intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Quản lý môi trường vùng nuôi tôm dựa vào cộng đồng tại thôn Lương Cách, xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải: Một số kết quả bước đầu và kinh nghiệm

Chia sẻ: Danh Tuong Vi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:0

0
9
lượt xem
0
download

Quản lý môi trường vùng nuôi tôm dựa vào cộng đồng tại thôn Lương Cách, xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải: Một số kết quả bước đầu và kinh nghiệm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu nhằm triển khai quản lý môi trường vùng nuôi tôm dựa vào cộng đồng được Bộ môn Quản lý Môi trường và Nguồn lợi thủy sản, Khoa Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Thủy sản thực hiện tại thôn Lương Cách, xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải. Kết quả bước đầu cho thấy vẫn tuy vẫn còn một số ý kiến nhưng ý thức cộng đồng địa phương đã được cải thiện. Bên cạnh đó hoạt động của các cơ quan ban ngành chức năng về vấn đề quản lý nuôi tôm nói chung và quản lý môi trường vùng nuôi nói riêng bắt đầu có sự chia sẻ thông tin nhằm cải thiện tình hình phối hợp hoạt động.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quản lý môi trường vùng nuôi tôm dựa vào cộng đồng tại thôn Lương Cách, xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải: Một số kết quả bước đầu và kinh nghiệm

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2006<br /> <br /> Trường Đại học Thủy sản<br /> <br /> QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÙNG NUÔI TÔM DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG<br /> TẠI THÔN LƯƠNG CÁCH, XÃ HỘ HẢI, HUYỆN NINH HẢI:<br /> MỘT SỐ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU VÀ KINH NGHIỆM<br /> Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và nhóm nghiên cứu<br /> Khoa Nuôi trồng thủy sản<br /> Nghiên cứu nhằm triển khai quản lý môi trường vùng nuôi tôm dựa vào cộng đồng được Bộ môn<br /> Quản lý Môi trường và Nguồn lợi thủy sản, Khoa Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Thủy sản thực<br /> hiện tại thôn Lương Cách, xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận từ 10/2004 đến tháng 10/2005<br /> áp dụng một số công cụ truyền thông phát triển có sự tham gia (PDC – Participatory Development<br /> Communication). Kết quả bước đầu cho thấy tuy vẫn còn một số ý kiến nhưng ý thức cộng đồng địa<br /> phương đã được cải thiện. Bên cạnh đó hoạt động của các cơ quan ban ngành chức năng về vấn đề<br /> quản lý nuôi tôm nói chung và quản lý môi trường vùng nuôi nói riêng bắt đầu có sự chia sẻ thông tin<br /> nhằm cải thiện tình hình phối hợp hoạt động.<br /> I. Mở đầu<br /> Sự phát triển của nuôi trồng thủy sản và các<br /> vấn đề môi trường nảy sinh đã trở thành là mối<br /> quan tâm hàng đầu trong những năm gần đây,<br /> đặc biệt ở Đông Nam Á. Mặc dù các tác động<br /> môi trường từ nuôi trồng thủy sản có thể không<br /> lớn nếu so sánh với nhiều hoạt động phát triển<br /> khác, tuy nhiên, sự phát triển không được kiểm<br /> soát, không có kế hoạch và quá nhanh của<br /> ngành ở các khu vực trên thế giới (đáng chú ý là<br /> ở Nam và Đông Nam Á, và Nam Phi) đã dẫn<br /> đến các tác động môi trường mang tính tích lũy<br /> rất đáng ngại (Hambrey và cộng tác viên, 2000).