
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng; là
tiêu chí của tiến bộ, bình đẳng và công bằng xã hội; thể hiện sự văn minh, phát triển
của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm xây dựng
và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH hƣớng đến con ngƣời; xem đây vừa là
động lực phát triển, vừa thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ, vì mục tiêu dân giàu,
nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Chính sách BHXH ở nƣớc ta đƣợc triển khai thực hiện từ năm 1945, hoạt
động ban đầu dựa trên Sắc lệnh số 54_SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ấn
định các điều kiện cho công chức về hƣu trí, sau đó đƣợc bổ sung điều chỉnh bằng
nhiều Sắc lệnh và Nghị định. Đến năm 1961, Chính phủ ban hành Nghị định số
218/CP kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên
chức nhà nƣớc; năm 1964, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 161-CP kèm
theo Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân. Có thể nói hai Điều lệ trên
là hai văn bản pháp luật đầu tiên quy định 06 chế độ BHXH ở nƣớc ta là ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hƣu trí và tử tuất.
Từ chủ trƣơng của Đảng trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung
ƣơng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006): “Đổi mới hệ thống bảo
hiểm xã hội theo hƣớng đa dạng hóa hình thức và phù hợp với kinh tế thị trƣờng”,
vào Kỳ họp thứ 9 ngày 29/06/2006, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật BHXH, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007, đây là một bƣớc tiến quan trọng trong việc
tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ BHXH đối với ngƣời lao
động. Qua hơn 07 năm thực hiện, Luật BHXH đã đi vào cuộc sống, đáp ứng nguyện
vọng của đông đảo ngƣời lao động, góp phần bảo đảm ASXH. Nhằm đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong tiến trình hội nhập quốc tế, tại Kỳ

2
họp thứ 8 ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BHXH sửa đổi
(gọi là Luật BHXH năm 2014), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.
Có thể nói, hơn 70 năm hình thành và phát triển, chính sách BHXH ở nƣớc ta
đã và đang hoàn thành tốt vai trò đảm bảo ASXH, đáp ứng một phần nhu cầu thiết
yếu của cuộc sống cho hàng triệu ngƣời lao động, khi họ bị giảm thu nhập do ốm
đau, sinh con, bị tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp hay tuổi già. Sự quan tâm của
Đảng và Nhà nƣớc trong hoàn thiện Luật BHXH đã đảm bảo quyền lợi cho các bên
tham gia BHXH, là cơ sở để ngƣời lao động thụ hƣởng chính sách BHXH một cách
đầy đủ và đƣợc pháp luật bảo vệ khi quyền lợi của họ bị vi phạm.
Thời gian qua, việc triển khai thực hiện chính sách BHXH, đặc biệt là công tác
chi trả BHXH, của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đạt nhiều kết quả tốt, từng
bƣớc đƣa đƣợc chính sách BHXH đi vào đời sống ngƣời lao động. Công tác quản lý
quỹ BHXH đƣợc thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, có hiệu quả. Công tác giải quyết
và chi trả các chế độ BHXH kịp thời, đúng quy định của Luật BHXH. Bên cạnh đó,
chủ trƣơng cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải
quyết nghiệp vụ, đa dạng phƣơng thức chi trả BHXH theo hƣớng hiện đại đã góp
phần phục vụ tốt hơn đối với ngƣời lao động.
Tuy nhiên, tình trạng cố ý lợi dụng các kẻ hở của pháp luật và sự quản lý chƣa
tốt của các cơ quan nhà nƣớc để trục lợi từ quỹ BHXH còn xảy ra ở nhiều địa
phƣơng với số lƣợng ngày càng tăng, số tiền ngày càng lớn; làm ảnh hƣởng đến sự
công bằng trong thụ hƣởng chính sách BHXH của ngƣời lao động. Trên thực tế đã
xảy ra những hành vi lạm dụng quỹ BHXH nhƣ: lập hồ sơ hƣởng chế độ BHXH
giả; sửa chữa, mua, bán sổ BHXH; “cò mồi” nhận “uỷ quyền” “làm hộ” hồ sơ
hƣởng BHXH; tƣ vấn “lách” luật, “lách” các quy định của pháp luật để tham gia
BHXH và hƣởng các chế độ BHXH, làm ảnh hƣởng đến sự an toàn và phát triển
của quỹ BHXH.

3
Mặc khác việc gian lận, lạm dụng quỹ BHXH về lâu dài sẽ làm mất cân bằng
cán cân thanh toán, ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng quỹ BHXH và quyền lợi của
ngƣời tham gia BHXH.
Cũng nhƣ các quận - huyện khác, mặc dù có nhiều có gắng trong công tác
QLNN về chi trả BHXH, tại Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh hoạt động này vẫn
còn có một số hạn chế cần phải khắc phục. Điển hình nhƣ: tình trạng chậm đóng và
nợ BHXH, BHYT, BHTN kéo dài của một số doanh nghiệp; số tiền nợ BHXH đã
làm ảnh hƣởng đến quyền thụ hƣởng các chế độ BHXH của ngƣời lao động khi có
phát sinh. Hàng năm, số lƣợng đơn vị và ngƣời lao động tham gia BHXH trên địa
bàn Quận 9 tăng lên đáng kể, đồng thời số đơn vị chậm nộp BHXH và số tiền nợ
đọng của các đơn vị cũng tăng lên. Việc lập hồ sơ đóng BHXH với mức lƣơng thấp
hơn so với thực tế (để giảm tiền đóng BHXH) làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của
ngƣời lao động khi hƣởng chế độ, việc báo tăng mức đóng khi ngƣời lao động sắp
sinh con để đƣợc hƣởng chế độ thai sản với mức cao hơn hay việc lập hồ sơ giả để
hƣởng chế độ BHXH cũng thƣờng xuyên xảy ra.
Trƣớc thực trạng đó, với những kiến thức đã học của chuyên ngành Quản lý
công, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nƣớc về chi trả bảo hiểm xã hội
trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn tìm hiểu nguyên
nhân của những hạn chế, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
QLNN trên lĩnh vực BHXH, từ đó đƣa chính sách BHXH đến với ngƣời lao động
trên địa bàn Quận 9 một cách đầy đủ theo quy định của pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau về
BHXH cũng nhƣ chi trả BHXH ở quy mô tỉnh, thành phố; quy mô quận, huyện;
trƣớc và sau khi Luật BHXH đƣợc ban hành đến nay, điển hình nhƣ:
Luận án Phó tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Huy Ban (năm 1996) với đề
tài “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn”. Đây là
luận án phó tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề lý luận về BHXH và đánh giá thực trạng

