VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH HẢI ĐOÀN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU
HỌC THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội - 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH HẢI ĐOÀN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
Ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 8140114
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. ĐỖ VĂN ĐOẠT
Hà Nội - 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, nội
dung nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong các đề tài, ấn phẩm khoa học khác. Các tư liệu trích dẫn trong luận
văn đều có nguồn gốc chính xác, rõ ràng và đúng thể thức.
Tác giả luận văn
Đinh Hải Đoàn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC ............................... 9
1.1. Năng lực và phát triển năng lực học sinh ............................................................. 9
1.2. Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho
học sinh các trường tiểu học ..................................................................................... 11
1.3. Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng
lực cho học sinh các trường tiểu học ......................................................................... 24
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo
định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học các trường tiểu
học ............................................................................................................................. 33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO
HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH
ĐẮK NÔNG ............................................................................................................. 38
2.1. Khái quát về địa bàn và quá trình tổ chức khảo sát thực trạng .......................... 38
Bảng 2.1. Đội ngũ cán bộ quản lý, GV, nhân viên các trường tiểu học ................... 40
thành phố Gia Nghĩa ................................................................................................. 40
2.2. Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển
năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông . 42
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát
triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk
Nông .......................................................................................................................... 50
2.4. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt động dạy
học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông ............................................ 58
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố
Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông ........................................................................................ 59
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG
VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK
NÔNG ....................................................................................................................... 63
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp ...................................................................... 63
3.2. Các biện pháp đề xuất ........................................................................................ 64
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp ........................................................................ 75
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp .......................... 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................................... 80
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 84
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBQL Cán bộ quản lý
CMNV Chuyên môn nghiệp vụ
CSVC Cơ sở vật chất
CNTT Công nghệ thông tin
ĐDDH Đồ dùng học tập
ĐHPTNL Định hướng phát triển năng lực
GDPT Giáo dục phổ thông
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GV Giáo viên
HS Học sinh
HT Hiệu trưởng
PPDH Phương pháp dạy học
QLHĐDH Quản lý hoạt động dạy học
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Đội ngũ cán bộ quản lý, GV, nhân viên các trường tiểu học thành phố
Gia Nghĩa .................................................................................................................. 40
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát về thực trạng sử dụng phương tiên, trang thiết bị trong
dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông ............................................................................................... 48
Bảng 2.3. Kết quả khảo sát về thực hiện quản lý hình thức, phương pháp dạy học
môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa,
tỉnh Đắk Nông ........................................................................................................... 54
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, GD&ĐT được xem là chính sách,
biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt
Nam không phải là ngoại lệ. GD&ĐT góp phần phần xây dựng đội ngũ lao động có
trình độ cao làm giàu của cải vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị
vững vàng, đủ sức đề kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính quá
trình hội nhập quốc tế và toàn cầu. GD&ĐT nhằm phát huy năng lực nội sinh “đi
tắt, đón đầu”, rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việt Nam
khẳng định GD&ĐT cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là điều
kiện phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp.
Nhận thức rõ vai trò của GD&ĐT đối với sự phát triển, Nghị quyết Đại hội
lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển
toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp
luật và trách nhiệm công dân. Đổi mới khung chương trình, quan tâm hơn đến yêu
cầu tăng cường kỹ năng sống, giảm tải nội dung trong các bậc học phổ thông” [25].
Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập, sự phát triển của xã hội ngày nay
một mặt mang lại cuộc sống vật chất đầy đủ cho con người nhưng mặt khác nó lại
làm nảy sinh tính ích kỉ, chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn “cái tôi”. Những cám dỗ
khiến con người đam mê đời sống vật chất mà coi nhẹ đời sống tinh thần. Người ta
có thể thờ ơ trước niềm vui hoặc nỗi buồn của những người xung quanh hay thản
nhiên trước một câu chuyện buồn trong sách báo hoặc trên phim ảnh,... Đó là thái
độ thờ ơ, lạnh nhạt đến tàn nhẫn, rất đáng phê phán và lên án. Để có “phương
thuốc” đặc biệt chữa trị “bệnh vô cảm” ấy, để con người sống một cách nhân văn
hơn, hướng thiện hơn, trước hết phụ thuộc vào chính mỗi cá nhân. Tuy nhiên,
không thể không nhắc tới vai trò của các nhà trường, của những người làm công tác
giáo dục. Làm giàu tâm hồn các em bằng các bài văn, bài thơ, các tác phẩm văn
chương nghệ thuật là việc làm vô cùng ý nghĩa và cần thiết.
Trong trường tiểu học, môn Tiếng Việt có một vai trò to lớn trong việc hình
thành và phát triển nhân cách của HS, nó không chỉ là nền tảng để HS học tiếp cận
1
các môn học khác ở cấp học cao hơn, mà còn có vai trò to lớn trong việc hình thành,
phát triển nhân cách của HS. Vẻ đẹp thiên nhiên, truyền thống lịch sử, văn hóa, tài
hoa của con người Việt Nam được ghi lại trong văn học sẽ đi sâu vào đời sống tinh
thần, tâm thức của HS, giúp HS cảm nhận được tâm hồn Việt Nam: yêu nước, cần
cù, sáng tạo, thanh lịch, tế nhị, hiếu học, trọng lễ nghĩa.
Nhận thức được vai trò của văn học, tiếng Việt trong hình thành và phát triển
nhân cách cho HS, thời gian qua các trường tiểu học trong cả nước nói chung, các
trường tiểu học ở thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông nói riêng đã chú trọng nâng
cao chất lượng dạy học nói chung dạy học môn tiếng Việt nói riêng. Vì vậy, chất
lượng giáo dục từng bước được nâng lên, góp phần hình thành và phát triển nhân
cách ban đầu cho HS tiểu học.
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới giáo dục, việc dạy học môn tiếng Việt ở
các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông hiện nay còn khá nhiều
hạn chế. Kỹ năng viết văn, cảm thụ văn học của các em còn nhiều hạn chế. thực
trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó công tác QLHĐDH môn học
này thời gian qua còn nhiều bất cập. Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra biện pháp
“Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực
cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông” hiện nay
là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, quản lý trong nhà trường phổ thông được đặt ra từ rất sớm.
Các nhà nghiên cứu quản lý Xô viết nhận định rằng: kết quả toàn bộ hoạt động dạy
học của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn, hợp lý công tác
hoạt động của đội ngũ GV.
V.A.Xukhomlinxki, V.P.Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số
vấn đề quản lý của hiệu trưởng trường phổ thông như phân công nhiệm vụ của hiệu
trưởng và phó hiệu trưởng. Riêng V.A.Xukhomlinxki đặc biệt coi trọng sự trao đổi
giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng để tìm ra cách QLHĐDH tốt nhất [2]. Tác giả cho
rằng những cuộc trao đổi này như đòn bẩy, nảy sinh ra những dự định mà sau này
trong công tác quản lý được phát triển trong lao động sáng tạo của tập thể sư phạm.
2
Theo J. Richards va T. Rodgers, tiếp cận năng lực trong giáo dục tập trung vào
kết quả học tập, nhằm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhằm tới
những gì họ cần phải học được [2]. R.E Boyatzid (1982), trong nghiên cứu về Dạy học
theo tiếp cận năng lực cho rằng dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh cần xử
lí một cách có hệ thống ba vấn đề: Xác định các năng lực cần có của học sinh; phát
triển năng lực học sinh và đánh giá năng lực học sinh một cách khách quan. Robetrt.J
Marzano, Đebra J. Picreing, Jane. E Polloce (2011), trong nghiên cứu “ các phương
pháp dạy học hiệu quả” đã khẳng định: Phương pháp dạy học hiệu quả để phát triển
năng lực học sinh là phương pháp khích lệ học tập và công nhận những cố gắng của
học sinh. Để phát triển năng lực học sinh trong dạy học, người giáo viên cần quan tâm
đến người học học như thế nào chứ không chỉ quan tâm đến một việc hàng ngày dạy
cái gì và lựa chọn áp dụng các phương pháp giảng dạy thích hợp chứ không đơn thuần
là việc lựa chọn các phương pháp với vai trò như thủ thuật dạy học hàng ngày. [2]
Ở nước ta các nhà nghiên cứu về giáo dục, quản lý giáo dục, khoa học quản
lý giáo dục và quản lý nhà trường như Trần Kiểm [35], Hoàng Minh Thao [57], Bùi
Minh Hiền [31], Đặng Quốc Bảo, Vũ Quốc Trung [4]… đã làm sáng tỏ khái niệm
về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và các hoạt động có liên quan. Tác
giả Đặng Bá Lãm (chủ biên) cuốn sách “Quản lý nhà nước về giáo dục - lý luận và
thực tiễn”, [40] tác giả đã đi sâu phân tích làm rõ khái niệm và phạm vi quản lý nhà
nước về giáo dục, các mô hình quản lý giáo dục, đổi mới quản lý nhà nước về giáo
dục ở nước ta; các tác giả Đặng Quốc Bảo, Vũ Quốc Chung trong cuốn sách “Một
số vấn đề lí luận và thực tiễn về lãnh đạo và quản lý giáo dục trong thời kí đổi mới”
[4], đề cập đến những vấn đề về năng lực và phát triển năng lực đối với cán bộ quản
lý giáo dục; giám sát trong cơ quan quản lý giáo dục nhà trường; quản lý sự thay
đổi trong giáo dục ở bối cảnh mới; quản lý chất lượng giáo dục, quản lý thông tin
trong nhà trường.
Tập trung nghiên cứu về công tác QLHĐDH ở các nhà trường có các công
trình khoa học như: Viên Thị Dung (2012), với luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản
lý giáo dục về “Biện pháp QLHĐDH của hiệu trưởng trường tiểu học tại thành phố
Thanh Hoá” [18]; Nguyễn Tuấn Huy (2015), với luận văn thạc sỹ chuyên ngành
Quản lý giáo dục về “Biện pháp QLHĐDH ở trường Tiểu học của Phòng Giáo dục
3
huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc” [33]; Nguyễn Thanh Tịnh (2016), với luận văn
thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục về “Biện pháp QLHĐDH đối với trường
Tiểu học của Phòng Giáo dục quận 1- Thành phố Hồ Chí Minh” [60]. Bàn về
QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học, có các đề tài
luận văn như: luận văn Thạc sĩ tiêu biểu như: Ngô Việt Hà (2014), với luận văn thạc
sĩ chuyên ngành khoa học giáo dục về “QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL
cho HS các trường tiểu học thành phố Uông bí, tỉnh Quảng Ninh” [26], tác giả đã
nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về QLHĐDH môn Tiếng Việt, đánh giá thực trạng
và đề xuất các biện pháp QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các
trường tiểu học thành phố Uông bí, tỉnh Quảng Ninh; Phạm Thị Lan Thanh (2015),
với luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học giáo dục về “Biện pháp QLHĐDH Tiếng
Việt 1 theo phương án Công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện Lâm Thao,
Phú Thọ” [58], đề tài đã nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về QLHĐDH Tiếng Việt 1
theo phương án công nghệ giáo dục, đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp
QLHĐDH Tiếng Việt 1 theo phương án công nghệ giáo dục ở các trường tiểu hoc
huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Các đề tài luận văn đã đi sâu đánh giá thực trạng
QLHĐDH ở các trường tiểu học, nêu cách thức khắc phục hạn chế yếu kém trong
QLHĐDH, từ đó chỉ ra biện pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng QLHĐDH ở
các trường tiểu học cho phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra.
Bên cạnh các đề tài luận văn còn có các bài viết của các nhà quản lý giáo
dục, các GV tâm huyết với nghề trên báo giáo dục về vấn đề QLHĐDH như: Hồ
Đăng Quang (2015), “Biện pháp QLHĐDH của giám đốc trung tâm ngoại ngữ trên
địa bàn thành phố Huế” [51, tr.19-21]. Bài báo đã đi sâu đánh giá thực trạng
QLHĐDH và đề xuất một số biện pháp QLHĐDH của giám đốc các trung tâm
ngoại ngữ ở địa bàn thành phố Huế, trong đó tập trung vào ba nhóm biện pháp cơ
bản là quản lý hoạt động giảng dạy của GV, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ và quản lý
quá trình học tập của học viên; Lê Ngộ (2012), “Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả quản lý nhà trường của hiệu trưởng trường tiểu học” [48, tr.10-12]. Bài báo
giới thiệu một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà trường của hiệu trưởng
trường tiểu học như: chú trọng công tác xây dựng kế hoạch; thực hiện nghiêm túc,
đúng quy trình đánh giá GV tiểu học theo Chuẩn nghề nghiệp; tổ chức, quản lý hiệu
4
quả việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày; phân công GV giảng dạy đi theo lớp trong
một số năm học; hình thành văn hóa dự giờ trong hội đồng nhà trường.
Nhìn chung, các đề tài luận văn đã tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề
lý luận về QLHĐDH, QLHĐDH môn Tiếng Việt, đi sâu đánh giá thực trạng
QLHĐDH ở các trường tiểu học, nêu cách thức khắc phục hạn chế yếu kém trong
QLHĐDH môn Tiếng Việt, từ đó chỉ ra biện pháp thực hiện nhằm nâng cao chất
lượng QLHĐDH ở các trường tiểu học cho phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra.
Song việc áp dụng kết quả nghiên cứu trên để nâng cao hiệu quả QLHĐDH môn
Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk
Nông không thật sự phù hợp. Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề
QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, trong khi yêu cầu thực tiễn về giáo dục và đào tạo của huyện
đang đặt ra những vấn đề mới phải giải quyết. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Quản lý
hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học
sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông” làm đề tài luận văn
là phù hợp và không trùng lặp với các công trình đã nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp
QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố
Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng
Việt nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung ở các trường tiểu học thành phố
Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL
cho HS các trường tiểu học.
- Làm rõ thực trạng QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đề xuất một số biện pháp QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho
HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5
4.1. Đối tượng nghiên cứu
QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tập trung nghiên cứu thực
trạng đề xuất các biện pháp QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Về không gian: Phạm vi điều tra khảo sát 10 trường tiểu học ở thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông: Trường Tiểu học Thăng Long, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu,
Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng, Trường
Tiểu học Trần Văn Ơn, Trường Tiểu học Phan Đình Giót, Trường Tiểu học Bế Văn
Đàn, Trường Tiểu học Hà Huy Tập, Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, Trường
Tiểu học Nguyễn Việt Xuân.
Về thời gian: Các số liệu điều tra, nghiên cứu sử dụng trong đề tài giới hạn
năm học 2020 - 2021.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, đào tạo;
nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của các cấp về giáo dục và đào tạo và quản lý giáo dục,
đào tạo. Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các quan điểm tiếp cận
hệ thống - cấu trúc; lịch sử - lôgíc và quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Thực hiện việc thu thập, nghiên cứu tài liệu; phân tích, tổng hợp, hệ thống
hoá, khái quát hoá các tài liệu về giáo dục và đào tạo, đặc biệt là những tài liệu có
liên quan đến các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về giáo dục và
đào tạo, quản lý hoạt động dạy và học; nghiên cứu các báo cáo tổng kết của Phòng
Giáo dục và Đào tạo thành phố Gia Nghĩa, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Nông
về QLHĐDH nói chung và dạy học môn tiếng Việt nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu từ các sản phẩm, công cụ quản lý như nội dung
chương trình, sách giáo khoa, kế hoạch dạy học, đề kiểm tra, kết quả khảo sát.
6
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong công tác QLHĐDH môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học; hoạt động giảng dạy của GV và học tập của
HS để rút ra những kết luận về nội dung nghiên cứu.
Phương pháp điều tra: điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi đối với 60 người
(cán bộ quản lý, GV và HS); 5 chuyên viên ở phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố
Gia Nghĩa, 46 GV ở các trường tiểu học trong thành phố Gia Nghĩa.
Phương pháp toạ đàm, trao đổi: tọa đàm, trao đổi với một số cán bộ, GV ở
các trường về thực trạng công tác QLHĐDH môn tiếng Việt trong những năm qua
và phương hướng QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu
học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông trong những năm tiếp theo.
Phương pháp tổng kết thực tiễn: nghiên cứu báo cáo tổng kết năm học, đánh
giá kết quả QLHĐDH môn tiếng Việt ở các trường, báo cáo của Phòng Giáo dục và
Đào tạo thành phố Gia Nghĩa,... nhằm tìm hiểu kinh nghiệm về QLHĐDH nói
chung và dạy học môn tiếng Việt nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: tài liệu giảng dạy, chuyên môn của GV
và các sản phẩm học tập môn tiếng Việt của HS.
Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến của các nhà khoa học giáo dục về một
số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan tới việc nghiên cứu của đề tài.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích,
xử lý các kết quả nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về QLHĐDH môn Tiếng
Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học. Luận văn góp phần làm rõ được
thực trạng và đề xuất được một số biện pháp QLHĐDH môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Kết quả nghiên cứu luận văn là tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ quản
lý và cho GV các trường tiểu học quan tâm, nghiên cứu vấn đề này.
7
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về QLHĐDH môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học;
Chương 2: Thực trạng QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông;
Chương 3: Biện pháp QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC
SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Năng lực và phát triển năng lực học sinh
1.1.1. Năng lực học sinh
Quan niệm về năng lực cũng được các tác giả nghiên cứu và tổng kế với các
khía cạnh giống và khác nhau:
Tác giả Ngô Việt Hà (2014), “Năng lực là khả năng thực hiện có trách
nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình
huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu
biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [26, tr.16].
Cấu trúc của năng lực bao gồm: tri thức, kỹ năng và thái độ. Năng lực bao
gồm nhiều thành phần. Thông thường năng lực bao gồm 02 loại: năng lực chung là
năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong
xã hội [3, tr.26]. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên
quan đến nhiều môn học (Ở các tài liệu khác nhau có thể gọi bằn các tên khác nhau
năng lực chính, năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu, kĩ năng chính, kĩ năng cốt lõi)
; Năng lực cụ thể chuyên biệt là năng lực được hình thành và phát triển do một lĩnh
vực/môn học nào đó (Năng lực môn học cụ thể để phân biệt với năng lực chung).
Tác giả Lê ngộ (2012), “Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ
thống kiến thức, kỹ năng, thái độ... phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng
một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả
những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống” [48, tr.19].
Trong tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập theo
ĐHPTNL HS Bộ GD&ĐT cho rằng “Năng lực của HS phổ thông chính là khả năng
vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập,
giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em” [10, tr.8].
Từ các quan niệm trên cho thấy năng lực của HS là khả năng làm chủ và vận
dụng có hiệu quả hệ thống kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, thái độ… phù hợp với
của bản thân HS một cách hợp lý vào giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập, những
9
vấn đề đặt ra cho các em trong cuộc sống từ đó giúp HS ngày càng phát triển hoàn
thiện bản thân.
1.1.2. Phát triển năng lực học sinh
Đại tự điển Tiếng Việt Nguyễn Như Ý chủ biên: “Phát triển là biến đổi hoặc làm
biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [68]. Lê Bá
Hãn (1999), “Phát triển là quá trình vận động đi từ thấp đến cao từ đơn giản đến
phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện” [29]. Như vậy có thể xác định: Phát
triển là quá trình tăng trưởng về số lượng và biến đổi về chất của sự vật hiện tượng
đã có, đã xây dựng nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa đầy đủ được tiếp tục nâng cao để
đáp ứng yêu cầu hiện thực khách quan. Với khái niệm phát triển như trên phát triển
năng lực học sinh là quá trình tăng lên về số lượng và chất lượng năng lực của học
sinh (năng lực chung và năng lực chuyên biệt)
- Về lượng: là tăng lên về số lượng các năng lực học sinh cụ thể cần thiết của
học sinh phù hợp với điều kiện và hoạt động của học sinh.
- Về chất lượng: là tăng lên ở mức độ cao hơn, trình độ cao hơn của các năng
lực cụ thể của học sinh đáp ứng yêu cầu điều kiện mới, giúp cho học sinh thích ứng
tốt hơn và hoàn thành tốt hoạt động học tập cũng như các hoạt động khác trong nhà
trường và ngoài xã hội.
Phát triển năng lực học sinh là kết quả của quá trình dạy học làm cho các các
năng lực chung và năng lực đặc trưng cho từng môn học/lớp học/cấp học được hình
thành, củng cố và hoàn thiện ở người học. Phát triển năng lực học sinh được thể
hiện trên 3 phương diện: bề rộng và bề sâu chất lượng tri thức, thái độ và kĩ năng
của năng lực và khả năng vận dụng tri thức, kĩ năng và thực tiễn [60].
Trong đề tài luận văn, phát triển năng lực học sinh cho học sinh thông qua
dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường được nhấn mạnh ở góc độ phát triển về
chất lượng năng lực học sinh. Ví dụ kĩ năng đọc ở lớp 4 tiểu học đọc thông chỉ cần
“Đọc các văn bản nghệ thuật, khoa học, báo chí có độ dài khoảng 250 chữ, tốc độ
90-100 chữ/phút; Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 3 (Khoảng 100-120
chữ/phút); Bước đầu biết đọc diễn cảm đoạn văn, đoạn thơ phù hợp với nội dung
của từng đoạn” [33]. Ở lớp 5: “Đọc đúng là lưu loát các văn bản nghệ thuật (Thơ,
văn xuôi, kịch), hành chính, khoa học, báo chí… có độ dài khỏang 200-300 chữ với
10
tốc độ 100-120 chữ/phút. Biết đọc thầm bằng mắt với tốc độ nhanh hơn lớp 4
(Khoảng 120-140 tiếng/phút); Biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ, trích đoạn kịch
ngắn”. [33]
1.2. Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng
lực cho học sinh các trường tiểu học
1.2.1. Khái niệm hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát
triển năng lực
1.2.1.1. Hoạt động dạy học
Theo tác giả Đặng Bá Lãm (2005), thì “dạy học là con đường tối ưu nhất
giúp cho người học tiếp cận; nắm vững kinh nghiệm xã hội được phản ánh trong
các khái niệm khoa học do loài người tích luỹ với sự tham gia điều chỉnh hợp lý về
mặt tổ chức trong những khoản thời gian xác định họ đạt với mục đích do nhu cầu
xã hội đặt ra với từng trình độ nhận thức tương ứng”[40]. Hoặc “Dạy học là
phương tiện đem lại hiệu quả lớn lao trong việc phát triển hệ thống năng lực hoạt
động trí tuệ của người học” [40]. Như vây, dạy học là hoạt động nhận thức của HS
dưới sự tổ chức, điều khiển của GV nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Hoạt động dạy học là một hệ toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn
tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và
học mang tính chất cộng tác, trong đó giảng dạy giữ vai trò chủ động, định hướng, hướng
dẫn người học thực hiện tốt việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng nghề
nghiệp [60]. Dạy học là hoạt động kép bao gồm dạy (do thầy đảm nhận) và học (do trò
đảm nhận). Dạy và học có liên hệ tác động lẫn nhau không thể thiếu nhau, thầy giữ vai
trò lãnh đạo, tổ chức điều khiển hoạt động của HS. HS giữ vai trò tự giác, tích cực, chủ
động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học của bản thân.
Từ phân tích ở trên, có thể khái quát: Dạy học là hoạt động dưới sự tổ chức,
điều khiển, lãnh đạo của người GV làm cho HS tự giác, tích cực, chủ động tự tổ
chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập của mình nhằm thực hiện có hiệu
quả những nhiệm vụ dạy học.
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác
trong nhà trường. Hoạt động dạy học thực hiện các nhiệm vụ: làm cho HS nắm
vững tri thức khoa học một cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần
11
thiết trong học tập, lao động và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc
lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của HS,
hình thành ở HS thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, đó
chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của HS.
1.2.1.2. Môn Tiếng Việt
Tiếng Việt là một môn học có đặc thù riêng, là bộ môn quan trọng trong nhà
trường phổ thông nói chung, bậc tiểu học nói riêng. Nó là sự kết hợp hài hòa giữa
tính khoa học và nghệ thuật. Bằng những hình tượng và ngôn từ phong phú sinh
động của mình, môn học cung cấp cho người học những kiến thức về cuộc sống
cũng như những điều bí ẩn trong tâm hồn con người, trong mỗi sự vật, hiện tượng.
Từ đó, nó tác động tới tâm tư, tình cảm và góp phần quan trọng để hình thành và
phát triển nhân cách, tâm hồn cho thế hệ trẻ. Hơn nữa, tuổi trẻ là lứa tuổi giàu cảm
xúc, dễ rung động trước cái đẹp, môn tiếng Việt sẽ góp phần hướng tư duy HS đến
Chân - Thiện - Mỹ, hình thành phẩm chất trong sáng của mỗi HS [63].
Văn học nói chung, tiếng Việt nói riêng là một hình thái ý thức xã hội đặc
thù, là cội nguồn đời sống và sự phản ánh chân thực chính nghệ thuật đời sống ấy,
đồng thời là một hình thái quan niệm nhân sinh về xã hội. Tính đặc thù của văn học
chính là ở chỗ nó là một hình thái phản ánh thẩm mỹ và bao giờ cũng cần tưởng
tượng. Tính chất tưởng tượng hư cấu đem lại cho văn học những khả năng to lớn.
Văn học, tiếng Việt được coi là “trò diễn bằng ngôn từ” bởi nó mang tính
hình tượng, tính biểu cảm sinh động, tính hàm súc đa nghĩa, tính cá thể hóa cao
trong giảng dạy và tiếp nhận mà không một môn học nào có được. Tác phẩm văn
học trở thành tín hiệu thẩm mỹ không chỉ mang đến thông tin mà còn bao hàm trong
nó nhiều tầng nghĩa: tầng nghĩa trực tiếp, tầng nghĩa do hình dung tưởng tượng và
tầng ý được tạo ra từ hai tầng nghĩa trên kết hợp với vốn sống riêng của mỗi cá
nhân. Do đó, người học được coi là người đồng sáng tạo lên tác phẩm, thiếu người
đọc thì hoạt động văn học chẳng khác gì một tiếng kêu vô vọng vang lên giữa cánh
đồng hoang và mọc đầy cỏ dại. Mối quan hệ nhà văn - tác phẩm - thầy trò trong dạy
học văn là mối quan hệ biện chứng. Người thầy văn học, tiếng Việt không chỉ được
nói đến bên cạnh góc độ nghề nghiệp như các môn học khác, mà còn là một nhà phê
bình văn học, mà cái khó ở đây là người thầy phải tìm được ý tưởng sâu xa, trừu
12
tượng, tiềm ẩn mà tác giả gửi gắm để truyền cảm trong văn học nghệ thuật, kích
thích tính sáng tạo trong tư duy, tâm hồn HS ở mỗi thời đại, theo xu hướng, mục
đích giáo dục [26].
1.2.1.3. Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt
Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học bao gồm hoạt động dạy
môn tiếng Việt của GV và hoạt động học môn tiếng Việt của HS.
Hoạt động dạy môn tiếng Việt của GV: đó là việc chuẩn bị lên kế hoạch
giảng dạy môn tiếng Việt của GV. GV cần lên kế hoạch giảng dạy cho cả năm học,
theo học kỳ và linh hoạt theo từng tuần. GV cần căn cứ yêu cầu cần đạt về chuẩn
kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt ở từng tiết dạy, tiến hành tổ chức các hoạt
động kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, hình thành kiến thức, luyện tập thực hành,
củng cố. Để đạt được mục tiêu đề ra, GV cần phối hợp các phương pháp, sử dụng
phương tiện và quỹ thời gian một cách có hiệu quả [26].
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Việt của HS. Hiện nay, có các
cách đánh giá như sau: đánh giá thường xuyên bằng nhận xét; đánh giá thông qua
kiểm tra định kỳ cuối học kỳ và cuối năm học bằng các hình thức tự luận, trắc
nghiệm khách quan; kết hợp với đánh giá của người dạy, cha mẹ HS với việc tự
đánh giá của người học. Khi kiểm tra, đánh giá cần chú trọng cả kiến thức lý thuyết
và thực hành đặc biệt là vận dụng vào những tình huống gắn với đời sống, phát triển
bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Hoạt động học tập môn tiếng Việt của HS: là để tìm hiểu kiến thức hay luyện
tập thực hành, HS có thể tham gia hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân theo sự dẫn
dắt, định hướng của GV và hoạt động tự học môn tiếng Việt của HS thông qua xây
dựng kế hoạch tự học, nội dung, thời gian và nề nếp tự học; công tác tự kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của bản thân.
Hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học là những tác động
của GV và HS trong việc truyền thụ và lĩnh hội những kiến thức của môn tiếng
Việt, trên cơ sở đó củng cố nhận thức, góp phần hoàn thiện nhân cách cho HS. Nói
cách khác, đây là hoạt động nhận thức của HS dưới sự tổ chức, điều khiển của GV
dạy môn toán nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
13
Từ khái niệm về hoạt động dạy học, phát triển năng lực học sinh, trong phạm
vi luận văn có thể hiệu, hoạt động dạy học môn tiếng Việt theo hướng phát triển
năng lực học sinh là quá trình tác động có mục đích kế hoạch của giáo viên tổ chức
hoạt động học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực học sinh để học sinh
tiểu học tự mình hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt được mục
tiêu dạy học môn Tiếng Việt đã xác định và phát triển năng lực chung, chuyên biệt
của học sinh tiểu học.
1.2.2. Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh tiểu học
1.2.2.1. Sự phát triển của quá trình nhận thức
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi
tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động
vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các
em còn diễn ra các hoạt động khác như lao động tự phục vụ bản thân và gia đình
như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa... Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định
của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này
chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Sự tập trung chú ý của trẻ
còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong
quá trình học tập. Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều
chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có
sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công
thức toán hay một bài hát dài,...Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn
của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một
việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định [8].
1.2.2.2. Sự phát triển nhân cách của HS tiểu học
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường
nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn..
.Sau 5 năm học, “tính cách học đường” mới dần ổn định và bền vững ở trẻ. Nhìn
chung việc hình thành nhân cách của HS tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau:
Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình
phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một
cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn
14
mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt,
nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách
của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể
diễn ra một sớm một chiều, với HS tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn
diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với
tiến trình phát triển của mình.
1.2.2.3. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh tiểu học
Hoạt động học tập là một hoạt động của đạo của học sinh tiểu học. Bước vào
cấp Tiểu học, trẻ bắt đầu thực hiện “bước quá độ vĩ đại nhất” trong cuộc đời,
chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Sự chuyển đổi này kéo theo
một loạt những thay đổi khác trong cuộc sống đặt trẻ vào tình huống chưa từng gặp,
dễ gây ra cuộc khủng hoảng trong sự phát triển của trẻ tại thời điểm đó và ảnh
hưởng lâu dài với trẻ.
Trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học, đối tượng chính là tri thức
khoa học, được phản ánh thông qua các môn học, đó là các khái niệm khoa học, phổ
thông, chính xác và hiện đại. Trước tuổi học, ở gia đình và cấp mầm non, trẻ đã lĩnh
hội tri thức, kinh nghiệm thông qua các trò chơi. Vì vậy, để tiến hành có hiệu quả
hoạt động học tập, trẻ buộc phải có những phẩm chất, năng lực và hành vi mới mà
trước đó trẻ chưa có. Ngoài ra, hoạt động học tập của học sinh tiểu học còn hướng
vào việc lĩnh hội cách học; tiến hành theo một nguyên lý mới. Để thực hiện hoạt
động này có hiệu quả, học sinh tiểu học phải hình thành được cách học, cách làm
việc trí óc việc mà trước đây trẻ chưa thể có được.
Những đặc điểm của hoạt động học tập nêu trên đòi hỏi trẻ phải có những
thay đổi căn bản về cách sống, cách thức hoạt động nhằm đáp ứng được những yêu
cầu của việc học. Vì vậy, để đạt kết quả cao trong học tập, buộc trẻ phải thích ứng
với môi trường nhà trường và hoạt động học.
1.2.2.4. Sự phát triển về sinh lí của HS Tiểu học
Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương
tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,...Vì
thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin gọi
chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt
15
động vui chơi lành mạnh, an toàn. Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các
em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,...Vì vậy mà các nhà giáo
dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và
đảm bảo sự an toàn cho trẻ. Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức
năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy
hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ
như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ... Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục
nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em. Để quản lý
tốt hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực trong các trường tiểu
học, nhà quản lý, hiệu trưởng cần phải nắm được những đặc điểm tâm, sinh lý của
HS tiểu học nêu trên để lựa chọn các biện pháp dạy học, giáo dục môn Tiếng Việc
theo tiếp cận năng lực phù hợp [8].
1.2.3. Thành tố của hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng
phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
1.2.3.1. Mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng
lực cho học sinh các trường tiểu học
Theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, môn Tiếng Việt ở cấp
Tiểu học có 3 mục tiêu:
Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết,
nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt; về tự nhiên, xã hội và
con người; về văn hoá, văn học của người Việt Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa cho học sinh.
Mục tiêu môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển ở HS các kỹ năng
như: nghe, nói, đọc viết; những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người,
về văn hoá và văn học của Việt Nam đồng thời qua đó góp phần rèn luyện cho HS
các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán...). Tiếng Việt là một
trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc tiểu học. Bên cạnh việc học
16
toán để phát triển tư duy logic cho con, việc học TiếngViệt sẽ giúp các con hình và
phát triển tư duy ngôn ngữ. Thông qua môn Tiếng Việt, các con sẽ được học cách
giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm.
Ở bậc Tiểu học, tầm quan trọng của môn Tiếng Việt được thể hiện rõ rệt qua
2 giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Các lớp 1, 2, 3
Đối với trẻ học lớp 1, 2, 3, nội dung của môn Tiếng Việt tập trung hình thành
những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết; định hướng cho việc học nghe, học
nói dựa trên vốn Tiếng Việt mà trẻ đã có. Các bài học ở giai đoạn này chủ yếu là bài
học thực hành, được thấm vào HS một cách tự nhiên qua các bài học thực tế. Ví dụ,
học âm “e”, sau đó viết con chữ “e”. Những tri thức về âm - chữ cái, về tiếng (âm
tiết) - chữ, về thanh điệu - dấu ghi thanh đều được học qua những bài dạy chữ.
Những tri thức về câu trong đoạn hội thoại (câu hỏi, đáp và dấu câu) cũng không
được dạy qua bài lí thuyết mà HS được hình dung cụ thể trong một văn bản cụ thể.
Ở giai đoạn này, trẻ sẽ nhận diện được và sử dụng được các đơn vị của Tiếng
Việt, các quy tắc sử dụng Tiếng Việt trong lúc đọc, viết, nghe, nói. Vậy nên, việc
học Tiếng Việt ở bậc tiểu học sẽ tạo nền tảng cho trẻ trong việc phát triển tư duy
ngôn ngữ, biểu hiện qua việc trẻ đọc thông thạo và hiểu đúng ý nghĩa một văn bản
ngắn; viết rõ ràng, đúng chính tả; nghe chủ động; nói chủ động, rành mạch.
* Giai đoạn 2: Các lớp 4, 5
Về nội dung môn học, HS ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái
niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền
móng cho việc phát triển kỹ năng. Bên cạnh những bài học thực hành (ở giai đoạn
trước), HS được học các bài về trí thức Tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản,
phong cách,…). Những bài học này cũng không phải là lí thuyết đơn thuần, được
tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng, mà chủ yếu vẫn bằng con
đường nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã đọc, viết, nghe, nói; rồi sau đó
mới khái quát thành những khái niệm.
1.2.3.2. Nội dung dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng
lực cho học sinh các trường tiểu học
17
Thuật ngữ năng lực ở đây được hiểu theo quan điểm giáo dục hướng vào
năng lực hành động: Theo tác giả Lê Phương Nga, “Năng lực là khả năng huy động
tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng
thú, niềm tin, ý chí,... để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối
cảnh nhất định” [46].
Trong dạy học Tiếng Việt, năng lực hành động được hiểu là năng lực giải
quyết một nhiệm vụ giao tiếp - năng lực giao tiếp. Năng lực giao tiếp vừa là năng
lực đặc thù của môn Tiếng Việt vừa là một năng lực chung mà trường học phải hình
thành và phát triển.
Việc dạy học Tiếng Việt ở phổ thông có thể chia thành 3 lĩnh vực:
- Dạy học các tri thức Tiếng Việt (chữ, âm, tiếng, từ, câu).
- Dạy học tiếp nhận ngôn bản (nghe, đọc hiểu).
- Dạy học tạo lập ngôn bản (nói, viết, trình bày).
Hoạt động dạy môn tiếng Việt của GV: đó là việc chuẩn bị lên kế hoạch
giảng dạy môn tiếng Việt của GV. GV cần lên kế hoạch giảng dạy cho cả năm học,
theo học kỳ và linh hoạt theo từng tuần. GV cần căn cứ yêu cầu cần đạt về chuẩn
kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt ở từng tiết dạy, tiến hành tổ chức các hoạt
động kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, hình thành kiến thức, luyện tập thực hành,
củng cố. Để đạt được mục tiêu đề ra, GV cần phối hợp các phương pháp, sử dụng
phương tiện và quỹ thời gian một cách có hiệu quả.
Hoạt động học tập môn tiếng Việt của HS: là để tìm hiểu kiến thức hay luyện
tập thực hành, HS có thể tham gia hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân theo sự dẫn
dắt, định hướng của GV và hoạt động tự học môn tiếng Việt của HS thông qua xây
dựng kế hoạch tự học, nội dung, thời gian và nề nếp tự học; công tác tự kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của bản thân.
Trong nhà trường, dạy tiếng Việt phải được xem như là dạy một công cụ
giao tiếp và tư duy, nhằm trang bị cho HS một hệ thống kĩ năng hoạt động giao tiếp
bằng tiếng Việt. Như vậy, nghiên cứu hoạt động dạy học tiếng Việt của GV là phải
trả lời những câu hỏi cụ thể như: thầy lựa chọn những phương pháp dạy học nào, tại
sao lại chọn chúng, thầy tổ chức công việc của HS ra sao, giúp đỡ các em thế nào
18
trong quá trình học tập, thầy kiểm tra việc nắm tri thức, kĩ năng của HS như thế nào,
thầy giúp đỡ HS yếu, bồi dưỡng HS giỏi ra sao?...
Hoạt động dạy môn Tiếng Việt của GV trong trường tiểu học được thực hiện
thông qua việc dạy học các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính
tả, Tập làm văn với nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình
huống giao tiếp tự nhiên tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để HS mở
rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng
sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp. Cụ thể trong giờ học, các hoạt động chủ yếu của
GV là:
- Giao việc cho HS: cho HS trình bày yêu cầu của câu hỏi, bài tập; cho HS
làm mẫu một phần câu hỏi, bài tập; tóm tắt nhiệm vụ, dặn dò HS.
- Kiểm tra HS: xem HS có làm việc không, có hiểu việc phải làm không, trả
lời thắc mắc của HS.
- Tổ chức báo cáo kết quả làm việc: báo cáo trực tiếp với GV, báo cáo trong
nhóm, báo cáo trước lớp với các biện pháp báo cáo bằng miệng, bằng phiếu học tập
hoặc thi đua giữa các nhóm, trình bày cá nhân.
- Tổ chức đánh giá: tự đánh giá, đánh giá trong nhóm, đánh giá trước lớp với
biện pháp đánh giá là khen, chê (định tính) hay cho điểm (định lượng).
Theo tác giả Đỗ Ngọc Hùng, luận văn xác định hoạt động dạy học môn tiếng
Việt bậc tiểu học cần hình thành cho học sinh các năng lực sau:
(1) Năng lực nói Tiếng Việt cho học sinh
- Năng lực phát âm: phát âm đúng các phụ âm, nguyên âm, âm tiết tiếng Việt;
- Năng lực đặt câu để nói được ý trọn vẹn, đúng ngữ điệu, thể hiện đúng suy
nghĩa cá nhân, bộc lộ tình cảm thích hợp;
- Năng lực thực hiện các hành động ngôn ngữ một cách hiệu quả: kể, trình
bày, hỏi, yêu cầu, đề nghị;
- Năng lực độc thoại, đối thoại trong gia đình, lớp học, nhà trường và trong
cuộc sống v.v.
- Năng lực nói về một nội dung cho trước;
- Năng lực đối thoại, trao đổi.
(2) Năng lực nghe tiếng Việt cho học sinh:
19
- Năng lực nghe - hiểu nghĩa tường minh: nghe người khác nói, nghe người
khác đọc, nghe đài, ti vi…
- Năng lực nghe - hiểu nghĩa hàm ẩn trong hội thoại
- Năng lực đánh giá, nhận xét về lời nói của người khác
- Năng lực nghe - phản hồi ý kiến của người khác
- Năng lực nghe - ghi, nghe - tóm tắt ý chính bài học
(3) Năng lực đọc
- Năng lực đọc đúng, đọc diễn cảm, đúng ngữ điệu bài học ;
- Năng lực đánh giá về các câu, đoạn, văn bản đã đọc;
- Năng lực đọc thầm;
- Năng lực đọc - hiểu bài học, văn bản thuộc các lĩnh vực giao tiếp khác nhau
trong đời sống.
- Năng lực đọc - hiểu, cảm nhận, phân tích hình tượng trong bài học
- Năng lực đọc để tóm tắt bài học;
- Năng lực đọc để thu thập thông tin phục vụ cho một chủ đề cho trước.
(4) Năng lực viết tiếng Việt cho học sinh
- Năng lực viết đúng: chuyển từ âm nghe được đến chữ;
- Năng lực viết đúng chính tả, sử dụng dấu câu thích hợp;
- Năng lực viết câu phản ánh đúng tư tưởng, suy nghĩ của cá nhân, bộc lộ
cảm xúc phù hợp;
- Năng lực viết bài văn, đoạn văn, lời nhắn cá nhân;
- Năng lực viết đoạn văn, bài văn: miêu tả, kể chuyện, phân tích.
1.2.3.3. Phương pháp, hình thức dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng
phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
Phương pháp dạy học môn tiếng việt theo hướng phát triển năng lực ở trường
tiểu học nhằm phát triển ở HS năng lực giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả các
tình hống, nhiệm vụ trong quá trình học tập, đồng thời giúp HS có thể tự mình giải
quyết các nhiệm vụ đặt ra trong thực tiễn cuộc sống. Phương pháp dạy học này
khuyến khích tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV-HS theo
hướng cộng tác qua đó hình các năng lực xã hội.
20
Các phương pháp dạy học được sử dụng trong dạy học môn Tiếng Việt theo
hướng phát triển năng lực học sinh bao gồm:
(1) Đọc sáng tạo
(2) Vấn đáp gợi mở
(3) Giảng giải
(4) Nêu tình huống có vấn đề
(5) Xây dựng và thực hiện các chủ đề, dự án trong dạy học
Những định hướng về đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung
và môn Tiếng Việt ở trưởng tiểu học nói riêng phụ thuộc chương trình giáo dục
ĐHPTNL như:
- Cần phát huy tinh thần chủ động tự giác, tích cực của người học, qua đó
hình thành và phát triển năng lực tự học của HS, đồng thời qua đó trau dồi các phẩm
chất của tư duy HS một cách linh hoạt, độc lập, sáng tạo.
- Khi lựa chọn các phương pháp dạy học cần lựa chọn một cách linh hoạt và
khi sử dụng phương pháp dạy học phải đảm bảo được yêu cầu: HS phải tự hoàn
thành nhiệm vụ học tập của mình dưới sự hướng dẫn của GV.
- Việc sử dụng phương pháp dạy học phải luôn đi liền với việc lựa chọn các
hình thức tổ chức dạy học. Do vậy, tùy theo mục tiêu, nội dung và điều kiện dạy
học cụ thể mà GV có thể lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học thích hợp như học
cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở thực tế...
- Để dạy học hiệu quả, GV cần quan tâm sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị
dạy học môn học theo quy định. Cùng với đó có thể khuyến khích GV sử dụng các
đồ dùng dạy học tự làm nếu các phương tiện đó phù hợp với nội dung dạy học, với
đối tượng HS. Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học và khai thác
tài liệu dạy học.
Hình thức dạy học môn Tiếng Việt là cách thức tổ chức hoạt động dạy môn
Tiếng Việt của giáo viên và học sinh tiểu học được tiến hành trong một không gian,
thời gian, số lượng và theo một trật tự nhất định. Để thực hiện nội dung chương
trình dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực học sinh thì các hình
thức dạy học phải hướng đến tính tích cực của học sinh tiểu học; Kết hợp các hình
21
thức dạy học khác nhau và phải đa dạng hóa hình thức, phương pháp và phương
tiện dạy học.
Các hình thức dạy học môn Tiếng Việt thường được thực hiện khi giảng dạy
trong nhà trường tiểu học theo hướng phát triển năng lực học sinh bao gồm:
(1) Tổ chức dạy học theo nhóm, cá nhân, lớp
(2) Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Tiếng Việt
(3) HS học thông qua hoạt động ngoại khóa; tổ chức các tiết học trải nghiệm
bên ngoài lớp học
(4) Câu lạc bộ theo sở thích, giao lưu với nhà văn, nhà thơ
1.2.2.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
Kiểm tra - đánh giá là khâu kết thúc của quá trình dạy học, là bộ phận không thể
tách rời của quá trình dạy học. Do vậy GV khi tiến hành quá trình dạy học cần xác định
rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp, lự chọn phương tiện, đồ dùng dạy
học cũng như kĩ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho hiệu quả. Để đánh giá hiệu quả
quá trình dạy học, GV có thể thu thập thông tin phản hồi từ HS, với kết quả phản hồi
GV có cơ sở điều chỉnh phương pháp dạy, kỹ thuật dạy của mình.
Đánh giá theo năng lực, là đánh giá khả năng học tập của HS dựa trên kết
quả cuối cùng của một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm kết quả về việc HS
đã thực hiện thành công các sản phẩm đó. Đánh giá năng lực HS giúp GV có được
thông tin về kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động giảng dạy của mình và
giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập; giúp nhà trường xác nhận, xếp hạng kết quả
học tập.
Định hướng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực:
- Sử dụng các hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì, từng chủ đề,
từng chương nhằm mục đích điều chỉnh phản hồi kịp thời kết quả quá trình dạy học;
- Chuyển từ đánh giá kiến thức, kĩ năng (ghi nhớ, hiểu kiến thức…) sang
đánh giá năng lực (vận dụng, giải quyết các vấn đề của thực tiễn…);
- Tăng cường sử dụng CNTT trong kiểm tra - đánh giá,
Với đặc trưng riêng của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, căn cứ vào định hướng
nêu trên, đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt cần phải:
22
- Dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng theo định hướng tiếp cận năng lực, đặt ra
yêu cầu cơ bản cần đạt. Nội dung mỗi đề kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ…
cần giúp GV đánh giá chính xác năng lực nào được hình thành và phát triển ở HS ở
mức độ nào.
- Kết hợp các hình thức đánh giá, tăng cường và phát huy vai trò tự đánh giá
của HS, đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình,…;
- Kết hợp giữa đánh giá trắc nghiệm khách quan, thực hành và tự luận;
- Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá công bằng, trung thực, toàn
diện có khả năng phân loại giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc dạy học. Với
những đơn vị có điều kiện nên mạnh dạn cài đặt phần mềm hỗ trợ, lập ngân hàng đề
và tổ chức kiểm tra trên hệ thống máy tính.
1.2.3.5. Phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ dạy học môn
Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
Cơ sở vật chất kỹ thuật là điều kiện trực tiếp để nâng cao hiệu quả dạy học.
Do đó, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật giảng dạy là sự tác động
phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý trường học đến đối tượng quản lý có liên
quan tới lĩnh vực cơ sở vật chất kỹ thuật giảng dạy, bao gồm: phương tiện vật chất,
kỹ thuật và sản phẩm khoa học - công nghệ... được huy động vào hoạt động giảng
dạy trong nhà trường, nhằm hỗ trợ các hoạt động giảng dạy môn tiếng Việt ở các
trường tiểu học vận hành đạt tới mục tiêu giáo dục.
Bên cạnh đó, thiết bị đồ dùng dạy học là những phương tiện vật chất giúp
cho giáo viên và học sinh tổ chức hợp lý có hiệu quả, quá trình giáo dục, giảng dạy
đối với các môn học trong nhà trường nhằm thực hiện chương trình dạy học. Trong
quá trình đổi mới phương pháp dạy học, thiết bị đồ dùng dạy học là một trong
những điều kiện cơ bản không thể thiếu để giáo viên, học sinh thực hiện mục tiêu
dạy học. Hơn nữa thiết bị đồ dùng dạy học tạo điều kiện trực tiếp cho học sinh huy
động mọi năng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao khả năng tự
học, rèn luyện kỹ năng học tập và thực hành.
23
1.3. Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát
triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
1.3.1. Khái niệm quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
Quản lý là một hiện tượng xã hội, có vai trò quan trọng trong sự ổn định và
phát triển của xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu khái niệm về quản lý dưới
góc độ khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý mang ý nghĩa của động từ: “Quản là trông
coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Lý là tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo yêu cầu nhất định” [68].
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là: “Tác động có định hướng
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [41].
Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ - Frederic Wiliam
Taylor (1856-1915) cho rằng quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần
làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất.
Từ các quan niệm trên, ta thấy: quản lý là một quá trình tác động có ý thức,
có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt
được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi
trường. Quá trình quản lý mang tính tổng hợp, không tuân theo những quy định
cứng nhắc mà phải mềm dẻo linh hoạt.
QLHĐDH nói chung, hoạt động dạy học môn tiếng Việt nói riêng là nội
dung vô cùng quan trọng trong quản lý ở trường trung học cơ sở hiện nay, vì giáo
dục thực hiện cả chức năng giáo dục và chức năng phát triển. GV môn tiếng Việt
cùng với GV các bộ môn khác không chỉ là chủ thể của mọi hoạt động dạy học mà
còn là người điều khiển quá trình học tập của HS. Nhiệm vụ chính của GV là hoạt
động giảng dạy, đó là việc truyền đạt kiến thức về ngôn ngữ, tiếng Việt và văn học
và những giá trị về tư tưởng, văn hoá, đạo đức, phẩm chất cần trang bị cho HS.
Đồng thời, GV có nhiệm vụ phải thường xuyên học tập, rèn luyện, bồi dưỡng, tu
dưỡng để nâng cao trình độ về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động giảng dạy của mình.
24
QLHĐDH thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy
học (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng
xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục
tiêu đào tạo của nhà trường. QLHĐDH tập trung vào những nội dung sau:
QLHĐDH môn tiếng Việt ở các trường tiểu học là sự tác động có mục đích,
có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động
giảng dạy môn học của GV và học tập của HS, nhằm bảo đảm cho hoạt động dạy
học môn học đạt được mục đích đã xác định.
Trên cơ sở khái niệm quản lý hoạt động dạy học, dạy học theo định hướng
phát triển năng lực, trong phạm vi luận văn, quản lý dạy học môn tiếng Việt theo
hướng phát triển năng lực học sinh được hiểu là tác động có mục đích có chương
trình, kế hoạch của hiệu trưởng và các cấp quản lí trong nhà trường đến hoạt động
dạy học môn tiếng Việt trong nhà trường cùng giáo viên và học sinh để đạt được
mục đích nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Việt và phát triển được năng lực
cho học sinh.
Khái niệm trên cho thấy mục tiêu của quản lý dạy học môn tiếng Việt theo
hướng phát triển năng lực học sinh là nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng
Việt trong nhà trường tiểu học và phát triển năng lực.
Chủ thể quản lý dạy học môn tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực học
sinh trong nhà trường tiểu học bao gồm nhiều chủ thể: hiệu trưởng, tổ trưởng
chuyên môn, phó tổ trưởng chuyên môn, trong nhà trường, trong đó nhấn mạnh đến
2 chủ thể theo văn bản pháp qui Nhà nước là hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn.
Chủ thể chính trong luận văn là hiệu trưởng quản lý dạy học môn tiếng Việt theo
hướng phát triển năng lực học sinh.
Đối tượng quản lý là toàn bộ nội dung hoạt động dạy học môn tiếng Việt
cùng với giáo viên và học sinh, những lực lượng thực hiện hoạt động dạy học môn
tiếng Việt trong nhà trường.
Nội dung quản lý bao gồm quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, quản lý
giảng dạy trên lớp của giáo viên; quản lý hoạt động học tập của học sinh; quản lý
đánh giá kết quả học tập của học sinh và quản lý các điều kiện phương tiện phục vụ
cho dạy học môn tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực học sinh
25
Phương pháp quản lý bao gồm các phương pháp về hành chính - tổ chức,
phương pháp tâm lý - giáo dục và phương pháp kích thích bằng các yếu tố kinh tế
và tinh thần...
1.3.2. Vị trí, vai trò, chức năng của hiệu trưởng trường tiểu học trong
quản lý
Hiệu trưởng trường tiểu học có vị trí là người đứng đầu nhà trường do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận. Hiệu trưởng trường tiểu học
vừa đảm nhận vai trò là người lãnh đạo định hướng cho nhà trường luôn luôn thay
đổi để phát triển bền vững; vai trò quản lý làm cho nhà trường luôn luôn vận hành
ổn định để đạt tới mục tiêu. Theo điều lệ trường tiểu học, hiệu trường trường tiểu
học có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: [9]
Chức năng, nhiệm vụ hiệu trưởng tiểu học:
1. Hiệu trưởng trường tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các
hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường. Hiệu trưởng do Trưởng phòng
giáo dục và đào tạo bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập, công nhận đối với
trường tiểu học tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của
cấp có thẩm quyền.
2. Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng trư¬ờng tiểu học
phải đạt chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học.
3. Nhiệm kì của Hiệu trưởng trường tiểu học là 5 năm. Sau 5 năm, Hiệu
trưởng được đánh giá và có thể được bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại. Đối với
trường tiểu học công lập, Hiệu trưởng được quản lí một trường tiểu học không quá
hai nhiệm kì. Mỗi Hiệu trưởng chỉ được giao quản lí một trường tiểu học.
4. Sau mỗi năm học, mỗi nhiệm kì công tác, Hiệu trưởng trường tiểu học
được cán bộ, giáo viên trong trường và cấp có thẩm quyền đánh giá về công tác
quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường theo quy định.
5. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng:
a) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực
hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội
đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
26
b) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong
nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;
c) Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên
chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
d) Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính,
tài sản của nhà trường;
e) Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà tr-ường; tiếp
nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt
kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra,
xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và
các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
g) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham
gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hư¬ởng chế độ phụ cấp và các
chính sách ưu đãi theo quy định;
h) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị
- xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
i) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng
xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với
cộng đồng.
j) Người hiệu trưởng trường tiểu học có đầy đủ phẩm chất và năng lực theo
chuẩn nghề nghiệp với 06 tiêu chuẩn và 18 tiêu chí: [9]
Tiêu chuẩn 1. Phẩm chất nghề nghiệp: Đạo đức nghề nghiệp; Tư tưởng đổi
mới trong lãnh đạo, quản trị nhà trường; Năng lực phát triển chuyên môn, nghiệp vụ
bản thân.
Tiêu chuẩn 2. Quản trị nhà trường: Tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển
nhà trường; Quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh; Quản trị nhân sự nhà
trường; Quản trị tổ chức, hành chính nhà trường; Quản trị tài chính nhà trường;
Quản trị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh của
nhà trường; Quản trị chất lượng giáo dục trong nhà trường.
27
Tiêu chuẩn 3. Xây dựng môi trường giáo dục: Xây dựng văn hóa nhà trường;
Thực hiện dân chủ cơ sở trong nhà trường; Xây dựng trường học an toàn, phòng
chống bạo lực học đường.
Tiêu chuẩn 4. Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội: Phối
hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện hoạt động dạy học cho học sinh;
Phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện giáo dục đạo đức, lối sống
cho học sinh; Phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong huy động và sử dụng
nguồn lực để phát triển nhà trường.
Tiêu chuẩn 5. Sử dụng ngoại ngữ và công nghệ thông tin: Sử dụng ngoại
ngữ; Ứng dụng công nghệ thông tin.