<br /> Tại Việt Nam, sự phát triển tự phát của nuôi<br /> trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm đã dẫn đến<br /> các vấn đề tương tự. Đầm Nại tỉnh Ninh Thuận,<br /> thuộc hệ thống đầm phá ven biển miền Trung<br /> Việt Nam, góp phần tạo sinh kế cho phần lớn cư<br /> dân địa phương từ nguồn lợi mặt nước và thủy<br /> sản. Hiện đang có hàng loạt hoạt động sinh kế<br /> tại vùng đầm, trong đó nuôi tôm được xem là<br /> hoạt động quan trọng có ảnh hưởng đến đời<br /> sống cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, hoạt<br /> động nuôi tôm gần đây đang phải đối mặt với<br /> nhiều khó khăn do sự suy thoái chất lượng nước<br /> đầm và sự bùng nổ dịch bệnh (Thường và ctv,<br /> 2001). Do vậy, việc đinh hướng mang tính chiến<br /> lược trong quản lý nuôi tôm đã trở nên cần thiết<br /> nhằm đạt được phát triển bền vững. Trên thực<br /> tế sự phát triển nuôi tôm tự phát ở Việt Nam và<br /> các vấn đề môi trường nảy sinh là rất phức tạp<br /> đòi hỏi sự tham gia của các cộng đồng địa<br /> phương vào việc quản lý.<br /> Trong thời đại ngày nay, khuôn mẫu phát<br /> triển (develoment paradigms) những năm 1960s<br /> – 1970s theo hướng “chỉ đạo” (topdown: thực<br /> hiện, kiểm soát và giám sát từ Trung ương)<br /> thường dẫn đến thất bại do:<br /> - Thiếu sự tham gia của các cơ quan, ban<br /> ngành, đoàn thể (các bên liên quan –<br /> stakeholder) trong hoạt động nhằm cải thiện đời<br /> sống của cộng đồng địa phương.<br /> <br /> - Không đạt hiệu quả về kinh tế và khó bảo<br /> đảm tính công bằng (do thiếu nguồn lực thực<br /> hiện).<br /> Theo đó, quản lý tài nguyên dựa vào cộng<br /> đồng đặc biệt là quản lý tài nguyên ven bờ dựa<br /> vào cộng đồng đã được thừa nhận rộng rãi và<br /> đang được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức nghiên<br /> cứu và triển khai ở Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á,<br /> nhất là ở các nước Đông Nam Á như<br /> Philippines, Indonesia, Thailand. Quản lý tài<br /> nguyên dựa vào cồng đồng khẳng định mỗi<br /> cộng đồng sẽ có ưu thế về kiến thức và kỹ năng<br /> mang tính địa phương để “phát triển một chiến<br /> lược quản lý có thể đáp ứng nhu cầu và điều<br /> kiện của chính cộng đồng” (Pomeroy, 1994; dẫn<br /> theo Pháp, 2000). Ở Việt Nam, các nghiên cứu<br /> và áp dụng các mô hình quản lý dựa vào cộng<br /> đồng đã đươc triển khai nhiều địa phương miền<br /> núi và vùng ven biển.<br /> Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Lương<br /> Cách, xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh<br /> Thuận từ tháng 10/2004 đến tháng 10/2005 với<br /> các mục tiêu sau:<br /> - Lôi kéo sự tham gia của cư dân địa<br /> phương vào quản lý môi trường vùng nuôi tôm.<br /> - Cải thiện hoạt động của các bên liên quan<br /> (stakeholder) trong quản lý môi trường khu vực<br /> nuôi tôm tại địa phương.<br /> Bài viết này trình bày một số kết quả bước<br /> đầu và các bài học kinh nghiệm từ tiếp cận<br /> nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng<br /> (participatory research approach).<br /> II. Phương pháp nghiên cứu<br /> Phương pháp nghiên cứu dựa vào cộng<br /> đồng (Dực, 2000) và một số công cụ truyền<br /> thông (Guy Bessette, 2004) được áp dụng cho<br /> nghiên cứu này. Dưới đây là một số công cụ<br /> được sử dụng:<br /> <br /> 31<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2006<br /> <br /> - Dòng thời gian (time-line): được sử dụng<br /> để thảo luận với các người am hiểu (key<br /> informant) các vấn đề quan tâm.