LUẬN VĂN:
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với
trường trung học phổ thông ngoài công lập
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Ch tịch HChí Minh rất quan tâm về sự nghiệp giáo dục. Người chỉ ra
rằng: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam
phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải kiến thức mới để có thể tham
gia vào công cuộc xây dựng nước nhà mà trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”
[20, tr.3]. Người cũng chỉ cho chúng ta con đường thoát khỏi cảnh yếu hèn đó con đường
phát triển giáo dục: “Một dân tộc dốt một dân tộc yếu”. Trong thư gửi học sinh nhân ngày
khai tờng đầu tiên của ớc Việt Nam độc lập (tháng 9/1945), Bác đã viết: Non sông Việt
Nam có trở nên ơi đẹp hay không, n tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để nh vai
với các cường quốc năm châu được hay không, chính nhmột phần lớn ở công học tập của
c cu” [18, tr.33]. tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thể hiện qua câu nói bất hcủa
Người: lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm m trồng người”. ng xuyên
suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục luôn toả sáng tính cách mạng, tính
nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Cả cuộc đời cách mạng, Người chỉ có một ham muốn, ham
muốn tột bậc là: “Làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào
ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [20, tr.161].
Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chủ Tịch, Đảng Nhà nước ta đã nhiều chủ
trương, chính sách biện pháp phát triển nền giáo dục của nhân dân, do nhân dân, nhân
dân. Hệ thống mạng lưới trường lớp đã được phủ kín khắp các bản làng, thôn m trong c
nước để thực hiện mục tiêu xoá chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi, tiến tới phổ cập trung học cơ sở, phổ cập trung học phổ thông...Vấn đề
phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo đã đang được toàn hội quan tâm. Đảng và
Nhà nước ta đang tập trung ưu tiên hơn trong việc đầu đối với các vùng khó khăn
đã thu được một số kết quả, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta trong giáo dục.
Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu tổng
quát của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001- 2010 đưa đất nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thn ca nn dân,
tạo nn tảng đ đến năm 2020 nước ta bn tr thành một nước ng nghip theo
ng hin đi “con đường công nghip hoá - hin đi hoá ca nước ta cần có th t
ngắn thi gian so với các nưc đi trưc, vừa có những bưc tuần tự, vừa có những bưc
nhy vọt...”. Đđt được các mục tiêu nói trên, giáo dc đào tạo, khoa học công
ngh có vai trò quyết đnh, là nhu cầu bức thiết ca đất nưc ta trong giai đoạn hiện nay.
Quan điểm nhất quán của Đảng Nhà nước ta phát triển kinh tế đi đôi với thúc
đẩy tiến bộ xã hội. Ngay từ đầu thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đổi mới tư
duy cách làm giáo dục, đề ra những chủ trương chuyển đổi hệ thống giáo dục quốc dân
từ mục tiêu phục vụ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo chế thị trường, sự quản của Nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Từ quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục và đào tạo, Nhà nước ta đã
thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tổ chức thực hiện trong thực tế: Hiến pháp m
1992 (sửa đổi m 2001): "Phát triển giáo dc quốc sách hàng đầu. Nhà nước hội
phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài..." (Điều
35); Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua vào tháng 12/1998 (Sửa đổi, bổ sung năm
2005); Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ quy định chi tiết
ớng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông Nghị quyết 41/2000/QH10 về thực hiện phổ cập go
dục trung học cơ sở của Quốc hội khóa X thông qua ngày 09/12/2000...
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 xác định mục tiêu, giải pháp các bước
đi theo phương châm đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, hội hoá, xây dựng một nền
giáo dục tính chất thực tiễn hiệu quả, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng,
đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực trên thế giới,
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện mục
tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010.
Nhằm thực hiện chủ trương của Đảng cũng nmục tiêu của Nhà nước, nhiều loại
hình giáo dục đã được mở ra, trong đógiáo dục ngoài công lập. Phát triển giáo dục ngoài
công lập đũi hỏi khỏch quan của cuộc sống, sở luận thực tiễn. Trong hoàn
cảnh đất nước cũn nhiều khú khăn, ngân sách của nhà nước chưa đủ để đầu tư lớn hơn cho
giáo dục, thỡ việc huy động rộng rói cỏc nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục một
đũi hỏi tất yếu. Điều này đó được khẳng định trong các văn bản pháp quy và càng ngày càng
được thể chế hoá một cách chặt chẽ, đồng bộ. Trong quá trỡnh triển khai, cỏc chớnh sỏch
của trung ương cũng như của địa phương về các trường ngoài công lập đó ngày càng hoàn
thiện theo hướng lợi cho các nhà đầu tư, phù hợp với yêu cầu của người học. Điều đó đó
tạo điều kiện cho các trường ngoài công lập gần đây phát triển cả về chất lượng và số lượng.
Nhỡn một cách bao quát, càng ngày giáo dục ngoài công lập nói chung và các trường
ngoài ng lập trung học phổ thông nói riêng càng đạt được nhiều thành tựu to lớn có
vai trũ quan trọng hơn trong sự nghiệp phát triển giáo dục của đất nước, đặc biệt góp
phần thúc đẩy tiến độ phổ cập giáo dục trung học, đáp ứng được nhu cầu học tập rộng rói
của học sinh.