1.3.3. Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
1.3.3.1. Quản lý mục tiêu, kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo
định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
Để quản lý hiệu quả việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo
định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học trước tiên HT nên
chỉ đạo tổ chuyên môn phổ biến mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt cho GV ở từng
khối lớp, GV phải hiểu được tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy học,
người GV nếu không nắm vững được mục tiêu dạy học cũng giống như con thuyền
giữa biển khơi không định hướng được bến bờ. Trên cơ sở yêu cầu chung công tác
giáo dục và yêu cầu riêng của bộ môn tiếng Việt, căn cứ vào hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ năm học của các cấp quản lý và tình hình cụ thể của nhà trường, của tổ
tiếng Việt, của từng cá nhân để đề ra kế hoạch phù hợp. hiệu trưởng phải là người
hướng dẫn GV quy trình xây dựng kế hoạch, giúp họ biết xác định mục tiêu đúng
đắn và biết tìm ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó. Quản lý việc xây
dựng kế hoạch của các bộ phận cũng như của mỗi GV trong trường là việc làm đòi
hỏi sự sâu sát của người hiệu trưởng. hiệu trưởng là người hướng dẫn GV quy trình
kế hoạch, giúp họ biết xác định mục tiêu đúng đắn và biết tìm ra các biện pháp để
thực hiện các mục tiêu đó.
1.3.3.2. Quản lý nội dung, chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
28
Để việc quản lý thực hiện chương trình, nội dung dạy học môn Tiếng Việt
thực sự đạt được hiệu quả, người HT phải tập trung quản lý tốt chương trình, kế
hoạch dạy học môn Tiếng Việt; việc phân công dạy học môn Tiếng Việt; việc chuẩn
bị kế hoạch bài dạy môn Tiếng Việt của GV. Trước tiên, từ việc quản lý chương
trình, kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt, HT phải chỉ đạo tổ chuyên môn làm tốt
việc phổ biến chương trình, kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt ở các khối lớp, GV
phải nắm được khung chương trình để làm căn cứ xây dựng kế hoạch dạy học.
Trong nhà trường có nhiều môn học với rất nhiều GV, HT có rất nhiều công
việc phải làm. HT không thể việc gì cũng trực tiếp làm được, quan trọng là việc tổ
chức cho các Phó HT, các TTCM phụ trách thực hiện các nhiệm vụ mà HT phân
công. Trong việc quản lý chương trình, kế hoạch dạy học cũng vậy, HT nên phối
hợp và giao nhiệm vụ cho tổ trưởng để quản lý việc thực hiện chương trình, kế
hoạch dạy học môn Tiếng Việt. Có thể kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhưng cũng
cần thiết phải tiến hành kiểm tra đột xuất. Kết quả kiểm tra là căn cứ quan trọng
giúp HT kịp thời có biện pháp hỗ trợ GV điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Ngoài việc quản lý chương trình, kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt, để góp
phần quản lý hiệu quả thực hiện chương trình nội dung dạy học môn Tiếng Việt,
việc sử dụng “đúng người đúng việc” rất quan trọng, nó quyết định rất lớn đến chất
lượng dạy học. Việc phân công dạy học môn Tiếng Việt nếu không hợp lý sẽ làm
cho một đội ngũ mạnh trở nên “suy yếu”. Để việc quản lý phân công dạy học môn
Tiếng Việt, đảm bảo sử dụng tối đa thế mạnh của nguồn nhân lực, trước tiên HT
phải chỉ đạo phó HT chuyên môn phối hợp với tổ trưởng bộ môn đưa ra cách thức
phân công nhằm đảm bảo sự ổn định trong tổ Tiếng Việt để mọi thành viên hiểu
rằng sự phân công là khách quan, công bằng.
Tuy nhiên, để đạt được mục đích là sử dụng “đúng người, đúng việc”, HT
cần chỉ đạo bộ phận chuyên môn xây dựng quy trình phân công dựa trên hiệu quả
công việc, trình độ chuyên môn và nguyện vọng của mỗi GV. Lấy hiệu quả làm
đầu, phải ưu tiên phân công chuyên môn theo hiệu quả dạy học của năm học trước
để giao các lớp trọng điểm sau đó mới đến tiêu chuẩn về trình độ và cuối cùng là
đáp ứng nguyện vọng. Phải đảm bảo việc phân công chuyên môn không bị chi phối
bởi các mối quan hệ cá nhân.
29
Quản lý nội dung, chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng
phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học giữ vai trò rất quan trọng trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục của GV ở các trường tiểu học. Đội
ngũ cán bộ quản lý tham gia quản lý GV với hoạt động giảng dạy môn tiếng Việt ở
các trường tiểu học bao gồm: hiệu trưởng, ban giám hiệu, tổ bộ môn và chính bản
thân GV. Cùng với việc quản lý, bồi dưỡng phát triển tốt đội ngũ GV, quản lý hoạt
động giảng dạy của GV là điều kiện tiên quyết có ảnh hưởng lớn đến chất lượng
giảng dạy môn tiếng Việt ở các trường tiểu học. Nội dung quản lý đội ngũ GV với
hoạt động giảng dạy môn tiếng Việt ở các trường tiểu học được đề cập ở đây là
quản lý về mặt chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy, quản lý việc thực hiện chương
trình, nội dung giảng dạy; quản lý các khâu, các bước quá trình giảng dạy môn ngữ
văn (quản lý công tác chuẩn bị giảng dạy; quản lý phân công giảng dạy; quản lý
việc thực hiện các hoạt động giảng dạy; quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của GV đối với HS...).
1.3.3.3. Quản lý các hình thức, phương pháp dạy học môn Tiếng Việt theo
định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
Hiện nay, cán bộ quản lý thường tập trung chỉ đạo giáo viên thực hiện các
phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên, với mục tiêu đặt ra hiện nay, các nhà
quản lý cần chỉ đạo giáo viên và học sinh đổi mới cách dạy và học theo hướng thực
hành giao tiếp, chú trọng rèn các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Cụ thể là: tổ chức để
học sinh hoạt động độc lập hoặc hoạt động theo nhóm khi học các loại bài học khác
nhau của môn tiếng Việt; tổ chức các tiết học vui, trong đó sử dụng các trò chơi,
truyện kể (có kèm theo hình ảnh minh họa) làm phương tiện hỗ trợ việc hình thành,
củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh.
Để quản lí hiệu quả việc thực hiện các hình thức, phương pháp dạy học môn
Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học,
HT cần làm tốt việc quản lí đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và các
điều kiện hỗ trợ dạy học môn Tiếng Việt.
Trước tiên, để việc quản lí đổi mới các hình thức, phương pháp dạy học môn
Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học đạt
được mục đích quản lí, HT cần tổ chức phổ biến cho GV về chủ chương, định
30
hướng về dạy học theo tiếp cận năng lực của Bộ GD&ĐT. Chỉ khi GV tại sao phải
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực HS thì họ mới tự giác,
chủ động tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện.
Khi đội ngũ GV đã có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng phát triển năng lực, HT tổ chức các lớp tập huấn, tạo cơ hội cho
GV học tập, bồi dưỡng, nắm vững cơ sở lí luận cũng như cách thức thực hiện dạy
học phát triển năng lực HS.
Tiếp theo, HT cần chỉ đạo tổ bộ môn hướng dẫn thiết kế bài dạy môn Tiếng
Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS cho GV. Kinh nghiệm cho thấy GV lúng túng
trong thiết kế bài dạy làm cho họ không đủ tự tin khi lên lớp, làm ảnh hưởng rất lớn
đến sự thành công của giờ dạy.
Khi GV đã nắm được những thao tác cần thiết khi thiết kế bài dạy, để giúp
GV đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện kĩ năng thiết kế giáo án, HT cần chỉ đạo tổ bộ
môn cùng thiết kế giáo án, tổ chức thao giảng, dự giờ, rút kinh nghiệm. Điều đó sẽ
giúp tập hợp được những ý tưởng hay của nhiều thành viên vào cùng một giáo án.
Việc rút kinh nghiệm sau thao giảng cũng cần chú ý định hướng GV tập trung
nghiên cứu bài học của HS. Nói cách khác, HT chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức sinh
hoạt theo nghiên cứu bài học.
Một khâu rất quan trọng là cần kịp thời biểu dương, khen thưởng GV tích
cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực. Người được khen
thưởng sẽ thấy sự cố gắng và công sức mình bỏ ra đã được đền đáp xứng đáng,
người chưa được khen thưởng sẽ cố gắng nhiều hơn để đạt được mục tiêu.
1.3.3.4. Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt ở
trường Tiểu học bao gồm hai nhóm công việc rõ ràng, đó là quản lý việc kiểm tra -
đánh giá kết quả giảng dạy của GV và quản lý việc kiểm tra - đánh giá kết quả học
tập của HS. Để quản lý việc kiểm tra - đánh giá kết quả giảng dạy của GV thực sự
mang lại tác động tích cực đến dạy học, HT phải làm tốt ngay từ việc kiểm tra định
kỳ theo quy định như kiểm tra giáo án và hồ sơ cá nhân, kiểm tra việc thực hiện nề
nếp thông qua lịch báo giảng, sổ ghi đầu bài. Việc này có thể giao cho bộ phận giúp
31
việc như Phó HT, các TTCM nhưng cũng cần kiểm tra đột xuất vào những thời
điểm đã định. Điều này vừa giúp GV có ý thức tự giác, chủ động chấp hành các quy
định của ngành, của nhà trường, vừa giúp HT tổ chức thực hiện nghiêm túc nề nếp
hành chính trong nhà trường. Bên cạnh đó, HT cũng cần thường xuyên kiểm tra
việc tổ chức hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, nên định hướng các tổ
chuyên môn đổi mới sinh hoạt theo nghiên cứu bài học bởi vì nó giúp phát huy tối
đa vai trò của mỗi thành viên, quy tụ được trí tuệ tập thể. Tổ chức sinh hoạt chuyên
môn với tinh thần trách nhiệm cao có ảnh hưởng rất lớn đến sự chuyển biến tích cực
việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực.
Quản lý việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng
lực phải bắt đầu từ việc chỉ đạo tổ bộ môn tổ chức tập huấn kiểm tra - đánh giá kết
quả học tập của HS. Qua tập huấn, GV nắm được đầy đủ những yêu cầu, cách
thức... để thực hiện đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS theo tiếp cận
năng lực. Bên cạnh đó, việc chỉ đạo xây dựng quy trình ra đề, kiểm duyệt các đề
kiểm tra cũng rất cần thiết, nó giúp cho việc thực hiện quá trình kiểm tra - đánh giá
một cách khoa học và chuyên nghiệp hơn. Khi việc tổ chức kiểm tra được tuân theo
một quy trình nhất định, nó sẽ là căn cứ để mọi cá nhân tham gia thực hiện nhiệm
vụ tuân thủ thực hiện.
1.3.3.5. Quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ dạy
học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường
tiểu học
Để quản lý hiệu quả việc phương tiện và các điều kiện hỗ trợ dạy học môn
Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học,
HT cần làm tốt việc quản lý đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và các
điều kiện hỗ trợ dạy học môn Tiếng Việt. Để quản lý các điều kiện hỗ trợ dạy học
môn Tiếng Việt đạt được kết quả mong muốn, trước tiên, HT phải chủ động xây
dựng kế hoạch đảm bảo CSVC, phương tiện kỹ thuật, đồ dùng dạy học phục vụ tốt
cho hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cụ thể từng năm học. Với nguồn kinh phí
hạn hẹp, việc xây dựng, mua sắm nhiều sẽ khó có thể thực hiện nhưng cố gắng đáp
ứng những nhu cầu thiết yếu hỗ trợ cho dạy học. Nói cách khác, kế hoạch được xây
dựng phải phù hợp với điều kiện nhà trường và mang tính khả thi cao. Cuối cùng,
32
cần khen thưởng, động viên GV sử dụng có hiệu quả phương tiện kỹ thuật, đồ dùng
dạy học. Phần thưởng có thể có giá trị không lớn nhưng cũng có tác dụng tích cực
đối với việc sử dụng có trách nhiệm các phương tiện hỗ trợ dạy học.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng
Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học các
trường tiểu học
1.4.1. Phương hướng, mục tiêu phát triển mới của nhiệm vụ giáo dục
Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay đã tạo ra sự
biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đối với tất cả các quốc
gia trong đó có nước ta, đòi hỏi về giáo dục, đặt ra những yêu cầu mới về giảng dạy,
quản lý hoạt động giảng dạy, để đáp ứng yêu cầu về GD&ĐT cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng
hiện đại, lấy người học làm trung tâm, tăng cường bổ sung kiến thức, giá trị thẩm
mỹ và tinh thần cho HS. Vì vậy, trong tương lai, mục tiêu xây dựng và phát triển
của giáo dục phổ thông nói chung và tiểu học nói riêng sẽ có những bước phát triển
mới. Đây là những mục tiêu lớn, chi phối và tác động mạnh mẽ, toàn diện đến quá
trình giáo dục ở phổ thông mà trực tiếp là dạy học và QLHĐDH nói chung và dạy
học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học nói riêng; đồng thời đặt ra những yêu cầu
cao hơn đối với quá trình giảng dạy của GV, học tập môn tiếng Việt của HS để đáp
ứng với sự phát triển mới của nhiệm vụ giáo dục ở bậc tiểu học hiện nay.
1.4.2. Chương trình, nội dung, kế hoạch và các văn bản pháp quy về quản
lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho
học sinh các trường tiểu học các trường tiểu học
Các văn bản quản lý, quy chế, quy định… trong QLHĐDH môn tiếng Việt ở
các trường tiểu học vừa là công cụ mang tính pháp lý trong quản lý mọi hoạt động,
vừa là căn cứ quy định rõ ràng đối với tổ chức và mọi GV trong thực hiện nhiệm
vụ, trong kiểm tra, đánh giá hoạt động này của GV, bảo đảm cho hoạt động giáo
dục, dạy học của nhà trường ngày càng đi vào nề nếp và có hiệu quả hơn. Hiện nay,
chương trình môn tiếng Việt ở các trường tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành còn nặng nề, ít mang tính thực tiễn, ngữ liệu dạy luyện từ và câu trong sách
33
giáo khoa và sách GV nhiều chỗ chưa chính xác. Việc quy định thời lượng tiết học
gây áp lực lớn cho người dạy và người học, từ đó tạo thành sự máy móc, dập khuôn
trong việc phân bố thời gian tiết học (tất cả đều phải qua 5 bước quy định). Việc vận
dụng đổi mới phương pháp chưa linh hoạt, chưa sáng tạo dẫn đến việc đặt nhiều câu
hỏi, làm vỡ vụn tiết dạy. Tình trạng lạm dụng máy chiếu (thực chất chỉ mang tính
hỗ trợ, minh họa) nên dẫn đến tình trạng “chiếu - chép” (thay cho “đọc - chép”
trước đây). Đề kiểm tra môn tập làm văn hàng năm chưa có tính mới, ít gắn với
thực tiễn, chưa tạo sự hấp dẫn, chưa tạo tiền đề cho HS trình bày, sáng tạo,…Thực
trạng này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động dạy học và QLHĐDH môn học này. Như
vậy, chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học và các văn bản pháp quy về
QLHĐDH môn tiếng Việt là những định hướng, điều khiển, chỉ đạo việc xác lập và
thực hiện các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn học
này cho HS tiểu học ở mỗi nhà trường hiện nay.
1.4.3. Nhận thức và năng lực quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh của cán bộ quản lý ở các
trường tiểu học
Để quản lý tốt hoạt động dạy học môn tiếng Việt trong trường tiểu học, các
cấp quản lý trong nhà trường cần nhận thức đầy đủ những đặc trưng trong mục tiêu,
chương trình, nội dung, phương pháp, hoạt động dạy và học môn tiếng Việt, cũng
như kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn học này. Ngoài ra, họ cũng cần có nhận
thức đúng, đủ về mục tiêu, nội dung, phương pháp QLHĐDH môn tiếng Việt. Việc
nhận thức đầy đủ về các vấn đề trên giúp đội ngũ quản lý các trường có những tác
động đúng đắn đến hoạch định kế hoạch dạy học của môn học cho từng khối lớp ở
cấp học và thực hiện các giải pháp tổng thể cho việc nâng cao chất lượng học tập
môn tiếng Việt trong nhà trường. Để có hiệu quả trong công tác quản lý, nâng cao
chất lượng giáo dục trong hoạt động dạy học, người hiệu trưởng cùng các cán bộ
quản lý ở trường tiểu học phải hiểu rõ mục tiêu, nội dung, nắm chắc các phương
pháp, các nguyên tắc giáo dục xã hội chủ nghĩa; phải là những nhà giáo có kinh
nghiệm, có năng lực, có uy tín chuyên môn; là con chim đầu đàn của tập thể GV và
biết cách tổ chức hoạt động dạy học trong nhà trường một cách hiệu quả. Như vậy,
34
sự nhận thức, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ quản lý ở trường tiểu học có tác
động rất lớn đến kết quả QLHĐDH môn tiếng Việt.
1.4.4. Trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên
giảng dạy môn tiếng Việt và sự hứng thú học tập của học sinh
GV dạy tiếng Việt trong trường tiểu học là những người được đào tạo về
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Tuy nhiên, dù bằng cấp tương đương nhau
nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV là không đồng đều. Điều này ảnh
hưởng lớn đến hoạt động dạy học môn tiếng Việt vì nó vốn là một môn học đòi hỏi
hứng thú của cả GV và HS. Dạy tiếng Việt không chỉ dạy kiến thức mà GV còn có
nhiệm vụ định hướng cảm xúc, tình cảm, sự rung động đối với các chất liệu văn thơ
của GV và cho HS. Người GV không chỉ là người thầy mà còn là nhà phê bình văn
học, là sợi dây liên kết giữa tác phẩm và HS, là người tạo điều kiện cho HS chủ
động tiếp thu tác phẩm chứ không phải là người áp đặt kiến thức cho HS. QLHĐDH
môn Tiếng Việt trong nhà trường cần phải quan tâm đến nhân tố đặc biệt là người
thầy. Kết quả học tập của môn tiếng Việt cũng như bất kỳ môn học nào đều phụ
thuộc vào sự tích cực học tập của người học. Để có kết quả cao trong học tập, HS
phải hứng thú với các phân môn của môn tiếng Việt, các em phải tích cực suy nghĩ,
tích lũy kiến thức, trải nghiệm thực tiễn, sáng tạo trong học tập.
1.4.5. Đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và điều kiện xã hội của
địa phương
Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy học cũng là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng tới chất lượng dạy học. Việc QLHĐDH môn tiếng Việt sẽ có hiệu quả cao
nếu trường lớp được xây dựng khang trang, đúng qui định, điều kiện, phương tiện
dạy học hiện đại được trang bị đầy đủ và đồng bộ. Hoàn cảnh xã hội tác động đến
việc quản lý trong trường tiểu học theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Việc
QLHĐDH môn tiếng Việt ở trường tiểu học sẽ mang lại hiệu quả thiết thực khi
nhận được sự quan tâm trong công tác lãnh đạo của cấp trên. Với những chính sách
và đường lối đúng đắn, hợp lý, các cấp lãnh đạo có thể khuyến khích, động viên
hoạt động dạy học trong nhà trường. Phong trào giáo dục tại địa phương cũng là yếu
tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở trường tiểu học.
Nếu HS có phong trào hiếu học, địa phương và gia đình quan tâm, coi trọng việc
35
học của con em thì chắc chắn chất lượng dạy học và giáo dục sẽ tốt hơn. Đối với
các địa phương khi nhận thức của các cấp, các ngành, các lực lượng xã hội và của
nhân dân về công tác giáo dục còn chưa cao, đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều khó
khăn, hạn chế trong việc tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác giáo dục
trong toàn cộng đồng. Việc xây dựng cho được một cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu
quả giữa nhà trường, gia đình và xã hội là một yêu cầu cấp thiết để phát triển sự
nghiệp giáo dục tại địa phương cũng như tạo được môi trường học tập rộng khắp
nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học. Hiện nay, chế độ chính sách đối
với GV phổ thông, trong đó có GV tiểu học có mặt chưa thỏa đáng. Đồng lương của
GV chưa đủ trang trải cuộc sống, GV phải làm thêm nhiều việc khác, từ đó thiếu
thời gian đầu tư, nghiên cứu bài dạy. Áp lực đời sống thường ngày đã làm cho GV
thiếu tâm huyết với nghề, thiếu sáng tạo trong giảng dạy. Chính vì vậy, trong
QLHĐDH môn tiếng Việt, các chủ thể quản lý ở các trường tiểu học cần chú ý đến
yếu tố tác động này.
Tiểu kết chương 1
Bằng các phương pháp nghiên cứu lí luận đề tài đã hệ thống các khái niệm
cơ bản về đề tài, đó là: quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, năng lực HS.
Các nội dung liên quan đến dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực ở trường
Tiểu học như: Đặc điểm của môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học; Chủ trương, định
hướng dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS; Kiểm tra - đánh
giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS Tiểu học. Nội
dung cơ bản của QLHĐDH môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực ở trường Tiểu
học bao gồm: quản lý thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt; quản lý chương
trình, nội dung dạy học môn Tiếng Việt; quản lý thực hiện phương pháp, phương
tiện và các điều kiện hỗ trợ dạy học môn Tiếng Việt; quản lý hoạt động kiểm tra -
đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt. Đề tài cũng đã xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến QLHĐDH môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực ở trường Tiểu học
hiện nay. Trong nhà trường Tiểu học theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, người
HT giữ vai trò quyết định trong việc chỉ đạo, quản lý các hoạt động của nhà trường,
nhất là QLHĐDH. Để quá trình QLHĐDH môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận
năng lực HS ở các trường Tiểu học có hiệu quả, hiệu trưởng cần tìm ra những biện
36
pháp phù hợp với hoàn cảnh, đặc thù riêng của từng trường trên cơ sở vận dụng lí
luận khoa học về QLGD và đặc thù của hoạt động dạy học môn Tiếng Việt để tổ
chức chỉ đạo, điều hành có hiệu quả. Đây là cơ sở để tác giả tiến hành khảo sát
nghiên cứu thực trạng QLHĐDH môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS
các môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực HS ở các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa mà tác giả trình bày ở chương sau.
37
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
2.1. Khái quát về địa bàn và quá trình tổ chức khảo sát thực trạng
2.1.1. Khái quát vài nét về thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông và giáo
dục tiểu học trên địa bàn
2.1.1.1. Khái quát về thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xuất phát từ vị trí một thị trấn nhỏ bé,
có điều kiện kinh tế - xã hội hết sức khó khăn về mọi mặt, chậm phát triển so với cả
nước. Đến nay, sau hơn 15 năm thành lập, xây dựng và phát triển, Gia Nghĩa đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, được công nhận trở thành
thành phố, trung tâm của tỉnh Đắk Nông [66].
Trên cơ sở kết quả đạt được, trong năm 2020, các cấp ủy đảng và chính
quyền địa phương quyết tâm xây dựng các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội: Tổng
thu Ngân sách Nhà nước năm 2020 đạt 1.010 tỷ đồng; chi ngân sách ước thực hiện
511 tỷ đồng. Sau khi xã Đắk Nia và Đắk R’moan đã đạt tiêu chí xây dựng nông
thôn mới (năm 2019), trong năm 2020, Gia Nghĩa tập trung nguồn lực xây dựng bộ
tiêu chí nông thôn mới nâng cao cho hai địa phương này. Bên cạnh đó, thành phố
Gia Nghĩa cũng chú trọng duy trì tỷ lệ nhựa hóa đường đô thị, tỷ lệ chiếu sáng các
đường phố chính và thôn, bon có điện lưới Quốc gia, tỷ lệ số hộ được sử dụng điện
đạt 100%. Thành phố duy trì không còn hộ nghèo trong năm 2020 và giải quyết việc
làm cho 1.200 lao động; đào tạo nghề cho 555 lao động; trong đó, đã tập trung đào
tạo nghề cho lao động bị thu hồi đất sản xuất, lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.
Thành phố đáp ứng 100% nhu cầu đào tạo nghề của người lao động. Đối với các
lĩnh vực khác, Gia Nghĩa tập trung nâng cao tỷ lệ xử lý rác thải đô thị, tỷ lệ đường
phố chính có cây xanh, tỷ lệ dân số sử dụng nước hợp vệ sinh [66]...
Bên cạnh đó, các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội cũng được thành phố thực hiện
tốt hơn. Thành phố đã giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới
15%; tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 87,5%; tỷ lệ tiêm chủng mở
rộng cho trẻ em trên 95% và có 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Trong năm
38
2020, Gia Nghĩa có 21/31 trường học công lập đạt chuẩn quốc gia, nâng tỷ lệ
trường học đạt chuẩn quốc gia lên 67,7%. Tập trung đổi mới, tạo chuyển biến căn
bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã
hội và hội nhập quốc tế [66]...
2.1.1.2. Tình hình giáo dục tiểu học trên địa bàn thành phố
Thời gian qua, thành phố Gia Nghĩa đã đẩy mạnh thực hiện đổi mới về giáo
dục, đáp ứng yêu cầu chung. Thế nhưng, trên thực tế, ngành Giáo dục thành phố
Gia Nghĩa vẫn còn rất nhiều tồn tại, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lược dạy và
học. Trước hết, số lượng HS trên địa bàn thành phố hàng năm đều tăng ở mức cao.
Cụ thể, năm học 2013-2014, Gia Nghĩa chỉ có trên 10.600 HS. Năm học 2020-2021,
toàn thành phố đã tăng lên gần 17.000 HS. Bình quân mỗi năm, số HS trên địa bàn
thành phố tăng từ 7- 8%. Theo lãnh đạo UBND thành phố Gia Nghĩa, đây là mức
tăng cao so với điều kiện phát triển hiện nay của địa phương [50].
* Quy mô trường, lớp, HS cấp tiểu học
Toàn huyện có 18 trường tiểu học, trong đó có 13 trường đạt chuẩn Quốc
gia, đạt tỷ lệ 72.22%. Tất cả các trường đều tổ chức học 2 buổi/ngày [50].
Theo kết quả thống kê ở phụ lục 1 về số lượng HS tiểu học trong những năm
qua, chúng ta nhận thấy thời gian 5 năm gần đây số HS ở tiểu học có xu hướng
tăng, dẫn đến số lớp học tăng. Tuy nhiên số lượng trường, lớp cấp tiểu học đã đảm
bảo tiếp nhận đủ số HS theo học, đáp ứng yêu cầu của Điều lệ trường học “không
vượt quá 35 HS/lớp”.
* Đội ngũ cán bộ quản lý, GV, nhân viên
Tổng số cán bộ, GV, nhân viên của toàn huyện là 573, trong đó có 36-37 cán
bộ quản lý, 453 GV, 72 nhân viên. Tổng số GV đứng lớp là 553, số GV trong biên
chế là 511, số GV hợp đồng 42. Đội ngũ GV có đủ các loại hình đáp ứng yêu cầu
giáo dục. Tỷ lệ cán bộ quản lý, GV trên chuẩn 100%, trong đó đại học 385/556, tỉ
lệ: 69,24%.
39
Bảng 2.1. Đội ngũ cán bộ quản lý, GV, nhân viên các trường tiểu học
thành phố Gia Nghĩa
Năm học Số lớp Cán bộ quản lý GV đứng lớp Tỷ lệ GV/lớp
2016 - 2017 2017 - 2018 2018 - 2019 2019 - 2020 2020 - 2021 36 36 36 37 37 430 436 451 453 453 313 310 315 327 331 1,37 1,41 1,43 1,38 1,37 Thừa/thiếu so với quy định (1,5 GV/lớp) Thiếu 0,13 Thiếu 0,09 Thiếu 0,07 Thiếu 0,12 Thiếu 0,13
(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Gia Nghĩa)
Số GV ở các trường hiện nay cơ bản đủ định biên theo Thông tư số
16/2017/TT-BGDĐT, ngày 12 tháng 7 năm 2017 hướng dẫn danh mục khung vị trí
việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông
công lập. Thông tư hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục
phổ thông công lập quy định: mỗi lớp được bố trí biên chế không quá 1.5 GV, mỗi
trường được bố trí 01 GV làm Tổng phụ trách Đội. Như vậy, trong thời gian qua, số
lượng GV tiểu học của thành phố Gia Nghĩa cơ bản đủ với tỷ lệ và đáp ứng hiệu
quả nhiệm vụ dạy và học. Tính đến năm 2019-2020 tỷ lệ GV trên một lớp tại các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa đạt 1.37 GV trên một lớp, thiếu 0.13 GV trên
một lớp so với quy định (Xem thêm Phụ lục: Bảng 2.1. Đội ngũ cán bộ quản lý, GV,
nhân viên các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa). Mặt khác, với xu thế số lớp
tiểu học đang tăng dần thì trong những năm tới số lượng GV của thành phố Gia
Nghĩa sẽ phải tuyển dụng thêm để đảm bảo về số lượng.