<br /> - Phân hạng (ranking): được áp dụng để<br /> xác định tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng<br /> của các bên liên quan (stakeholder) đối với dự<br /> phát triển kinh tế xã hội và các hoạt động tạo thu<br /> nhập địa phương.<br /> - Phỏng vấn linh hoạt/ bán cấu trúc (semistructure interview): sử dụng để thu các thông tin<br /> về hoạt động tạo thu nhập, trình độ học vấn,<br /> điều kiện môi trường và ý thức của người địa<br /> phương về vấn đề môi trường nói chung…<br /> Nhằm tạo mối quan hệ tốt với cộng đồng,<br /> một số phương thức sau đây đã được áp dụng:<br /> - Viếng thăm Ban Quản lý thôn nhằm giới<br /> thiệu về nghiên cứu và hiểu thêm về tình hình<br /> chung của thôn (dân số, lao động, mức sống,<br /> tình hình nuôi nói chung…) và đề nghị cộng tác<br /> trong triển khai nghiên cứu.<br /> - Thảo luận với các người am hiểu (key<br /> informant) về các nguồn lực của thôn, ảnh<br /> hưởng của các bên liên quan đối với tình hình<br /> phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển hoạt<br /> động nuôi tôm của thôn, vai trò và ảnh hưởng<br /> của các bên liên quan về công tác quản lý môi<br /> trường nói chung cũng như nhận thức và hành<br /> vi ứng xử của dân làng đặc biệt là người nuôi<br /> tôm trong việc bảo vệ môi trường. Các bên liên<br /> quan bao gồm các người nuôi tôm có thâm niên<br /> (có kinh nghiệm), Ban Quản lý thôn và Chi hội<br /> trưởng các chi hội, tổ trưởng các Tổ nuôi tôm tự<br /> quản…<br /> - Viếng thăm các hộ gia đình nhằm hiểu biết<br /> sâu sắc hơn về nhận định của người dân về vai<br /> trò của việc bảo vệ môi trường nói chung và bảo<br /> vệ môi trường khu vực nuôi tôm nói riêng.<br /> - Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn nhằm<br /> cải thiện nhận thức về vấn đề môi trường. Cũng<br /> nhằm mục đích này các khẩu hiệu được thực<br /> hiện nhằm nâng cao ý thức của cư dân trong<br /> thôn.<br /> III Một số kết quả bước đầu:<br /> 1. Hiện trạng:<br /> Thôn Lương Cách, xã Hộ Hải, huyện Ninh<br /> Hải là một thôn có lịch sử nghề nuôi tôm lâu<br /> năm ở vùng đầm. Từ những năm 1990 nuôi tôm<br /> đã trở thành một hoạt động sinh kế của nhiều cư<br /> dân địa phương và ngày càng trở thành một<br /> hoạt động quan trọng ảnh hưởng đến sinh kế<br /> của cộng đồng. Vào thời điểm hiện tại, tổng diện<br /> tích đất canh tác nông nghiệp của thôn vào<br /> khoảng 110 hectare và diện tích sử dụng cho<br /> nuôi tôm vào khoảng 55 hectare với khoảng 156<br /> hộ canh tác nông nghiệp và 110 hộ nuôi tôm.<br /> Tuy nhiên, kết quả phỏng vấn những người am<br /> hiểu (key informant) và thảo luận nhóm (group<br /> <br /> 32<br /> <br /> Trường Đại học Thủy sản<br /> <br /> discussion) cho thấy rằng đóng góp của hoạt<br /> động nuôi tôm đối với sinh kế cộng đồng trong<br /> giai đoạn 200-2003 giảm xuống chỉ còn 30% so<br /> với 80 % trong giai đoạn 1998-2000 và 70% ở<br /> giai đoạn 1992-1998. Kết quả nghiên cứu cho<br /> thấy trong giai đoạn 2003 - 2004 chỉ khoảng<br /> 38,8% số hộ muôi tôm có lãi và 61,2% số hộ<br /> nuôi tôm thất bại (n = 45) (Bôi và cộng tác viên,<br /> 2004). Kết quả phỏng vấn 29 hộ nuôi tôm tại<br /> thôn cho thấy qua 6 tháng đầu năm 2005 có<br /> 65,24% số hộ thu được lợi nhuận từ hoạt động<br /> nuôi tôm (19/29), 23,79% (4/29) số hộ không thể<br /> hoàn tất vụ nuôi để thu được sản phẩm. Trước<br /> tình hình khó khăn do dich bệnh và thời tiết hiện<br /> tại, chỉ có 58,62% số hộ (17/29) nghĩ rằng sẽ<br /> tiếp tục nuôi tôm (Trong số này, 7 hộ sẽ nuôi 1<br /> vụ/năm và 10 hộ sẽ nuôi 2 