4
công tác xây dựng pháp luật BHXH ở Việt Nam. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất
mô hình xây dựng Luật BHXH trong đó có đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp
và xử lý vi phạm về BHXH.
Đề tài nghiên cứu năm 1996 của TS. Nguyễn Văn Châu“Thực trạng quản lý
thu bảo hiểm xã hội hiện nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
thu”. Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu một số kinh nghiệm quản lý thu BHXH
của một số nƣớc trên thế giới, đánh giá thực trạng về hoạt động của nghiệp vụ thu
BHXH trong thời kỳ trƣớc khi thành lập hệ thống BHXH (năm 1995) và trong thời
kỳ từ năm 1995-1996, đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm cải tiến quản lý thu
BHXH ở Việt Nam.
Đề tài khoa học “Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại thành
phố Hồ Chí Minh và những vấn đề cần hoàn thiện” năm 2002 do thạc sĩ Đỗ Quang
Khánh làm chủ nhiệm. Đề tài đã giới thiệu đặc điểm kinh tế-xã hội của thành phố
Hồ Chí Minh và cơ sở pháp lý để thực hiện công tác thu BHXH. Đánh giá thực
trạng công tác quản lý thu BHXH ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1996-2001.
Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH ở
thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài nghiên cứu cấp ngành của tác giả Hà Văn Chi (BHXH Việt Nam) với
đề tài “Chế độ lương hưu của các đối tượng nghỉ hưu thời kỳ trước và sau năm
1995, thực trạng và giải pháp” (năm 2003). Nội dung đề tài nêu lên sự bất hợp lý
trong quy định của pháp luật về chế độ hƣu trí trong các chính sách BHXH trƣớc và
sau năm 1995 từ đó đƣa ra các kiến nghị về điều chỉnh tiền lƣơng hƣu đối với các
đối tƣợng nghỉ hƣu trƣớc năm 1995.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hồ Văn Phú (năm 2009) với đề tài “Hoàn thiện
quản lý nhà bước về bảo hiểm xã hội”. Nội dung luận văn chủ yếu tập trung phân
tích thực trạng QLNN về BHXH trong những năm gần đây, những chủ trƣơng chính
sách của Đảng và Nhà nƣớc về BHXH. Qua đó thấy đƣợc đây là những chủ trƣơng,
chính sách lớn, lâu dài của Nhà nƣớc đƣợc sự đồng thuận của xã hội, bên cạnh

5
những thành tựu đạt đƣợc, BHXH Việt Nam cần đề ra các giải pháp để phải khắc
phục những mặt còn hạn chế.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đoàn Thị Lệ Hoa (năm 2012) với đề tài “Hoàn
thiện công tác kiểm soát chi bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà
Nẵng”. Nội dung luận văn đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi tại Bảo hiểm
xã hội thành phố Đà Nẵng còn những hạn chế do viên chức nghiệp vụ chƣa thực
hiện tốt việc xét duyệt, thẩm định hồ sơ hƣởng BHXH, chƣa chặt chẽ trong việc
theo dõi quản lý đối tƣợng hƣởng chế độ. Tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng,
chƣa có chƣơng trình liên thông số sổ BHXH nên khó kiểm soát đƣợc số sổ đã
hƣởng chế độ, dẫn đến chi trùng. Từ những hạn chế trên tác giả luận văn đã đƣa ra
một số giải pháp để hoàn thiện kiểm soát chi tại BHXH thành phố Đà Nẵng.
Từ những nội dung nghiên cứu cơ sở lý luận BHXH và đánh giá thực trạng
QLNN về BHXH của các luận văn nêu trên, trong đó có luận văn của tác giả Đoàn
Thị Lệ Hoa đề cập đến nội dung chi trả BHXH; luận văn của tôi sẽ kế thừa sử dụng
làm nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp. Tại Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh, chƣa
có đề tài nào nghiên cứu cụ thể vấn đề QLNN về chi trả BHXH; vì vậy, hƣớng đề
tài mà tôi lựa chọn sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích
Từ cơ sở lý luận và kết quả đánh giá thực trạng QLNN về chi trả BHXH, luận
văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN về chi trả BHXH
trên địa bàn Quận 9.
Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu nhƣ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận chi trả BHXH và QLNN về chi trả BHXH, trong đó
làm rõ sự cần thiết khách quan Nhà nƣớc phải quản lý công tác chi trả BHXH; nội