* Cơ sở vật chất, kỹ thuật trường học
Diện tích, khuôn viên của 18/18 đơn vị đã được quy hoạch, 17 trường được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tỉ lệ phòng học kiên cố đạt 87,7%. Tất cả
các trường có đủ thiết bị dạy học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và
thường xuyên mua sắm bổ sung trang thiết bị hiện đại. Hiện nay, sáu trường có
phòng máy vi tính dạy tin học định (Xem thêm Phụ lục 3: Bảng 1. Cơ sở vật chất,
kỹ thuật tại các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa).
40
Theo kết quả thống kê, chúng tôi nhận thấy, trong những năm qua, việc đầu
tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho các nhà trường nói chung và các trường
tiểu học nói riêng đã được Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành
phố Gia Nghĩa đặc biệt quan tâm đầu tư nâng cấp, sửa chữa và xây mới. Nhiều
trường đã chủ động thực hiện tốt chính sách xã hội hoá giáo dục có hiệu quả theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hóa, do vậy kết quả đạt được rất tích cực: cơ sở vật chất
trường lớp khang trang, trang thiết bị dạy học được tăng cường đáp ứng hiệu quả
cho việc đổi mới phương pháp dạy và học. Tuy nhiên một số trường vẫn còn khó
khăn về cơ sở vật chất như cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu các trang thiết bị hiện
đại, thiếu phòng học do tăng lớp, thư viện và đồ dùng dạy ở một số trường còn
nghèo nàn, sân chơi, bãi tập để tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp chưa đảm
bảo vì thế ảnh hưởng không tốt đến việc giáo dục toàn diện cho HS.
* Chất lượng giáo dục
Trong thời gian qua, nhờ có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Sở Giáo dục và
Đào tạo Đắk Nông, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Gia Nghĩa, chất lượng
giáo dục cấp tiểu học của huyện Kim ngày càng được củng cố và nâng cao. Tỷ lệ
HS xếp loại học lực giỏi năm sau cao hơn năm trước. Công tác giáo dục đạo đức,
lối sống, giáo dục những giá trị truyền thống, giáo dục pháp luật cho HS luôn được
nhà trường, gia đình và toàn xã hội quan tâm. Không có HS bỏ học, tỷ lệ HS lưu
ban trong thời gian vừa qua đã giảm xuống rõ rệt. HS hoàn thành chương trình tiểu
học trong những năm gần đây đều đạt 100%. Ngoài ra, công tác giáo dục toàn diện
theo ĐHPTNL HS cũng được coi trọng và thường xuyên quan tâm từ trường đến
huyện. Nhà trường tích cực phối hợp với với hội cha mẹ HS nhằm động viên,
khuyến khích các em tham gia các sân chơi bổ ích, phù hợp như thi đấu thể thao,
giao lưu Tiếng Anh, giải Toán trên mạng,….
2.1.2. Khái quát về quá trình tổ chức khảo sát thực trạng
2.1.2.1. Mục đích
Đánh giá thực trạng QLHĐDH môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa, Đắk Nông theo ĐHPTNL làm căn cứ thực tiễn để đề xuất các biện
pháp quản lý phù hợp hơn.
2.1.2.2. Nội dung
41
- Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa, Đắk Nông theo ĐHPTNL;
- Thực trạng nội dung QLHĐDH môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa, Đắk Nông theo ĐHPTNL;
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến QLHĐDH môn Tiếng Việt ở các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, Đắk Nông theo ĐHPTNL;
2.1.2.3. Đối tượng, địa bàn
Đề tài tiến hành khảo sát tất cả 10 trường tiểu học trong thành phố Gia Nghĩa
với 02 chuyên viên phụ trách tiểu học của Phòng giáo dục và đào tạo thành phố Gia
Nghĩa; 23 cán bộ quản lý của các trường tiểu học (10 hiệu trưởng và 13 phó hiệu
trưởng); 75 GV tiểu học dạy môn Tiếng Việt, trong địa bàn thành phố Gia Nghĩa,
tổng số 25 CBQL và 75 GV tiểu học. Tổng số phiếu phát ra là 100 phiếu, số phiếu
thu về là 91 phiếu (chiếm 91%).
Khảo sát tại 10 trường: Trường Tiểu học Thăng Long, Trường Tiểu học Võ
Thị Sáu, Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, Trường Tiểu học Nơ Trang
Lơng, Trường Tiểu học Trần Văn Ơn, Trường Tiểu học Phan Đình Giót, Trường
Tiểu học Bế Văn Đàn, Trường Tiểu học Hà Huy Tập, Trường Tiểu học Nguyễn Bá
Ngọc, Trường Tiểu học Nguyễn Việt Xuân.
2.1.2.4. Phương pháp khảo sát
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu, phương pháp phỏng vấn,
phương pháp thống kê và xử lý bằng phần mềm tin học.
2.2. Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng
phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa,
tỉnh Đắk Nông
2.2.1. Thực trạng thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Để chuẩn bị cho HS học lên trung học cơ sở, mục tiêu trọng tâm trong dạy
học Tiếng Việt ở cấp tiểu học là phát triển kỹ năng, trong đó, điểm nhấn là các kỹ
năng đọc - hiểu và kỹ năng viết (bao gồm viết chính tả và làm văn).
42
Kết quả khảo sát về thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học (Xem Phụ lục 3: Bảng 2. Thực hiện mục tiêu
dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông) cho thấy: Các mục tiêu được đánh giá cao: Việc dạy học
Tiếng Việt để hình thành năng lực nói Tiếng Việt cho HS bảo đảm việc nói đúng,
không nói ngọng, bảo đảm âm điệu... thể hiện ở tiêu chí “Hình thành năng lực nói
tiếng Việt cho học sinh” được đánh giá cao với ĐTB = 3.34/4 với 43.96% người
được hỏi đánh giá tốt tương đương với 42/91 người; 46.15% người được hỏi đánh
giá khá. Tiếp đến là tiêu chí “Hình thành năng lực nghe tiếng Việt cho học sinh” với
ĐTB được đánh giá là 3.33/4 điểm.
Các tiêu chí được đánh giá ở mức khá với số ĐTB giao động từ 3.09 đến
3.18/4 điểm như: “Hình thành năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo” với 3.09/4
điểm; “Hình thành năng lực giao tiếp và hợp tác” với 3.10/4 điểm; Tiêu chí “Hình
thành năng lực tự chủ và tự học” với 3.12/4 điểm; cuối cùng tiêu chí “Hình thành
năng lực đọc cho học sinh” với 3.18/4 điểm.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy một số tiêu chí chưa được đánh giá cao như:
Tiêu chí bị đánh giá thấp nhất “Rèn luyện cho HS các thao tác tư duy cơ bản (phân
tích, tổng hợp, phán đoán...)” chưa được các thầy cô triển khai hiệu quả với ĐTB
được đánh giá là 2.80/4 điểm. Tiếp đến tiêu chí “Hình thành năng lực viết tiếng Việt
cho học sinh” được các thầy cô đánh giá ở mức độ 2.93/4 điểm và tiêu chí “Những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người” là 2.95/4 điểm.
Đề tài phỏng vấn cô N.T.H.Yến (Trường Tiểu học Bế Văn Đàn) cho biết:
“Thực tế việc thực hiện các mục tiêu trong dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL
HS được các thầy cô rất quan tâm tìm hiểu. Bên cạnh những mục tiêu hình thành
các năng lực cơ bản như nghe, nói, đọc và viết thì những mục tiêu giúp HS hình
thành năng lực để tự bảo vệ mình hay năng lực tự học... đã được đưa vào trong
giáo án và thảo luận tại các cuộc họp chuyên môn”.
2.2.2. Thực trạng thực hiện nội dung dạy học môn Tiếng Việt theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
43
Nội dung dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường Tiểu
học thành phố Gia Nghĩa trong các năm học gần đây đều được triển khai nghiêm túc
gắn với Chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018, qua đó giúp HS hình
thành các năng lực cần thiết.
So với sách giáo khoa cũ, nội dung chương trình Tiếng Việt cấp tiểu học
được áp dụng hiện nay đã bám sát mục tiêu giáo dục, chú ý tới giáo dục toàn diện
con người, đảm bảo được tính chính xác, khoa học, hiện đại, cập nhật và tiếp cận
được trình độ giáo dục ở các nước phát triển trong khu vực. Tuy nhiên, môn tiếng
Việt ở tiểu học cũng giống như các môn học khác đều bị đóng khung bởi một
chương trình và thời lượng cụ thể. Chương trình còn nặng và khó. Sách giáo khoa
chưa được viết theo hướng tích hợp. Phân môn Tập làm văn chưa được viết theo
hướng mở, GV chỉ sử dụng những đề tập làm văn có sẵn trong sách giáo khoa. Việc
tổ chức cho HS viết văn cũng chưa đảm bảo tính logic. Ở các lớp 3,4, trong mỗi tiết
học, HS không được viết toàn bộ bài mà chia thành từng phần: mở bài, thân bài, kết
bài hoặc là viết đoạn. Đến lớp cuối cấp, HS mới được làm quen với việc viết cả bài.
Đây cũng là lý do khiến GV không có sự sáng tạo trong việc ra đề tập làm văn phù
hợp với đối tượng, đề bài không mang tính cập nhật những vấn đề xã hội, không
mang tính ứng dụng vào thực tiễn. HS cũng khó khăn trong việc viết bài vì cảm xúc
không liền mạch.
Kết quả khảo sát về thực hiện nội dung dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học (Xem Phụ lục 3: Bảng 3. Thực hiện nội dung
dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông) cho thấy, các nội dung được đánh giá cao là: kiến thức
Tiếng Việt và kiến thức Văn học được đánh giá ở mức điểm khá là 3.20/4 điểm và
3.00/4.00 điểm. Vì đây là những nội dung đã được triển khai từ lâu ở các trường
tiểu học nên các thầy cô thường triển khai hiệu quả hơn.
Các nội dung được đánh giá ở mức trung bình khá như: rèn luyện kỹ năng
nghe và kỹ năng đọc hay kiến thức về tập làm văn được các thầy cô triển khai ở
mức trung bình với mức điểm đánh giá ĐTB lần lượt là 2.95/4; 2.90/4 và 2.85/3
điểm. Bên cạnh đó, do đặc thù là địa phương tại khu vực Tây Nguyên, tỷ lệ HS
người dân tộc thiểu số đông nên việc rèn luyện kỹ năng nói và viết cho các em cũng
44
còn nhiều khó khăn khi năng lực nói bảo đảm được câu từ, ngữ điệu chưa được HS
làm tốt. Hai nội dung này được đánh giá ở mức điểm trung bình lần lượt là 2,60/4
điểm và 2.70/4 điểm.
2.2.3. Thực trạng thực hiện phương pháp, hình thức dạy học môn Tiếng
Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Nhiệm vụ quan trọng của GV dạy Tiếng Việt là phải khơi gợi ở HS tình yêu đối
với các tác phẩm văn học, biết thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình một cách trung
thực, biết diễn đạt suy nghĩ đó thông qua ngôn ngữ Tiếng Việt. Phương pháp mang tính
đặc thù của bộ môn đó là phương pháp thuyết trình, phương pháp gợi mở vấn đáp,
phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp giảng giải. Bên cạnh đó, có thể áp dụng
phương pháp nêu vấn đề, giải quyết vấn đề và phương pháp xây dựng và thực hiện các
chủ đề, dự án trong dạy học. Song song với việc đổi mới phương pháp dạy học, các
hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt hiện nay cũng ngày một đa dạng. Giờ đây có thể
kết hợp học chính khóa với ngoại khóa, học trong lớp, học ngoài lớp, ngoài học cá
nhân còn có học nhóm. Những hình thức này cũng được áp dụng trong dạy và học môn
Tiếng Việt ở các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Kết quả khảo sát về thực hiện phương pháp, hình thức dạy học môn Tiếng
Việt cho thấy (Xem phụ lục 3: Bảng 4. Thực hiện phương pháp, hình thức dạy học
môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa,
tỉnh Đắk Nông), phương pháp được GV sử dụng tốt là phương pháp giảng giải; vấn
đáp, gợi mở, vì đây là hai phương pháp truyền thống mang tính đặc thù của bộ môn
Tiếng Việt với số điểm đánh giá trung bình là 3,09/4 điểm và 3.20/4 điểm. Phương
pháp đọc sáng tạo cũng là một phương pháp mang tính đặc thù của bộ môn và được
diễn ra trong suốt quá trình học các phân môn của môn Tiếng Việt với nhiều mục
đích và hình thức khác nhau được đánh giá với ĐTB = 2.98/4 điểm. Tiếp theo là
phương pháp nêu vấn đề, vì đây là phương pháp động não, kích thích tư duy và sự
sáng tạo của HS nên cũng được khá nhiều GV sử dụng. Xếp ở vị trí thứ cuối cùng là
phương pháp xây dựng chủ đề, dự án trong dạy học. Do đây là phương pháp mới
đòi hỏi người dạy phải có trình độ tin học, có sự liên kết giữa các GV, phải dành
nhiều thời gian tìm tòi sáng tạo thiết kế giáo án trình chiếu, biết ứng dụng công
45
nghệ thông tin trong dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn. Hiệu trưởng các
trường tiểu học trên địa bàn cần đưa ra những giải pháp quản lý thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học đạt hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt, trong
đó chú trọng sự phát huy ưu thế phương pháp dạy học cũ như vấn đáp, thuyết trình
song song kết hợp phương pháp đọc sáng tạo, nêu tình huống có vấn đề cùng với
đổi mới phương pháp trong xây dựng và thực hiện các dự án trong dạy học một
cách đồng bộ thông qua việc nâng cao nhận thức về đổi mới, bồi dưỡng trình độ
công nghệ thông tin, đầu tư mua sắm thiết bị dạy học.
Qua kết quả khảo sát về hình thức dạy học cho thấy, việc tổ chức các hình
thức dạy học trong môn Tiếng Việt còn chưa đa dạng, phong phú, tập trung chủ yếu
ở hình thức nhóm, cả nhân, cả lớp. Hình thức sơ đồ tư duy trong dạy học môn Tiếng
Việt cũng được một số GV sử dụng song chưa thường xuyên. Hình thức tổ chức tiết
học thông qua hoạt động ngoại khóa, tổ chức trải nghiệm bên ngoài lớp học còn hạn
chế. Việc tổ chức theo mô hình câu lạc bộ, giao lưu,...gần như không được thực
hiện. Nguyên nhân do nội dung và thời lượng chương trình cũng như kinh phí hạn
hẹp nên khó khăn cho việc tổ chức hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm hay mô hình
câu lạc bộ,...
Như vậy, cần có biện pháp nâng cao nhận thức với đội ngũ GV về chất
lượng dạy học Tiếng Việt qua việc tiếp thu và thực hiện các hình thức dạy học môn
Tiếng Việt. Chỉ đạo sâu sát và có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên
môn và đổi mới phương pháp và hình thức dạy học môn tiếng Việt cho GV tiểu học
thành phố Gia Nghĩa, Đắk Nông. Để tài phỏng vấn cô Đ.T.H.Đoàn (Trường Tiểu
học Thăng Long, phường Nghĩa Đức) cho biết: “Ưu điểm dễ thấy nhất của chương
trình lớp 1 là có sự chuyển hóa rõ nét về việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS. Điển hình như trước đây GV dạy âm nào thì HS chỉ biết âm đó nhưng
nay các em có thể tự tìm âm để ghép. GV chỉ cần định hướng để HS biết thêm nhiều
từ có nghĩa khác, tạo thêm sự hứng thú cho các em”.
2.2.4. Thực trạng thực hiện kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Tiếng
Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
46
Để bảo đảm hiệu quả trong thưc hiện dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL
cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông việc kiểm tra,
đánh giá là khâu quan trọng nhằm giúp cán bộ quản lý, GV nắm bắt được thực trạng
và nội dung liên quan đến triển khai các nhiệm vụ được giao.
Kết quả khảo sát về thực hiện kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Tiếng
Việt (Xem Phụ lục 3: Bảng 5. Thực hiện kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn
Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh
Đắk Nông) cho thấy, nội dung được đánh giá cao nhất là “Kiểm tra việc thực hiện
nề nếp thông qua Lịch báo giảng, sổ ghi đầu bài” với ĐTB được đánh giá là 3.00/4
điểm. Đa số CBQL và GV cho rằng việc Kiểm tra việc thực hiện nề nếp thông qua
Lịch báo giảng, Sổ ghi đầu bài được tiến hành thường xuyên, thực hiện ở mức Khá
và Tốt, có 39,56% ý kiến đánh giá Khá: 31,87% ý kiến đánh giá Tốt (tổng số ý kiến
đánh giá Khá và Tốt là 71,43%). Được biết, các trường đều thực hiện việc này theo
định kỳ hàng tháng và đó cũng là một căn cứ để xếp loại GV. Tiếp đến là tiêu chí
“Đánh giá GV bằng kết quả thi đua cuối năm” với điểm trung bình là 2.90/4 điểm.
Việc Đánh giá GV bằng kết quả thi đua cuối năm mới chỉ được thực hiện ở mức
Yếu và TB, 39,56% ý kiến đánh giá Yếu: 31,87% ý kiến đánh giá TB (tổng số ý
kiến đánh giá Yếu và TB là 71,43%). Một số CBQL cho biết, đánh giá GV bằng kết
quả thi đua cuối năm là căn cứ đánh giá quan trọng nhất hiện nay, tuy nhiên ở đa số
các trường chưa xây dựng được quy chế với các định mức cụ thể nên chủ yếu đánh
giá theo cảm tính và do vậy còn nhiều GV thắc mắc, cho rằng thiên vị, thiếu công
bằng. Các trường cần tập trung xây dựng quy chế và làm tốt công tác thi đua - khen
thưởng ở đơn vị mình.
Ngược lại các tiêu “Kiểm tra hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn”
được đánh giá ở mức ĐTB = 2.10/4 điểm với đa số các ý kiến cho rằng, việc Kiểm
tra hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn mới chỉ được thực hiện ở mức Yếu và
TB, có tới 36,26% ý kiến đánh giá Yếu: 29,67% ý kiến đánh giá TB (tổng số ý kiến
đánh giá Yếu và TB là 65,93%). Phỏng vấn một số CBQL nhiều kinh nghiệm được
biết, do chưa xây dựng được những tiêu chí đánh giá cụ thể nên khi thực hiện đánh
giá GV qua việc sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn còn lúng túng, chủ yếu đánh giá
bằng cảm tính. Hay tiêu chí “Đánh giá GV qua kết quả học tập môn Tiếng Việt của
47
HS” với mức điểm đánh giá là 2.63/4 điểm. Trong đó, đa số CBQL và GV cho
rằng: việc Đánh giá GV qua kết quả học tập môn Tiếng Việt của HS chỉ ở mức TB
và Khá, 32,97% ý kiến đánh giá TB: 31,87% ý kiến đánh giá Khá (tổng số ý kiến
đánh giá TB và Khá là 64,52%. Hỏi ý kiến một số CBQL nhiều kinh nghiệm được
biết, do lo ngại GV chạy theo thành tích mà không đánh giá đúng kết quả học tập
của HS nên đánh giá GV qua kết quả học tập môn Tiếng Việt của HS chưa thực sự
làm quyết liệt. Tỉ lệ đánh giá Yếu 13,19% cho thấy, một số trường chưa quan tâm
chỉ đạo khâu này.
Các tiêu chí còn lại như: “Đánh giá giờ dạy qua dự giờ” với ĐTB được đánh
giá là 2.6/4 điểm. Có thể nói việc Đánh giá giờ dạy qua dự giờ được tiến hành
thường xuyên và mức độ thực hiện Khá và Tốt, có 35,16% ý kiến đánh giá Khá:
30,77% ý kiến đánh giá Tốt (tổng số ý kiến đánh giá Khá và Tốt là 65,93%). Việc
dự giờ để đánh giá GV được hiệu trưởng thực hiện cả định kỳ và đột xuất. Tuy
nhiên, phỏng vấn trực tiếp một số CBQL và GV nhiều kinh nghiệm được biết, hầu
hết CBQL không thể dự đủ số giờ theo quy định của ngành. Tiêu chí “Kiểm tra việc
thực hiện chấm, chữa, trả bài, vào điểm của GV” với ĐTB = 2.87/4 điểm. Cả
CBQL và GV đều cho rằng các trường đã thường xuyên Kiểm tra việc thực hiện
chấm, chữa, trả bài, vào điểm của GV, mức độ thực hiện Khá và Tốt, 35,16% ý kiến
đánh giá Khá: 29,03% ý kiến đánh giá Tốt (tổng số ý kiến đánh giá Khá và Tốt là
64,84%). Đây là một công việc thường xuyên, định kì của Phó hiệu trưởng chuyên
môn. Một số GV nhiều kinh nghiệm cho biết: cần phải chỉ đạo tổ Tiếng Việt quản
lý việc nhận xét chung và lời phê cụ thể cho từng bài làm của HS. Bên cạnh đó, GV
chưa có các biện pháp nhằm giúp HS tự đánh giá bài làm của mình, tự thấy cái sai
và chủ động tìm cách khắc phục.
2.2.5. Thực trạng các phương tiên, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy
học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường
tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Các phương tiên, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học môn Tiếng Việt
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông được quan tâm đầu tư:
48
Bảng 2.2. Thực trạng sử dụng phương tiên, trang thiết bị trong dạy học môn
Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa,
tỉnh Đắk Nông
Yếu
Tốt
Khá
ĐTB
TT
Nội dung
SL %
%
%
%
Mức đánh giá Trung bình S L
S L
S L
0
39.56 32 35.17
20 21.98
3
3.30
36
3.11
1
0
27.47 30 32.97
24 26.34
12 13.19
25
2.74
2
3
19.78 21 23.08
26 28.57
26 28.57
18
2.34
3
4
24.18 29 31.87
32 35.17
8
8.79
22
2.71
4
Phương tiện truyền thống (Bảng, phấn, tranh, ảnh...) Phương tiện nghe nhìn (băng video, đĩa CD, DVD micro..., đài catsette) Phương tiện truyền thông đa chiều(máy chiếu LCD, máy tính…). Các đồ dùng học tập, trang thiết bị khác Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Kết quả khảo sát về thực trạng sử dụng phương tiện, trang thiết bị cho thấy,
nội dung được đánh giá cao nhất là “Phương tiện truyền thống (Bảng, phấn, tranh,
ảnh...)” với điểm đánh giá trung bình là 3.11/4 điểm (Trong đó: 39.56% người được
hỏi đánh giá ở mức độ tốt, 35.17% đánh giá khá và chỉ có 3.30% đánh giá yếu).
Tiếp đến là “Phương tiện nghe nhìn (băng video, đĩa CD, DVD micro..., đài
catsette)” được đánh giá ở mức 2.74/4 điểm tương đương với mức trung bình khá.
Ngược lại, nội dung “Phương tiện truyền thông đa chiều(máy chiếu LCD, máy
tính…)” chưa được đánh giá cao vì hiện nay hầu hết các thầy cô chưa được tập huấn
về sử dụng các thiết bị số mới việc sử dụng và ứng dụng các trang thiết bị truyền
thống vẫn được ưu tiên.Cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật, thiết bị dạy học là một
thành tố không thể thiếu của quá trình dạy học, góp phần quan trọng cho GV dạy
học đạt kết quả cao, chúng hỗ trợ tích cực cho việc triển khai phương pháp dạy học
tích cực, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS do vậy có ảnh hưởng rất
lớn tới hiệu quả thực hiện dạy học phát triển năng lực. Hiểu được tầm quan trọng
của vấn đề này, các trường tiểu học thành phố Gia Ngĩa đã có nhiều cố gắng đầu tư
mua sắm để hỗ trợ đắc lực cho thực hiện đổi mới PPDH theo phát triển năng lực.
49
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
2.3.1. Thực trạng quản lý mục tiêu, kế hoạch hoạt động dạy học môn
Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học
thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Để đảm bảo hiệu quả trong quá trình xây dựng mục tiêu, thực hiện mục tiêu
dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa theo ĐHPTNL
thì người Hiệu trưởng, các CBQL liên quan cần phải thực hiện nhiệm vụ quản lý
mục tiêu, kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt.
Kết quả khảo sát về thực hiện quản lý mục tiêu, kế hoạch hoạt động dạy học
môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa
(Xem Phụ lục 3: Bảng 6. Kết quả khảo sát về thực hiện quản lý mục tiêu, kế hoạch
hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông) cho thấy, các nội dung được được đánh giá cao là
“Tổ trưởng bộ môn đánh giá kế hoạch bài giảng dựa trên mục tiêu môn học đã xác
định” với ĐTB được đánh giá là 3.10/4 điểm. Trong đó có 32.77% CBQL và GV
đánh giá tốt, 48.35% đánh giá ở mức khá và chỉ có 4.40% đánh giá mức yếu. Tiếp
đến là tiêu chí “Xây dựng kế hoạch dự giờ kiểm tra việc thực hiện mục tiêu dạy
học” với ĐTB được đánh giá là 3.04/4 điểm, trong đó có 30.77% CBQL và GV
đánh giá là thực hiện tốt, 47.25% đánh giá thực hiện khá.
Ngược lại, tiêu chí “Tổ chức trao đổi việc thực hiện mục tiêu môn Tiếng Việt
trong tổ bộ môn” chưa được đánh giá cao với mức điểm đánh giá trung bình từ
CBQL và GV là 1.84/4 điểm. Trong đó, có đến 48.35% người được hỏi cho rằng
các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa hiện nay thực hiện việc này
rất yếu, chỉ có 8.79% CBQL và GV đánh giá tốt.
Đối với tiêu chí “Chỉ đạo tổ chuyên môn phổ biến mục tiêu dạy học môn
Tiếng Việt trước khi xây dựng kế hoạch giảng dạy” với ĐTB được tổng hợp là
2.85/4 điểm được hiệu trưởng các nhà trường quan tâm nhất vì mục tiêu dạy học có
vài trò là hướng định, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của nhà trường nói chung và hoạt
động dạy học môn Tiếng Việt nói riêng hướng đến và đặt biệt mục tiêu cũng là
50
thước đo về hiệu quả dạy học mà các nhà trường sẽ đạt được sau một học kỳ, một
năm học. Với vai trò đó nên nội dung chỉ đạo tổ chuyên môn phổ biến mục tiêu dạy
học môn Tiếng Việt trước khi xây dựng kế hoạch giảng dạy được HT các trường
thực hiện ở mức Khá và Tốt, có 38,46% ý kiến đánh giá Khá: 27,47% ý kiến đánh
giá Tốt (tổng số ý kiến đánh giá Khá và Tốt là 65,93%).
Bước tiếp theo của quy trình được HT các trường cũng quan tâm đó là vấn
đề “xây dựng kế hoạch kiểm tra việc thiết kế bài giảng theo chuẩn kiến thức kỹ
năng và mục tiêu môn học” điều này giúp HT các trường xem xét việc xác định các
chuẩn kiến thức, kỹ năng của GV có phù hợp với mục tiêu và những yêu cầu, điều
kiện của nhà trường hay không, qua đó HT có sự góp ý, điều chỉnh và chuẩn hóa
phần xây dựng của GV. Sau bước chuẩn hóa, ký duyệt ban hành chuẩn hóa về mục
tiêu, chuẩn kiến thức kỹ năng và thái độ thì mục tiêu sẽ được triển khai cụ thể đến
từng tổ bộ môn, GV qua đó tiến hành họp và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ năm
học củ môn tiếng việt cùng với kế hoạch chung của nhà trường.
2.3.2. Thực trạng quản lý nội dung, chương trình dạy học môn Tiếng Việt
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố
Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Chương trình, kế hoạch dạy học nói chung và dạy học môn Tiếng Việt nói
riêng là một việc làm cần tính tỉ mỉ và sát sao của người HT. Trên cơ sở bản kế
hoạch năm học, chương trình môn học HT phải thông qua Thời khóa biểu, hồ sơ bài
giảng, sổ lên lớp... để quản lý chương trình giảng dạy của GV.