vụ/ năm) và 41,38%<br /> số hộ (12/19) nghĩ rằng sẽ tạm thời không nuôi<br /> tôm. Do hạn hán kéo dài từ tháng 9 – 2004 đến<br /> tháng 5 – 2005, hoạt động nuôi tôm tại Lương<br /> Cách gặp rất nhiều khó khăn. Theo số liệu của<br /> Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận, đến tháng 7<br /> – 2005, diện tích nuôi tôm chỉ 12,5 hectare trong<br /> tổng số 55 hectare của thôn. Trong số này đã có<br /> 6,5 hectare bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Theo<br /> Ban Quản lý thôn, tính cho đến nay, nợ ngân<br /> hàng của các cư dân địa phương vào khoảng 4<br /> tỷ đồng và hơn 500 lao động của thôn đã đi làm<br /> thuê ở các địa phương khác. Cùng với xu<br /> hướng này này, khó khăn trong nuôi tôm đã dẫn<br /> đến nhiều tệ nạn ở thôn.<br /> 2. Một số nhân tố ảnh hưởng đến tình hình<br /> quản lý môi trường vùng nuôi:<br /> Để thực hiện một hoạt động tạo thu nhập (hoạt<br /> động sinh kế - livelihood activity) cần có vốn<br /> (livelihood assets). Theo Harvey Demaine<br /> (2001), đối với hoạt động sinh kế cộng đồng vốn<br /> bao gồm nguồn lợi tự nhiên (natural capital),<br /> nguồn lực vật lý (physical capital), nguồn nhân<br /> lực (human capital), vốn tài chính (financial<br /> capital) và nguồn lực xã hội (social capital).<br /> Theo đó, quản lý môi trường vùng nuôi tôm dựa<br /> trên cộng đồng đòi hỏi sự tham gia của tất cả<br /> các bên liên quan (stakeholder) để khai thác và<br /> sử dụng bền vững các nguồn lực địa phương.<br /> Trên cơ sở này có thể xem xét tình hình quản lý<br /> môi trường vùng nuôi tôm tại thôn Lương Cách<br /> theo các khía cạnh nêu trên.<br /> a. Nguồn lợi tự nhiên<br /> Do lợi nhuận từ hoạt động nuôi tôm, diện<br /> tích sử dụng cho hoạt động nuôi tôm đã mở<br /> rông nhanh chóng từ vùng hạ triều (10 ha, 1993)<br /> lên các ruộng lúa, thâm chí đến các vùng đất<br /> hoang hóa sát núi Cà Đú (với tổng diện tích 55<br /> ha cho toàn thôn, 2002). Tại thôn Lương Cách<br /> cũng như các cộng đồng quanh Đầm Nại khác,<br /> Đầm Nại đóng vai trò là nguồn cung cấp nước<br /> mặn đồng thời là thủy vực tiếp nhận nước thải<br /> <br /> Trường Đại học Thủy sản<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2006<br /> <br /> từ hoạt động nuôi tôm. Sự phát triển tự phát<br /> hoạt động nuôi tôm của địa phương, đặc biệt<br /> trong giai đoạn 1998 – 2000, đã dẫn đến sự quá<br /> tải và ảnh hưởng tiêu cực lên chính hoạt động<br /> nuôi tôm. Điều này cho thấy người dân địa<br /> phương có quyền tiếp cận đối với nguồn lợi tự<br /> nhiên (đất và nước) để thực hiện hoạt động sinh<br /> kế. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có mô hình<br /> quản lý nguồn lợi tự nhiên địa phương phù hợp<br /> nhằm khai thác lâu bền nguồn lợi này tại thôn<br /> Lương Cách cũng như các cồng đồng ven đầm<br /> khác.<br /> b. Hệ thống kênh mương:<br /> Đối với các cộng đồng nông thôn, hệ thống<br /> kênh mương được xem như nguồn lực vật lý<br /> của cộng đồng sử dụng cho mục đích tưới tiêu<br /> trong hoạt động nông nghiệp nói chung. Do việc<br /> xây dựng với các mục đích khác nhau (nông<br /> nghiệp và nuôi tôm) vào các thời điểm khác<br /> nhau nên hệ thống kênh mương và việc phân<br /> cấp quản lý kênh mương tại thôn Lương Cách<br /> còn nhiều bất cập. Theo người dân địa phương<br /> và cán bộ các cơ quan chức năng, hệ thống<br /> mương dẫn nước ngọt cho nuôi trồng thủy sản<br /> thiếu các mương cấp 3 và mạng lưới kênh dẫn<br /> nước nội