Bên cạnh nhiều thành tựu đó đạt được, đến nay, các trường trung học phổ thông
ngoài công lập cũng bộc lộ khá rừ những mặt hạn chế, cần phải được nhanh chóng khắc
phục. Chẳng hạn như mạng lưới các trường ngoài cụng lập phõn bố bất hợp lý, cơ sở vật
chất thiếu thốn, đội ngũ giáo viên cỏn bộ quản vừa thiếu vừa cũn nhiều bất cập, việc
huy động sử dụng các nguồn lực chưa khoa học, chưa mang lại hiệu quả mong
muốn…Đặc biệt việc quản lý, chỉ đạo loại hỡnh trường này từ trung ương tới địa phương
nhỡn chung cũn lỏng lẻo nhiều hạn chế, khiến cho chất lượng đào tạo của loại hỡnh
trường này chưa cao, nhà trường phát triển thiếu bền vững, thậm chí vận hành phần
phiến diện. một số địa phương, nhất một số thành phố lớn đó những trường phát sinh
mâu thuẫn, tiêu cực đến mức buộc phải giải thể.
Thực tế gần hai chục năm qua cho thấy, chủ trương xó hội hoỏ giỏo dục của Đảng
Nhà nước hoàn toàn đúng đắn cả phương diện luận và thực tiễn. Điều đó nghĩa
trong tương lai sẽ nhiều trường ngoài công lập nói chung, trung học phổ thông ngoài
công lập nói riêng tiếp tục được ra đời. Nhưng để loại hỡnh trường ngoài công lập thể
phát triển theo chiều hướng lành mạnh, chất lượng đào tạo ngày một nâng cao thỡ khụng thể
khụng sự nghiờn cứu đầy đvề quản nhà nước đối với loại hỡnh trường này, để từ đó
đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện quản nnước đối vi các trường trung học
phổ thông ngoài công lập.
Xuất phát từ những do trên, tác giả đó lựa chọn đề tài: “Quản nhà nước bằng
pháp luật đối với trường trung học phổ thông ngoài công lập”m đề tài luận văn cao học
Quản lý Hành chính công.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài, đó nhiều công trỡnh nghiên cứu khoa học được công bố
trong nước như:
- Trường trường ngoài công lập các nước phát triển phương Tây - Nguyễn
Thị Hiền, tạp chí Thông tin giáo dục, số 64, năm 1997. Tác giả đó khái quát skhác biệt
giữa trường công lập cũng như chính sách phát triển các trường tư một số nước phát triển
như: Anh, Pháp, Đức...;
- Một số vấn đề cấp bách trong công tác tổ chức quản c trường phổ thông n
lập - Nguyễn Văn Đản, Thông tin khoa học giáo dục, số 67, năm 1998. Bài báo nêu n
những hạn chế trong công tác quản các trường phổ thông ngoài dân như: sự quan m
chưa đúng mức của các cơ quan quản lý, hệ thống văn bản pháp luật cho các trường này cũn
thiếu, chưa rừ, sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan thẩm quyền cũn lỏng lẻo...; những
khó khăn của các trường phổ thông dân lập về đất đai, tài chính, đối tượng tuyển sinh, chất
lượng giáo viên... Trên sở đó, bài báo đó nêu ra một số vấn đề cần thực hiện như: cần
những quy định cụ thể về trường phổ thông dân lập, chế cụ thể về đất đai, tài chính
cho trường phổ thông ngoài dân lập, tăng cường công tác kiểm tra đối với giáo dục phổ
thông ngoài dân lập...;
- Các giải pháp cải tiến chế quản trường trung học phổ thông dân lập thành
phố Hải Phũng - Nguyễn Thị Mai, Luận văn Thạc chuyên ngành "Quản tổ chức
công tác văn hóa giáo dục",số: 5.07.03. Năm 2000. Luận văn đó đánh giá thực trạng cơ
chế quản lý trường trung học phổ thông dân lập tại Hải Phũng, đề xuất các giải pháp cải tiến
cơ chế quản lý các trường trung học phổ thông dân lập ở Hải Phũng như: tiếp tục hoàn thiện
văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục phổ thông dân lập, đẩy mạnh phân cấp quản lý,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý ở Hải Phũng...;
- Những sở luận thực tiễn để xây dựng qui chế trường phổ thông ngoài công
lập, Đề tài cấp Bộ, số B 97- 49- 40 - TS. Nguyễn Văn Đản (Viện Khoa học giáo dục)
làm chnhim, m 2001. Nhóm nghiên cứu đề tài đó chỉ ra những sở luận thực
tiễn của việc xây dựng quy chế trường phổ thông ngoài công lập như: xuất phát từ quan
điểm, đường lối của Đảng vgiáo dục và xó hội hóa giáo dục, vai trũ của sự tham gia xó hội
vào công tác giáo dục, thực trạng tổ chức và hoạt động của các trường phổ thông ngoài công
lập những m trước 2000... để m căn cxây dựng quy chế trường phthông ngoài dân
lập;
- Giáo dục phổ thông ngoài công lập thành tựu tồn tại - Phạm Quang Sáng, tạp