Về thực hiện quản lý nội dung, chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, kết quả khảo sát cho
thấy (Xem Phụ lục 3: Bảng 7. Kết quả khảo sát về thực hiện quản lý nội dung,
chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học
thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông), nội dung được các CBQL và GV các trường
tiểu học trên địa bàn đánh giá cao nhất là “quản lý giờ dạy của GV thông qua TKB,
Kế hoạch dạy học, Sổ bài giảng, Sổ ghi đầu bài” với 3.47/4 điểm. Đa số CBQL và
GV đều cho rằng, việc quản lý giờ dạy của GV thông qua TKB, Kế hoạch dạy học,
Sổ báo giảng, Sổ ghi đầu bài được tiến hành thường xuyên và mức độ thực hiện Tốt
và Khá, với 51,65% ý kiến đánh giá Tốt: 43,96% ý kiến đánh giá Khá (tổng số ý
51
kiến đánh giá Tốt và Khá là 95,60%). Với tỉ lệ đánh giá khá và tốt cao nhất, tỉ lệ
đánh giá loại yếu bằng 0 cho thấy các trường làm rất tốt việc quản lý giờ dạy của
GV thông qua TKB, Kế hoạch dạy học, Sổ báo giảng, Sổ ghi đầu bài. Và đây cùng
là khâu được thực hiện tốt nhất trong quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn
Tiếng Việt. Tuy nhiên, đây là công việc định kỳ của nhà trường và cũng là một
công việc chỉ mang tính hành chính. Tiếp đến là tiêu chí “Phối hợp với tổ trưởng để
quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt” với ĐTB =
3.08/4 điểm. Trong đó, đa số các ý kiến cho rằng, việc Phối hợp với tổ trưởng để
quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt là thường
xuyên và mức độ thực hiện Khá và Tốt, có 50,55% ý kiến đánh giá Khá: 30,77% ý
kiến đánh giá Tốt (tổng số ý kiến đánh giá Khá và Tốt là 81,32%). Điều đó cho thấy
BGH các trường luôn chủ động phối hợp với TTCM trong quản lý việc thực hiện
chương trình, kế hoạch dạy học môn Tiếng việt của GV. Phỏng vấn một số GV
được biết, việc kiểm tra Sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài, Sổ kế hoạch giảng dạy và ghi
chép chuyên môn là công việc định kỳ hàng tháng của TTCM, TTCM báo cáo kết
quản ngay sau kiểm tra cho hiệu trưởng. Tiêu chí “Điều chỉnh sự phân công cho
hợp lý hơn” cũng được đánh giá với mức điểm 3.08/4 điểm. Có thể nói sau khi phân
công cần có sự điều chỉnh cho hợp lý hơn, cách làm này được CBQL và GV các
trường nhận xét là mức độ thực hiện khá và tốt, có tới 42,86% ý kiến đánh giá Khá:
34,07% ý kiến đánh giá Tốt (tổng số ý kiến đánh giá Khá và Tốt là 76,92%). Thực
tế cho thấy phân công dạy học môn Tiếng Việt được nhà trường rất quan tâm chỉ
đạo, tuy nhiên vẫn có những trường hợp GV dạy nhiều lớp, GV dạy ít lớp là do
trình độ chuyên môn giữa các GV không đồng đều nên việc điều chỉnh lại ở một số
trường không hề đơn giản. Chỉ có 3,30% ý đánh giá yếu, cho thấy đây là khâu được
thực hiện tốt nhất trong quản lý phân công dạy học môn Tiếng Việt ở các trường
tiểu học thành phố Gia Nghĩa.
Ngược lại các tiêu chí chưa được đánh giá cao gồm: Tiêu chí “Tổ chức thảo
luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy môn Tiếng Việt” với ĐTB được đánh giá
là 2.00/4.00 điểm. Việc Tổ chức thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy
môn Tiếng Việt chưa được tiến hành thường xuyên và thực hiện chỉ ở mức Yếu và
TB, với 39,56% ý kiến đánh giá Yếu: 29,67% ý kiến đánh giá TB (tổng số ý kiến
52
đánh giá Yếu và TB là 69,23%). Tỉ lệ đánh giá Yếu cao nhất cho thấy, đây là khâu
yếu nhất trong quản lý chuẩn bị kế hoạch bài dạy môn Tiếng Việt. Phỏng vấn trực
tiếp một số CBQL và GV, thấy rằng việc quản lý chuẩn bị kế hoạch bài dạy môn
Tiếng việt được thực hiện thường xuyên nhưng việc tổ chức thảo luận, đóng góp ý
kiến về kế hoạch bài dạy môn Tiếng Việt còn hạn chế, một số trường thậm chí
không tổ chức được do không phân bố được thời gian, nhưng chủ yếu là do tâm lý
ngại “va chạm”. Tiếp đến là tiêu chí “Xây dựng chuẩn giờ lên lớp theo các yêu cầu
về mục tiêu, nội dung, PPDH tích cực” với ĐTB được đánh giá là 2.40/4 điểm. Đa
số CBQL và GV cho rằng, việc Xây dựng chuẩn giờ lên lớp theo các yêu cầu về
mục tiêu, nội dung, PPDH tích cực là không thường xuyên và thực hiện chỉ ở mức
TB và khá, có tới 30,77% ý kiến đánh giá TB: 26,37% ý kiến đánh giá Khá (tổng số
ý kiến đánh giá TB và Khá là 57,14%). Phỏng vấn trực tiếp một số GV nhiều kinh
nghiệm cho thấy các trường có tổ chức hướng dẫn GV thực hiện giờ lên lớp nhưng
chưa xây dựng được chuẩn cho giờ lên lớp của GV. Đây cũng là khâu yếu nhất
trong quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn Tiếng việt. Điều đó cho thấy rất
cần thiết phải triển khai dạy học môn Tiếng Việt theo phát triển năng lực HS.
Các tiêu chí còn lại như: “Chỉ đạo tổ chuyên môn phổ biến chương trình, kế
hoạch dạy học môn Tiếng Việt ở các khối lớp” với 2.81/4 điểm; “Tổ bộ môn tổ
chức hướng dẫn, xây dựng kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt” với ĐTB = 2.66/4
điểm… hay tiêu chí “Tổ chức cho tổ bộ môn dự giờ và phân tích giờ dạy của GV”
với điểm đánh giá cũng ở mức trung bình 2.55/4 điểm. Trong đó, đa số các ý kiến cho
rằng việc Tổ chức cho tổ bộ môn dự giờ và phân tích giờ dạy của GV được thực hiện
ở mức TB và Khá, có tới 32,97% ý kiến đánh giá TB: 25,81% ý kiến đánh giá Khá
(tổng số ý kiến đánh giá TB và Khá là 59,34%). Một số CBQL và GV nhiều kinh
nghiệm cho rằng: thứ nhất, rất khó có thể dự đủ số tiết theo quy định; thứ hai, việc tổ
chức dự giờ và phân tích giờ dạy của GV còn nặng hình thức, có thể do thiếu thẳng
thắn, ngại va chạm của một bộ phận CBQL cũng như GV, việc tổ chức cả tổ bộ môn
cùng dự giờ rất ít được thực hiện vì khó bố trí thời gian. Đây cũng khâu rất yếu trong
quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn Tiếng Việt hiện nay (17,58%).
53
2.3.3. Thực trạng quản lý hình thức, phương pháp dạy học môn Tiếng Việt
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố
Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Hàng năm, việc quản lý hình thức, phương pháp dạy học môn Tiếng Việt theo
định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa
được quan tâm triển khai:
Bảng 2.3. Thực hiện quản lý hình thức, phương pháp dạy học môn Tiếng Việt
theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Yếu Khá Tốt ĐTB TT Nội dung Mức đánh giá Trung bình
SL % SL % SL % SL %
1 34 37.36 28 30.77 26 28.57 3 3.30 3.02
2 33 36.26 34 37.36 20 21.98 4 4.39 3.05
3 31 34.07 41 45.06 12 13.19 7 7.69 3.05
4 23 25.28 37 40.66 18 19.78 13 14.29 2.77
5 26 28.57 38 41.76 24 26.37 3 3.30 2.95
Quy định chuyên môn về thực hiện đổi mới hình thức, phương pháp dạy học Nâng cao nhận thức về đổi mới hình thức, phương pháp dạy học Xây dựng kế hoạch đổi mới hình thức, phương pháp dạy học Rà soát, đánh giá hình thức, phương pháp dạy học Khuyến khích, hỗ trợ đổi mới hình thức, phương pháp dạy học Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Kết quả khảo sát CBQL và GV các trường tiểu học Thành phố Gia Nghĩa về
quản lý hình thức và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho
học sinh cho thấy: Nội dung được đánh giá cao nhất là “Nâng cao nhận thức về đổi
mới hình thức, phương pháp dạy học” với ĐTB là 3.05/4 điểm (trong đó: 36.26%
CBQL và GV đánh giá tốt; 37.36% đánh giá Khá; 21.98% đánh giá Trung bình và
54
4.39% đánh giá yếu). Tương tự, nội dung “Xây dựng kế hoạch đổi mới hình thức,
phương pháp dạy học” cũng được đánh giá với mức điểm trung bình là 3.05/4 điểm.
Ngược lại, nội dung “Rà soát, đánh giá hình thức, phương pháp dạy học” chưa được
đánh giá cao với điểm trung bình được đánh giá là 2.77/4 điểm. Đề tài phỏng vấn
thầy N.V.H (Hiệu trưởng) về quản lý đổi mới phương pháp, hình thức dạy học môn
Tiếng Việt trong Nhà trường hiện nay: Theo thầy mỗi phương pháp dạy học đều có
những ưu điểm và tác dụng khác nhau, do vậy nhà trường yêu cầu thầy cô cần lựa
chọn phương pháp phù hợp với nội dung bài học và năng lực HS. Nhưng dù lựa
chọn phương pháp dạy học nào, thì GV vẫn phải là người luôn tích cực hóa các
hoạt động của HS, chuyển giao nhiệm vụ một cách hợp lý. Vì thế, GV cần vận dụng
linh hoạt phương pháp, không lạm dụng, độc tôn một phương pháp nào cả. Bảo
đảm mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực được
thực hiện như đã đề ra.
2.3.4. Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng
Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Kết quả khảo sát về thực hiện quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa
(Xem Phụ lục 3: Bảng 8. Thực hiện quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn
Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh
Đắk Nông), cụ thể như sau:
Tiêu chí được đánh giá cao nhất là “Kiểm tra giáo án và hồ sơ cá nhân” với
điểm trung bình đánh giá từ CBQL và GV là 3.12/4 điểm. Việc Kiểm tra giáo án và
hồ sơ cá nhân được tiến hành thường xuyên, mức độ thực hiện Khá và Tốt, 41,94%
ý kiến đánh giá Khá: 35,16% ý kiến đánh giá Tốt (tổng số ý kiến đánh giá Khá và
Tốt là 76,92%). Điều này cho thấy các trường đã thực hiện khá nghiêm túc việc
kiểm tra hồ sơ cá nhân GV. Kiểm tra giáo án và hồ sơ cá nhân cũng là công việc
thường kỳ của nhà trường.
Ngược lại tiêu chí được đánh giá thấp nhất là “Tổ bộ môn tổ chức tập huấn
KT-ĐG kết quả học tập của HS theo phát triển năng lực” với ĐTB = 1.96/4 điểm.
trong đó, đa số các ý kiến cho rằng, việc Tổ bộ môn tổ chức tập huấn KT-ĐG kết
55
quả học tập của HS theo phát triển năng lực được thực hiện ở mức Yếu và TB, có
tới 42,86% ý kiến đánh giá Yếu: 27,47% ý kiến đánh giá TB (tổng số ý kiến đánh
giá Yếu và TB là 70,33%). Điều đó cho thấy, đa số các hiệu trưởng chưa tập trung
chỉ đạo việc tập huấn bồi dưỡng KT-ĐG kết quả học tập của HS cho GV. Một số
CBQL và GV nhiều kinh nghiệm cho biết: tổ trưởng bộ môn mới chỉ được phát
triển với những nguồn tài liệu chỉ hướng dẫn chung cho tất cả các môn, chưa có cụ
thể cho môn Tiếng Việt nên chưa mạnh dạn tập huấn đổi mới KT-ĐG kết quả học
tập của HS theo phát triển năng lực cho GV.
Các tiêu chí còn lại được đánh giá ở mức khá như “Chỉ đạo xây dựng quy
trình ra đề, kiểm duyệt các đề kiểm tra” với 2.58/4 điểm. Theo như nhận xét, đánh
giá của đa số CBQL và GV, việc Chỉ đạo xây dựng quy trình ra đề, kiểm duyệt các
đề kiểm tra ở các trường được thực hiện chỉ ở mức TB và Khá, 32,97% ý kiến đánh
giá TB: có 29,67% ý kiến đánh giá Khá (tổng số ý kiến đánh giá TB và Khá là
62,64%). Ý kiến của một số CBQL và GV nhiều kinh nghiệm cho biết, việc kiểm
duyệt các đề kiểm tra nhiều khi chỉ là hình thức, còn hầu hết chưa xây dựng cụ thể
quy trình ra đề. “Phân tích kết quả, phân loại học tập của HS theo phát triển năng
lực” là 2.36/4 điểm. Nhận xét của CBQL và GV đều cho rằng việc Phân tích kết quả,
phân loại học tập của HS theo phát triển năng lực chưa được làm thường xuyên và mức
độ thực hiện chỉ ở mức TB và Khá, 35,16% ý kiến đánh giá TB: có 27,47% ý kiến
đánh giá Khá (tổng số ý kiến đánh giá TB và Khá là 62,64%). Phỏng vấn một số hiệu
trưởng, tổ trưởng bộ môn nhiều kinh nghiệm được biết, việc phân tích kết quả học tập
của HS qua các bài kiểm tra vẫn được thực hiện, tuy nhiên theo hướng phát triển năng
lực thì chưa làm cặn kẽ. Với 21,98% ý kiến đánh giá Yếu cho thấy còn nhiều trường
chưa quan tâm thực hiện việc phân tích kết quả, phân loại học tập của HS theo phát
triển năng lực.
Hay tiêu chí “Ứng dụng CNTT trong quản lý kết quả học tập của HS” được
đánh giá cao hơn một chút là 2.73/4 điểm. Việc Ứng dụng CNTT trong quản lý kết
quả học tập của HS được thực hiện thường xuyên và mức độ thực hiện Khá và Tốt,
32,97% ý kiến đánh giá Khá: 27,47% ý kiến đánh giá Tốt (tổng số ý kiến đánh giá
Khá và Tốt là 60,44%). Tuy nhiên, tỉ lệ đánh giá loại TB và loại Yếu cũng khá cao,
có 24,18% ý kiến đánh giá TB: 15,38% ý kiến đánh giá Yếu cho thấy ở một số
56
trường việc này chưa được quản lý hiệu quả. Nguyên nhân được xác định là do hệ
thống máy tính cấu hình thấp, mặt khác GV vào điểm trong phần mềm nhưng Phòng
GD lại lấy sổ điểm lớp chủ nhiệm làm hồ sơ chính do vậy việc ứng dụng CNTT trong
quản lý kết quả học tập của HS chưa được thực hiện nghiêm túc.
2.3.5. Thực trạng quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều
kiện hỗ trợ dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học
sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Thực hiện quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ
dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông được quan tâm triển khai. Kết quả khảo sát (Xem Phụ lục 3:
Bảng 10. Thực hiện quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ
trợ dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố
Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông) cho thấy, các nội dung về quản lý các phương tiện, thiết
bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS
các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông được đánh giá ở mức khá
và tốt. Trong đó tiêu chí “Khen thưởng, động viên GV sử dụng có hiệu quả cơ sở
vật chất, thiết bị dạy học, phương tiện kỹ thuật” được đánh giá cao nhất với ĐTB =
3.12/4 điểm với 36.26% CBQL và GV đánh giá tiêu chí này ở mức tốt, 39.56%
đánh giá ở mức khá.
Ngược lại, tiêu chí “Xây dựng nội quy sử dụng cơ sở vật chất, phương tiện
dạy học” và “Tổ chức cuộc thi viết sáng kiến kinh nghiệm cải tiến kỹ thuật, thiết kế
các phương tiện phục vụ hoạt động học tập” được đánh giá ở mức 3.05/4 điểm là
những tiêu chí được đánh giá thấp hơn.
Bên cạnh đó, công tác xây dựng kế hoạch mua sắm và sử dụng trang thiết bị
dạy học được thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, việc tăng cường cho GV kiến thức về
công nghệ thông tin và kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại và thực hiện
chế độ khen thưởng, động viên GV sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học, phương tiện kỹ thuật chỉ đạt mức trung bình. Bên cạnh đó, hoạt động tổ chức
các cuộc thi viết sáng kiến kinh nghiệm cải tiến kỹ thuật, thiết kế các phương tiện
phục vụ hoạt động học tập có được tiến hành nhưng chưa nhiều. Do vậy, cần tăng
cường biện pháp quản lý, bồi dưỡng kiến thức về công nghệ thông tin, kĩ năng sử
57
dụng thiết bị dạy học hiện đại và chú trọng động viên, khen thưởng kịp thời những
GV sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phương tiện kỹ thuật dạy
học. Đề tài phỏng vấn cô T.T.Yến (Trường Tiểu học Võ Thị Sáu ở phường Nghĩa
Thành), cho biết: “Chương trình sách giáo khoa lớp 1 mới có nhiều hình ảnh. Việc
ứng dụng công nghệ thông tin để trình chiếu hình ảnh minh họa sẽ giúp HS hứng
thú hơn, nội dung bài học được chuyển tải nhiều hơn. Đây là thuận lợi dễ thấy
nhưng không phải lúc nào GV cũng có máy để trình chiếu”.
2.4. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt
động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học
sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Tiến hành lấy ý kiến của CBQL và GV các trường tiểu học trên địa bàn thành
phố Gia Nghĩa về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến QLHĐDH môn Tiếng Việt
theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
(Xem Phụ lục 3: Bảng 9. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến QLHĐDH môn
Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh
Đắk Nông), kết quả cho thấy, các yếu tố đề xuất đều có ảnh hưởng rất lơn đến quá
trình QLHĐDH theo ĐHPTNL trong môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học trên
địa bàn thành phố Gia Nghĩa, trong đó yếu tố “Nhận thức và năng lực QLHĐDH
môn tiếng Việt của cán bộ quản lý ở các trường tiểu học” có mức ảnh hưởng lớn
nhất với ĐTB = 3.74/4 điểm. Trong đó, đa số CBQL và GV đều cho rằng yếu tố này
rất ảnh hưởng đến quá trình quản lý với 74.72%. Tiếp đến là yếu tố “Phương
hướng, mục tiêu phát triển mới của nhiệm vụ giáo dục của Nhà trường” với ĐTB =
3.58./4 điểm, bao gồm: 61.54% CBQL và GV đánh giá là rất ảnh hưởng, 35.16%
đánh giá là ảnh hưởng.
Các tiêu chí còn lại đều được đánh giá ở mức điểm cao như “Trình độ, năng
lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ GV giảng dạy môn tiếng Việt và sựu hứng
thú học tập của HS” với 3.54/4 điểm; “Đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện dạy
học và điều kiện xã hội của địa phương” với 3.45/4 điểm và “Chương trình, nội
dung, kế hoạch và các văn bản pháp quy về QLHĐDH môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học” với 3.36/4 điểm. Kết quả khảo sát cho thấy
các trường tiểu học trong quá trình triển khai thực hiện quản lý cần quan tâm đến
58
các yếu tố trên nhằm đề xuất được các biện pháp phù hợp nhất đối với quá trình
QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS.
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn
Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu
học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
2.5.1. Kết quả đạt được
Công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ dạy học đã đạt được những
thành công đáng khích lệ, nhiều nội dung quản lý đã được thực hiện hiệu quả:
Trong quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát
triển năng lực HS, đã chỉ đạo tổ trưởng bộ môn làm tốt việc đánh giá kế hoạch bài
giảng dựa trên mục tiêu môn học; kế hoạch dự giờ kiểm tra việc thực hiện mục tiêu
dạy học được xây dựng khoa học, phù hợp;
Trong quản lý chương trình, nội dung dạy học môn Tiếng Việt, việc phối
hợp với tổ trưởng để quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học môn
Tiếng Việt, việc điều chỉnh sự phân công cho hợp lý, việc quản lý giờ dạy của GV
thông qua TKB, Kế hoạch dạy học, Sổ báo giảng, Sổ ghi đầu bài được chỉ đạo thực
hiện thường xuyên, nề nếp dạy học được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc;
Trong quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt
theo hướng phát triển năng lực HS. Việc kiểm tra giáo án và hồ sơ cá nhân, lịch báo
giảng, sổ ghi đầu bài và kiểm tra việc thực hiện chấm, chữa, trả bài, vào điểm của
GV đã được tổ chức thực hiện nghiêm túc, khách quan.
Đội ngũ GV Tiếng Việt các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, Thành phố
Đắk Nông đa số có năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu dạy học, cơ bản
được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn, có kinh nghiệm giảng dạy, có phẩm chất đạo
đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao.
2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.5.2.1. Hạn chế
Bên cạnh những nội dung quản lý đã được quan tâm triển khai thực hiện hiệu
quả nêu trên, vẫn còn rất nhiều những hạn chế:
59
Trong quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo hướng
phát triển năng lực HS, việc tổ chức trao đổi thực hiện mục tiêu môn Tiếng Việt
trong tổ bộ môn chưa được triển khai thực hiện hoặc thực hiện hình thức;
Trong quản lý chương trình, nội dung dạy học môn Tiếng Việt, một số nhiệm
vụ chưa được quan tâm đúng mực dẫn tới triển khai chưa triệt để như: việc phối hợp
với tổ trưởng để quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học; việc tổ
chức thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy môn Tiếng Việt;
Trong quản lý thực hiện phương pháp, phương tiện và các điều kiện hỗ trợ
dạy học môn Tiếng Việt, nhiều công việc chưa được tập trung chỉ đạo như: việc phổ
biến cho GV về chủ trương, định hướng dạy học theo phát triển năng lực, việc tổ
chức cho GV học tập, bồi dưỡng, nắm vững PPDH tích cực, việc hướng dẫn thiết kế
bài dạy theo hướng tiêp cận năng lực, việc tổ chức cho tổ bộ môn cùng thiết kế giáo
án, thao giảng, dự giờ, rút kinh nghiệm. Dẫn tới hiệu quả sinh hoạt chuyên môn
thấp, GV không được bồi dưỡng đầy đủ về đổi mới PPDH theo hướng phát triển
năng lực, đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng dạy học;
Cơ sở vật chất, trang - thiết bị dạy học môn Tiếng Việt ở các nhà trường chỉ đáp
ứng nhu cầu dạy học tối thiểu, chưa thể đáp ứng tốt yêu cầu dạy học môn Tiếng Việt
theo hướng phát triển năng lực HS. Nhiều trường quản lý chưa hiệu quả việc sử dụng,
bảo quản và đầu tư mới các PTKT, ĐDDH môn Tiếng Việt theo hướng hiện đại gây
khó khăn rất lớn cho việc thực hiện dạy học theo hướng phát triển năng lực;
Trong quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt
theo hướng phát triển năng lực HS, việc kiểm tra hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm
chuyên môn chưa được thực hiện nghiêm túc làm cho việc sinh hoạt tổ chuyên môn
không thiết thực. Việc đánh giá GV bằng kết quả thi đua cuối năm chưa được coi
trọng, chưa xây dựng được quy chế thi đua- khen thưởng dẫn tới đánh giá bằng cảm
tính gây dự luận không tốt. Việc tổ chức tập huấn KT-ĐG kết quả học tập của HS
theo phát triển năng lực chưa được tập trung chỉ đạo, GV lúng túng khi triển khai
thực hiện.
Những hạn chế trong công tác quản lý nêu trên đã tác động rất lớn tới việc tổ
chức dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực HS, hạn chế sự phát
triển tích cực của chất lượng dạy học.
60
2.5.2.2. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên, nhưng nguyên nhân
chính bắt nguồn từ công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
Thứ nhất, do nhận thức về quản lý và dạy học theo tiếp cận năng lực của
một bộ phận CBQL và GV còn chưa thực sự đúng trong môn Tiếng Việt. Việc tổ
chức cho đội ngũ GV trao đổi thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt trong tổ
bộ môn chưa được triển khai thực hiện hoặc thực hiện hình thức là do chưa đánh giá
đúng tầm quan trọng của việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt, cho rằng
mục tiêu dạy học ít thay đổi nên nhiều đơn vị không tổ chức thảo luận hoặc tổ chức
qua loa, nhiều GV không lắm chắc mục tiêu dạy học.
Thứ hai, hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GV Tiếng
Việt về dạy học theo tiếp cận năng lực chưa được quan tâm đúng mực. Chưa xây
dựng được đội ngũ GV cốt cán đủ mạnh để đảm nhận vai trò “chim đầu đàn” có
tiếng nói thuyết phục với tập thể, nguồn tài liệu về đổi mới PPDH theo hướng phát
triển năng lực chưa phổ biến nên việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức, nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cho GV không được thực hiện tốt là nguyên nhân chính
dẫn đến việc tổ chức cho GV học tập, bồi dưỡng, nắm vững PPDH tích cực, việc
hướng dẫn thiết kế bài dạy theo hướng tiêp cận năng lực, việc tổ chức tập huấn KT-
ĐG kết quả học tập của HS theo phát triển năng lực … chưa đạt được thực hiện
thường xuyên và kém hiệu quả.
Thứ ba, hoạt động chỉ đạo thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn, tăng
cường các hoạt động trong dạy học tiếp cận năng lực HS trong môn Tiếng Việt
nhiều lúc còn chưa được thường xuyên. Vai trò của tổ chuyên môn không được
đánh giá đúng, tổ chức sinh hoạt chuyên môn kém hiệu quả đặc biệt là vai trò của
TTCM bị xem nhẹ nên sự phối hợp với tổ trưởng để quản lý việc thực hiện chương
trình, kế hoạch dạy học, việc hướng dẫn thiết kế bài dạy theo hướng tiêp cận năng
lực, việc tổ chức thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy, việc tổ chức cho
tổ bộ môn cùng thiết kế giáo án, thao giảng, dự giờ, rút kinh nghiệm… không được
thực hiện thường xuyên, nặng hình thức.
Thứ tư, các phương tiện và trang thiết bị dạy học theo tiếp cận năng lực trong
môn Tiếng Việt của một số thầy, cô giáo chưa hiệu quả. Việc đầu tư trang thiết bị
61
chưa đi kèm với hướng dẫn, tập huấn sử dụng. Các trang thiết bị không được suwer
dụng liên thông giữa các môn học qua đó vận dụng tối đa hiệu quả của hoạt động
đầu tư.
Thứ năm, hoạt động chỉ đạo kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng
Việt theo hướng phát triển năng lực HS chưa thường xuyên và chưa mang lại hiệu
quả cao nhất. Công tác kiểm tra còn nhiều hạn chế, việc kiểm tra không được thực
hiện thường xuyên, không định lượng được tiêu chuẩn đánh giá gây khó khăn cho
quá trình đổi mới kiểm tra - đánh giá chất lượng dạy học theo phát triển năng lực là
nguyên nhân chính dẫn tới việc kiểm tra hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn
chưa được thực hiện nghiêm túc, việc đánh giá GV bằng kết quả thi đua cuối năm
thiếu công bằng, bị cảm tính chi phối.
Thứ sáu, hoạt động khuyến khích, khen thưởng những tấm gương, những
hoạt động sáng tạo, đổi mới trong dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực
còn chưa kịp thời. Những nguyên nhân chủ yếu nêu trên đã dẫn tới những hạn chế,
bất cập trong thực trạng QLHĐDH theo hướng phát triển năng lực HS, ảnh hưởng
lớn đến chất lượng hiệu quả dạy học.
Tiểu kết chương 2
Nghiên cứu thực trạng QLHĐDH môn tiếng Việt ở các trường tiểu học thành
phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, chúng tôi thấy: trong những năm qua, các cơ quan
quản lý giáo dục, cán bộ quản lý các nhà trường đều nhận thức được tầm quan trọng
của QLHĐDH các môn học nói chung và quản ý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt
nói riêng. Kết quả khảo sát, điều tra cho thấy có nhiều ưu điểm nổi bật trong quản lý
hoạt động giảng dạy và học tập môn tiếng Việt ở các trường tiểu học. Đội ngũ GV
phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu; sự chỉ đạo sâu sát của cơ quan chủ
quản tạo điều kiện cho cán bộ quản lý các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh
Đắk Nông hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý nhà trường theo chức năng nhiệm vụ.