đồng. Trên thực tế, chỉ một số ao nuôi<br /> ở hạ triều có thể trao đổi nước dễ dàng. Phần<br /> diện tích nuôi được mở rộng từ 1997 vẫn phải<br /> sử dụng mương Lê Đình Chinh, một mương dẫn<br /> cấp 2 phục vụ cho hoạt động nông nghiệp, đối<br /> với việc cấp và cả thải nước. Do quản lý kém<br /> nên hệ thống mương này dần bị bồi lắng và ô<br /> nhiễm nặng, do vậy, khả năng trao đổi nước của<br /> các ao nuôi này rất hạn chế. Thêm vào đó, việc<br /> thu nhận nước ngọt đi qua vùng sản xuất nông<br /> nghiệp không loại trừ khả năng chịu ảnh hưởng<br /> <br /> của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra,<br /> theo ý kiến của người nuôi, môi trường vùng<br /> nuôi tôm thôn Lương Cách có thể bị ảnh hưởng<br /> bởi chất thải từ nhà máy đường Kênh Bắc –<br /> Tháp Chàm. Gần đây, được sự đầu tư của Uỷ<br /> Ban Nhân Dân Tỉnh Ninh Thuận, kênh dẫn nước<br /> mặn và thoát lũ Màng Màng đã được cải tạo góp<br /> phần giảm thiểu khó khăn về nguồn nước cấp<br /> cho hoạt động nuôi tôm thôn Lương Cách. Tuy<br /> nhiên, do ý thức cộng đồng chưa cao, việc xả<br /> rác bừa bải và hoạt động chăn nuôi tiếp tục gây<br /> ảnh hưởng đến việc cấp nước cho hoạt động<br /> nuôi tôm.<br /> c. Mạng lưới tiếp cận thông tin:<br /> Kết quả thảo luận nhóm về mạng lưới tiếp<br /> cận thông tin được trình bày ở bảng 1. Kết quả<br /> ở bảng cho thấy mạng lưới tiếp cận thông tin đối<br /> với cộng đồng thôn khá đa dạng. Tuy nhiên mức<br /> độ và tần suất tiếp cận đối với mỗi loại thông tin<br /> có khác nhau. Liên quan đến hoạt động nuôi<br /> tôm, các khoá tập huấn hoặc hội thảo thường<br /> được tổ chức bởi Sở Thủy sản, Trung tâm<br /> Khuyến Ngư Tỉnh hoặc các Công ty bán hóa<br /> chất và thức ăn hoặc thu nhận thông tin qua<br /> sách báo và truyền hình, tuy nhiên mức độ tiếp<br /> cận thông tin thường xuyên là thông qua truyền<br /> hình. Về thông tin thị trường, nguồn tiếp cận chủ<br /> yếu thông qua bán sản phẩm, qua lối xóm, báo<br /> chí và truyền hình. Thông tin về vay vốn được<br /> cung cấp qua các cuộc họp được tổ chức bởi<br /> chính quyền. Kết quả này cũng cho thấy công<br /> tác truyền thông về quản lý môi trường vùng<br /> nuôi chưa được chú ý đúng mức bởi chính<br /> quyền và các cơ quan chức năng. Điều này ảnh<br /> hưởng nhất định đến thực trạng môi trường<br /> vùng nuôi và hoạt động nuôi tại thôn.<br /> <br /> Bảng 1. Kết quả thảo luận nhóm về thông tin cộng đồng địa phương tiếp nhận qua các phương tiện<br /> Thông tin<br /> <br /> Nguồn thông tin<br /> <br /> Thông tin về nuôi tôm<br /> <br /> Sở Thủy Sản và Trung<br /> tâm Khuyến ngư<br /> Các đại lý hóa chất và<br /> thức ăn tôm<br /> <br /> Canh tác nông nghiệp<br /> <br /> Thông tin về thị trường<br /> Phát triển cộng đồng (các<br /> chính sách hỗ trợ - vay vốn,<br /> bảo hiểm xã hội, y tế cộng<br /> đồng…)<br /> <br /> Sách báo<br /> Truyền hình<br /> Truyền hình<br /> Sở và Phòng Nông nghiệp<br /> Lối xóm, Bán sản phẩm,<br /> Sách báo và Truyền hình<br /> - Chính quyền và lối xóm<br /> - Ngân hàng<br /> <br /> Phương thức/ biện<br /> pháp truyền thông<br /> Tập huấn về kỹ thuật<br /> nuôi<br /> Phối hợp với các phòng<br /> ban chức năng của Sở<br /> Thủy Sản tổ chức hội<br /> thảo về kỹ thuật nuôi<br /> <br /> Tần suất tiếp<br /> nhận thông tin<br /> +<br /> +<br /> <br /> +<br /> Chương trình khuyến<br /> nông<br /> Các khóa tập huấn<br /> <br /> +<br /> +<br /> +<br /> +<br /> <br /> - Họp dân<br /> - Mạng lưới phát thanh<br /> địa phương<br /> <br /> +<br /> <br /> (Nguồn: Bôi và cộng tác viên, 2004)<br /> <br /> 33<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2006<br /> <br /> d. Hỗ trợ tài chính:<br /> Phần lớn các hộ gia đình tại thôn Lương<br /> Cách đều có nhu cầu được sự hỗ trợ về tài<br /> chính để thực hiện các hoạt động sinh kế. Theo<br /> kết quả thảo luận nhóm và phỏng vấn các người<br /> am hiểu, hỗ trợ tài chính được thực hiện qua<br /> Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông<br /> thôn, và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Từ<br /> năm 2000, chính sách cho vay vốn được áp<br /> dụng cho hoạt động nuôi tôm. Khoản vay dao<br /> động từ 3 đến 400 triệu đồng, trung bình khoảng<br /> 36,76 triệu đồng với lãi suất từ 0,8% đến 5%.<br /> Gần đây, do tình hình nuôi tôm gặp nhiều thất<br /> bại, các hộ nuôi khó trả được vốn vay nên chính<br /> sách hỗ trợ tài chính đối với hoạt động nuôi tôm<br /> đã tạm dừng. Điều này làm nhiều hộ nuôi gặp<br /> không ít khó khăn, đặc biệt đối với các hộ phụ<br /> thuộc hoàn toàn vào hoạt động nuôi tôm. Việc<br /> tham gia bảo vệ môi trường vùng nuôi từ phía<br /> người nuôi, do vậy, cũng không được chú ý<br /> đúng mức.<br /> e. Hoạt động của các bên liên quan trong<br /> quản lý hoạt động nuôi tôm và môi trường vùng<br /> nuôi:<br /> Theo ý kiến người nuôi địa phương, giai đoạn<br /> trước 1997 hoạt động nuôi tôm đặt dưới sự<br /> quản lý của Hợp tác xã Nông nghiệp. Trên thực<br /> tế cơ chế quản lý này thiếu tính tích cực và dần<br /> trở nên không hiệu quả. Đến năm 2003 cơ chế<br /> quản lý dưới hình thức hợp tác xã nông nghiệp<br /> chính thức không còn hiệu lực. Kể từ thời gian<br /> này dường như không có quy chế thực sự để<br /> điều phối việc cấp nước và xả thải trong hoạt<br /> động nuôi tôm. Điều này có nghĩa cơ chế quản<br /> lý không phù hợp là một trong những nguyên<br /> nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường và bùng<br /> nổ dịch bệnh đối với tôm nuôi trong khu vực.<br /> Theo các cơ quan chức năng, môi trường<br /> vùng nuôi tôm của thôn chịu sự chi phối của 5<br /> cơ quan, bao gồm:<br /> - Phòng kỹ thuật Sở Thủy sản: phối hợp với<br /> Trung tâm Khuyến Ngư tổ chức kiểm tra giám<br /> sát hoạt động nuôi và môi trường vùng nuôi.<br /> - Trung tâm Khuyến Ngư: hướng dẫn quy<br /> trình kỹ thuật nuôi, phân tích mẫu nước và mẫu<br /> bệnh.<br /> - Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi: chịu trách<br /> nhiệm quan trắc môi trường, kiểm tra mẫu thức<br /> ăn và đánh giá hoạt động chung.<br /> - Ban Quản lý các công trình thuỷ sản: phụ<br /> trách lên lịch điều tiết nước cho hoạt động nuôi<br /> tôm.<br /> - Công ty khai thác các công trình thủy lợi:<br /> chịu trách nhiệm hợp đồng với Ban Quản lý các<br /> công trình thủy sản để phân phối nước ngọt theo<br /> yêu cầu sản xuất.<br /> Theo ý kiến cộng đồng địa phương, hoạt<br /> động nuôi tôm tại thôn Lương Cách được sự chỉ<br /> <br /> 34<br /> <br /> Trường Đại học Thủy sản<br /> <br /> đạo từ hai cơ quan là Sở Thủy sản – Trung tâm<br /> Khuyến Ngư và Phòng Nông nghiệp Huyện Ninh<br /> Hải thông qua Ủy Ban Nhân Dân và Chi hội<br /> nghề cá xã Hộ Hải. Tuy nhiên, thảo luận về vai<br /> trò của các cơ quan ban ngành và tổ chức xã<br /> hội đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung<br /> và hoạt động nuôi tôm nói riêng, đa số ý kiến<br /> cho thấy rằng Ngân hàng, Trạm khai thác các<br /> công trình thủy sản, Uỷ ban Nhân dân Xã và<br /> Ban quản lý thôn có ảnh hưởng quan trọng; các<br /> cơ quan ban ngành và các tổ chức khác như Chi<br /> hội Nghề Cá, Chi hội Nông dân, Sở Thuỷ<br /> sản…có ảnh hưởng không rõ rệt. Kết quả điều<br /> tra, phỏng vấn đều cho thấy các Tổ tự quản nuôi<br /> tôm với quy chế hoạt động được chứng thực bởi<br /> chính quyền vẫn không thể giải quyết được các<br /> vấn đề phát sinh. Đa số ý kiến cho rằng các tổ<br /> tự quản không phát huy được chức năng do<br /> thiếu sự đóng góp tài chính từ các hộ nuôi tôm,<br /> thiếu quyền hạn và nhiều lý do tế nhị khác. Ban<br /> quản lý thôn phải chịu trách nhiệm nhiều mặt,<br /> mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn không<br /> thể giải quyết tất cả các vấn đề về môi trường<br /> vùng nuôi và hoạt động muôi tôm mà trên thực<br /> tế vẫn không đủ quyền hạn.<br /> Việc mở rộng diện tích vùng nuôi giai đoạn<br /> 1998 – 2000 đã phá vỡ quy hoach tổng thể.<br /> Cùng với sự yếu kém cơ sở hạ tầng là sự mất<br /> cân đối giữa trình độ quản lý môi trường vùng<br /> nuôi nói chung với sự gia tăng diện tích nuôi. Tất<br /> cả đã đặt ra nhiều vấn đề cho việc quản lý môi<br /> trường và tài nguyên thiên nhiên (đất và nước)<br /> cho việc phát triển nuôi tôm bền vững, ổn định<br /> kinh tế - xã hội thôn Lương Cách nói riêng và<br /> toàn khu vực Đầm Nại nói chung.<br /> 3. Nhận thức của cộng đồng địa phương:<br /> Qua các hoạt động của nhóm cán bộ Bộ môn<br /> Quản lý môi trường và Nguồn lợi thủy sản, Khoa<br /> Nuôi trồng - Trường đại học Thủy sản, nhận<br /> thức về môi trường nói chung và công tác quản<br /> lý môi trường vùng nuôi nói riêng đã có những<br /> kết quả ban đầu mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến<br /> khác nhau.<br /> Tại thôn Lương Cách, đa số hộ chuyển chất<br /> đáy thu gom trong quá trình cải tạo ao đến các<br /> vùng bỏ hoang của núi Cà Đú. Nhìn chung, quy<br /> định việc thải nước, đặc biệt việc xả bỏ trong<br /> trường hợp tôm bị bệnh đã được các hộ nuôi<br /> thực hiện nghiêm túc. Trên cơ sở này, các hoạt<br /> động của nhóm nghiên cứu giai đoạn 10/2004 –<br /> 10/2005 tập trung nâng cao nhận thức của tất cả<br /> các hộ thuộc “cộng đồng nuôi tôm” (Bôi và công<br /> tác viên, 2004). Đến nay, đa số các hộ thuộc khu<br /> vực cộng đồng nuôi tôm đã chấp nhận đóng góp<br /> phí thu gom rác thải (363/643 tổng số hộ của<br /> thôn). Các hộ này cho rằng tình hình môi trường<br /> có thể được cải thiện nếu được quản lý tốt hơn.<br /> <br /> Trường Đại học Thủy sản<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2006<br /> <br /> Bảng 2. Thay đổi về ý thức của cộng đồng nuôi tôm<br /> Ý kiến<br /> Chất lượng môi trường có thể<br /> được cải thiện<br /> Chất lượng môi trường không<br /> thể cải thiện<br /> Tích cực ủng hộ việc đóng lệ<br /> phí thu gom rác thải<br /> <br /> Thời điểm bắt đầu năm nghiên cứu<br /> thứ hai (n = 29)<br /> 31.03% (9/29)<br /> <br /> Thời điểm kết thúc năm nghiên<br /> cứu thứ hai (n = 53)<br /> 88,68% (47/53)<br /> <br /> 68,97% (20/29)<br /> <br /> 11,32% (6/53)<br /> <br /> -<br /> <br /> 75,47% (40/53)<br /> <br /> Bảng 3. Các biện pháp xử lý rác của các hộ trong cộng đồng nuôi tôm (n = 53)<br /> Biện pháp xử lý<br /> Đốt<br /> Đốt và chôn lấp<br /> Đốt và đóng tiền thu gom hàng tháng<br /> Đốt, chôn lấp và đóng tiền thu gom theo tháng<br /> Đóng tiền thu gom hàng tháng<br /> Đóng tiền thu gom theo tháng và đổ lên núi<br /> Đóng tiền thu gom theo tháng và chôn lấp<br /> Đổ lên núi<br /> Đổ ra đường làng và các hệ thống mương<br /> <br /> 95,5% số người được phỏng vấn (n = 53)<br /> cho rằng thất bại của hoạt động nuôi tôm là do<br /> thiếu ý thức trong việc bảo vệ môi trường.100%<br /> ý kiến đồng ý với biện pháp phạt tiền đối với các<br /> hành vi gây ô nhiễm môi trường và cho biết sẵn<br /> sàng đóng góp tài chính và công sức để nạo vét<br /> các hệ thống mương.<br /> 4. Một số ý kiến của người nuôi tôm và kiến<br /> nghị:<br /> Tập trung vào khía cạnh nâng cao nhận thức và<br /> tăng cường sự tham gia của tất cả các bên liên<br /> quan trong công tác quản lý môi trường vùng<br /> nuôi, nhóm nghiên cứu đã tổ chức các buổi họp<br /> dân, tập huấn cho người nuôi tôm và hội thảo.<br /> Qua các buổi thảo luận nhóm, họp dân và hội<br /> thảo giữa các bên liên quan, nhiều thông tin liên<br /> quan đến hoạt động nuôi tôm, đặc biệt là công<br /> tác quản lý môi trường vùng nuôi, đã được xem<br /> xét. Nhìn chung ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt<br /> động quản lý môi trường vùng nuôi bao gồm:<br /> - Chất lượng con giống và cả kết quả kiểm<br /> tra tôm giống không đủ tin cậy.<br /> - Quản lý chất thải không tốt, môi trường<br /> suy thoái và ý thức người dân không cao.<br /> - Cung cấp nước ngọt không đáp ứng yếu<br /> cầu.<br /> - Công tác quản lý hệ thống kênh mương<br /> còn nhiều bất cập.<br /> - Các tổ nuôi tôm tự quản còn chưa thể hiện<br /> được vai trò.<br /> Trên cơ sở các ý kiến nêu trên, người nuôi<br /> tôm kiến nghị:<br /> - Cải thiện hoạt động của hệ thống kiểm tra<br /> tôm giống để giảm thiểu khả năng lan truyền<br /> mầm bệnh.<br /> <br /> Số hộ<br /> 7 (13,21%)<br /> 1 (1,89%)<br /> 3 (5,66%)<br /> 4 (7,55%)<br /> 31 (58,49%)<br /> 1 (1,89%)<br /> 1 (1,89%)<br /> 3 (5,66%)<br /> 2 (3,77%)<br /> <br /> - Các cấp chính quyền và ban ngành chức<br /> năng cần kiến nghị để công tác quản lý hệ thống<br /> mương được phân cấp phù hợp thực tế nhằm<br /> bảo đảm vệ sinh môi trường cho các hệ thống<br /> mương và cung cấp nước ngọt kịp thời cho hoạt<br /> động nuôi tôm.<br /> - Hỗ trợ kinh phí, thường xuyên theo dõi,<br /> kiểm tra và hỗ trợ hoạt động của các tổ nuôi tôm<br /> tự quản nhằm gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ<br /> của người tham gia.<br /> - Các cơ quan chức năng cần tổ chức các<br /> buổi tập huấn theo sát yêu cầu kỹ thuật của<br /> người nuôi tôm với mục đích phòng tránh nguy<br /> cơ ô nhiễm và suy thoái môi trường từ chính<br /> hoạt động này.<br /> IV. Kết luận và đề xuất ý kiến:<br /> 1. Kết luận:<br /> Sau thời gian nghiên cứu quản lý môi<br /> trường vùng nuôi tôm tại thôn Lương Cách, xã<br /> Hộ Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận theo<br /> hướng tiếp cận có sự tham gia (participatory<br /> approach), nhóm nghiên cứu đi đến một số kết<br /> luận sau:<br /> - Việc chia sẻ thông tin và phối hợp hoạt<br /> động giữa tất cả các bên liên quan trong việc<br /> khai thác các nguồn lực địa phương và bảo vệ<br /> môi trường vùng nuôi tôm bắt đầu được chú ý.<br /> - Nhận thức của cộng đồng đã được nâng<br /> cao nhờ công tác truyền thông địa phương về<br /> bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi<br /> trường vùng nuôi tôm nói riêng.<br /> - Hoạt động của các tổ tự quản nuôi tôm tại<br /> thôn Lương Cách vẫn chưa thực sự hiệu quả do<br /> <br /> 35<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản