình đào tạo. Mỗi lớp học đều có sổ ghi

chú để giảng viên theo dõi, quản lí quá trình học tập. Giảng viên đánh giá điểm chuyên

cần và thái độ học tập của từng học viên thông qua quá trình lên lớp.

Công tác kiểm tra, thi, xét kết quả học tập, được thực hiện đúng qui định. Mỗi học

phần đều có một bài kiểm tra và một bài thi kết thúc học phần. Các buổi thi tiến hành

nghiêm túc, chặt chẽ, đề thi được bảo mật, không để xảy ra các hiện tượng tiêu cực trong

khi coi, chấm thi. Điểm thi học phần của từng sinh viên được tổng hợp từ các điểm: điểm

đánh giá chuyên cần và thái độ học tập điểm kiểm tra giữa học phần và điểm thi kết thúc

1.3.9

Chức năng điều khiển

học phần. Kết quả, kiểm tra, thi được cập nhật và quản lí chặt chẽ.

Trong môi trường kinh doanh năng động, phức tạp, quy mô lớn như ngày nay, để

tồn tại, đứng vững và phát triển đòi hỏi các công ty, tổ chức phải có bộ máy quản lý, điều

hành tương xứng, phù hợp. Là mỗi cá thể độc lập trên một sân chơi cạnh tranh công bằng,

mỗi doanh nghiệp, tổ chức dù trên bất kỳ lĩnh vực nào khi tham gia trên thị trường với

tiềm năng, nguồn lực vốn có, phải biết tự vạch ra đường lối phát triển kinh doanh của

riêng mình, từng bước củng cố, vun đắp để hoàn thiện, đưa ra các chính sách cụ thể dần đi

vào hiện thực, mở rộng phạm vi sản xuất, phân phối nhằm thu được lợi nhuận tối đa cho

bản thân doanh nghiệp, tổ chức mình.

Cùng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đó thì với nguồn lực đa số còn thấp, phân

tán, quy mô tổ chức còn nhỏ như hiện nay thì rất cần những chính sách hỗ trợ, khuyến

khích từ phía Nhà nước, nhưng quan trọng hơn cả là ở chính bộ máy hoạt động của tổ

chức đó, phải xây dựng thật tốt ở từng bộ phận, cũng như quản lý hiệu quả các công tác,

hoạt động ở đơn vị mình. Mà hơn ai hết, những công việc nói trên đặt nặng trên đôi vai

những nhà quản trị. Cùng một tên gọi nhưng ở những vị trí, vai trò, chức năng khác nhau

thì nhà quản trị cũng có những cấp bậc , quyền lực, trách nhiệm khác nhau. Công việc cốt

lõi của nhà quản trị là làm sao phải dẫn dắt một tập thể con người – hay còn gọi là nhân

viên – đồng hành với mình đi suốt chặng đường tạo lập, giữ vững và phát triển tổ chức

của mình. Điều này đòi hỏi nhà quản trịphải có các kỹ năng, nghiệp vụ được trang bị đầy

đủ, thích hợp để điều khiển tập thể nhân viên của mình.

Từ những điều nêu trên, cho thấy bên cạnh những chức năng Hoạch định, Tổ chức,

Kiểm tra thì riêng chức năng Điều khiển, được coi là chất keo kết dính từng công việc từ

lúc bắt đầu đến khi kết thúc, là chất bôi trơn giúp cả guồng máy vận hành trơn tru, thuận

lợi hay nói cụ thể là đưa ra những tác động điều khiển để hướng những nỗ lực của con

1.3.10

Chức năng kiểm tra

người đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất.

Kiểm tra là một tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã

được hoạch định, đồng thời sửa chữa và chấn chỉnh những sai lầm để đảm bảo công việc

đạt được mục tiêu theo như kế hoạch hoặc các quyết định đặt ra.

Những biện pháp kiểm tra hiệu quả phải đơn giản (càng ít đầu mối kiểm tra càng

tốt) cần tạo ra sự tự do và cơ hội tối đa cho người dưới quyền chủ động sử dụng kinh

nghiệm, khả năng và tài năng quản trị của mình để đạt kết quả cuối cùng mong muốn về

những công việc được bàn giao.

Sự theo dõi thường xuyên công việc và sử dụng các biện pháp kiểm tra sẽ làm nhẹ

bớt gánh năng của cấp chỉ huy phải thường xuyên theo dõi và giải thích các báo cáo, số

liệu hàng ngày.

Kiểm tra là khâu sau cùng trong chuỗi khâu hoạch định, cơ cấu tổ chức thực hiện và

điều khiển nhân viên và động viên họ. Một nhà quản trị hữu hiệu cần phải theo dõi để biết

chắc những công việc mà nhân viên phải làm, những mục tiêu mà họ cần phải đạt, thực sự

họ được làm và đã đạt. Tuy nhiên công tác kiểm tra không phải là viên thuốc thần chữa

được bách bệnh, giải quyết được mọi vấn đề. Tự nó không giải quyết được gì cả mà chỉ

phát huy tác dụng nếu nó được nhà quản trị sử dụng một cách khéo léo, nghĩa là phải có

năng lực giải thích các số liệu thống kê và các bảng biểu mà hình thức nội dung đã được

1.3.11

Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo

phát họa một cách cẩn thận.

Trong hệ thống giáo dục, nhất là dạy nghề, phương tiện dạy học, máy móc thiết bị

và cơ sở vật chất, nguồn tài chính là điều kiện quan trọng góp phần quyết định chất lượng

dạy học. Việc đảm bảo cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo nhằm:

- Đảm bảo cung cấp đầy đủ máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu cho đào

tạo.

- Đảm bảo đủ nguồn tài chính cho việc xây dựng cơ sở vật chất và các hoạt

động khác phục vụ cho quá trình dạy học.

- Đảm bảo lớp học, phòng thí nghiệm, thư viện đáp ứng nhu cầu giảng dạy,

học tập.

- Cung cấp đầy đủ giáo trình tài liệu giảng dạy và học tập.

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO KỸ NĂNG LÀM VIỆC

2.1 Tổng quan về kinh tế - xã hội, giáo dục đại học ở TP.HCM

2.1.1

Kinh tế

TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO – BAN QUẢN LÝ KHU CÔNG NGHỆ CAO TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía

Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng

Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền

Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo

đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với

vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao

thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong

vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế.

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu

Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Vùng cao

nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một

số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm

ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi

thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ

huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét.

Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm

2009 thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ trung

bình 3.419 người/km². Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số

thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế

Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm và 27,9 % giá trị sản xuất

công nghiệp của cả quốc gia. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh

trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả

đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông,

thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố

chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản

phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2005,

Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao

động nhưng vẫn đang tham gia làm việc.

Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy

sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính... Cơ cấu kinh tế

của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn

lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao

nhất: 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp

và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.

Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu

thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của

thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng. Những thập niên gần đây, nhiều

trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza... Mức

tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt

Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội. Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh,

có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998. Tính đến ngày 31

tháng 12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có

138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng.

Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó

khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại. Trong

đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất,

14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy... có trình

độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ

giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp... cũng gây khó khăn cho nền kinh tế.

Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả

2.1.2

Xã hội

2.1.2.1 Dân cư

kinh tế hơn.

Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số

7.162.864 người, gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,95 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam

có 3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03% . Dân số thành phố

tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2.125.709 người, bình

quân tăng hơn 212.000 người/năm, tốc độ tăng 3,54%/năm, chiếm 22,32% số dân tăng thêm

của cả nước trong vòng 10 năm. Quận Bình Tân có dân số lớn nhất với 572.796 người,

tương đương với dân số một số tỉnh như: Quảng Trị, Ninh Thuận; huyện Cần Giờ có dân

số thấp nhất với 68.213 người. Không chỉ là thành phố đông dân nhất Việt Nam, quy mô

dân số của Thành phố Hồ Chí Minh còn hơn phần lớn các thủ đô ở châu Âu ngoại trừ

Moscow và London. Theo số liệu thống kê năm 2009, 83,32% dân cư sống trong khu vực

thành thị và Thành phố Hồ Chí Minh cũng có gần một phần năm là dân nhập cư từ các

tỉnh khác. Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người

Hoa với 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer... Những người Hoa ở Thành phố Hồ

Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10,

11 và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố.

Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận

nội ô. Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì các

quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 tới 6.000 người/km². Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân

số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có 96 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ

tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9%..

Mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với

mức bình quân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày các lớn do những

tác động của nền kinh tế thị trường. Những người hoạt động trong lĩnh vực thương mại

cao hơn nhiều so với ngành sản xuất. Sự khác biệt xã hội vẫn còn thể hiện rõ giữa các quận

2.1.2.2 Y tế

nội ô so với các huyện ở ngoại thành.

Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng thêm

một lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe. Các tệ

nạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi trường... gây ảnh hưởng lớn tới

sức khỏe dân cư thành phố. Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát

triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn... hay các bệnh của những quốc gia công

nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp...

đều xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi thọ trung bình của nam giới ở thành phố là

71,19, con số ở nữ giới là 75,00.

Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 21.780 nhân viên y tế, trong đó có 3.399

bác sĩ. Tỷ lệ bác sĩ đạt 5.45 trên 10 nghìn dân, giảm so với con số 7.31 của năm 2002. Toàn

thành phố có 19.442 giường bệnh, 56 bệnh viện, 317 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh. Thế nhưng

mạng lưới bệnh viện chưa được phân bổ hợp lý, tập trung chủ yếu trong nội ô. Theo con

số năm 1994, chỉ riêng Quận 5 có tới 13 bệnh viện với 5.290 giường, chiếm 37% số giường

bệnh toàn thành phố. Bù lại, hệ thống y tế cộng đồng tương đối hoàn chỉnh, tất cả các xã,

phường đều có trạm y tế. Bên cạnh hệ thống nhà nước, thành phố cũng có 2.303 cơ sở y tế

tư nhân và 1.472 cơ sở dược tư nhân, góp phần giảm áp lực cho các bệnh viện lớn. Cũng

tương tự hệ thống y tế nhà nước, các cơ sở này tập trung chủ yếu trong nội ô và việc đảm

bảo các nguyên tắc chuyên môn chưa được chặt chẽ.

Sở Y tế thành phố hiện nay quản lý 8 bệnh viện đa khoa và 20 bệnh viện chuyên

khoa. Nhiều bệnh viện của thành phố đã liên doanh với nước ngoài để tăng chất lượng

2.1.2.3 Giáo dục

phục vụ.

Về mặt hành chính, Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh chỉ quản lý các cơ sở giáo

dục từ bậc mầm non tới phổ thông. Các trường đại học, cao đẳng phần lớn thuộc Bộ Giáo

dục và Đào tạo Việt Nam. Trong năm học 2008–2009, toàn thành phố có 638 cơ sở giáo dục

mầm non, 467 trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III.

Ngoài ra, theo con số từ 1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ,

139 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt. Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo

dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập, tư thục.

Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố. Trong

khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn huyện ngoại

thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Các trường ngoại ngữ ở Thành phố Hồ Chí

Minh không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một trường dạy quốc tế ngữ,

một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Thành phố

Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công ty giáo dục

đầu tư.

Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo

dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (đại học Sài Gòn và đại

học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý. Là thành phố lớn nhất Việt Nam,

Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà

Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với năm đại học thành viên. Nhiều đại học

lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại

học Luật, Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế... đều là các đại học quan trọng của Việt

Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của

thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia.

Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng giáo

dục Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Trình độ dân trí chưa cao và

chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là ngoại ô so với nội ô. Tỷ lệ trẻ em người

Hoa không biết chữ vẫn còn nhiều, gấp 13 lần trẻ em người Kinh. Giáo dục đào tạo vẫn

chưa tương xứng với nhu cầu của xã hội. Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục thành

2.1.2.4 Giao thông vận tải

phố còn kém. Thu nhập của giáo viên chưa cao, đặc biệt ở các huyện ngoại thành.

Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối

giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Khác với Hà Nội, vận tải

thủy ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ quan trọng. Tính riêng vận tải hàng hóa,

đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông khoảng chiếm 20% tổng khối lượng thông

qua đầu mối thành phố. Đường bộ chỉ chiếm 44% vận tại hàng hóa nhưng chiếm tới 85,6%

vận tải hành khách. Về giao thông đường không, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là phi

trường lớn nhất Việt Nam về cả diện tích và công suất nhà ga. Năm 2006, vận tải thành

phố đã vận chuyển tổng cộng 73.743 tấn hàng hóa, 239 triệu lượt người và bốc xếp 44.341

tấn hàng.

Giao thông đường sắt của thành phố gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận - do Xí

nghiệp Liên hiệp đường sắt 3 quản lý, tuyến Bắc - Nam và một vài đoạn đường chuyên

dụng, hiện hầu như đã ngưng khai thác. Trong thành phố có hai nhà ga chính: Sóng Thần

và Sài Gòn. Bên cạnh đó còn có một số nhà ga nhỏ như Dĩ An, Thủ Đức, Bình Triệu, Gò

Vấp. Do mạng lưới đường sắt không được nối trực tiếp với các cảng, cơ sở đã cũ kỹ nên

giao thông đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh không phát triển, chỉ chiếm khoảng 6%

khối lượng hàng hóa và 0,6% khối lượng hành khách.

Giao thông đường bộ, thành phố có 6 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở các cửa

ngõ ra vào: Miền Đông, Văn Thánh, Miền Tây, Chợ Lớn, Tân Bình - Tây Ninh, Ký Thủ Ôn.

Mạng lưới khả năng tiếp nhận trên 1.200 xe/ngày, vận chuyển gần 41.000 khách/ngày đi

các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long.

Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà

Bè, Tân Cảng cùng các cảng sông Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất Thuyết, Bình Lợi, Bình

Phước... Ngoài ra còn có khoảng 50 bến đò phục vụ giao thông hành khách. Cảng Sài Gòn

là một trong những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% trong tổng khối lượng hàng hóa

thông qua các cảng biển cả nước. Cảng Bến Nghé nằm phía hạ lưu sông Sài Gòn, rộng 32

ha, tổng chiều dài cầu cảng 528 m, có thể cho tàu có tải trọng từ 15.000 - 20.000 tấn cập bến.

Tuy năng lực của các cảng của Thành phố Hồ Chí Minh lớn nhưng việc chuyển tiếp giữa

giao thông đường bộ, đường biển và đường sông gặp khó khăn. Tại hầu hết các cảng

đường sông, do thiết bị thiếu, vẫn phải bốc dỡ thủ công.

Giao thông trong nội ô, do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu, hệ thống

đường xá nhỏ... khiến thành phố luôn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc. Thành phố có 239

cây cầu nhưng phần lớn chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng của đường nên gây khó khăn cho

các phương tiện giao thông. Không những thế, một phần các cây cầu có trọng tải thấp hay

đang trọng tình trạng xuống cấp. Tại các huyện ngoại thành, hệ thống đường vẫn phần

nhiều là đường đất đá. Trong khi đó, hệ thống đường trải nhựa còn lại cũng trở nên quá

tải, cần sửa chữa. Để giải quyết vấn đề giao thông đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh đang

đầu tư cho hệ thống giao thông công cộng. Hiện nay thành phố có khoảng 3.250 xe buýt và

8.000 xe taxi, mỗi năm chỉ đáp ứng khoảng 6,2% nhu cầu đi lại. Hệ thống xe buýt chưa

đem lại hiệu quả cao, 65% tuyến trùng lặp. Cùng mạng lưới xe buýt, dự án tàu điện ngầm

2.1.3

Giáo dục đại học

Thành phố Hồ Chí Minh cũng được đang tiến hành.

Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo

dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (đại học Sài Gòn và đại

học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý. Là thành phố lớn nhất Việt Nam,

Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà

Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với năm đại học thành viên. Nhiều đại học

lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại

học Luật, Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế... đều là các đại học quan trọng của Việt

Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của

thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia.

Nhiều trường tại Thành phố Hồ Chí Minh đang vướng vấn đề đền bù giải tỏa để

xây dựng, mở rộng cơ sở vật chất. Ông Nguyễn Thành Tài, Phó chủ tịch thường trực

UBND TP HCM, cho rằng, “Thực tế, việc phân quyền chịu trách nhiệm về vấn đề giáo dục

đại học nói riêng và giáo dục nói chung hiện chưa rõ ràng”.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân cho biết,

Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, và Bộ Xây dựng quy hoạch lại đất đai

trường học. Các văn bản pháp lý đang được hoàn thiện và sẽ có cơ chế về vấn đề này

2.1.4

Tổng quan về quản lý đào tạo tại các cơ sở đào tạo đại học ở TPHCM

trong thời gian tới.

Các cơ sở giáo dục đại học đa số do Bộ Giáo dục – Đào tạo quản lý cũng như các

trường trực thuộc các Bộ, Ngành đều gặp một số vấn đề giống nhau trong việc quản lý

đào tạo:

- Bộ Giáo dục – Đào tạo chịu trách nhiệm cho tất cả các trường. Hiện nay, khối các

trường kinh tế thi tuyển đầu vào với 3 môn toán, lý, hoá là một sự bất hợp lý kéo dài

không thể chấp nhận được và hoàn toàn có thể thay đổi ngay được. Ba môn thi đầu vào

này vô hình chung đã khiến các môn xã hội bị xem nhẹ với những ai định hướng nghề

nghiệp khối ngành kinh tế. Kiến thức xã hội bị xem nhẹ sẽ ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng

đến các cử nhân kinh tế khi ra trường mà những năm học đại học không thể bù đắp kịp.

Hơn nữa, kiến thức của hai môn lý và hóa lại hoàn toàn không cần đến trong 4 năm đại

học cũng như sau khi ra trường dù làm việc ở ngành nào. Các môn thi phù hợp phải là

toán, tiếng Việt và ngoại ngữ. Đối với khối ngành kỹ thuật, môn tiếng Việt cũng quan

trọng vì trong môn này chứa đựng cả kỹ năng sống, kỹ năng làm người, kỹ năng hợp tác

với cộng đồng… là những kỹ năng mà ai cũng cần. Trường ĐH Kinh tế TP.HCM tuyển

đầu vào là khối A (thi toán, lý, hóa), từ năm 2003 ban giám hiệu trường đã đề xuất cho nhà

trường thay đổi khối thi tuyển đầu vào cho phù hợp với thực tế yêu cầu của ngành đào

tạo. Ông Nguyễn Văn Đương, Phó phòng Đào tạo Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, cho rằng:

“Thực tế khi vào đào tạo, kiến thức vật lý hầu như không được vận dụng vào ngành học.

Trong khi đó, thí sinh phải thi môn vật lý là không phù hợp. Thay vào môn thi vật lý có

thể thi môn xã hội như văn học, ngoại ngữ thì sẽ cần thiết cho khối ngành kinh tế hơn”.

- Chương trình đào tạo vẫn còn nhiều bất cập. Những môn học thuộc kiến thức

ngành và chuyên ngành chỉ được gói gọn trong 55% thời lượng. Chịu trách nhiệm chính

về khối kiến thức chuyên ngành là ở cấp bộ môn, nhưng cấp này chỉ được quyền chi phối

đến 20% số đơn vị học tập. Chương trình khung do Bộ GDĐT ban hành đều để cho các

trường linh động khoảng 20% số môn học tuỳ địa phương. Nhưng trong thực tế các

trường không muốn đi quá xa những gì Bộ chỉ đạo. Thực tế số đơn vị học trình của một

chương trình khung của Bộ được bố trí khoảng 210 đến 240 tín chỉ cho cả 4 năm, trong khi

ở các nước chung quanh, và ở Mỹ chỉ bố trí khoảng 120 đơn vị tín chỉ. Vì vậy số giờ lên lớp

của sinh viên đại học Việt Nam chiếm phần lớn thời gian của sinh viên, không cho phép

họ thực tập tay nghề thoả đáng. Với khối lượng giờ dạy và học như thế, nếu áp dụng

phương pháp lấy người học làm trung tâm thì sẽ không đủ thì giờ cho tất cả các nội dung.

- Chúng ta có nhiều sách tham khảo, giáo trình chất lượng chưa cao do khâu quản

lý, như khâu cấp giấy phép xuất bản, khâu nghiệm thu… và điều đó cũng không thể

không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

- Quy mô lớp học đông. Ai cũng rõ rằng phương pháp giảng dạy chất lượng là

phương pháp lấy người học làm trung tâm, là đối thoại, là đặt vấn đề, là tình huống, là

thảo luận, là sinh viên phải làm việc nhiều ở nhà và đương nhiên giáo viên cũng cần làm

việc nhiều hơn trước khối lượng kiến thức ngày càng nhiều và thông tin cũng nhiều, phải

nắm bắt đúng kết quả của SV. Để phương pháp giảng dạy mới được áp dụng thì quy mô

lớp học phải tối đa là 50 SV, lý tưởng là 30 – 35, trong thực tế rất ít có lớp học như vậy, mà

có khi lên đến 100 – 150 SV. Những lớp học quá đông SV, việc áp dụng phương tiện giảng

dạy hiện đại như dùng đèn chiếu hoặc projector cũng kém hiệu quả (mà SV đã có nhiều

phản ánh). Tất nhiên chúng ta đang đứng trước những mâu thuẫn giữa quy mô lớp học,

thu nhập của giáo viên và chất lượng đào tạo…! Những bài toán này cũng cần được giải

gấp

- Về nguồn tài chính: VN được xem là một trong những quốc gia có chi phí để học

đại học, cao học và cả nghiên cứu sinh rẻ nhất thế giới. Nếu so sánh chi phí đó với mức

lương công chức, lương tối thiểu thì hợp lý, nhưng nếu với mức học phí hiện tại thì tất yếu

sẽ kéo theo hàng loạt sự không đồng bộ: lương giáo viên thấp, nhà trường và cả Nhà nước

không có tiền để đầu tư cho phương tiện thiết bị như phòng thí nghiệm, xưởng thực hành,

cho thư viện, cho phòng đọc … sẽ lại là vòng luẩn quẩn: chất lượng đào tạo thấp, kém hiệu

quả.

Ngoài ra chúng ta còn có các trường quốc tế và trường liên kết quốc tế. Các trường

này cũng có những vấn đề trong việc quản lý đào tạo. Hiện nay, đa số các trường quốc tế

và các trường liên kết đào tạo quốc tế tại TP HCM vẫn chưa có sự kiểm soát chặt chẽ về

việc quản lý số lượng sinh viên, mức học phí và chương trình giảng dạy, rất nhiều môn

học không phù hợp với sở thích và nhu cầu xã hội của sinh viên Việt Nam… Đây là những

nguyên nhân khiến chất lượng đào tạo của các trường đại học vẫn đang bị thả nổi.

Dư luận xã hội đang bức xúc về một số sai phạm trong quy chế tuyển sinh, học phí,

chương trình đào tạo cũng như việc cấp bằng, chứng chỉ của Trường Quốc tế Mỹ Việt

(AVIS), Trường Đại học Dân lập Kỹ thuật Công nghệ TP HCM và Trường Kinh tế Quản trị

Slovay (Bỉ)… như báo chí đưa tin, khiến cho cả phụ huynh và học sinh trước thềm năm

học mới không khỏi lo lắng.

Không thể phủ nhận rằng việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta

hiện nay là vấn đề cần được quan tâm, khuyến khích. Tuy nhiên, với những bất cập trong

việc đào tạo của các trường liên kết quốc tế hiện nay, Bộ Giáo Dục và Đào tạo cần phải có

những quy định cụ thể hơn về việc quản lý cấp phép, phê duyệt các chương trình nước

ngoài trong các trường này, phải chú trọng kiểm soát thường xuyên hoạt động, cơ chế

tuyển sinh và chất lượng đào tạo của các trường theo định kỳ...

Bộ Giáo Dục và Đào tạo thừa nhận, việc thành lập trường, triển khai thực hiện quy

hoạch mạng lưới trường ĐH, CĐ còn bộc lộ nhiều hạn chế. Khoảng 20% trường được

thành lập mới hoặc nâng cấp lên đại học từ năm 2005 chưa thực hiện đầy đủ cam kết trong

đề án khả thi thành lập trường và mở ngành, chưa chuẩn bị đồng bộ về đất đai, giảng

viên, vốn đầu tư và điều kiện đảm bảo chất lượng khác.

Ngoài ra, hiện chưa có quy định bắt buộc về kiểm tra thực tế điều kiện cần thiết khi

cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh; chế tài xử lý các trường không thực hiện đúng

cam kết chưa đủ mạnh; chưa có quy định các trường phải xây dựng chuẩn năng lực người

tốt nghiệp (chuẩn đầu ra) nên chưa có cơ sở đánh giá đúng chất lượng đào tạo. Dù đã triển

khai các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học nhưng Bộ Giáo Dục và Đào

tạo vẫn phải thừa nhận, quản lý chất lượng giáo dục là khâu yếu nhất hiện nay.

Năm 2009, cả nước tuyển sinh hơn nửa triệu sinh viên, gấp 4 lần năm 1997 và 14 lần

năm 1987. Còn về quy mô, tổng số sinh viên cả nước là 1,7 triệu em trong khi năm 1997 là

hơn 700.000 và năm 1987 là 130.000. Năm 1987, một giảng viên đào tạo bình quân 6,6 sinh

viên, năm 2009 một giảng viên đào tạo tới 28 sinh viên. Sau 22 năm, số sinh viên tăng 13

lần, số trường tăng 3,7 lần, nhưng số giảng viên chỉ tăng 3 lần. 20 năm qua, số giảng viên

có trình độ tiến sĩ chỉ đạt hơn 10%.

"Thực tế, gần 30 năm chúng ta chưa thực sự quản lý được chất lượng giáo dục đại

học vì chưa có chuẩn đầu ra của các trường; chưa giữ được chuẩn của giáo viên, chương

trình, cơ sở vật chất...; chưa có cơ quan chuyên trách quản lý chất lượng; hằng năm chưa

có đánh giá thực tế và có báo cáo về chất lượng đào tạo của các trường và cả hệ thống giáo

dục đại học", người đứng đầu ngành giáo dục, Phó Thủ tướng kiệm Bộ trưởng Bộ Giáo

dục – Đào tạo, Nguyễn Thiện Nhân, cho biết.

"… Xét về tổng thể Bộ Giáo Dục và Đào tạo chưa thể trả lời được 3 câu hỏi: Chất

lượng đào tạo của các trường thế nào? Các trường tuân thủ các quy định pháp luật liên

quan đến đào tạo thế nào? Hiệu quả đầu tư từ ngân sách cho các trường Đại học, Cao

đẳng công lập thế nào?", ông Nguyễn Thiện Nhân cho biết thêm.

Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của

việc chất lượng giáo dục đại học không có cải thiện đáng kể. Không những thế ngay cả

việc quản lý đào tạo kỹ năng mềm hay kỹ năng sống, một lĩnh vực đang là thời sự, được

Nhà nước và đông đảo người dân quan tâm cũng có nhiều vấn đề có thể nói là tương tự

như quản lý nhà nước về giáo dục đại học. Đó là vấn đề nội dung đào tạo, quản lý nhà

nước về chương trình, chất lượng đào tạo.

Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm - Hội Khoa học tâm lý giáo dục Hà Nội nhận định: Hiện

nay, một số cá nhân và tổ chức đang lợi dụng cơn sốt dạy kỹ năng sống nên nhảy vào dịch

vụ này rất nhiều. Trong khi đó, chưa hề có một cơ quan chức năng nào chịu trách nhiệm

quản lý về mặt chuyên môn.

PGS.TS Phan Trọng Ngọ (trường ĐH Sư phạm Hà Nội) cũng cùng mối lo ngại này

khi cho rằng, quy mô hoạt động nhiều nơi dạy kỹ năng còn nhỏ, thiếu sự quản lý và giám

sát ở tầm vĩ mô của Nhà nước và của ngành nên đội ngũ hầu hết hoạt động về dịch vụ tâm

lý học đường thiếu chuyên nghiệp do chưa được đào tạo chính thức, chưa xác nhận về

chuyên môn và pháp lý bởi cơ quan quản lý nhà nước hay hiệp hội nghề nghiệp.

Theo tiến sĩ Tùng Lâm, các bậc phụ huynh và nhà trường cần cẩn trọng trước khi

lựa chọn trung tâm dạy kỹ năng sống, không loại trừ hiện tượng "treo đầu dê, bán thịt

chó".

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa - Viện Tâm lý học cũng nhận định: ở những thành phố lớn

như Hà Nội, TP.HCM nhu cầu học kỹ năng sống của chính trẻ em và nhu cầu cho con em

mình học chương trình này đang "bùng nổ". Ở Cung thiếu nhi Hà Nội, những kỳ nghỉ hè

đều có trên 60 lớp kỹ năng sống dành cho học sinh ở nhiều lứa tuổi khác nhau (từ mẫu

giáo đến THCS). Bên cạnh đó, còn có không ít các trung tâm khác cũng tổ chức dạy kỹ

năng sống. Song phần lớn các trung tâm do tư nhân tổ chức, địa điểm học hạn chế và học

phí tương đối cao, không đáp ứng nhu cầu học tập của rộng rãi trẻ em, học sinh.

Ông Lâm cho rằng: biện pháp quản lý thuận lợi và tin tưởng nhất là đưa môn kỹ

năng sống vào nhà trường. Nơi nào có nhu cầu và có điều kiện thì thực hiện thí điểm. Mọi

thí điểm của các trường học nhất thiết phải thông qua sự chỉ đạo của các cơ quan thuộc

ngành GD-ĐT. Điều kiện tiên quyết là phải có đội ngũ giáo viên được đào tạo bài bản, có

chất lượng cao và được thẩm định bởi những chuyên gia về khoa học tâm lý - ông Lâm

nói.

Mặc dù vậy, với dịch vụ "nở rộ" trên thị trường như hiện nay thì việc giám sát về

chất lượng chuyên môn và có những chứng nhận cần thiết của cơ quan quản lý vẫn là

những thông tin vô cùng cần thiết với phụ huynh.

Tất cả những nơi mở lớp kỹ năng mềm, kỹ năng sống mà chúng tôi tiếp xúc đều

khẳng định: Tính đến nay, không có ai cấp giấy phép mở khóa huấn luyện cũng như

không có kiểm tra, giám sát nội dung, chất lượng lẫn số lượng các lớp học.

Diễn giả - dịch giả Trần Đăng Khoa, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Công ty cổ

phần Thế giới mới cho biết: "Khi Thế Giới Mới mở khóa "Tôi tài giỏi!", chúng tôi cũng đã

đi xin sự chấp thuận của bộ này bộ kia. Nhưng Bộ GD-ĐT nói không thuộc lĩnh vực quản

lý của họ vì đó không phải chương trình cứng, không phải cấp bằng, không có chứng

nhận, thậm chí quá ngắn ngày. Cả Bộ Văn hóa - Thông tin (cũ) cũng bảo rằng không thuộc

hướng dẫn của họ".

Mặc dù cho rằng những khóa đào tạo kỹ năng "không phải cấp bằng, không có

chứng nhận" nhưng trên thực tế, không ít nơi những người tổ chức chủ ý gọi học viên đã

tham gia là những "cử nhân"!

Trong khi đó, ông Nguyễn Thành Hiệp - Trưởng phòng Dạy nghề, Sở Lao động -

Thương binh và Xã hội TP.HCM khẳng định với PV Thanh Niên: "Một khi mở lớp đào tạo

thì phải xin giấy phép vì liên quan đến giáo dục. Lúc đó, phải nghĩ tới Sở GD-ĐT, nếu

không được thì qua chỗ chúng tôi là Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, bởi chỉ có một

trong hai đơn vị này có thẩm quyền cấp phép".

Ông Hiệp cho biết thêm: Thời gian qua, đã có một số đơn vị xin phép Sở Lao động -

Thương binh và Xã hội TP.HCM khi họ lồng ghép vào trong khóa đào tạo nghề những kỹ

năng như: kỹ năng giao tiếp, chống xâm hại tình dục, an toàn lao động… Lúc đó, đơn vị

cấp phép sẽ xem qua nội dung. Nếu nội dung phức tạp thì sẽ tham khảo thêm từ những

đơn vị chuyên môn. "Tất cả hoạt động kinh doanh đều phải đóng thuế, phải đăng ký đàng

hoàng. Nếu dạy mà không xin phép tức là dạy không phép; dạy thu phí mà không đóng

thuế là trốn thuế! Nếu phát hiện những nơi nào tổ chức các khóa huấn luyện kỹ năng mà

không có giấy phép thì những cơ quan chức năng sẽ tiến hành xử phạt" - ông Hiệp nhấn

mạnh.

Tuy nhiên, trong thực tế thì liệu điều đó có đúng không? Đơn cử đối với một trường

hợp là Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM đã có rất

nhiều lần hỏi thăm các đơn vị chức năng là Sở Giáo dục Đào tạo TP.HCM cũng như là Sở

Lao động Thương binh Xã hội TP.HCM về việc quản lý đều nhận được câu trả lời là đơn

vị không trực thuộc quyền quản lý của họ !? Một đơn vị tự chủ động hỏi thăm về việc

quản lý Nhà nước của mình mà còn không được bất kỳ một sở nào quản lý thì thử hỏi liệu

Sở Lao động Thương binh Xã hội TP.HCM có quản lý được các đơn vị khác không tự giác

2.2 Thực trạng đào tạo tại Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao

TP.HCM

2.2.1

Mục tiêu

khai báo không?

Trung tâm đào tạo trực thuộc Khu Công nghệ cao TP.HCM là đơn vị sự nghiệp có

thu, đào tạo cung ứng nguồn nhân lực cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất và dịch vụ

công nghệ cao trong Khu Công nghệ cao TP HCM và Khu vực, góp phần nâng cao năng

2.2.2

Chương trình

lực Khoa học – Công nghệ nội sinh Việt Nam.

Với mục tiêu là nhịp cầu nối liền khoảng cách giữa nhu cầu thực tế của doanh

nghiệp và kiến thức, kỹ năng của người lao động, Trung tâm đào tạo đã tổ chức nhiều

chương trình đào tạo thiết thực trên những mảng khác nhau như:

- Kỹ năng mềm:

o Kỹ năng tìm việc

o Kỹ năng xây dựng thương hiệu cá nhân

o Kỹ năng giao tiếp

o Kỹ năng phát triển cá nhân

o Kỹ năng giải quyết vấn đề

o Kỹ năng chăm sóc khách hàng

o Kỹ năng giao tiếp và chăm sóc khách qua điện thoại

o Kỹ năng đàm phán hiệu quả

o Kỹ năng quản lý

o Kỹ năng làm việc nhóm

o Kỹ năng thuyết trình

o Kỹ năng quản trị dự án

o Họp hiệu quả

- Tiếng Anh chuyên ngành:

o Giao tiếp trong công việc

o Giao tiếp trong môi trường kỹ thuật

o Tăng cường phản xạ

- An toàn lao động:

o Vệ sinh công nghiệp

o Điều tra sự cố tai nạn lao động

o An toàn xây dựng

o An toàn khi làm việc trên cao

o An toàn hóa chất

o Làm việc trong không gian hạn chế

o Kiểm soát các nguồn năng lượng nguy hiểm

o An toàn điện nâng cao

2.2.3

Phương pháp – tổ chức

o An toàn điện cơ bản

Trung tâm đào tạo tổ chức các lớp học trên cơ sở chú trọng phần thực hành (chiếm

70% thời lượng khóa học) với mong muốn tạo hành vi, thay đổi nhận thức của người học

trong việc tiếp nhận và rèn luyện những kỹ năng của mình nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế

của thị trường lao động.

2.2.4

Đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên

Đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên của Trung tâm được tuyển chọn với

những tiêu chí khắt khe với mục đích đáp ứng một cách tốt nhất mong đợi của doanh

nghiệp và học viên khi tìm đến vói Trung tâm.

Về phía đội ngũ giảng viên, đó là những chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm công

tác trong doanh nghiệp lớn, công ty, nhà máy (Fujitsu, Philip, Metro, Unilever,…) hoặc là

những nhà khoa học trong các viện nghiên cứu (Viện cơ học ứng dụng, viện vật lý,…) với

lượng kiến thức chuyên môn to lớn, kinh nghiệm thực tiễn phong phú có thể giúp đỡ, chia

sẽ những kiến thức chuyên môn, kỹ năng, đòi hỏi thực tế mà người học có thể sẽ gặp phải

khi làm việc.

Đội ngũ cán bộ công nhân viên cũng là một trong những niềm tự hào của Trung tâm

khi tiếp xúc với đối tác: độ tuổi trẻ trung (hầu hết cán bộ công nhân viên của Trung tâm

đều dưới 35 tuổi), được đào tạo bài bản, chính quy từ các trường Đại học danh tiến trong

Thành phố, nhận được sự quan tâm của lãnh đạo thành phố (có 2 cán bộ là thành viên của

chương trình đào tạo 300 thạc sỹ, tiến sỹ được đào tạo ở nước ngoài, 1 cán bộ được cử đi

2.2.5

Chất lượng đầu vào

học thạc sỹ trong chương trình đào tạo 500 thạc sỹ, tiến sỹ), được thành phố cấp biên chế.

Học viên tham gia các chương trình đào tạo tại Trung tâm đa phần là người đã đi

làm (cá nhân đến tham gia hoặc là doanh nghiệp, công ty gửi đến đào tạo) và một số ít là

các bạn sinh viên đang học các năm cuối tại các trường Đại học. Do đó chất lượng đầu vào

2.2.6

Chất lượng đầu ra

tại Trung tâm có thể xem là rất cao với trình độ chung là từ cao đẳng trở lên.

Do Trung tâm chỉ đào tạo bổ sung kỹ năng làm việc nên chất lượng đầu ra của

Trung tâm sau quá trình đào tạo chính là những phản hồi tích cực từ phía học viên, từ

doanh nghiệp, công ty sau khi kết thúc khóa học thông qua những phiếu khảo sát ý kiến.

Ngoài ra có thể đánh giá chất lượng đào tạo của đơn vị thông qua sự tồn tại và phát triển

lớn mạnh của đơn vị cùng với thời gian trong một môi trường kinh tế năng động đầy cạnh

tranh như là Thành phố Hồ Chí Minh hoặc là số lượng và quy mô các doanh nghiệp, công

ty tin tưởng, lựa chọn Trung tâm làm đơn vị đào tạo cho mình. Với những tiêu chí đánh

giá chất lượng đầu ra như trên thì trong chừng mực nào đó có thể nói Trung tâm đào tạo

trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh là một đơn vị đào tạo

có uy tín trong lĩnh vực đào tạo kỹ năng khi chỉ trong 6 tháng đầu năm 2010 đã có trên

2.3 Thực trạng tổ chức và quản lý đào tạo

2.3.1

Quản lý việc xây dựng chương trình đào tạo

1.400 lượt học viên tham gia các khóa đào tạo tại Trung tâm.

Việc xây dựng chương trình đào tạo của Trung tâm nhìn chung có sự quan tâm sâu

sát của ban lãnh đạo ngay từ khi bắt đầu chọn môn học và giảng viên lập đề cương bài

giảng. Để xác định môn học nào sẽ được giảng dạy tại Trung tâm, ban giám đốc tham

khảo ý kiến của các bộ phận chuyên môn như tư vấn, tiếp thị, giáo vụ đào tạo và đặc biệt

thông qua ý kiến góp ý và khảo sát đối với các học viên cũng như ngoài thị trường. Khi

xác định được môn học sẽ giảng dạy thì các bộ phận có liên quan như giáo vụ đào tạo, kế

toán sẽ cùng tham mưu với ban giám đốc về việc mời giảng viên nào soạn giáo án cho

môn học đó, cũng như các chi phí có liên quan đến môn học. Giáo án môn học này chỉ là

phần tài liệu cốt lõi để các giảng viên khác khi giảng dạy sẽ dựa vào đó, bổ sung thêm

những tài liệu tham khảo khác có liên quan để bài giảng thêm phong phú và hấp dẫn

người học vì đặc thù của Trung tâm là đào tạo kỹ năng là chính. Do đó nội dung chương

trình đào tạo của Trung tâm là sản phẩm độc nhất, không trùng lắp với nội dung chương

trình của các đơn vị đào tạo khác trong cùng lĩnh vực. Luôn có trên 75% số lượng học viên

khi kết thúc khóa học nhận xét mục tiêu đào tạo và nội dung đào tạo kỹ năng tại Trung

tâm rõ ràng, đem lại lợi ích cho công việc của họ. Tuy nhiên việc nội dung chương trình

đào tạo sẵn có chỉ là phần lõi cũng có một khuyết điểm là nội dung chương trình đào tạo

lại phụ thuộc nhiều vào giảng viên được mời soạn giáo án lúc ban đầu và kinh nghiệm

thực tiễn của các giảng viên khi giảng dạy. Điều đó khiến cho Trung tâm không thể bảo

đảm chất lượng, nội dung trong tất cả các lớp học là giống nhau. Đây là điểm mà Trung

Bảng 2.3.1 (Tổng hợp ý kiến đóng góp của học viên về nội dung các chương trình đào tạo)

Ý kiến nhận xét (286 phiếu)

Kém

Cần

Đạt yêu

Rất tốt (4) Xuất sắc (5)

(1)

hoàn

cầu (3)

thiện (2)

- Nội dung có ích

cho công việc

88(30.77%)

1(0.35%)

43(15.03%)

153(53.50%)

- Mục tiêu rõ ràng

76(25.64%)

53(30.77%)

151(43.59%)

-

Diễn đạt nội

dung dễ hiểu

1(0.35%)

34(12.82%)

130(43.59%)

116(41.03%)

Qua bảng khảo sát 2.3.1 ta có thể thấy hầu hết tất cả học viên nhận xét tốt về chương trình

đào tạo của Trung tâm ở các mặt quan trọng như nội dung chương trình đào tạo hữu ích, mục tiêu

đào tạo rõ ràng cũng như giảng viên diễn đạt nội dung chương trình dễ hiểu. Đây là niềm khích lệ

to lớn đối với Trung tâm. Tuyvậy vẫn còn có ý kiến cho là nội dung chương trình đào tạo chưa

hữu ích lắm cũng như cách giảng viên diễn đạt chương trình cần được cải thiện hơn. Đây cũng là

ý kiến mà Trung tâm cần phải quan tâm để đổi mới, cải tiến chương trình nhằm khẳng định vị trí

của mình trong lĩnh vực đào tạo kỹ năng tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như tại Khu Công

nghệ cao TP.HCM

Bảng 2.3.2 (So sánh ý kiến học viên trong môn Giao tiếp hiệu quả - Giảng viên Bùi Quang Vĩnh)

Lớp 1 (9 ý kiến)

Lớp 2 (10 ý kiến)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

Nội dung có ích cho

3

4

2

4

3

3

công việc

tâm cần phải cải thiện nhiều.

2

4

4

2

2

5

Mục tiêu rõ ràng

Diễn đạt nội dung dễ

4

6

3

5

hiểu

Bảng 2.3.3 (So sánh ý kiến học viên trong môn Giao tiếp hiệu quả - Giảng viên Nguyễn Quốc Uy)

Lớp 1 (7 ý kiến)

Lớp 2 (13 ý kiến)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

5

6

2

2

4

1

Nội dung có ích cho

công việc

4

4

5

2

4

1

Mục tiêu rõ ràng

Diễn đạt nội dung dễ

6

4

3

3

2

2

hiểu

Qua hai bảng so sánh ý kiến học viên ở cùng một chương trình đào tạo điển hình tại

Trung tâm nhưng do hai giảng viên khác nhau thực hiện ta thấy rất rõ một điều: với tổng

số lượng học viên khảo sát gần như là bằng nhau (19-20 người), nhưng với kinh nghiệm

trong quá trình đào tạo, kiến thức thực tiễn khác nhau của từng người thì kết quả thu được

đối với học viên là khác nhau. Đối với giảng viên Bùi Quang Vĩnh (bảng 2.3.2) - một giảng

viên lâu năm đã từng và đang là một chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo kỹ năng “train the

trainer” của các tập đoàn lớn như Metro Cash, Unilever…., hầu hết cho là phong cách diễn

đạt nội dung đào tạo dễ hiểu là từ rất tốt đến xuất sắc nhưng nhận xét nội dung đào tạo có

ích cho công việc của họ lại có đến 7/19 ý kiến cho là chỉ đạt với 6/19 ý kiến cho là mục tiêu

khóa đào tạo rõ ràng. Nhưng đối với giảng viên Nguyễn Quốc Uy (bảng 2.3.3) ít kinh

nghiệm giảng dạy hơn và kinh nghiệm là nghiên về lĩnh vực quản lý với nhiều năm làm

sứ quán thương mại, ta lại thấy tuy có đến 5/20 ý kiến cho là việc diễn đạt nội dung đào

tạo dễ hiểu là chỉ đạt yêu cầu nhưng chỉ số nhận xét nội dung khóa đào tạo hữu ích cho

công việc của họ chỉ có 3/20 ý kiến cho là chỉ đạt yêu cầu với cùng số lượng ý kiến cho là

mục tiêu khóa đào tạo rõ ràng với giảng viên Bùi Quang Vĩnh (6 ý kiến). Điều này cho

thấy rất rõ một điều là chất lượng đào tạo kỹ năng phụ thuộc rất nhiều vào giảng viên, vào

kinh nghiệm thực tiễn của giảng viên cũng như phong cách giảng dạy của từng người.

Đây cũng là một trong những điểm đánh giá chất lượng các đơn vị đào tạo bên ngoài của

2.3.2

Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo

các doanh nghiệp khi được khảo sát.

Chương trình đào tạo sau khi được ban giám đốc thông qua sẽ được bộ phận tư vấn,

tiếp thị phối hợp cùng với bộ phận giáo vụ đào tạo tổ chức chiêu sinh, mở lớp và mời

giảng viên. Thông thường để bảo đảm chất lượng đào tạo một lớp học chỉ khoảng 15-18

học viên là tối đa và địa điểm tổ chức lớp học sẽ là trong nhà, trừ một vài môn học có yêu

cầu khác, ví dụ như môn làm việc theo nhóm thì càng nhiều học viên càng tốt, lớp học

ngoài trời. Vào ngày đầu tiên của lớp học, bộ phận giáo vụ của Trung tâm sẽ phổ biến

những thông tin cần thiết, những nội qui của lớp học cho các học viên. Vào ngày kết thúc

môn học, Trung tâm tổ chức khảo sát ý kiến góp ý của học viên về nội dung chương trình

đào tạo và những vấn đề có liên quan như giảng viên (tác phong, kiến thức, kinh nghiệm,

phương pháp truyền đạt,…), hỗ trợ của Trung tâm (tài liệu, thái độ nhân viên, cơ sở vật

chất, ….), gợi ý đề xuất những môn học khác, giới thiệu những người có quan tâm đến

chương trình,…. Hiện tại việc quảng bá các chương trình đào tạo của Trung tâm đến với

các bạn học viên là sinh viên vẫn chưa được tốt, vẫn còn nhiều ý kiến góp ý từ phía học

viên là cần phải đẩy mạnh công tác tiếp thị hơn nữa các chương trình đào tạo của Trung

tâm. Ngoài ra Trung tâm còn phải nâng cao hơn nữa chất lượng tài liệu học tập khi vẫn

còn ý kiến phản hồi từ học viên về việc tài liệu được trình bày không tốt.

Bảng 2.3.4 (Tổng hợp ý kiến khảo sát học viên về phương pháp đào tạo và tài liệu các chương

Ý kiến nhận xét (286 phiếu)

Kém (1)

Cần

Đạt yêu

Rất tốt (4)

Xuất sắc

hoàn

cầu (3)

(5)

thiện (2)

Phương pháp đào tạo

3(1.05%) 37(12.94%) 150(52.45%) 82(28.67%)

trình đào tạo của Trung tâm)

12(4.2%)

116(40.56%)

40(13.99%)

Thời gian đào tạo

95(33.22%)

Trình bày tài liệu

1(0.35%)

4(1.4%)

83(29.02%)

140(48.95%)

43(15.03%)

Qua bảng khảo sát 2.3.4 ta thấy rõ các phương pháp đào tạo kỹ năng tại Trung tâm

(phương pháp thảo luận nhóm, đóng vai) được học viên chấp nhận, chỉ có khoảng 1% số

học viên được hỏi ý kiến cho rằng cần phải cải thiện hơn nữa. Tuy nhiên thời gian đào tạo

kỹ năng cần phải xem lại khi có nhiều ý kiến học viên cho là cần phải hoàn thiện hơn và

mới ở mức đạt yêu cầu (37%). Đa số ý kiến góp ý cho phần này đều mong muốn Trung

tâm nên xem xét kéo dài thời gian đào tạo kỹ năng hơn nữa để học viên có thể thấm nhuần

và rèn luyện được kỹ năng của mình cũng như thời gian đào tạo cần linh hoạt hơn. Đây là

một vấn đề khá nan giải cho Trung tâm trong việc phải giải quyết bài toán thời gian đào

tạo và chi phí đào tạo. Hiện tại chi phí tham gia các khóa đào tạo của Trung tâm tuy không

cao so với mặt bằng chi phí của các đơn vị tương tự khác, tuy nhiên so với khả năng của

sinh viên thì đây cũng là một khoảng chi phí tương đối lớn (trung bình vào khoảng

850.000đ cho một khóa đào tạo kỹ năng kéo dài trong 4 buổi). Vấn đề thời gian đào tạo

cũng là một vấn đề cần phải quan tâm đối với Trung tâm. Hiện tại Trung tâm chỉ mở được

các lớp đào tạo kỹ năng vào buổi tối cũng như là cuối tuần, nhưng như vậy không phù

hợp lắm. Buổi tối lớp học thường bắt đầu lúc 6h và kết thúc vào 9h. Trong tình hình giao

thông hiện nay của Thành phố thì thời gian học như vậy là hơi sớm vì học viên rất dễ gặp

kẹt xe nên không thể vào học đúng giờ được. Lớp học vào cuối tuần diễn ra trong 1 tháng

nên học viên theo học được cũng phải khá nỗ lực.

Một ý kiến từ phía người dân đáng để các nhà quản lý của Trung tâm, những người

làm công tác đào tạo suy nghĩ đến.

"Tiếng là khắp nơi đua nhau mở những lớp dạy kỹ năng sống, kỹ năng mềm nhưng

thử hỏi có bao nhiêu lớp chất lượng hướng đến giới bình dân hoặc nghèo như chúng tôi?

Nhiều phụ huynh khi nghe nói đến những chương trình đó đều rất thích nhưng tất cả đều

rút lui vì không đủ tiền. Mong sao những người tổ chức dang rộng tay đến con em chúng

tôi!" Bà Tôn Nữ Thu An (Đường Nguyễn Văn Đậu, P.2, Q.Phú Nhuận, TP.HCM)

2.3.3

Quản lý đội ngũ giảng viên với hoạt động giảng dạy

Đội ngũ giảng viên là tài sản quí báu nhất của Trung tâm, đó là nội dung đã được

khẳng định ngay từ khi Trung tâm mới được thành lập. Do vậy, Trung tâm rất trân trọng

và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các giảng viên của mình trong công tác giảng dạy cũng

như nâng cao nghiệp vụ. Hàng tháng bộ phận giáo vụ tổ chức buổi họp chuyên môn với

các giảng viên để trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, tiếp thu những đề xuất của giảng viên

trong việc điều chỉnh nội dung đào tạo, trang bị thêm phương tiện đào tạo,… Hàng năm

Trung tâm đều tiếp xúc, phối hợp tổ chức hoặc cử giảng viên ngoại ngữ tham gia những

buổi Hội thảo chuyên đề về phương pháp giảng dạy,… do các nhà xuất bản giáo trình nổi

tiếng chủ trì như nhà xuất bản Pearson Longman, Cambridge ,… Tuy có rất nhiều nỗ lực

trong việc bảo đảm chất lượng đội ngũ giảng viên của Trung tâm nhưng đội ngũ giảng

viên của Trung tâm vẫn có sự biến động theo thời gian vì nhiều lý do khác nhau. Một lý

do chung nhất là do cơ chế về tiền thù lao giảng dạy của Trung tâm vẫn không thể theo

kịp so với sự biến động ngoài xã hội vì Trung tâm vẫn là một đơn vị sự nghiệp Nhà nước

do đó vẫn còn nhiều hạn chế trong vấn đề kinh phí. Mặc khác đó là chính sách của các

công ty, xí nghiệp nơi giảng viên đang công tác đôi lúc làm giảng viên gặp nhiều khó khăn

khi chia sẽ kinh nghiệm thực tế hoặc thậm chí là ngăn cản giảng viên tham gia truyền thụ

kinh nghiệm.

Trong quá trình giảng dạy thì Trung tâm chỉ theo dõi và yêu cầu giảng viên ít nhất

truyền đạt những nội dung được yêu cầu trong giáo án đặt ra. Phần đặt ra đó nhìn chung

chỉ chiếm một phần nhỏ thời lượng, còn phần lớn thời gian thì phụ thuộc vào kiến thức,

kinh nghiệm thực tiễn của giảng viên, sự yêu cầu của các học viên trong lớp, thời gian để

học viên thực hành. Trung tâm không thể nắm bắt, theo dõi sát sao và thay đổi kịp thời

trong quá trình giảng dạy.

Ý kiến nhận xét (286 phiếu)

Bảng 2.3.5 (Tổng hợp ý kiến đánh giá của học viên về chất lượng giảng viên tại Trung tâm)

Kém

Cần

Đạt yêu

Rất tốt (4) Xuất sắc (5)

(1)

hoàn

cầu (3)

thiện

(2)

Kiến

thức chuyên môn của

giảng viên

27(9.44%)

139(48.6%)

110(38.46%)

Kỹ năng trình bày của giảng

viên

27(9.44%)

137

107(37.41%)

(47.9%)

Qua bảng khảo sát 2.3.5 ta nhận thấy đa số học viên đều hài lòng với chất lượng của

giảng viên tại Trung tâm, chỉ có dưới 10% học viên cho là giảng viên đạt yêu cầu về kiến

thức chuyên môn lẫn kỹ năng trình bày. Còn lại trên 85% học viên đánh giá ở mức từ rất

tốt đến xuất sắc. Điều này cũng tương thích với việc trên 80% học viên được hỏi ý kiến cho

rằng các chương trình đào tạo tại Trung tâm diễn đạt nội dung dễ hiểu trong bảng khảo

sát về nội dung đào tạo, cũng như là trên 80% học viên đánh giá cao các phương pháp đào

2.3.4

Quản lý việc kiểm tra đánh giá

tạo kỹ năng đang triển khai tại Trung tâm ở các bảng khảo sát 2.3.1 và 2.3.4..

Việc kiểm tra đánh giá sau quá trình đào tạo là một khâu quan trọng và hết sức khó

khăn, nhất là đối với các chương trình đào tạo kỹ năng làm việc. Kỹ năng làm việc đó là sự

thành thạo, khả năng ứng dụng của học viên trong công việc. Vì vậy việc đánh giá ngay

sau quá trình đào tạo thường không chính xác. Do đó Trung tâm sau quá trình đào tạo chỉ

cung cấp chứng chỉ xác nhận học viên đã tham gia quá trình đào tạo kỹ năng nếu học viên

đó đạt những yêu cầu đặt ra ngay từ lúc đầu, chẳng hạn như thời gian tham gia khóa đào

tạo, sự tích cực tham gia các hoạt động đào tạo trong quá trình đào tạo,… Ngoài ra trong

quá trình tham gia các hoạt động diễn ra trong lớp, học viên sẽ nhận được những góp ý

chia sẽ từ phía giảng viên, các bạn học của mình. Công tác kiểm tra đánh giá gần như được

khoán trắng cho giảng viên, việc quản lý của Trung tâm còn hời hợt, chỉ thông qua ý kiến

2.3.5

Thực trạng quản lý đào tạo kỹ năng làm việc tại khu CNC TPHCM

góp ý của học viên giữa khóa hay lúc kết thúc khóa học.

Với nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng, nhất là kỹ năng làm việc, trong

quá trình thu hút đầu tư vào Khu Công nghệ cao TP.HCM, Ban quản lý Khu Công nghệ

cao TP.HCM đã tiếp xúc và thu hút nhiều đơn vị giáo dục đào tạo trong và ngoài nước

cũng như xúc tiến thành lập Trung tâm đào tạo đảm nhận công tác đào tạo bổ sung đáp

ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Kết quả đạt được cũng rất khả quan khi đã có 03 đơn vị

đào tạo chính thức có mặt, trong đó có 02 đơn vị đào tạo kỹ năng làm việc (1 của chuyên

gia Việt kiều tại Mỹ thành lập - Miad). Ngoài ra trong nội bộ các doanh nghiệp trong Khu

Công nghệ cao TP.HCM cũng có các bộ phận đào tạo cho riêng họ, nhất là đối với các công

ty đa quốc gia.

Và cũng như tình hình chung trong việc quản lý các cơ sở giáo dục đào tạo – nhất là

đối với bậc giáo dục đại học thì việc quản lý đào tạo kỹ năng tại Khu Công nghệ cao

TP.HCM còn và gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, gần như là một khoảng trắng.

Trước hết Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM là đơn vị quản lý nhà nước, cấp

phép đầu tư vào Khu Công nghệ cao nhưng lại không được thường xuyên báo cáo, kiểm

tra nội dung hoạt động đào tạo của các cơ sở đào tạo. Hiện tại Ban quản lý Khu Công nghệ

cao TP.HCM chỉ yêu cầu và nhận được các báo cáo định kỳ theo yêu cầu đúng với các quy

định chế độ báo cáo của doanh nghiệp.

Kế tiếp là việc chưa có bộ phận chuyên trách trong Ban quản lý Khu Công nghệ cao

đảm nhận việc quản lý các hoạt động đào tạo nói chung và quản lý hoạt động đào tạo kỹ

năng làm việc nói riêng. Lúc ban đầu Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công

nghệ cao khi chỉ là một bộ phận của Ban quản lý Khu Công nghệ cao là đơn vị được ủy

nhiệm của Ban quản lý Khu Công nghệ cao trong việc thu hút đầu tư về đào tạo cũng như

quản lý các hoạt động đào tạo tại Khu Công nghệ cao. Nhưng sau khi Trung tâm đào tạo

được thành lập chính thức theo quyết định 5669/QĐ-UB ngày 31/05/2005, là một đơn vị sự

nghiệp được hỗ trợ một phần kinh phí thì công tác quản lý các đơn vị đào tạo không còn

đảm nhiệm. Hiện tại việc quản lý các cơ sở hoạt động đào tạo là được xem như là nhiệm

vụ của phòng chức năng là phòng quản lý doanh nghiệp. Do đó họ chỉ quản lý các đơn vị

2.3.6

Nguyên nhân của thực trạng trên

đào tạo như là một doanh nghiệp kinh tế thuần túy.

Đầu tiên là thẩm quyền quản lý. Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM là đơn vị

quản lý nhà nước, được ủy quyền cấp phép đầu tư, quản lý mọi mặt các hoạt động từ

thẩm định dự án, phê duyệt quy hoạch, hải quan…. trong Khu Công nghệ cao nhưng lại

không được ủy quyền trong việc quản lý các hoạt động đào tạo. Điều này dẫn đến những

khó khăn, trở ngại rất lớn trong việc cấp phép đầu tư, quản lý các hoạt động đào tạo trong

Khu Công nghệ cao. Khi nhà đầu tư đến xin cấp phép vào hoạt động trong Khu Công

nghệ cao về lĩnh vực đào tạo thì Ban quản lý Khu Công nghệ cao phải trình hồ sơ của

doanh nghiệp cho Hội đồng khoa học xem xét, thẩm định dự án. Nếu hồ sơ được phê

duyệt thì Ban quản lý KCNC TP.HCM chỉ có thể lập biên bản ghi nhớ, ký thỏa thuận địa

điểm, diện tích thuê đất cho doanh nghiệp đào tạo chứ chưa thể ký hợp đồng đầu tư, cho

thuê đất liền mà phải hướng dẫn doanh nghiệp quay lại các cơ quan chức năng khác để

xin phép thành lập. Đó là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh xã hội hoặc

Sở Kế hoạch đầu tư. Do đó Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM chỉ được các đơn vị

đào tạo báo cáo định kỳ hàng quý, năm như là các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh khác.

Còn việc quản lý về chuyên môn thì không thể can thiệp, quản lý được hay tác động tới

được.

Nguyên nhân thứ hai là trong sơ đồ tổ chức của Ban quản lý KCNC TP.HCM không

có bộ phận chuyên trách quản lý đào tạo. Từ đó dẫn đến không có biên chế cho hoạt động

quản lý đào tạo mặc dù ngay từ khâu quy hoạch lúc ban đầu đã đề cập đến việc thu hút

các trường, viện, cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học với tổng diện tích đất cho hoạt

động đào tạo lên đến hơn 93 ha (trên tổng diện tích Khu Công nghệ cao TP.HCM là 963 ha

– chiếm gần 10% diện tích).

Thứ ba là thiếu tiêu chí quản lý và sự phối hợp quản lý hoạt động đào tạo. Hiện tại

thì trong nội bộ Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM có đến 5 đơn vị, bộ phận chức

năng có liên quan đến các hoạt động đào tạo, đó là các phòng ban, đơn vị: trung tâm đào

tạo, trung tâm nghiên cứu triển khai, vườn ươm (3 đơn vị sự nghiệp thành lập theo quyết

định của Ủy ban nhân dân thành phố), phòng quản lý doanh nghiệp và phòng khoa học

công nghệ. Mỗi bộ phận, đơn vị có những tiêu chí quản lý của riêng mình và hoạt động

theo những thông tư, hướng dẫn khác nhau (3 đơn vị sự nghiệp) cũng như có nhiệm vụ

khác nhau (2 phòng chức năng). Tuy nhiên giữa các đơn vị này vẫn chưa có sự chia sẽ, trao

đổi thông tin vì những lợi ích riêng của đơn vị mình. Hai phòng chức năng được coi là nơi

đảm nhận công tác quản lý trong Khu Công nghệ cao trong tất cả các hoạt động là phòng

quản lý khoa học và phòng quản lý doanh nghiệp thì cả hai bộ phận đều không có tiêu chí

riêng của bộ phận để quản lý mảng đào tạo.

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ VIỆC ĐÀO TẠO BỔ SUNG

KỸ NĂNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRỰC TIẾP CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KCNC

3.1

Các biện pháp tổ chức và quản lý đào tạo kỹ năng

3.1.1

Xác định mục tiêu

TP.HCM

Kỹ năng, một yếu tố then chốt để thành công trong thị trường lao động đầy cạnh

tranh như hiện nay. Do đó đào tạo kỹ năng là một lĩnh vực giáo dục nhận rất nhiều sự

quan tâm từ phía các đơn vị giáo dục cũng như từ phía xã hội. Kinh tế xã hội ngày càng

phát triển, các yêu cầu của doanh nghiệp đối với người lao động cũng có sự thay đổi. Hiện

tại mục tiêu đào tạo các chương trình đào tạo kỹ năng của Trung tâm hoàn toàn xuất phát

từ phía nhận định của Trung tâm về những gì doanh nghiệp cần, từ phía những yêu cầu

của học viên và từ những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình làm việc tại các doanh

nghiệp, xí nghiệp, nhà máy của giảng viên, chứ chưa xuất phát từ phía những yêu cầu của

doanh nghiệp. Có thể những mục tiêu đó là thiết thực, thỏa mãn đa số các yêu cầu của

doanh nghiệp nhưng yêu cầu từ doanh nghiệp mỗi lúc một thay đổi. Do vậy để đáp ứng

yêu cầu của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp trong KCNC TP.HCM đòi hỏi

Trung tâm phải thường xuyên xác định lại mục tiêu đào tạo kỹ năng của mình:

- Thăm dò nhu cầu, yêu cầu của doanh nghiệp đối với nhân viên của mình. Từ việc

nắm được yêu cầu của doanh nghiệp đối với nhân viên xây dựng các chương trình

đào tạo kỹ năng, mục tiêu đào tạo kỹ năng rồi gửi lại các doanh nghiệp để nhận

được phản hồi xem có phù hợp không. Việc thăm dò này có thể kết hợp với các đợt

khảo sát, thu thập thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước hàng năm của Ban

quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM.

- Thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa Trung tâm với các doanh nghiệp trong KCNC

TP.HCM thông qua mối liên hệ giữa Trung tâm với Ban quản lý Khu Công nghệ

cao. Từ đó làm đầu mối chia sẽ các chương trình đào tạo kỹ năng làm việc giữa các

doanh nghiệp, thông qua đó nắm được tài liệu, mục tiêu các khóa đào tạo,…. phục

vụ cho công tác đào tạo tại Trung tâm.

- Cần khẳng định lại vai trò là đầu mối thông tin của mình trong mối liên kết giữa

doanh nghiệp trong Khu Công nghệ cao với các đơn vị đào tạo khác như nhiệm vụ

3.1.2

Xây dựng chương trình đào tạo

được đặt ra trong Quyết định thành lập.

Chương trình đào tạo là phần cốt lõi, sống còn của bất kỳ một đơn vị đào tạo nào.

Ngoài ra cùng với sự tiến bộ, thay đổi của xã hội, chương trình đào tạo cũng cần phải

thường xuyên được cập nhật, đổi mới. Do đó để bảo đảm chất lượng của chương trình đào

tạo cũng như khẳng định thương hiệu của mình, Trung tâm đào tạo cần phải có sự thay

đổi trong công tác xây dựng chương trình đào tạo của mình. Đó là:

- Thành lập được một đội ngũ giảng viên, chuyên gia nhiều kinh nghiệm thực tiễn,

gắn bó với đơn vị trong công tác xây dựng chương trình đào tạo. Đội ngũ giảng viên

này cần phải có sự cam kết nhất định trong việc không chia sẽ nội dung chương

trình đào tạo đã thực hiện cho Trung tâm với những đơn vị khác. Điều này có thể

rất khó quản lý do đội ngũ giảng viên tại Trung tâm đa phần là các chuyên gia đang

công tác tại các các doanh nghiệp, công ty khác nhưng cần phải thực hiện được để

đảm bảo chương trình đào tạo của Trung tâm không thể nhầm lẫn với các chương

trình đào tạo khác. Song song với công tác biên soạn chương trình, đội ngũ thẩm

định chương trình đào tạo cần có sự quan tâm chu đáo hơn và có nên có qui định cụ

thể về trách nhiệm, nghĩa vụ của họ đối với chương trình

- Cần có cơ chế thù lao linh hoạt, hấp dẫn đối với công tác xây dựng chương trình.

Hiện tại đối với các môn đào tạo mới, Trung tâm đang thực hiện cơ chế thù lao biên

soạn chương trình mới là 30 triệu một môn hoặc 40% tổng thu đối với các môn học

thu hút đông học viên. Nên chăng chỉ tồn tại một cơ chế thù lao biên soạn chương

trình là 40% tổng thu để tăng sự gắn kết, trách nhiệm giữa người soạn chương trình

và hoạt động đào tạo tại Trung tâm.

- Cần có sự điều chỉnh, cập nhật kịp thời nội dung chương trình đào tạo trong quá

trình đào tạo. Hiện tại nội dung chương trình đào tạo được cập nhật có thể coi là tùy

hứng, theo sự quan tâm đến chương trình của giảng viên, chứ chưa có một quy định

nào cụ thể. Do đó có môn học nội dung được cập nhật liên tục gần như 1-2 tháng 1

lần, có môn gần cả năm trời mới được thay đổi, cập nhật chương trình. Nên chăng

có quy định cụ thể về việc xem xét, cập nhật nội dung chương trình đào tạo hàng

quý. Thời gian đào tạo có thể kéo dài hơn để chuyển tải đầy đủ, trọn vẹn lượng kiến

thức và giúp cho người học có thể bước đầu rèn luyện được kỹ năng mong muốn.

- Trung tâm cần có kế hoạch khảo sát nhu cầu của thị trường, nhất là tại các doanh

nghiệp về các chương trình đào tạo, nội dung đào tạo… Từ đó có biện pháp triển

khai xây dựng những chương trình đào tạo thiết thực, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu

3.1.3

Đổi mới việc quản lý học viên

của doanh nghiệp.

Quản lý học viên là một khâu không kém phần quan trọng đối với bất kỳ tổ chức,

đơn vị hoạt động đào tạo nào. Để nâng cao công tác quản lý học viên, xin đề ra các biện

pháp sau đây:

- Tin học hóa công tác quản lý học viên. Quản lý học viên không phải chỉ bắt đầu vào

lúc khai giảng khóa học và kết thúc sau khi khóa học kết thúc mà việc quản lý học

viên đã phải bắt đầu từ khi học viên liên hệ, đóng học phí tham gia khóa học và kéo

dài cho đến hết thời gian lưu trữ hồ sơ theo qui định của Trung tâm. Để việc quản lý

học viên có hiệu quả trong tình hình quy mô hoạt động của Trung tâm càng ngày

càng mở rộng thì không thể quản lý thủ công bằng các chương trình đơn giản như

văn bản word, excel, giấy tờ … mà nên có một chương trình quản lý chuyên dụng.

- Công tác quản lý học viên cần phải sâu sát và thân thiện hơn nữa vì đặc thù của

Trung tâm. Do đây là hoạt động đào tạo kỹ năng làm việc nên đối tượng tham gia

các khóa học đa phần đều là những người đã đi làm. Do đó họ có cũng có những

kinh nghiệm, những góp ý rất có ích cho hoạt động của Trung tâm nếu như chúng

ta làm tốt công tác quản lý học viên của mình. Đó có thể là góp ý về phương pháp

truyền đạt, nội dung chương trình, gợi ý về khóa học mới, góp ý cách tổ chức,…

- Công tác thống kê học viên cần phải chi tiết hơn để có thể phục vụ tốt hơn cho việc

tư vấn học viên tham gia những khóa học khác hữu ích cho họ. Hiện tại Trung tâm

chỉ quản lý học viên ở mức độ đơn giản như là khóa học đó có học viên nào tham

dự, tham dự có đầy đủ không, do giảng viên nào dạy, học vào thời gian nào…Để

việc hoạt động của Trung tâm có hiệu quả hơn, công tác quản lý học viên cần phải

lưu ý và cung cấp được những thông tin có giá trị khác như: học viên đó đã tham

gia các khóa đào tạo nào, có ý định tham gia những chương trình đào tạo nào và vào

khoảng thời gian nào, …

- Nên triển khai và thực hiện việc chăm sóc học viên sau khi kết thúc khóa học. Đó là

quá trình theo dõi sự tiến bộ của học viên trong công việc sau khi tham gia các khóa

3.1.4

Tăng cường đội ngũ giảng viên, cán bộ công nhân viên

đào tạo.

- Đội ngũ giảng viên cần phải được mở rộng về số lượng và phát triển về chất lượng.

Hiện tại Trung tâm chưa có kế hoạch, phương án tiếp cận và sử dụng có hiệu quả

nguồn lực chuyên gia là Việt kiều. Lực lượng chuyên gia, trí thức Việt kiều có tâm

huyết muốn đóng góp một phần công sức của mình vào công cuộc phát triển đất

nước là rất lớn. Do đó cần phải có kế hoạch sử dụng lực lượng này trong việc mở

rộng đội ngũ giảng viên của mình.

- Cần có kế hoạch cải thiện thù lao cho giảng viên, bảo đảm thu nhập tối thiểu hàng

tháng của giảng viên cũng như số lớp của từng giảng viên để giảng viên an tâm gắn

bó với Trung tâm.

- Tăng cường mối liên kết với các đơn vị sự nghiệp khác trực thuộc Ban quản lý Khu

Công nghệ cao TP.HCM để chia sẽ nguồn nhân lực phục vụ cho công tác đào tạo,

chẳng hạn như là Trung tâm nghiên cứu triển khai, Vườn ươm doanh nghiệp công

nghệ cao.

3.1.5

Tăng cường cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất của Trung tâm tuy mới được trang bị nhưng vẫn chưa hoàn toàn

phục vụ tốt cho công tác đào tạo, nhất là đối với đào tạo đặc thù như là đào tạo kỹ năng

làm việc. Do đó Trung tâm cần phải tăng cường cơ sở vật chất của mình hơn nữa bằng

nhiều cách, như là:

- Phối hợp với các đơn vị liên kết, có mối quan hệ thân thiết trong việc chia sẽ trang

thiết bị, phòng thực hành, địa điểm đào tạo như: Trung tâm nghiên cứu triển khai

(phòng lab điện tử viễn thông, cơ khí chính xác, phòng sạch,…), Đại học quốc gia

TP.HCM, Trung tâm dạy nghề Quận 9, Trung tâm đào tạo tự động hóa CITRES,….

- Đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu doanh

nghiệp trong Khu Công nghệ cao. Từ đó vận động xin tài trợ từ phía các doanh

nghiệp như đã từng thực hiện trước đây (phòng lab máy tính tài trợ của công ty

Pulse – Đan Mạch, tòa nhà Intergrated Circuit Development Center – ICDC, tài trợ

của công ty Intel Products Vietnam )

- Nghiên cứu hướng liên kết với doanh nghiệp trong việc tổ chức đào tạo kỹ năng

làm việc ngay tại doanh nghiệp nhằm tận dụng cơ sở vật chất sẵn có của doanh

nghiệp đồng thời tạo cho học viên rèn luyện được kỹ năng làm việc của mình trong

một môi trường làm việc cụ thể.

- Đầu tư thích đáng cho công tác cơ sở vật chất bằng nhiều nguồn kinh phí, trong đó

có nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên và nguồn vốn kinh doanh có được.

Ngoài ra cần phải ban hành những qui định và quy chế trong việc sử dụng, mua

3.1.6

Đổi mới công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả

sắm trang thiết bị tại đơn vị.

Việc quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả của Trung tâm cần phải được cải thiện hơn nữa:

- Tăng cường kiểm tra chất lượng công tác giảng dạy của giảng viên bằng nhiều hình

thức như xem xét phản ứng của học viên sau buổi học, thực hiện tốt sổ ghi chú bài

giảng,… Tiến tới đánh giá chất lượng giảng viên hàng năm thông qua đánh giá của

học viên, mức độ ưa chuộng của doanh nghiệp, số lần được doanh nghiệp chỉ định

mời trong việc giảng dạy,…

- Kết quả học tập của học viên cần phải sâu sát hơn. Trung tâm cần theo dõi, đánh giá

học viên trong khoảng thời gian dài (vào khoảng 1 năm) nhằm giúp đỡ, đánh giá kết

quả đào tạo của mình. Từ đó khẳng định uy tín đào tạo của Trung tâm giúp chứng

chỉ đào tạo của Trung tâm được xã hội công nhận rộng rãi.

Để nâng cao chất lượng đào tạo tại Trung tâm có nhiều biện pháp có thể sử dụng và

đạt hiệu quả cao như:

- Xác định nhu cầu nguồn nhân lực theo cơ cấu nghề, trình độ đào tạo để từng bước

đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong Khu Công nghệ cao, càng cụ thể chi

tiết về yêu cầu trình độ nghề, ngành nghề cần đào tạo sẽ giúp cho Trung tâm có

chương trình kế hoạch, phương án cụ thể để từng bước đáp ứng nhu cầu của doanh

nghiệp.

- Hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy –

học, đổi mới phương pháp đào tạo, nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ giáo

viên để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.

- Thực hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp trong quá

trình đào tạo:

o Doanh nghiệp và Trung tâm đào tạo cùng phối hợp xây dựng tiêu chuẩn, kỹ

năng nghề, thiết kế chương trình và tham gia vào quá trình giảng dạy, đánh

giá kết quả học tập của người học nghề.

o Trung tâm đào tạo phải chủ động điều tra để có được thông tin về nhu cầu

của doanh nghiệp (nghề, trình độ, mức độ kỹ năng...) để tổ chức đào tạo phù

hợp.

o Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin cho Trung tâm đào tạo về

nhu cầu về lao động, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho Trung tâm cũng

như người học rèn luyện được những kỹ năng đặt ra.

- Kêu gọi sự hỗ trợ về mặt chuyên môn trong việc hỗ trợ đào tạo lực lượng giảng

viên, xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến từ phía các chuyên gia Việt Kiều

thông qua những buổi Hội nghị chuyên gia Việt kiều được tổ chức hàng năm tại

Khu Công nghệ cao.

- Vận động, tranh thủ sự giúp đỡ từ phía lãnh đạo Thành phố và Trung ương trong

việc vận dụng các cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với công tác thu hút lực lượng trí

thức ngoài xã hội về làm việc tại Khu Công nghệ cao, nhất là đối với công tác đào

tạo nguồn nhân lực.

- Tận dụng có hiệu quả nguồn lực sẵn có, nhất là với mối quan hệ chặt chẽ giữa Khu

Công nghệ cao TP.HCM và Đại học quốc gia TP.HCM, giữa các đơn vị có chức năng

đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao trong việc chia sẽ cơ sở vật chất,

đội ngũ giảng viên,…

- Tiến hành chuyển đổi cơ chế hoạt động của Trung tâm từ đơn vị sự nghiệp có thu

hưởng một phần kinh phí từ ngân sách sang đơn vị sự nghiệp tự chủ hoàn toàn kinh

phí theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, từ đó có thể linh

hoạt trong việc trả thù lao cho giảng viên, trả lương cho nhân viên cũng như đầu tư

trang thiết bị cho các hoạt động của Trung tâm.

Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp thì các biện

pháp nâng cao chất lượng đào tạo đã nêu ở trên có mối quan hệ tương quan khắng khít

với nhau, hỗ trợ qua lại. Không thể chỉ thực hiện riêng lẻ một biện pháp là có tác dụng

ngay, mà cần phải có sự phối hợp đồng bộ. Tuy nhiên trong số các biện pháp đã nêu thì

biện pháp cơ bản nhất vẫn là biện pháp khảo sát nhu cầu hàng năm của doanh nghiệp và

các biện pháp tăng cường đội ngũ giảng viên. Và trong các biện pháp tăng cường đội ngũ

giảng viên thì biện pháp đột phá là việc tăng cường tận dụng nguồn nhân lực trí thức,

chuyên gia Việt kiều cũng như là từ các doanh nghiệp ngoài xã hội có mong muốn đóng

phải phối hợp có hiệu quả hơn nữa với Đại học Quốc gia và các Viện Trường, tận dụng được các

góp công sức vào công cuộc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước,

nguồn lực tăng cường cho Khu Công nghệ cao từ phía Đại học Quốc gia.

3.2

Phương pháp đào tạo kỹ năng đáp ứng yêu cầu trực tiếp của doanh nghiệp:

Hiện nay, tuy Trung tâm đào tạo đã triển khai các phương pháp đào tạo kỹ năng

khá hiện đại, tân tiến như phương pháp lấy học viên là trung tâm, lấy thực hành là chính

(70% thời lượng là thực hành); phương pháp thảo luận nhóm, trao đổi kinh nghiệm giữa

các học viên với nhau và giữa học viên với giảng viên; và ứng dụng công nghệ thông tin

vào giảng dạy thông qua việc đưa bài giảng vào file powerpoint để trình chiếu nhưng vẫn

chưa thỏa mãn hoàn toàn được nhu cầu của học viên cũng như doanh nghiệp về nhiều

mặt như thời gian đào tạo, thời khóa biểu đào tạo, cơ sở vật chất, phù hợp với yêu cầu của

doanh nghiệp, sát với thực tiễn và có thể ứng dụng ngay lập tức sau khi học…

Để đáp ứng được yêu cầu trực tiếp về chất lượng đội ngũ nhân viên của doanh

nghiệp tại Khu Công nghệ cao TP.HCM, nhất là về kỹ năng làm việc thì Trung tâm đào tạo

cần phải có phương pháp đào tạo thật phù hợp, linh hoạt hơn cũng như cần phải kết hợp

với phương thức đào tạo mới cho phù hợp. Một trong những phương thức đào tạo mà

Trung tâm có thể áp dụng để tăng thêm khả năng đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp là

phương thức đào tạo từ xa kết hợp với lớp học cổ điển. Khi sử dụng phương thức đào tạo

này, Trung tâm cần phải kết hợp thêm phương pháp đào tạo khác như: dạy học theo dự án

nhằm nâng cao hiệu quả của việc triển khai đào tạo từ xa.

Phương thức đào tạo từ xa có những lợi ích có thể trông thấy được đối với các hoạt

động đào tạo của Trung tâm như:

- Giúp giảm đáng kể chi phí đào tạo. Trung tâm đào tạo có thể tăng số lượng học viên mà

không cần phải tăng thêm không gian, diện tích và cơ sở vật chất khác tương ứng.

- Các giảng viên tham gia đào tạo từ xa có thể cập nhật, bố trí bài giảng một cách thuận

tiện và khoa học mà không mất nhiều công sức. Tại bất kỳ đâu họ cũng có thể truy nhập

vào chương trình, thực hiện chức năng giảng viên (cập nhật kiến thức mới cho môn học,

trao đổi thông tin với học viên, theo dõi tình hình học tập...), do vậy có thể nói đây là một

phương pháp đào tạo có thể giúp Trung tâm nâng cao được số lượng đội ngũ giảng viên

của mình khi đặc trưng nguồn giảng viên của Trung tâm là các chuyên gia đang công tác

tại các công ty, doanh nghiệp nên họ không có nhiều thời gian rãnh.

- Chương trình và nội dung bài giảng được đổi mới, cập nhật thường xuyên, theo sát thực

tế; giáo viên có thể sử dụng phương pháp và công cụ giảng dạy hiện đại có cả âm thanh và

hình ảnh sinh động (multimedia); từ đó giúp nâng cao chất lượng đào tạo khi học viên có

thể thấy được các tình huống thực tế.

Bên cạnh các giờ tự học qua máy tính tại nhà hay tại doanh nghiệp, học viên sẽ được

tham gia các buổi học tập trung mang tính chất thực hành kỹ năng, tổng kết và chia sẻ

kinh nghiệm làm việc. Trong các buổi học tập trung này, Trung tâm có thể kết hợp thêm

phương pháp quay video khi học viên thực hành, từ đó sẽ giúp học viên có cơ hội xem lại

các lỗi bản thân mình hoặc những người khác hay phạm phải để khắc phục.

Với số lượng học viên mỗi lớp học nhỏ, chỉ vào khoảng 15-20 học viên 1 lớp thì việc

triển khai thêm phương pháp đào tạo theo dự án kết hợp với các phương pháp đào tạo sẵn

(làm việc theo nhóm, trao đổi kinh nghiệm) có sẽ rất hiệu quả trong việc đáp ứng được

yêu cầu đào tạo kỹ năng của doanh nghiệp:

- Việc giải quyết các dự án, tình huống đưa ra giúp học viên rèn luyện nhiều kỹ năng có

liên quan của mình chứ không phải chỉ gói gọn trong một kỹ năng đang học.

- Tình huống (dự án) đưa ra sẽ thực tế hơn và việc giải quyết tình huống (dự án) này sẽ

giúp học viên có được kinh nghiệm thực tiễn. Từ đó các kỹ năng được đào tạo sẽ đáp ứng

tốt hơn yêu cầu của doanh nghiệp sau khi kết thúc khóa học.

- Học viên sẽ chủ động hơn trong quá trình rèn luyện kỹ năng của mình khi tham gia khóa

đào tạo. Với các phương pháp đào tạo đang áp dụng tại Trung tâm (làm việc nhóm, trao

đổi kinh nghiệm) vẫn còn có tình trạng có học viên tham gia một cách thụ động, chỉ lắng

nghe mà không tham gia tích cực với tập thể vì nhiều lý do khác nhau. Nhưng với phương

pháp đào tạo theo dự án và phương thức đào tạo từ xa kết hợp với lớp học thì tình trạng

đó sẽ được giảm bớt vì: học viên sẽ có thời gian ở nhà để chuẩn bị cho tình huống dự án,

được sử dụng nhiều nguồn tài nguyên để tham khảo, được tạo điều kiện cho phong cách

học của mình được triển khai.

- Phương pháp đào tạo này sẽ nâng cao tính tích cực của học viên, từ đó sẽ tạo được nhận

thức về kỹ năng, giúp cho học viên có cơ hội rèn giũa được kỹ năng của mình.

Tóm lại với phương thức đào tạo kết hợp giữa đào tạo từ xa và đào tạo trong lớp

cùng với áp dụng thêm phương pháp đào tạo theo dự án, Trung tâm đào tạo có thể đáp

ứng được yêu cầu đào tạo kỹ năng cho doanh nghiệp khi có thể giúp doanh nghiệp vẫn

hoạt động bình thường, chi phí đào tạo cho nhân viên thấp, học viên dễ dàng theo học phù

hợp với thực trạng vừa đi làm vừa đi học, thời gian đào tạo linh hoạt. Mặt khác Trung tâm

cũng có những lợi ích thiết thực như: có thể tăng đội ngũ giảng viên, cộng tác viên, không

phải tốn nhiều chi phí cho việc mở rộng cơ sở vật chất.

Kết luận và kiến nghị

1. Kết luận

Mục tiêu chiến lược của khu công nghệ cao là phát triển nguồn lực nội sinh để đi

lên. Bước đầu của Khu Công nghệ cao TP.HCM là thu hút FDI công nghệ cao nhưng đây

không phải là mục đích. Qua các dự án lớn công nghệ cao, Khu Công nghệ cao xem họ làm

như thế nào để có thể học tập. Các dự án tại khu công nghệ cao không có hợp đồng hay

điều kiện ràng buộc về chuyển giao công nghệ nên vấn đề là nguồn nhân lực của thành

phố tiếp thụ như thế nào để phát huy sự lan tỏa của các dự án đầu tư. Do vậy vai trò của

Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM là cần thiết, đáp

ứng được yêu cầu đào tạo của doanh nghiệp trong và ngoài Khu Công nghệ cao. Các

chương trình đào tạo của Trung tâm phong phú, phục vụ nhu cầu thiết thực của doanh

nghiệp và người dân.

- Phương thức đào tạo của Trung tâm hiện còn đơn điệu, chỉ mới đào tạo trực tiếp

tại Trung tâm là chính, tuy nói là đào tạo kỹ năng làm việc nhưng thực chất chỉ là cung cấp

kiến thức và thực hành tại chỗ. Khi kết thúc khóa đào tạo việc học viên có nhận được kỹ

năng đó hay không phụ thuộc hoàn toàn vào bản thân người học.

- Việc quản lý đào tạo tại Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM cũng như là tại

Trung tâm đào tạo còn gặp rất nhiều hạn chế, thiếu sót từ nhiều phía: cơ chế, chính sách,

bộ máy tổ chức, con người.

- Trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy kỹ năng làm việc tại Trung tâm còn

thiếu rất nhiều, cần phải được đầu tư thêm để có thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo ngày

càng cao từ phía doanh nghiệp.

- Đội ngũ giảng viên của Trung tâm còn thiếu, chưa có biện pháp tận dụng tối đa các

2. Kiến nghị

2.1 Ủy ban nhân dân TP.HCM

nguồn lực hiện có bên ngoài xã hội.

- Nên xác định rõ đơn vị nào quản lý hàng dọc đối với Trung tâm đào tạo trực thuộc

Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM về mặt chuyên môn, vì hiện tại chưa có đơn vị

nào quản lý hàng dọc. Do đó nội dung, chương trình đào tạo,.. của Trung tâm đào tạo chỉ

là phần nhỏ trong báo cáo chung hàng năm của Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM.

- Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thành lập trường học trên

cơ sở Nghị định 69 của Chính phủ.

- Hình thành và tiếp tục phát huy các trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông

tin thị trường lao động. Hình thành các phương tiện thông tin đặc thù như tạp chí, bản tin

chuyên ngành để có sự giao lưu giữa nhà đào tạo và các doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo.

- Có cơ chế khen thưởng trong lĩnh vực đào tạo, khen thưởng các nhà khoa học,

các nhà trường và các doanh nghiệp đã đóng góp công sức vào đào tạo nhân lực trong lĩnh

vực công nghệ cao.

- Có chương trình, cơ chế khuyến khích Việt kiều, các nhà khoa học và doanh

nghiệp nước ngoài đến hỗ trợ đào tạo nhân lực Công nghệ cao ở Việt Nam, đặc biệt là tại

2.2 Sở Giáo dục đào tạo TP.HCM

Khu Công nghệ cao TP.HCM.

- Đề xuất xây dựng các tiêu chí, chuẩn đào tạo có liên quan đối với các chứng chỉ

đào tạo kỹ năng giống như chứng chỉ ngoại ngữ. Từ đó thiết lập vị trí của chứng chỉ đào

tạo kỹ năng trong hệ thống chứng chỉ, hệ thống văn bằng giáo dục của đất nước.

- Phải có cơ chế quản lý và có quy định hẳn hoi đối với những đơn vị đào tạo kỹ

năng. Đáp ứng tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, đội ngũ nhân sự, chất lượng bài giảng như thế

2.3 Trung tâm đào tạo – Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM

nào… thì mới được phép đào tạo.

- Nghiên cứu triển khai các phương thức đào tạo tiên tiến như E-Learning, hợp tác

đào tạo cùng với doanh nghiệp.

- Tổ chức và cập nhật thường xuyên các chương trình đào tạo nhằm thỏa mãn nhu

cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tại Khu Công nghệ cao TP.HCM.

- Nhanh chóng phối hợp cùng với Đại học Quốc gia TP.HCM triển khai đề án Khoa

Công nghệ cao tại Trung tâm đào tạo theo lịch trình dự kiến.

- Phát triển đội ngũ giảng viên hiện có, cập nhật nhu cầu doanh nghiệp, làm đầu

mối liên kết phối hợp với các đơn vị đào tạo khác nhằm đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.

- Xây dựng và mở rộng hệ thống “Training Consortium” đến các công ty, tập đoàn nước

ngoài tại Khu Công nghệ cao, nhất là đối với các công ty sở hữu công nghệ nguồn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), Đỗ Thị Bích Loan, Vũ Trọng Rỹ - Giáo dục Việt Nam những năm

đầu thế kỷ XXI, NXB Giáo dục – Hà Nội, 2007.

II. Nguyễn Cảnh Chất(dịch và biên soạn), Tinh hoa quản lý, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội, 2004.

III. Xuân Chiểu, Cải tiến kỳ tuyển sinh ĐH: “Ba chung” không nên tồn tại!, Pháp luật

IV. Tô Xuân Giáp, Phương tiện dạy học, Nxb Giáo dục.

V.Bùi Minh Hiền-Nguyễn Văn Giao-Nguyễn Hữu Huỳnh-Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển giáo dục,

Nxb Từ điển bách khoa.

VI. Bùi Minh Hiền, Quản lý giáo dục, NXB Đại học sư phạm, 2006.

VII. Bùi Minh Hiền (chủ biên), GS.TSKH Vũ Trọng Hải, Đặng Quốc Bảo - Quản lý giáo dục, NXB

Đại Học Sư Phạm.

VIII. PGS.TS. Phan Văn Kha, Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.

IX.Trần Kiểm, Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, Nxb Đại học sư phạm.

X.Trần Kiểm (2004) – Khoa học quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo dục.

XI.TS. Hồ Văn Liên, Bài giảng tổ chức quản lý giáo dục và trường học, Đại học sư phạm TP.HCM.

XII.Hồ Văn Liên (2007) – Tài liệu giảng dạy tổ chức quản lý giáo dục và trường học, Khoa tâm lý

(ĐHSP Thành phố HCM).

XIII. Phan Trọng Ngọ - Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB Đại học sư phạm.

XIV.Như Lịch – Tuệ Nguyễn, Cần được quản lý về chuyên môn, Thanh niên, 2010

XV.Đào Thị Oanh (chủ biên), Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay, NXB Giáo dục, 2007.

XVI.Nguyễn Thị Oanh (chủ biên), 10 cách thức rèn kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, NXB Trẻ,

TPHCM, 2008.

XVII.Nguyễn Thị Oanh, Kỹ năng làm việc nhóm, NXB Trẻ, TPHCM, 2008.

XVIII. Nguyễn Thị Oanh, Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, NXB Trẻ, TPHCM, 2008.

XIX. Ngô Đình Qua (2005), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Đại học sư phạm TP.HCM.

XX. Huỳnh Văn Sơn, Bạn trẻ và kỹ năng sống, NXB Lao động – Xã hội, TPHCM, 2009.

XXI. TS. Dương Thiệu Tống, Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục, Nxb Khoa học xã

hội.

XXII.Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc – Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Thống

kê, 2005.

TP.HCM, 27/10/2010.

XXIII.Jon Wiles, Joseph Bondi (dịch: Nguyễn Kim Dung) – Xây dựng chương trình học, NXB Giáo

dục, 2005.

XXIV. Gary R. Heerkens – Quản lý dự án, NXB Thống kê.

XXV. Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM, Đề án nghiên cứu tiền khả thi thành lập

Trường/Viện/Khoa Công nghệ cao trực thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM trong Khu Công nghệ cao,

2008

XXVI. Chính phủ, Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người 2003-2015(Ban hành kèm theo văn

bản 872/CP-KG ngày 02/07/2003 của chính phủ)

XXVII.Bộ GD&ĐT-Tài liệu tăng cường giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở

trường THPT, Hà Nội, 3/2010.

XXVIII.Bộ GD&ĐT-Một số vấn đề chung về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà

trường phổ thông, Hà Nội, 3/2010.

XXIX. Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM, Đề án thành lập Trung tâm đào tạo trực thuộc Ban

quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.

XXX.Ủy ban nhân dân TP.HCM, Quyết định 116/2006/UBND ban hành ngày 21/7/2006 của Ủy ban

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

XXXI. Bộ Giáo dục và đào tạo, Kỷ yếu hội thảo sinh viên với đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, nhu cầu

doanh nghiệp, 2008.

XXXII. Kỹ năng thương lượng - First News và NXB Tổng hợp TPHCM

CÂU HỎI KHẢO SÁT NHU CẦU NHÂN LỰC

A. THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

1. Tên doanh nghiệp:

2. Loại hình doanh nghiệp:

TNHH

Cổ phần

Liên doanh

DN Tư nhân

100% vốn nước ngoài

DN Nhà nước

Khác

3. Ngành nghề hoạt động:

Cơ khí chính xác (Precision Mechanics)

Điện tử - Viễn thông (Electronics, Telecommunications)

Công nghệ Thông tin (Information Technology, Software, Computer related, …)

Công nghệ Vật liệu mới ( Material Technology, Nano technology . . .)

Công nghệ Sinh học (Biotechnology)

Khác (Others) ………………

4. Sản phẩm chính của doanh nghiệp:

5. Địa chỉ:

6. Điện thoại: Email:

7. Người trả lời:

Chức vụ:

Phụ lục 1:

B. NGUỒN NHÂN LỰC

8. Xin quý Doanh nghiệp cho biết:

* Trung bình mất bao nhiêu:

- thời gian

- và chi phí …………. VNĐ / người

để đào tạo lại, đào tạo bổ sung cho nhân viên mới (đặc biệt là sinh viên mới tốt nghiệp).

* Những nội dung chính cần đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung là:

(Xin nêu càng cụ thể càng tốt)

9. Yêu cầu tuyển dụng chung của doanh nghiệp đối với SV mới tốt nghiệp về:

a) Bằng cấp (Qualification)

b) Kỹ năng (skills)

c) Các yêu cầu khác

(Nếu có thể, doanh nghiệp vui lòng cho biết yêu cầu cụ thể của một số vị trí tuyển dụng)

10. Theo kinh nghiệm và khảo sát của quý vị, kỹ năng và năng lực chuyên môn của SV mời tốt

nghiệp đạt được bao nhiêu % so với yêu cầu của doanh nghiệp?

Dưới 50%

Trên 50%

Ý kiến khác:

Đánh giá mức dộ hài lòng của quý vị với SV mới ra trường theo thang điểm từ 1 đến 5

(1:Hoàn toàn không hài lòng; 2:Không hài lòng; 3:Tạm chấp nhận; 4:Hài lòng; 5:Hoàn toàn hài lòng)

a) Kiến thức chuyên môn

1

2

3

4

5

b) Kỹ năng kỹ thuật

1

2

3

4

5

c) Kỹ năng giao tiếp

1

2

3

4

5

d) Tính chuyên nghiệp trong làm việc

1

2

3

4

5

11. Theo quý vị, ngoài kiến thức ở trường SV mới ra trường còn thiếu những gì để làm việc hiệu

quả?

12. Theo quý vị, các trường ĐH/CĐ cần làm gì để đáp ứng yêu cầu về nhân lực trình độ cao của

doanh nghiệp?

13. Doanh nghiệp có sẵn sàng tiếp nhận SV vào thực tập tại doanh nghiệp và có chính sách giữ lại

những SV thực tập có thái độ và khả năng làm việc tốt?

a) Có

b) Không (Vui lòng cho biết lý do)

..........................................................................................................................................................

..........................................................................................................................................................

..........................................................................................................................................................

..........................................................................................................................................................

14. Các chính sách/chiến lược của doanh nghiệp về đào tạo, phát triển nhân sự, cũng như tuyển

dụng SV mới tốt nghiệp có năng lực:

a) Tổ chức các chương trình đào tạo thường xuyên tại doanh nghiệp

b) Gửi nhân sự tham gia các chương trình đào tạo bên ngoài

c) Cấp học bổng cho SV tài năng

d) Tham gia vào các chương trình hỗ trợ tài chính cho SV có hoàn cảnh khó khăn

e) Các chính sách khác:

15. Theo kinh nghiệm của Doanh nghiệp, các Trung tâm đào tạo bên ngoài hiện nay có đáp ứng

dược nhu cầu đào tạo và phát triển nhân sự cho doanh nghiệp của quý vị hay không? (Nếu

không, vui lòng cho biết lý do)

16. Theo quý vị, một Trung tâm đào tạo chất lượng (qualified training center) mà doanh nghiệp tin

cậy và lựa chọn cần đạt những yêu cầu nào?

17. Doanh nghiệp của quý vị sử dụng công cụ gì để đo lường năng lực nhân viên và đánh giá hiệu

quả các chương trình đào tạo?

18. Để khắc phục tình trạng SV mới ra trường được tuyển dụng không đáp ứng được yêu cầu của

công việc, doanh nghiệp thường phải:

a) Doanh nghiệp tự đào tạo lại/thêm tại công ty (on-the-job training)

b) Gửi nhân viên tham dự các chương trình đào tạo trong nước

c) Gửi nhân viên tham dự các chương trình đào tạo ở nước ngoài

d) Mời chuyên gia đến đào tạo tại công ty

e) Giải pháp khác:

19. Theo quý vị, các loại hình đào tạo nào vừa kể trên phù hợp với nhu cầu hiện tại của doanh

nghiệp và hiệu quà nhất ?

20. Doanh nghiệp có thể cung cấp bảng mô tả công việc của từng vị trí tuyển dụng cụ thể (job

description), các kỹ năng then chốt (core competencies) chung cho các vị trí tuyển dụng, cũng như

bẳng mô tả cơ hội thăng tiến (career pathway)?

..................................................................................................................................................

..................................................................................................................................................

..................................................................................................................................................

Quí DN đánh giá mức độ cần thiết của mỗi yếu tố dưới đây đối với công ty theo 5 mức:

(1: không cần thiết; 2: ít cần thiết; 3: cũng cần thiết; 4: khá cần thiết; 5: rất cần thiết)

và mức độ các chuyên viên đã thoả mãn bạn theo 6 mức:

(0: không sử dụng/không có; 1: rất thất vọng; 2: hơi thất vọng; 3: bình thường; 4: thỏa mãn; 5: rất thỏa mãn)

21. Năng lực của chuyên viên về kỹ năng quản lý:

Mức độ cần thiết

KỸ NĂNG QUẢN LÝ

Sự thỏa mãn

1 2 3 4 5

Kỹ năng giải quyết vấn đề (problem-solving)

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

Tư duy phê phán (critical thinking)

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

Kỹ năng giám sát (supervising skill)

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

Kỹ năng lãnh đạo (leadership)

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

Kỹ năng kế họach (planning skill)

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

Kỹ năng ra quyết định (decision- making)

1 2 3 4 5

0

Kỹ năng xây dựng nhóm (team-building

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

skill)

1 2 3 4 5

Kỹ năng văn phòng (office skill)

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

Kỹ năng quản lý thời gian (time management) 0

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

Khả năng làm việc dưới áp lực cao

1 2 3 4 5

0

Khả năng thích ứng với công việc mang tính

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

chất lặp đi lặp lại

Kỹ năng do công ty đề nghị (skill proposed by company):

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

22. Năng lực của chuyên viên về kỹ năng giao tiếp:

Mức độ cần thiết

KỸ NĂNG GIAO TIẾP

Sự thỏa mãn

1 2 3 4 5

Kỹ năng giao tiếp (interpersonal skill)

1 2 3 4 5

0

Kỹ năng giải quyết xung đột (conflict

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

resolution skill)

1 2 3 4 5

Kỹ năng trình bày (presentation skill)

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

Kỹ năng làm việc nhóm (team working skill)

1 2 3 4 5

0

Khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh (English

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

communication skill)

Kỹ năng do công ty đề nghị (Other Skills)

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

23. Năng lực của chuyên viên về kỹ năng chuyên môn:

Mức độ cần thiết

KỸ NĂNG CHUYÊN MÔN

Sự thỏa mãn

Khả năng áp dụng toán học, khoa học và kỹ

1 2 3 4 5

thuật (ability of application of mathematics,

0

1 2 3 4 5

science and technique)

Khả năng thiết kế, thực hiện thực nghiệm

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

(abilily of design, experiment)

Khả năng phân tích và diễn giải dữ liệu thực

1 2 3 4 5

nghiệm (ability of Interpretation of data &

0

1 2 3 4 5

figures)

Khả năng thiết kế hệ thống, chi tiết hay quá

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

trình (ability of system or process design)

Khả năng sử dụng các thiết bị và công cụ

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

(ability of using equipment and tools)

Khả năng bảo trì các thiết bị và công cụ

1 2 3 4 5

(ability of maintenance of equipments and

0

1 2 3 4 5

tools)

Kỹ năng do công ty đề nghị (Other Skills):

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

1 2 3 4 5

0

1 2 3 4 5

XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN SỰ HỢP TÁC CỦA QUÍ CÔNG TY!

Phụ lục 2: BẢNG KHẢO SÁT

Ý KHIẾN HỌC VIÊN SAU KHÓA HỌC

Tên khóa học:

Thời gian học:

Giảng viên:

Bạn thấy nội dung và cách trình bày của chương trình học này như thế nào?

Vui lòng điền vào những ô trống ý kiến của bạn và cho ví dụ để làm rõ ý kiến của bạn.

1

2

3

4

5

Kém

Cần hoàn thiện Đạt yêu cầu

Rất tốt

Xuất sắc

NỘI DUNG

1

2

3

4

5

Mục tiêu rõ ràng

Nội dung đem lại lợi ích cho công

việc

Diễn đạt dễ hiểu

TRÌNH BÀY

1

2

3

4

5

Kiến thức chuyên môn của giảng

viên

Kỹ năng trình bày của giảng viên

Phương pháp đào tạo

Trình bày tài liệu

Thời khóa biểu và thời gian đào

tạo

Phòng học

NHỮNG NỘI DUNG BẠN TÂM ĐẮC NHẤT TỪ KHÓA HỌC

CÁC KHÓA HỌC KHÁC THEO YÊU CẦU CỦA BẠN

CÁC BẠN CÓ MUỐN GIỚI THIỆU KHÓA HỌC NÀY CHO NGƯỜI KHÁC KHÔNG?

Không

Vui lòng để lại thông tin của người được giới thiệu

Họ tên: …………………………………………………………………………

Email:……………………………………………………………………………

Điện thoại: ……………………………………………………………………

THEO BẠN, TRUNG TÂM CẦN CẢI THIỆN ĐIỀU GÌ ĐỂ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO

TẠO NGÀY CÀNG TRỞ NÊN TỐT HƠN, HỮU ÍCH HƠN?

CẢM ƠN VÀ THÂN CHÀO