Bên cạnh những điểm mạnh, công tác QLHĐDH môn tiếng Việt ở các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông vẫn còn tồn tại những hạn chế,
thiếu sót ở những khía cạnh khác nhau. Do vậy, cần có các biện pháp QLHĐDH
môn tiếng Việt ở các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Đây là
nội dung được trình bày cụ thể ở chương 3.
62
Chương 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường
tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn mới kế thừa những mặt
mạnh thành công trong thực trạng quản lý đạy học môn tiếng Việt đã và đang thực hiện
trong nhà trường tiểu học và khắc phục những điểm hạn chế, điểm yếu trong quá trình
thực hiện quản lý dạy học. Làm như vậy sẽ phát huy được sức mạnh của cả những biện
pháp quản lý dạy học cũ và mới trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Việt
cho học sinh và phát triển năng lực cho học sinh.
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường
tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông trong các mối quan hệ: Dạy học môn
tiếng Việt, năng lực học sinh, các yếu tố ảnh hưởng và mối quan hệ giữa các biện pháp
quản lý dạy học môn tiếng Việt cũ và mới; giữa các biện pháp quản lý dạy học môn
tiếng Việt đề xuất trong một hệ thống tổng thể thống nhất với nhau.
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp
Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường
tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông phù hợp: a) Phù hợp với môn tiếng Việt
cấp tiểu học; b) Phù hợp với học sinh tiểu học và năng lực học sinh tiểu học; c) Phù
hợp với đổi mới giáo dục và đổi mới dạy học môn tiếng Việt hiện nay; d) Phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng nhà trường khi tổ chức dạy học môn tiếng Việt cho
học sinh.
63
3.2. Các biện pháp đề xuất
3.2.1. Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho giáo
viên, cán bộ quản lý về quản lý dạy học và dạy học theo hướng phát triển
năng lực học sinh
3.2.1.1. Mục tiêu của biện pháp
Trên cơ sở hiểu biết về chủ trương, định hướng chuyển từ chương trình định
hướng nội dung sang chương trình định hướng năng lực, các giải pháp thực hiện đổi
mới PPDH và đặc biệt là hướng đổi mới PPDH môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học,
hiệu trưởng giúp cho GV biết được tại sao phải đổi mới PPDH theo hướng phát
triển năng lực, và làm cho GV nhận thấy đấy là một yêu cầu không thể thiếu trong
việc phát triển nghề nghiệp của người GV cũng như việc phát triển nâng cao chất
lượng GD&ĐT của mỗi nhà trường.
Việc QLHĐDH theo hướng tiếp cận năng lực HS chỉ thực sự thành công khi
đội ngũ GV có nhận thức đúng đắn, tư tưởng thông suốt, ý thức được vai trò và tầm
quan trọng của việc mình đang chuẩn bị thực hiện. Vì vậy, việc bồi dưỡng nâng cao
nhận thức GV dạy Tiếng Việt về sự cần thiết phải thực hiện dạy học tiếp cận năng
lực là hết sức cần thiết. Mục tiêu quan trọng nhất của biện pháp là làm cho đội ngũ
GV dạy Tiếng Việt có nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng, tính tất yếu
của việc thực hiện dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS.
3.2.1.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Căn cứ vào các điều kiện hiện có của nhà trường và tình hình thực tế, hiệu
trưởng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cả bộ phận giúp việc
(Phó hiệu trưởng, các TTCM, GV cốt cán) và GV.
Thành lập Ban chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho GV, phân công
nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, lựa chọn tài liệu, nội dung bồi dưỡng, xây
dựng các phương án lên lớp, chuẩn bị các điều kiện hỗ trợ đầy đủ (văn phòng, máy
chiếu, máy tính…) cho các buổi tổ chức bồi dưỡng. Thông báo lịch bồi dưỡng tới
đội ngũ GV.
Khi việc chuẩn bị đã hoàn thành, hiệu trưởng chỉ đạo triển khai thực hiện kế
hoạch bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng đặc biệt quan trọng là Nghị quyết số 29-
NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
64
diện giáo dục và đào tạo, các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của Ngành
GD về chủ trương, định hướng đổi mới PPDH và KT-ĐG kết quả dạy học theo
hướng tiếp cận năng lực HS. Trong quá trình thực hiện cần liên hệ với điều kiện,
tình hình thực tế của nhà trường để GV có những dự kiến ban đầu về thực hiện dạy
học theo hướng tiếp cận năng lực HS trong năm học. Hiệu quả triển khai dạy học
tiếp cận năng lực chỉ thực sự hiệu quả khi đội ngũ GV được trang bị đầy đủ và thực
sự làm chủ trong việc triển khai các hoạt động dạy học. Nếu GV hiểu và có thái độ
đúng đắn sẽ có ý thức tự giác thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao.
Cuối đợt bồi dưỡng, Ban chỉ đạo tổ chức cho GV viết bài thu hoạch, đặc biệt
chú ý nội dung liên hệ với nhiệm vụ chuyên môn của từng người rồi tiến hành phân
tích kết quả thu hoạch để đánh giá chính xác mức độ nhận thức của từng GV về dạy
học theo tiếp cận năng lực. Kết thúc đợi bồi dưỡng, Ban chỉ đạo phải tổ chức tổng
kết, chỉ rõ ưu - nhược điểm, rút kinh nghiệm nâng cao hiệu quả tổ chức lần sau.
Đồng thời biểu dương, khen thưởng những GV tích cực học tập, nghiên cứu, tự bồi
dưỡng nâng cao nhận thức về dạy học theo tiếp cận năng lực.
Tóm lại, việc nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV về sự cần thiết phải quản
lý và dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS sẽ giúp cho mọi
thành viên trong tập thể sư phạm có nhận thức đầy đủ, sâu sắc, có tư tưởng vững
vàng, tiến bộ, thông suốt từ đó khơi dậy tinh thần tự giác, sẵn sàng thực hiện nhiệm
vụ đạt hiệu quả cao.
3.2.1.3. Điều kiện thực hiện
Nội dung cần triển khai phải được chuẩn bị cẩn thận sát hợp với tình hình
thực tế của từng đơn vị. Thông tin truyền đạt phải ngắn gọn nhưng đảm bảo đầy đủ,
súc tích. Chú ý liên hệ với tình hình thực tế nhà trường.
3.2.2. Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên Tiếng Việt về dạy học theo tiếp cận năng lực
3.2.2.1. Mục tiêu của biện pháp
Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng
đội ngũ GV Tiếng Việt, tạo bước chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường. Nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ
65
GV, trọng tâm là nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp dạy học,
giáo dục và nâng cao đạo đức nghề nghiệp theo chuẩn nghề nghiệp.
3.2.2.2. Nội dung và cách thức thực hiện
- Thống kê và đánh giá thực trạng đội ngũ.
- Xây nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng.
- Xây dựng kế hoạch hóa công tác đào tạo và bồi dưỡng: Đào tạo GV: Đào
tạo trình độ chuyên môn trên chuẩn (đại học, cao học). Đào tạo trình độ lí luận
chính trị (trung cấp, cao cấp). Bồi dưỡng GV: Bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo
đức lối sống cho đội ngũ GV; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng sư phạm cho GV. Tổ
chức hoạt động thao giảng, hội giảng, sinh hoạt liên trường, cụm trường. Tổ chức
thi GV giỏi, thi viết sáng kiến kinh nghiệm và làm đồ dùng dạy học. Tăng cường
các hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV.
- Triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng GV.
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng GV sau mỗi
hoạt động và cuối mỗi năm học.
3.2.2.3. Điều kiện thực hiện
Mỗi GV Tiếng Việt ở bậc Tiểu học phải nhận thức, đổi mới tư duy và xác
định nhu cầu cần phải thực hiện học tập suốt đời. Tất cả GV đều được tham gia
chương trình đào tạo và bồi dưỡng hàng năm trong hè. Có chuyên viên chuyên trách
công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV của Phòng GD&ĐT để xây dựng kế hoạch
đào tạo bồi dưỡng cụ thể và theo dõi quá trình này. Có Ban chỉ đạo công tác đào
tạo, bồi dưỡng GV cấp thành phố.
Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ Phòng GD&ĐT, các phòng ban chuyên
môn thuộc Sở GD&ĐT, Trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố Gia Nghĩa
trong việc thực hiện bồi dưỡng. Có chủ trương đổi mới toàn diện về công tác đào
tạo bồi dưỡng. Đổi mới và thống nhất nội dung, chương trình, phương thức, cách
đánh giá trong đào tạo bồi dưỡng. Chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, phương tiện,
các phòng học phục vụ cho công tác bồi dưỡng. Đảm bảo chế độ chính sách để đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV, phải có kinh phí thường xuyên để hỗ trợ người học
nâng cao trình độ. Có nguồn kinh phí để hàng năm cử GV đi tham quan các cơ sở
GD điển hình.
66
3.2.3. Chỉ đạo thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn, khuyến khích
hoạt động trong dạy học của giáo viên theo hướng phát triển năng lực
3.2.3.1. Mục tiêu của biện pháp
Tổ chuyên môn là là nơi triển khai, thực hiện mọi chủ trương về chuyên môn
của nhà trường, đồng thời là bộ phận quản lý, tổ chức, điều hành trực tiếp mọi hoạt
động chuyên môn của GV nói chung và hoạt động dạy học theo hướng tiếp cận
năng lực HS ở trường Tiểu học nói riêng. Vì thế, đổi mới hoạt động tổ CM có vai
trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả QLHĐDH tiếp cận năng lực.
Quản lý, chỉ đạo đổi mới sinh hoạt tổ CM, đặc biệt nên định hướng theo
nghiên cứu bài học, tức là tạo điều kiện để GV cùng nhau học tập từ thực tế việc
học của HS, GV cùng nhau thiết kế kế hoạch bài học, cùng dự giờ, quan sát, suy
ngẫm, phân tích hoạt động học của HS và chia sẻ kinh nghiệm. Đồng thời đưa ra
những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các vấn đề xuất hiện, các
nhiệm vụ học tập mà GV,… có ảnh hưởng đến việc học của HS. Trên cơ sở đó, GV
được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, PPDH vào
bài học hằng ngày một cách hiệu quả. Đó là nền tảng thuận lợi để thực hiện quản lý
và dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS.
3.2.3.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Ngay từ đầu năm học, hiệu trưởng phải ra quyết định thành lập tổ chuyên
môn, bổ nhiệm các chức danh tổ trưởng, tổ phó. Đây là công việc cần thiết theo quy
định mà hiệu trưởng phải làm, điều này giúp cho ổn định tổ chức, thuận lợi cho việc
chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường.
Tổ trưởng chuyên môn xây dựng dự thảo kế hoạch hoạt động tổ trên cơ sở kế
hoạch chung của nhà trường, kế hoạch phải có chỉ tiêu phấn đấu, phân công trách
nhiệm cho từng cá nhân cụ thể rồi trực tiếp duyệt kế hoạch, đặc biệt chú ý đến các
chuyên đề sinh hoạt được thực hiện, riêng việc thực tập chuyên đề cần chỉ đạo rõ
ràng phải thực hiện nghiên cứu bài học theo hướng dạy học tiếp cận năng lực.
Sau khi đã duyệt kế hoạch, hiệu trưởng chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch
hoạt động của tổ, chủ yếu là tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn. Sinh hoạt
chuyên môn theo nghiên cứu bài học có những khác biệt cụ thể về cách thức tổ chức
như sau: các thành viên cùng lựa chọn một bài cụ thể, mỗi người soạn giáo án lập
67
kế hoạch giảng dạy cho bài học đó; các thành viên thảo luận, chọn lọc những ý
tưởng thiết kế hay nhất tập trung xây dựng thống nhất một giáo án và cử một GV
dạy thực tập, cả tổ cùng dự; bàn ghế cho người dự được bố trí xung quan phòng học
để thuận lợi cho việc quan sát HS hoạt động; việc rút kinh nghiệm tập trung nghiên
cứu, phân tích các hoạt động của HS (nghiên cứu bài học) từ đó điều chỉnh phương
pháp giảng dạy của GV cho phù hợp. Với việc tổ chức sinh hoạt như vậy, sẽ tập hợp
được ý tưởng thiết kế các hoạt động của HS vào một giáo án, việc rút kinh nghiệm
tập trung vào nghiên cứu, phân tích hoạt động của HS từ đó điều chỉnh phương
pháp giảng dạy của GV. Đây là nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và thực hiện
kế hoạch bài dạy môn Tiếng việt theo hướng tiếp cận năng lực HS.
Để kiểm soát được hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn, cách hiệu quả nhất là hiệu
trưởng hãy cùng tham dự các buổi sinh hoạt, sự có mặt của hiệu trưởng cùng với sự gương
mẫu thực hiện có tác động mạnh đến ý thức xây dựng trong sinh hoạt chuyên môn góp phần
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng các buổi sinh hoạt, làm cho việc sinh hoạt chuyên
môn trở nên thiết thực hơn rất nhiều. Mặt khác, cùng tham dự sinh hoạt chuyên môn cũng
giúp hiệu trưởng có thêm thông tin để đánh giá khả năng của từng GV.
Cuối mỗi HK, mỗi năm học, hiệu trưởng chỉ đạo sơ kết, tổng kết tổ CM, căn
cứ việc thực hiện quy chế chuyên môn, căn cứ vào kết quả thi đua của từng cá nhân
đạt được để đánh giá - xếp loại từng thành viên và kịp thời biểu dương những GV
tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo nghiên cứu bài học, đạt nhiều
thành tích, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
3.2.3.3. Điều kiện thực hiện
hiệu trưởng cần tổ chức tập huấn về công tác tổ chức sinh hoạt tổ chuyên
theo nghiên cứu bài cho các tổ trưởng, hỗ trợ kịp thời khi được đề nghị. Cũng cần
tin tưởng, giao quyền cho tổ trưởng, tôn trọng và lắng nghe ý kiến đề xuất của tổ
CM trong quá trình thực hiện.
3.2.4. Chỉ đạo giáo viên tăng cường sử dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ
thuật, đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực học sinh
3.2.4.1. Mục tiêu của biện pháp
Dạy học theo tiếp cận năng lực đòi hỏi phải có điều kiện vật chất để thực
hiện. Do đó, để quản lý tốt dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực
68
HS thì các nhà trường phải đảm bảo các điều kiện tốt nhất phục vụ cho việc tổ chức
các hoạt động dạy học. Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, trang - thiết bị dạy học, đặc
biệt là các thiết bị dạy học hiện đại (máy tính, máy chiếu, các phần mềm…) cũng là
một thành tố không thể thiếu của quá trình dạy học, nó vừa hỗ trợ vừa tạo động lực
cho cả GV và HS chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ dạy học, giải quyết các vấn
đề Tiếng Việt học một cách hiệu quả nhất.
Quản lý sử dụng các phương tiện kỹ thuật, đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt
theo hướng phát triển năng lực HS nhằm mục tiêu hàng đầu là cung cấp đầy đủ và
nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện kỹ thuật, đồ dùng phục vụ cho dạy học môn
Tiếng Việt
3.2.4.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Căn cứ vào nhu cầu cần thiết phục vụ cho dạy học, căn cứ vào tình hình
CSVC, trang - thiết bị, đồ dùng dạy học, căn cứ vào điều kiện tài chính hiện có của
nhà trường, hiệu trưởng xây dựng và thực hiện kế hoạch nâng cấp CSVC, mua sắm
trang - thiết bị, đồ dùng dạy học đảm bảo phục vụ cho dạy học theo hướng tiếp cận
năng lực HS. Thường thi nhu cầu khá lớn nhưng điều kiện tài chính lại eo hẹp do
vậy phải lựa chọn những hạng mục quan trọng nhất, những trang - thiết bị, đồ dùng
dạy học thiết yếu nhất (máy chiếu projecter, laptop) để xây dựng, nâng cấp, mua
sắm trước. Phải tham mưu với địa phương và phát động xã hội hóa giáo dục để tập
trung nguồn kinh phí.
Chỉ đạo bộ phận phụ trách CSVC, trang - thiết bị, đồ dùng dạy học xây dựng
kế hoạch hoạt động, xây dựng quy trình mượn - trả, phổ biến các quy định về sử
dụng CSVC, trang - thiết bị dạy học và duyệt với hiệu trưởng.
Với những phương tiện dạy học mới, hiện đại phải tổ chức bồi dưỡng cho
GV kĩ thuật, kĩ năng sử dụng và khai thác hết các tiện ích. Thực tế cho thấy ở rất
nhiều trường tình trạng trang - thiết bị, đồ dùng dạy học hư hỏng nhanh một phần là
do GV, NV không biết sử dụng, bảo quản đúng hướng dẫn sử dụng, phần khác do
thiếu trách nhiệm trong sử dụng, bảo quản. Do vậy, ngoài việc bồi dưỡng kỹ thuật,
kỹ năng sử dụng còn phải giáo dục ý thức bảo vệ tài sản công và đặt ra những quy
định về việc bồi thường do sử dụng sai và thiếu trách nhiệm khi sử dụng.
69
Tổ chức cuộc thi làm đồ dùng, phát động đóng góp, ủng hộ đồ dùng vào kho
đồ dùng chung trong đội ngũ GV. Điều này cũng góp phần bổ sung đáng kể các đồ
dùng đơn giản nhưng tiện dụng (thước kẻ, bảng phụ, com pa, eke…) phục vụ tích
cực cho giảng dạy.
Chỉ đạo nhân viên phụ trách TBĐD phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp
và tạo điều kiện thuận lợi để mọi GV tự giác sử dụng và sử dụng hiệu quả các trang -
thiết bị dạy học hiện đại, ứng dụng CNTT, khai thác Internet để phục vụ dạy học.
Bên cạnh đó, hiệu trưởng phải trực tiếp kiểm tra, thường xuyên đôn đốc kiểm
tra việc sử dụng phương tiện - thiết bị dạy học trong các giờ lên lớp để ngăn chặn
kịp thời tình trạng không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả ĐDDH.
Cuối năm học cần chỉ đạo làm tốt công tác kiểm kê trang - thiết bị, ĐDDH,
đề xuất nhu cầu bổ sung cho năm học mới. Đồng thời tổ chức tổng kết công tác thiết
bị đồ dùng và biểu dương các trường hợp GV có nhiệt tình việc tham gia các cuộc
thi làm đồ dùng, sáng tạo đồ dùng dạy học, đóng góp nhiều đồ dùng, tích cực ứng
dụng CNTT trong giảng dạy và sử dụng đồ dùng hiệu quả.
3.2.4.3. Điều kiện thực hiện
Trước tiên phải tập trung được nguồn tài chính phục vụ cho việc xây dựng,
nâng cấp CSVC, mua sắm trang - thiết bị, ĐDDH. Trong điều kiện chưa thể đáp
ứng một lúc các yêu cầu về CSVC, trang - thiết bị dạy học cần quản lý sử dụng có
hiệu quả những trang - thiết bị dạy học hiện có, đồng thời chú ý khai thác tiềm năng
sáng tạo của GV, HS trong việc tự làm những ĐDDH đơn giản.
3.2.5. Chỉ đạo thực hiện đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học môn
Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực học sinh
3.2.5.1. Mục tiêu biện pháp
Kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học là khâu cuối của quy trình dạy học, đồng
thời cũng là khâu giúp điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp và hiệu quả hơn.
Cách thức KT-ĐG tác động rất lớn đến hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động
học tập của HS. Kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học phải lấy mục tiêu vì sự tiến bộ
của GV và HS làm đầu. Đổi mới quản lý hoạt động KT-ĐG kết quả dạy học môn
Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực HS phải thực hiện ở cả KT-ĐG chất lượng giảng
dạy của GV và KT-ĐG kết quả học tập của HS. Không chỉ đơn thuần là ghi nhận
70
thực trạng, phản ánh chính xác và khách quan mà quan trọng hơn là đề xuất những
cách thức cải tiến, điều chỉnh phương pháp giảng dạy của GV, giúp HS điều chỉnh
phương pháp học tập, hoạt động để nâng cao chất lượng dạy học.
3.2.5.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
* Đối với công tác kiểm tra - đánh giá hoạt động giảng dạy của GV
Ngay từ đầu năm học, hiệu trưởng phải tuyên truyền nâng cao nhận thức cho
GV về vai trò, mục tiêu và ý nghĩa của hoạt động KT-ĐG. Đồng thời bồi dưỡng, tổ
chức cho GV học tập, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn về KT-ĐG kết quả dạy
học theo tiếp cận năng lực. GV phải hiểu được kiểm tra - đánh giá như thế nào thì
việc dạy học sẽ bị lái theo như thế ấy, nếu việc KT-ĐG hướng vào phát triển năng
lực của HS thì việc dạy học sẽ trở nên tích cực hơn rất nhiều.
Căn cứ vào các yêu cầu dạy học tiếp cận năng lực, điều kiện thực tế nhà
trường, hiệu trưởng xây dựng kế hoạch kiểm tra - đánh giá. Đồng thời lựa chọn
nhân sự, kiện toàn tổ chức bằng việc ra quyết định thành lập Ban thanh tra chuyên
môn của nhà trường gồm: hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, TTCM, GV cốt cán, đại
diện các tổ chức đoàn thể, phân công trách nhiệm cho từng thành viên. Triển khai
chương trình hoạt động của Ban thật cụ thể về các nội dung KT-ĐG, về quy trình
KT-ĐG từng nội dung,...
Ban thanh tra chuyên môn xây dựng quy trình thanh tra, kiểm tra đảm bảo
công khai, dân chủ. Quy trình thanh tra cần quy định rõ từ việc ra quyết định thanh
tra công bố kế hoạch thời gian thanh tra, các nội dung thanh tra cho người được
thanh tra đến việc thực hiện kế hoạch thanh tra theo quy trình, việc tổng hợp, báo
cáo, công bố kết quả thanh tra để đội ngũ tự giác chấp hành.
Hiệu trưởng chỉ đạo Ban thanh tra thực hiện kế hoạch thanh - kiểm tra trong
nhà trường. Việc kiểm tra có thể thực hiện theo kế hoạch thường xuyên hằng tuần,
hàng tháng nhưng thỉnh thoảng hiệu trưởng cũng cần kiểm tra đột xuất (giáo án, lịch
báo giảng, kế hoạch giảng dạy, sổ điểm…).
Ngoài ra, chất lượng giảng dạy của GV cũng được phản ánh qua kết quả học
tập của HS sau một quá trình học tập do vậy kết quả học tập của HS cũng là một
căn cứ để đánh giá hiệu quả giảng dạy của GV.
71
Sau mỗi lần kiểm tra hoặc mỗi đợt kiểm tra phải tiến hành sơ kết, tổng kết
đánh giá, rút kinh nghiệm chuyên môn. Giúp cho mỗi cán bộ GV và HS cũng có
khả năng tự đánh giá, tự điều chỉnh để cải tiến PPDH nhằm mục đích nâng cao chất
lượng dạy học.
Hồ sơ kiểm tra, thanh tra chuyên môn của GV phải được lưu giữ cẩn thận
làm cơ sở đánh giá các lần kiểm tra sau. Sau mỗi đợt kiểm tra, kết quả đánh giá xếp
loại GV phải được công bố công khai đầy đủ, là căn cứ để xếp loại thi đua. Trên cơ
sở đó, hiệu trưởng nhà trường có phương thức sử dụng, bồi dưỡng GV có hiệu quả
trong công tác quản lý HĐDH.
* Đối với việc KT-ĐG kết quả học tập của HS
Hiệu trưởng phải chỉ đạo bộ phận chuyên môn căn cứ vào các văn bản hướng
dẫn KT-ĐG của Bộ GD&ĐT, căn cứ vào chuẩn kiến thức - kỹ năng, căn cứ vào quy
chế thi, kiểm tra và định hướng KT-ĐG kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng
lực để xây dựng quy trình KT-ĐG. Quy trình phải quy định rõ từ việc ra đề, kiểm
duyệt đề, định lượng rõ nội dung tự luận và trắc nghiệm khách quan, xây dựng ngân
hàng đề kiểm tra, tổ chức kiểm tra đến việc chấm, chữa, trả bài, phân tích phân loại
kết quả kiểm tra, đánh giá và lưu giữ kết quả kiểm tra.
Tiếp theo, hiệu trưởng chỉ đạo bộ phận chuyên môn phổ biến quy trình kiểm
tra cho GV, tổ chức thực hiện nghiêm túc quy trình KT-ĐG. Việc vi phạm quy trình
KT-ĐG cũng là căn cứ đánh giá - xếp loại GV.
Khi tổ chức kiểm tra phải chú ý đề KT phải được chọn ngẫu nhiên trong
ngân hàng đề, không phân công GV coi kiểm tra HS lớp mình dạy. Việc chấm bài
cần thực hiện chấm 2 vòng, trong đó vòng 2 phân công GV dạy chấm và thực hiện
khớp điểm theo quy định. Việc chữa bài phải được thực hiện nghiêm túc, GV phải
giúp HS tự nhận ra được cái đúng - sai trong bài làm của mình để tự rút kinh
nghiệm. Việc ghi lời phê, trả bài, lấy chữ ký xác nhận của PHHS, vào điểm báo cáo
kết quả kiểm tra phải chỉ đạo thực hiện đúng tiến độ.
Cuối năm học, hiệu trưởng cần tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm công tác đổi
mới KT-ĐG, điều chỉnh quy trình cho phù hợp hơn triển khai thực hiện cho năm
học sau. Đồng thời biểu dương, động viên những cá nhân thực hiện tốt các yêu cầu
của quy trình KT-ĐG, đảm bảo chất lượng dạy học.
72
3.2.5.3. Điều kiện thực hiện:
Hiệu trưởng phải chỉ đạo xây dựng quy trình KT-ĐG khoa học, phù hợp, chi
tiết, cụ thể vì đó là cơ sở quan trọng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả KT-ĐG, chi
phối hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học tập của HS.
3.2.6. Chỉ đạo thực hiện đổi mới hoạt động đánh giá giáo viên thông qua
kết quả dạy học môn Tiếng Việt
3.2.6.1. Mục tiêu biện pháp
Kết quả dạy học môn Tiếng Việt phản ánh chính xác hiệu quả dạy học của
người GV. Nếu việc đánh giá GV chỉ căn cứ vào việc thực hiện ngày giờ công, thực
hiện nề nếp hành chính không ra sớm vào muộn… khi đó người GV mới chỉ tạm
coi là hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong dạy học ngày nay, trường học rất cần
những GV luôn sẵn sàng để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Do vậy
ngoài việc đánh giá GV căn cứ vào việc thực hiện nề nếp hành chính, hiệu trưởng
phải đặc biệt trú trọng việc đánh giá GV dựa vào hiệu quả công việc.
Mục đích của việc đánh giá GV thông qua kết quả dạy học trong nhà trường
là nhằm góp phần tạo ra một môi trường đánh giá công bằng coi trọng hiệu quả
công việc, thúc đẩy, khuyến khích sự tự nguyện, tự giác và luôn cố gắng thực hiện
mọi nhiệm vụ chuyên môn một cách có trách nhiệm, đạt được các mục tiêu đề ra.
Đó cũng là một biện pháp hữu hiệu thúc đẩy đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả dạy học trong nhà trường.
3.2.6.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Để việc đánh giá GV thông qua kết quả dạy học thực sự trở thành một biện
pháp hữu hiệu, thúc đẩy GV thi đua nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học, hiệu
trưởng cần xây dựng quy chế đánh giá, đưa vào tiêu chuẩn đánh giá những tiêu chí
cụ thể của việc thực hiện đổi mới PPDH theo hướng tiếp cận năng lực, đặc biệt là
định mức đánh giá GV dựa vào kết quả dạy học đạt được. Phải đặt ra những định
mức quan trọng để hiệu trưởng, đội ngũ GV lấy làm mục tiêu phấn đấu hướng tới
đạt được trong năm học. Những định mức đó giúp cho hội đồng thi đua nhà trường
căn cứ vào đó, đối chiếu với những thành tích mà mỗi cá nhân, tập thể trong đơn vị
đạt được để khen thưởng, động viên kịp thời. Nó không chỉ là thước đo khách quan,
công bằng, công khai giúp cho tập thể tránh được những xung đột không đáng có,
73
trách được nguy cơ mất đoàn kết nội bộ mà định mức đánh giá phù hợp còn thúc
đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua trong nhà trường làm cho mọi thành viên đều cố
gắng, là động lực quan trọng bậc nhất thúc đẩy nhà trường phát triển.
Để việc đánh giá GV thông qua kết quả dạy học được đội ngũ chấp nhận
thực hiện, trước tiên, hiệu trưởng phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động,
nâng cao nhận thức của đội ngũ GV về vị trí, vai trò, tầm quan trọng, cũng như đảm
bảo chính xác, công bằng trong đánh giá - xếp loại GV thì phải thực hiện đánh giá
dựa vào kết quả dạy học. Khi người GV có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, đã thông tư
tưởng, chấp nhận “cuộc chơi” thì vai trò của mỗi GV mới được phát huy cao nhất,
mọi người đều phấn khởi và tích cực hưởng ứng tham gia.
Tiếp theo, việc lựa chọn nhân sự cho hội đồng đánh giá cũng rất quan trọng
với vai trò cầm cân nảy mực, hội đồng đánh giá phải tập hợp được những thành
viên có uy tín, có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, làm việc công tâm, nhiệt tình, trách
nhiệm, đã đạt được hiệu quả công việc. Đặc biệt, riêng với hiệu trưởng, phải luôn
gần gũi, động viên kịp thời, hướng đích cho từng GV phấn đấu đạt mục tiêu chất
lượng dạy học đề ra.
Khi triển khai thực hiện, bên cạnh việc đánh giá GV dựa trên các căn cứ thực
hiện nhiệm vụ giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực như xây dựng kế hoạch bài
dạy, thực hiện kế hoạch, tham gia sinh hoạt tổ CM… thì quan trọng hơn cả vẫn là
việc đánh giá kết quả học tập của HS hay chính là hiệu quả “đầu ra” mà hoạt động
giảng dạy của GV mang lại. Do vậy, việc thực hiện quy trình ra đề, duyệt đề, coi
thi, coi kiểm tra, chấm bài… phải được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, khách quan,
công bằng. Việc chữa bài, trả bài cùng là một cơ hội tốt để GV rút kinh nghiệm cho
HS, điều chỉnh hoạt động giảng dạy góp phần nâng cao hiệu quả dạy học. Không
nên để GV dạy trực tiếp coi thi, kiểm tra, nên tổ chức kiểm tra chéo, chấm bài hai
vòng giữa GV dạy với GV khác để đảm bảo tính khách quan, công bằng.
Công tác kiểm tra việc đánh giá GV hàng tuần, hàng tháng cũng cần được
quan tâm chỉ đạo. hiệu trưởng chuẩn bị sẵn các biểu mẫu báo cáo cho nhóm công
tác được phân công kiểm tra để họ hoàn thành và nộp ngay qua Email. Kết quả
kiểm tra không chỉ đơn thuần là căn cứ để hiệu trưởng đánh giá GV, mà quan trọng
74
hơn cả là đưa ra biện pháp hỗ trợ kịp thời nhằm giúp GV đạt được mục tiêu kết quả
dạy học.
Cùng với việc đánh giá - xếp loại, khen thưởng cũng giữ một vị trí, vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học trong nhà
trường. Khen thưởng để động viên, biểu dương, ghi nhận công lao, thành tích của
GV có thành tích tốt cần được thực hiện kịp thời. Khen thưởng là động lực tích cực
nhất để nuôi dưỡng thi đua. Việc biểu dương, khen thưởng đôi khi không nhất thiết
phải đến hết học kỳ hay tổng kết mà cần tiến hành thường xuyên, liên tục, đôi khi
thưởng nóng ngay khi GV đạt được thành tích nổi bật.
3.2.6.3. Điều kiện thực hiện
hiệu trưởng phải nắm rõ tình hình, điều kiện nhà trường và cũng thật tâm
huyết với công việc mình theo đuổi. Muốn tổ chức thực hiện thực sự hiệu quả, hiệu
trưởng phải nghiên cứu các định mức thật kỹ lưỡng để khi đưa ra phải được tập thể
nhất trí thông qua và tự giác thực hiện. Hằng năm cũng cần phải tổng kết rút kinh
nghiệm và điều chỉnh định mức cho phù hợp.
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
Các biện pháp mà đề tài đề xuất trên có mối quan hệ logic, biện chứng chặt
chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, không mâu thuẫn với nhau, biện pháp này
là tiền đề là cơ sở cho biện pháp kia. Chẳng hạn như để đánh giá chất lượng dạy học
môn Tiếng Việt phải tiến hành đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học theo
hướng tiếp cận năng lực, việc phân tích kết quả kiểm tra giúp GV điều chỉnh
phương pháp giảng dạy, điều chỉnh phương pháp học tập của HS, từ đó GV thấy
được hạn chế của mình để tiếp tục bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Hay việc đổi
mới sinh hoạt tổ chuyên môn, tăng cường các hoạt động trong dạy học tiếp cận năng
lực là tiền đề là cơ sở, là điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
cho đội ngũ GV. Như việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao nhận thức về
quản lý và dạy học theo tiếp cận năng lực, việc đổi mới hoạt động đánh giá thi đua
GV thông qua kết quả dạy học môn Tiếng Việt vừa là nền tảng quan trọng, vừa cá
tác dụng động viên, khích lệ đội ngũ đẩy mạnh các hoạt động bồi dưỡng, đổi mới;
tự giác, tự nguyện và chủ động tham gia vào các hoạt động chuyên môn của nhà
trường. Mỗi biện pháp là một thành tố không thể thiếu được, chúng bổ sung tương
75
tác với nhau trong hệ thống biện pháp QLHĐDH môn Tiếng Việt theo hướng tiếp
cận năng lực HS để nâng cao chất lượng bộ môn, góp phần nâng cao CLGD toàn
diện các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa.
Các biện pháp khi được áp dụng vào công tác QLHĐDH môn Tiếng Việt đòi
hỏi người hiệu trưởng cần phải xem xét bản chất và mối quan hệ giữa các biện pháp
trên cơ sở đó vận dụng, khai thác thế mạnh của từng biện pháp để phù hợp với điều
kiện thực tế của nhà trường mình.
Biện pháp nào cũng quan trọng cấn được triển khai thực hiện song song trong
quá trình đổi mới PPDH, cũng như hậu quá trình đổi mới. Tuy nhiên, tùy vào thời
điểm, người hiệu trưởng phải ưu tiên quan tâm tập trung thực hiện biện pháp này hay
biện pháp khác, khi thực hiện phải phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các cá nhân, các bộ
phận phụ trách. hiệu trưởng phải luôn kiểm soát được tình hình để có những chỉ đạo
điều chỉnh phù hợp, kịp thời, điều đó không chỉ có ý nghĩa riêng với việc nâng cao hiệu
quả QLHĐDH môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS.
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
3.4.1. Mục đích khảo nghiệm
Đánh giá mức độ cần thiết, tính khả thi của 06 biện pháp quản lý đề xuất
(Xem Phục lục 2).
3.4.2. Nội dung và phương pháp khảo nghiệm
- Nội dung khảo nghiệm thể hiện trong phụ lục 2 gồm 06 biện pháp đề xuất.
- Phương pháp khảo nghiệm: Phát phiếu khảo sát (phụ lục 2) với các đối tượng:
3.4.3. Kết quả khảo nghiệm
3.4.3.1. Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp đã đề xuất
Để xử lí số liệu sau khảo sát, chúng tôi quy ước mức độ cần thiết như sau:
Rất cần thiết: 3 điểm; cần thiết: 2 điểm; ít cần thiết: 1 điểm.
Kết quả khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp (Xem Phụ lục 3: Bảng 11.
Tính cần thiết của các biện pháp) cho thấy, các biện pháp đề xuất được đánh giá có
tính cần thiết cao, tỉ lệ ý kiến đánh giá Rất cần thiết thấp nhất cũng đạt 69,23%. Tuy
nhiên, từng biện pháp cụ thể lại có sự nhìn nhận về mức độ cần thiết khác nhau:
Trong 6 biện pháp được đề xuất thì biện pháp 3, Chỉ đạo thực hiện đổi mới
sinh hoạt tổ chuyên môn, tăng cường các hoạt động trong dạy học tiếp cận năng lực
76
HS được đánh giá mức độ cần thiết cao nhất với 90,11% ý kiến cho rằng Rất cần
thiết, điểm TB = 2.89, thứ bậc 1. Điều này cho thấy, việc sinh hoạt tổ chuyên môn ở
đa số các trường thực tế chưa được quan tâm chỉ đạo. Nhưng các trường đều đã
nhận ra rằng, việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn tăng cường các hoạt động trong
dạy học tiếp cận năng lực HS, đặc biệt là theo nghiên cứu bài học sẽ giúp cho việc
quản lý và dạy học học theo tiếp cận năng lực sớm đạt được hiệu quả.
Biện pháp 4, Chỉ đạo giáo viên tăng cường sử dụng các PTKT, ĐDDH môn
Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực HS được đánh giá mức độ cần thiết ở
mức thấp nhất với 69,23% ý kiến cho rắng rất cần thiết, điểm TB = 2.56, thứ bậc 6.
Điều này cho thấy, trong điều kiện khó khăn về tài chính, cơ sở vất chất thiết bị thì
các trường Tiểu học ưu tiên thực hiện các biện pháp khác nhiều hơn.
3.4.3.2. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Để xác định tính khả thi của các biện pháp chúng tôi quy định: Rất khả thi: 3
điểm; Khả thi: 2 điểm; Ít khả thi: 1 điểm.
Kết quả khảo sát cho thấy, các biện pháp đề xuất được đánh giá có tính khả
thi cao, tỉ lệ ý kiến đánh giá Rất khả thi và khả thi đạt 90,11%. Tuy nhiên, từng biện
pháp cụ thể lại có sự nhìn nhận về mức độ khả thi khác nhau (Xem phụ lục 3: Bảng
12. Tính khả thi của các biện pháp) cho thấy:
Trong 6 biện pháp được đề xuất thì biện pháp 3, Chỉ đạo thực hiện đổi mới
sinh hoạt tổ chuyên môn, tăng cường các hoạt động trong dạy học tiếp cận năng lực
HS được đánh giá mức độ khả thi cao nhất với 98,90% ý kiến cho rắng Rất khả thi
và Khả thi, = 2.41, thứ bậc 1. Điều này cho thấy, quyền chỉ đạo sinh hoạt tổ
chuyên môn nằm trong tay hiệu trưởng, do vậy chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn tăng
cường các hoạt động trong dạy học tiếp cận năng lực HS, đặc biệt là theo nghiên
cứu bài học sẽ không gặp khó khăn trở ngại nào đáng kể.
Biện pháp 6, Đổi mới hoạt động đánh giá GV thông qua kết quả dạy học
môn Tiếng Việt được đánh giá mức độ khả thi thấp nhất trong 6 biện pháp đề xuất,
với 89,74% ý kiến cho rắng Rất khả thi và Khả thi, ĐTB = 2.15, thứ bậc 6. Điều này
cho thấy, việc đánh giá thi đua GV thông qua kết quả dạy học môn Tiếng việt sẽ
gặp nhiều khó khăn hơn cả, do tâm lý lo ngại GV chạy theo bệnh thành tích mà có
những điều chỉnh tiêu cực làm sai lệch kết quả dạy học.
77
3.4.3.3. Mối quan hệ giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được
đề xuất
Mối quan hệ giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp (Xem Phụ lục 3:
Bảng 13. Mối quan hệ giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp) cần được
xác định.
Với công thức Spearman cho ta xem xét tương quan (tương quan hạng) giữa
tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp. Công thức đó như sau:
𝑅 = 1 − 6∑𝐷2 𝑛(𝑛2 − 1)
Trong công thức trên, n = 6 (ứng dụng với 6 biện pháp). Sau khi thay số vào
tính, nếu:
- R > 0 (R dương): Tính cần thiết và tính khả thi có tương quan thuận. Nghĩa
là các biện pháp vừa cần thiết lại vừa khả thi.
Trường hợp R dương và có giá trị càng lớn (nhưng không bao giờ bằng 1),
thì tương quan giữa chúng càng chặt chẽ (nghĩa là các biện pháp không những cần
thiết, mà khả năng khả thi rất cao).
- R < 0 (R âm): Tính cần thiết và tính khả thi có tương quan nghịch. Nghĩa là
các biện pháp có thể nhưng không khả thi hoặc ngược lại.
Thay số vào công thức trên, ta được:
6∑(1+4+0+1+1+1) 6(62−1)
48
R = 1 –
210
R = 1 – = 1 − 0,23
R = 0,77
Dựa vào kết quả trên (R = 0,77), ta kết luận: Giữa tính cần thiết và tính khả
thi của các biện pháp có tương quan thuận và rất chặt chẽ. Nghĩa là các biện pháp
vừa cần thiết vừa có mức độ khả thi rất cao.
Kết quả khảo nghiệm cho thấy quá trình lựa chọn và đề xuất 6 biện pháp của
chương 3 đảm bảo tính khoa học, khách quan, xuất phát để giải quyết các vấn đề
của thực tiễn với mức độ cần thiết và tính khảo thí rất cao. Điều này có nghĩa tác giả
hoàn thành nhiệm vụ mà đề tài luận văn đã đặt ra.
78
Tiểu kết chương 3
Kết quả nghiên cứu ở chương 3 cho thấy: Từ việc nghiên cứu lí luận và thực
trạng hoạt động QLHĐDH môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS đề
xuất 6 biện pháp QLHĐDH môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS ở các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa theo chủ trương đổi mới GDPT hiện nay của
Đảng và Nhà nước. Trong mỗi biện pháp, tác giả đã nêu rõ mục tiêu, nội dung và
cách thức thực hiện.
Kết quả khảo sát tính cần thiết cho thấy: các biện pháp đề xuất được đánh giá
có tính cần thiết cao, trong đó biện pháp 3, Chỉ đạo thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ
chuyên môn, tăng cường các hoạt động trong dạy học tiếp cận năng lực HS được
đánh giá mức độ cần thiết cao nhất.
Kết quả khảo sát tính khả thi cho thấy: các biện pháp đề xuất được đánh giá
có tính khả thi cao, trong đó pháp 3, Chỉ đạo thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ chuyên
môn, tăng cường các hoạt động trong dạy học tiếp cận năng lực HS được đánh giá
mức độ khả thi cao nhất. Như vậy, cả 06 biện pháp được đề xuất đều rất cần thiết và
mang tính khả thi cao. Trong quá trình áp dụng, tuỳ đặc điểm, tình tình và điều kiện
từng nhà trường, nếu vận dụng các biện pháp một cách linh hoạt, hợp lý thì chắc
chắn các biện pháp trên sẽ tác động tích cực tới mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu
quả QLHĐDH môn Tiếng Việt, góp phần nâng cao CLGD toàn diện, từng bước đáp
ứng yêu cầu đổi mới GD trong thời kỳ mới.
79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
QLHĐDH nói chung và QLHĐDH môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nói
riêng là quá trình người HT xây dựng kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra đánh
giá hoạt động dạy học của GV nhằm đạt mục tiêu đề ra. QLHĐDH môn Tiếng Việt
ở trường Tiểu học theo hướng tiếp cận năng lực ở trường tiểu học bao gồm các nội
dung liên quan đến trạng bị tri thức và kỹ năng chuyên môn của môn Tiếng Việt và
phát triển các lĩnh vực năng lực của HS như nhóm năng lực làm chủ bản thân, nhóm
năng lực về quan hệ xã hội… Nội dung cơ bản của QLHĐDH môn Tiếng Việt theo
tiếp cận năng lực ở trường Tiểu học bao gồm: quản lý thực hiện mục tiêu dạy học
môn Tiếng Việt; quản lý chương trình, nội dung dạy học môn Tiếng Việt; quản lý
thực hiện phương pháp, phương tiện và các điều kiện hỗ trợ dạy học môn Tiếng
Việt; quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt.
Công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ dạy học ở các trường tiểu học
thành phố Gia Nghĩa theo ĐHPTNL của ngành GD đã đạt được một số kết quả đáng
ghi nhận cụ thể: Nhiều công việc đã được các nhà trường tập trung chỉ đạo thực
hiện khá tốt, có tác động tích cực đến các hoạt động dạy học như: việc chỉ đạo tổ
trưởng bộ môn đánh giá kế hoạch bài giảng dựa trên mục tiêu môn học; việc xây
dựng kế hoạch dự giờ kiểm tra việc thực hiện mục tiêu dạy học; việc điều chỉnh sự
phân công chuyên môn cho hợp lý; việc quản lý giờ dạy của GV thông qua TKB,
Kế hoạch dạy học, Sổ báo giảng, Sổ ghi đầu bài; việc kiểm tra giáo án và hồ sơ cá
nhân, lịch báo giảng, sổ ghi đầu bài và kiểm tra việc thực hiện chấm, chữa, trả bài,
vào điểm của GV.
Bên cạnh đó, trong một số lĩnh vực quản lý, nhiều công việc chưa được quan
tâm, tập trung chỉ đạo đạo đã ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ đổi mới PPDH theo
hướng phát triển năng lực HS cũng như chất lượng dạy học môn Tiếng Việt: Việc tổ
chức sinh hoạt chuyên môn kém hiệu quả, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, nhàm
chán, không thiết thực, tổ chức sinh hoạt nặng hình thức, TTCM chưa thể hiện được
vai trò rõ rệt đã dẫn tới sự phối hợp với tổ trưởng để quản lý việc thực hiện chương
trình, kế hoạch dạy học chưa tốt; việc hướng dẫn thiết kế bài dạy theo hướng tiêp
cận năng lực, việc tổ chức thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy nặng hình
80
thức; việc tổ chức cho tổ bộ môn cùng thiết kế giáo án, thao giảng, dự giờ, rút kinh
nghiệm không được thực hiện thường xuyên;
Từ việc nghiên cứu lí luận và thực trạng hoạt động QLHĐDH môn Tiếng
Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS đề xuất 6 biện pháp QLHĐDH môn Tiếng
Việt theo hướng tiếp cận năng lực HS ở các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa
theo chủ trương đổi mới GDPT hiện nay của Đảng và Nhà nước. Trong mỗi biện
pháp, tác giả đã nêu rõ mục tiêu, nội dung và cách thức thực hiện. Các biện pháp đề
xuất được đánh giá có tính cần thiết và tính khả thi cao, có vai trò quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng, hiệu quả QLHĐDH môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận
năng lực HS.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Nông
- Ban hành các văn bản cụ thể liên quan đến công tác dạy học nói chung và
dạy học theo hướng tiếp cận năng lực nói riêng vì dạy học theo hướng phát triển
năng lực là một nội dung mới đối với GV nhưng lại rất quan trọng trong quá trình
đổi mới phương pháp dạy học và chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành.
- Đầu tư kinh phí hàng năm để xây dựng các chương trình bồi dưỡng về dạy
học phát triển năng lực, về chương trình giáo dục phổ thông mới để đội ngũ GV
được tham gia.
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học tại các trường
tiểu học để kịp thời có hướng điều chỉnh cho phù với việc đổi mới chương trình dạy
học hiện nay.
2.2. Đối với Phòng GD&ĐT thành phố Gia Nghĩa
- Ban hành các văn bản, hướng dẫn cụ thể đối với dạy học theo hướng tiếp
cận năng lực trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Sở GD&ĐT để thống nhất
chung các trường tiểu học về cách dạy, cách đánh giá…
- Tham mưu với UBND thành phố đầu tư nguồn kinh phí để hỗ trợ cơ sở vật
chất nhằm đáp ứng tốt nhất cho việc đổi mới phương pháp dạy học trong đó đặc biệt
là việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực HS.
81
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học theo hướng phát triển
năng lực của GV. Kịp thời khen thưởng những GV có thành tích cao trong việc áp
dụng phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực HS.
2.3. Đối với các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa
- Tổ chức tập huấn nhằm nâng cao nhận thức của GV về tầm quan trọng và
vai trò của dạy học theo hướng tiếp cận năng lực đối với việc nâng cao chất lượng
dạy học và đổi mới giáo dục hiện nay.
- Yêu cầu GV nhà trường áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại theo
hướng cận năng lực HS vào từng môn học, bài giảng của mình.
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và báo cáo kết quả với Phòng GD&ĐT
thành phố, đồng thời có những đề xuất, kiến nghị nhằm đảm bảo cho việc thực hiện
dạy học theo hướng tiếp cận năng lực HS được hiệu quả nhất.
82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Quốc Bảo (1996), Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển
nhà trường trong bối cảnh hiện nay, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thành Vinh (2011), Quản lý nhà trường, Nxb
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
3. Đặng Quốc Bảo (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà
trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Đặng Quốc Bảo, Vũ Quốc Chung (2013), Một số vấn đề lí luận và thực
tiễn về lãnh đạo và quản lý giáo dục trong thời kí đổi mới, Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội.
5. Hoàng Hòa Bình (2000), Dạy văn cho HS tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Một số vấn đề về luận và thực tiễn về
lãnh đạo và quản lý thời kỳ đổi mới, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Thi pháp văn học dân gian, Nhà xuất
bản Giáo dục, Hà Nội
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Nâng cao chất lượng đội ngũ GV và đổi
mới quản lý giáo dục tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Điều lệ trường tiểu học, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Dạy và học tích cực, một số phương
pháp và hình thức dạy học tích cực, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm năm học
2015-2016 của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên,
Hà Nội.
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Đề án đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục đại học Việt Nam 2016-2020, Hà Nội.
13. Nguyễn Phúc Châu (2010), Quản lý nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm,
Hà Nội.
84
14. Nguyễn Phúc Châu (2010), Quản lý chất lượng trong các tổ chức, Nxb
Lao động Xã hội, Hà Nội.
15. Chính phủ (2005), Quyết định số 09/2005/Q Đ-TTg, về việc phê duyệt
Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
giai đoạn 2005-2010”, Hà Nội.
16. Chính phủ (2012), Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, Hà Nội.
17. Phạm Khắc Chương (2007), Lý luận đại cương, Giáo trình dùng cho học
viên cao học quản lý giáo dục, Hà Nội.
18. Viên Thị Dung (2012), Biện pháp QLHĐDH của hiệu trưởng trường tiểu
học tại thành phố Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục,
Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
19. Trần Quang Đại Đại (2010), Báo động về chất lượng nhân lực ngành
giáo dục, Diễn đàn dân trí.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
26. Ngô Việt Hà (2014), QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS
các trường tiểu học thành phố Uông bí, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ Quản lý
giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Thái Nguyên.
27. Phạm Minh Hạc (1984), Tâm lý học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội.
85
28. Đặng Xuân Hải (2008), "Vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi để chỉ
đạo đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường hiện nay", Tạp chí Giáo dục, số
110, tr. 33-37.
29. Lê Bá Hãn (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia,
Hà Nội.
30. Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Ngọc Bảo (2006), Quản lý giáo dục,
Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
31. Bùi Minh Hiền (2011), Quản lý Giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà
Nội.
32. Chu Huy (2012), Dạy kể chuyện ở trường tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
33. Nguyễn Tuấn Huy (2015), Biện pháp QLHĐDH ở trường tiểu học huyện
Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Hà Nội.
35. Trần Kiểm (2006), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
36. Trần Kiểm, Nguyễn Xuân Thức (2012), Giáo trình đại cương khoa học
quản lý và quản lý giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
37. Trần Kiểm (2010), Khoa học tổ chức và quản lý trong giáo dục, Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
38. Trần Kiểm (2012), Khoa học quản lý giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm,
Hà Nội.
39. C. Mác và F.Engels (1851), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999.
40. Đặng Bá Lãm (2005), Quản lý nhà nước về lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
41. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009), Quản lý, lãnh đạo nhà trường thế kỷ XXI,
Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
42. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Lý luận quản lý giáo dục, Nxb Đại học Quốc gia,
Hà Nội.
86
43. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí (2009), Sự phát triển các quan
điểm giáo dục hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
44. Phan Trọng Luận (chủ biên), Trương Dĩnh (2008), Phương pháp dạy học
văn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
45. Hồ Chí Minh (2002), Về vấn đề giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
46. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở
Tiểu học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
47. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà
trường, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
48. Lê Ngộ (2012), “Biện pháp QLHĐDH của giám đốc trung tâm ngoại ngữ
trên địa bàn thành phố Huế”, Tạp chí Giáo dục, số 371, tr.10.
49. Trần Thị Tuyết Oanh (2007), "Sử dụng các phương pháp đánh giá hỗ trợ
cho dạy học có hiệu quả", Tạp chí Khoa học giáo dục, số 23, tr. 20-24.
50. Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Gia Nghĩa (2021), Báo cáo tình
hình giáo dục thành phố Gia Nghĩa, giai đoạn 2016 - 2020, Đắc Nông.
51. Hồ Đăng Quang (2012), “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý
nhà trường của hiệu trưởng trường tiểu học”, Tạp chí Giáo dục tiểu học, tập 54,
tr.19.
52. Quốc hội (2019), Luật Giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
53. Quốc hội (2004), Nghị quyết số 37/2004/QH11 ngày 03/12/2004 của
Quốc hội, Hà Nội.
54. Trần Thị Sáu (2006), Các biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng
dạy bộ môn tiếng Việt bậc tiểu học ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, Luận
văn thạc sỹ Quản lý giáo dục.
55. Trần Đình Sử (chủ biên), Phan Huy Dũng, La Khắc Hòa (2008), Giáo
trình lý luận văn học, tập I, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
56. Trần Quốc Thành (2008), Khoa học đại cương, Giáo trình dành cho học
viên cao học quản lý giáo dục.
87
57. Hoàng Minh Thao (1998), Tâm lý học quản lý, Trường Cán bộ quản lý
trung ương I, Hà Nội.
58. Phạm Lan Thanh (2015), Biện pháp QLHĐDH Tiếng Việt 1 theo phương
án Công nghệ giáo dục ở các trường tiểu học huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; Luận
văn thạc sĩ Quản lý giáo dục.
59. Phan Thiều (chủ biên), Lê Hữu Tỉnh (2000), Dạy học Từ ngữ ở tiểu học,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
60. Nguyễn Thanh Tịnh (2016), QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL
cho HS các trường tiểu học của Phòng Giáo dục quận 1 - thành phố Hồ Chí Minh,
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục.
61. Phạm Toàn (2006), Công nghệ dạy văn, Nxb Lao động, Hà Nội.
62. Trần Phương Trình (2006), Đánh giá hiệu quả làm việc, Nxb Tuổi trẻ,
thành phố Hồ Chí Minh.
63. Nguyễn Trí (2007), Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học, Nxb Giáo
dục, Hà Nội
64. Phạm Viết Vượng (1999), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
65. UBND thành phố Gia Nghĩa (2021), Báo cáo kết quả thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 – 2020, Đắc Nông.
66. UBND thành phố Gia Nghĩa (2021), Báo cáo tình hình công chức, viên
chức và người lao động giáo dục, y tế trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa giai đoạn
2016 – 2020, Đắc Nông.
67. Phạm Viết Vượng (2007), Quản lý hành chính nhà nước và quản lý
ngành Giáo dục và Đào tạo, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
68. Nguyễn Như Ý (1995), Đại tự điển Tiếng Việt, Nxb Thế giới.
88
PHỤ LỤC
1. Phụ lục 1:
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho cán bộ quản lý và giáo viên trường tiểu học)
Kính thưa các Thầy/cô
Để đánh giá đúng công tác “QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho
HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông” trong thời gian qua,
từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này của các trường tiểu học trong
thời gian tới. Rất mong Thầy/cô vui lòng cho ý kiến đánh giá của mình về các nội
dung dưới đây. Những thông tin cá nhân trong phiếu này hoàn toàn được bảo mật
và không sử dụng cho mục đích khác.
Ông/ bà vui lòng tick, khoanh tròn hoặc điền vào chỗ trống (…) phù hợp.
I. Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Câu 1. Đánh giá của thầy/ cô về thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông?
Mức độ đánh giá
Trung TT Nội dung/ Tiêu chí Tốt Khá Yếu bình
1 Hình thành năng lực tự chủ và tự học
2 Hình thành năng lực giao tiếp và hợp tác
Hình thành năng lực giải quyết vấn đề và sáng 3 tạo
4 Hình thành năng lực nói tiếng Việt cho học sinh
Hình thành năng lực nghe tiếng Việt cho học 5 sinh
6 Hình thành năng lực đọc cho học sinh
7 Hình thành năng lực viết tiếng Việt cho học sinh
Những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và 8 con người
Rèn luyện cho HS các thao tác tư duy cơ bản 9 (phân tích, tổng hợp, phán đoán...)
Câu 2. Đánh giá của thầy/ cô về thực hiện nội dung dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông?
Mức độ đánh giá
Trung TT Nội dung/ Tiêu chí Tốt Khá Yếu bình
I Về kiến thức
1 Kiến thức Tiếng Việt
2 Tập làm văn
3 Kiến thức Văn học
II Về kỹ năng
1 Kỹ năng đọc
2 Kỹ năng viết
3 Kỹ năng nghe
4 Kỹ năng nói
Câu 3. Đánh giá của thầy/ cô về thực hiện phương pháp, hình thức dạy học môn
Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh
Đắk Nông?
Mức độ đánh giá
Trung TT Nội dung/ Tiêu chí Tốt Khá Yếu bình
I Các phương pháp
1 Đọc sáng tạo
2 Vấn đáp gợi mở
3 Giảng giải
4 Nêu tình huống có vấn đề
Xây dựng và thực hiện các chủ đề, dự án trong 5 dạy học
II Các hình thức
1 Tổ chức dạy học theo nhóm, cá nhân, lớp
2 Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Tiếng Việt
HS học thông qua hoạt động ngoại khóa; tổ chức 3 các tiết học trải nghiệm bên ngoài lớp học
Câu lạc bộ theo sở thích, giao lưu với nhà văn, 4 nhà thơ
Câu 4. Đánh giá của thầy/ cô về thực hiện kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn
Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh
Đắk Nông?
Mức độ đánh giá
Trung TT Nội dung/ Tiêu chí Tốt Khá Yếu bình
Kiểm tra việc thực hiện nề nếp thông qua lịch 1 báo giảng, Sổ ghi đầu bài
2 Đánh giá giờ dạy qua dự giờ
Kiểm tra hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên 3 môn
Đánh giá GV thông qua kết quả đạt được của 4 HS
5 Đánh giá GV bằng kết quả thi đua cuối năm
Kiểm tra việc thực hiện chấm, chữa, trả bài, 6 vào điểm của GV
II. Thực trạng QLHĐDH môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường
tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Câu 5. Đánh giá của thầy/ cô về thực hiện quản lý mục tiêu, kế hoạch hoạt động
dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông?
Mức độ đánh giá
Trung TT Nội dung/ Tiêu chí Tốt Khá Yếu bình
Chỉ đạo tổ chuyên môn phổ biến mục tiêu dạy
1 học môn Tiếng Việt trước khi xây dựng kế
hoạch giảng dạy
Tổ bộ môn xây dựng mục tiêu giảng dạy môn
2 Tiếng Việt theo chuẩn kiến thức và kỹ năng của
môn học
Xây dựng kế hoạch kiểm tra việc thiết kế bài
3 giảng theo chuẩn kiến thức kỹ năng và mục tiêu
môn học
Tổ chức trao đổi việc thực hiện mục tiêu môn 4 Tiếng Việt trong tổ bộ môn
Tổ trưởng bộ môn đánh giá kế hoạch bài giảng 5 dựa trên mục tiêu môn học đã xác định
Xây dựng kế hoạch dự giờ kiểm tra việc thực 6 hiện mục tiêu dạy học
Câu 6. Đánh giá của thầy/ cô về thực hiện quản lý nội dung, chương trình dạy học
môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa,
tỉnh Đắk Nông?
Mức độ đánh giá
Trung Nội dung/ Tiêu chí TT Tốt Khá Yếu bình
Chỉ đạo tổ chuyên môn phổ biến chương trình, 1 kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt ở các khối lớp
Tổ bộ môn tổ chức hướng dẫn, xây dựng kế 2 hoạch dạy học môn Tiếng Việt
Phối hợp với tổ trưởng để quản lý việc thực hiện 3 chương trình, kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt
Phó hiệu trưởng chuyên môn phối hợp với tổ
4 trưởng bộ môn đưa ra cách thức phân công GV
Tiếng Việt
Xây dựng quy trình phân công dựa trên hiệu quả 5 công việc, trình độ chuyên môn và nguyện vọng
6 Điều chỉnh sự phân công cho hợp lý hơn
Chỉ đạo, hướng dẫn GV lập kế hoạch bài dạy 7 thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp
Đảm bảo đủ SGK, tài liệu tham khảo, thiết bị kĩ 8 thuật cho GV
Tổ chức thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch 9 bài dạy môn Tiếng Việt
quản lý giờ dạy của GV thông qua TKB, Kế 10 hoạch dạy học, Sổ bài giảng, Sổ ghi đầu bài.
Xây dựng chuẩn giờ lên lớp theo các yêu cầu về 11 mục tiêu, nội dung, PPDH tích cực
Tổ chức cho tổ bộ môn dự giờ và phân tích giờ 12 dạy của GV
Câu 7. Đánh giá của thầy/ cô về thực hiện quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy
học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông?
Mức độ đánh giá
Trung TT Nội dung/ Tiêu chí Tốt Khá Yếu bình
1 Kiểm tra giáo án và hồ sơ cá nhân
Tổ bộ môn tổ chức tập huấn KT-ĐG kết quả học 2 tập của HS theo phát triển năng lực
Chỉ đạo xây dựng quy trình ra đề, kiểm duyệt 3 các đề kiểm tra
Phân tích kết quả, phân loại học tập của HS 4 theo phát triển năng lực
Ứng dụng CNTT trong quản lý kết quả học tập 5 của HS
Câu 8. Đánh giá của thầy/ cô về thực hiện quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học
và các điều kiện hỗ trợ dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường
tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông?
Mức độ đánh giá
Trung TT Nội dung/ Tiêu chí Tốt Khá Yếu bình
Xây dựng kế hoạch trang bị cơ sở vật chất, thiết 1 bị dạy học
Xây dựng nội quy sử dụng cơ sở vật chất, phương 2 tiện dạy học
Tăng cường cho GV kiến thức về công nghệ
3 thông tin và kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy
học hiện đại
Tổ chức cuộc thi viết sáng kiến kinh nghiệm cải
4 tiến kỹ thuật, thiết kế các phương tiện phục vụ
hoạt động học tập
Khen thưởng, động viên GV sử dụng có hiệu
5 quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phương tiện
kỹ thuật
III. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực chủ
nhiệm lớp cho GV các trường tiểu học huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Câu 9. Xin Thầy/cô cho biết mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến QLHĐDH
môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa,
tỉnh Đắk Nông?
Mức độ ảnh hưởng
Rất Không Ảnh Ít ảnh TT Yếu tố ảnh hưởng ảnh ảnh hưởng hưởng hưởng hưởng
Phương hướng, mục tiêu phát triển
1 mới của nhiệm vụ giáo dục của Nhà
trường
Chương trình, nội dung, kế hoạch và
các văn bản pháp quy về QLHĐDH 2 môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho
HS các trường tiểu học
Nhận thức và năng lực QLHĐDH môn
3 tiếng Việt của cán bộ quản lý ở các
trường tiểu học
Trình độ, năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ của đội ngũ GV giảng dạy 4 môn tiếng Việt và sựu hứng thú học
tập của HS
Đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện
5 dạy học và điều kiện xã hội của địa
phương
Câu 10. Xin Thầy/cô đề xuất các kiến nghị của mình nhằm hoàn thiện QLHĐDH
môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa,
tỉnh Đắk Nông?
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
Xin Thầy/cô vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân
1. Họ và tên: ………………………………………………………………….............
2. Giới tính: Nam……………Nữ…………………………………………………….
3. Chức vụ:……………………. Trình độ chuyên môn ……………………..............
4. Thâm niên công
tác……………………………………………………....................
5. Trường tiểu học
…………………………………………………………………….
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của Thầy /cô
2. Phụ lục 2:
PHIẾU KHẢO NGHIỆM
(Dành cho cán bộ quản lý và giáo viên)
Kính thưa các Thầy/cô
Nhằm mục đích đề xuất các biện pháp hoàn thiện công tác QLHĐDH môn
Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh
Đắk Nông, đề tài tổ chức khảo sát xin ý kiến của các thầy/cô về tính cần thiết, tính
khả thi của các biện pháp dưới đây:
Câu 1. Xin Thầy (cô) vui lòng cho biết ý kiến về tính cần thiết của các biện
pháp sau?
Mức độ cần thiết
Rất Không TT Tên biện pháp Cần thiết cần thiết cần thiết
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng
cao nhận thức cho giáo viên, cán bộ 1 quản lý về quản lý dạy học và dạy học
theo hướng phát triển năng lực học sinh
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho 2 đội ngũ giáo viên Tiếng Việt về dạy
học theo tiếp cận năng lực
Chỉ đạo thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ
chuyên môn, khuyến khích hoạt động 3 trong dạy học của giáo viên theo hướng
phát triển năng lực
Chỉ đạo giáo viên tăng cường sử dụng
có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, 4 đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt theo
hướng phát triển năng lực học sinh
Chỉ đạo thực hiện đổi mới kiểm tra -
đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng 5 Việt theo hướng phát triển năng lực học
sinh
Chỉ đạo thực hiện đổi mới hoạt động
6 đánh giá giáo viên thông qua kết quả
dạy học môn Tiếng Việt
Câu 2. Xin Thầy (cô) vui lòng cho biết ý kiến về tính khả thi của các biện pháp
sau?
Mức độ khả thi
Rất Không TT Tên biện pháp Khả thi khả thi khả thi
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng
cao nhận thức cho giáo viên, cán bộ 1 quản lý về quản lý dạy học và dạy học
theo hướng phát triển năng lực học sinh
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho 2 đội ngũ giáo viên Tiếng Việt về dạy
học theo tiếp cận năng lực
Chỉ đạo thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ
chuyên môn, khuyến khích hoạt động 3 trong dạy học của giáo viên theo hướng
phát triển năng lực
Chỉ đạo giáo viên tăng cường sử dụng
có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, 4 đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt theo
hướng phát triển năng lực học sinh
Chỉ đạo thực hiện đổi mới kiểm tra - 5 đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng
Việt theo hướng phát triển năng lực học
sinh
Chỉ đạo thực hiện đổi mới hoạt động
6 đánh giá giáo viên thông qua kết quả
dạy học môn Tiếng Việt
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của Thầy /cô
3. Phụ lục 3:
MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Cơ sở vật chất, kỹ thuật tại các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa
Phòng
Phòng làm Phòng TS giáo Phòng Phòng việc Năm Phòng Phòng học kiên phòng Tin thư dục của học TBDH họp cố cao học học viện nghệ BGH tầng thuật và
TCM
2016 - 310 258 13 36 24 72 24 3 2017
2017 - 310 257 15 36 24 70 24 3 2018
2018 - 315 289 17 13 39 24 62 24 2019
2019 - 323 293 14 13 32 24 54 24 2020
2020 - 295 333 12 15 28 23 49 24 2021
(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Gia Nghĩa)
Bảng 2. Kết quả khảo sát về thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức đánh giá
Trung Yếu ĐT Tốt Khá TT Nội dung bình B
SL % SL % SL % SL %
Hình thành năng lực tự chủ 1 35 38.46 36 39.56 17 18.68 2 2.20 3.12 và tự học
Hình thành năng lực giao tiếp 2 39 42.86 28 30.77 18 19.78 6 6.59 3.10 và hợp tác
Hình thành năng lực giải 3 32 35.16 38 41.76 19 20.88 1 1.10 3.09 quyết vấn đề và sáng tạo
Hình thành năng lực nói tiếng 40 43.96 42 46.15 9 9.89 0 4 0 3.34 Việt cho học sinh
Hình thành năng lực nghe 5 42 46.15 38 41.76 10 10.99 1 1.10 3.33 tiếng Việt cho học sinh
Hình thành năng lực đọc cho 6 32 35.16 45 49.45 12 13.19 2 2.20 3.18 học sinh
Hình thành năng lực viết 7 21 23.08 46 50.55 21 23.08 3 3.30 2.93 tiếng Việt cho học sinh
Những hiểu biết sơ giản về 8 26 28.57 37 40.66 25 27.47 3 3.30 2.95 xã hội, tự nhiên và con người
Rèn luyện cho HS các thao
9 tác tư duy cơ bản (phân tích, 21 23.08 42 46.15 17 18.68 11 12.09 2.80
tổng hợp, phán đoán...).
(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Gia Nghĩa)
Bảng 3. Thực hiện nội dung dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các
trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức đánh giá
Trung Yếu Tốt Khá TT Nội dung ĐTB bình
SL % SL % SL % SL %
I Về kiến thức
1 Kiến thức Tiếng Việt 36 39.56 39 42.86 14 15.38 2 2.20 3.20
2 Tập làm văn 26 28.57 31 34.07 28 30.77 6 6.60 2.85
3 Kiến thức Văn học 29 31.87 39 42.86 17 18.68 6 6.59 3.00
II Về kỹ năng
1 Kỹ năng đọc 22 24.18 46 50.55 15 16.48 8 8.79 2.90
17.5 2 Kỹ năng viết 18 19.78 35 38.46 22 24.18 16 2.60 8
10.9 3 Kỹ năng nghe 29 31.87 38 41.76 14 15.38 10 2.95 9
14.2 4 Kỹ năng nói 20 21.98 37 40.66 21 23.08 13 2.70 9
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 4. Thực hiện phương pháp, hình thức dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức đánh giá
Trung Yếu Tốt Khá TT Nội dung ĐTB bình
SL % SL % SL % SL %
I Các phương pháp
1 Đọc sáng tạo 25 27.47 42 46.15 21 23.08 3 3.30 2.98
2 Vấn đáp gợi mở 36 39.56 39 42.86 14 15.38 2 2.20 3.20
3 Giảng giải 36 39.56 35 38.46 12 13.19 8 8.79 3.09
4 Nêu tình huống có vấn đề 22 24.17 48 52.75 15 16.48 6 6.59 2.95
Xây dựng và thực hiện các 5 23 25.27 39 42.86 24 26.37 5 5.49 2.88 chủ đề, dự án trong dạy học
II Các hình thức
Tổ chức dạy học theo nhóm, 1 36 39.56 42 46.15 12 13.19 1 1.10 3.24 cá nhân, lớp
Sử dụng bản đồ tư duy trong 15.3 2 11 12.09 24 26.37 42 46.15 14 2.35 dạy học Tiếng Việt 8
HS học thông qua hoạt động
ngoại khóa; tổ chức các tiết 3 31 34.07 40 43.96 12 13.19 8 8.79 3.03 học trải nghiệm bên ngoài
lớp học
Câu lạc bộ theo sở thích, giao 4 21 23.08 42 46.15 24 26.37 4 4.40 2.88 lưu với nhà văn, nhà thơ
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 5. Thực hiện kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức đánh giá
Trung Yếu Tốt Khá TT Nội dung ĐTB bình
SL % SL % SL % SL %
Kiểm tra việc thực hiện nề
1 nếp thông qua lịch báo 29 31.87 36 39.56 23 25.27 3 3.30 3.00
giảng, Sổ ghi đầu bài
Đánh giá giờ dạy qua dự 2 28 30.77 32 35.16 23 25.27 6 8.79 2.86 giờ
Kiểm tra hoạt động sinh 3 11 12.09 20 21.98 27 29.67 33 36.26 2.10 hoạt tổ, nhóm chuyên môn
Đánh giá GV thông qua 4 20 21.98 29 31.87 30 32.97 12 13.19 2.63 kết quả đạt được của HS
Đánh giá GV bằng kết quả 5 36 39.56 18 19.78 29 31.87 8 8.79 2.90 thi đua cuối năm
Kiểm tra việc thực hiện
6 chấm, chữa, trả bài, vào 27 29.67 32 35.16 25 27.47 7 7.69 2.87
điểm của GV
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 6. Thực hiện quản lý mục tiêu, kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt
theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức đánh giá
Yếu ĐTB TT Nội dung Tốt Khá Trung bình
SL % SL % SL % SL %
Chỉ đạo tổ chuyên môn phổ
biến mục tiêu dạy học môn 1 25 27.47 35 38.46 23 25.27 8 8.79 2.85 Tiếng Việt trước khi xây
dựng kế hoạch giảng dạy
Tổ bộ môn xây dựng mục
14.2 tiêu giảng dạy môn Tiếng 22 24.18 36 39.56 20 21.98 13 2 2.74 9 Việt theo chuẩn kiến thức và
kỹ năng của môn học
Xây dựng kế hoạch kiểm tra
việc thiết kế bài giảng theo 3 26 28.57 39 42.86 20 21.98 6 6.59 2.93 chuẩn kiến thức kỹ năng và
mục tiêu môn học
Tổ chức trao đổi việc thực 48.3 4 hiện mục tiêu môn Tiếng 8 8.79 14 15.38 25 27.47 44 1.84 5 Việt trong tổ bộ môn
Tổ trưởng bộ môn đánh giá
kế hoạch bài giảng dựa trên 5 30 32.97 44 48.35 13 14.29 4 4.40 3.10 mục tiêu môn học đã xác
định
Xây dựng kế hoạch dự giờ
6 kiểm tra việc thực hiện mục 28 30.77 43 47.25 16 17.58 4 4.40 3.04
tiêu dạy học
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 7. Thực hiện quản lý nội dung, chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức đánh giá
Trung Yếu Tốt Khá TT Nội dung ĐTB bình
SL % SL % SL % SL %
Chỉ đạo tổ chuyên môn phổ
biến chương trình, kế hoạch 1 22 24.18 37 40.66 25 27.47 7 7.69 2.81 dạy học môn Tiếng Việt ở
các khối lớp
Tổ bộ môn tổ chức hướng
2 dẫn, xây dựng kế hoạch dạy 19 20.88 35 38.46 22 24.18 17 16.48 2.66
học môn Tiếng Việt
Phối hợp với tổ trưởng để
quản lý việc thực hiện 3 28 30.77 46 50.55 13 14.29 4 4.40 3.08 chương trình, kế hoạch dạy
học môn Tiếng Việt
Phó hiệu trưởng chuyên
môn phối hợp với tổ trưởng 4 17 18.68 31 34.07 28 30.77 15 16.48 2.55 bộ môn đưa ra cách thức
phân công GV Tiếng Việt
Xây dựng quy trình phân
công dựa trên hiệu quả công 5 14 15.38 24 26.37 32 35.16 21 23.08 2.34 việc, trình độ chuyên môn
và nguyện vọng
Điều chỉnh sự phân công 6 31 34.07 39 42.86 18 19.78 3 3.30 3.08 cho hợp lý hơn
Chỉ đạo, hướng dẫn GV lập 7 26 28.57 35 38.36 21 23.08 9 9.89 2.86 kế hoạch bài dạy thống nhất
Mức đánh giá
Trung Yếu Tốt Khá TT Nội dung ĐTB bình
SL % SL % SL % SL %
về mục tiêu, nội dung,
phương pháp
Đảm bảo đủ SGK, tài liệu
8 tham khảo, thiết bị kĩ thuật 27 29.67 41 45.05 18 19.78 5 5.49 2.99
cho GV
Tổ chức thảo luận, đóng
9 góp ý kiến về kế hoạch bài 8 8.79 20 21.98 27 29.67 36 39.56 2.00
dạy môn Tiếng Việt
quản lý giờ dạy của GV
thông qua TKB, Kế hoạch 10 47 51.65 40 43.96 4 4.40 0 0 3.47 dạy học, Sổ bài giảng, Sổ
ghi đầu bài.
Xây dựng chuẩn giờ lên lớp
theo các yêu cầu về mục 11 17 18.68 24 26.37 28 30.77 22 24.18 2.40 tiêu, nội dung, PPDH tích
cực
Tổ chức cho tổ bộ môn dự
12 giờ và phân tích giờ dạy 21 23.08 24 26.37 30 32.97 16 17.58 2.55
của GV
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 8. Thực hiện quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt
theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức đánh giá
Trung Yếu Tốt Khá Nội dung ĐTB bình
TT SL % SL % SL % SL %
Kiểm tra giáo án và hồ sơ cá 1 32 35.16 38 41.76 21 23.08 0 0 3.12 nhân
Tổ bộ môn tổ chức tập huấn
2 KT-ĐG kết quả học tập của 8 8.79 19 20.88 25 27.47 39 42.86 1.96
HS theo phát triển năng lực
Chỉ đạo xây dựng quy trình
3 ra đề, kiểm duyệt các đề 20 21.98 27 29.67 30 32.97 14 15.38 2.58
kiểm tra
Phân tích kết quả, phân loại
4 học tập của HS theo phát 14 15.38 25 27.47 32 35.16 20 21.98 2.36
triển năng lực
Ứng dụng CNTT trong quản 5 25 27.47 30 32.97 22 24.18 14 15.38 2.73 lý kết quả học tập của HS
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 9. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến QLHĐDH môn Tiếng Việt theo
ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức độ ảnh hưởng
Không Rất ảnh Ảnh Ít ảnh ảnh ĐTB TT Yếu tố ảnh hưởng hưởng hưởng hưởng hưởng
SL % SL % SL % SL %
56 61.54 32 35.16 3 3.30 0 1 0 3.58
41 45.05 42 46.15 8 8.79 0 2 0 3.36
68 74.72 22 24.18 1 1.10 0 3 0 3.74
12.2 62 68.13 16 17.58 13 0 4 0 3.54 9
10.9 55 60.44 24 26.37 10 5 2 2.20 3.45 9
Phương hướng, mục tiêu phát triển mới của nhiệm vụ giáo dục của Nhà trường Chương trình, nội dung, kế hoạch và các văn bản pháp quy về QLHĐDH theo môn Tiếng Việt ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học Nhận thức và năng lực QLHĐDH môn tiếng Việt của cán bộ quản lý ở các trường tiểu học lực Trình độ, năng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ GV giảng dạy môn tiếng Việt và sựu hứng thú học tập của HS Đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và điều kiện xã hội của địa phương Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 10. Thực hiện quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện
hỗ trợ dạy học môn Tiếng Việt theo ĐHPTNL cho HS các trường tiểu học
thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
Mức đánh giá
Trung Yếu Tốt Khá TT Nội dung ĐTB bình
SL % SL % SL % SL %
Xây dựng kế hoạch trang bị
1 cơ sở vật chất, thiết bị dạy 32 35.16 39 42.86 15 16.48 5 5.49 3.08
học
Xây dựng nội quy sử dụng cơ
2 sở vật chất, phương tiện dạy 41 45.05 21 23.08 22 24.16 7 7.69 3.05
học
Tăng cường cho GV kiến
thức về công nghệ thông tin 3 38 41.76 33 36.23 11 12.09 9 9.89 3.10 và kỹ năng sử dụng các thiết
bị dạy học hiện đại
Tổ chức cuộc thi viết sáng
kiến kinh nghiệm cải tiến kỹ
4 thuật, thiết kế các phương 42 46.15 19 20.88 23 25.27 7 7.69 3.05
tiện phục vụ hoạt động học
tập
Khen thưởng, động viên GV
sử dụng có hiệu quả cơ sở vật 5 33 36.26 36 39.56 22 24.16 0 0 3.12 chất, thiết bị dạy học, phương
tiện kỹ thuật
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 11. Tính cần thiết của các biện pháp
Mức độ cần thiết
Rất cần Ít cần Thứ TT Biện pháp Cần thiết ĐTB thiết thiết bậc
SL % SL % SL %
Tổ chức các hoạt động bồi
dưỡng nâng cao nhận thức
cho giáo viên, cán bộ quản 71 78.02 14 15.38 6 6.59 2.71 4 1 lý về quản lý dạy học và
dạy học theo hướng phát
triển năng lực học sinh
Tổ chức các hoạt động bồi
dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho 80 87.91 10 10.99 1 1.10 2.87 2 2 đội ngũ giáo viên Tiếng
Việt về dạy học theo tiếp
cận năng lực
Chỉ đạo thực hiện đổi mới
sinh hoạt tổ chuyên môn,
khuyến khích hoạt động 82 90.11 8 8.79 1 1.10 2.89 1 3 trong dạy học của giáo
viên theo hướng phát triển
năng lực
Chỉ đạo giáo viên tăng
cường sử dụng có hiệu quả
các phương tiện kỹ thuật,
4 63 69.23 16 17.58 12 13.19 2.56 6 đồ dùng dạy học môn
Tiếng Việt theo hướng
phát triển năng lực học
sinh
Mức độ cần thiết
Rất cần Ít cần Thứ TT Biện pháp Cần thiết ĐTB thiết thiết bậc
SL % SL % SL %
Chỉ đạo thực hiện đổi mới
kiểm tra - đánh giá kết quả
5 73 80.22 13 14.29 5 5.49 2.75 3 dạy học môn Tiếng Việt
theo hướng phát triển năng
lực học sinh
Chỉ đạo thực hiện đổi mới
hoạt động đánh giá giáo 6 68 74.73 15 16.48 8 8.79 2.66 5 viên thông qua kết quả dạy
học môn Tiếng Việt
Trung bình 2.74
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 12. Tính khả thi của các biện pháp
Mức độ cần thiết
Rất khả Thứ TT Biện pháp Khả thi Ít khả thi ĐTB thi bậc
SL % SL % SL %
Tổ chức các hoạt động bồi
dưỡng nâng cao nhận thức
cho giáo viên, cán bộ quản 32 35.16 53 58.24 6 6.59 2.29 3 1 lý về quản lý dạy học và
dạy học theo hướng phát
triển năng lực học sinh
Tổ chức các hoạt động bồi
dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho 30 32.97 56 61.54 5 5.49 2.27 4 2 đội ngũ giáo viên Tiếng
Việt về dạy học theo tiếp
cận năng lực
Chỉ đạo thực hiện đổi mới
sinh hoạt tổ chuyên môn,
khuyến khích hoạt động 38 41.76 52 57.14 1 1.10 2.41 1 3 trong dạy học của giáo
viên theo hướng phát triển
năng lực
Chỉ đạo giáo viên tăng
cường sử dụng có hiệu quả
các phương tiện kỹ thuật,
4 27 29.67 57 62.64 7 7.69 2.22 5 đồ dùng dạy học môn
Tiếng Việt theo hướng
phát triển năng lực học
sinh
Mức độ cần thiết
Rất khả Thứ TT Biện pháp Khả thi Ít khả thi ĐTB thi bậc
SL % SL % SL %
Chỉ đạo thực hiện đổi mới
kiểm tra - đánh giá kết quả
5 35 38.46 53 58.24 3 3.30 2.35 2 dạy học môn Tiếng Việt
theo hướng phát triển năng
lực học sinh
Chỉ đạo thực hiện đổi mới
hoạt động đánh giá giáo 6 23 25.27 59 64.84 9 9.89 2.15 6 viên thông qua kết quả dạy
học môn Tiếng Việt
Trung bình 2.28
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Bảng 13. Mối quan hệ giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
Cần thiết Khả thi
D2 Thứ Thứ TT Biện pháp (mi-ni)2 bậc bậc
(mi) (ni)
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng
cao nhận thức cho giáo viên, cán bộ quản 2.71 4 2.29 3 1 1 lý về quản lý dạy học và dạy học theo
hướng phát triển năng lực học sinh
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho 2.87 2 2.27 4 4 2 đội ngũ giáo viên Tiếng Việt về dạy học
theo tiếp cận năng lực
Chỉ đạo thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ
chuyên môn, khuyến khích hoạt động 2.89 1 2.41 1 0 3 trong dạy học của giáo viên theo hướng
phát triển năng lực
Chỉ đạo giáo viên tăng cường sử dụng có
hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, đồ 2.56 6 2.22 5 1 4 dùng dạy học môn Tiếng Việt theo hướng
phát triển năng lực học sinh
Chỉ đạo thực hiện đổi mới kiểm tra - đánh
5 2.75 3 2.35 2 1 giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt theo
hướng phát triển năng lực học sinh
Chỉ đạo thực hiện đổi mới hoạt động đánh
6 giá giáo viên thông qua kết quả dạy học 2.66 5 2.15 6 1
môn Tiếng Việt
Trung bình 2.74 2.28
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả

