VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU HIỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI- 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU HIỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9.38.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Bùi Thị Đào
HÀ NỘI- 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông
tin nêu trong luận án là trung thực, chính xác. Các trích dẫn trong luận án đều
được chú thích đầy đủ và chính xác. Các kết quả trình bày trong luận án chưa
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Thu Hiền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .................................................................................. 7
1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án ....................... 7
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ............ 13
1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án ............ 15
1.4. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu.................................. 16
Kết luận Chương 1 ........................................................................................ 17
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ............................... 18
2.1. Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính .......................... 18
2.2. Quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính ...................... 31
2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính ....... 43
2.4. Vai trò của quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính .... 57
2.5. Các bảo đảm tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm
hành chính ............................................................................................... 59
Kết luận Chương 2 ........................................................................................ 64
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ
LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN NGÀNH CÔNG AN
NHÂN DÂN ................................................................................................... 66
3.1. Tình hình, đặc điểm có liên quan đến quản lý nhà nước đối với
xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ........... 66
3.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ..................................................... 77
3.3. Nguyên nhân .................................................................................. 105
Kết luận Chương 3 ...................................................................................... 111
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ
THỰC TIỄN NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN ...................................... 112
4.1. Dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với
xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ......... 112
4.2. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm
hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ................................. 117
4.3. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi
phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ....................... 125
Kết luận Chương 4 ...................................................................................... 146
KẾT LUẬN .................................................................................................. 148
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 152
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
An ninh trật tự
: ANTT
Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
: BPGDTXPTT
Cảnh sát Giao thông
:CSGT
Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn
:CSPCCC $CHCN
Cơ sở giáo dục bắt buộc
: CSGDBB
Công an nhân dân
: CAND
Quản lý nhà nước
:QLNN
Trật tự an toàn xã hội
: TTATXH
Trật tự xã hội
: TTXH
Trường Giáo dưỡng
:TGD
Vi phạm hành chính
: VPHC
Xử lý vi phạm hành chính
: XLVPHC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
VPHC là một loại vi phạm pháp luật xảy ra phổ biến trong đời sống xã hội,
tuy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa đến mức coi là “tội phạm” nhưng
lại là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn làm nảy sinh tội phạm, nếu không được
ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Pháp luật về XLVPHC có nội dung tương đối phức tạp và được quy định
trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Ngoài những quy định chung
trong Luật XLVPHC năm 2012, còn có hơn 100 Nghị định do Chính phủ ban hành
quy định chi tiết XLVPHC trong các lĩnh vực QLNN, trong đó có nhiều lĩnh vực
liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND. Số liệu thống kê
của Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ cho thấy, số vụ xử phạt VPHC trung bình hàng
năm được phát hiện, xử lý trên các lĩnh vực QLNN, các ngành và các địa phương có
tới 75% số vụ việc thuộc thẩm quyền xử lý của ngành Công an. Chỉ tính riêng năm
2014, tổng số vụ VPHC đã được phát hiện là 4.766.626 vụ việc, các cơ quan có
thẩm quyền đã ra 1.637.684 quyết định xử phạt, đã thi hành xong 116.522 quyết
định; tổng số tiền phạt thu được là 5.254.473.450.824 đồng [29]; trong đó, riêng
ngành Công an đã phát hiện 4.146.966 vụ; tổng số tiền phạt thu được từ xử phạt
VPHC: 2.389.593.565.039đ [10]. VPHC diễn ra trên mọi lĩnh vực, trên khắp các địa
bàn tỉnh, thành trên cả nước và thường diễn ra trong các lĩnh vực như: giao thông;
an ninh trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường; xây dựng, đất đai; hải quan, thủ
tục thuế; thương mại, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý rừng, lâm
sản…, trong đó, nổi bật lên là VPHC trong lĩnh vực an toàn giao thông và lĩnh vực
an ninh TTATXH[29].
Với thực trạng VPHC diễn ra ngày càng phổ biến, trên nhiều lĩnh vực như số
liệu đã được thống kê, báo cáo cho thấy việc QLNN đối với XLVPHC nói chung và
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành Công an nói riêng trong thời gian qua
có diễn biến khá phức tạp. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, đưa ra các giải pháp
1
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND đã đặt ra như một nhu cầu cấp thiết. Với những lý do trên, NCS đã lựa chọn
vấn đề: “QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND” làm đề tài luận án tiến
sĩ luật học, ngành Luật Hiến Pháp và Luật Hành chính, mã số 9 38 01 02.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, Luận án nhằm đạt mục đích sau: làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận QLNN đối với XLVPHC nói chung; đánh giá thực trạng,
chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp góp phần tăng
cường hiệu quả của QLNN đối với XLVPHC nói chung và QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND nói riêng.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về vấn đề có liên quan đến đề tài và chỉ ra
được những vấn đề luận án cần giải quyết qua hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả
thuyết nghiên cứu;
- Đưa ra được khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp QLNN đối với
XLVPHC; xác định các yếu tố bảo đảm QLNN đối với XLVPHC;
- Đánh giá thực trạng của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND; chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, góp phần nâng cao hiệu quả
QLNN đối với XLVPHC.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận án nghiên cứu trong phạm vi một số ngành có chức
năng quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính và chủ yếu là ngành
2
CAND;
Về thời gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật từ năm 2010 đến nay 2020;
Về nội dung: QLNN đối với XLVPHC có nội dung nghiên cứu rộng; bao
trùm. Trong phạm vi nghiên cứu phù hợp với ngành Luật hiến pháp và Luật hành
chính, Luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu làm rõ những quy định của pháp luật
và tổ chức thực hiện pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND; đánh giá khái quát thực trạng QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND, không đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể trong QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
Về chủ thể: đây là một đề tài nghiên cứu rộng, phức tạp, có liên quan đến
nhiều chủ thể có trách nhiệm, thẩm quyền trong QLNN đối với XLVPHC. Trong
khuôn khổ của đề tài này, chủ thể chủ yếu được đề cập đến là cơ quan QLNN đối
với XLVPHC của một số bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp được giao
thẩm quyền và nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC được pháp luật quy định và
ngành CAND.
Số liệu của luận án được thu thập chủ yếu từ Cục Quản lý XLVPHC và theo
dõi thi hành pháp luật Bộ Tư Pháp và Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp
Bộ Công an; các Cục nghiệp vụ của ngành Công an có chức năng, thẩm quyền
XLVPHC theo quy định của pháp luật hành chính;
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp luật, thực tiễn
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở phương pháp luận
Luận án được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về cải cách tư
pháp, cải cách thủ tục hành chính, về QLNN đối với XLVPHC, xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; cơ sở lý
3
luận của khoa học Luật Hiến Pháp và Luật Hành chính; các quan điểm của Đảng và
pháp luật của Nhà nước về phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật hành chính;
về xử lý các hành vi VPHC, về QLNN đối với XLVPHC nói chung và QLNN đối
với xử lý vi phạm hành từ thực tiễn ngành CAND nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành và bảo đảm chất lượng của Luận án, quá trình nghiên cứu đề
tài, các phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng là phân tích, so sánh, thống kê,
tổng hợp, khảo sát, hệ thống hóa,…, cụ thể:
- NCS sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong tất cả
các chương của Luận án, nhằm trình bày, làm rõ các quan điểm, quan niệm khoa
học về VPHC, về XLVPHC, về QLNN và QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của
ngành CAND; các mô hình và kinh nghiệm QLNN đối với XLVPHC trên thế giới.
Trên cơ sở đó, làm rõ và xây dựng khái niệm, đặc điểm, nội dung của QLNN đối
với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND (Chương 1, 2).
- NCS sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát
để nghiên cứu, làm rõ thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; đánh giá thực trạng QLNN đối với XLVPHC
từ thực tiễn ngành CAND từ 2013 đến nay; làm rõ những ưu điểm, tồn tại, hạn chế
và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong QLNN đối với XLVPHC từ thực
tiễn ngành CAND. Đồng thời, NCS cũng sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát để
tìm hiểu quan điểm, nhận thức của các nhà chuyên môn, các chuyên gia pháp luật,
áp dụng pháp luật về hành vi VPHC, XLVPHC, về QLNN đối với XLVPHC từ
thực tiễn ngành CAND.
- Phương pháp dự báo khoa học, được sử dụng để dự báo về tình hình vi
phạm pháp luật hành chính và những vấn đề liên quan đến QLNN đối với XLVPHC
từ thực tiễn ngành CAND trong thời gian tới; tổng hợp kết quả nghiên cứu, trình
bày các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách hành chính, xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt nam XHCN và đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong thời
4
gian tới.
- Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng trong toàn bộ các chương của luận
án nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong luận án theo một trình tự, một bố cục
hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt được
mục đích, yêu cầu đã được xác định cho Luận án.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận án là một công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về
lý luận QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành Công an; đề xuất định hướng,
nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND, góp phần làm rõ hơn lý luận về VPHC, XLVPHC, QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn của ngành CAND, nâng cao hiệu quả của QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
Kết quả nghiên cứu của Luận án cung cấp các luận cứ khoa học cho các nhà
nghiên cứu, những người làm công tác lập pháp tham khảo khi xây dựng, hoàn thiện
cơ chế về QLNN đối với XLVPHC, về pháp luật XLVPHC nhằm nâng cao hiệu quả
QLNN đối với XLVPHC, góp phần vào công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư
pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN đã được ghi nhận trong văn
kiện Đại hội lần thứ XI, XII của Đảng và Hiến pháp năm 2013. Luận án là công
trình nghiên cứu có giá trị tham khảo, phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy,
học tập về pháp luật XLVPHC, về QLNN đối với XLVPHC trong các cơ sở đào tạo
về pháp luật, về QLNN.
6. Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Thứ nhất, từ các kết quả nghiên cứu, luận án góp phần làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận về QLNN đối với XLVPHC, trên các nội dung về khái niệm, đặc
điểm, phương pháp và các yếu tố bảo đảm tăng cường QLNN đối với XLVPHC.
Thứ hai, luận án đánh giá một cách khác quan, có hệ thống thực trạng
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, chỉ ra những ưu điểm, kết quả,
hạn chế, và những nguyên nhấn của hạn chế của QLNN đối với XLVPHC từ thực
tiễn ngành CAND.
Thứ ba, Luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp tăng cường hiệu quả
5
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận của QLNN đối với XLVPHC.
Chương 3: Thực trạng QLNN đối với công tác XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND.
Chương 4: Quan điểm, giải pháp tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ
6
thực tiễn ngành CAND.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu, trao đổi khoa học về QLNN
đối với XLVPHC, nghiên cứu một số vấn đề hoặc một số những lĩnh vực, hoạt động
cụ thể của XLVPHC trong ngành CAND. Để phục vụ nghiên cứu luận án, nghiên
cứu sinh đã lựa chọn một số công trình nghiên cứu được xem là có liên quan trực
tiếp tới các nội dung của luận án và có thể sắp xếp các công trình theo nhóm các
vấn đề sau:
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về QLNN đối với
XLVPHC
- Sách chuyên khảo “Bước đầu tìm hiểu về QLNN về an ninh trật tự”,
PGS.TS. Nguyễn Duy Hùng - PGS.TS Hồ Trọng Ngũ, NXB CAND, 1997 [63].
Đây là công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về an ninh chính
trị và TTATXH ở Việt Nam trong tình hình mới, trong đó, chủ yếu hàm lượng của
cuốn sách tập trung chủ yếu vào các vấn đề về TTATXH; các vấn đề thuộc phạm
trù về an ninh chính trị chỉ được nêu ra để bảo đảm tính hệ thống. Theo đó, trên cơ
sở nghiên cứu thực tiễn của QLNN về TTATXH, quản lý hành chính về trật tự xã
hội, một số vấn đề nổi cộm trong QLNN đối với đấu tranh phòng chống tội phạm và
tệ nạn xã hội,…đồng tác giả đã đề cập đến khái niệm về “QLNN”, về “an ninh trật
tự”, về “QLNN về an ninh trật tự”,… và các đặc điểm, nội dung cơ bản của QLNN
về an ninh trật tự. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu có liên quan về QLNN nói
chung và QLNN về an ninh trật tự nói riêng, tác giả Nguyễn Duy Hùng và Hồ
Trọng Ngũ đã đề cập đến những vấn đề lớn, vừa mang tính phương pháp tiếp cận,
vừa đề cập đến những vấn đề cụ thể tình hình QLNN về an ninh - trật tự. Cuốn sách
đã phân tích các đặc điểm nội dung cơ bản của QLNN về ANTT, cơ sở pháp lý, cơ
chế điều chỉnh pháp luật của QLNN, QLNN trong lĩnh vực ANTT cùng những đặc
7
điểm riêng có của QLNN về ANTT, phương pháp điều chỉnh, chủ thể, khách thể
của QLNN về ANTT cùng những nội dung chủ yếu của nội hàm khái niệm về
QLNN về ANTT. Sau khi nêu lên một số vấn đề thực tiễn tình hình ANTT, đồng
tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận và một số dự báo về những vấn đề của tình hình
ANTT. Theo đồng tác giả, đây là là nội dung được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc
có tính biện chứng và kế thừa lịch sử - phương pháp luận cơ bản của dự báo các tiến
trình xã hội. Từ đó, đồng tác giả phân tích hệ thống các yếu tố ảnh hưởng và tác
động tới tình hình ANTT, quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế và đặc biệt quan tâm phân
tích quan hệ giữa các thiết chế về an ninh, an toàn cho lợi ích cá nhân, lợi ích tập
thể, lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành phần kinh tế trong một xã hội có
những biến đổi và phát triển theo xu hướng thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
Trên cơ sở đó, cuốn sách đã đưa ra một số các yêu cầu, giải pháp đối với QLNN về
an ninh trật tự (những giải pháp về tư tưởng, về tính pháp lý, về các hình thức cụ thể
trong xây dựng và củng cố hệ thống QLNN về an ninh, trật tự,…). Có thể thấy rằng,
cuốn sách đã tiếp cận được tương đối cơ bản và khá hệ thống về QLNN về ANTT.
Đối với từng vấn đề nghiên cứu (QLNN về ANTT, chủ thể, khách thể, đối tượng,
đặc điểm, cơ sở pháp lý, dự báo và giải pháp tăng cường QLNN về ANTT) được
đồng tác giả tiếp cận, nghiên cứu theo quan điểm riêng và từng quan điểm được
đồng tác giả luận giải rõ ràng dựa trên những lý luận nhất định. Các tác giả đã xây
dựng được mô hình nghiên cứu riêng về QLNN về ANTT, làm rõ những cơ sở lý
luận và thực tiễn QLNN về ANTT, là cuốn chuyên khảo đầu tiên đi sâu nghiên cứu
những cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về an ninh chính trị và TTATXH trong tình
hình mới. Cuốn sách thực sự có giá trị tham khảo đối với NCS trong việc vận dụng
phương pháp nghiên cứu, phân tích, đánh giá số liệu, tập trung giải quyết một số
vấn đề có tính cơ bản, mấu chốt của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND, chủ thể nòng cốt, trực tiếp được nhà nước giao nhiệm vụ trên lĩnh vực bảo
đảm an ninh, trật tự và TTATXH.
- Giáo trình “QLNN về an ninh trật tự” của Học viện Hành chính, NXB
Khoa học và Kỹ thuật, năm 2013 [62]. Nội dung giáo trình đề cập và làm rõ những
vấn đề lý luận cơ bản về QLNN về an ninh trật tự như: Khái niệm, đối tượng,
8
phương pháp của QLNN về an ninh trật tự; Những vấn đề cơ bản về an ninh, quốc
phòng; Những quan điểm của Đảng, Nhà nước về an ninh, quốc phòng; Nội dung
QLNN về an ninh quốc gia, TTATXH và quốc phòng. Giáo trình là tài liệu trang bị
cho sinh viên, học sinh Học viện Hành chính quốc gia những kiến thức cơ bản về an
ninh, quốc phòng, về QLNN về an ninh, quốc phòng, đồng thời làm cơ sở phương
pháp luận để nghiên cứu các vấn đề thực tiễn QLNN về an ninh, quốc phòng. Giáo
trình đã đưa ra khái niệm về QLNN về an ninh trật tự và an toàn xã hội như sau:
“ QLNN về an ninh quốc gia, TTATXH là hoạt động chấp hành và điều hành
của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền, được
tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong cuộc
sống hàng ngày các chức năng nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và
TTATXH” [71]. Giáo trình là tài liệu tin cậy, giúp NCS hoàn thiện lý luận về QLNN
đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND được đề cập trong luận án.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng của QLNN đối với
XLVPHC
- Cuốn “Thẩm quyền XLVPHC của CAND” của GS, TS. Nguyễn Ngọc Anh
(Chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2015[2]. Cuốn sách đã đề cập đến
những vấn đề hết sức quan trọng về thẩm quyền XLVPHC trong lực lượng CAND,
đặc biệt là những cán bộ, chiến sĩ CAND trực tiếp XLVPHC tại các đơn vị, địa
phương. Được tiếp cận và phân tích trên bình diện lý luận về XLVPHC, đồng thời
dẫn chiếu những quy định của pháp luật thực định về thẩm quyền XLVPHC của lực
lượng CAND, cuốn sách đã phân tích và nêu lên những vấn đề cơ bản về hành vi
VPHC, phân biệt VPHC với những hành vi vi phạm pháp luật khác. Đặc biệt, trong
phần phân tích cụ thể về thẩm quyền xử lý vi phạm của lực lượng CAND, cuốn
sách đã tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền
XLVPHC của CAND theo các nội dung: thẩm quyền xử phạt VPHC, thẩm quyền
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, thẩm quyền áp dụng các biện pháp
ngăn chặn VPHC và thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết
định xử phạt VPHC, xác định rõ thẩm quyền XLVPHC của CAND và phân biệt rõ
thẩm quyền xử lý vi phạm của CAND với thẩm quyền XLVPHC của các cơ quan,
9
lực lượng khác; tiếp cận những nhận thức chung nhất về XLVPHC, về thẩm quyền
XLVPHC và các nguyên tắc cơ bản trong XLVPHC của lực lượng CAND. Bên
cạnh đó, cuốn sách cũng đồng thời đề cập và phân tích một cách sâu sắc và cụ thể
về thẩm quyền của lực lượng CAND trong việc áp dụng các biện pháp XLHC.
- Luận án Tiến sĩ Luật học “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Đinh Phan Quỳnh, Học
viện Khoa học xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2018 [86].
Với nội dung về XLVPHC và XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trên
cơ sở pháp luật thực định, từ đó, tác giả đã xây dựng khái niệm về XLVPHC, từ đó
phân tích các đặc điểm, vai trò, nguyên tắc về XLVPHC cũng như đưa ra các đánh
giá về những kết quả đã đạt được, phân tích những khó khăn, hạn chế của hoạt động
XLVPHC nói chung và lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng; đề xuất những giải
pháp hướng tới sự hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực
quản lý về XLVPHC nói chung và trong lĩnh vực quản lý XLVPHC trong lĩnh vực
giao thông đường bộ nói riêng.
- Sách tham khảo Tìm hiểu Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, do
GS.TS Trần Đại Quang cùng tác giả GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên), Nhà
xuất bản Lao động, năm 2014[4]. Cuốn sách đã phân tích vai trò, tầm quan trọng
của công tác XLVPHC, khẳng định yêu cầu khách quan về sự cần thiết phải tăng
cường QLNN đối với công tác XLVPHC, đặc biệt là đối với lực lượng CAND, là sự
thể chế một cách kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy
định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần
bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối
với VPHC, tội phạm trong thời kỳ mới, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất và
chồng chéo trong hệ thống pháp luật về XLVPHC; đồng thời tạo cơ sở pháp lý đầy
đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các
điều ước quốc tế; đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội của
đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
- Sách tham khảo Tìm hiểu pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính do
10
Ths. Đặng Thanh Sơn (Chủ biên), Cục Xuất bản, in và phát hành năm 2014 [97].
Cuốn sách được sắp xếp theo trình tự, bố cục của Luật XLVPHC năm 2012, dưới
dạng hỏi, đáp, đề cập tương đối đầy đủ, toàn diện các nội dung chủ yếu của Luật
XLVPHC 2012, tập trung đề cập đến nội dung các quy định của pháp luật về áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính và biện pháp thay thế XLVPHC quản lý tại gia
đình. Bên cạnh đó, nội dung cuốn sách còn là sự đánh giá, khẳng định một bước
phát triển mới về cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân, góp
phần duy trì kỷ cương, trật tự trong QLNN, quản lý hành chính ở nước ta, phù hợp
với tinh thần của Hiến pháp 2013, bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch
trong trình tự, thủ tục XLVPHC đồi với cá nhân, tổ chức VPHC, trong đó bao gồm
cả người chưa thành niên VPHC.
- Sách chuyên khảo: “Nghiên cứu lý nguyên lý chứng cứ trong xử phạt hành
chính” của Lý Hồng Phong, Nhà xuất bản Đại học Chính pháp Trung Quốc phát
hành năm 2013[100]. Cuốn sách gồm 06 chương, trình bày những nội dung chính:
Cơ sở lý luận của chứng cứ trong xử phạt hành chính, trong đó nhấn mạnh vào khái
niệm, đặc điểm, chức năng của chứng cứ trong xử phạt hành chính; so sánh chứng
cứ trong tố tụng hình sự với chứng cứ trong tố tụng hành chính; phân loại chứng cứ
trong xử phạt hành chính; công tác thu giữ, bảo quản, đánh giá chứng cứ trong xử
phạt hành chính; phương hướng xây dựng và hoàn thiện quy định về chứng cứ trong
xử phạt hành chính. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị nghiên cứu chung, cơ bản
nhất của xử phạt VPHC, giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn toàn diện, tổng quan
hơn khi nghiên cứu lý luận và gợi ý xây dựng một số giải pháp của đề tài luận án.
- Báo cáo “Về xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật của Cộng hòa
Pháp” của ông M.M. RouGevin – Baville, Hội đồng nhà nước Pháp (La sanction en
matiere administrative dans le droit Francais, Rapport pre’sente’ pas
M.M.RouGevin – Baville, Maitre des requetes qu Conseild’Etesde France)[103].
Theo nghiên cứu của M.M. RouGevin – Baville, ở nước Cộng hòa Pháp hiện nay tồn
tại 03 quan điểm về xử phạt VPHC:
Thứ nhất là, quan điểm thực dụng. Do yêu cầu của lợi ích công, đặc biệt là
tính nhanh chóng của hoạt động hành chính, nên cơ quan hành chính phải được trao
quyền xử phạt hành chính - nghĩa là tự mình áp dụng các chế tài mà không cần qua
11
cơ quan tư pháp.
Thứ hai là, quan điểm dựa trên nguyên tắc pháp chế, chế tài hành chính cũng
phải do thẩm phán áp dụng, đặc biệt là các chế tài liên quan đến việc tước đoạt tự
do cá nhân.
Thứ ba là, quan điểm trung gian, phụ thuộc vào việc phân biệt các mức độ vi
phạm, nếu vi phạm chỉ đơn thuần là không tôn trọng các quy định thủ tục, vi phạm
nhẹ, thì cơ quan hành chính có quyền xử lý, tuy nhiên, nếu việc thực thi chậm trễ thì
Tòa án cảnh sát có thể can thiệp; đối với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng,
không tuân thủ lệnh kiểm tra, thì thẩm quyền thuộc Tòa án. Cơ quan hành chính nào
có quyền cấp phép thì cũng có quyền tước giấy phép nếu có những vi phạm kỷ luật
(quy tắc sử dụng giấy phép), ngay cả khi không có văn bản nào quy định quyền này:
“xuất phát từ nội dung chấp nhận, cơ quan cấp giấy phép có quyền tước giấy phép
của chủ sử dụng đã không tuân thủ đầy đủ những điều kiện được cấp phép”.
- Tác phẩm Luật Hành chính của tác giả V.T.Batychko (bản tiếng Nga, xuất
bản năm 2008 [102]. Đây là tài liệu phục vụ cho sinh viên và nghiên cứu sinh ngành
luật trong quá trình học tập. Cuốn sách được chia thành 9 phần lớn, trong đó Phần
thứ 8 trình bày về Trách nhiệm hành chính. Trong Phần thứ 8, tác giả đã đề cập đến
các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hành chính, các dấu hiệu, yếu tố cấu thành
VPHC, chủ thể, nguyên tắc xử phạt VPHC. Một số nội dung của Phần này có ý
nghĩa khá quan trọng với luận án trong việc phân tích những khái niệm có liên quan
đến hoạt động XLVPHC, các quan điểm về hoàn thiện lý luận về XLVPHC. Ví dụ
như trong khi phân tích về yếu tố chủ thể trong VPHC, tác giả chú trọng đến “chủ
thể đặc biệt” trong thực hiện hành vi VPHC, ngoài các chủ thể thông thường, vì
theo tác giả, nếu có sự phân định rõ ràng, sẽ tránh được và hạn chế việc áp dụng
trách nhiệm hành chính một cách máy móc.
1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu các giải pháp về QLNN đối
với XLVPHC
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự”, PGS.TS Đặng Anh làm chủ nhiệm đề tài,
năm 2009 [6]. Đề tài tập trung phân tích về VPHC và XLVPHC trong lĩnh vực an
ninh, trật tự; từ đó chỉ ra các dấu hiệu của VPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự, phân
12
biệt với vi phạm pháp luật hình sự. Tác giả đã tập trung làm rõ thực trạng của tình
hình VPHC, phân tích, đánh giá và từ đó đưa ra một số giải pháp cụ thể góp phần
nâng cao hiệu quả XLVPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự của ngành CAND. Đây
là tài liệu giúp nghiên cứu sinh tham khảo sâu hơn về lý luận VPHC, gợi mở các
giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu lực QLNN đối với XLVPHC trong quá trình
nghiên cứu đề tài luận án.
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi
phạm hành chính thuộc chức năng của Công an nhân dân”, TS.Vũ Huy Khánh làm
Chủ nhiệm đề tài[65]. Đề tài nghiên cứu đã đề cập và phân tích khái niệm QLNN về
thi hành pháp luật XLVPHC; phân tích làm rõ mực tiêu, yêu cầu, nội dung và trách
nhiệm của QLNN về thi hành pháp luật XLVPHC thuộc chức năng của CAND.
Trên cơ sở phân tích số liệu thống kê, tổng hợp về tình hình QLNN về thi hành
pháp luật XLVPHC, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc, từ đó đề xuất một số giải
pháp nâng cao hiệu quả QLNN về thi hành pháp luật XLVPHC thuộc chức năng
của CAND. Đây là tài liệu tham khảo giúp nghiên cứu sinh có thêm một góc nhìn
về QLNN về thi hành pháp luật XLVPHC thuộc chức năng của CAND, đồng thời là
một gợi ý cho nghiên cứu sinh định hướng nghiên cứu luận án này.
- Luận án Tiến sĩ Luật học “Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị từ thực
tiễn địa bàn thành phố Hà Nội”, Dương Thanh Liêm, Học Viện Khoa học Xã hội,
Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2019[66] đã phân tích một số vấn đề lý
luận về QLNN vè an ninh, trật tự ở đô thị, làm rõ thực trạng QLNN về an ninh trật tự ở
đô thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội, làm rõ các đặc điểm đặc trưng của đô thị
Hà Nội và một số nội dung về QLNN về an ninh, trật tự đô thị từ thực tiễn địa bàn
thành phố Hà Nội. Luận án có giá trị khá quan trọng để nghiên cứu sinh định hướng, kế
thừa một số vấn đề về lý luận QLNN khi thực hiện đề tài luận án của mình.
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Qua nghiên cứu các công trình có liên quan đến nội dung của luận án đã
được công bố ở ngoài nước và trong nước đã phân tích ở trên, NCS có một số nhận
xét, đánh giá như sau:
Một là, các công trình nghiên cứu đã công bố trước đây về cơ bản đã làm
13
sáng tỏ các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về công tác QLNN đối với
XLVPHC. Đồng thời, các công trình cũng đã xây dựng, phát triển và làm phong
phú thêm hệ thống tri thức lý luận về những vấn đề có tính quy luật; luận giải, phân
tích về quá trình hình thành, khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp của
QLNN đối với XLVPHC.
Nhóm các công trình nghiên cứu về lý luận QLNN đối với XLVPHC cũng
đã cung cấp các luận cứ khoa học về việc vận dụng chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước trong công tác XLVPHC, giữ gìn TTATXH; về việc đáp ứng yêu
cầu thể chế một cách kịp thời, đầy đủ, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng về
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp,
cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về xây dựng nhà nước pháp quyền, của dân,
do dan, vì dân, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Tuy
nhiên, trước những diễn biến mới phức tạp của tình hình thế giới và trong nước,
chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, kịp thời bổ sung, phát triển, hoàn thiện những vấn
đề lý luận mới này sinh trong QLNN đối với XLVPHC để phục vụ cho sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
QLNN đối với XLVPHC ở mỗi lĩnh vực QLNN khác nhau có những đặc thù
khác nhau, vì vậy, việc kế thừa các lý luận của các công trình nghiên cứu cũng phải
xem xét để đề xuất những quan điểm, giải pháp phù hợp. Đối với ngành CAND, các
công trình đã phân tích và đưa ra các khái niệm về XLVPHC trong lĩnh vực bảo
đảm TTATXH, hoạt động XLVPHC của ngành CAND,…Kết quả nghiên cứu của
các công trình này đều là những tài liệu tham khảo có giá trị trong việc làm sảng tỏ
các vấn đề lý luận của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
Hai là, tuy đã có một số công trình, bài viết khoa học ở trong nước và ở nước
ngoài nghiên cứu về VPHC, XLVPHC, QLNN về TTATXH nhưng chưa có công
trình nào chuyên sâu nghiên cứu về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND. Các công trình đã công bố mới chỉ dừng lại ở việc hoặc đề xuất hoàn thiện
pháp luật về XLVPHC, thẩm quyền XLVPHC hoặc đề xuất các giải pháp về nâng
cao hiệu quả hoạt động QLNN ở lĩnh vực an ninh trật tự mà chưa có có công trình
nào đánh giá, tổng kết một cách toàn diện về thực tiễn thi hành pháp luật hành chính
14
trên các lĩnh vực QLNN, đặc biệt là từ thực tiễn QLNN đối với XLVPHC ngành
CAND, để từ đó đánh giá một cách khách quan, chính xác những thuận lợi, khó
khăn, vướng mắc và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
QLNN đối với XLVPHC, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Ba là, trong tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo chủ trương
của Đảng và nhà nước ta nhằm xây dựng một nhà nước pháp quyền Việt Nam xã
hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đẩy mạnh cải cách hành
chính, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế, cho tới nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu
chuyên sâu từ tình hình thực tiễn quản lý XLVPHC của một ngành cụ thể, từ đó
khái quát về mặt lý luận, phương pháp, nội dung, đặc điểm của QLNN đối với
XLVPHC, đề xuất những giải pháp mang tính tổng thể nhằm nâng cao QLNN đối
với XLVPHC trong các lĩnh vực QLNN.
1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Từ nhận xét tổng quan nên trên, vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu luận án là:
(1) Nghiên cứu, làm rõ quan điểm của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc Nhà
nước quản lý đất nước bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa về cải cách hành chính, về QLNN, các quy định của pháp luật về VPHC,
XLVPHC để xây dựng khái niệm, đặc điểm, nội dung của QLNN đối với XLVPHC
từ thực tiễn ngành CAND.
(2) Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về VPHC, XLVPHC,
QLNN đối với XLVPHC, như: Khái niệm về VPHC, khái niệm VPHC trong lĩnh
vực TTATXH; khái niệm về XLVPHC; khái niệm QLNN, QLNN đối với
XLVPHC; khách thể, chủ thể, đối tượng, nội dung của QLNN đối với XLVPHC.
(3) Khảo sát, đánh giá tình hình có liên quan đến VPHC, XLVPHC, QLNN
đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; Phân tích, đánh giá thực trạng tình
hình QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong những năm gần đây;
trên cơ sở đó, rút ra những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của những hạn
chế, thiếu sót trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
(4) Đề xuất quan điểm, giải pháp góp phần tăng cường hiệu quả QLNN đối
15
với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong tình hình mới.
1.4. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.4.1. Giả thuyết nghiên cứu
QLNN đối với XLVPHC tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu nhưng
còn tồn tại khá nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về QLNN đối với XLVPHC.
Và cho đến nay, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề nghiên
cứu chuyên sâu về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND. Trước yêu
cầu của tình hình mới, cần phải bổ sung, hoàn thiện các giải pháp nhằm tăng cường
hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, góp phần bảo đảm
trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các hành vi
VPHC và tội phạm trong thời kỳ mới.
1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm tăng cường hiệu quả QLNN đối với XLVPHC đối với XLVPHC từ
thực tiễn ngành CAND, nhiệm vụ của luận án cần tập trung giải đáp một số câu hỏi
nghiên cứu sau:
- Cơ sở lý luận của QLNN đối với XLVPHC là gì? QLNN đối với
XLVPHC? Nội dung của QLNN đối với XLVPHC? Các biện pháp bảo đảm nhằm
tăng cường QLNN đối với XLVPHC ?
- Thực trạng của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND như thế
nào? Sự đáp ứng của tình hình QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND
ra sao trong tình hình xây dựng, phát triển đất nước?
- Các giải pháp bảo đảm nhằm tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ thực
16
tiễn ngành CAND? Cách thức, biện pháp triển khai ra sao?
Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, luận án nghiên cứu một số công trình khoa học có liên
quan trực tiếp tới QLNN đối với XLVPHC. Các công trình được chia làm ba nhóm
khác nhau, đó là: lý luận, thực trạng và kiến nghị giải pháp. Các nội dung này tương
ứng với ba chương của Luận án.
Chương tổng quan của Luận án cho thấy, đã có khá nhiều công trình nghiên
cứu đi theo hướng phân tích thực trạng QLNN của một lĩnh vực quản lý cụ thể, trên
cơ sở đó rút ra các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp như: QLNN về xử phạt
VPHC trong lĩnh vực TTATXH của lực lượng CSGT; QLNN về an ninh trật tự của
Công an xã; QLNN về theo dõi hoạt động thi hành pháp luật XLVPHC trong
CAND; QLNN về an ninh, trật tự… Một số công trình nghiên cứu về QLNN đối
với an ninh trật tự theo hướng nghiên cứu hoàn thiện thể chế, cơ chế QLNN trong
lĩnh vực an ninh trật tự…. Nhìn chung các công trình nghiên cứu khá đa dạng,
phong phú. Mặc dù vậy, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề lý luận về QLNN về an ninh
trật tự, an toàn xã hội, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu một cách toàn diện hơn, có hệ
thống hơn và chuyên sâu hơn về vấn đền QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
ngành CAND.
Kết quả nghiên cứu tại Chương 1 là tiền đề có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc
đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận về VPHC, XLVPHC, về QLNN và QLNN đối với
17
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND được trình bày ở Chương 2 của luận án.
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
2.1. Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính
2.1.1. Vi phạm hành chính
2.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của vi phạm hành chính
VPHC là hành vi vi phạm pháp luật xảy ra phổ biến, tuy tính chất, mức độ vi
phạm và hậu quả chưa đến mức là tội phạm, song, VPHC là hành vi gây ra những
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tổ
chức, cá nhân cũng như lợi ích chung của cộng đồng, ảnh hưởng trên các mặt của
đời sống xã hội, là tiền đề nảy sinh tội phạm nếu không ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Cơ sở của việc XLVPHC là có hành vi VPHC được quy định trong pháp luật hành
chính. Việc nghiên cứu về khái niệm hành vi VPHC vừa có ý nghĩa lý luận quan
trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về hành
vi VPHC mới có thể xác định được các VPHC cụ thể trong từng lĩnh vực QLNN.
Xác định được đúng hành vi VPHC, tức là xác định đúng cơ sở xử phạt, thì việc
thực hiện xử phạt hành chính mới bảo đảm chính xác, bảo đảm được quyền và lợi
ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục
đích của việc xử phạt hành chính là nhằm lập lại trật tự QLNN bị xâm hại, góp phần
giáo dục, người vi phạm và răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai, tránh được
sự tuỳ tiện trong xử phạt hành chính.
Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, VPHC thường được
hiểu một cách chung nhất là hành vi vi phạm các quy tắc quản lý của Nhà nước
nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tục hành chính do những người
có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành mà không phải là
cơ quan Tòa án với các thủ tục tư pháp.
Trước khi Pháp lệnh Xử phạt VPHC năm 1989 được Uỷ ban thường vụ Quốc
hội ban hành thì các văn bản pháp luật chỉ đề cập đến khái niệm “vi cảnh”. Khái
18
niệm “vi cảnh” chính thức được sử dụng trong Nghị định số 143/CP của Hội đồng
Chính phủ ngày 27/5/1977 ban hành kèm theo Điều lệ xử phạt vi cảnh. Theo quy
định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì, tất cả những hành vi xâm phạm đến TTATXH
mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm
pháp vi cảnh. Cũng theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì có 04 hình thức
xử phạt vi cảnh, đó là: cảnh cáo; phạt tiền từ 01 đến 10 đồng; phạt lao động công
ích từ 01 đến 03 ngày; phạt giam từ 01 đến 03 ngày. Bên cạnh đó, Điều lệ xử phạt
vi cảnh cũng quy định tịch thu phương tiện dùng vào việc vi phạm tuỳ theo tính
chất, mức độ của vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt với hình thức phạt cảnh
cáo, phạt tiền cho cán bộ có thẩm quyền của các ngành Kiểm lâm, Thuỷ sản,
Thương nghiệp, Y tế, Giao thông vận tải... trong khi thừa hành công vụ, ngoài lực
lượng cán bộ, chiến sĩ Công an là lực lượng có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình
thức xử phạt mà Điều lệ xử phạt vi cảnh quy định. Về sau, trong các văn bản pháp
luật do Nhà nước ta ban hành, khái niệm vi cảnh được hiểu rộng hơn, không chỉ là
những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công cộng mà được hiểu là những vi phạm nhỏ
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 2 của Điều lệ về phạt vi cảnh nói
trên định nghĩa như sau: những hành vi xâm phạm đến TTATXH mà có tính chất
đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là
phạm pháp vi cảnh.
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm VPHC lần đầu tiên được định nghĩa
một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt VPHC ngày 30/11/1989: VPHC là hành
vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc QLNN
mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
hành chính. Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi
hành pháp luật hành chính và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật.
Theo Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh XLVPHC năm
2002 thì, khái niệm VPHC không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa lẩn
vào trong khái niệm XLVPHC. Nếu trích dẫn từ định nghĩa về XLVPHC được quy
19
định tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 thì VPHC được hiểu là hành
vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về
QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
VPHC. Về ngôn ngữ thể hiện, có thể thấy có đôi chút khác nhau giữa định nghĩa về
VPHC được quy định trong các Pháp lệnh về xử phạt/XLVPHC 1989, 1995 và
2002, tuy nhiên về bản chất hành vi VPHC thì các định nghĩa trong các văn bản
pháp luật này, không có gì khác nhau. Việc đưa ra khái niệm vi phạm pháp luật
hành chính một cách khoa học, chính xác không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý
nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đây là cơ sở để xác định hành vi vi phạm pháp luật cụ thể,
cũng đồng thời là căn cứ quan trọng để Nhà nước truy cứu trách nhiệm pháp lý đối
với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật. Có thể thấy rằng, nếu căn cứ vào
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì hành vi vi phạm pháp luật chia làm hai
mức độ: Các hành vi vi phạm thấp, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho Nhà
nước,tổ chức, cá nhân ở mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa “đáng kể” thì gọi là
VPHC; còn hành vi vi phạm pháp luật ở mức độ cao, có tính chất, mức độ nguy
hiểm lớn hơn gọi là vi phạm hình sự.
VPHC trước hết là hành vi vi phạm pháp luật. VPHC luôn là hành vi có lỗi
và là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Lỗi cố ý như: Cố ý tạo vật chướng ngại trên luồng gây
cản trở giao thông,…; nhưng trong nhiều trường hợp, VPHC là lỗi vô ý, như: không
lắp đủ các loại thiết bị an toàn cho xe ô tô. Điều này cho thấy, người vi phạm chưa
nhận thức và chưa xác định được hành vi của mình là hành vi VPHC. Chính vì vậy,
việc xác định rõ khái niệm VPHC trong văn bản quy phạm pháp luật là rất cần thiết,
nhằm nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa vi phạm, đồng thời
là cơ sở để xác định hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật hành chính.
Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, việc đưa ra khái niệm VPHC
cần phải bảo đảm phản ánh đầy đủ dấu hiệu đặc trưng của loại vi phạm này, giúp
phân biệt rõ với vi phạm hình sự. Trong khoa học pháp luật hành chính, cho đến
nay, khái niệm VPHC cũng còn khá nhiều vấn đề phải được làm rõ. Nghiên cứu các
quy định về pháp luật hành chính của nước ta qua các thời kỳ, có thể thấy, nhìn
chung, khái niệm về VPHC đều có sự thống nhất về các dấu hiệu cơ bản của loại vi
20
phạm này. Tuy nhiên, bên cạnh quan điểm khá thống nhất của đa số giới nghiên cứu
khoa học, đồng tình với khái niệm về VPHC và được luật định, cũng còn có ý kiến
không hoàn toàn đồng tình, cụ thể là ý kiến của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt. Trong
cuốn giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự
thật 2013, tác giả Nguyễn Cửu Việt đã trình bày quan điểm của mình về VPHC như
sau: “VPHC là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi
(cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành vi hành chính hoặc
tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự QLNN và trật tự xã hội, trật tự quản lý, sở hữu
của nhà nước, tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp
của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm
hành chính”.
Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật
hành chính và trên cơ sở nghiên cứu lý luận về VPHC, có thể thấy, VPHC là một
loại vi phạm xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội, là hành vi có lỗi, do cá
nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định về QLNN mà chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự. Điều quan trọng ở đây là cần xác định rõ được tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của loại hành vi vi phạm này, trong đó đặc biệt chú trọng
xác định ranh giới giữa hành vi VPHC và hành vi vi phạm hình sự, tạo sơ sở vững
chắc để quy định, xử lý cũng như đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các
hành vi VPHC.
Cho đến thời điểm hiện nay, VPHC đã được Luật XLVPHC năm 2012 [80]
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm XLVPHC năm 2012
[84] (có hiệu lực từ ngày 01/01/2022) quy định cụ thể như sau:
“VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định
của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật
phải bị xử phạt VPHC”.
Theo định nghĩa này, thì VPHC có 04 dấu hiệu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, VPHC là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp
luật về QLNN; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc
không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản
21
pháp luật về xử phạt VPHC. Đây chính là dấu hiệu pháp định của vi phạm.
Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện (hành
động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại
trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu vật chất (material)
của vi phạm.
Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây
là dấu hiệu xác định chủ thể của vi phạm.
Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận thức
được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức
được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi
phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả và để mặc cho
hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước
được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được
hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy
2.1.1.2. Cấu thành của vi phạm hành chính
trước được hậu quả của vi phạm. Đây có thể coi là dấu hiệu tinh thần của vi phạm.
Các dấu hiệu của VPHC được thể hiện rõ nét ở bốn (04) yếu tố cấu thành của
VPHC, đó là: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của hành vi vi phạm.
Về mặt khách thể: Khách thể của VPHC là những quan hệ xã hội được pháp
luật hành chính bảo vệ, bị các hành vi VPHC xâm hại tới. VPHC là hành vi xâm hại
đến trật tự của QLNN được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ, xâm phạm
đến các quan hệ xã hội về QLNN trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
như quy tắc về an toàn giao thông, quy tắc về an ninh, trật tự an toàn xã hội,… và
được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hành chính.
Về mặt khách quan: Mặt khách quan của VPHC là mặt bên ngoài của VPHC
với những dấu hiệu vi phạm, hậu quả, tác hại của hành vi, mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi vi phạm đó; thời gian, địa điểm thực
hiện hành vi vi phạm.
Hành vi VPHC là dấu hiệu cơ bản trong mặt khách quan, thông qua hành vi
VPHC mới có thể đánh giá, xác định được các yếu tố khác. Hành vi VPHC xâm hại
22
các quan hệ xã hội được quy định trong các quy tắc quản lý hành chính nhà nước.
Hành vi VPHC phải là hành vi có tính trái pháp luật hành chính, được thể hiện dưới
hai hình thức, đó là: Hành động hoặc không hành động. Hành động là trường hợp
chủ thể chủ động, tích cực thực hiện hành vi xâm phạm trật tự QLNN mà hành vi
đó bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Không hành động là không làm những việc
mà pháp luật buộc phải thực hiện trong những hoàn cảnh cụ thể, mặc dù chủ thể có
điều kiện thực hiện hành vi đó. Sự không hành động được mô tả trong các văn bản
quy phạm pháp luật quy định về VPHC và XLVPHC.
Đối với một số loại VPHC cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính
chất phức tạp, không đơn giản chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong
hành vi mà còn có thể có các yếu tố khác như: thời gian, địa điểm thực hiện hành vi
vi phạm; công cụ, phương tiện vi phạm; hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi và hậu quả, trong nhiều trường hợp, hành vi của cá nhân, tổ chức bị coi là
hành vi VPHC chỉ khi hành vi đó gây ra những thiệt hại cụ thể trên thực tế.
Về chủ thể: VPHC là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Chủ thể thực hiện VPHC là tổ chức hoặc cá
nhân có năng lực trách nhiệm hành chính. Theo đó, cá nhân là chủ thể của VPHC là
người không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và đạt độ tuổi do pháp luật quy định; tổ
chức là chủ thể của VPHC là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề
nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập
theo quy định của pháp luật.
Mặt chủ quan: Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của VPHC là dấu hiệu
lỗi của chủ thể vi phạm. VPHC phải là hành vi có lỗi, thể hiện ở hình thức cố ý hoặc
vô ý. Người vô ý thực hiện hành vi này là người trong trạng thái có đầy đủ năng lực
nhận thức và điều khiển hành vi nhưng đã vô ý, thiếu thận trọng mà không nhận
thức được điều đó. Người cố ý thực hiện hành vi vi phạm là người có nhận thức
được tính trái pháp luật của hành vi, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng
như hậu quả của nó nhưng vẫn cố tình thực hiện vi phạm. Ngoài yếu tố lỗi là dấu
23
hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của VPHC thì trong một số trường hợp cụ thể,
pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc của một số loại
VPHC.
Vấn đề xác định dấu hiệu lỗi của VPHC đối với tổ chức còn có nhiều ý kiến
khác nhau. Có ý kiến cho rằng, lỗi là trạng thái tâm lý cá nhân khi thực hiện VPHC
nên không đặt ra đối với tổ chức. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, cần thiết phải
xác định dấu hiệu lỗi VPHC đối với tổ chức thì mới có đầy đủ cơ sở pháp lý để tiến
hành xử lý vi phạm đối với tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Trong
thực tế, Luật XLVPHC 2012 [80] và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
XLVPHC 2020 [84] cũng mới chỉ dừng ở việc quy định chung về nguyên tắc xử
phạt VPHC đối với tổ chức vi phạm, đó là: tổ chức bị xử phạt VPHC về mọi hành
vi VPHC do mình gây ra và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt VPHC.
2.1.2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội
2.1.2.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn
xã hội
Về nguyên tắc, VPHC trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội được coi là một
dạng của VPHC. Chính vì vậy, dạng vi phạm này cũng có đầy đủ các yếu tố cấu
thành vi phạm, đó là các yếu tố về khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ
quan như VPHC nói chung. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã
hội hiểu theo nghĩa rộng là vi phạm quy tắc QLNN trên nhiều lĩnh vực như: Bảo
đảm trật tự xã hội, đăng ký, quản lý cư trú; trật tự an toàn giao thông; an toàn phòng
cháy, chữa cháy; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ,… Các hành vi VPHC
trong lĩnh vực TTATXH được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau của Chính phủ, như: Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013
quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự xã hội; phòng chống tệ
nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình [49]; Nghị
định số 132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường thủy nội địa [53]; Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày
26/5/2016 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường
sắt [54]…; Trong phạm vi về XLVPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự, có thể đưa ra
24
khái niệm về VPHC trong lĩnh vực TTATXH như sau:
“VPHC trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội là hành vi do tổ chức, cá nhân
thực hiện do lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm quy định của pháp luật về QLNN trong lĩnh
vực trật tự, an toàn xã hội mà không mà không phải là tội phạm và theo quy định
2.1.2.2. Phân biệt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã
hội với tội phạm
của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”.
Trong các dạng hành vi vi phạm pháp luật, VPHC và tội phạm là hai hiện
tượng có một số dấu hiệu giống nhau. Khi xem xét mối liên hệ giữa VPHC trong
lĩnh vực TTATXH và tội phạm trong một số trường hợp cấu thành tội phạm có yếu
tố bắt buộc là: “đã bị xử phạt VPHC về hành vi này mà còn vi phạm”. Do VPHC
trong lĩnh vực TTATXH và hành vi vi phạm hình sự đều là những hành vi (hành
động hoặc không hành động) và khách thể bị xâm hại của VPHC trong lĩnh vực
TTATXH và hành vi vi phạm hình sự có khoảng giao thoa, đặc biệt là về mặt hành
vi và lỗi, nên về mặt khoa học, có sự thống nhất cao tong quan điểm cho rằng, tính
nguy hiểm và mức độ hậu quả gây thiệt hại cho xã hội là tiêu chí cơ bản nhất để
phân biệt giữa hành vi VPHC và hành vi vi phạm hình sự. Hành vi VPHC trong lĩnh
vực TTATXH luôn có tính nguy hiểm thấp hơn so với hành vi vi phạm hình sự, nên
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPHC trong lĩnh vực TTATXH được coi là
chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Sự khác biệt về mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện ở những điểm cơ bản:
Một là, tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại.
Một hành vi bị coi là tội phạm khi nó xâm hại đến quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ và được xác định một cách khái quát tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và được cụ thể hóa bằng các tội danh
quy định trong Bộ luật Hình sự. Do tầm quan trọng của khách thể bị xâm hại nên có
thể thấy, các hành vi như: giết người, cướp tài sản,…luôn được xác định là tội
phạm. trong khi đó, những hành vi không thực hiện những quy định về khai báo tạm
trú, tạm vắng,…tuy cũng xâm hại trật tự QLNN về TTATXH, nhưng do tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi này không đáng kể nên được xác định là VPHC và
25
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hai là, trong nhiều trường hợp VPHC trong lĩnh vực trật tựu an toàn xã hội
và tội phạm cùng xâm hại đến một khách thể thì căn cứ để định lượng tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi, xác định hành vi đó là VPHC hay tội phạm thể hiện ở
mức độ thiệt hại do hành vi đó gây ra nghiêm trọng đến mức nào hoặc tính chất của
hành vi (vi phạm lần đầu, hay đã từng bị xử phạt về chính hành vi đó).
Ba là, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm luôn được định lượng qua
thông qua hậu quả và những thiệt hại thực tế mà hành vi phạm tội gây ra. Vì vậy,
thiệt hại là một dấu hiệu thường được mô tả trong cấu thành vật chất của nhiều tội
danh quy định trong Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, đa số các VPHC trong lĩnh vực
TTATXH mặc dù xâm phạm đến trật tự QLNN, gây hậu quả xấu cho xã hội nhưng
không trực tiếp gây ra thiệt hại trên thực tế mà chỉ ẩn chứa khả năng gây thiệt hại
hoặc gây thiệt hại không đáng kể.
Bốn là, về mặt hình thức, có thể thấy rằng, tội phạm chỉ được quy định trong
một văn bản quy phạm pháp luật duy nhất là Bộ luật Hình sự; còn hành vi VPHC
được quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC trong các
lĩnh vực khác nhau của QLNN. Đối với chủ thể áp dụng pháp luật, đây là dấu hiệu
quan trọng, là căn cứ đầu tiên để nhận diện một hành vi vi phạm pháp luật là tội
phạm hay VPHC. Cần lưu ý, nếu trong một hành vi vừa được quy định trong Bộ
luật Hình sự, vừa được quy định trong Nghị định của Chính phủ về xử phạt VPHC
thì cần đánh giá đến yếu tố định lượng, hậu quả, tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi để khẳng định hành vi đó thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản pháp luật
nào và xác định hành vi đó VPHC hay hình sự.
Tội phạm và VPHC trong lĩnh vực TTATXH đều có biểu hiện hình thức ra
bên ngoài của hành vi, đó là hành động và không hành động. Tuy nhiên, chỉ có một
số ít tội phạm có biểu hiện hành vi là không hành động phạm tội (ví dụ: tội không
cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tội không tố giác
tội phạm,…); còn VPHC có nhiều hành vi có hình thức biểu hiện là không hành
động, ví dụ: Hành vi người điều khiển phương tiện không sử dụng đèn chiếu sáng
trong thời gian từ 19g ngày hôm trước đến 05g ngày hôm sau hoặc khi sương mù,
26
thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn, quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 6 Nghị định số
46/2016/NĐ-CP [54]. Ngoài những dấu hiệu cơ bản trên, việc phân biệt VPHC
trong lĩnh vực TTATXH và tội phạm còn căn cứ vào dấu hiệu chủ thể. Theo pháp
luật hiện hành, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương
mại trong một số tội cụ thể; trong khi đó, chủ thể của VPHC trong lĩnh vực
TTATXH bao gồm cá nhân, tổ chức, trong đó có cả cơ quan nhà nước.
2.1.3. Xử lý vi phạm hành chính
2.1.3.1. Khái niệm và đặc điểm xử lý vi phạm hành chính
XLVPHC là một khái niệm có thể được xem xét từ những góc độ khác nhau.
Nhìn từ góc độ lịch sử xây dựng và hoàn thiện pháp luật XLVPHC cho thấy, đã có
nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về XLVPHC, trong đó có thể kể đến là
Pháp lệnh XLVPHC năm 1989, Pháp lệnh XLVPHC năm 1995, Pháp lệnh
XLVPHC năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008 và đến nay là Luật XLVPHC
2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020. Trong các văn bản pháp luật này, khái niệm về
XLVPHC được đưa ra ở các góc độ khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể,
nhưng nhìn chung, đều thống nhất coi XLVPHC là một biện pháp cưỡng chế hành
chính. Trên cơ sở quy định của pháp luật hành chính qua các thời kỳ và của khoa
học Luật hành chính, khái niệm về XLVPHC được hiểu theo nghĩa khái quát như
sau: “XLVPHC là việc áp dụng một biện pháp cưỡng chế hành chính của Nhà nước
đối với cá nhân, tổ chức có hành vi VPHC”.
Theo nghĩa cụ thể hơn, có thể định nghĩa về XLVPHC như sau: “XLVPHC
được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những
biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi
phạm pháp luật hành chính nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
XLVPHC bao gồm: các hình thức xử phạt VPHC, các biện pháp khắc phục hậu
quả; và, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác”.
Từ khái niệm nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm của XLVPHC như sau:
Thứ nhất, XLVPHC là hoạt động áp dụng pháp luật về XLVPHC. Việc tiến
hành XLVPHC đòi hỏi phải đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định. Kết
27
quả XLVPHC phải dược thể hiện bằng quyết định XLVPHC có hiệu lực pháp luật.
Thứ hai, XLVPHC là hoạt động cưỡng chế nhà nước do các chủ thể (chức
danh) có thẩm quyền XLVPHC tiến hành và bảo đảm bằng quyền lực nhà nước.
Thứ ba, mục đích của XLVPHC là nhằm truy cứu trách nhiệm hành chính
một hành vi VPHC, qua đó, buộc chủ thể VPHC phải gánh chịu mọt biện pháp
cưỡng chế hành chính tương xứng với hành vi vi phạm của mình. Như vậy, VPHC
là cơ sở làm phát sinh hoạt động XLVPHC.
Thứ tư, đối tượng tác động của XLVPHC là cá nhân hoặc tổ chức đã thực
hiện hành vi vi phạm hành .
2.1.3.2. Nguyên tắc XLVPHC
Theo Từ điển Tiếng Việt 1992, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm
từ điển ngôn ngữ, Hà Nội 1992 [92, tr.688] đưa ra định nghĩa về nguyên tắc như
sau: “ Nguyên tắc là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt
việc làm”.
Trong lĩnh vực XLVPHC, nguyên tắc XLVPHC được coi là những nội dung
cơ bản, quan trọng nhất chi phối mọi hoạt động trong quá trình xử phạt VPHC cũng
như trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Những nguyên tắc
XLVPHC đã được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh XLVPHC năm 1989 và được
kế thừa, bổ sung tại Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và 2002. Do sự độc lập giữa xử
phạt VPHC và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Điều 3 Luật XLVPHC 2012
quy định về nguyên tắc XLVPHC được tách thành hai khoản, trong đó Khoản 1 quy
định về các nguyên tắc xử phạt VPHC và Khoản 2 quy định về các nguyên tắc áp
dụng biện pháp xử lý hành chính, cụ thể như sau:
Thứ nhất, mọi hành vi VPHC phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử
lý nghiêm minh, mọi hậu quả do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng quy
định của pháp luật.
VPHC là hành vi trái pháp luật nên có tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi VPHC thể hiện ở chỗ VPHC phá vỡ trật tự xã hội được
Nhà nước thiết lập, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến quyền, lợi ích chính
28
đáng, hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, xã hội, Nhà nước. Việc phát hiện, ngăn
chặn kịp thời hành vi VPHC sẽ góp phần xác minh các tình tiết liên quan đến vi
phạm để xử lý chính xác hay ngăn chặn tác động tiêu cực của hành vi vi phạm.
Thứ hai, việc xử phạt VPHC được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách
quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật.
Việc xử phạt VPHC được tiến hành nhanh chóng. VPHC thường được coi là
hành vi có tính nguy hiểm thấp hơn tội phạm nên thông thường việc xử phạt VPHC
không phải mất quá nhiều thời gian mà vẫn có thể đảm bảo chính xác, đúng pháp
luật. Việc xử phạt nhanh chóng sẽ có khả năng ngăn ngừa kịp thời các tác động tiêu
cực do VPHC gây ra. Nguyên tắc này được thể hiện ở cả hai thủ tục xử phạt VPHC.
Trong thủ tục xử phạt không lập biên bản, quyết định hành chính được ban hành
ngay khi người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm. Trong thủ tục xử phạt có
lập biên bản, thời hạn ban hành quyết định xử phạt VPHC nói chung là 7 ngày;
trong trường hợp pháp luật quy định có giải trình hoặc trường hợp không có giải
trình nhưng phức tạp thì thời hạn là 30 ngày kể từ ngày lập biên bản VPHC. Với
thời hạn như vậy, việc xử phạt VPHC cần được thực hiện nhanh chóng vì nếu hết
thời hạn thì người có thẩm quyền không được ban hành quyết định để xử phạt về
hành vi vi phạm đó nữa.
Việc xử phạt VPHC phải được tiến hành công khai, khách quan, phải đúng
thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật. Xử phạt VPHC là
hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước để áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với
người vi phạm nên chỉ người có thẩm quyền mới có quyền xử phạt VPHC và chỉ
được xử phạt trong giới hạn thẩm quyền pháp luật quy định. Việc xử phạt đúng
thẩm quyền sẽ tạo nên sự hài hòa, không chồng chéo, không bỏ sót vi phạm và xử
phạt được thuận tiện, chính xác.
Thứ ba, việc xử phạt VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi
phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng
Bất cứ hành vi VPHC nào cũng có tính nguy hiểm cho xã hội và tùy theo
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà pháp luật quy định hình thức, mức
phạt phù hợp. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPHC tùy thuộc vào nhiều
29
yếu tố như bản thân hành vi đó là hành vi gì, mức độ nghiêm trọng của hậu quả gây
ra, người vi phạm là ai, thực hiện hành vi vi phạm trong điều kiện hoàn cảnh nào…
Vì vậy, để xử phạt VPHC nghiêm minh, công bằng, có giá trị răn đe, phòng ngừa
cao thì khi xử phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đồi tượng
vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức, mức xử phạt.
Thứ tư, một hành vi VPHC chỉ bị xử phạt một lần; nhiều người cùng thực
hiện một hành vi VPHC thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi VPHC đó;
một người thực hiện nhiều hành vi VPHC hoặc VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về
từng hành vi vi phạm.
Một hành vi vi phạm pháp luật nói chung đều có 2 dấu hiệu: dấu hiệu nội
dung là hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội; dấu hiệu hình thức là hành vi đó
phải được pháp luật quy định đó là hành vi vi phạm pháp luật. Ví dụ, pháp luật quy
định người khiếu nại có nghĩa vụ chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu
lực pháp luật nhưng pháp luật không có quy định hành vi không thực hiện quyết
định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật là hành vi VPHC nên không thể xử
phạt cá nhân, tổ chức khiếu nại nếu họ không thực hiện quyết định giải quyết khiếu
nại. Nguyên tắc này thể hiện quan điểm là chỉ có cơ quan có thẩm quyền XLVPHC
mới có quyền xác định một hành vi trái pháp luật nào đó có phải là VPHC không.
Thứ năm, người có thẩm quyền xử phạt hành chính có trách nhiệm chứng
minh VPHC; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người
đại diện hợp pháp chứng minh mình không VPHC.
Để xử phạt VPHC đối với cá nhân, tổ chức thì, sau khi lập biên bản VPHC,
người có thẩm quyền xử phạt phải điều tra, xác minh vụ việc VPHC xem có hay
không có VPHC, đối tượng VPHC, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ,... Trong thực tế,
có những trường hợp vi phạm có thể xác định được ngay đối tượng vi phạm, tính
chất, mức độ vi phạm (ví dụ: hành vi VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ:
vượt đèn đỏ, vượt quá tốc độ cho phép,...); nhưng cũng có không ít những hành vi
không thể xác định ngay được đối tượng vi phạm, tính chất, mức độ vi phạm (hành
vi VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, khoáng sản,…). Do đó, khi phát hiện
VPHC thuộc lĩnh vực của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải
30
kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản. Đây là một
nguyên tắc rất cần thiết và quan trọng nhằm khắc phục tình trạng cơ quan hành
chính ban hành quyết định xử phạt mang tính đơn phương, áp đặt ý chí chủ quan
của người có thẩm quyền xử phạt. Mặt khác, bảo đảm được nguyên tắc xử phạt
công khai, dân chủ, khách quan và chính xác trên cơ sở xác minh rõ vụ việc, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của người bị xử phạt.
Thứ sáu, đối với cùng một hành vi VPHC thì mức phạt tiền đối với tổ chức
bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân
Theo đó, đối với cùng một hành vi VPHC thì tổ chức vi phạm sẽ bị phạt tiền
với mức tiền phạt cao gấp đôi so với mức tiền phạt đối với cá nhân đã thành niên.
Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa trong tất cả các nghị định quy định về VPHC và
xử phạt VPHC trong các lĩnh vực cụ thể.
2.2. Quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
2.2.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm
hành chính
2.2.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
Trong lý luận về XLVPHC, QLNN đối với XLVPHC là một nội dung đặc
biệt quan trọng. Việc ghi nhận bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện các quy định
của pháp luật về XLVPHC là một yêu cầu cần thiết để thực hiện QLNN một cách
có hiệu quả. Đây cũng đồng thời là tiêu chí để đánh giá một nền hành chính công
bằng, văn minh. Theo đó, để làm rõ khái niệm về QLNN đối với XLVPHC, trước
tiên cần phải nghiên cứu lý luận về QLNN, từ đó mới có thể làm rõ được khái niệm
về QLNN đối với XLVPHC.
Phải khẳng định rằng, từ lâu, lý luận về QLNN đã là một lĩnh vực của khoa
học pháp lý. Bắt đầu manh nha từ khoa học pháp lý, những vấn đề đầu tiên của lý
thuyết QLNN rõ ràng đã phát sinh từ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, từ
khoa học Luật Nhà nước rồi luật Hành chính. Ngay cả sau này, khi có sự phân
nhánh, trở thành một ngành lý luận độc lập thì những phạm trù, khái niệm, những
phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của lý luận khoa học trong lĩnh vực
31
này cũng không thể là những vấn đề gì khác ngoài những vấn đề về pháp luật, tổ
chức thực hiện pháp luật và hoàn thiện nhà nước,… Những vấn đề đó cũng là
những đặc trưng của khoa học pháp lý. Trong cuốn C.Mac và Ph.Ăngghen, Toàn
tập, tập 20, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, C.Mac và Ph.Ăngghen
đã khẳng định sự quan trọng bậc nhất của QLNN thể hiện qua chức năng xã hội: “Ở
khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính
trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó”[98, tr.
253]. Điều nay có nghĩa là, mọi nhà nước xuất hiện và tồn tại đều có chức năng giai
cấp và chức năng xã hội, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chức năng xã hội
của nhà nước là thực hiện việc quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã
hội. Và, trong một giới hạn xác định, nhà nước phải hoạt động để thỏa mãn những
nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nó. Việc giải quyết
một cách có hiệu quả những vấn đề chung của xã hội sẽ tạo điều kiện để duy trì xã
hội trong vòng trật tự theo quan điểm và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Như vậy,
thực hiện chức năng xã hội theo quan điểm và giới hạn của giai cấp cầm quyền là
phương thức, điều kiện để nhà nước đó thực hiện vai trò thống trị giai cấp của nó.
Theo Từ điển Tiếng Việt 1992, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm
từ điển ngôn ngữ, Hà Nội 1992, đưa ra định nghĩa về nhà nước như sau: “Nhà nước
là tổ chức, đứng đầu là Chính phủ, quản lý công việc chung của một nước”[92,
tr.695] và định nghĩa về quản lý: “Quản lý là tổ chức và điều khiển những hoạt
động theo những yêu cầu nhất định” [92, tr.789]. Như vậy, có thể hiểu một cách
chung nhất thì, QLNN là việc tổ chức, điều hành các hoạt động của xã hội theo
những yêu cầu và trật tự nhất định.
Trên thực tế, QLNN được hiểu ở hai cấp độ khác nhau, đó là: QLNN được
hiểu là quản lý các công việc của nhà nước (cấp độ 1); đồng thời, QLNN còn được
hiểu dưới góc độ pháp lý, bằng ngôn ngữ của khoa học pháp lý, đó là thực thi quyền
hành pháp, là hoạt động quản lý xã hội của nhà nước, bằng pháp luật, là quản lý
nhân danh công quyền (cấp độ 2).
Hiểu theo cấp độ 1, QLNN là quản lý các công việc của nhà nước là quản lý
tất cả các hoạt động của toàn bộ những gì thuộc phạm trù cơ quan nhà nước, trong
32
đó có cả các hoạt động của các cơ quan lập pháp, các hoạt động lập pháp, toàn bộ
các hoạt động của các cơ quan tư pháp và xét xử, các hoạt động hành pháp, chấp
hành pháp luật ở các cấp, các hoạt động đối nội, đối ngoại khác của nhà nước. Quan
niệm như thế về QLNN chỉ là cách nói bao quát về hoạt động nhà nước, có ý nghĩa
văn chương hay phổ thông, xã hội thuần túy.
QLNN, hiểu ở cấp độ nhận thức thứ hai là một phạm trù khoa học. QLNN
với tư cách là phạm trù nền tảng của lý luận QLNN, một phạm trù khoa học pháp
lý. QLNN là loại hình quản lý xã hội rộng lớn nhất, đó là hoạt động điều chỉnh và
chấp hành của các cơ quan nhà nước được chức năng hóa trên lĩnh vực này, nhằm tổ
chức và phối hợp những cố gắng chung của toàn xã hội để giải quyết các nhiệm vụ
xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội và các nhiệm vụ khác trên tất cả các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội theo pháp luật của nhà nước.
Từ những phân tích nêu trên, khái niệm về QLNN được hiểu như sau:
“QLNN là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng
pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối
ngoại của nhà nước trong việc thiết lập và duy trì một xã hội nhất định”.
Để duy trì sự tồn tại và từng bước phát triển, mọi quốc gia và mọi chế độ nhà
nước đều cần có một xã hội ổn định, trong đó, mọi hoạt động của nhà nước, cơ
quan, tổ chức xã hội và công dân được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật; quyền
và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong xã hội được tôn trọng và bảo vệ; mọi
hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp đó đều bị phát hiện và xử lý theo
đúng quy định của pháp luật. QLNN là những hoạt động dựa trên quyền lực của nhà
nước. Quyền lực của nhà nước được thể hiện thông qua hệ thống pháp luật và pháp
luật được coi là phương tiện chủ yếu của QLNN. Bằng pháp luật, nhà nước có thể
trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt
động QLNN, giữ ổn định xã hội. Tính ổn định xã hội và tính trật tự kỷ cương của xã
hội được thể hiện ở chỗ, mọi hoạt động của nhà nước, tổ chức xã hội và công dân
đều được thực hiện và duy trì trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật. Mọi
hành vi lệch chuẩn, xâm phạm đến tính ổn định, tính trật tự kỷ cương của xã hội đều
bị lên án và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm lợi ích chung
33
của xã hội; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong thực tế, đa số
và phần lớn các tổ chức, công dân đều tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên, vẫn có những
hiện tượng đi ngược lại xu thế chung, phá vỡ trật tự QLNN, xâm phạm đến lợi ích
của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Tất cả các hiện tượng trên đều được xác định là
hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi VPHC. Có thể thấy, các hành vi vi
phạm pháp luật rất đa dạng, xảy ra phổ biến và hầu khắp trên nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, tùy vào từng ngành luật cụ thể với
những quy phạm khác nhau, song do tính chất, nội dung và biện pháp bảo vệ của
pháp luật nên thường được quy về các loại hành vi: vi phạm pháp luật hình sự
(ngành Luật hình sự), vi phạm pháp luật hành chính (ngành Luật hành chính),…Nếu
căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, có thể chia thành 02
mức độ: Các hành vi vi phạm thấp, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho Nhà
nước, tổ chức, cá nhân ở mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa “đáng kể” thì gọi là
VPHC; còn hành vi vi phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn thì gọi là vi
phạm pháp luật hình sự.
Một trong những đặc điểm để xác định đó là hành vi VPHC, ngoài tính nguy
hiểm cho xã hội, tính có lỗi thì cần phải xác định được yếu tố trái pháp luật hành
chính, là hành vi xâm phạm đến trật tự QLNN, xâm phạm đến các quan hệ xã hội
được pháp luật về quản lý hành chính của nhà nước bảo vệ. Đây được coi là dấu
hiệu hình thức của vi phạm hành chính. Việc tiến hành xử lý hành vi VPHC được
hiểu là việc áp dụng một biện pháp cưỡng chế hành chính của Nhà nước đối với cá
nhân, tổ chức có hành vi VPHC. Mục đích của XLVPHC là nhằm truy cứu trách
nhiệm hành chính một hành vi VPHC, qua đó, buộc chủ thể VPHC phải gánh chịu
một biện pháp cưỡng chế hành chính tương xứng với hành vi vi phạm của mình.
Như vậy, VPHC là cơ sở làm phát sinh hoạt động XLVPHC.
XLVPHC là hoạt động quan trọng của QLNN, nhằm duy trì trật tự, kỷ cương
trong quản lý hành chính nhà nước, góp phần quan trọng trong phòng ngừa, đấu
tranh có hiệu quả đối với các VPHC, bảo đảm trật tự QLNN và nâng cao hiệu quả
của QLNN, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động chung của xã hội, giữ vững và
ổn định TTATXH. Hoạt động XLVPHC còn góp phần tăng cường pháp chế xã hội
34
chủ nghĩa, ngăn ngừa, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật
khác, bởi hành vi VPHC là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp
xâm hại đến trật tự chung của xã hội, đến sự an toàn, ổn định của xã hội, đến các
quy định của đời sống xã hội,… gây khó khăn cho công tác QLNN trong hoạt động
bảo đảm TTATXH. Có thể thấy rằng, hoạt động xử lý vi phạm hành chính có ý
nghĩa quan trọng trong công tác QLNN, đặc biệt là đối với QLNN về TTATXH,
bảo đảm duy trì một trật tự xã hội ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế - xã hội.
Từ các phân tích, lập luận trên, với vai trò quan trọng của hoạt động
XLVPHC và xuất phát từ khái niệm chung về QLNN, NCS đưa ra khái niệm về
QLNN đối với XLVPHC là:
“QLNN đối với XLVPHC là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà
nước (cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác được Nhà nước trao quyền), trên cơ
sở pháp luật tới các đối tượng tham gia quan hệ pháp luật hành chính nhằm duy trì
trật tự, kỷ cương và thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong lĩnh vực
2.2.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
XLVPHC”.
Có thể xác định rằng, hoạt động QLNN đối với XLVPHC thuộc lĩnh vực
quản lý hành chính nhà nước, được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan
hành chính nhà nước, có nội dung chủ yếu là bảo đảm sự chấp hành - điều hành của
nhà nước. Hoạt động QLNN đối với XLVPHC cũng có nguyên tắc, đặc điểm tương
tự hoạt động của QLNN nói chung. Cụ thể như sau:
Một là, QLNN đối với XLVPHC là một lĩnh vực QLNN đa ngành, đa lĩnh
vực, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Hai là, QLNN đối với XLVPHC mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức
cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước.
Ba là, QLNN đối với XLVPHC mang tính sáng tạo cao, được thực hiện trên
cơ sở các hoạt động QLNN khác.
Ngoài những đặc điểm trên, quản lý đối với XLVPHC còn có một số những
35
đặc điểm riêng có như sau:
Thứ nhất, về khách thể:
Khách thể của quản lý nói chung là trật tự quản lí. Trật tự quản lý này được
quy định bởi nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau. Khách thể của QLNN là trật
tự QLNN. Trật tự QLNN do pháp luật quy định. Như vậy, có thể hiểu rằng, khách
thể của QLNN đối với XLVPHC là các quan hệ xã hội về trật tự quản lý hành chính
nhà nước, về QLNN trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, được pháp
luật hành chính quy định và bảo vệ. Hay nói một cách khác, khách thể của QLNN
đối với XLVPHC chính là trạng thái xã hội ổn định, có trật tự, kỷ cương; mọi hoạt
động của Nhà nước, cơ quan, tổ chức xã hội và công dân được thực hiện trong
khuôn khổ pháp luật; quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong xã hội
được tôn trọng và bảo vệ; mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp đó
đều bị phát hiện và xử lý.
Khách thể của QLNN đối với XLVPHC đóng một vai trò quan trọng đối với
sự ổn định nói chung của một xã hội, một đất nước, có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với công tác bảo đảm an ninh xã hội, trong bảo đảm trật tự xã hội, phòng chống
các hành vi VPHC,.. và cũng là mục tiêu quan trọng của Nhà nước. Trong quá trình
đấu tranh dựng nước và giữ nước, bất kể trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng và
nhà nước ta cũng xác định rõ: bảo đảm trật tự quản lý hành chính, bảo đảm trật tự
xã hội là nhiệm vụ thường xuyên và là nội dung cơ bản trong QLNN, quản lý xã
hội. Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện pháp
luật hành chính, hoàn thiện thể chế điều hành, quản lý,.. mà trong quá trình tổ chức
thực hiện QLNN đối với XLVPHC còn luôn quan tâm đến việc huy động mọi
nguồn lực của xã hội, sức mạnh của cả hệ thống chính trị để đầu tư cơ sở kỹ thuật,
đổi mới nội dung quản lý, phương pháp quản lý nhằm bảo đảm xây dựng một nền
trật tự QLNN hoàn thiện, thực sự là nền tảng ổn định chính trị - xã hội, là tiền đề
cho việc phát triển đất nước, nhằm ngăn chặn và phòng ngừa không cho các hành vi
vi phạm pháp luật xảy ra. Bên cạnh đó, QLNN đối với XLVPHC vừa phải tuân thủ
những nguyên tắc chung của QLNN, đồng thời phải tính đến những nguyên tắc đặc
thù của QLNN đối với XLVPHC, từ đó có những tính toán và sử dụng những
36
phương pháp quản lý phù hợp.
Thứ hai, về chủ thể:
Chủ thể của QLNN là các tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà nước
trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý. Dưới góc độ lý luận về QLNN thì
chủ thể QLNN về QLN`N đối với XLVPHC là các cơ quan nhà nước, các cán bộ
nhà nước có thẩm quyền, tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền để thực hiện
QLNN đối với XLVPHC. Các chủ thể này khi tham gia vào các quan hệ QLNN nói
chung và QLNN đối với XLVPHC có quyền sử dụng quyền lực nhà nước để chỉ
đạo,yêu cầu các đối tượng quản lý thuộc quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý,
đồng thời bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ
QLNN đối với XLVPHC. QLNN đối với XLVPHC có phạm vi điều chỉnh rất rộng;
chủ thể của QLNN về XLVPHC rất đa dạng do vậy, dẫn đến các quy phạm pháp
luật hành chính có số lượng lớn. Và, để thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với
XLVPHC đòi hỏi phải có sự tham gia đồng bộ của hệ thống các cơ quan nhà nước,
tổ chức xã hội và cá nhân có thẩm quyền. Nhà nước giao quyền cho nhiều chủ thể
khác nhau tham gia QLNN đối với XLVPHC. Chủ thể QLNN đối với XLVPHC là
một hệ thống các cơ quan hành pháp từ Chính phủ, các Bộ, ngành đến các cấp hành
chính, các cơ quan tổ chức và cá nhân.
Một đặc điểm cần lưu ý về chủ thể của QLNN đối với XLVPHC là, do xuất
phát từ bản chất của quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành
chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội, vì thế, chủ thể của QLNN đối với XLVPHC chủ yếu là
các cơ quan nhà nước (các cơ quan hành chính nhà nước), các tổ chức, cá nhân
mang quyền lực nhà nước, được nhà nước trao quyền quản lý đối với XLVPHC.
Và, chỉ có thể nói đến chủ thể QLNN đối với XLVPHC khi trong quan hệ quản lý
xuất hiện chức năng chấp hành - điều hành của nhà nước.
Pháp luật XLVPHC giao thẩm quyền cho Chính phủ quy định các hành vi
VPHC. Điều đó có nghĩa là, chỉ có Chính phủ mới có thẩm quyền quy định về các
hành vi VPHC trong các lĩnh vực QLNN, hình thức và mức phạt đối với VPHC
trong các lĩnh vực QLNN. Tại Điều 4 Luật XLVPHC 2012 [80] quy định: Chính
37
phủ quy định hành vi VPHC; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục
hậu quả đối với từng hành vi VPHC; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo
từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với từng hành vi VPHC trong từng
lĩnh vực QLNN; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và quy định mẫu
biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt VPHC.
Do tính chất đặc biệt của yếu tố khách thể QLNN đối với XLVPHC và đối
tượng điều chỉnh của lĩnh vực này, dẫn đến chủ thể của QLNN đối với XLVPHC
cũng mang những nét đặc thù riêng biệt. Đó chính là việc, các chủ thể QLNN đối
với XLVPHC khi thực hiện chức năng quản lý của mình, phải tiến hành đồng bộ
cùng một lúc nhiều nội dung, biện pháp, trong đó, bên cạnh chức năng QLNN thì
việc trực tiếp, chủ động phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến các
quyền và lợi ích cơ bản của công dân, xâm phạm lợi ích nhà nước, góp phần bảo
đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh
phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC.
Một đặc điểm nữa cần lưu ý về chủ thể của QLNN đối với XLVPHC, đó là:
chủ thể QLNN đối với XLVPHC được xác định bao gồm 02 loại: chủ thể đặc biệt
và chủ thể thường. Chủ thể được nhà nước giao sử dụng quyền lực nhà nước trong
XLVPHC theo quy định của pháp luật hành chính (chủ thể quản lý hành chính),
theo khoa học luật hành chính, được coi là chủ thể đặc biệt. Chủ thể đặc biệt tham
gia vào quan hệ QLNN đối với XLVPHC trên cơ sở quyền lực nhà nước, được nhân
danh nhà nước và được sử dụng quyền lực nhà nước, thực chất là các cơ quan nhà
nước, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền XLVPHC. Chủ thể thường là bên chủ thể
không được sử dụng quyền lực nhà nước và có nghĩa vụ phải phục tùng việc sử
dụng quyền lực nhà nước của chủ thể đặc biệt, thực chất là đối tượng bị XLVPHC.
Thứ ba, về đối tượng QLNN đối với XLVPHC.
Đối tượng QLNN đối với XLVPHC, theo khoa học pháp lý, được xác định là
đối tượng quản lý hành chính nhà nước. Đây cũng có thể coi là một đặc điểm riêng
của QLNN đối với XLVPHC, bởi việc điều chỉnh pháp lý đối với các đối tượng này
không chỉ nhằm mục đích bảo đảm lợi ích của riêng nhà nước mà còn ảnh hưởng tới
quyền lợi nhiều mặt của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Thẩm quyền
38
QLNN đối với XLVPHC chỉ có thể thực hiện nếu có sự tham gia tích cực từ phía
các đối tượng quản lý. Các đối tượng quản lý của XLVPHC khá phong phú, bao
gồm tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ QLNN đối với XLVPHC: Chính phủ,
các Bộ, các cơ quan ngành Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và tất cả các đối tượng có
hành vi vi phạm pháp luật về hành chính.
Riêng các đối tượng bị XLVPHC được căn cứ vào một số yếu tố như đặc
điểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức của các đối tượng, hành vi VPHC của các đối
tượng. Theo quy định tại Điều 5 Luật XLVPHC 2012 [80], thì các đối tượng bị
XLVPHC bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt VPHC về
VPHC do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt VPHC về mọi VPHC; Người
thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, CAND VPHC thì bị xử lý như đối với công
dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép,
chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng,
an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, CAND có
thẩm quyền xử lý; Tổ chức bị xử phạt VPHC về mọi VPHC do mình gây ra; Cá
nhân, tổ chức nước ngoài VPHC trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam
thì bị xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều
ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy
định khác và cá nhân là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy
2.2.1.2. Phương pháp quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
định của Luật XLVPHC.
Phương pháp QLNN là phương thức, cách thức mà chủ thể quản lý tác động
lên khách thể quản lý (hành vi, đối tượng quản lý) nhằm đạt được những mục đích
quản lý; thể hiện ý chí của nhà nước, là thực hiện những chức năng và nhiệm vụ
hành chính của bộ máy nhà nước, là cách thức tác động của nhà nước lên các đối
tượng của QLNN, nhằm đạt được hành vi xử sự cần thiết. Các phương pháp quản lý
trong hoạt động QLNN còn được hiểu là các nội dung cụ thể, bao gồm: cách thức tổ
chức hoạt động của chính chủ thể quản lý (cách thức phối hợp hoạt động giữa các
39
cán bộ, công chức ở những vị trí khác nhau, làm những phần việc khác nhau nhưng
cùng hướng tới việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định); hoặc là thể hiện trong cách
thức giải quyết những vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý (trong việc
quyết định ban hành quyết định quản lý: quyết định của tập thể hay cá nhân hay là
có sự phối hợp của nhiều chủ thể). Các phương pháp quản lý chính bao gồm: thuyết
phục, cưỡng chế, hành chính, kinh tế; ngoài ra còn có phương pháp riêng áp dụng
trong quá trình thực hiện chức năng riêng biệt hoặc những khâu, những giai đoạn
riêng biệt của quá trình quản lý.
Phương pháp QLNN đối với XLVPHC là cách thức, phương thức tác động
của nhà nước được sử dụng để tác động lên các đối tượng của quản lý XLVPHC
nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết, bảo đảm việc thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ thể QLNN đối với XLVPHC, gồm các
phương pháp chủ yếu sau:
Một là, phương pháp giáo dục, thuyết phục
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích của chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý, về cơ bản là nhất trí, hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí và
phục vụ lợi ích của nhân dân lao động. Chính vì vây, phương pháp QLNN đối với
XLVPHC chủ yếu là phương pháp giáo dục, thuyết phục. Những mục tiêu và nhiệm
vụ chủ yếu của QLNN đối với XLVPHC không thể đạt được nếu thiếu sự ủng hộ
rộng rãi và tích cực của quần chúng. Hoạt động quản lý của nhà nước đối với
XLVPHC chỉ có thể có hiệu quả cao trên cơ sở động viên và tạo điều kiện cho quần
chúng tham gia vào giải quyết những nhiệm vụ đặt ra của lĩnh vực này. Sự trùng
hợp về mặt nguyên tắc lợi ích của nhà nước và lợi ích của đối tượng quản lý
XLVPHC tạo cơ sở vững chắc cho ưu thế của phương pháp giáo dục, thuyết phục
và phương pháp này được coi là cơ sở quan trọng của QLNN đối với XLVPHC.
Thông qua phương pháp thuyết phục, các chủ thể QLNN đối với XLVPHC giáo dục
cho mọi công dân, mọi đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật hành
chính và xã hội nói chung có nhận thức đúng đắn về trật tự, kỷ cương xã hội, kỷ luật
của nhà nước, động viên họ tự giác tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật
40
hành chính, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội.
Phương pháp giáo dục, thuyết phục thể hiện ở việc các chủ thể QLNN đối
với XLVPHC, trên cơ sở pháp luật hành chính đã được ban hành, tiến hành công tác
tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân bằng các biện pháp khác nhau như
giải thích, nhắc nhở, tổ chức, giáo dục, kêu gọi. cung cấp thông tin, tuyên truyền,
phát triển các hình thức tự quản xã hội, tổ chức thi đua khen thưởng, phổ biến kinh
nghiêm tiên tiến….
Nội dung giáo dục, thuyết phục cần tập trung vào những nội dung cụ thể về
pháp luật hành chính, cung cấp cho đối tượng quản lý VPHC những kiến thức pháp
luật cần thiết, từ đó góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật, ý thức trách
nhiệm của cá nhân đối với nhà nước, đối với xã hội, góp phần bảo đảm TTATXH.
Theo đó, cũng cần tập trung xác định một cách cụ thể, rõ ràng mục đích, đối tượng,
nội dung pháp luật hành chính cần tuyên truyền, giáo dục và đặc biệt là phải phù
hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn, lĩnh vực, nhu cầu xã hội, bảo đảm chất
lượng, thiết thực và hiệu quả như: chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước
về XLVPHC; vị trí, vai trò, chức năng của chủ thể quản lý, đối tượng QLNN đối
với XLVPHC; các phương thức, dạng thức của các hành vi vi phạm pháp luật hành
chính và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong QLNN đối với
XLVPHC và tầm quan trọng của QLNN đối với XLVPHC.
Trong quá trình sử dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục, cần đa dạng
hóa hình thức, phương pháp vận động, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
QLNN đối với XLVPHC; không chỉ tiến hành thông qua việc tuyên truyền bằng
việc tổ chức các hội nghị, cuộc họp, buổi nói chuyện, tọa đàm,… mà cần tiến hành
đồng bộ cùng với nhiều hình thức khác như panô, khẩu hiệu, áp phích, tủ sách pháp
luật, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về xử lý vi phạm hành hành chính. Việc
vận động, giáo dục, thuyết phục về pháp luật XLVPHC cần được thực hiện thường
xuyên, rộng rãi, hình thức phong phú, sinh động, lồng ghép với việc thực hiện các
nhiệm vụ khác về bảo đảm TTATXH.
Hai là, phương pháp cưỡng chế
Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có
41
thẩm quyền đối với những cá nhân hoặc tổ chức nhất định trong những trường hợp
pháp luật quy định, về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ
chức đó phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định hoặc
phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hoặc tổ chức
hoặc tự do thân thể của các cá nhân.
Phương pháp cưỡng chế trong QLNN đối với XLVPHC (gọi là cưỡng chế
hành chính) thể hiện trong việc áp dụng những quyết định bắt buộc đơn phương đối
với đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật hành chính và thường được sử dụng
trong những trường hợp quyết định xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền XLVPHC không được các đối tượng vi phạm thực
hiện một cách tự giác. Phương pháp cưỡng chế hành chính là biện pháp cưỡng chế
nhà nước do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối
với các cá nhân hay tổ chức có hành vi VPHC hoặc đối với một số các nhân, tổ
chức nhất định với mục đích ngăn chặn hay phòng ngừa, vì lý do an ninh quốc
phòng hoặc vì lợi ích quốc gia.
Cưỡng chế hành chính giữ một vai trò quan trọng trong QLNN đối với
XLVPHC, thể hiện rõ nét tính chất quyền lực của nhà nước trong hoạt động QLNN
đối với XLVPHC, bởi nếu không có cưỡng chế thì kỉ luật nhà nước không được bảo
đảm, pháp chế không được tôn trọng, gây mất ổn định xã hội và mất TTATXH.
Cưỡng chế hành chính trong QLNN đối với XLVPHC được quy định trong pháp
luật hành chính, bao gồm các biện pháp cụ thể sau: Các hình thức xử phạt VPHC;
các biện pháp ngăn chặn VPHC và bảo đảm việc XLVPHC; các biện pháp khắc
phục hậu quả của VPHC; các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
VPHC; các biện pháp phòng ngừa hành chính; các biện pháp được áp dụng trong
trường hợp thật cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng và vì lợi ích quốc gia.
Các hình thức xử phạt VPHC gồm: Các hình thức xử phạt hành chính (phạt
tiền; phạt cảnh cáo); Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hàn nghề có thời
hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử
dụng để VPHC; trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật
42
hành chính.
Các biện pháp xử lý hành chính bao gồm: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
Đưa vào TGD; Đưa vào CSGDBB; Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm XLVPHC bao gồm: Tạm giữ người
theo thủ tục hành chính; Áp giải người vi phạm; Tạm giữ tang vật, phương tiện
VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ
vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện VPHC; quản lý người nước ngoài vi
phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; Giao cho gia đình,
tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian
làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính; truy tìm đối tượng phải chấp hành
quyết định đưa vào TGD, đưa vào CSGDBB trong trường hợp bỏ trốn.
Ba là, phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế của QLNN đối với XLVPHC là phương pháp tác động
gián tiếp đến các hành vi của đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn
bẩy của kinh tế tác động đến lợi ích của toàn thể thành viên trong xã hội, bảo đảm
cân bằng lợi ích của các chủ thể, phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm ổn định,
TTATXH.
Phương pháp kinh tế của QLNN đối với XLVPHC là việc nhà nước, sử dụng
khéo léo, kết hợp các đòn bẩy để phát triển kinh tế, quy định các cơ chế, hành lang
pháp lý cho sự hoạt động, phát triển kinh tế trong đời sống xã hội, trao cho các tổ
chức kinh tế, các cá nhân quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh,… và các lợi ích
kinh tế khác; đồng thời đặt ra các quy phạm pháp luật hành chính, các chế tài cụ thể,
chi tiết trong từng lĩnh vực kinh tế để xử lý vi phạm, đảm bảo cho hoạt động chung
của QLNN và bảo đảm trật tự chung của xã hội.
2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
QLNN đối với XLVPHC là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà
nước (cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác được Nhà nước trao quyền), trên cơ
sở pháp luật tới các đối tượng tham gia quan hệ pháp luật hành chính nhằm duy trì
trật tự, kỷ cương và thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong lĩnh vực
XLVPHC. Dưới góc độ nghiên cứu của khoa học pháp lý, nội dung QLNN đối với
43
XLVPHC bao gồm các nội dung sau:
2.3.1. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà
nước đối với xử lý vi phạm hành chính
Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp lý quan
trọng nhất trong hoạt động của các chủ thể QLNN, nhằm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của mình. Nhiệm vụ cụ thể hóa các quy định của pháp luật ở tầm Đạo
luật, Luật trong từng lĩnh vực quản lý chuyên ngành được giao cho các cơ quan
QLNN tương ứng nhằm mục đích chi tiết hóa những quy phạm pháp luật, căn cứ
vào điều kiện địa lý, thời gian, chuyên ngành quản lý bảo đảm sát thực tế và sự chấp
hành luật một cách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao.
Xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật về QLNN đối với XLVPHC
là vấn đề đầu tiên được đề cập đến và được coi là một khâu đặc biệt quan trọng của
quá trình thực hiện QLNN đối với lĩnh vực này. Các chủ thể QLNN đối với
XLVPHC cần phải xây dựng được hệ thống các quy phạm pháp luật hành chính
nhằm định ra các quy tắc chung cần xử sự cho các cá nhân, tổ chức là đối tượng
quản lý của XLVPHC trong những tình huống cụ thể được dự liệu trước và được
lặp đi lặp lại nhiều lần trong thực tiễn. Mặt khác, khi tiến hành hoạt động QLNN đối
với XLVPHC thì giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đã phát sinh các quan
hệ xã hội cần được pháp luật hành chính điều chỉnh.
Pháp luật về XLVPHC được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật
chung của nhà nước: Hiến Pháp, Luật chuyên ngành, các văn bản pháp luật quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật. Các Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức
Chính phủ, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật XLVPHC, Luật CAND,
Luật Biên giới quốc gia, Luật phòng, chống ma túy, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật
nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật
Phòng cháy, chữa cháy,…đều có quy định cụ thể về nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền
hạn của các cơ quan QLNN đối với việc bảo đảm ổn định và TTATXH.
Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp[72], hoạt động QLNN đối với
việc bảo đảm ổn định xã hội và TTATXH được quy định cụ thể trong các văn bản
pháp luật chuyên ngành. Luật Tổ chức Chính phủ năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm
44
2019) [74], Điều 20 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản
lý về an ninh quốc gia, TTATXH, thống nhất QLNN về an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội; tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật luật xây dựng nền an ninh
nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị,
phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm trật
tự, an toàn xã hội.
Luật CAND năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) [75] xác định các nhiệm
vụ, quyền hạn của lực lượng CAND trong việc bảo đảm an ninh trật tự. Đây là cơ
sở pháp lý quan trọng của lực lượng CAND trong việc triển khai thực hiện các
nhiệm vụ của mình trong QLNN về an ninh trật tự và bảo đảm TTATXH.
Luật XLVPHC năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)[84] quy định đầy đủ,
toàn diện những vấn đề về QLNN đối với XLVPHC, về XLVPHC góp phần bảo
đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC, tội
phạm trong thời kỳ mới, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ
mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao
của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Trên cơ sở các quy định của Hiến Pháp, Luật, các nghị định quy định chi tiết
và biện pháp thi hành Luật chuyên ngành cũng đồng thời được ban hành nhằm cụ
thể hóa hơn nữa các quy định của các văn bản Luật, tạo điều kiện cho việc thực thi
pháp luật hành chính, bảo đảm phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, từng bước
hoàn thiện pháp luật về XLVPHC, đặc biệt là QLNN đối với XLVPHC, chú trọng
đến hệ thống các chế tài hành chính, phù hợp với chủ trương xây dựng nhà nước
pháp quyền, phát huy thế mạnh của việc áp dụng các quy định của pháp luật
XLVPHC nhằm bảo đảm tốt nhất sự ổn định xã hội và bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của các tổ chức và công dân. Nội dung của pháp luật về QLNN đối với
XLVPHC rất đa dạng, nhưng chủ yếu là các quy phạm pháp luật hành chính và tập
trung và một số nhóm sau đây:
- Nhóm pháp luật quy định về thẩm quyền QLNN đối với XLVPHC
Điều 109 Hiến pháp năm 2013 [72] quy định chức năng của Chính phủ là:
45
“…thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước; bảo đảm hiệu lực bộ máy nhà
nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và
pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân
dân”. Chính phủ thực hiện chức năng QLNN bằng pháp luật, phối hợp với các cơ
quan, tổ chức, các Bộ, ngành, địa phương có liên quan trong khi thi hành nhiệm vụ
của mình.
Theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm
2019) [74] thì: nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý về an ninh quốc
gia, TTATXH, thống nhất QLNN về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều
20); Chính phủ có trách nhiệm tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật, xây
dựng nền an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ vững
ổn định chính trị, phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm, vi phạm pháp
luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Theo quy định của Luật XLVPHC, Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền quy
định về xử phạt VPHC trong các lĩnh vực QLNN và chế độ áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính, cụ thể:“….Chính phủ quy định hành vi VPHC; hình thức xử phạt,
mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC; thẩm quyền
xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối
với VPHC trong từng lĩnh vực QLNN; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính và quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt VPHC”.
Chính phủ thực hiện chức năng QLNN đối với XLVPHC bằng cách ban
hành các văn bản quy phạm dưới luật về QLNN đối với XLVPHC và tổ chức, điều
hành các hoạt động thực hiện QLNN đối với XLVPHC theo đúng quy định của
pháp luật. Quá trình QLNN đối với XLVPHC đòi hỏi Chính phủ phải quy định
được những nguyên tắc chung trong từng lĩnh vực QLNN như lĩnh vực an ninh,
TTATXH, phòng cháy và chữa cháy, môi trường, ma túy, bạo lực gia đình, hải
quan, thuế, tần số vô tuyến điện, báo chí, xuất bản, thương mại, quản lý vật liệu nổ,
46
bảo vệ công trình giao thông,….; quy định những nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ cụ
thể của các bên tham gia quan hệ pháp luật XLVPHC; xác định rõ thẩm quyền và
thủ tục tiến hành hoạt động của các chủ thể QLNN đối với XLVPHC.
Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN về: Xây
dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo
dục pháp luật,…; Quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC; Hướng dẫn,
theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật, QLNN đối với XLVPHC
thuộc chức năng của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương theo quy định của
pháp luật; Theo dõi chung và báo cáo công tác thi hành pháp luật về XLVPHC theo
quy định của pháp luật; Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn,
tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về XLVPHC; kiểm tra
việc thi hành pháp luật về XLVPHC theo quy định của pháp luật. (Nghị định số
96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu của Bộ Tư pháp) [55].
Theo đó, từ khi Luật XLVPHC năm 2012 được Quốc hội thông qua và có
hiệu lực thi hành cho đến nay, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành xây
dựng, thẩm định và tham mưu cho Chính phủ ký ban hành hơn 100 Nghị định quy
định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật XLVPHC và các nghị định quy định về xử
phạt VPHC (bao gồm cả ban hành mới và sửa đổi, bổ sung) trong các lĩnh vực
QLNN, trong đó có nhiều lĩnh vực liên quan đến trách nhiệm, thẩm quyền của lực
lượng CAND.
Bộ Công an là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về an
ninh trật tự. Điều 3 Luật CAND năm 2014 [75] quy định về vị trí, chức năng của
lực lượng CAND như sau: “CAND là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt
trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội,
đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội”.
“CAND có chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh
quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi
phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện QLNN về bảo
47
vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội
phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh
phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi
phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[75,Điều 15].
Các Bộ, ngành trung ương, trong phạm vi quyền hạn của mình, có trách
nhiệm ban hành các văn bản pháp luật theo thẩm quyền của các Bộ, ngành về xử lý
các hành vi VPHC đối với lĩnh vực chuyên ngành, chức năng mà mình được giao
quản lý; phối hợp với Bộ Công an trong thực hiện QLNN đối với XLVPHC, góp
phần bảo đảm TTATXH.
Để thực hiện chức năng QLNN đối với XLVPHC trên tất cả các lĩnh vực,
một hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương được hình
thành trên nguyên tắc, mọi hình thức tổ chức và mọi hoạt động của các cơ quan
hành chính nhà nước luôn có sự phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực cùng cấp.
Theo đó, dưới Chính phủ và các Bộ, ban, ngành ở Trung ương, ở các địa phương
theo cấp hành chính có chức năng và vai trò QLNN của Ủy ban nhân dân và Hội
đồng nhân dân.
Hội đồng nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có
trách nhiệm quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc
gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật; thực hiện QLNN
đối với XLVPHC, về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở địa
phương;
Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm:
ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền để tổ chức thực hiện nhiệm
vụ QLNN đối với XLVPHC, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp
luật, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và các nhiệm vụ bảo đảm trật tự,
an toàn xã hội do cấp có thẩm quyền giao; Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các biện
pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Chỉ đạo các cơ quan phối hợp với CAND cùng
cấp thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở
địa phương; Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện chức năng QLNN đối
48
với XLVPHC, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương;
- Nhóm pháp luật quy định về nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC
XLVPHC và QLNN đối với XLVPHC là một trong những biện pháp quan
trọng của hoạt động QLNN nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính
của nhà nước ta, giữ vững tính ổn định xã hội. Điều 17 Luật XLVPHC 2012 [80] đã
quy định cụ thể trách nhiệm của Chính phủ trong việc thống nhất quản lý công tác
thi hành pháp luật về XLVPHC: “Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành
pháp luật về XLVPHC trong phạm vi cả nước”.
Cũng theo quy định tại Điều 17 Luật XLVPHC, Bộ tư pháp là cơ quan chịu
trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật
về XLVPHC. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý công
tác thi hành pháp luật về XLVPHC, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Chủ trì hoặc phối
hợp trong việc đề xuất, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban
hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC; Theo dõi chung và
báo cáo công tác thi hành pháp luật về XLVPHC; thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ
liệu quốc gia về XLVPHC; Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp
vụ trong việc thực hiện pháp luật về XLVPHC; Kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành
hữu quan tiến hành thanh tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, ngành có trách nhiệm
thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ đề xuất, xây dựng và
trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy
phạm pháp luật về XLVPHC; kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về
XLVPHC để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ 06 tháng, hằng năm báo cáo
Bộ Tư pháp về công tác XLVPHC trong phạm vi quản lý của cơ quan mình.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân tối cao thực
hiện nhiệm vụ đề xuất, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban
hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC; định kỳ 06 tháng,
hằng năm gửi thông báo đến Bộ Tư pháp về công tác XLVPHC trong phạm vi quản
lý của cơ quan mình; chỉ đạo Tòa án nhân dân các cấp thực hiện việc cung cấp
thông tin về XLVPHC; chủ trì, phối hợp với Chính phủ ban hành văn bản quy định
49
chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định có liên quan.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp
quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC tại địa phương, có trách nhiệm sau
đây: Chỉ đạo việc tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC; tổ
chức phổ biến, giáo dục pháp luật về XLVPHC; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm
và giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về
XLVPHC; Kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về XLVPHC để xây dựng
cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ 06 tháng, hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác
XLVPHC trên địa bàn.
Cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt VPHC, Tòa án nhân dân có thẩm
quyền xem xét, quyết định các biện pháp xử lý hành chính, cơ quan thi hành quyết
định xử phạt, thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, cơ quan
thi hành các quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm gửi
văn bản, quyết định xử lý vi phạm hành chính tới cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về
XLVPHC của Bộ Tư pháp, cơ quan tư pháp địa phương.
Luật XLVPHC tại Điều 18 cũng quy định rõ trách nhiệm của Thủ trưởng cơ
quan, đơn vị trong công tác XLVPHC, trong phạm vi, quyền hạn của mình có trách
nhiệm: Thường xuyên kiểm tra, thanh tra và kịp thời xử lý đối với vi phạm của
người có thẩm quyền XLVPHC thuộc phạm vi quản lý của mình; giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong XLVPHC theo quy định của pháp luật; Không được can thiệp trái
pháp luật vào việc XLVPHC và phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm
của người có thẩm quyền XLVPHC thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình theo
quy định của pháp luật; Không được để xảy ra hành vi tham nhũng của người có
thẩm quyền XLVPHC do mình quản lý, phụ trách; Trách nhiệm khác theo quy định
của pháp luật.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm sau đây: Thường
xuyên chỉ đạo, kiểm tra việc XLVPHC của người có thẩm quyền XLVPHC thuộc
phạm vi quản lý của mình; Xử lý kỷ luật đối với người có sai phạm trong XLVPHC
50
thuộc phạm vi quản lý của mình; Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về XLVPHC
trong ngành, lĩnh vực do mình phụ trách theo quy định của pháp luật; Trách nhiệm
khác theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có
thẩm quyền XLVPHC có trách nhiệm phát hiện quyết định về XLVPHC do mình
hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ,
ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.
2.3.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với xử lý
vi phạm hành chính
Cùng với việc ban hành hệ thống pháp luật hành chính, nhà nước còn tiến
hành đồng bộ nhiều hoạt động để pháp luật đã ban hành được triển khai thực hiện
trong thực tế. Việc tổ chức thực hiện pháp luật về QLNN đối với XLVPHC được
coi là cơ sở quan trọng nhất của việc đánh giá hiệu quả của QLNN trong lĩnh vực
này. Cũng nhờ đó, pháp luật hành chính phát huy tốt hơn vai trò của nó trong thực
tế, góp phần làm cho đời sống xã hội ổn định, bảo đảm TTATXH, quyền và lợi ích
hợp pháp của các tổ chức, cá nhân được tôn trọng và bảo vệ.
Hệ thống pháp luật XLVPHC rất đa dạng, phong phú, chính vì vậy, các chủ
thể thực hiện pháp luật hành chính cũng rất đa dạng, bao gồm các cơ quan nhà
nước, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền XLVPHC và các đối tượng có hành vi
VPHC. Khoa học pháp lý phân chia và xác định có bốn hình thức thực hiện pháp
luật, đó là: Tuân theo pháp luật (tuân thủ pháp luật); Thi hành pháp luật (chấp hành
pháp luật); Sử dụng pháp luật (vận dụng pháp luật); Áp dụng pháp luật. Bên cạnh
đó, pháp luật XLVPHC được coi là phương tiện quan trọng trong họa động QLNN,
góp phần quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các
hành vi VPHC ở nước ta, bảo đảm trật tự QLNN và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của
công tác QLNN, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, giữ v
ổn định trật tự, an toàn xã hội để phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập.
Trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định, các Bộ, ngành, các cơ
quan QLNN chuyên ngành ban hành các văn bản pháp luật về XLVPHC đối với
51
từng lĩnh vực được giao quản lý để thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Việc ban hành các văn bản pháp luật về XLVPHC của từng lĩnh vực, cần đặc biệt
chú trọng đến vai trò của Chính phủ - cơ quan thống nhất QLNN trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Tổ chức thực hiện pháp luật XLVPHC cần phải được căn
cứ theo từng nhóm quan hệ pháp luật hành chính để có những phương pháp cho phù
hợp, như: quản lý kinh tế, quản lý văn hóa, quản lý an ninh, quản lý chính trị, quản
lý trật tự, an toàn xã hội, xử lý vi phạm pháp luật, thanh tra, kiểm tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo,…
2.3.3. Phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý nhà nước đối với xử lý
vi phạm hành chính
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN đối với XLVPHC là khâu
đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật hành chính, có vai trò quan trọng trong
việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về
QLNN đối với XLVPHC còn là một biện pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa vi phạm
pháp luật hành chính xảy ra, làm cho mọi người tự giác để duy trì, bảo vệ trật tự xã
hội và lợi ích tập thể của chính bản thân mình. Khi ý thức pháp chế trong nhân dân
được nâng cao thì nhân dân sẽ tham gia ngày càng tích cực vào việc xây dựng pháp
luật, thấy rõ luật pháp Nhà nước chính là do mình làm ra để bảo vệ quyền lợi cho
mình, do đó việc tuân thủ kỷ luật xã hội và pháp luật Nhà nước sẽ mất dần tính chất
gò bó, và trở thành một thói quen, một tập quán, một nhu cầu của tất cả mọi người.
Như vậy, trong phạm vi, quyền hạn của mình, các cơ quan QLNN của từng
lĩnh vực có trách nhiệm hướng dẫn, thực hiện và tiến hành các hoạt động tuyên
truyền pháp luật về XLVPHC nói chung và tuyên truyền pháp luật về XLVPHC
thuộc lĩnh vực ngành mình quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau. Trách nhiệm
này thuộc về các ngành, các cấp ở trung ương cũng như địa phương, trong đó sự
phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan
nhà nước với các tổ chức hữu quan trong việc tổ chức triển khai thực hiện pháp luật
XLVPHC cần được quan tâm đúng mức.
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: ''Triển khai mạnh
52
mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật; huy động lực lượng của các đoàn
thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các
đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng
nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong xã hội''. Đặc
biệt, Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật của cán bộ, nhân dân (Chỉ thị số 32-CT/TW) đã khẳng định: “Phổ
biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là
nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Hiến pháp năm 1992 giao Chính phủ nhiệm vụ: “tổ chức và lãnh đạo công
tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân”.
Điều 6, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012[71] đã quy định rõ: “Cơ
quan QLNN về phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm: Chính phủ thống nhất QLNN
về phổ biến, giáo dục pháp luật; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực
hiện QLNN về phổ biến, giáo dục pháp luật; chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính
phủ ban hành chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn về phổ biến, giáo dục pháp
luật; chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; Bộ, cơ quan ngang bộ trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực
hiện QLNN về phổ biến, giáo dục pháp luật; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm
thực hiện QLNN về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương”.
Xác định rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục, phổ biến về QLNN đối
với XLVPHC, về Luật XLVPHC, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật XLVPHC, trong đó quy định cụ thể các nội dung về QLNN về thi hành pháp
luật XLVPHC [45]. Theo đó, tại Điều 20 quy định các nội dung của công tác phổ
biến, giáo dục về QLNN đối với XLVPHC, bao gồm: Nghiên cứu, biên soạn tài liệu
phục vụ công tác phổ biến, bồi dưỡng, tập huấn pháp luật về XLVPHC; Tổ chức tập
huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác XLVPHC; Tổ chức phổ biến
pháp luật xử ly VPHC với nội dung và hình thức phù hợp từng đối tượng cụ thể;
53
Hướng dẫn nghiệp vụ áp dụng pháp luật về XLVPHC.
Chính phủ giao Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện
công tác QLNN đối với XLVPHC: “…Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác phổ biến
pháp luật XLVPHC; chủ trì, phối hợp với Bộ cơ quan ngang Bộ có liên quan
hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về
XLVPHC” (Điều 26, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP) [45].
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc
Bộ thực hiện các nhiệm vụ phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ áp dụng pháp
luật về XLVPHC thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện các
nhiệm vụ phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ áp dụng pháp luật về XLVPHC
thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương.
2.3.4. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm pháp luật hành chính
Thanh tra, kiểm tra là phương tiện quan trọng để phòng ngừa, ngăn chặn và
phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật VPHC. Trong QLNN, thanh tra, kiểm tra là
biện pháp quản lý và là hoạt động không thể thiếu trong quá trình thực hiện QLNN.
QLNN và thanh tra, kiểm tra là hai mặt của một vấn đề, không thể tách rời; ở đâu có
quản lý, ở đó có thanh tra, kiểm tra; phạm vi quản lý đến đâu, phạm vi thanh tra,
kiểm tra đến đó.
Luật Thanh tra 2010 [70], tại Điều 2 quy định: Mục đích hoạt động thanh tra
nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử
lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy
định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
hoạt động QLNN; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân.
Hoạt động thanh tra trong QLNN đối với XLVPHC là phương thức để thực
hiện dân chủ trong QLNN của lĩnh vực này. Hoạt động thanh tra về QLNN đối với
XLVPHC nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hành
54
chính; phát hiện những sơ hở trong chính sách, pháp luật về XLVPHC để kiến nghị
kịp thời với cơ quan có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; góp phần nâng cao
hiệu quả của hoạt động QLNN đối với XLVPHC, bảo vệ lợi ích của nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Việc thanh tra, phối hợp thanh tra việc QLNN đối với XLVPHC được quy
định và triển khai cụ thể như sau: Ở trung ương, triển khai giữa Bộ Tư pháp với các
Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan; ở địa phương, triển khai giữa Sở Tư pháp với
các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đóng trên
địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ủy ban nhân dân cấp huyện được
thực hiện trong trường hợp có kiến nghị, phản ánh của cá nhân, tổ chức, báo chí về
việc áp dụng quy định của pháp luật về XLVPHC gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Kiểm tra đối với QLNN về XLVPHC là một trong những chức năng quan
trọng của cơ quan hành pháp. Hoạt động kiểm tra này được thực hiện trước hết bởi
Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp đối với các đối
tượng quản lý thuộc quyền quản lý của cơ quan đó. Hình thức kiểm tra về QLNN
đối với XLVPHC cũng rất phong phú, tùy thuộc vào nội dung, mục đích của từng
đợt kiểm tra, tùy thuộc vào chủ thể kiểm tra là cơ quan chuyên môn quản lý lĩnh
vực ngành hay cơ quan hành chính nhà nước.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong QLNN đối với XLVPHC do Chính phủ thống nhất quản lý theo quy định tại
Điều 17 Luật XLVPHC. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc
kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tiến hành thanh tra việc thi hành
pháp luật về XLVPHC. Ngày 12/2/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số
19/2020/NĐ-CP quy định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về
XLVPHC. Đây là văn bản quy phạm pháp luật rất quan trọng, đánh dấu một bước
tiến lớn trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về XLVPHC; tạo cơ sở pháp
lý cụ thể, rõ ràng, minh bạch cho công tác kiểm tra thi hành pháp luật về XLVPHC
mà hiện nay hầu hết các bộ, ngành và địa phương đang lúng túng do gặp nhiều khó
55
khăn, vướng mắc.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp
quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC tại địa phương có trách nhiệm
kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo
trong việc thực hiện pháp luật về XLVPHC.
Trong phạm vi, quyền hạn của mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm
quyền XLVPHC có trách nhiệm thường xuyên tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý
kịp thời đối với vi phạm của người có thẩm quyền XLVPHC thuộc phạm vi quản lý
cua mình; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong XLVPHC theo quy định của pháp luật
[80, Điều 18].
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thường xuyên
tiến hành chỉ đạo, kiểm tra việc XLVPHC của người có thẩm quyền XLVPHC
thuộc phạm vi mình quản lý; Xử lý kỷ luật đối với người có sai phạm trong
XLVPHC thuộc phạm vi quản lý của mình; Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về
XLVPHC trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách theo quy định của pháp luật [80,
Điều 18].
Hoạt động kiểm tra, thanh tra QLNN đối với XLVPHC tập trung vào các nội
dung chính sau: Tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến
XLVPHC; Công tác phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, bố trí
nguồn lực và các điều kiện khác để bảo đảm cho việc thi hành pháp luật XLVPHC
trong phạm vi Bộ, ngành và địa phương; Việc áp dụng các quy định pháp luật về
XLVPHC; Việc thực hiện chế độ thống kê về XLVPHC; Việc xây dựng, quản lý cơ
sở dữ liệu về XLVPHC và cung cấp thông tin để tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc
gia; Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong XLVPHC.
Hoạt động kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC chỉ được tiến hành
trong các trường hợp cụ thể: Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; Theo đề nghị
của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Theo đề nghị của Sở Tư pháp, Phòng Tư
pháp trên cơ sở theo dõi tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC; Việc thi hành
pháp luật về XLVPHC thuộc phạm vi quản lý liên ngành đang có nhiều khó khăn,
56
vướng mắc, bất cập hoặc đối với vụ việc phức tạp.
Khiếu nại, tố cáo là hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân trực tiếp tham
gia vào QLNN và quản lý xã hội. Theo quy định của pháp luật hiện hành công dân
có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước, có thẩm quyền về những việc làm
trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực
lượng vũ trang hoặc bất cứ cá nhân nào trên các mặt của đời sống xã hội như kinh
tế, chính trị, tư tưởng, pháp lý. Nhà nước bảo đảm những điều kiện thuận lợi nhất
khẳng định địa vị pháp lý của công dân - chủ thể quan trọng nhất của xã hội. Vì thế,
việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết trong thời
hạn pháp luật quy định. Mọi cá nhân, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, tố cáo và
đấu tranh phòng, chống VPHC.
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về QLNN đối với XLVPHC được quy
định rõ tại Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 như sau: Cá nhân, tổ chức
bị XLVPHC có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định XLVPHC theo quy
định của pháp luật; Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật
trong việc XLVPHC theo quy định của pháp luật; Trong quá trình giải quyết khiếu
nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định XLVPHC bị khiếu nại, khởi
kiện sẽ gây hậu quả xấu thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định
tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật.
2.4. Vai trò của quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
QLNN đối với XLVPHC có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động
QLNN, trong sự nghiệp chung bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước, duy trì một xã
hội ổn định, giữ gìn TTATXH, góp phần bảo đảm kỷ cương quản lý hành chính, an
ninh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Một là, QLNN đối với XLVPHC đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách
của Đảng về cải cách hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính
được xác định trong các nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết
số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 [8] và
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách
57
tư pháp đến năm 2020 [9] theo hướng: “Hình thành cơ chế pháp lý để Chính phủ
thực hiện quyền yêu cầu xem xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm
nghiêm trọng được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật”,
“tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của
công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”. Theo đó, pháp luật về XLVPHC đã
từng bước được quy định một cách cụ thể theo hướng ngày càng hoàn thiện, toàn
diện và đầy đủ các vấn đề về XLVPHC, các hành vi VPHC trong các lĩnh vực
QLNN, bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, khắc phục những tồn
tại, hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật XLVPHC trước đó, tạo cơ sở pháp lý
thuận lợi cho việc thực hiện, tuân thủ và chấp hành pháp luật về XLVPHC của công
dân; góp phần đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các hành vi vi phạm pháp
luật hành chính và các hành vi vi phạm pháp luật khác trong thời kỳ mới.
Hai là, QLNN đối với XLVPHC góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển
bền vững về mọi mặt của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi mới của hoạt
động QLNN trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo
đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Với định hướng nhằm
phát huy cao độ nội lực, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đầy đủ cam
kết quốc tế, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong hoàn thiện và tổ chức thi
hành pháp luật về XLVPHC, hệ thống pháp luật về XLVPHC được xây dựng trên
nguyên tắc chung, đó là: Mọi hành vi VPHC đều phải được phát hiện, ngăn chặn
kịp thời và xử lý nghiêm minh. Mọi hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được
khắc phục theo đúng quy định của pháp luật. Thực hiện tốt công tác QLNN đối với
XLVPHC góp phần bảo đảm lợi ích chung của xã hội, giữ gìn TTATXH, đáp ứng
yêu cầu giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và
củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.
Ba là, QLNN đối với XLVPHC là cơ sở cho việc theo dõi, kiểm tra, thanh
tra và giải quyết những khiếu nại, tố cáo về XLVPHC, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc xây dựng, hoàn thiện áp dụng, thi hành các chế tài hành chính, tăng cường tính
công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ trong trình tự, thủ tục xử phạt VPHC và
58
áp dụng biện pháp xử lý hành chính; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân. Đồng thời, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu
cải cách bộ máy nhà nước trong tình hình mới.
2.5. Các bảo đảm tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi
phạm hành chính
2.5.1. Yếu tố chính trị
Trong hệ thống chính trị của Việt Nam hiện nay, Nhà nước giữ vị trí trung
tâm và có vai trò chủ đạo đối với quản lý xã hội. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ, qua lại với Đảng Cộng sản Việt Nam và
các tổ chức xã hội khác. Hiến pháp 2013, Điều 4 nêu rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam
“là lực lượng lãnh đạo Nhà nước”; “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”. Theo
đó, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo một cách toàn diện từ tổ chức đến các hoạt
động của nhà nước, bằng việc Đảng vạch ra đường lối chiến lược về đối nội, đối
ngoại để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật; kiểm
tra hoạt động bộ máy Nhà nước; chỉ đạo công cuộc cải cách, hoàn thiện bộ máy nhà
nước và đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy nhà nước. Trong
điều kiện một đảng cầm quyền, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà
nước và Đảng trên cơ sở phân định rõ chức năng của Nhà nước với chức năng của
Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng Đảng không làm thay nhà nước. Việc phân
định rõ chức năng này chỉ có thể thực hiện được bằng công cụ pháp luật mới bảo
đảm sự chắc chắn và bền vững. Nhà nước là phương tiện quan trọng nhất để đưa
đường lối, chính sách của Đảng vào cuộc sống thông qua ba hình thức chủ yếu là
xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật nhằm thực hiện
mục tiêu của Đảng đặt ra là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hệ thống pháp luật hành chính và XLVPHC được xây dựng trên cơ sở các
quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2020 thể hiện tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020 [8] và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải
59
cách tư pháp đến năm 2020 [9] của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam. Theo đó, Đảng định hướng: Việt Nam cần phát huy nội lực,
tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế, phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế trong hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật nói chung
và pháp luật về XLVPHC nói riêng một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng,
phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có hệ thống chế tài hành chính,
phù hợp với chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy thế mạnh của việc
áp dụng các quy định của pháp luật về xử phạt VPHC trên thực tiễn, đồng thời vẫn
bảo đảm tốt nhất các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã được Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận.
Để việc triển khai thực hiện pháp luật về XLVPHC trong thực tế có hiệu quả,
cần có sự quyết tâm chính trị của tất cả các cấp, các ngành trong việc tổ chức thực
hiện pháp luật hành chính vào thực tế, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp
thực hiện, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về XLVPHC nhằm lôi cuốn các thành
viên trong xã hội vào mọi hoạt động thực hiện, tuân thủ pháp luật và bảo vệ pháp
luật XLVPHC. Các tổ chức Đảng ở các cấp, các chủ thể có liên quan trong QLNN
đối với XLVPHC cần có nhận thức sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng về
xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật hành chính, xác định rõ trách
nhiệm, nhiệm vụ của mình, từ đó đề ra các phương hướng, biện pháp cụ thể trong
hoạt động QLNN đối với XLVPHC phù hợp và cụ thể trong quá trình thực hiện
QLNN đối với lĩnh vực này.
2.5.2. Yếu tố pháp luật
Nhà nước, trong hệ thống chính trị, được xem như là nơi hội tụ của đời sống
chính trị - xã hội của một quốc gia. Nhà nước có vai trì chủ đạo, đặc biệt quan
trọng, mang tính quyết định trong hệ thống chính trị. “Nhà nước được tổ chức và
hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp
luật” (Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013).
Nhà nước có pháp luật và sử dụng pháp luật trở thành công cụ quản lý xã hội
một cách hiệu quả nhất. Để thực hiện quyền lực của mình, nhà nước xây dựng và tổ
chức bộ máy nhà nước, bao gồm một hệ thống các cơ quan nhà nước và một đội
60
ngũ công chức đông đảo, được tổ chức chặt chẽ từ trung ương xuống địa phương,
được vận hành theo những nguyên tắc, quy định pháp luật thống nhất và thông suốt,
trong đó quy định rõ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cơ quan và xác
lập những mối quan hệ đúng đắn giữa các cơ quan này, tạo thành những hệ thống
thống nhất và đồng bộ cùng thực hiện quyền lực nhà nước. Pháp luật càng đầy đủ,
đồng bộ và thống nhất thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức của
bộ máy nhà nước thực hiện đúng và có hiệu quả.
Trong lĩnh vực QLNN đối với XLVPHC, mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy
nhiên, văn bản pháp luật điều chỉnh và quy định về XLVPHC còn nằm rải rác ở quá
nhiều văn bản, khối lượng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này quá
lớn, dễ dẫn đến có sự quy định chồng chéo về mặt nội dung cũng như phạm vi điều
chỉnh. Một phần của lý do này cũng xuất phát từ thực tế của lĩnh vực XLVPHC quá
rộng, điều chỉnh nhiều lĩnh vực quản lý của nhà nước. Chính vì vậy, các chủ thể
quản lý của lĩnh vực này phải sử dụng cơ sở pháp lý ở nhiều văn bản pháp luật khác
nhau để thực hiện chức năng quản lý của mình.
2.5.3. Năng lực thực hiện của bộ máy quản lý nhà nước đối với xử lý
vi phạm hành chính
Cùng với việc ban hệ thống quy tắc xử sự kịp thời, phản ánh đúng thực tế
khách quan, nhà nước đã tiến hành nhiều hoạt động để pháp luật về XLVPHC có
thể được thực hiện triệt để trong thực tế. Nhà nước thực hiện các hoạt động quản lý
của mình trong lĩnh vực XLVPHC nhằm bảo đảm trật tự kỷ cương của quản lý hành
chính, an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hợp pháp của công dân;
đấu tranh và phòng chống có hiệu quả đối với các hành vi VPHC, tội phạm trong
thời kỳ mới. Để thực hiện tốt nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC, yếu tố đóng vai
trò quan trọng chính là năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy nhà nước. Điều này
thể hiện ở tính hợp lý của bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương, được tổ
chức tinh gọn, chặt chẽ, hợp lý, dân chủ, bảo đảm sự kiểm soát quyền lực nhà nước,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của QLNN trong XLVPHC.
Năng lực thực hiện, năng lực quản lý của bộ máy QLNN đối với XLVPHC
thể hiện ở năng lực, phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp
61
của từng cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước, đặc biệt là công chức lãnh đạo.
Việc nhận thức đúng đắn các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, chính
sách pháp luật của nhà nước đối với XLVPHC của chính quyền các cấp, đứng đầu
là các tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý, là đặc biệt quan trọng, từ
đó sẽ đưa ra được các quyết sách phù hợp với việc QLNN đối với XLVPHC trên cơ
sở thực tế của địa phương mình; đồng thời cũng kịp thời đưa ra các biện pháp chấn
chỉnh, xử lý kịp thời những sai phạm trong quá trình thực hiện pháp luật, tạo niềm
tin cho quần chúng, nhân dân.
2.5.4. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước đối với
xử lý vi phạm hành chính
Nghị quyết số 24/2012/QH13 ngày 20/6/2012 của Quốc hội về việc thi hành
Luật XLVPHC quy định tại khoản 2 Điều 4 về trách nhiệm xây dựng cơ sở vật chất
phục vụ cho hoạt động QLNN, cụ thể như sau: “Chính phủ, Toà án nhân dân tối
cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và
hướng dẫn thi hành Nghị quyết này; tổ chức việc rà soát các văn bản có liên quan
để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với Luật XLVPHC;
Chính phủ khẩn trương chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất, tổ chức, nguồn lực kịp
thời triển khai việc quản lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về XLVPHC để
bảo đảm hiệu lực thi hành của Luật XLVPHC”. Theo đó, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 17/3/2013 quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật XLVPHC [45]. Chính phủ giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện xây dựng cơ sở
vật chất để phục vụ cho hoạt động QLNN đối với XLVPHC phù hợp với ngành,
lĩnh vực và địa phương mình quản lý, phụ trách.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan ngang
Bộ. Theo đó, trong phạm vi, quyền hạn và chức năng quản lý của mình: “Xây dựng
cơ sở vật chất, kiện toàn tổ chức, bố trí nguồn lực để triển khai việc thi hành pháp
luật về XLVPHC”; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm: “ Chỉ đạo xây dựng cơ sở vật chất, kiện toàn tổ
62
chức, bố trí nguồn lực để triển khai việc thi hành pháp luật về XLVPHC theo quy
định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 24/2012/QH13 của Quốc hội về việc thi
hành Luật XLVPHC” [45, Khoản 7 Điều 30].
2.5.5. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước đối
với xử lý vi phạm hành chính
Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hoạt động quản lý của nhà nước
đó là nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào QLNN. Hiến pháp 2013
Điều 2 nêu rõ: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”; “Nhà nước
bảo đảm và phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân; công nhận, tôn
trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” [72, Điều 3]. Sự tham
gia của nhân dân vào hoạt động QLNN đối với XLVPHC thể hiện bản chất dân chủ
sâu sắc của nhà nước ta; đồng thời ghi nhận nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Bằng nhiều hình thức tham gia phong phú vào hoạt động QLNN
đối với XLVPHC được Hiến pháp 2013 ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng các
phương tiện của Nhà nước, nhân dân lao động đã phát huy được trí tuệ, khả năng,
năng lực của bản thân trong việc góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, góp phần
“thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi
người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [72].
Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động QLNN đối với XLVPHC được thực
hiện dưới các hình thức: tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, chức năng quản lý đối với XLVPHC, nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà
pháp luật quy định; tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội có liên quan tới
QLNN đối với XLVPHC; tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở như bảo vệ an
ninh, trật tự,..; trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý
hành chính nhà nước đối với XLVPHC.
Thực tiễn QLNN cho thấy, nơi nào, địa phương nào có sự tham gia tích cực
của quần chúng nhân dân vào hoạt động QLNN đối với XLVPHC, nơi đó, địa bàn
đó kinh tế, chính trị và xã hội ổn định, phát triển, tình hình an ninh TTATXH được
63
giữ vững, công tác phòng, chống các hành vi VPHC thực sự có hiệu quả.
Kết luận Chương 2
Chương 2 đã nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về QLNN đối với
XLVPHC và rút ra những kết luận sau:
Từ những định hướng và quan điểm thể chế hóa các chủ trương, chính sách
của Đảng về cải cách hệ thống pháp luật, cải các tư pháp và cải các hành chính, bảo
đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, luận án đã làm rõ vai trò của QLNN đối với XLVPHC,
đó là QLNN đối với XLVPHC góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững
về mọi mặt của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi mới của hoạt động QLNN
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm
quyền con người, quyền tự do, dân chủ của nhân dân; QLNN đối với XLVPHC là
cơ sở cho việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra và giải quyết những khiếu nại, tố cáo về
XLVPHC, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, hoàn thiện áp dụng, thi hành
các chế tài hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ.
QLNN đối với XLVPHC là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà
nước (cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác được Nhà nước trao quyền), trên cơ
sở pháp luật tới các đối tượng tham gia quan hệ pháp luật hành chính nhằm duy trì
trật tự, kỷ cương và thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong lĩnh vực
XLVPHC.
Nội dung của QLNN đối với XLVPHC bao gồm: Xây dựng, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật QLNN đối với XLVPHC; tổ chức thực hiện pháp luật
QLNN đối với XLVPHC; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật pháp luật
QLNN đối với XLVPHC; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm và giải quyết khiếu
nại, tố cáo pháp luật QLNN đối với XLVPHC;
Chương 2 cũng đã làm rõ được chủ thể, khách thể, đối tượng của QLNN đối
với XLVPHC; mục tiêu và các giải pháp bảo đảm tăng cường hiệu lực pháp luật
64
QLNN đối với XLVPHC.
Chương 2 đã khái quát được những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật
QLNN đối với XLVPHC, làm cơ sở, nền tảng cho việc phân tích, đánh giá thực
65
trạng quản pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
Chương 3
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN
3.1. Tình hình, đặc điểm có liên quan đến quản lý nhà nước đối với
xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
3.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội và an ninh trật tự có liên quan
Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, TTATXH
trong nước có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác QLNN
về ANTT và TTATXH của ngành CAND. Tình hình VPHC trên phạm vi toàn quốc
nhìn chung có chiều hướng gia tăng, diễn biến tương đối phức tạp, nghiêm trọng về
tính chất và mức độ vụ việc; đối tượng thực hiện các hành vi VPHC đa dạng, thuộc
nhiều thành phần, lứa tuổi, trình độ. Đáng chú ý là hiện tượng ngày càng trẻ hóa về
đối tượng vi phạm, mức độ manh động cao, thậm chí còn có hành vi chống đối,
thách thức lực lượng thi hành nhiệm vụ. VPHC xảy ra trên hầu hết các lĩnh vực của
đời sống xã hội như: an ninh trật tự, an ninh kinh tế - văn hóa, an toàn xã hội, trật tự
đô thị, trật tự an toàn giao thông đường bộ - đường thủy nội địa, vệ sinh an toàn
thực phẩm, khai thác tài nguyên khoáng sản, môi trường, thương mại, vi phạm về
đăng ký và quản lý cư trú; vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh
có điều kiện; vi phạm về sử dụng trái phép chất ma túy, đánh bạc, gây rối trật tự
công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà chưa đến mức truy
cứu trách nhiệm hình sự… Đặc biệt, tình hình VPHC ở các lĩnh vực: an toàn giao
thông, TTATXH, quản lý xuất nhập cảnh, gây rối trật tự công cộng với việc sử dụng
các loại hung khí nguy hiểm, tụ tập lôi kéo đông người; vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm có chiều hướng gia tăng về số vụ vi phạm và
đối tượng vi phạm.
Trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh: tình hình người nước ngoài,
Việt kiều nhập cảnh, đăng ký tạm trú với mục đích chủ yếu là đi du lịch, đầu tư,
66
thăm thân nhân có chiều hướng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ở một số tỉnh,
thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Khánh Hòa… kéo
theo các hành vi VPHC chủ yếu là vi phạm các quy định về xuất, nhập cảnh, cư trú,
đi lại; hoạt động sai mục đích xuất, nhập cảnh (tổ chức hội thảo, mở lớp truyền đạo,
khám chữa bệnh, hoạt động du lịch trái phép, thu mua nông sản trái phép…), lưu trú
quá thời hạn cho phép, gây rối trật tự công cộng, trốn truy nã tại Việt Nam..; Đặc
biệt là tình trạng người nước ngoài sử dụng con dấu tạm trú giả để tìm cách ở lại
Việt Nam; người Trung Quốc, Hàn Quốc hoạt động dịch vụ trái phép ở các tỉnh
miền Trung diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại
các địa phương. Bên cạnh đó, hành vi của người Việt Nam giả mạo hồ sơ, giấy tờ
xin cấp hộ khẩu, chứng minh nhân dân để được cấp hộ chiếu, sử dụng hộ chiếu
người khác để xuất cảnh, khai không đúng sự thật để cấp hộ chiếu; công dân Việt
Nam nhập cảnh trái phép vào các nước Ba Lan, Anh, Đức; tình hình công dân Việt
Nam xuất cảnh trái phép sang các nước Trung Quốc, Hồng Kông lao động tiếp tục
diễn ra, số xuất cảnh trái phép này đều có người dẫn đường, do người Việt Nam
móc nối với người Trung Quốc đi qua đường tiểu ngạch,…
Trong lĩnh vực thương mại, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả: tình hình
buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả tiếp tục diễn biến phức
tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi: vận chuyển lâm sản không có nguồn
gốc, hồ sơ, không kèm hóa đơn giá trị gia tăng gốc nhằm mục đích quay vòng hồ
sơ, hóa đơn; giả mạo hồ sơ, chữ ký, con dấu, mẫu xác nhận của kiểm lâm để hợp
thức hóa nguồn gốc lâm sản, lợi dụng chính sách miễn thuế đối với tài sản di
chuyển là xe ô tô của Việt Kiều hồi hương để dựng nên nhiều hồ sơ giả, nhập khẩu
vào thị trường nhiều loại xe đắt tiền, trốn thuế với số lượng lớn;
Trong lĩnh vực giao thông đường bộ, hành vi vi phạm chủ yếu: chạy quá tốc
độ quy định; điều khiển xe không đúng phần đường, làn đường; không mang giấy
chứng nhận đăng ký, giấy phép lái xe, sử dụng rượu bia quá nồng độ quy định; chở
quá khổ, quá tải; không đội mũ bảo hiểm; không chấp hành tín hiệu đèn, biển báo…
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: các hành vi vi phạm pháp luật về môi
trường và an toàn thực phẩm ngày càng diễn ra nghiêm trọng, có chiều hướng gia
67
tăng về số lượng vụ việc vi phạm cũng như tính chất vụ việc, như: xả thải vượt quá
quy chuẩn kỹ thuật về chất thải; thải mùi hôi thối, mùi khó chịu vào môi trường;
không thực hiện chương trình quan trắc môi trường, giám sát môi trường theo quy
định; sử dụng chất phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm quá hạn sử
dụng, nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ; kinh doanh thực phẩm tươi sống
không rõ nguồn gốc, hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn, phát thải bụi, mùi hôi, đặt miệng
ống xả thải ngầm trái phép, vi phạm các quy định về thực hiện cam kết bảo vệ môi
trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, chôn lấp, đổ chất thải rắn thông
thường không đúng quy định; vi phạm các quy định trong khai thác khoáng sản, vi
phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, không đảm bảo quy định về địa
điểm hoặc khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn ô nhiễm và các
yếu tố gây hại khác; không duy trì việc kiểm soát chất lượng, kiểm nghiệm sản
phẩm định kỳ theo quy định, sử dụng phụ gia, hóa chất công nghiệp không đúng
quy định để chế biến, tẩm ướp thực phẩm gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người
tiêu dùng…
Trong lĩnh vực an ninh văn hóa, thông tin và truyền thông: hành vi vi phạm
chủ yếu là cung ứng dịch vụ thư trong nước không có giấy phép, cung cấp dịch vụ
game online khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt về nội dung, kịch bản; các
hành vi in lậu, không có giấy phép, in vượt số lượng được quy định trong giấy phép;
phát hành sách không có hóa đơn, giấy tờ chứng minh nguồn gốc, các hành vi sử
dụng thẻ nhà báo trái phép, hết hiệu lực…
Trong lĩnh vực quản lý hành chính về TTATXH, phổ biến là các hành vi
làm mất giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, làm mất con dấu, làm mất giấy phép sử
dụng công cụ hỗ trợ, vi phạm các quy định, ngành nghề kinh doanh có điều kiện về
an ninh trật tự.
Trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng tập trung chủ yếu là các hành vi: Kinh doanh hàng hóa
nhập lậu, sản xuất, buôn bán hàng cấm, vi phạm về kinh doanh hàng hóa quá hạn sử
dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ và có vi phạm khác
Hoạt động của các loại tội phạm tiềm ẩn nhiều dấu hiệu phức tạp, nhất là
68
hoạt động của các nhóm tội phạm có sử dụng vũ khí, tội phạm sử dụng công nghệ
cao, chống người thi hành công vụ. Tội phạm về ma túy, hình sự và các tệ nạn xã
hội có xu hướng gia tăng cả về số vụ và tính chất, mức độ vi phạm. Các phần tử xấu
lợi dụng các ngành nghề đầu tư kinh doanh, nhất là kinh doanh lưu trú, karaoke, vũ
trường, cầm đồ,… để hoạt động phạm pháp; tội phạm công nghệ cao làm giả con
dấu để lừa đảo diễn ra ở nhiều nơi trên phạm vi toàn quốc. Theo số liệu thống kê
của Cục CSQLHC về TTXH, đến tháng 6 năm 2018, toàn quốc có 110.126 cơ sở
kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự với 367.524 người tham gia [42, tr.4].
Tình hình vi phạm về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tiếp tục diễn
biến phức tạp, nhất là tình trạng sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ để gây
án, chống người thi hành công vụ có chiều hướng gia tăng; tình hình cháy, nổ vẫn
tiếp tục xảy ra nghiêm trọng, có xu hướng tăng về số vụ và thiệt hại (Xem bảng 2.9).
Trung bình mỗi năm xảy ra 2.711 vụ cháy nổ, làm chết 98 người, bị thương 242
người, thiệt hại về tài sản trị giá khoảng 1.345 tỷ đồng.
Tình hình trật tự, an toàn giao thông vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, đặc biệt
là vi phạm về giao thông đường bộ, chiếm đến 96% số vụ VPHC và cũng là lĩnh
vực gây bức xúc trong xã hội, gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản.
Trong lĩnh vực giao thông đường sắt, lỗi vi phạm chủ yếu là mở đường
ngang trái phép, vi phạm các quy định về kinh doanh vận tải đường sắt, vi phạm
quy tắc giao thông tại đường ngang, cầu chung, hầm,.. gây thiệt hại về người và tài
sản rất lớn.
Lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, các hành vi vi phạm chủ yếu là đi
sai luồng, lạch; thuyền viên, người lái phương tiện không có bằng, giấy chứng nhận
khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn phù hợp; phương tiện thủy không
đăng ký, đăng kiểm theo quy định; khai thác cát, sỏi hoặc khoáng sản khác trong
phạm vi hành lang bảo vệ luồng không đúng quy định,… Với đặc điểm sông, kênh,
ngòi dày đặc (cả nước có 3.551 sông, kênh, trong đó: có 3.45 sông, kênh nội tỉnh;
406 sông, kênh liên tỉnh, chảy ra biển thông qua 124 cửa sông; tổng chiều dài lên
tới 80.577 km, trong đó có khoảng 42.000km sông, kênh có khả năng khai thác vận
tải)...; tổng chiều dài đường thủy nội địa đã công bố và đang quản lý, khai thác là
69
17.253km. Hiện nay, cơ quan chức năng mới đăng ký được 248.132 phương tiện
thủy trong tổng số 515.513 phương tiện thủy thuộc diện phải đăng ký (đạt 48,13%),
đăng kiểm được 285.664 phương tiện thủy trong tổng số 444/142 phương tiện thủy
thuộc diện phải đăng kiểm (đạt 64,3%).
3.1.2. Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự
của ngành Công an nhân dân
Những năm qua, tình hình VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự diễn biến
phức tạp, cả về chiều rộng và chiều sâu, gây mất ổn định an ninh và TTATXH, xâm
phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Thực tiễn của công tác XLVPHC cho thấy,
các lĩnh vực xảy ra nhiều hành vi VPHC là: Lĩnh vực an toàn giao thông; lĩnh vực
an ninh, TTATXH; xây dựng, đất đai; lĩnh vực bảo vệ môi trường; lĩnh vực thương
mại, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; lĩnh vực quản lý rừng, lâm sản; lĩnh
vực hải quản, thủ tục thuế; Hành vi VPHC trong từng lĩnh vực tập trung chủ yếu:
- Trong lĩnh vực giao thông, các hành vi vi phạm phổ biến là: Đi không
đúng phần đường, làn đường; tránh, vượt trái quy định; vi phạm quy định về tốc độ;
dừng, đỗ xe trái quy định; không chấp hành tín hiệu giao thông, đi vào đường cấm,
đường ngược chiều; người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo
hiểm...; Không có giấy phép lái xe hoặc có nhưng không phù hợp; người điều khiển
phương tiện khi tham gia giao thông có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở vượt
quá giới hạn cho phép...; Thay đổi kết cấu, thiết kế phương tiện trái phép; không
đăng kiểm lại khi hết hạn; đưa phương tiện không đủ điều kiện, không bảo đảm an
toàn giao thông vào lưu hành...; Chở hàng quá tải; vận chuyển vật liệu xây dựng
làm rơi vãi trên đường; vận chuyển hành khách vi phạm trật tự an toàn giao
thông…; Xe khách dừng, đón, trả khách không đúng nơi quy định; chở quá số người;
xe ô tô chở hàng rời, vật liệu rời không che phủ bạt để rơi vãi...; Hành vi vi phạm trật
tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa: thuyền viên làm việc trên phương tiện không
có chứng chỉ nghiệp vụ; chở hàng quá vạch dấu mớn nước an toàn;
- Trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội các hành vi vi phạm phổ biến
70
là: trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, đánh nhau gây mất an ninh trật tự khu dân
cư; cố ý làm hư hỏng tài sản, hủy hoại tài sản, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại
dâm xảy ra khá phổ biến...
- Trong lĩnh vực xây dựng, đất đai, hành vi vi phạm phổ biến là: sử dụng đất
không đúng mục đích; xây dựng không phép, sai phép, không trang bị bảo hộ lao
động cho người lao động theo quy định, không thực hiện đúng các quy định về điều
kiện năng lực hoạt động, hành nghề, không để vật liệu đúng như biện pháp thi công
đã được chủ đầu tư phê duyệt, …
- Trong lĩnh vực môi trường, các hành vi vi phạm phổ biến là: không có giấy
phép khai thác, sử dụng nước dưới đất, xả thải vào nguồn nước; không giám sát quá
trình khai thác, sử dụng và xả nước thải; mua bán, vận chuyển khoáng sản không có
nguồn gốc hợp pháp; xả nước thải, khí thải vượt quá quy chuẩn kĩ thuật về chất thải;
thực hiện không đúng quy định về bảo vệ môi trường đối với chủ nguồn thải chất
thải nguy hại; thực hiện không đúng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường
đã được phê duyệt và yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động
môi trường…
Trong lĩnh vực thương mại, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả, các
hành vi vi phạm phổ biến là: kinh doanh hàng cấm (thuốc lá điếu ngoại nhập lậu);
vận chuyển, buôn bán hàng giả (gas, phân bón...), hàng kém chất lượng; vận chuyển
hàng hóa không hóa đơn, chứng từ....
- Trong lĩnh vực quản lý rừng, lâm sản, các hành vi vi phạm phổ biến là: khai
thác tài nguyên rừng, việc chặt phá rừng đặc dụng, rừng sản xuất để làm rẫy, trồng
cao su vẫn diễn biến khá phức tạp, đặc biệt đối với các khu vực rừng phòng hộ, khu
bảo tồn thiên nhiên, khai thác các loài cây cổ thụ trong rừng tự nhiên về làm cây
cảnh cũng đang trong tình trạng báo động; săn bắt, vận chuyển, kinh doanh trái
phép động vật hoang dã và sản phẩm của chúng còn diễn ra nhiều nơi với thủ đoạn
tinh vi, khó kiểm soát…
- Trong lĩnh vực hải quan, thủ tục thuế, các hành vi vi phạm phổ biến là: kê
khai sai về thuế; trốn thuế, nộp chậm thuế; khai, nộp hồ sơ hải quan không đúng
71
thời hạn quy định; khai báo sai tên hàng, mã số, xuất xứ,…
- Tình trạng các đối tượng VPHC là các đối tượng nghiện ma túy ở ngoài
cộng đồng ngày càng tăng, gia tăng các nguy cơ phát sinh các hành vi vi phạm pháp
luật như trộm cắp, cướp giật, tiêm chích ma túy nơi công cộng, gây mất an ninh trật
tự, an toàn xã hội ở một số địa phương trong thời gian vừa qua. Theo thống kê của
Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về ma túy Bộ Công an, số lượng người nghiện
ma túy ngày càng có chiều hướng gia tăng, đặc biệt ở khu vực nông thôn, chiếm tới
1,8% dân số. Nhiều người nghiện chuyển từ sử dụng các loại ma túy truyền thống
như heroin, thuốc phiện sang sử dụng ma túy tổng hợp, ma túy “đá”. Tệ nạn ma túy
diễn biến phức tạp, thành phần đối tượng nghiện đa dạng và ngày càng trẻ hóa.
Theo báo cáo của cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an, tình hình VPHC
trong lĩnh vực an ninh trật tự thuộc chức năng QLNN của Bộ xảy ra phổ biến, có
chiều hướng gia tăng trên tất cả các lĩnh vực. Các hành vi VPHC chủ yếu trong lĩnh
vực an ninh trật tự như: VPHC trong lĩnh vực giao thông (bao gồm giao thông
đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt); phòng cháy, chữa cháy; quản lý hành
chính về an ninh trật tự (bao gồm: đăng ký và quản lý cư trú, quản lý ngành nghề
kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, vi phạm trật tự công cộng, quản lý, sử
dụng Chứng minh nhân dân, quản lý và sử dụng con dấu, quản lý sử dụng vật liệu
3.1.2.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy
nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm,…); Cụ thể như sau:
Tình hình VPHC trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy thời gian qua xảy
ra khá phổ biến ở hầu hết các cơ sở và khu dân cư, chủ yếu do lỗi sơ xuất, chưa kịp
thời thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy; số lỗi do
cố ý chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 15 %. Các hành vi VPHC trong lĩnh vực này là vi
phạm quy định về nội quy, thiết bị phòng cháy, chữa cháy như: khoảng cách an toàn
phòng cháy, chữa cháy và ngăn cháy; vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
trong đẩu tư xây dựng; thi công, lắp đặt không đúng theo thiết kế về phòng cháy và
chữa cháy đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt,.. Việc tiến hành xử phạt VPHC
trong phòng cháy và chữa cháy chủ yếu được thực hiện do lực lượng Cảnh sát
phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thực hiện; một số trường hợp do Chủ tịch
72
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định xử phạt, còn Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện, cấp xã hầu như chưa ra quyết định xử phạt. Theo số liệu thống kê của Cục
Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, từ năm 2010 đến tháng 6 năm
2018, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đã phát hiện và
sử phạt 134.199 trường hợp VPHC với số tiền xử phạt là 220.664 tỷ đồng; tạm đình
chỉ hoạt động 534 trường hợp, đình chỉ hoạt động 273 trường hợp. Trung bình mỗi
năm, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đã phát hiện, xử
phạt gần 16.000 trường hợp VPHC trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy (Xem
3.1.2.2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
Bảng 2.10).
Tình hình VPHC trong lĩnh vực giao thông thời gian qua xảy ra thường
xuyên, diễn biến phức tạp, đặc biệt là VPHC về giao thông đường bộ, chiếm 96%
số vụ VPHC và đây cũng là lĩnh vực gây nhiều thiệt hại về người và tài sản. Trung
bình hàng năm, CSGT xử phạt trên 4.000.000 vụ VPHC. Theo thống kê của Cục
CSGT, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, CSGT toàn quốc đã phát hiện và xử
phạt 46.951.664 trường hợp VPHC trong lĩnh vực giao thông, với tổng số tiền phạt
là 21.578.947 tỷ đồng (Xem bảng 2.5).
Qua số liệu thống kê cho thấy, tình hình VPHC trong lĩnh vực giao thông
nước ta xảy ra ở mức cao, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực giao thông đường bộ với
tính chất, mức độ vi phạm ngày một nghiêm trọng, nhiều hành vi VPHC là nguyên
nhân dẫn đến tai nạn giao thông, do người điều khiển phương tiện vi phạm làn
đường, phần đường chiếm 24,05%; không chấp hành quy định về tốc độ chiếm
9,55%; chuyển hướng không đúng quy định chiếm 9,37%; tránh phương tiện không
đúng quy định chiếm 2,17%; không nhường đường 6,47%; vượt phương tiện khác
không đúng quy định 6,26%; vi phạm quy trình, thao tác điều khiển phương tiện
chiếm 2,04%, vi phạm biển báo hiệu, dừng đỗ sai quy định, không có giấy phép lái
xe và các nguyên nhân khác không đúng quy định chiếm 33,96%.
Tình hình VPHC xảy ra nhiều xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân do người tham gia giao thông chưa nhận thức đầy đủ các quy định của
pháp luật về giao thông. Mặt khác, do nhận thức và thực hiện trách nhiệm chủ yếu
73
là của chính quyền các cấp và một số ngành chức năng. Hệ thống báo hiệu đường
bộ còn nhiều bất cập, nhiều đoạn đường hệ thống vạch sơn, biển báo thiếu, không
đồng bộ hoặc chưa đúng quy định; các nút giao cắt giữa đường bộ, đường sắt không
3.1.2.3. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật
tự xã hội
có gờ giảm tốc,…
Hành vi VPHC trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật tự xã hội bao gồm
các hành vi quy định về: Trật tự công cộng; bảo đảm sự yên tĩnh chung; giữ gìn vệ
sinh chung; đăng ký và quản lý cư trú; quản lý, sử dụng Chứng minh nhân dân, thẻ
Căn cước công dân; quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ
chơi nguy hiểm bị cấm; quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an
ninh trật tự; quản lý và sử dụng con dấu,... Theo thống kê của Cục Cảnh sát quản lý
hành chính về TTATXH, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, CSQLHC về TTXH
phát hiện và xử phạt 3.836.374 trường hợp VPHC với số tiền phạt trên 1.264.82 tỷ
đồng (xem Bảng 2.3). Trung bình mỗi năm, Cảnh sát Quản lý hành chính về
TTATXH phát hiện và xử phạt trên 451.338 trường hợp VPHC với số tiền phạt trên
148 tỷ đồng. Trong số các cụ việc VPHC được lực lượng Cảnh sát Quản lý hành
chính về TTATXH phát hiện, chủ yếu các VPHC xảy ra ở lĩnh vực trật tự công
cộng - giao thông đô thị (Xem Bảng 2.4.).
3.1.3. Tình hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với xử lý vi
phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Qua mỗi thời kỳ, mô hình tổ chức của lực lượng CAND trong thực hiện
QLNN về an ninh trật tự đều có sự thay đổi để phù hợp với yêu cầu quản lý của Nhà
nước. Từ năm 2009, tổ chức bộ máy của CAND thực hiện theo Nghị định số
77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Bộ Công an, Nghị định số 21/2014/NĐ-CP ngày 25/3/2014 sửa đổi,
bổ sung Nghị định số 77/2009/NĐ-CP, Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày
17/11/20014 và Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Mỗi mô hình tổ chức của
74
CAND có sự điều chỉnh, thay đổi theo các văn bản nêu trên thì chức năng QLNN
của các lực lượng có thẩm quyền xử phạt VPHC của lực lượng CAND cũng được
điều chỉnh thay đổi cho phù hợp. Ngoài Luật CAND thì chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn về XLVPHC của lực lượng CAND còn được điều chỉnh bởi Luật
XLVPHC, các văn bản pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực QLNN và các
quyết định của Bộ Công an quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức
bộ máy của từng lực lượng trong CAND.
Theo Luật CAND 2018 [78] và Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày
06/8/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ
Công an [59], hiện nay, các lực lượng có thẩm quyền xử phạt VPHC của Bộ Công
an bao gồm chủ yếu là hai lực lượng Cảnh sát và An ninh, được tổ chức ở 04 cấp, từ
trung ương đến cơ sở, cụ thể như sau:
- Về tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng Công an có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính ở Bộ Công an (cấp Bộ):
Ở Bộ Công an (cấp Bộ), mô hình tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng
CAND có thẩm quyền xử phạt VPHC gồm: Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội
bộ, Cục trưởng Cục An ninh kinh tế, Cục trưởng Cục CSQLHC về TTXH, Cục
trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát
điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều
tra tội phạm về ma túy, Cục trưởng Cục CSGT, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng
cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội
phạm về môi trường, Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử
dụng công nghệ cao, Cục trưởng Cục An ninh nội địa, Cục trưởng Cục Cảnh sát
quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng, Cục trưởng Cục
Quản lý xuất nhập cảnh, Tư lệnh Cảnh sát cơ động.
- Về tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng Công an có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính cấp tỉnh: Giám đốc Công an cấp tỉnh; Trưởng phòng
nghiệp vụ thuộc Cục An ninh chính trị nội bộ; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục
CSQLHC về TTXH; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục CSGT; Trưởng phòng
nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Trưởng
75
phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công
nghệ cao; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh; Trưởng
phòng Công an cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Trưởng
phòng Cảnh sát quấn lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều
tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham
nhũng, kinh tế, buôn lậu, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy,
Trưởng phòng CSGT, Trưởng phòng CSGT đường bộ - đường sắt, Trưởng phòng
CSGT đường bộ, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát cơ
động, Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ, Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự
và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường,
Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng phòng
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Trưởng phòng
Quản lý xuất nhập cảnh, Trưởng phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh đối
ngoại, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động, Thủy đoàn trưởng.
- Về tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng Công an có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính cấp huyện:
Ở cấp huyện, theo Quyết định số 1727/QĐ-BCA ngày 07/4/2015 của Bộ
trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy
của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Công an cấp huyện có
nhiệm vụ thực hiện xử phạt VPHC theo quy định. Cụ thể:
+ Mô hình tổ chức bộ máy của Công an huyện gồm 11 đội, trong đó, có Đội
CSQLHC về TTXH; Đội CSGT, trật tự, cơ động (riêng Công an huyện thuộc thành
phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ có thêm Đội Cảnh sát phản ứng nhanh)
thực hiện chức năng xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATXH.
+ Mô hình tổ chức bộ máy của Công an quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có
13 đội, trong đó có Đội CSQLHC về TTXH; Đội CSGT; Đội Cảnh sát trật tự, cơ
động (riêng Công an huyện thuộc thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ
có thêm Đội Cảnh sát phản ứng nhanh) thực hiện chức năng xử phạt VPHC trong
76
lĩnh vực TTATXH.
- Về tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng Công an có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính cấp phường:
Theo Quyết định số 4169/QĐ-BCA ngày 29/9/2016 của Bộ trưởng Bộ Công
an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an
phường thì Công an phường gồm các tổ: Tổng hợp; Cảnh sát khu vực; Cảnh sát trật
tự; Cảnh sát phòng, chống tội phạm. Lực lượng Cảnh sát nhân dân thuộc Công an
phường là cấp Công an cơ sở trực tiếp thực hiện hoạt động hoạt động xử phạt
VPHC trong lĩnh vực TTATXH theo phạm vi địa bàn quản lý và theo quy định của
pháp luật.
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 1, 2, 3 Điều 39 Luật XLVPHC, một số
chức danh của lực lượng CAND có thẩm quyền xử phạt VPHC: Chiến sĩ CAND
đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng, Trưởng Công an cấp xã, Trưởng
đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất , Trưởng Công an
cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trưởng trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất, Trưởng
Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Cảnh sát
cơ động, Thủy đội trưởng.
3.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
3.2.1. Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm
hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
3.2.1.1. Kết quả xây dựng và ban hành pháp luật về quản lý nhà nước đối
với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản, không thể thiếu của
bất kỳ nhà nước nào. Các nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật để xây dựng một
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các
cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và việc ứng xử của các cá
nhân trong toàn xã hội. Xây dựng pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện
chức năng nhà nước, là sự thể hiện và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tiễn, thể
77
hiện mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhà nước và pháp luật.
Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện
pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhằm đáp ứng yêu cầu thể
chế kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của
Hiến pháp về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, thực
hiện giảm dần pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính
phủ quy định những vấn đề dưới Luật theo chủ trương của Nghị quyết Hội nghị lần
thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, hệ thống văn bản pháp luật về
XLVPHC ngày càng được hoàn chỉnh, trở thành công cụ pháp lý quan trọng, góp
phần tích cực vào việc ổn định xã hội, giữ gìn TTATXH, kỷ cương quản lý hành
chính của nhà nước và đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC, tội phạm
trong thời kỳ mới.
Hiến pháp năm 2013 Điều 109 [81] quy định chức năng của Chính phủ :
“thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước; bảo đảm hiệu lực bộ máy nhà nước
từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp
luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, bảo đảm ổn định, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”.
Pháp luật về XLVPHC là một bộ phận trong hệ thống pháp luật chung của nhà
nước ta, bao gồm các quy phạm pháp luật của rất nhiều ngành khác nhau điều chỉnh.
Các quy phạm pháp luật về XLVPHC là cơ sở pháp lý để nhà nước, thông qua các cơ
quan chức năng của mình để thực hiện việc QLNN đối với XLVPHC. Pháp luật về
XLVPHC được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật chung của nhà nước:
Hiến pháp, các Luật chuyên ngành, các văn bản pháp luật quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Luật, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ
chức Chính quyền địa phương, Luật XLVPHC, Luật CAND, Luật Biên giới quốc
gia, Luật phòng, chống ma túy, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật nhập cảnh, xuất cảnh,
quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật Phòng cháy, chữa
cháy,…đều có quy định cụ thể về nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các cơ
78
quan QLNN đối với việc bảo đảm ổn định và TTATXH.
Thực tiễn cho thấy, QLNN đối với XLVPHC có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc xây dựng, áp dụng chế tài hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
thi hành, hoàn thiện pháp luật XLVPHC. Luật XLVPHC năm 2012 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật XLVPHC năm 2020 đã quy định trách nhiệm QLNN
đối với XLVPHC tại Điều 17, Điều 18 của Luật; theo đó, Luật quy định cụ thể trách
nhiệm của Chính phủ trong việc thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về
XLVPHC và Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc
thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC. Trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ của mình, Tòa án nhân dân, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các
cấp có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp thực hiện với Bộ Tư pháp trong việc
thực hiện công tác quản lý thi hành pháp luật về XLVPHC.
Theo Báo cáo số 51/BC-BTP ngày 06/3/2020 của Bộ Tư pháp công tác thi
hành pháp luật về XLVPHC, tính đến thời điểm 28/02/2020, tổng số văn bản được
Chính phủ ban hành để quy định chi tiết Luật XLVPHC là 119 nghị định (bao gồm
cả các nghị định thay thế và sửa đổi, bổ sung). Trong tổng số 119 nghị định có 91
nghị định còn hiệu lực; 28 nghị định đã hết hiệu lực thi hành. Trong tổng số 91 nghị
định còn hiệu lực thi hành gồm có 08 nghị định quy định về các vấn đề chung; 05
nghị định quy định về các biện pháp xử lý hành chính; 78 nghị định quy định về xử
phạt VPHC trong các lĩnh vực QLNN [51].
Luật XLVPHC đã dành 01 chương (Chương II, từ Điều 38 đến Điều 54) quy
định về thẩm quyền xử phạt VPHC và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân; CAND; Bộ đội Biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Kiểm
lâm; Cơ quan thuế; Quản lý thị trường; Thanh tra; Cảng vụ hàng hải; Cảng vụ hàng
không; Cảng vụ đường thủy nội địa; Tòa án nhân dân; cơ quan thi hành án dân sự;
Cục quản lý lao động ngoài nước; cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự; cơ
quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
Luật XLVPHC cũng quy định về các biện pháp xử lý hành chính và các vấn
đề có liên quan đến việc áp dụng các BPXLVPHC (từ Điều 89 đến Điều 118); trong
79
đó, quy định rõ thẩm quyền của lực lượng Công an và thẩm quyền của Tòa án nhân
dân, Ủy ban nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, gồm: Giáo
dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào TGD; Đưa vào CSCBBB; Đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc.
Luật XLVPHC quy định rõ, cụ thể các chức danh có thẩm quyền xử phạt, áp
dụng các biện pháp khắc phục, các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm XLVPHC, áp
dụng các biện pháp cưỡng chế, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của lực
lượng CAND. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho lực lượng CAND thực hiện
nhiệm vụ QLNN của mình trong lĩnh vực giữ gìn và bảo đảm TTATXH. Theo đó,
có thể thấy, trách nhiệm, chức năng, thẩm quyền của ngành CAND trong XLVPHC
đóng một vai trò hết sức quan trọng, thể hiện ở các Chương, Điều luật của Luật
XLVPHC, trên hầu hết các quy định về XLVPHC, từ xử phạt, cưỡng chế xử phạt,
trục xuất, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn và
bảo đảm XLVPHC cho đến các biện pháp xử lý hành chính khác. Hoạt động
XLVPHC chính là hoạt động cưỡng chế hành chính của nhà nước đối với các tổ chức,
cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật hành chính nhằm mục đích giúp các cá nhân, tổ
chức vi phạm nhận thức rõ hành vi vi phạm cũng như trách nhiệm của mình trước pháp
luật. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về xử phạt VPHC trong
từng lĩnh vực QLNN, đặc biệt là trong lĩnh vực TTATXH đáp ứng yêu cầu về QLNN
đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân vi phạm, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động
QLNN đối với XLVPHC của lực lượng này.
Luật CAND năm 2018 (khoản 9 Điều 16) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của
CAND, trong đó xác định nhiệm vụ của CAND: “Thực hiện quản lý về xử phạt,
XLVPHC trong lĩnh vực an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; xử phạt VPHC và
thực hiện các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật; bảo đảm an
ninh, trật tự trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế khi có yêu cầu của cơ quan
có thẩm quyền; Thực hiện quản lý về cư trú, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ
sở dữ liệu căn cước công dân, con dấu, trật tự, an toàn giao thông, trật tự công
cộng, vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ, phòng cháy, chữa cháy
80
và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của pháp luật; cấp, quản lý thẻ Căn cước công
dân và giấy tờ tùy thân khác; đăng ký, cấp, quản lý biển số phương tiện giao thông
cơ giới đường bộ; thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và
thực hiện quản lý về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có
điều kiện theo quy định của pháp luật” [92].
Trên cơ sở quy định của Luật XLVPHC, căn cứ và chức năng, nhiệm vụ của
ngành CAND theo quy định của Hiến pháp, của Luật CAND, Bộ Công an đã chủ trì,
phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng, tham mưu và đề xuất với Chính
phủ ban hành các văn bản quy định về xử lý vi phạm hành trên nhiều lĩnh vực thuộc
phạm vi QLNN của ngành mình được giao; đồng thời chủ động trong công tác chỉ
đạo, tổ chức triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về XLVPHC thuộc thẩm
quyền của ngành CAND. Theo đó, một khối lượng lớn các văn bản pháp luật liên
quan đến lĩnh vực XLVPHC thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý an toàn trật tự của
lực lượng Công an trên các lĩnh vực đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký
ban hành như: XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH, xử phạt VPHC và thực hiện các
biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật, quản lý về cư trú, cơ sở dữ
liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu căn cước công dân, con dấu, trật tự, an toàn
giao thông, trật tự công cộng, vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ,
phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của pháp luật; cấp, quản lý
thẻ Căn cước công dân…, cụ thể: 48 Nghị định; 08 Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ; 376 Thông tư; 42 Thông tư liên tịch,…, điển hình:
- Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt VPHC
trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và
chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định 112/2013/NĐ-CP ngày
02/10/2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải
người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp
luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; Nghị định 17/2016/NĐ-CP
ngày 17/3/2016 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 112/2013/NĐ-CP;
Nghị định 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện
pháp xử lý hành chính đưa vào TGD và đưa vào CSGDBB; Nghị định
81
166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử
phạt VPHC; Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 quy định về quản lý, bảo
quản tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; Nghị
định 165/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định việc quản lý, sử dụng và danh
mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện VPHC về
trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường; Nghị định 132/2015/NĐ-CP ngày
25/12/2015 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa;
Nghị định 56/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực
giao thông đường bộ, đường sắt; Nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 quy
định một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú; Nghị định 137/2015/NĐ-CP
ngày 31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật căn cước
công dân; Nghị định 136/2020/NĐ-CP/ ngày 24/11/2020 quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luạt sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy; Nghị định 75/2020/NĐ-CP ngày
01/7/2020 quy định chi tiết một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật
nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Nghị
định 17/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
07/2017/NĐ-CP ngày 25/01/2017 quy định trình tự, thủ tục thực hiện thí điểm cấp thị
thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam; Nghị định 22/2019/NĐ-CP
ngày 25/02/2019 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong CAND;
- Thông tư 34/2014/TT-BCA ngày 15/8/2014 quy định về các biểu mẫu để
sử dụng khi xử phạt VPHC thuộc thẩm quyền của CAND; Thông tư 38/2014/TT-
BCA ngày 12/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào TGD; Thông tư 39/2014/TT-BCA ngày 12/9/2014 quy định về biểu
mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSGDBB; Thông tư
42/2014/TT-BCA ngày 25/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng trong CAND khi
áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
Thông tư 43/2014/TT-BCA ngày 08/10/2014 quy định chi tiết thi hành Nghị định số
02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử
lý hành chính đưa vào TGD và CSGDBB; Thông tư 45/2014/TT-BCA ngày
82
15/10/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 171/2013/NĐ-CP
ngày 13/11/2013 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ;
Thông tư 47/2014/TT-BCA ngày 17/10/2014 quy định chi tiết thi hành Nghị định
115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương
tiện VPHC bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; Thông tư 48/2014/TT-BCA
ngày 17/10/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định
111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành
chính GDTXPTT; Thông tư 07/2015/TT-BCA ngày 27/01/2015 quy định về quản
lý trại viên CSGDBB; Thông tư 10/2015/TT-BCA ngày 11/02/2015 của Bộ Công
an quy định chi tiết về xử phạt VPHC trong lĩnh vực liên quan đến an ninh, trật tự,
an toàn xã hội; Thông tư 20/2015/TT-BCA ngày 14/5/2015 của Bộ Công an ban
hành nội quy TGD; Thông tư 21/2015/TT-BCA ngày 14/5/2015 của Bộ Công an
ban hành nội quy CSGDBB; Thông tư 40/2015/TT-BCA ngày 24/8/2015 của Bộ
Công an quy định về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong CAND
để phát hiện VPHC về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường; Thông tư
58/2015/TT-BCA ngày 03/11/2015 của Bộ Công an quy định về tuần tra, kiểm soát
bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội của lực lượng Cảnh sát cơ động; Thông tư
16/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và
XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ; Thông tư 03/2016/TT-BCA ngày
04/01/2016 quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và XLVPHC trong lĩnh vực
giao thông đường bộ; Thông tư 07/2016/TT-BCA ngày 01/02/2016 quy định chi tiết
một số điều của Luật Căn cước công dân và Nghị định 137/2015/NĐ-CP ngày
31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công
dân; Thông tư 10/2016/TT-BCA ngày 03/3/2016 quy định về công tác tàng thư căn
cước công dân; Thông tư 11/2016/TT-BCA ngày 04/3/2016 quy định về trình tự
cấp, đổi lại, cấp lại thẻ căn cước công dân; Thông tư 41/2016/TT-BCA ngày
12/10/2016 quy định quy trình đăng ký xe; Thông tư 05/2018/TT-BCA ngày
07/02/2018 quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp
XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Thông tư 08/2018/TT-BCA ngày
83
05/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Nghị định 83/2017/NĐ-CP ngày
18/7/2017 quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa
cháy; ….
Song song với việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về QLNN đối
với XLVPHC, Bộ Công an cũng đã kịp thời chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương,
các lực lượng có thẩm quyền xử phạt VPHC của ngành Công an triển khai thực hiện
nghiêm túc quy định của pháp luật về XLVPHC thuộc phạm vi, thẩm quyền, chức
năng được giao, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, nâng cao ý thức
chấp hành, vận dụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và bảo đảm TTATXH trong tình
hình mới. Hàng năm, các đơn vị chức năng của ngành Công an tham mưu, đề xuất
với lãnh đạo Bộ Công an ban hành các kế hoạch, chương trình công tác về quản lý,
theo dõi tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC, chỉ đạo Công an các đơn vị, địa
phương thực hiện nghiêm túc và đúng quy định của pháp luật XLVPHC; ban hành
các văn bản dưới các hình thức như Điện, Kế hoạch, Công văn,… chỉ đạo Công an
các đơn vị, địa phương tăng cường kiểm soát, kiểm tra, xử phạt, XLVPHC trong các
lĩnh vực quản lý như: công tác phồng cháy, chữa cháy đối với các cơ sở trọng điểm;
các kế hoạch phối hợp về tuần tra, kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm hàng chở quá tải
trọng của xe ô tô; Công văn chỉ đạo các đơn vị, địa phương về việc lập lại trật tự hành
lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt; điện về mở đợt cao điểm tấn công trấn
áp tội phạm, bảo đảm TTATXH vào các dịp Lễ, Tết; Các chỉ thị về tăng cường công
tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của lực lượng CAND trong tình hình mới;
tăng cường công tác tuần tra kiểm soát và XLVPHC chở hàng quá tải trên đường bộ;
tuyên truyền và xử lý vi phạm quy định về nồng độ cồn đối với người điều khiển
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ,…Ngoài ra, căn cứ vào tình hình thực tế,
Bộ Công an ban hành các văn bản chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương triển khai
thực hiện công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, tuần tra, kiểm soát, XLVPHC
trong lĩnh vực giao thông, phòng cháy chữa cháy, xử lý vi phạm pháp luật trong kinh
doanh xăng dầu, khí đốt hóa lỏng, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đăng ký quản
lý cư trú, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác phù hợp với từng đối tượng vi
84
phạm ở địa bàn quản lý,…
3.2.1.2. Một số hạn chế của xây dựng và ban hành pháp luật về quản lý
nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Xây dựng và ban hành pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
ngành CAND được coi là khâu đầu tiên của quá trình điều chỉnh pháp luật
XLVPHC trong lĩnh vực bảo đảm an trật tự và an toàn xã hội. Thông qua hoạt động
xây dựng và ban hành pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành
CAND, các quy định của pháp luật sẽ được điều chỉnh, sửa đổi hoặc bãi bỏ cho phù
hợp với tình hình thực tế thi hành pháp luật XLVPHC, đáp ứng yêu cầu bảo đảm
một xã hội phát triển ổn định, trật tự, có kỷ cương. Chính vì vậy, có thể khẳng định
rằng, xây dựng và ban hành pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của
ngành Công an là hoạt động mang tính sáng tạo, theo đó, trong quá trình xây dựng
và ban hành pháp luật, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải dự liệu được trước
những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong tương lai để có thể đặt ra các quy
định pháp luật bảo đảm nhu cầu phát triển lâu dài, ổn định của đất nước.
Tuy đã có nhiều văn bản pháp luật, từ đạo luật quan trọng nhất là Hiến pháp,
Nghị quyết của Đảng, các văn bản Luật của Quốc hội và rất nhiều văn bản pháp luật
của Chính phủ được xây dựng, ban hành về XLVPHC, đặc biệt là QLNN đối với
XLVPHC, nhưng qua thực tế triển khai thi hành pháp luật của lĩnh vực này trong
những năm qua cho thấy, tình hình VPHC diễn biến hết sức phức tạp, có nơi có lúc
còn xảy ra nghiêm trọng, gây mất ổn định trật tự xã hội, xâm phạm tới lợi ích nhà
nước, lợi ích của cá nhân, tổ chức. Công tác XLVPHC có phạm vi rộng, bao trùm
nhiều lĩnh vực QLNN, chỉ riêng lĩnh vực của ngành Công an đã chiếm tới 48 nghị
định quy định về xử phạt VPHC trên tống số 119 Nghị định hướng dẫn thi hành
chung của Luật XLVPHC; trong khi đó, Luật Xử ký VPHC chưa quy định được
một cách đầy đủ, cụ thể, phân định thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng giữa các
ngành, cơ quan chức năng, nhất là trong phối hợp thực hiện công tác XLVPHC.
Điều này dẫn đến tình trạng các quy định của luật chuyên ngành cùng với nhiều
nghị định xử phạt VPHC ban hành thiếu thống nhất, chồng chéo chức năng, nhiệm
85
vụ, tạo ra sự khó kiểm soát về QLNN đối với XLVPHC.
Công tác QLNN đối với XLVPHC trên một số lĩnh vực như quản lý người
nước ngoài, nhập cảnh, xuất cảnh, trục xuất hành chính người nước ngoài vi phạm
pháp luật hành chính Việt Nam chưa thực sự phù hợp với sự phát triển của xã hội;
trình độ xây dựng pháp luật còn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
xã hội, chưa thực sự thực hiện đúng những nguyên tắc chuyên nghiệp trong công
tác xây dựng, ban hành pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của
ngành CAND, chưa thể hiện được sự hiểu biết sâu sắc nhất về lĩnh vực QLNN đối
với XLVPHC từ thực tiễn của ngành CAND, với những đặc thù riêng có của lực
lượng vũ trang, được nhà nước giao trách nhiệm thay mặt nhà nước QLNN đối với
XLVPHC thuộc lĩnh vực bảo đảm TTATXH.
Một số quy định của pháp luật liên quan đến việc thực hiện các quyết định về
áp dụng các BPXLVPHC còn chưa thống nhất, gây ra nhiều khó khăn trong việc áp
dụng pháp luật trên thực tiễn. Việc áp dụng BPXLVPHC giáo dục tại xã, phường,
thị trấn, đưa vào CSCBBB, TGD đối với người VPHC có hiệu quả thấp do cơ quan,
tổ chức được giao giúp đỡ người vi phạm chưa thực sự quan tâm và chủ động thực
hiện nhiệm vụ được giao.
Các hành vi VPHC tuy đã được quy định khá đầy đủ trong các văn bản quy
phạm pháp luật thuộc lĩnh vực an ninh trật tự nhưng thực sự chưa theo kịp với sự
phức tạp của hành vi VPHC như: VPHC trong lĩnh vực giao thông (bao gồm giao
thông đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt); phòng cháy, chữa cháy; quản lý
hành chính về an ninh trật tự (bao gồm: đăng ký và quản lý cư trú, quản lý ngành
nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, vi phạm trật tự công cộng, quản lý,
sử dụng Chứng minh nhân dân, quản lý và sử dụng con dấu, quản lý sử dụng vật
liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm,…); chống người thi
hành công vụ,…
Các văn bản dưới luật đã được ban hành song chưa đồng bộ, chưa có quy
định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện, đặc biệt về lĩnh vực cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt. Bên cạnh đó, một số quy định về xử phạt VPHC đối với từng
hành vi vi phạm còn chưa phù hợp với thực tế, chưa đủ tính răn đe nên thực tế
86
người vi phạm chấp nhận bị xử phạt VPHC chứ không thực hiện các biện pháp, yêu
cầu mà Nghị định xử phạt bắt buộc phải thực hiện. Điều này làm cho các ngành
chức năng, trong đó có lực lượng CAND khó khăn trong triển khai thực hiện, đặc
biệt là đối với những quy định mới của Luật XLVPHC.
Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật XLVPHC 2012 chưa được ban hành kịp thời, đồng bộ; một số
quy định trong các văn bản chưa phù hợp với thực tiễn khiến cho các đơn vị chức
năng thuộc ngành CAND còn lúng túng trong áp dụng pháp luật.
3.2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật quản lý nhà nước đối với
xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
3.2.2.1. Kết quả tổ chức thực hiện pháp luật quản lý nhà nước đối với xử
lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Việc tổ chức thực hiện pháp luật nói chung có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã
hội. Bằng việc tổ chức thực hiện pháp luật, các quy định của pháp luật từ các nguồn
luật đi vào đời sống, trở thành hành vi thực tế của các chủ thể. Nhờ đó, pháp luật phát
huy được vai trò của nó trong thực tế, làm cho trật tự xã hội ổn định, có điều kiện phát
triển, các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức được bảo đảm, bảo vệ,
đời sống xã hội được an toàn. Thông qua thực hiện pháp luật, những hạn chế, khiếm
khuyết của pháp luật sẽ bộc lộ, nhờ đó pháp luật sẽ được hoàn thiện kịp thời.
Công tác tổ chức thực hiện pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của
ngành CAND được tiến hành thông qua việc tiến hành các biện pháp phát hiện các
VPHC, đình chỉ, tiến hành các thủ tục xử phạt VPHC và xử lý các hành vi VPHC theo
quy định của pháp luật hành chính trong lĩnh vực QLNN về an ninh trật tự và an toàn
xã hội theo đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm được giao, cụ thể là một số lĩnh
vực sau: xử phạt VPHC và thực hiện các biện pháp xử lý hành chính theo quy định
của pháp luật; Bảo đảm an ninh, trật tự trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế
khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; Thực hiện quản lý về cư trú, cơ sở dữ
liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu căn cước công dân, con dấu; Trật tự, an
toàn giao thông, trật tự công cộng; vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ
87
hỗ trợ; Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của pháp luật; cấp,
quản lý thẻ Căn cước công dân và giấy tờ tùy thân khác; Đăng ký, cấp, quản lý biển
số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; Thực hiện công tác phòng cháy, chữa
cháy, cứu nạn, cứu hộ và thực hiện quản lý về an ninh, trật tự đối với các ngành,
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật tự xã hội:
QLNN đối với XLVPHC của ngành CAND trong lĩnh vực quản lý hành chính
về trật tự xã hội bao gồm: QLNN về cư trú; quản lý về lĩnh vực kinh daonh có điều
kiện về an ninh trật tự; quản lý về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ,…Trong từng
lĩnh vực cụ thể, lực lượng CAND tiến hành thực hiện pháp luật XLVPHC khác nhau,
tổ chức một cách có hệ thống, có kế hoạch và nội dung, biện pháp cụ thể. Thông qua
việc phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật hành chính của các đối tượng, lực
lượng CAND tiến hành các thủ tục xử phạt VPHC theo đúng quy định của pháp luật.
Theo số liệu thống kê của Cục CSQLHC về TTXH, tính từ năm 2010 đến tháng 6 năm
2018, lực lượng CSQLHC về TTXH đã phát hiện 3.836.374 trường hợp VPHC, trong
đó, VPHC trong lĩnh vực quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an
ninh trật tự là 95.142 trường hợp, chiếm 2,48%; lĩnh vực trật tự công cộng - giao thông
đô thị là 3.501.252 trường hợp, chiếm 91.26%; lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ,
công cụ hỗ trợ là 11.130 trường hợp, chiếm 0,29%; lĩnh vực đăng ký quản lý cư trú là
158.558 trường hợp, chiếm 1,83%. (Bảng 2.4)
Trong năm 2017, CSQLHC về TTXH đã phát hiện: lĩnh vực quản lý ngành,
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự: 13.482 trường hợp VPHC; lĩnh
vực quản lý con dấu: 2.648 trường hợp vi phạm; lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ,
công cụ hỗ trợ và pháo: vận động nhân dân giao nộp 1.550 súng các loại, 559 công cụ
hỗ trợ, 4.134 viên đạn, 32 mìn, 25 bom, 251 lựu đạn, 109 đầu đạn các loại, 51 quả đạn,
135,7 kg thuốc nổ, 1.058 vũ khí thô sơ, phát hiện và bắt giữ 1.100 vụ vận chuyển, tàng
trữ, sản xuất, sử dụng pháo trái phép, bắt 1.269 đối tượng, thu giữ 22.748,5kg pháp,
6.118 quả pháp, 124 hộp pháo, phát hiện 139 trường hợp vi phạm; lĩnh vực đăng ký,
quản lý cư trú: 2.804 trường hợp vi phạm; lĩnh vực bảo đảm trật tự giao thông đô thị:
302.757 trường hợp vi phạm, xử lý 21.628 vụ việc. Theo số liệu báo cáo của Cục
88
CSQLHC về TTXH, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, lực lượng CSQLHC về
TTXH đã tiến hành lập biên bản VPHC đối với 3.628.977 trường hợp/3.836.374
trường hợp vi phạm, ra quyết định xử phạt tại chỗ là 207.397 trường hợp; trong đó,
VPHC trong lĩnh vực quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh
trật tự là 95.142 trường hợp (chiếm 2,48%); VPHC trong trật tự công cộng - giao thông
đô thị là 3.501.252 trường hợp (chiếm 91,26%); VPHC trong lĩnh vực quản lý vũ khí,
vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ là 11.130 trường hợp (chiếm 0,29%); VPHC trong lĩnh vực
đăng ký, quản lý cư trú là 158.558 trường hợp (chiếm 4,14%); VPHC trong các lĩnh
vực khác thuộc phạm vi quản lý của Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH là 70.292
trường hợp (chiếm 1,83%).
- Trong lĩnh vực giao thông: Theo số liệu thống kê của Cục CSGT, từ năm 2010
đến tháng 6 năm 2018, đã phát hiện 46.591.664 trường hợp VPHC, trong đó: giao
thông đường bộ: 44.763.450 trường hợp (chiếm 96,08%); giao thông đường thủy nội
địa: 1.785.684 trường hợp (chiếm 3,79%); giao thông đường sắt: 42.530 trường hợp,
chiếm 0,13% (Bảng 2.5)
VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ: với số trường hợp vi phạm được
phát hiện (44.763.450 trường hợp), trung bình mỗi năm phát hiện hơn 5 triệu trường
hợp VPHC trong lĩnh vực này. Các lực lượng CSGT tiến hành tuần tra, kiểm soát theo
quy định của pháp luật, thông qua hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao
thông đường bộ để phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật trên phạm vi tuyến, địa bàn được phân công. Bên cạnh đó, lực lượng CSGT còn
phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ trong và ngoài ngành Công an tiến hành tuần tra,
kiểm soát nhằm phát hiện các VPHC để kịp thời ngăn chặn, xử lý theo quy định. Tính
riêng trong năm 2014, có tổng số 4.883.692 trường hợp vi phạm bị phát hiện có
172.729 trường hợp VPHC là xe khách, 672.409 trường hợp là xe tải, 216.716 trường
hợp là xe con, 5.630 trường hợp là xe container, 2.304.368 trường hợp là xe moto,
31.244 trường hợp là các phương tiện khác; 1.408.587 trường hợp VPHC không tổng
hợp, phân tích các loại vi phạm. Lực lượng CSGT đã tiến hành lập biên bản VPHC đối
với 38.300.296 trường hợp (chiếm 96,67%); ra quyết định xử phạt VPHC là
89
44.763.450 trường hợp, với số tiền xử phạt là 20.569.662 tỷ đồng.
VPHC trong lĩnh vực giao thông đường sắt: Việc kiểm tra, kiểm soát và phát
hiện, XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường sắt được thực hiện trên cơ sở các
quy định của pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường sắt. Hàng
năm, lực lượng CSGT phối hợp với các cơ quan chức năng của ngành giao thông
như Cục Đường sắt Việt Nam, Thanh tra đường sắt Việt Nam,... tiến hành kiểm tra
việc bảo đảm an toàn và công tác vận tải đường sắt, kiểm tra các cung đường sắt,
cung thông tin tín hiệu, đường ngang, cầu chung và các đoạn đường sắt xung yếu,
phát hiện và xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi VPHC trong lĩnh
vực giao thông đường sắt.
Theo số liệu thống kê của Cục CSGT, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018,
đã phát hiện 42.530 trường hợp VPHC trong lĩnh vực giao thông đường sắt. Số liệu
tổng hợp hàng năm cho thấy, những năm gần đây, tình hình VPHC trong lĩnh vực
giao thông đường sắt tăng mạnh, cụ thể: năm 2010, chỉ phát hiện 140 trường hợp
VPHC; năm 2017: phát hiện 14.236 trường hợp VPHC (Bảng 2.7). Tính trung bình,
mỗi năm lực lượng CSGT toàn quốc phát hiện trên 5.000 trường hợp VPHC trong
lĩnh vực giao thông đường sắt. Lực lượng CSGT đã tiến hành lập biên bản VPHC
đối với 41.565 trường hợp (chiếm 0,11%); Ra quyết định xử phạt VPHC đối với
42.530 trường hợp VPHC, tổng số tiền phạt là 10.232 tỷ đồng.
VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa: Do đặc điểm sông,
kênh, ngòi dày đặc của hệ thống giao thông đường thủy nội địa của Việt Nam, tổng
chiều dài đường thủy nội địa đã công bố và đang quản lý, khai thác là 17.253km,
lực lượng CSGT phải tiến hành phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ trong ngành
Công an, Bộ đội Biên phòng, lực lượng quản lý đường thủy nội địa Việt Nam, Đăng
kiểm Việt Nam, Tổng Cục Thủy sản,… tiến hành tuần tra, kiểm soát người và
phương tiện hoạt động giao thông đường thủy, phát hiện VPHC trong lĩnh vực này.
Theo số liệu thống kê của Cục CSGT, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, đã phát
hiện 1.785.684 trường hợp VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
Trung bình mỗi năm, lực lượng CSGT phát hiện trên 210.000 trường hợp VPHC.
Chỉ tính riêng trong năm 2017, phát hiện 206.396 trường hợp VPHC, trong đó, lỗi
90
vi phạm chủ yếu là chở quá vạch mơn nước an toàn: 106.269 trường hợp vi phạm
(chiếm 51,5%); vi phạm về đăng ký, đăng kiểm là 14.804 trường hợp (chiếm 7,2%);
vi phạm về trang thiết bị an toàn phương tiện, dụng cụ nổi cứu sinh, cứu đắm là
10.255 trường hợp (chiếm 5%); vi phạm về danh bạ thuyền viên, định biên thuyền
viên: 8.553 trường hợp (chiếm 2,8%); vi phạm quy định về bằng, chứng chỉ chuyên
môn là 4.159 trường hợp (chiếm 26,9). Lực lượng CSGT đã tiến hành lập biên bản
VPHC đối với 1.688.370 trường hợp (chiếm 4,22%); ra quyết định xử phạt VPHC
là 1.785.684 trường hợp (chiếm 3,79%) với số tiền phạt là 999.053 tỷ đồng.
- Trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy
Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Công an, hàng năm, lực lượng CSPCCC và
CNCH ở Trung ương và các địa phương đã tiến hành kiểm tra, phát hiện và xử lý
các hành vi VPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy nhằm hạn chế tối đa các
VPHC xảy ra, đặc biệt là các VPHC là nguyên nhân dẫn đến cháy nổ. Theo thống
kê của Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, từ năm 2010 dến
tháng 6 năm 2018, toàn quốc đã xảy ra 22.796 vụ cháy, 255 vụ nổ làm 833 người bị
chết, 2.065 người bị thương, thiệt hại về tài sản trị giá khoảng 11.439.796 tỷ đồng
(Bảng 2.9). Trung bình mỗi năm phát hiện gần 16.000 trường hợp VPHC trong lĩnh
vực phòng cháy, chữa cháy; ra quyết định xử VPHC 134.199 trường hợp với số tiền
xử phạt là 220.644 tỷ đồng; tạm đình chỉ hoạt động 534 cơ sở, đình chỉ hoạt động
273 cơ sở.(Bảng 2.10).
Phân tích tình hình cháy nổ cho thấy, các vụ cháy lớn có diễn biến phức tạp
có chiều hướng gia tăng, các vụ cháy, nổ xảy ra nhiều ở đại bàn thành thị, nơi có
khu công nghiệp, khu kinh tế, ở các tỉnh, thành phố có sự phát triển về kinh tế, tốc
độ đô thị hóa nhanh. Khi phát hiện VPHC trong lĩnh vực này, lực lượng Cảnh sát
Phòng cháy chữa cháy đình chỉ ngay VPHC. Về cơ bản, các tổ chức, cá nhân có
hành vi vi phạm đều tuân thủ nghiêm túc, chấm dứt ngay hành vi vi phạm theo yêu
cầu, hiệu lệnh của người đang thi hành công vụ. Tuy nhiên, cũng có một số trường
hợp không chấp hành theo yêu cầu của người thi hành công vụ mà cố tình tiếp tục
thực hiện hành vi vi phạm, bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm, thậm chí có
91
trường hợp còn chống lại người thi hành công vụ.
- Về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác
Theo quy định tại các Điều 2, 89, 90, 91, 92, 95, 96 của Luật XLVPHC thì biện
pháp xử lý hành chính khác là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp
luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm các biện
pháp: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào TGD; Đưa vào CSGDBB; Đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét về mặt bản chất của các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, mặc dù chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng các hành
vi này thực sự gây ra mối lo ngại lớn cho xã hội, cộng đồng dân cư, tiềm ẩn nguy cơ
gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm lợi ích nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích
chính đáng của công dân nên việc quy định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
nhằm ngăn ngừa, giáo dục các đối tượng này là hết sức cần thiết, đặc biệt, đối với các
đối tượng nghiện hút ma túy, những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện
hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý do Bộ luật Hình sự quy
định như: trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc,…
Từ khi Luật XLVPHC 2012 có hiệu lực thi hành, các quy định của pháp luật
XLVPHC về áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã phát huy tốt vai
trò của gia đình trong việc áp dụng các biện pháp thay thế XLVPHC đặc biệt đối
với người chưa thành niên. Việc tiếp nhận đối tượng vào các cơ sở giáo dục, TGD
được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đối tượng được đưa vào các cơ
sở trên đều được tạo điều kiện tham gia học văn hóa, học nghề để sau khi chấp hành
xong quyết định xử phạt sẽ sớm ổn định cuộc sống, tìm kiếm việc làm. Theo kết
quả báo cáo của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kết quả áp dụng
các BPXLVPHC được tiến hành thực hiện theo từng năm (từ năm 2014 đến 2019),
cụ thể như sau:
- Năm 2014: (tính từ ngày 30/9/2013 đến ngày 01/10/2014), số hồ sơ đề
nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 8.409; số đối tượng bị đề
nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là 2.903 đối tượng; trong đó, số hồ sơ
đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân quyết định là
92
400 hồ sơ [10].
- Năm 2015: số đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là 2.294
đối tượng: Số đối tượng bị áp dụng biện pháp GDTXPTT theo quyết định
của Ủy ban nhân dân cấp xã là 1.335 đối tượng; số đối tượng bị áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính theo quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện là 302 đối tượng [11].
- Năm 2016: số đối tượng bị áp dụng các BPXLHC là 21.675 đối tượng bị áp
dụng biện pháp GDTXPTT theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã là 10.249
đối tượng; số đối tượng bị áp dụng các BPXLHC theo quyết định của Tòa án nhân
dân cấp huyện là 11.426 đối tượng [12].
- Năm 2017, tổng số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng các BPXLHC là
37.277 đối tượng; số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp GDTXPTT
là 20.715 đối tượng; số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng các BPXLHC do tòa
án nhân dân quyết định là 16.562 đối tượng [12].
- Năm 2018, số đối tượng bị đề nghị áp dụng các BPXLHC là 48.468 đối
tượng; số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPGDTXPTT là 26.411 đối
tượng; số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng các BPXLHC do tòa án nhân dân
cấp huyện quyết định là 22.057 đối tượng [13].
- Năm 2019, đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPXLHC đối với 29.462 đối
tượng, có 28.446 đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPGDTXPTT, trong đó,
có 26.337 đối tượng bị áp dụng BPGDTXPTT [14].
3.2.2.2.Hạn chế tổ chức thực hiện pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý vi
phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Trong những năm qua, mặc dù công tác tổ chức thực hiện pháp luật QLNN đối
với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND đã đạt được những kết quả quan trọng, đáng
khích lệ, tuy nhiên, vẫn bộc lộ rất nhiều hạn chế, vướng mắc. Các văn bản dưới luật đã
được ban hành song chưa đồng bộ, chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực
hiện, đặc biệt về lĩnh vực cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt. Bên cạnh đó, một
số quy định về xử phạt VPHC đối với từng hành vi vi phạm còn chưa phù hợp với
thực tế, chưa đủ tính răn đe nên thực tế người vi phạm chấp nhận bị xử phạt VPHC
chứ không thực hiện các biện pháp, yêu cầu mà Nghị định xử phạt bắt buộc phải
93
thực hiện. Qua triển khai thực hiện các quy định của Luật XLVPHC và các văn bản
hướng dẫn thi hành cho thấy, một số quy định còn chưa thống nhất, chưa phù hợp
với thực tiễn và dẫn đến khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực hiện, điển hình là:
các quy định cụ thể về mức xử phạt VPHC trong các lĩnh vực còn chưa mang tính
răn đe, giáo dục cao; công tác XLVPHC, cưỡng chế hành chính chưa thật sự triệt
để, còn bỏ sót hành vi vi phạm hoặc áp dụng không đúng quy định của pháp luật.
Một bộ phận nhân dân do thiếu hiểu biết pháp luật dẫn đến tình trạng vi phạm còn
xảy ra nhiều, coi thường pháp luật, cố tình trì hoãn không chấp hành quyết định xử
phạt VPHC dẫn đến việc thi hành quyết định xử phạt VPHC còn nhiều khó khăn;
việc chấp hành quyết định xử phạt VPHC của các đối tượng trên phạm vi toàn quốc
cơ bản là tốt, tuy nhiên, còn không ít trường hợp chưa nghiêm túc chấp hành các
quyết định xử phạt VPHC của người có thẩm quyền xử lý vi phạm, chủ yếu là trong
lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông, ví dụ như: người vi phạm khai báo không đúng
nơi cư trú nên dẫn đến khó khăn cho công tác xác minh; nhiều trường hợp đã được
tống đạt quyết định xử phạt và mời lên làm việc, đôn đốc nhiều lần nhưng có thái
độ chây ỳ, cố tình không chấp hành; đối tượng bị xử phạt bỏ địa phương đi đâu
không rõ, đối tượng ở ngoại tỉnh đến VPHC bị xử phạt không chấp hành. Thậm chí
một số đối tượng VPHC còn có động cơ xấu như có ý định chạy trốn, tiêu hủy tang
vật, phương tiện vi phạm khi điều khiển phương tiện giao thông phóng nhanh, vượt
ẩu, chở quá số người quy định; gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công
vụ; trộm cắp tài sản. Việc áp dụng quy định về tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC
còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện bảo đảm cho việc di chuyển, tạm giữ tang vật,
phương tiện vi phạm còn nhiều hạn chế như không có đủ kho, bến bãi hoặc kho, bến
bãi không có mái che, thiếu phương tiện tháo dỡ… khiến cho các phương tiện bị thu
giữ xuống cấp; hồ sơ đưa vào TGD, cơ sở giáo dục chưa phản ánh hết tình trạng của
đối tượng nên việc nắm bắt tình hình sức khỏe, tâm lý để có sự phân loại đối tượng
ngay từ đầu nhằm quản lý, giáo dục cho phù hợp gặp nhiều khó khăn. Việc phát
hiện người mắc nghiện hoặc người có tiền sử nghiện ma túy chưa được thực hiện
trong quá trình giáo dục, do đó ảnh hưởng đến công tác quản lý, giáo dục, chữa
bệnh cho đối tượng giáo dục. Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Công
94
an một số đơn vị, địa phương đạt hiệu quả chưa cao, còn nhiều hạn chế do các
nguyên nhân khách quan như: việc tạo công ăn việc làm, đào tạo nghề, hỗ trợ kinh
tế… đối với đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn chưa
được quan tâm đúng mức; vai trò của các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, doanh
nghiệp còn khá mờ nhạt; một số đối tượng vi phạm chưa tự giác chấp hành quyết
định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; chưa có đầy đủ chương trình, nội
dung giáo dục đặc thù dành riêng cho trại viên; chưa có đủ cán bộ chuyên môn và
cơ sở vật chất phù hợp để dạy và học. Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính còn thiếu; công tác phối hợp liên ngành trong
XLVPHC về an ninh, trật tự, an toàn xã hội còn nhiều hạn chế.
3.2.3. Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý
vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
3.2.3.1. Kết quả trong phổ biến, giáo dục pháp luật quản lý nhà nước đối với xử
lý vi phạm hành chính từ thực tiễn của ngành Công an nhân dân
Giáo dục pháp luật là quá trình tác động của nhiều hình thức, phương tiện vào ý
thức của con người. Xét về mặt bản chất, giáo dục pháp luật là quá trình hoàn thiện
nhân tố xã hội - pháp lí của con người, nâng cao khả năng sáng tạo của con người trong
thực tiễn. Giáo dục, phổ biến pháp luật, trước hết, đó là một nhiệm vụ mang tính
thường xuyên, liên tục của nhà nước.
Giáo dục, phổ biến pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới
nhận thức của cá nhân công dân, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an và các cá
nhân có liên quan, nhằm trang bị cho các đối tượng này trình độ pháp lý nhất định, từ
đó có ý thức đúng đắn về pháp luật QLNN đối với XLVPHC, tôn trọng và tự giác thực
hiện, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật trong lĩnh vực này.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND phải đảm bảo tính kịp thời, sát thực và phù hợp với đối tượng cần phổ biến,
giáo dục cả về nội dung và hình thức, trong đó cần chú trọng gắn phổ biến, giáo dục
pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND với quá trình thực thi
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội của đất
95
nước, của từng vùng, miền, địa phương và gắn với an sinh xã hội.
Từ khi Luật XLVPHC có hiệu lực, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị,
địa phương tổ chức nhiều lớp phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng và tập huấn chuyên sâu
nghiệp vụ pháp luật về QLNN đối với XLVPHC, nghiệp vụ áp dụng pháp luật về
XLVPHC trên các lĩnh vực QLNN thuộc thẩm quyền quản lý của ngành CAND cho
toàn thể cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền quản lý trong toàn lực lượng CAND, nhất là
đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có thẩm quyền XLVPHC nắm vững những nội dung cơ bản
của Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành, nâng cao nhận thức, ý thức
chấp hành pháp luật và vận dụng vào thực tiễn công tác, bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội trên phạm
vi toàn quốc.
Nội dung phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng và tập huấn tập trung vào các quy định
của pháp luật XLVPHC, trong đó chú trọng vào kỹ năng xác định hành vi VPHC và áp
dụng về pháp luạt XLVPHC; các nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử phạt VPHC; kỹ năng
xác định thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt VPHC, biện pháp khắc phục hậu quả,
ký năng áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc XLVPHC, kỹ năng lập hồ sơ,
xác định thẩm quyền, đối tượng dụng các BPXLVPHC khác.
Qua khảo sát, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, các đơn vị chức năng thuộc
Bộ Công an (trong đó tập trung là các Cục CSQLHC về TTXH, Cục CSGT, Cục Cảnh
sát Phòng cháy, chữa cháy va cứu nạn, cứu hộ,…) cùng với các đơn vị nghiệp vụ,
Công an các đơn vị, địa phương đã tổ chức hàng trăm buổi tập phổ biến, giáo dục, tập
huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về pháp luật XLVPHC cho các đối tượng là cán bộ, chiến sĩ
trực tiếp thi hành nhiệm vụ XLVPHC, điển hình như:
Cục CSQLHC về TTXH phối hợp với các cục nghiệp vụ tổ chức gần 40 lớp tập
huấn, bối dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực
TTATXH cho lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về TTATXH từ lãnh đạo cấp
Phòng, chỉ huy cấp đội, chỉ huy công an Phường, lực lượng Cảnh sát khu vực, Công an
xây dựng phong trào và phụ trách xã về ANTT với trên 4.300 cán bộ, chiến sĩ [41].
Cục CSPCCC và CNCH đã xây dựng, biên soạn tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ
về công tác xử phạt VPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
96
cho lực lượng CSPCCC và CNCH địa phương. Đã tổ chức 15 lớp tập huấn bối dưỡng,
giáo dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa
cháy và cứu nạn, cứu hộ, lồng ghép nội dung về xử phạt VPHC, chú trọng giải đáp
những khó khăn, vướng mắc trong công tác XLVPHC về phòng cháy, chữa cháy và
cứu nạn, cứu hộ, qua đó kịp thời nâng cao kiến thức pháp luật về XLVPHC trong lĩnh
vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho cán bộ, chiến sĩ thực hiện công tác
XLVPHC [39].
Cục CSGT đã tổ chức 03 lớp tập huấn bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ
pháp luật về XLVPHC cho hơn 871 cán bộ, chiến sĩ, lãnh đạo các đơn vị, công an địa
phương; tổ chức tập huấn bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về
XLVPHC cho 14 đơn vị thuộc Cục, 05 trường Công an, 63 Phòng CSGT Công an cấp
tỉnh với hơn 431 cán bộ, chiến sĩ; tổ chức tập huấn công tác nghiệp vụ, tin học (phần
mềm giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông) cho hơn 1.464 lãnh đạo, chỉ
huy, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trực thuộc Cục và Công an các địa phương [34].
Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã tổ chức nhiều lớp
tập huấn bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC cho cán bộ,
chiến sĩ thuộc quyền: Công an thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức bồi dưỡng, giáo dục,
phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC cho 13 đồng chí là lãnh đạo, chỉ huy các
đơn vị có thẩm quyền XLVPHC thuộc Công an thành phố; tổ chức bồi dưỡng, giáo
dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC, nghiệp vụ bảo đảm trật tự an toàn giao
thông cho 612 cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng Công an trên địa bàn thành phố [33];
Công an thành phố Cần Thơ đã tổ chức 07 lớp bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ
pháp luật về XLVPHC cho các đồng chí là lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị, chỉ huy đội,
chỉ huy phường, xã, thị trấn và các cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 480 lượt là cán bộ lãnh
đạo, Đội trưởng, Phó đội trưởng, Trưởng Công an xã, phường, thị trấn có thẩm quyền
XLVPHC[31].
Để hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực
tiễn ngành CAND được tiến hành thuận lợi, có hiệu quả, Bộ Công an đã chỉ đạo Công
an các đơn vị, địa phương phối hợp với các ban, ngành, chức năng ở trung ương và địa
phương xác định nội dung, đối tượng giáo dục, loại hình giáo dục và cấp độ giáo dục
97
để tiến hành công tác giáo dục, phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn ở địa bàn mình quản
lý. Theo đó, các đơn vị chức năng phối hợp với Đài phát thanh, truyền hình, cơ quan
báo chí ở trung ương và địa phương tuyền truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về
VPHC và XLVPHC trong lĩnh vực bảo đảm TTATXH, cho các đối tượng là doanh
nghiệp, người dân, cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thực hiện công tác XLVPHC với nhiều
hình thức: Tổ chức hội nghị, triển lãm bằng pano ảnh, in đĩa CD, tuyền truyền trên các
phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp tuyên truyền, giáo dục trong các trường học,
cơ quan,…
Kết quả: từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, Công an các đơn vị, địa phương
đã tổ chức hàng nghìn cuộc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về XLVPHC tại
các cơ quan, đơn vị, trường học, tổ chức, địa bàn cơ sở với hàng triệu lượt người tham
dự. Chỉ tính riêng lực lượng CSGT, Cục CSGT đã phối hợp với CSGT địa phương, đài
phát thanh, truyền hình ở trung ương và địa phương xây dựng và phát sóng 8.512 tin,
phóng sự về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông; viết 103.179 tin, bài đăng
trên các báo; tổ chức tuyên truyền cho hơn 11 triệu lượt người nghe, phát hành
9.913 đĩa CD, 1.03.109 tờ rơi[34]; Công an thành phố Hà Nội tổ chức tuyên
truyền pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực giao thông bằng phát loa tại các điểm
nút giao thông trọng điểm với 32 cụm loa tuyên truyền; dán đề can “tuyên truyền
pháp luật về trật tự an toàn giao thông” tại 150 nhà chờ, đón, trả khách, các điểm
trung chuyển xe buýt và đầu bến xe[32].
3.2.3.2. Hạn chế của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật quản lý nhà nước
đối với xử lý vi phận hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng, tập huấn, hướng dẫn về kỹ năng, nghiệp vụ
pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND đóng một vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả trong thực tế pháp luật XLVPHC,
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, góp phần không nhỏ trong công tác đấu tranh,
phòng ngừa vi phạm pháp luật hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN,
kiềm chế sự gia tăng vi phạm pháp luật. Bằng những chủ trương, chỉ đạo sát sao,
tích cực của lãnh đạo Bộ Công an, công tác phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng, tập huấn,
hướng dẫn về kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
98
ngành CAND đã đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, pháp luật về
XLVPHC là một lĩnh vực có phạm vi điều chỉnh rộng, nên công tác phổ biến, giáo
dục, bồi dưỡng, tập huấn, hướng dẫn về kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật QLNN đối
với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND vẫn còn tồn tại một số những hạn chế, bất
cập, cụ thể là:
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC tính ổn định chưa cao,
phạm vi điều chỉnh rộng, có nhiều nội dung cụ thể phải ủy quyền nên không chỉ gây
khó khăn cho công tác tuyên tuyền, phổ biến, giáo dục pháp luật mà công tác triển
khai thực hiện trong thực tế cũng gặp rất nhiều vướng mắc, bất cập, còn có tình
trạng triển khai thực hiện thụ động, chủ yếu theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của các
cơ quan cấp trên.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về XLVPHC về vai trò
của QLNN XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND mặc dù đã được quan tâm thực
hiện nhưng chưa đi vào chiều sâu nên chưa thực sự phát huy hiệu quả cao nhất,
chưa thấm sâu vào nhận thức của đông đảo cá nhân, cơ quan, tổ chức. Ý thức chấp
hành pháp luật của một số tổ chức, cá nhân chưa cao, dễ dẫn đến những hành vi
VPHC, vi phạm nhiều lần, đối tượng cố tình tìm cách trì hoãn hoặc trốn tránh không
thực hiện quyết định xử phạt hành chính, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho việc triển khai
công tác thi hành pháp luật về XLVPHC còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.
Nhận thức, hiểu biết về pháp luật của một bộ phận nhân dân còn nhiều hạn
chế dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật hoặc do mâu thuẫn nội bộ trong nhân
dân chậm được giải quyết, không được kịp thời hòa giải dẫn đến xung đột, vi phạm
pháp luật, nhất là ở các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Công tác
XLVPHC có nơi, có lúc chưa thật sự nghiêm túc và triệt để; một số chế tài xử phạt
đối với một số hành vi VPHC chưa đủ mạnh, do đó giảm tính răn đe, ý thức chấp
hành pháp luật của tổ chức cá nhân chưa nghiêm túc.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về việc áp dụng các
biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào TGD, đưa vào
CSGDBB ở nhiều địa phương chậm được triển khai thực hiện, nhất là tại các địa
phương vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, trình độ dân trí thấp
99
dẫn đến việc thực hiện công tác này còn nhiều hạn chế, chưa đạt yêu cầu.
3.2.4. Thực trạng kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý
vi phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm từ thực tiễn ngành Công
an nhân dân
3.2.4.1. Kết quả của công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý vi phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực
tiễn ngành Công an nhân dân
- Kiểm tra, thanh tra quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực
tiễn ngành Công an nhân dân
Hoạt động kiểm tra QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND nhằm
phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật, phát hiện những
yếu kém trong tổ chức và hoạt động của lực lượng CAND trong việc thực thi nhiệm vụ
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn chính ngành mình. Thông qua hoạt động kiểm
tra, lực lượng Công an có thể phát hiện những ưu điểm, tích cực cần phát huy cũng như
phát hiện ra những tiêu cực trong công tác QLNN đối với XLVPHC thuộc chức năng
quản lý của ngành Công an, từ đó đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện các văn bản
pháp luật liên quan đến QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND. Điều 17
Luật XLVPHC 2012 quy định: Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực
hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC trong phạm vi nhà nước và có
quyền hạn kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tiến hành thanh tra việc thi
hành pháp luật về XLVPHC.
Ngày 26/5/2015, Bộ Tư pháp có Công văn số 1775/BTP-
LXLVPHC&TDTHPL về việc tổ chức Đoàn kiểm tra tình hình triển khai nhiệm vụ
quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC (XLVPHC) tại Bộ Công an.
Theo Báo cáo số 1288/BCA-V19 ngày 30/6/2015 của Bộ Công an tổng hợp
đầy đủ các nội dung của Bộ Tư pháp yêu cầu báo cáo về tình hình quản lý công tác
thi hành pháp luật về XLVPHC của toàn ngành CAND trên tất cả các lĩnh vực
QLNN thuộc chức năng, trách nhiệm của Bộ Công an, cụ thể: về tình hình công tác
chỉ đạo triển khai thi hành pháp luật về XLVPHC của Bộ Công an; Công tác hoàn
thiện pháp luật về XLVPHC; Công tác phổ biến pháp luật, hướng dẫn, tập huấn, bồi
100
dưỡng nghiệp vụ về pháp luật XLVPHC Công tác kiểm tra, thanh tra, phối hợp
thanh tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC; Việc áp dụng các quy định pháp luật
về XLVPHC trong lĩnh vực, trên địa bàn quản lý; Công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong XLVPHC.
Qua công tác báo cáo của Bộ Công an hàng năm theo quy định của Luật
XLVPHC, có thể thấy, từ khi Luật XLVPHC 2012 có hiệu lực thi hành, lãnh đạo Bộ
Công an nhận thức rõ công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC trong
CAND là một trong những chức năng cơ bản của hoạt động trong công tác quản lý
XLVPHC. Việc kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC trong CAND nhằm
mục đích thu thập thông tin, nắm bắt tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC, tìm
ra các nhân tố tích cực cũng như phát hiện ra các sai sót, vi phạm trong quá trình áp
dụng pháp luật về XLVPHC. Chính vì vậy, trong thời gian qua, lãnh đạo Bộ Công
an hết sức quan tâm và chú trọng tới việc triển khai các nội dung của công tác kiểm
tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC. Công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật
về XLVPHC trong CAND thời gian qua đã được thực hiện theo đúng quy định của
pháp luật XLVPHC trong các trường hợp theo sự chỉ đạo và đề nghị của các chủ thể
có thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP
ngày 17/9/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC.
Hàng năm, các đơn vị chức năng của Bộ Công an tham mưu với lãnh đạo Bộ
Công an ban hành các kế hoạch, chương trình công tác kiểm tra, thanh tra, quản lý,
theo dõi tình hình XLVPHC, tình hình thi hành pháp luật XLVPHC để chỉ đạo
Công an các đơn vị, địa phương thực hiện hoạt động QLNN đối với XLVPHC:
Quyết định số 391/QĐ-BCA-V19 ngày 29/01/2015 ban hành kế hoạch quản lý, theo
dõi tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn
xã hội; Quyết định số 392/QĐ-BCA-V19 ngày 29/-1/2015; Quyết định số 577/QĐ-
BCA-V19 ngày 22/02/2016 ban hành chương trình công tác quản lý, theo dõi tình
hình thi hành pháp luật về XLVPHC; Kế hoạch số 26/KH-BCA(C66) ngày
04/9/2014 chỉ đạo Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy. Công an các địa phương tiếp
tục đẩy mạnh đợt tổng kiểm tra toàn diện công tác phòng cháy, chữa cháy tại những
cơ sở trọng điểm, có nguy cơ cháy nổ cao; Công văn số 2734/BCA-C61 ngày
101
20/8/2014 chỉ đạo các đơn vị, địa phương về việc lập lại trật tự hành lang an toàn
giao thông đường bộ, đường sắt giai đoạn 2014 – 2020; Chỉ thị số 02/CT-BCA ngày
03/4/2015 về tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông cua lực lượng
CAND trong tình hình mới; Kế hoạch số 226/KH-BCA-C67 ngày 01/8/2016 về
tuyên truyền, vận động và xử lý quy định về nông độ cồn đối với người điều khiển
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ giai đoạn 2016 -2020; Kế hoạch số
250/KH-BCA-C67 ngày 29/8/2016 thực hiện Chỉ thị số 23/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về tăng cường các giải pháp cấp bách bảo đảm trật tự an toàn giao thông
đường thủy nội địa trong tình hình mới,…
Cục CSPCCC và CNCH tham mưu với lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo lực
lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy trên toàn quốc tăng cường công tác kiểm tra,
XLVPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy như kiểm tra, xử lý vi phạm về
công tác bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy tại các cơ sở trọng điểm; kiểm tra,
xử lý vi phạm pháp luật hành chính trong kinh doanh xăng dầu, khí đốt hóa lỏng,…
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về TTATXH tham mưu cho lãnh đạo Bộ
Công an chỉ đạo lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về TTATXH thực hiện
nghiêm các quy định về XLVPHC quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP và
các văn bản pháp luật liên quan, tăng cường công tác kiểm tra, XLVPHC theo
chuyên đề như: chuyên đề về quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chuyên
đề về đăng ký, quản lý cư trú,…
Điều 18 Luật XLVPHC 2012 cũng quy định về trách nhiệm kiểm tra, thanh tra
của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác XLVPHC. Theo đó, Thủ trưởng cơ quan,
đơn vị trong lực lượng CAND phải có trách nhiệm thường xuyên tiến hành kiểm tra,
thanh tra và kịp thời xử lý đối với vi phạm của người có thẩm quyền XLVPHC thuộc
phạm vi quản lý của mình. Lãnh đạo Bộ Công an, cùng với việc tiến hành các hoạt
động kiểm tra, thanh tra, XLVPHC theo chức năng nhằm thực hiện nhiệm vụ phòng
ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật hành chính trên địa bàn, lĩnh vực
thuộc phạm vi quản lý của ngành Công an, còn đặc biệt quan tâm đến chỉ đạo việc
nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về
XLVPHC trong CAND, tiến hành kiểm tra theo định kỳ, theo chuyên đề, địa bàn,
102
kiểm tra đột xuất và phối hợp kiểm tra liên ngành nếu thấy cần thiết. Nhìn chung,
công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC được thực hiện
theo đúng các nội dung quy định của pháp luật, chưa có khó khăn vướng mắc lớn
trong thực tiễn.
Công an các đơn vị, địa phương thường xuyên tiến hành sơ kết, tổng kết,
đánh giá kết quả qua mỗi cuộc, đợt thanh tra, kiểm tra công tác thi hành pháp luật
hành chính và QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn, từ đó rút ra kinh nghiệm,
nghiêm túc nhìn nhận những tồn đọng, những điểm yếu kém trong công tác áp
dụng, thực thi pháp luật XLVPHC của đơn vị, của cá nhân cán bộ, chiến sĩ CAND.
Trên cơ sở những ưu điểm, tồn tại trong công tác XLVPHC và QLNN đối với
XLVPHC, đề ra những cách thức, biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật
về XLVPHC, QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của đơn vị, địa bàn, địa phương, từng bước đưa
công tác QLNN đối với XLVPHC của ngành Công an vào nề nếp, nâng cao chất
lượng, hiệu lực, hiệu quả, góp phần bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng chống tội
phạm và các hành vi phạm pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về an ninh
và TTATXH.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước đối với
xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Khiếu nại, tố cáo về QLNN đối với XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH thuộc
phạm vi, chức năng QLNN của ngành Công an tức là khiếu nại, tố cáo những cơ quan,
cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Hoạt động giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND
phải bảo đảm tuân thủ những quy định hiện hành của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và
các văn bản hướng dẫn thi hành về khiếu nại, tố cáo.
Thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp
Công dân và các văn bản hướng dẫn thi hành, lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo Thanh tra
Bộ Công an và các đơn vị chức năng tập trung thực hiện tốt công tác tiếp công dân, rà
soát và giải quyết dứt điểm, nhanh chóng, kịp thời các vụ việc khiếu nại, tố cáo của
công dân về QLNN đối với XLVPHC thuộc phạm vi, chức năng quản lý của ngành
103
Công an nếu có, không để tình trạng tồn đọng, kéo dài. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị
số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao
hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thanh tra Bộ Công an cũng
tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo lực lượng thanh tra CAND trên toàn quốc
thực hiện tốt công tác tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý các đơn khiếu nại, tố cáo đúng
quy định, tập trung giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở, nhất là đối với
những vụ việc đông người, phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất trật tự an ninh,
TTATXH. Bộ Công an đã tham mưu, đề xuất Chính phủ ký ban hành Nghị định số
91/2013/NĐ-CP ngày 12/8/2013 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong CAND.
Theo đó, Bộ Công an ban hành Thông tư số 10/2014/TT-BCA ngày 04/3/2014 quy
định việc xử lý, giải quyết tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo trong CAND
làm cơ sở pháp lý để giải quyết kịp thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công
dân, trong đó có các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo liên quan đến QLNN đối với
XLVPHC thuộc phạm vi, chức năng của ngành Công an, không để phát sinh các
điểm nóng, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự.
3.2.4.2. Hạn chế của công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý vi phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực
tiễn ngành Công an nhân dân
Công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND hiện nay vẫn nghiêng về
kiểm tra và XLVPHC, chưa thực sự chú trọng đến công tác kiến nghị, đề xuất nhằm
hoàn thiện hơn chính sách, pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả về QLNN đối
với công tác này. Các kết quả của kiểm tra, thanh tra mới chỉ đưa ra được những hạn
chế, vướng mắc trong thực tế của từng vụ việc kiểm tra, thanh tra cụ thể, trong trách
nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của từng sự việc, vụ việc, mang tính chất đơn lẻ mà
chưa quan tâm đến việc tập trung đưa ra các giải pháp để thực hiện trong thực tế các
kết luận, kiến nghị của thanh tra Bộ Công an hoặc thanh tra địa phương.
Công tác tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết đơn thư khiếu
nại, tố cáo trong lĩnh vực này còn chậm, chất lượng chưa cao, nhiều vụ việc còn để tình
trạng tồn động, kéo dài, gây bức xúc cho quần chúng, nhân dân. Trên thực tế việc phối
104
hợp kiểm tra của các Bộ, ngành, địa phương khó triển khai thực hiện và chưa phổ
biến do chưa có hướng dẫn chung. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế hậu kiểm và xử lý
trách nhiệm sau kiểm tra nên nhiều trường hợp vi phạm được phát hiện chưa được
xử lý triệt để. Việc phát hiện các hành vi VPHC trong một số lĩnh vực còn hạn chế,
vì các cuộc thanh tra, kiểm tra được tiến hành theo một vài lĩnh vực cụ thể, tại các
thời điểm khác nhau trong khi công tác XLVPHC được tiến hành trên nhiều lĩnh
vực. Có những trường hợp khi phát hiện hành vi VPHC thì không xử phạt được do
đã hết thời hiệu xử phạt hoặc do cá nhân, tổ chức vi phạm cố tình trốn tránh để
không bị xử lý.
Công tác kiểm tra, hướng dẫn thi hành pháp luật về XLVPHC chưa được
thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, kịp thời và triệt để; Cán bộ, công chức chưa
được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ kiểm tra, nhất là nghiệp vụ kiểm tra chuyên
sâu; công tác hậu kiểm chưa được chú trọng thực hiện; một số đơn vị chưa nghiêm
túc trong việc khắc phục sai sót thông qua kết quả kiểm tra; chưa có cơ chế phối
hợp thanh tra, kiểm tra liên ngành; Luật Thanh tra 2010 quy định áp dụng chung đối
với thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Một số bước trong quy trình là
phù hợp với thanh tra hành chính nhưng lại không phù hợp với thanh tra chuyên
ngành, đặc biệt khi tiến hành thanh tra liên ngành, trên diện rộng.
3.3. Nguyên nhân
Thực hiện quy định của Luật XLVPHC và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP,
QLNN đối với XLVPHC trong ngành Công an được triển khai thực hiện kịp thời,
đồng bộ. Về cơ bản, văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC của ngành Công an
đã được ban hành tương đối đầy đủ và có hiệu lực thi hành. Luật XLVPHC, Nghị
Quyết số 24/2012/QH13, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Quyết định số 1950/QĐ-
TTg là cơ sở cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản
lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về XLVPHC của Bộ Tư pháp, của Bộ
Công an, trong đó có Công an các đơn vị, địa phương. Việc thực hiện một số nội
dung QLNN đối với XLVPHC của ngành Công an tại một số Công an đơn vị, địa
phương đã đem lại kinh nghiệm nhất định, tạo tiền đề cho triển khai công tác này
105
trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, QLNN đối với XLVPHC từ
thực tiễn ngành CAND cũng xuất hiện những tồn tại, khó khăn và vướng mắc cần
tiếp tục tổng hợp, nghiên cứu, đánh giá để xác định rõ nguyên nhân, từ đó đưa ra
các biện pháp cụ thể, góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an
ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và đấu tranh phòng,
chống có hiệu quả đối với VPHC, tội phạm trong thời kỳ mới.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có
những nguyên nhân cơ bản sau đây:
Một là, hệ thống văn bản pháp luật về XLVPHC chưa thực sự đồng bộ, có lúc, có
nơi còn chồng chéo, mâu thuẫn; cách hiểu và áp dụng pháp luật xử lý hành chính của các
cấp, các ngành chưa có sự thống nhất dẫn đến hiệu quả của QLNN đối với XLVPHC chưa
cao, đặc biệt là QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành CAND.
Luật XLVPHC đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013 (đối với các quy
định về xử phạt VPHC) và từ ngày 01/01/2014 (đối với các quy định về việc áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định).
Cùng với thời điểm có hiệu lực thi hành của Luật XLVPHC 2012, công tác tổ chức
thực hiện pháp luật về XLVPHC của ngành Công an được lãnh đạo Bộ Công an
quan tâm, chỉ đạo sát sao và có hướng dẫn cụ thể tới Công an các đơn vị, địa
phương trên mọi lĩnh vực thuộc thẩm quyền XLVPHC của ngành. Tuy nhiên, một
số văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật chưa được ban hành đồng
bộ làm cho các ngành chức năng lúng túng trong XLVPHC, nhất là trong việc thực
hiện các quy định của Luật về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác. Việc
áp dụng quy định của pháp luật để phát hiện, xử lý đối với một số hành vi vi phạm
theo quy định của pháp luật còn thiếu tính khả thi; năng lực nhận thức và áp dụng,
vận dụng pháp luật của một bộ phận cán bộ trực tiếp thực thi pháp luật còn hạn chế
đã làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả trong thi hành pháp luật, làm giảm tính răn
đe, giáo dục đối với các đối tượng vi phạm. Một số những lĩnh vực trong công tác
triển khai thực hiện pháp luật về QLNN của ngành Công an, mặc dù đã phát huy
106
hiệu quả, song vẫn còn không ít bất cập, vướng mắc.
Một số nghị định xử phạt VPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy quy
định mức phạt đối với hành vi VPHC quy định mức phạt đối với hành vi vi phạm
chưa phù hợp với thực tế, chưa đủ tính răn đe nên dẫn đến tình trạng người vi phạm
chấp nhận bị xử phạt hành chính chứ không thực hiện các biện pháp, yêu cầu mà
hành vi VPHC trong nghị định xử phạt VPHC bắt buộc phải thực hiện, ví dụ như:
xử phạt đối với hành vi “cơ sở thuộc diện phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mà
không mua theo quy định"; hoặc là trường hợp người vi phạm bị tạm giữ phương
tiện để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC, nhưng mức tiền phạt đối với
hành vi vi phạm có giá trị lớn hơn giá trị tài sản bị tịch thu nên người vi phạm
không chấp hành quyết định xử phạt VPHC (không đóng phạt)…
Trong lĩnh vực giao thông đường thủy, việc xử phạt VPHC cũng gặp nhiều
khó khăn do quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành còn chưa phù
hợp thực tiễn. Ví dụ: việc gửi quyết định xử phạt VPHC cho các cá nhân, tổ chức vi
phạm qua đường bưu điện (Điều 70 Luật XLVPHC) trong thời hạn 02 ngày làm
việc; tuy nhiên, thực tế thời gian qua chưa thực hiện được vì đa số người vi phạm
không có địa chỉ, nơi cư trú rõ ràng, phương tiện hành trình trên sông nước nhiều
ngày liền nên người vi phạm thường không có mặt tại nơi đăng ký thường trú…;
việc xử phạt vi phạm đối với một số trường hợp tước quyền sử dụng bằng, chứng
chỉ chuyên môn chưa mang lại tính hiệu quả, tính răn đe chưa cao do việc áp dụng
pháp luật giữa các địa phương chưa thống nhất.
Hai là, nhận thức về tầm quan trọng và nội dung của nhiệm vụ QLNN đối
với XLVPHC của ngành Công an còn chưa cao.
QLNN đối với XLVPHC của ngành Công an nói riêng và của các Bộ, ngành
nói chung là nhiệm vụ mới, lần đầu tiên được quy định tại Luật XLVPHC. Những
nội dung trọng tâm, cơ bản của nhiệm vụ này được quy định tại Chương II Nghị
định số 81/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, do đây là nhiệm vụ mới, việc nhận thức về tầm
quan trọng và nắm bắt đầy đủ nội dung quản lý thi hành pháp luật về XLVPHC của
Công an các đơn vị, địa phương và các cán bộ làm công tác XLVPHC còn hạn chế.
Thêm vào đó, do đây là lĩnh vực phức tạp, có phạm vi rộng, trong khi hiểu biết của
107
nhiều cán bộ về pháp luật XLVPHC nói chung và về nhiệm vụ quản lý công tác thi
hành pháp luật pháp luật về XLVPHC còn ở mức độ khiêm tốn. Điều này gây khó
khăn lớn cho việc triển khai công tác nói chung, cho việc tập trung nguồn lực, nhân
sự để triển khai nhiệm vụ nói riêng.
Việc thi hành quyết định xử phạt VPHC còn gặp nhiều khó khăn do một bộ
phận nhân dân thiếu hiểu biết pháp luật dẫn đến vi phạm còn xảy ra nhiều, coi
thường pháp luật, thường xuyên vi phạm, cố tình trì hoãn không chấp hành quyết
định xử phạt VPHC nhưng chưa có biện pháp chế tài thích hợp, chủ yếu là trong
lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, ví dụ như: người vi phạm khai báo không đúng
nơi cư trú nên dẫn đến khó khăn cho công tác xác minh; nhiều trường hợp đã được
tống đạt quyết định xử phạt và mời lên làm việc, đôn đốc nhiều lần nhưng có thái
độ chây ỳ, cố tình không chấp hành; đối tượng bị xử phạt bỏ địa phương đi đâu
không rõ, đối tượng ở ngoại tỉnh đến VPHC bị xử phạt nhưng không chịu chấp
hành, thậm chí, một số đối tượng VPHC còn có ý định chạy trốn, tiêu hủy tang vật,
phương tiện vi phạm khi có hành vi điều khiển phương tiện giao thông phóng
nhanh, vượt ẩu, chở quá số người quy định; gây rối trật tự công cộng, chống người
thi hành công vụ; trộm cắp tài sản; cố ý gây thương tích… Ngoài ra, còn có tình
trạng người vi phạm là người làm thuê ngoại tỉnh, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
không có tài sản để cưỡng chế thi hành quyết định. Công tác XLVPHC, cưỡng chế
hành chính chưa thật sự triệt để, còn bỏ sót hành vi vi phạm, áp dụng không đúng
quy định của pháp luật. Nhận thức pháp luật của một số cán bộ, công chức về quản
lý XLVPHC và theo dõi thi hành pháp luật còn hạn chế; cán bộ đầu mối phụ trách,
tham mưu của một số đơn vị còn thiếu.
Ba là, công tác phối hợp triển khai thực hiện pháp luật QLNN đối với
XLVPHC giữa các lực lượng chức năng của ngành Công an và giữa ngành Công an
với các bộ, ngành chức năng khác trong việc trao đổi thông tin, sử dụng lực lượng
phối hợp, đấu tranh, phòng, chống vi phạm pháp luật chưa chặt chẽ, nhiều thủ tục
bất cập.
Hiện nay, chưa có hướng dẫn thống nhất về việc xây dựng cơ sở dữ liệu về
XLVPHC ở địa phương, do vậy cơ chế chia sẻ và cung cấp thông tin về các đối
108
tượng VPHC còn có hạn, gây khó khăn trong việc xác định các trường hợp VPHC
nhiều lần, tái phạm để xem xét là tình tiết tăng nặng trong XLVPHC cũng như các
thông tin của người vi phạm nhằm tránh các trường hợp bị tạm giữ, tước quyền sử
dụng giấy phép ở địa phương này thì đến địa phương khác xin cấp lại dẫn đến hồ sơ
xử lý bị tồn đọng, đặc biệt là giấy phép lái xe,…;
Bốn là, các kết quả của kiểm tra, thanh tra QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
của ngành CAND mới chỉ đưa ra được những hạn chế, vướng mắc trong thực tế của
từng vụ việc kiểm tra, thanh tra cụ thể, trong trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
của từng sự việc, vụ việc, mang tính chất đơn lẻ mà chưa quan tâm đến việc tập trung
đưa ra các giải pháp để thực hiện trong thực tế các kết luận, kiến nghị của thanh tra Bộ
Công an hoặc thanh tra địa phương.
Việc phát hiện các hành vi VPHC về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
ngành CAND trong một số lĩnh vực còn hạn chế, vì các cuộc thanh tra, kiểm tra
được tiến hành theo một vài lĩnh vực cụ thể, tại các thời điểm khác nhau trong khi
công tác XLVPHC được tiến hành trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế
hậu kiểm và xử lý trách nhiệm sau kiểm tra nên nhiều trường hợp vi phạm được
phát hiện chưa được xử lý triệt để.
Năm là, các điều kiện bảo đảm thi hành pháp luật về XLVPHC còn khó
khăn, phương tiện công nghệ thông tin, phương tiện nghiệp vụ phục vụ cho công tác
phát hiện XLVPHC chưa được trang bị đầy đủ, chưa huy động được các nguồn lực
ngoài ngân sách nhà nước tham gia hỗ trợ cho công tác tổ chức thi hành pháp luật.
Cơ sở vật chất của TGD, CSGDBB còn thiếu, lạc hậu, đầu tư kinh phí cho ăn, ở,
sinh hoạt, giáo dục, học tập, dạy nghề, y tế… nhìn chung còn thấp so với mức sống
chung của xã hội. Đây là vấn đề cần được xem xét, giải quyết để có cơ chế pháp
luật và những điều kiện bảo đảm phù hợp với mục tiêu, nội dung, yêu cầu của các
biện pháp xử lý hành chính. Cơ quan quản lý công tác QLNN về thi hành pháp luật
về XLVPHC tại Công an các đơn vị, địa phương đang trong giai đoạn thành lập
hoặc bước đầu hoàn thiện tổ chức nhân sự. Trình độ của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ
trực tiếp thực hiện công tác XLVPHC tại Công an các đơn vị, địa phương không
đồng đều, kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế; thiếu về biên chế nên dẫn đến việc phát
109
hiện, điều tra, xử lý đối với các hành vi vi phạm chưa thực sự hiệu quả. Đây là khó
khăn, thách thức rất lớn bởi lẽ các cơ quan phải thực hiện nhiệm vụ mới trong bối
cảnh hầu hết các cơ quan chưa có đầu mối chịu trách nhiệm chính; các nhiệm vụ
liên quan đến công tác này đang có sự phân tán, trong đó có những nhiệm vụ chưa
thể triển khai thực hiện được như xây dựng và quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở dữ
liệu quốc gia về XLVPHC; thiết lập, duy trì hoạt động của Cổng thông tin điện tử
để tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị, kết quả giải quyết các vụ việc VPHC, thống
kê về XLVPHC; một số công việc mặc dù đã triển khai song kết quả còn rất hạn chế
như: xây dựng báo cáo công tác quản lý thi hành pháp luật về XLVPHC định kỳ 6
tháng và hàng năm, kiểm tra tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC, hướng dẫn
110
việc kiểm tra việc thực hiện pháp luật về XLVPHC.
Kết luận Chương 3
Trong Chương 3, Luận án đã đề cập đến thực trạng của QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công an; trên cơ sở phân tích số liệu thống kê,
tổng hợp về công tác QLNN đối với XLVPHC, Luận án đã phân tích, làm rõ những
vấn đề sau đây:
- Phân tích đặc điểm, tình hình có liên quan đến công tác QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công an.
- Thực trạng công tác QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công
an, gồm các nội dung như: thực trạng tổ chức bộ máy QLNN đối với XLVPHC của
ngành CAND; thực trạng công tác QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành
Công an.
- Đánh giá, nhận xét về kết quả và những tồn tại, khó khăn, vướng mắc phát
sinh trong công tác QLNN đối với XLVPHC của CAND, đồng thời, chỉ ra các
nguyên nhân của những tồn tại và khó khăn, vướng mắc này.
Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng tại Chương 3 là cơ sở để phân tích, dự
báo tình hình liên quan đến công tác QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của
ngành Công an và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
111
này trong thời gian tới được đề cập trong Chương 4 của Luận án.
Chương 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN
4.1. Dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với
xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
4.1.1. Những yếu tố có ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và
an toàn xã hội trong thời gian tới
Trong những năm tới, tình hình trong nước và trên thế giới sẽ tiếp tục có
những diễn biến phức tạp, có tác động không nhỏ đến tình hình chính trị, kinh tế và
xã hội của nước ta. Tình hình kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, TTATXH trong
nước vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, xuất hiện nhiều nhân tố tiêu cực ảnh
hưởng đến tình hình an ninh TTATXH. Nhà nước sẽ đẩy mạnh phát triển kinh tế
xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; theo đó, các khu công
nghiệp, các dự án sẽ phát triển, mở rộng, đất nước sẽ có cơ hội hội nhập sâu hơn,
toàn diện hơn với thế giới. Quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra nhiều việc làm cho công
nhân ở các khu công nghiệp, các dự án nhưng lại thu hẹp dần đất nông nghiệp dẫn
đến việc thiếu đất sản xuất nông nghiệp, dôi dư khối lượng lao động là nông dân,
lao động không có tay nghề, gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, mại
dâm, đặc biệt là việc phát sinh các tranh chấp đất đai, khiếu kiện, thậm chí phát sinh
những điểm nóng; tình trạng lạm phát, mất giá khó kiểm soát, phân tầng xã hội,
chênh lệch giàu nghèo, gia tăng phương tiện giao thông; Tình trạng suy giảm đạo
đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức thiếu gương mẫu, chạy chức,
chạy quyền; một bộ phận thanh thiếu niên phai nhạt lý tưởng, thực dụng, đua đòi,
ăn chơi; Công tác quản lý xã hội, quản lý tư tưởng của nhà nước đôi lúc, đôi nơi bị
buông lỏng, bất cập trong chính sách và năng lực quản lý; hệ thống pháp luật nói
chung còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu sự phân cấp, phân quyền rõ ràng, rành
112
mạch; pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế…
Việc sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức theo hướng cải cách hành chính trên
phạm vi nhiều bộ, ngành, địa phương trong đó có việc kiện toàn, sắp xếp lại bộ máy
của Bộ Công an trong thời gian vừa qua cũng có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt
động QLNN đối với XLVPHC của ngành Công an do phải cần có một thời gian
nhất định để ổn định tổ chức, ổn định lực lượng. Việc sáp nhập, tách, chuyển chức
năng, tên gọi của một số lực lượng và đơn vị của ngành đã có nhiều ảnh hưởng trực
tiếp đến công tác XLVPHC và QLNN đối với XLVPHC của ngành CAND.
4.1.2. Dự báo tình hình vi phạm hành chính và quản lý nhà nước đối với
xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân thời gian tới
Tình hình VPHC tuy đã được kiềm chế, song sẽ vẫn diễn ra phổ biến, phức
tạp và có dấu hiệu gia tăng theo chiều hướng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, việc gia
tăng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, trong đó có một số lượng không
nhỏ là các phương tiện đã qua sử dụng nhiều năm, cũ nát, không bảo đảm yêu cầu
về tiêu chuẩn tham gia giao thông, hệ số an toàn thấp; cơ sở hạ tầng giao thông
đường bộ đã xuống cấp do sử dụng nhiều năm... Mặt khác, pháp luật về bảo đảm an
toàn giao thông, xử lý các hành vi VPHC trong lĩnh vực giao thông tuy đã được chú
trọng bổ sung, sửa đổi nhưng chưa đầy đủ, thiếu tính cụ thể và đồng bộ; công tác
tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về giao thông, công tác đào tạo, sát
hạch lái xe còn nhiều hạn chế; ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của người
dân chưa cao, nạn kẹt xe, tắc đường làm mất trật tự an toàn đô thị và gia tăng nguy
cơ mất an toàn giao thông vẫn thường xuyên và tiếp tục diễn ra ở các đô thị, thành
phố, thậm chí là ở nông thôn, đặc biệt là đối với một số thành phố lớn như Hà Nội,
Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ,…; nhu cầu sử dụng năng lượng
điện, nhiên liệu khí đốt ngày càng nhiều kéo theo sự gia tăng các nguy cơ tiềm ẩn
về cháy, nổ, …
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức tự
giác chấp hành pháp luật của người dân tuy đã được các cấp, các ngành tổ chức
thực hiện nhưng chưa được quan tâm đúng mức, chưa được thực hiện thường
113
xuyên, liên tục nên một bộ phận người dân còn chưa hiểu rõ được các quy định
pháp luật của nhà nước, chưa nhận thức đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong
việc tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật. Pháp luật về XLVPHC trong thời gian
tới sẽ có nhiều thay đổi, bổ sung. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
XLVPHC năm 2012 sẽ có hiệu lực thi hành vào 01/01/2022, vì vậy, hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật XLVPHC cũng phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban
hành mới theo các nội dung của Luật sửa đổi cho phù hợp, đặc biệt là hệ thống văn
bản pháp luật về XLVPHC liên quan đến QLNN đối với XLVPHC của ngành Công
an. Theo đề nghị của Bộ Tư pháp với Chính phủ, trong tổng số 37 Nghị định về
XLVPHC thuộc các lĩnh vực phải sửa đổi, bổ sung, ban hành mới theo Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật XLVPHC năm 2012, có 13 Nghị định sửa đổi, bổ
sung; 16 Nghị định thay thế; 08 Nghị định ban hành mới.
Riêng Bộ Công an có 07 Nghị định có liên quan trực tiếp đến XLVPHC cần
phải sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật XLVPHC năm 2012. Theo đó, Bộ Công an cần tiến hành rà
soát hệ thống các thông tư, văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC theo thẩm
quyền của ngành Công an để sửa đổi, bổ sung, thay thế và ban hành mới cho phù
hợp với các quy định mới của Luật và các Nghị định; đồng thời, Bộ Công an còn
phải tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn cho phù hợp với mô hình
mới về bộ máy, tổ chức của toàn ngành CAND. Các văn bản pháp luật mới về
QLNN đối với XLVPHC của ngành CAND sẽ xây dựng theo hướng bổ sung, luật
hóa các hành vi vi phạm pháp luật hành chính mới xuất hiện, bổ sung đầy đủ các
chế tài, trình tự, thủ tục xử phạt đối với các hành vi vi phạm; các hành vi VPHC
trước đó còn quy định chung chung sẽ được mô tả lại cho cụ thể hơn; phân định rõ
thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền quản lý, thẩm quyền xử
phạt VPHC nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng CAND thực hiện tốt hơn
nữa nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Dự báo trong thời gian tới, tình hình VPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự và
an toàn xã hội sẽ tăng theo chiều hướng ngày càng phức tạp do tác động của các yếu
114
tố chính trị, xã hội nêu trên, trong đó, có khả năng sẽ tập trung vào một số lĩnh vực:
- Lĩnh vực trật tự an toàn giao thông: VPHC trong lĩnh vực giao thông xảy
ra chủ yếu vẫn là các hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định; đi không
đúng làn đường, phần đường; tránh, vượt, dừng, đỗ xe không đúng quy định; chở
quá số người quy định, chở quá tải trọng; điều khiển phương tiện tham gia giao
thông khi đã sử dụng rượu, bia; điều khiển xe mô tô, xe máy không đội mũ bảo
hiểm; vi phạm quy định về đăng ký, quản lý phương tiện giao thông; chiếm dụng
lòng đường, vỉa hè trái phép để buôn bán hoặc làm nơi trông giữ xe; vi phạm hành
lang an toàn giao thông; mở đường ngang trái phép, vi phạm các quy định về kinh
doanh vận tải đường sắt, điều kiện kinh doanh đường sắt; đi sai luồng, lạch, chở quá
tải, thuyền viên, người lái phương tiện không có bằng, giấy chứng nhận khả năng
chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn phù hợp; phương tiện thủy không đăng ký,
đăng kiểm theo quy định; khai thác cát, sỏi, hoặc khoáng sản khác trong phạm vi
hành lang bảo vệ luồng, trong phạm vi luồng không đúng quy định theo giấy phép
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tài nguyên,…
- VPHC trong lĩnh vực quản lý hành chính về TTATXH:
VPHC được dự đoán sẽ xảy ra nhiều và có xu hướng tăng ở nhóm hành vi vi
phạm về quản lý ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự,
trong đó tập trung vào một số ngành nghề tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra vi phạm
như kinh doanh dịch vụ cầm đồ, dịch vụ xoa bóp, kinh doanh trò chơi điện tử có
thưởng, dịch vụ đặt cược, dịch vụ karaoke, vũ trường, kinh doanh các ngành, nghề
sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ; vi phạm về trật tự công cộng,
trật tự đô thị, vi phạm các quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung,…
VPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy: Các hành vi vi phạm phổ biến
xảy ra trong lĩnh vực này là vi phạm về nội quy, thiết bị phòng cháy, chữa cháy;
khoảng cách an toàn về phòng cháy, chữa cháy, ngăn cháy; vi phạm quy định về
phòng cháy, chữa cháy trong đầu tư xây dựng; đưa nhà, công trình vào hoạt động,
sử dụng khi chưa tổ chức nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy; thi công, lắp đặt
không đúng theo thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đã được cơ quan có thẩm
115
quyền duyệt; thoát nạn trong phòng cháy, chữa cháy; vi phạm quy định về tổ chức
thực tập phương án chữa cháy, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy, bảo
quản và sử dụng phương tiện phòng cháy, chữa cháy,…
Đối với ngành CAND, QLNN đối với XLVPHC trong thời gian tới sẽ chịu
sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố sau:
QLNN đối với xử lý vi phạm hành từ thực tiễn của ngành Công an là hoạt
động có nhiều nội dung được thực hiện ở tất cả các cấp Công an. Mặc dù Luật xử lý
vi phạm hành đã có hiệu lực thi hành được hơn 8 năm, nhưng thực tiễn triển khai
còn nhiều lúng túng. Ngoài cơ quan chuyên trách được thành lập ở Cục Pháp chế và
cải cách hành chính, tư pháp (Phòng 6) để thực hiện nhiệm vụ này thì ở Công an các
đơn vị, địa phương đều chưa có tổ chức hay cán bộ chuyên trách để giúp Thủ
trưởng thực hiện chức năng theo dõi, QLNN về QLNN đối với xử lý vi phạm hành
từ thực tiễn của ngành Công an. Thời gian tới, trong điều kiện thắt chặt về tổ chức
và biên chế theo chủ trương của nhà nước và Bộ Công an thì việc tăng cường đội
ngũ làm công tác này sẽ rất khó khăn và chưa thể kiện toàn ngay được.
Cùng với yếu tố con người thì việc bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ
thuật có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác QLNN đối với XLVPHC từ thực
tiễn của ngành Công an, đặc biệt là hoạt động thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về
XLVPHC. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2016/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu
quốc gia về XLVPHC. Tuy nhiên, việc triển khai Nghị định này đến các bộ, ngành,
địa phương đòi hỏi phải có nguồn lực rất lớn mới có thể thực hiện và duy trì được.
Bên cạnh đó, thời gian qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy
định của pháp luật chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục đến mọi tầng lớp
nhân dân ở địa phương, nên một bộ phận người dân chưa hiểu rõ được các quy định
của pháp luật về ANTT, ATXH, chưa nhận thức đầy đủ vị trí, tầm quan trọng của
việc bảo đảm ANTT, ATXH, cũng như trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong công tác này mà chỉ hiểu đơn thuần công tác bảo đảm ANTT, ATXH là trách
nhiệm của Nhà nước và trực tiếp, nòng cốt là của lực lượng CAND. Vì vậy, cần
phải nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi quy định của pháp luật, trong đó có quy
định của pháp luật về XLVPHC nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của tổ chức, cá
116
nhân, phòng, ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm ANTT, ATXH. Tình hình nói trên
sẽ có những tác động nhất định đến QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành
Công an trong thời gian tới.
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Bộ Công an đã thay đổi theo quy định của Nghị
định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Theo đó, tổ chức bộ máy của Bộ Công an được
xây dựng theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”; trong
đó, không tổ chức cấp tổng cục, sắp xếp và thu gọn đầu mối các đơn vị thuộc Bộ,
các đơn vị cấp phòng, cáp đội, sáp nhập 20 Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương vào Công an cấp tỉnh,.. bảo đảm mô hình tổ chức
bộ máy mới gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả.
Lực lượng chủ yếu làm nhiệm vụ XLVPHC trong ngành CAND là lực lượng
Cảnh sát cũng có rất nhiều thay đổi về mô hình, tổ chức: Ở Bộ sáp nhập Cục Cảnh
sát đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư vào Cục CSQLHC về
TTXH; thu gọn đầu mối cấp phòng ở các Cục (giao thông, phòng cháy, chữa cháy
và cứu nạn, cứu hộ).
Ở địa phương, sáp nhập CSPCCC và CNCH vào Công an cấp tỉnh thành
Phòng CSPCCC và CNCH thuộc Công an cấp tỉnh; sáp nhập Phòng Cảnh sát
đường thủy vào Phòng CSGT đường bộ - đường sắt; thu gọn đầu mối các đội thuộc
phòng và thuộc công an cấp huyện… Với việc thu gọn tổ chức bộ máy như trên thì
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng này cũng có nhiều thay đổi, các
chức danh thuộc lực lượng Cảnh sát cũng thay đổi theo (thay đổi theo tên gọi, thay
đổi chức danh mới do đơn vị sáp nhập, chia tách), trong khi đó, pháp luật về
XLVPHC chưa kịp điều chỉnh theo. Điều này sẽ dẫn đến việc có những ảnh hưởng
lớn đến hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH, đặc biệt trong việc áp dụng
thẩm quyền xử phạt VPHC, phân công, phân cấp thẩm quyền xử phạt VPHC.
4.2. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm
hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
4.2.1. Đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng về mọi mặt về
quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động QLNN được ghi nhận thành một
117
nguyên tắc cơ bản, hàng đầu trong quản lý hành chính nhà nước. Khoản 1 Điều 4
Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của
giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân
tộc Việt Nam, đại biểu trung thành của nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực
lượng lãnh đạo xã hội”.
Đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng về mọi mặt về QLNN đối
với XLVPHC là bảo đảm sự lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với các hoạt động
QLNN trong lĩnh vực này. Mọi hoạt động QLNN đối với XLVPHC đều đặt dưới sự
quản lý của nhà nước, nhưng mọi hoạt động của nhà nước cũng là sự thể chế hóa
đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng thành hệ thống pháp luật, chiến lược,
chương trình nhằm mục đích bảo đảm sự ổn định xã hội, bảo đảm kỷ cương,
TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng chống có hiệu
quả VPHC và vi phạm hình sự. Cần nhấn mạnh rằng, việc ghi nhận sự lãnh đạo
tuyệt đối của Đảng về QLNN đối với XLVPHC không đồng nghĩa với việc thừa
nhận sự can thiệp của các tổ chức Đảng vào các hoạt động chuyên môn của các cơ
quan nhà nước trong lĩnh vực này. Sự lãnh đạo của Đảng trong QLNN đối với
XLVPHC chỉ là sự định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối quan điểm, chủ
trương, chính sách và công tác tổ chức trong lĩnh vực XLVPHC.
Hệ thống pháp luật về XLVPHC luôn được xây dựng trên cơ sở các quan
điểm chỉ đạo của Đảng, là sự thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về
cải cách hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính được xác đinh
rõ trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết số 48/NQ-
TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xay dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-
TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
theo hướng: “Hình thành cơ chế pháp lý để Chính phủ thực hiện quyền yêu cầu xem
xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát hiện trong
quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật”; “tạo điều kiện thuận lợi cho người
dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của công dân và cơ quan công quyền
118
trước Tòa án”. Pháp luật về XLVPHC, QLNN đối với XLVPHC phải được quy
định một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề về XLVPHC, bảo đảm kế thừa những
quy định pháp luật đã được kiểm nghiệm trong thực tế, khắc phục một cách cơ bản
những hạn chế, bất cập, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách bộ máy nhà nước.
Cùng với sự phát triển, đổi mới về nhận thức, tư duy lý luận về bảo vệ an
ninh quốc gia không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, lực lượng CAND đã tham
mưu Ban Chấp hành T.Ư Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều nghị
quyết, chỉ thị, kết luận về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác bảo vệ
an ninh quốc gia trong tình hình mới. Ðồng thời, phối hợp với các ban, bộ, ngành,
địa phương tham mưu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ và các cơ quan thẩm quyền hoạch định chiến lược xây dựng, hoàn
thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ Tổ quốc nói chung, bảo vệ an ninh quốc gia
nói riêng, tạo cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc cho thực tiễn; Quán triệt, thể chế
hóa quan điểm, đường lối của Ðảng, các quy định của Hiến pháp, pháp luật về bảo
đảm an ninh, trật tự, lực lượng CAND đã chủ động nắm tình hình, xây dựng các
phương án, kế hoạch triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, tạo thế chủ động chiến
lược từ xa, từ sớm, từ cơ sở. An ninh các vùng chiến lược được giữ vững ổn định
phục vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân. Các vấn đề an ninh xã hội, an ninh tôn giáo, dân tộc, an ninh văn hóa
- tư tưởng, an ninh thông tin, truyền thông, an ninh mạng được quan tâm giải quyết
thỏa đáng, không để các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng kích động, lôi kéo
người dân tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự. Việc nhận diện, phòng ngừa,
giải quyết các xung đột xã hội trong nội bộ nhân dân, ở cơ sở, nhất là tại các địa bàn
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo được chú trọng; quyền
con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được tôn trọng, bảo đảm thực
hiện tốt hơn.
Vai trò lãnh đạo của Đảng trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ, tổ chức bộ máy của ngành CAND,
cụ thể: Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành
119
Trung ương Đảng khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ
thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Đảng ủy Công an Trung
ương đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành nghiên cứu xây dựng Đề án “Một số
vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động
hiệu lực, hiệu quả” (Đề án 106). Quá trình nghiên cứu xây dựng Đề án 106, Đảng
ủy Công an Trung ương đã bám sát, cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về xây
dựng tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại; quán triệt sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư, tranh thủ tối đa ý kiến của cấp ủy các địa phương; đồng thời, huy động sự
vào cuộc của toàn lực lượng CAND, lãnh đạo chủ chốt và cán bộ lão thành. Đổi
mới, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với sắp xếp lại đội ngũ cán bộ là vấn đề lớn,
công việc hệ trọng, phức tạp và nhạy cảm, tác động trực tiếp đến tư tưởng cán bộ
chiến sĩ và nhiều mặt công tác Công an. Quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy
đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề đặt ra: Sắp xếp tổ chức không làm ảnh hưởng
đến chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và nhiệm vụ chung; tinh gọn bộ máy
nhưng vẫn phải bảo đảm đủ nguồn lực để giải quyết công việc; không làm gián
đoạn, không gây xáo trộn trong thực hiện nhiệm vụ của Công an các cấp; bảo đảm
ổn định tư tưởng, tâm lý của cán bộ chiến sĩ...
Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng về QLNN đối với XLVPHC từ thực
tiễn ngành CAND còn được thể hiện ở việc chỉ đạo Đảng ủy các cấp trong ngành
Công an tiến hành kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng trong hoạt động QLNN đối với lĩnh vực này, nhằm đánh giá tính hiệu quả,
tính thực tế của các chính sách mà Đảng đã đề ra, chỉ đạo. Có thể khẳng định rằng,
sau hơn 02 năm thực hiện tinh gọn bộ máy của ngành Công an theo chỉ đạo của
Đảng, việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, tập trung, thống
nhất, chuyên sâu, không chỉ khắc phục được tình trạng cồng kềnh về tổ chức bộ
máy, trùng giẫm về chức năng, nhiệm vụ và sự chia cắt về địa bàn, lĩnh vực quản lý
mà còn tạo cơ sở cho việc điều chỉnh, bố trí lại lực lượng, sắp xếp cán bộ, cơ cấu
biên chế trong nội bộ Bộ Công an một cách hợp lý. Trong quá trình đổi mới, sắp
xếp tổ chức bộ máy, Đảng ủy Công an Trung ương luôn tuân thủ nguyên tắc bảo
120
đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng CAND;
thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công tâm; lắng nghe, tiếp
thu những ý kiến đóng góp xác đáng. Đó còn là quyết tâm chính trị cao, đoàn kết,
thống nhất, chung sức, đồng lòng của toàn lực lượng CAND. Trong đó, sự thống
nhất cao về tư tưởng và hành động của lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ CAND là
yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng.
4.2.2. Quán triệt quan điểm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động
theo tinh thần đề cao quyền tự chủ của nhân dân, trong đó quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thừa nhận vị trí tối
thượng của Hiến pháp và luật trong đời sống xã hội. Nhà nước tổ chức và hoạt động
trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật; thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong mối quan
hệ giữa nhà nước và công dân, Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các
quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội theo
Hiến pháp và pháp luật. Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức
và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp
luật”. Đây là quy định mang tính nguyên tắc và là nền móng pháp lý cho việc xây
dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc pháp
chế xã hội chủ nghĩa trong QLNN nói chung và QLNN đối với XLVPHC nói riêng.
Chính vì vậy, cần tăng cường QLNN đối với XLVPHC, thường xuyên quán triệt và
bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng, phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ
chính trị đối với từng giai đoạn cánh mạng Việt Nam. Tăng cường QLNN đối với
XLVPHC là một trong những nội dung của cải cách hành chính, cải cách bộ máy
nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trước những đòi hỏi của tình hình mới, QLNN đối với XLVPHC nói chung
và QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành Công an nói riêng cần phải tiếp tục
đổi mới một cách toàn diện, đẩy nhanh tiến độ cải cách hành chính, xây dựng cơ
chế quản lý thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về QLNN đối
121
với XLVPHC, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục hành chính. Theo đó, thực hiện
chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ “Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”, Bộ Công an đã kịp thời ban hành
“Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, định
hướng giai đoạn 2021 -2030 trong CAND”. Theo báo cáo tổng kết của Bộ Công an,
sau 10 năm triển khai thực hiện, công tác cải cách hành chính của lực lượng CAND
đã có bước chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đáp ứng được
những yêu cầu cơ bản của nền hành chính hiện đại. Công tác kiểm soát thủ tục hành
chính được đẩy mạnh; Bộ Công an đã ban hành 14 quyết định công bố thủ tục hành
chính trên các lĩnh vực QLNN về an ninh, trật tự, chuẩn hóa dữ liệu của 293 thủ tục
hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết; cắt giảm, đơn giản hóa 139 thủ tục hành
chính. Trong thời gian tới, ngành CAND tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế trong
CAND đảm bảo giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội để phục vụ hiệu
quả cho việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính và kiểm soát thủ tục hành chính; xây dựng giải pháp đồng bộ ứng dụng công
nghệ thông tin trong CAND để đáp ứng yêu cầu của Chính phủ điện tử và công dân,
doanh nghiệp điện tử.
Việc quán triệt quan điểm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa trong QLNN đối với XLVPHC, ngành Công an, với vai trò, chức
năng, nhiệm vụ chính là bảo đảm an ninh, TTATXH còn phải thực hiện tốt công tác
phối hợp giữa lực lượng Công an các cấp với các ban, ngành đoàn thể trong lĩnh
vực QLNN đối với XLVPHC, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật, tăng cường triển khai các biện pháp phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm
các hành vi VPHC.
4.2.3. Quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính phải hướng đến
phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mở rộng quyền dân chủ,
nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, giữa công dân với Nhà
nước, luôn được Đảng ta dành sự quan tâm đặc biệt. Nhiều Hội nghị của Trung
122
ương Đảng đề cập đến vấn đề này như văn kiện đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X
và nhiều Nghị quyết trung ương khác. Văn kiện Đại hội Đảng VI xác định: Xây
dựng một chính quyền không có đặc quyền, đặc lợi, hoạt động vì cuộc sống của
nhân dân. Nghị quyết trung ương 8 khoá VII xác định trên nguyên tắc: dân chủ xã
hội chủ nghĩa là vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước ta. Phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trên mọi lĩnh vực; quyền làm chủ đó được thể chế hoá bằng pháp luật;
dân chủ đi đôi với kỷ cương, kỷ luật. Văn kiện Đại hội Đảng IX xác định rõ những
phương châm cơ bản: xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm: “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước; thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại
diện (là cơ quan dân cử và các đoàn thể), làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân
dân tự quản, bằng việc xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước tại cơ sở.
Nhiệm vụ giữ gìn và bảo đảm an ninh trật tự và TTATXH, giữ ổn định
chung để phát triển xã hội thuộc về trách nhiệm của các cấp, các ngành và các cá
nhân công dân. QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là một trong
những mắt xích quan trọng trong công tác này. Để thực hiện tốt nhiệm vụ nhiệm vụ
này, các cấp, các đơn vị nghiệp vụ của ngành Công an cần tập trung tăng cường lực
lượng hướng về cơ sở, cần trực tiếp gần dân hơn nữa, thực hiện tốt công tác tuyên
truyền, giáo dục pháp luật, vận động quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào
công tác QLNN đối với XLVPHC, xây dựng tốt phong trào toàn dân bảo vệ an ninh
tổ quốc, góp phần giữ gìn TTATXH cấp cơ sở. Cùng với đó, ngành Công an, các
cấp, các ngành có trách nhiệm trong QLNN đối với XLVPHC cần tạo điều kiện để
nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình trong việc tổ chức thực hiện pháp luật
về XLVPHC, tham gia vào công tác QLNN của lĩnh vực này bằng các hình thức
trực tiếp hoặc gián tiếp. Theo đó, nhân dân có thể phát huy quyền làm chủ của mình
thông qua các hoạt động tự quản ở cơ sở, ở nơi cư trú, sinh hoạt hoặc làm việc, học
tập như tham gia vào bảo vệ an ninh trật tự, tổ chức đời sống công cộng, vệ sinh
môi trường, phòng cháy, chữa cháy,…và tự mình thực hiện quyền tham gia QLNN,
quản lý xã hội của người dân mà pháp luật đã quy định, bảo đảm quyền làm chủ của
123
người dân thực sự được tôn trọng trong thực tế và bảo đảm thực hiện.
4.2.4. Bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ
có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đối ngoại rộng mở
của Đảng và nhà nước
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều phức tạp, quan điểm của Đảng
và nhà nước ta là phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự,
an toàn xã hội. Nhận thức rõ điều này, bên cạnh việc chủ trương kết hợp có hiệu quả
giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa; kết hợp giữa phát triển kinh tế với phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh,
đối ngoại, thì việc đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", hoạt động
phá hoại, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bước đầu đối phó có hiệu
quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội
phạm, giữ ổn định xã hội nhằm phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội và chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng và nhà nước đồng thời được xác
định là nhiệm vụ quan trọng của mọi hoạt động QLNN, trong đó có QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
Quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của
Nhà nước nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc, phục vụ
có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đối ngoại rộng mở của
Đảng trong QLNN đối với XLVPHC, các cấp ủy, chính quyền, các đơn vị, địa
phương cần phải có những giải pháp mang tính chiến lược, với mục tiêu trọng yếu
là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của hệ thống chính trị, tranh
thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh
bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,
bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi
mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo
vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh
124
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nêu trên, QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
ngành CAND cần tiếp tục quán triệt, bám sát sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi
mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Các cấp, các ngành
và địa phương trên toàn quốc, đặc biệt là ngành Công an phải tập trung đẩy mạnh
công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và
từng người dân đối với nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự và TTATXH, bảo vệ Tổ
quốc; thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, lực lượng vũ
trang làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật về XLVPHC; hoàn thiện cơ chế, chính sách QLNN đối với
XLVPHC nhằm góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh,
trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh
phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC, tội phạm trong thời kỳ mới, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả QLNN trong lĩnh vực XLVPHC; tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận tiện
cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc
tế, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong
giai đoạn phát triển mới.
4.3. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi
phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Trong thời gian tới, trật tự, cục diện thế giới tiếp tục có những diễn biến
phức tạp, khó dự báo; hòa bình, hợp tác, phát triển gặp nhiều trở ngại. Chiến tranh
cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố quốc tế; chủ nghĩa ly khai, cường
quyền, bảo hộ, dân túy; xu hướng tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia, dân tộc; các vấn đề
an ninh phi truyền thống, nhất là ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, thảm họa tự nhiên,
mặt trái của cách mạng công nghệ thông tin, sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa
các nước lớn gây sức ép lên hệ thống thể chế, cấu trúc an ninh, chính trị, kinh tế thế
giới; tình hình Biển Ðông tiềm ẩn nguy cơ căng thẳng, xung đột.
Ở trong nước, các yếu tố gây bất ổn còn tiềm ẩn, các thế lực thù địch, phản
125
động tăng cường chống phá với những phương thức, thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo
quyệt và manh động, nguy hiểm. Ranh giới giữa an ninh truyền thống và an ninh
phi truyền thống có thể tác động, chuyển hóa lẫn nhau; tình hình trật tự, an toàn xã
hội, hoạt động của tội phạm có những diễn biến mới, phức tạp, đe dọa trật tự, kỷ
cương xã hội, có thể chuyển hóa thành vấn đề an ninh quốc gia hoặc ngược lại.
Nhiều vướng mắc cản trở việc kết hợp giữa kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng,
an ninh chưa được nhận diện đầy đủ và kịp thời tháo gỡ; một số mâu thuẫn, xung
đột xã hội chậm được nhận diện, giải quyết. Bối cảnh tình hình nêu trên đòi hỏi cần
phải có một hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ
thực tiễn ngành CAND mới có thể đáp ứng yêu cầu ổn định xã hội, bảo đảm trật tự,
kỷ cương quản lý hành chính nhà nước, giữ gìn an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các vi phạm
pháp luật về hành chính trong điều kiện hội nhập quốc tế,….
Đề tài luận án xin đề xuất một số giải pháp chủ yếu, trọng tâm sau đây:
4.3.1. Tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an
nhân dân
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC, QLNN đối với
XLVPHC dần được hoàn thiện, có tính khả thi trong thực tiễn, bảo đảm tính công
khai, minh bạch, phát huy được vai trò là công cụ pháp lý hữu hiệu góp phần giữ
gìn an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh
phòng, chống có hiệu quả các vi phạm pháp luật về hành chính, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương. Tuy nhiên, so với
yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, hệ thống pháp luật về XLVPHC, QLNN đối
với XLVPHC vẫn còn một số quy định chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho
nhân dân khi thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình cũng như bảo đảm yêu cầu QLNN
đối với lĩnh vực này. Vì vậy, tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật về QLNN đối với XLVPHC trong giai đoạn hiện nay nhằm hoàn thiện cơ
sở pháp lý, bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức; đồng
126
thời, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác QLNN về XLVPHC, góp phần giữ vững
an ninh trật tự, TTATXH trong tình hình mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần
thiết. Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND cần tập trung theo hướng sau:
Một là, việc tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND cần quán triệt và bám sát các
quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp
luật, thực hiện quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; quán triệt, thể chế hóa quan
điểm, đường lối của Ðảng, các quy định của Hiến pháp, pháp luật về bảo đảm an ninh,
trật tự; bảo đảm thực hiện theo đúng quy định, trình tự xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật theo quy định của Luật xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Cùng với sự phát triển, đổi mới về nhận thức, tư duy lý luận về bảo vệ an
ninh quốc gia, TTATXH không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, lực lượng CAND
trong thời gian tới cần chủ động hơn nữa trong việc tham mưu Ban Chấp hành
Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết
luận về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia,
bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội trong tình hình mới. Ðồng thời, phối hợp
với các ban, bộ, ngành, địa phương tham mưu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan thẩm quyền xây dựng, hoàn
thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn an ninh trật tự và
TTATXH, đổi mới cơ chế QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
Hai là, việc tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND phải phát huy được tối đa
sức mạnh tổng hợp của toàn dân, huy động trí tuệ của các tầng lớp nhân dân trong
việc đóng góp ý kiến, tham gia thảo luận xây dựng các văn bản pháp luật về
XLVPHC, QLNN đối với VPHC, thực hiện mục tiêu Nhà nước bảo đảm và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân theo tiêu chí “điều kiện tự do của mỗi người là
điều kiện tự do cho tất cả mọi người”; dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; bảo
127
đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định,
những văn bản pháp luật về XLVPHC liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân
dân, đảm bảo tính khả thi của pháp luật XLVPHC trong thực tiễn. Điều này còn thể
hiện nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội trên tinh thần phát huy dân chủ cần phải
tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, giữ vững kỉ
cương, kỷ luật và đề cao đạo đức xã hội.
Ba là, việc tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND cần đảm bảo tính kế thừa
những quy định về XLVPHC đã được kiểm nghiệm trong thực tế, khắc phục một
cách cơ bản những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật XLVPHC hiện hành
thông qua việc tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về XLVPHC trong
những năm vừa qua, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu
cầu cải cách bộ máy nhà nước và đặc biệt, cần tham khảo một cách có chọn lọc kinh
nghiệm lập pháp của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đồng thời, nội luật
hóa kịp thời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ
mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế như Công ước của Liên hợp
quốc về quyền trẻ em, các công ước về quyền con người năm 1966 (Công ước quốc
tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân
sự, chính trị).
Bốn là, một số văn bản pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, xây dựng và ban hành
mới nhằm đáp ứng yêu cầu của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND
trong thời gian tới cần tập trung theo hướng quy định rõ về thẩm quyền XLVPHC
của ngành CAND trong từng lĩnh vực thuộc chức năng, phạm vi QLNN giao cho
ngành Công an; quy định rõ về nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC của ngành Công
an và các nội dung của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, trong
đó chú trọng đến công tác tổ chức thực hiện pháp luật XLVPHC, tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật XLVPHC, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý các vi phạm pháp luật hành chính,…
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC năm 2012 đã được
128
Quốc Hội khóa XIII thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022 (Luật sửa
đổi, bổ sung Luật XLVPHC). Nội dung của Luật sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC
có nhiều quy định mới liên quan đến thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt VPHC và
biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
VPHC, thẩm quyền áp dụng các BPXLVPHC, thẩm quyền áp dụng các biện pháp
ngăn chặn và bảo đảm XLVPHC của ngành CAND; các quy định về QLNN, quan
hệ phối hợp giữa ngành CAND với các cơ quan chức năng, các chức danh có thẩm
quyền XLVPHC của các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp… Chính vì vậy, Bộ
Công an cần chỉ đạo các đơn vị chức năng của Bộ khẩn trương rà soát, tham mưu và
đề xuất với cấp có thẩm quyền để tiến hành sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật XLVPHC thuộc phạm vi, chức ngăn QLNN của ngành
CAND theo hướng giảm tối đa những thủ tục hành chính không cần thiết, bảo đảm
yêu cầu cải cách hành chính, xác định rõ thẩm quyền của từng chức danh, phân định
rõ trách nhiệm của các cơ quan trong QLNN đối với XLVPHC trong lĩnh vực an
ninh trật tự, an toàn xã hội; quy định cụ thể trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các
cơ quan, chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC với nhau và với cơ quan có liên
quan, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật hành chính;
xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời tạo điều kiện
cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình theo
quy định của pháp luật XLVPHC. Cụ thể:
- Về Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt VPHC
trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo (sửa đổi, bổ sung theo Nghị
định 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017, Nghị định 45/2019/NĐ-CP ngày 21/5/2019
và Nghị định 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019), cần nghiên cứu, rà soát, sửa đổi
theo hướng bổ sung các quy định xử phạt hành chính đối với các hành vi: Tổ chức
lễ hội bán vé, thu tiền tham gia lễ hội; Sử dụng bài hát không được phép phổ biến,
lưu hành; Cung cấp dịch vụ vũ trường cho người chưa đủ 18 tuổi; Quảng cáo có nội
dung hướng dẫn, huấn luyện, tổ chức huấn luyện trái phép cách thức chế tạo, sản
xuất, sửa chữa vũ khí, vật liệu nổ hoặc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ; Quảng cáo có
129
nội dung huy động vốn trái phép.
- Về Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt VPHC
trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 124/2015/NĐ-CP ngày
19/11/2015 và Nghị định 141/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018) cần tiến hành nghiên
cứu, sửa đổi theo hướng bổ sung các quy định xử phạt VPHC về các hành vi vận
chuyển hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, gây khó khăn trong quá trình xử lý vi
phạm; hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm không thống nhất
với quy định của Bộ luật hình sự. Cụ thể, khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất,
buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm. Như vậy, cùng một hành vi mà pháp luật
quy định vừa bị xử phạt hành chính và vừa bị xử lý hình sự; Hành vi khai thác cát
(khoáng sản) trong phạm vi hành lang bảo vệ luồng, trong phạm vi luồng, trong
phạm vi bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa mà
không có giấy phép khai thác khoáng sản thì bị xử phạt theo Nghị định số
132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông
đường thủy nội địa. Tuy nhiên, theo Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy
định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản cũng có quy
định xử phạt đối với hành vi vi phạm về khai thác cát, sỏi trái phép và hình phạt
chính, hình phạt bổ sung cũng khác nhau nhiều. Hiện nay, chưa có hướng dẫn rõ về
hành vi, tính chất, mức độ vi phạm để áp dụng nghị định nào xử phạt phù hợp.
- Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt VPHC
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa quy định xử phạt đối với hành vi chôn, lấp,
đổ chất thải xây dựng không đúng quy định về bảo vệ môi trường.
- Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy định về XPVPHC trong
lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, cần nghiên cứu, sửa đổi theo hướng bổ
sung quy định xử phạt VPHC đối với hành vi mua, bán, vận chuyển khoáng sản
không rõ nguồn gốc hợp pháp nên gây khó khăn trong việc xác minh, xử lý hành vi
khai thác khoáng sản trái phép; bổ sung quy định cụ thể về việc đo đạc khối lượng
tang vật khoáng sản; giám định loại khoáng sản để tháo gỡ khó khăn trong công tác
130
xử lý; bổ sung quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của Cục trưởng Cục CSGT,
Trưởng phòng CSGT, gây khó khăn trong công tác xử phạt VPHC đối với hoạt
động khai thác khoáng sản, cát, sỏi lòng sông.
- Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 quy định xử phạt VPHC trong
lĩnh vực lâm nghiệp: việc nhận diện, xác định loài động vật hoang dã gặp vướng
mắc đối với những sản phẩm đã qua sơ chế, không còn nguyên trạng thái ban đầu.
- Nghị định 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 quy định xử phạt VPHC trong
lĩnh vực thủy sản không quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của Trưởng phòng
CSGT, trong khi đây là lực lượng chính thực hiện kiểm tra, xử lý, xử phạt VPHC
đường thủy.
- Về Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quy định về cưỡng chế
thi hành quyết định xử phạt VPHC, đề nghị nghiên cứu, sửa đổi quy định về việc
thực hiện quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC bằng hình thức
khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức gặp khó khăn do các Ngân hàng nơi
người bị xử phạt mở tài khoản tìm cách từ chối cung cấp tài khoản cho người có
thẩm quyền xử phạt thực hiện cưỡng chế; bổ sung quy định hướng dẫn thủ tục sau
khi xác minh đối tượng bị cưỡng chế không có tài sản để kê biên;
- Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt VPHC trong
lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống, tệ nạn xã hội; phòng cháy và
chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình quy định một số hành vi xâm hại hoặc thuê
người khác xâm hại sức khỏe của người khác (điểm e khoản 3 Điều 5); hủy hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác (điểm a khoản 2 Điều 15) nhưng chưa quy
định hình thức xử phạt bổ sung “Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC” nên chưa bảo
đảm triệt để xử lý hành vi vi phạm.
- Nghị định 119/2017/NĐ-CP ngày 01/11/2017 quy định về xử phạt VPHC
trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hóa chưa quy định
xử phạt VPHC đối với hành vi bán hàng hóa phải có dấu hợp quy nhưng không có hồ
sơ kèm theo.
- Tại khoản 3 Điều 131 Luật xử phạt VPHC quy định thời hạn quản lý được
131
tính từ ngày lập hồ sơ cho đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng
biện pháp xử lý hành chính theo quyết định của Tòa án, cần quy định rõ thời hạn quản
lý tối đa là bao nhiêu ngày (quy định như hiện nay còn chung chung làm chậm thời
gian đưa người nghiện đi cai nghiện). Do đó, cần sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 131
Luật xử phạt VPHC theo hướng quy định rõ thời hạn quản lý tối đa là bao nhiêu ngày.
- Về quy định thông báo cho người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính
hoặc người đại diện hợp pháp của họ sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ quy định tại
khoản 4 Điều 97, khoản 3 Điều 99, khoản 3 Điều 101, khoản 3 Điều 103. Theo quy
định tại khoản 3 Điều 101 của Luật XLVPHC, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo
cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ để họ
đọc hồ sơ, ghi chép nội dung cần thiết. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định này trên
thực tế cho thấy người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ
thường không đến nên cơ quan Công an gặp rất nhiều khó khăn trong công tác lập,
hoàn thiện hồ sơ đề nghị, hoặc họ lợi dụng việc được thông báo để bỏ trốn. Đây là
một trong những nguyên nhân gây nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện
biện pháp xử lý hành chính.
- Khoản 3 và khoản 5 Điều 90 Luật xử phạt VPHC quy định đối tượng trong
06 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt VPHC về hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc,
gây rối trật tự công cộng (đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi); về hành vi xâm phạm tài sản
của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc
người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội (từ đủ 18 tuổi trở lên) thì bị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính GDTXPTT chưa thống nhất với Bộ luật hình sự.
- Khoản 4 Điều 90 Luật xử phạt VPHC quy định một trong những đối tượng bị
áp dụng biện pháp GDTXPTT là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi
cư trú ổn định. Theo đó, khoản 2 Điều 11 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy
định các cơ quan có thẩm quyền phải xác định tình trạng nghiện ma túy hiện tại của
người nghiện, nhằm mục đích xác định đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp này
phải là người nghiện ma túy mà không đơn thuần là người sử dụng ma túy. Tuy
nhiên, theo quy định tại khoản 16 Điều 2 Luật xử phạt VPHC thì người nghiện ma
132
túy là “người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ
thuộc vào các chất này”. Với định nghĩa này, trên thực tế, việc xác định tình trạng
nghiện ma túy là rất khó khăn, phức tạp.
Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp tiền đề GDTXPTT đối với người nghiện
ma túy cũng là một trong những trở ngại lớn, làm kéo dài thời gian áp dụng biện
pháp đưa vào CSCNBB.
- Cần nghiên cứu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSCNBB đối
với người sử dụng ma túy trái phép (chưa nghiện), vì hiện nay, đối với đối tượng
này, pháp luật chỉ quy định xử phạt VPHC, không bảo đảm tính răn đe. Ngoài ra, về
mặt y học, việc đưa người sử dụng ma túy trái phép vào CSCNBB để sớm chữa trị,
cai nghiện cho họ sẽ có tác dụng tốt hơn việc “chờ đợi” cho họ “bị nghiện hẳn” rồi
mới can thiệp.
- Cần bổ sung đối tượng người nghiện ma túy từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi bị áp
dụng biện pháp đưa vào CSCNBB, vì tình hình thực tế hiện nay tại nhiều địa
phương, đối tượng nghiện ma túy có sự trẻ hóa, đặc biệt là đối tượng người nghiện
từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi nhưng Luật XLVPHC hiện hành không quy định áp dụng
biện pháp đưa vào CSCNBB đối với đối tượng này. Đây cũng là một trong những
nguyên nhân làm phát sinh tội phạm.
- Khoản 2 Điều 118 Luật xử phạt VPHC quy định trường hợp một người vừa
thuộc đối tượng đưa vào CSGDBB vừa thuộc đối tượng đưa vào CSCNBB. Theo
đó, trường hợp người nghiện ma túy thuộc loại côn đồ hung hãn thì áp dụng biện
pháp đưa vào CSGDBB. CSGDBB thực hiện việc cai nghiện cho đối tượng này.
Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể thế nào là hành vi côn đồ
hung hãn.
4.3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an
nhân dân
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động không thể thiếu
trong đời sống xã hội nhằm bảo đảm cho việc thực thi có hiệu quả các quy định của
133
pháp luật khi đã được ban hành, góp phần đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống.
Có làm tốt công tác này tới các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân thì mới phát huy
được sức mạnh tổng hợp của nhân dân, phát huy tinh thần “thượng tôn pháp luật”
và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công
an, cần chủ động phối hợp với các đơn vị chức năng trong ngành cũng như các cơ
quan ngoài ngành Công an tăng cường và đẩy mạnh, đa dạng hóa công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về XLVPHC theo hướng tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật gắn với đối tượng, địa chỉ cụ thể, xác định đúng nội dung,
phương pháp cần tuyên truyền, giáo dục.
Lực lượng CAND cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Luật
XLVPHC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC năm 2012 và
các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành ở Công an các đơn vị, địa
phương; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về công tác
XLVPHC thuộc lĩnh vực TTATXH cho các đối tượng là cán bộ, chiến sĩ CAND
trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xử phạt VPHC.
Lực lượng CAND cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động
người dân chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
quy định của pháp luật QLNN đối với XLVPHC; tập trung tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH đến mọi tầng lớp nhân dân
một cách thường xuyên, liên tục với các nội dung thiết thực, cụ thể; hình thức tuyên
truyền phong phú, đa dạng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của nhân dân ở
từng khu vực, từng địa bàn. Việc tuyên truyền, phổ biến được thực hiện dưới các
hình thức như: tuyên truyền trên báo, đài phát thanh và truyền hình, trên các phương
tiện thông tin đại chúng, băng rôn, khẩu hiệu, panô, áp phích, phát động các cuộc thi
tìm hiểu pháp luật về XLVPHC, tổ chức các hội diễn văn nghệ quần chúng gắn với
công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội; lồng ghép vào các phong trào,
chương trình hành động của các cấp, các ngành như thông qua việc thực hiện
“Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm”, “Toàn dân xây dựng nếp sống văn
hóa ở địa bàn dân cư”, “Phong trào đấu tranh bài trừ tệ nạn xã hội”, “Phong trào
134
toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, hiểu biết
của người dân đối với các quy định của pháp luật XLVPHC để mọi người dân có ý
thức tự giác chấp hành pháp luật.
Lực lượng CAND cần tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển
hình tiên tiến về ANTT; triển khai quy chế dân chủ trong QLNN đối với XLVPHC
từ thực tiễn ngành Công an; gắn QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND vào việc triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước như
việc triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01/2001/NQLT ngày 4/12/2001 về
“Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong thời kỳ mới”, Chỉ thị
số 09-CT/TW ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình
hình mới”. Phối hợp chặt chẽ với Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh,
Mặt trận Tổ quốc các cấp để đưa nội dung QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
ngành CAND vào chương trình hoạt động của các tổ chức này.
Tăng cường phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện tốt chức năng tham
mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương; thành lập các tổ công tác xuống địa bàn
trọng điểm về an ninh trật tự có cán bộ nắm rõ về phong tục, tập quán của địa
phương để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ
thực tiễn của ngành CAND. Phối hợp với các cơ quan đài, báo của trung ương và
địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật QLNN đối
với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND bằng nhiều hình thức (tin, bài, phóng sự,
chuyên đề, hội thi, treo gắn panô, khẩu hiệu, tuyên truyền trên hệ thống truyền
thanh, các chợ, trung tâm thương mại, tuyên truyền lưu động v.v..) với những nội
dung phong phú, thiết thực như: cảnh báo những nguy cơ, nguyên nhân có thể dẫn
đến vi phạm pháp luật hành chính trong các lĩnh vực QLNN về bảo đảm TTATXH
như: an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, môi trường, ma túy,…
tại các cơ sở, địa bàn trọng điểm; đề xuất, tham mưu với cấp có thẩm quyền biểu
dương kịp thời người tốt, việc tốt trong việc thực hiện các quy định pháp luật
135
QLNN đối với XLVPHC.
4.3.3. Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố
cáo trong quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành
Công an nhân dân
Công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về
XLVPHC có ý nghĩa rất quan trọng trong nâng cao hiệu quả QLNN, giúp lực lượng
CAND nắm tình hình an ninh trật tự; từ đó, rút ra những ưu điểm, nhược điểm, khó
khăn hạn chế trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công an để có
biện pháp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.
Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của
pháp luật về QLNN đối với XLVPHC, lực lượng CAND cần nắm tình hình, căn cứ
vào các điều kiện thực tế cụ thể tại địa bàn, địa phương mình, tham mưu, đề xuất
với các cấp có thẩm quyền để tiến hành kiểm tra, thanh tra phù hợp. Bên cạnh đó,
ngành CAND cần chủ động tổ chức kiểm tra, thanh tra dưới các hình thức như kiểm
tra, thanh tra đột xuất, định kỳ, thường xuyên. Mỗi đợt kiểm tra, thanh tra cần có sự
chuẩn bị tốt về nhân sự, cán bộ, phương pháp, phương tiện và phải lập kế hoạch
kiểm tra cụ thể, chi tiết đối với từng đối tượng, địa bàn. Thông qua công tác kiểm
tra, thanh tra QLNN đối với XLVPHC, lực lượng CAND phát hiện các trường hợp
tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về XLVPHC thì căn
cứ vào tính chất, mức độ vi phạm để đề nghị biện pháp xử lý phù hợp; đồng thời,
chủ động cung cấp các thông tin, tài liệu cho các lực lượng, các ngành có liên quan
nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN về ANTT, TTATXH, tạo điều kiện cho
việc điều tra, khám phá các vụ án liên quan.
Trong công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật
QLNN đối với XLVPHC, lực lượng CAND cần xác định trọng tâm, trọng điểm,
tránh tình trạng hình thức, thiếu chiều sâu, coi trọng số lượng hơn chất lượng. Quá
trình tiến hành kiểm tra, thanh tra, ngành CAND cần có sự phối hợp giữa các lực
lượng chức năng để công tác kiểm tra đạt kết quả cao. Trên cơ sở đó, ngành CAND
chủ động đề xuất, tham mưu với cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp quản lý
136
phù hợp, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời
phục vụ có hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp
luật, bảo đảm an ninh trật tự, TTATXH. Bên cạnh đó, ngành Công an cần phối hợp
với các cơ quan chức năng thuộc Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan, Sở Tư
pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức kiểm tra, thanh tra pháp luật
về QLNN đối với XLVPHC tại đơn vị, địa phương trong và ngoài ngành Công
an nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các
quy định của pháp luật về XLVPHC trên lĩnh vực an ninh trật tự và trật tự xã hội
để nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao hiệu
quả công tác thi hành pháp luật về XLVPHC, góp phần bảo đảm an ninh trật tự,
TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Lãnh đạo Công an các cấp cần định kỳ tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá
kết quả kiểm tra, thanh tra QLNN đối với XLVPHC để từ đó rút ra kinh nghiệm,
phát hiện những sơ hở, thiếu sót, vướng mắc để đề xuất hướng xử lý. Quyết định
khen thưởng, động viên kịp thời đối với cán bộ, chiến sĩ có thành xuất sắc trong
lĩnh vực này; đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm đối với các cán bộ, chiến sĩ
có sai phạm. Đối với vụ việc có khiếu nại, tố cáo thì Công an các đơn vị, địa
phương cần chủ động xác minh, củng cố hồ sơ để xem xét, giải quyết nhằm bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
4.3.4. Tăng cường kiện toàn tổ chức; nâng cao trình độ năng lực cán bộ;
tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, áp dụng khoa học kỹ thuật cho quản lý nhà nước
đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
Cơ quan quản lý công tác QLNN đối với XLVPHC tại Công an các đơn vị,
địa phương đang trong giai đoạn thành lập hoặc bước đầu hoàn thiện tổ chức nhân
sự. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1950/QĐ-TTg phê
duyệt “Đề án xây dựng tổ chức, bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản lý thống
nhất công tác thi hành pháp luật về XLVPHC của Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan
ngang bộ và các cơ quan tư pháp địa phương” nhưng phải đến hơn một năm sau
Cục Quản lý XLVPHC thuộc Bộ Tư pháp mới được lập; theo đó, năm 2015, Phòng
137
quản lý XLVPHC và theo dõi thi hành pháp luật mới được thành lập thuộc Cục
Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an. Tại Công an các đơn vị, địa
phương đều chưa được thành lập mà tổ chức thành bộ phận kiêm nhiệm thuộc
Phòng Pháp chế hoặc Đội Pháp chế thuộc Phòng Tham mưu. Do đó, cần phải tiến
hành hoàn thiện, tăng cường cán bộ QLNN đối với XLVPHC nhằm tăng cường đầu
mối giúp lãnh đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện việc QLNN và tổ chức
thi hành pháp luật về XLVPHC;
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ với những hiểu biết chuyên sâu pháp luật về
XLVPHC và khả năng quản lý, thực hiện các nhiệm vụ trong công tác quản lý thi
hành pháp luật về XLVPHC là một trong những thách thức không nhỏ đối với ngành
tư pháp nói chung, ngành Công an nói riêng. Luật XLVPHC và các nghị định quy
định chi tiết không chỉ những quy định về xử phạt VPHC trong tất cả các lĩnh vực
QLNN mà còn quy định về các biện pháp xử lý hành chính; số lượng chức danh
người có thẩm quyền xử phạt VPHC trong CAND rất nhiều; nội dung quản lý công
tác thi hành pháp luật trong CAND thuộc nhiều lĩnh vực và khá phức tạp, bao gồm
nhiều công việc từ xây dựng chương trình, kế hoạch, dự án, dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật về XLVPHC cho đến việc thực thi những văn bản này. Vì vậy, để
xây dựng một đội ngũ cán bộ với hiểu biết chuyên sâu và năng lực quản lý tốt, cần
một sự nỗ lực rất lớn, không chỉ trong thời điểm hiện tại mà còn thời gian tiếp theo.
Để nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với XLVPHC ngành CAND trong
thời gian tới, yêu cầu đặt ra là phải kiện toàn đội ngũ cán bộ thực hiện công tác
QLNN đối với lĩnh vực này. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền phải chú trọng hơn
nữa việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực công tác của cán bộ chuyên
trách QLNN đối với XLVPHC; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ làm
nhiệm vụ QLNN về công tác QLNN đối với XLVPHC về kiến thức pháp luật và
chuyên môn nghiệp vụ, phổ biến, quán triệt những nội dung mới của các văn bản
quy phạm pháp luật có liên quan. Mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND thực hiện công tác
QLNN đối với XLVPHC phải tự học tập, nắm vững đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề có liên quan đến chức
138
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự nâng cao ý thức trách nhiệm, chuyên môn
nghiệp vụ, chủ động phát hiện các vấn đề về an ninh trật tự, an toàn xã hội, ý thức
phục vụ nhân dân, không gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân.
- Về mặt nhận thức, cán bộ làm công tác QLNN đối với XLVPHC phải xác
định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác QLNN về an ninh
trật tự, an toàn xã hội, là cơ sở nền tảng để thực hiện các mặt công tác có liên quan
khác; hiệu quả từ việc thực hiện công tác này có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác
phòng ngừa, đấu tranh, phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh
trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, phải thường xuyên đổi mới cách thức, biện pháp
công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
- Về trình độ, năng lực, cán bộ làm công tác QLNN về XLVPHC phải được
đào tạo chuyên ngành pháp luật, quản lý hành chính về trật tự xã hội, có kỹ năng
giao tiếp, ứng xử tốt, làm tốt công tác tham mưu, phân tích, tổng hợp, đánh giá được
thực trạng QLNN đối với XLVPHC để có đề xuất phù hợp, được đào tạo, bồi dưỡng
về công nghệ thông tin..
Trong thời gian tới, cần chú ý rà soát, sắp xếp, bổ sung biên chế thực hiện
công tác QLNN về XLVPHC đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đồng đều,
phù hợp với tình hình nhiệm vụ được giao. Tăng cường công tác sơ kết, tổng kết,
tập huấn chuyên đề cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ thực hiện QLNN đối với
XLVPHC; tổ chức tốt các đợt kiểm tra, đánh giá chất lượng, qua đó, kịp thời rút
kinh nghiệm, khắc phục tồn tại, thiếu sót về công tác này trong thời gian qua.
Đối với bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện QLNN đối với
XLVPHC ngành CAND đạt hiệu quả thì việc bảo đảm các điều kiện cần thiết về
ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cũng như huy động các thành tựu khoa
học và công nghệ của nền kinh tế quốc dân phục vụ hiệu quả hoạt động QLNN
trong lĩnh vực này là rất quan trọng, góp phần bảo đảm an ninh trật tự, TTATXH và
phục vụ các chính sách quan trọng của Đảng, Nhà nước. Trong thời gian tới, để
tăng cường việc bảo đảm điều kiện cho QLNN đối với XLVPHC, lực lượng CAND
139
cần tập trung thực hiện tốt các công tác sau đây:
- Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền như Chính Phủ, Bộ Công an, Ủy ban nhân
dân các cấp .v.v.. tiếp tục quan tâm tới việc đầu tư ngân sách, trang bị thiết bị, phương
tiện kỹ thuật và các điều kiện vật chất, kỹ thuật khác phục vụ QLNN đối với XLVPHC.
Cụ thể, trong thời gian tới các lực lượng trong CAND cần đề xuất cấp có thẩm quyền bổ
sung trang bị máy vi tính, máy điện thoại, các loại tài liệu, sổ sách, phương tiện bảo
quản, lưu trữ tài liệu, hồ sơ,.. phục vụ công tác QLNN đối với lĩnh vực này.
- Ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến phục vụ công tác
QLNN về XLVPHC, bao gồm việc chuyển giao công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ; bảo đảm cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu, tư liệu
khoa học và công nghệ. Để thực hiện nhiệm vụ này, đơn vị chức năng của Bộ Công an
đang thực hiện những nghiên cứu để xây dựng phần mềm thống kê xử phạt VPHC
trong lĩnh vực an ninh trật tự, TTATXH. Việc xây dựng phần mềm này sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho Công an các đơn vị, địa phương thực hiện thống kê, báo cáo, cập nhật, tra
cứu, sử dụng số liệu, dữ liệu về XLVPHC nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, giúp nâng
cao hiệu quả công tác quản lý, theo dõi thi hành pháp luật về XLVPHC trong CAND.
4.3.5. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý
nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân
XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH của ngành CAND là hoạt động liên quan
đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, có tính chất phức tạp với phạm vi điều chỉnh rộng,
trên nhiều lĩnh vực QLNN. Chính vì vậy, việc chủ động xây dựng, hoàn thiện và
thực hiện tốt quy chế phối hợp trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
CAND với các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền xử phạt VPHC là điều hết
sức cần thiết. Hiện nay, các văn bản pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và sự phối hợp của ngành CAND với các ngành khác cũng có thẩm
quyền QLNN đối với XLVPHC đã được các cấp, các ngành, các cơ quan có thẩm
quyền ban hành, song chưa thực sự đầy đủ; các quy định về mối quan hệ phối hợp
giữa ngành Công an với các ban ngành khác mới chỉ tập trung nhiều vào các kế
hoạch phối hợp cụ thể của từng lực lượng, theo từng nội dung, thời gian, địa điểm;
140
trong khi đó, VPHC trong lĩnh vực TTATXH xảy ra thường xuyên, liên tục, phức
tạp, địa bàn rộng và tính chất ngày một phức tạp. Việc xây dựng quy chế phối hợp
giữa ngành CAND với các cơ quan, các ban ngành khác trong QLNN đối với
XLVPHC nhằm cùng thống nhất về nội dung, phương pháp cụ thể để huy động lực
lượng, phương tiện phối hợp phục vụ giải quyết theo yêu cầu có hiệu quả. Thực tế
cho thấy, quan hệ phối hợp giữa ngành CAND với các ban ngành khác trong QLNN
đối với XLVPHC còn mang tính thụ động do chưa có một cơ chế phối hợp một
cách rõ ràng, rành mạch. Điều này dẫn đến sự chỉ đạo thiếu tập trung, thống nhất,
đặc biệt là việc áp dụng trong thực tế các biện pháp xử phạt VPHC hoặc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn nhằm bảo đảm XLVPHC, áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính khác. Sự thiếu đồng bộ trong công tác chỉ đạo, phối hợp đã ảnh hưởng
không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả của QLNN đối với XLVPHC.
Để thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp giữa ngành CAND và các ban, ngành
khác cũng như phối hợp giữa các đơn vị chức năng ngành CAND, khi xây dựng cơ chế
phối hợp cần chú ý đến việc xác định vai trò của lực lượng chính trong quan hệ cần
phối hợp. Theo đó, giao trách nhiệm cho lực lượng có vai trò chính và chủ yếu thực
hiện việc đề xuất các kế hoạch triển khai thực hiện,kế hoạch phối hợp thực hiện trong
công tác nắm thông tin, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi VPHC,…
Trong quy chế phối hợp, cần định rõ ràng, cụ thể các vấn đề sau: nội dung, hình
thức, chủ thể quan hệ phối hợp; nhiệm vụ của các chủ thể quan hệ phối hợp; lực lượng
chịu trách nhiệm chính và lực lượng tham gia phối hợp; trách nhiệm pháp lý của các
chủ thể trong quan hệ phối hợp khi thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ yêu cầu
và nhiệm vụ trong quan hệ phối hợp; vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trong quan hệ phối hợp;
cơ chế giám sát của cơ quan, đơn vị cấp trên trực tiếp, liên quan,… Chỉ khi có quy chế
phối hợp cụ thể mới có cơ sở pháp lý đầy đủ để các chức danh có thẩm quyền xử phạt
thực hiện hoạt động phối hợp, tạo sự đồng bộ, thống nhất, tập trung, huy động kịp thời
lực lượng và phương tiện phục vụ cho hoạt động QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
ngành CAND.
Việc phối hợp giữa ngành Công an với các lực lượng ngoài ngành để thực hiện
141
QLNN đối với XLVPHC được thể hiện trên các phương diện sau:
- Phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan để nghiên cứu, đề xuất cấp có
thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến XLVPHC nhằm khắc phục vướng mắc, khó khăn trong quá
trình thực thi để nâng cao hiệu quả công tác QLNN trong các lĩnh vực, góp phần bảo
đảm ANTT, TTATXH..
- Phối hợp với Bộ Tư pháp để xây dựng các nghị định quy định chi tiết và biện
pháp thi hành Luật XLVPHC; đề xuất với cơ quan có thẩm quyền việc xây dựng,
hoàn thiện pháp luật về XLVPHC; tiến hành sơ kết, tổng kết tình hình thi hành pháp
luật về XLVPHC; hướng dẫn công tác phổ biến pháp luật về XLVPHC; hướng dẫn,
tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về XLVPHC; hướng
dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thực hiện pháp luật XLVPHC; xây dựng cơ
sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC; hướng dẫn việc quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở
dữ liệu về XLVPHC; thực hiện chế độ thống kê về XLVPHC.
- Phối hợp với ngành lao động, thương binh và xã hội, hải quan, kiểm lâm, an
toàn thực phẩm, kế hoạch và đầu tư .v.v.. trong việc thực hiện các cuộc vận động
lớn về xây dựng nếp sống văn hóa mới, phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật,
quản lý, giáo dục người vi phạm; nắm tình hình, trao đổi thông tin phục vụ cho việc
QLNN về XLVPHC; tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành thanh tra, kiểm
tra trên địa bàn được giao.
- Ngoài ra, lực lượng CAND còn phối hợp với cơ quan văn hóa, thông tin, các
cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức xã hội, các đoàn thể để tuyên truyền, vận
động quần chúng nhân dân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về
XLVPHC.
- Ngành CAND cần phối hợp với các cơ quan có chức năng XLVPHC để thực
hiện cơ chế chia sẻ và cung cấp thông tin về các đối tượng VPHC để việc xác định
các trường hợp VPHC nhiều lần, tái phạm để xem xét là tình tiết tăng nặng trong
XLVPHC hoặc tránh các trường hợp bị tạm giữ, tước quyền sử dụng giấy phép,
142
nhất là giấy phép lái xe, đăng ký phương tiện ở địa phương này thì đến địa phương
khác xin cấp lại dẫn đến hồ sơ xử lý bị tồn đọng, khó xử lý; phối hợp với các cơ
quan, tổ chức giúp đỡ, quản lý.
Đối với các đơn vị chức năng trong ngành CAND, việc phối hợp cần chú ý phải
tiến hành chủ động phối hợp thông qua chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực
hiện tốt những yêu cầu theo sự phân công, phân cấp, sự chỉ huy, chỉ đạo chặt chẽ của
Công an cấp trên, cụ thể như sau:
- Phối hợp giữa Công an các đơn vị, địa phương: Đây là mối quan hệ phối
hợp giữa các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, Công an các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương để thực hiện chức năng QLNN trong các lĩnh vực, bảo đảm an
ninh trật tự, TTATXH; theo đó, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, Công an
các đơn vị, địa phương phối hợp với nhau trong việc cung cấp các thông tin, tài liệu,
hỗ trợ và tạo điều kiện để tiến hành công tác phòng ngừa, xử lý các hành vi phạm
tội, vi phạm pháp luật hành chính .v.v.. Việc phối hợp tập trung vào công tác quản
lý, kiểm tra, xử lý hành vi VPHC. Cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra cấp dưới
phát hiện và đấu tranh xử lý đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm quy định về
XLVPHC.
- Phối hợp giữa các lực lượng nghiệp vụ trong CAND như: CSQLHC về
TTXH, Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cảnh sát điều tra tội phạm về
ma túy, Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và tham nhũng, An ninh điều tra, các đơn
vị nghiệp vụ của lực lượng an ninh. Trong mối quan hệ này, các lực lượng ngành
Công an cần chủ động cung cấp các thông tin, tài liệu, hỗ trợ và tạo điều kiện cho
nhau tiến hành công tác phòng ngừa, xử lý các các hành vi phạm tội, vi phạm pháp
luật; đồng thời, phục vụ công tác nắm tình hình, thu thập tài liệu, củng cố hồ sơ…
- Phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành
nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về XLVPHC; phát động phong trào toàn
dân tham gia tố giác tội phạm, vi phạm pháp luật; tuyên truyền về vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng, cơ quan chức năng trong bảo
đảm an ninh trật tự, TTATXH. Ngành Công an phối hợp với các cơ quan truyền
143
thông tuyên truyền, phổ biến pháp luật về XLVPHC trên các phương tiện thông tin
đại chúng, phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức các cuộc tuyên truyền, vận
động quần chúng nhân dân tích cực tham gia, hỗ trợ cơ quan chức năng trong
QLNN đối với XLVPHC.
- Các lực lượng nghiệp vụ của ngành Công an cần phối hợp chặt chẽ với
nhau trong việc tổ chức triển khai QLNN đối với XLVPHC, tập trung vào các lĩnh
vực như quản lý cư trú, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật
tự, quản lý đại bàn để thực hiện các yêu cầu bảo đảm TTATXH; lĩnh vực bảo đảm
trật tự an toàn giao thông; phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; .…
4.3.6. Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về xử phạt vi phạm hành chính
phục vụ cho quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn
ngành Công an nhân dân
Theo quy định tại Điều 17 Luật XLVPHC thì một trong những nội dung của
quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC là quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia
về XLVPHC. Để thực hiện quy định này, ngày 30/3/2016 Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 20/2016/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC.
Theo quy định tại Điều 20 của Nghị định nêu trên thì Bộ Công an trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ của mình chỉ đạo tổ chức việc cập nhật thông tin và chịu trách
nhiệm về độ chính xác, toàn vẹn các thông tin, dữ liệu; bảo đảm kết nối an toàn, tích
hợp dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC do Bộ Tư pháp xây dựng và
quản lý; chủ trì hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho
cán bộ, chiến sĩ kỹ năng thực hiện việc cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin, kỹ
năng khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC; bố trí đầy đủ cơ sở vật
chất, nhân lực đảm bảo cho việc phối hợp xây dựng, quản lý và duy trì Cơ sở dữ
liệu quốc gia về XLVPHC; bảo đảm an toàn tài khoản quản trị Cơ sở dữ liệu quốc
gia về XLVPHC được cấp; phối hợp với Bộ Tư pháp để thực hiện việc kết nối giữa
Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC. Để thực
hiện công tác này, trong thời gian tới các cơ quan chức năng của Bộ Công an cần
tham mưu, đề xuất với cấp có thẩm quyền xây dựng ban hành văn bản quy phạm
144
pháp luật điều chỉnh nội dung trên trong CAND theo hướng:
- Quy định cụ thể về xây dựng, quản lý và duy trì cơ sở dữ liệu về XLVPHC
trong CAND; trong đó, cần tập trung vào các nội dung như: Xây dựng Cơ sở dữ liệu
về XLVPHC trong CAND; Xây dựng các trường thông tin trong Cơ sở dữ liệu về
XLVPHC trong CAND, gồm: thông tin về đối tượng bị xử phạt VPHC; thông tin về
quyết định xử phạt VPHC; thông tin về việc thi hành quyết định xử phạt VPHC; thi
hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có); thông tin về việc áp
dụng biện pháp xử lý hành chính; thông tin về việc áp dụng biện pháp quản lý tại
gia đình…; Quy định cụ thể trách nhiệm cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin về
XLVPHC của Công an các đơn vị, địa phương; Quy định cụ thể về việc đính chính,
bổ sung, hiệu chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu về XLVPHC trong CAND; Quy
định cụ thể về lưu dữ liệu điện tử về XLVPHC; bảo đảm an toàn Cơ sở dữ liệu về
XLVPHC; quản lý tài khoản quản trị Cơ sở dữ liệu về XLVPHC; duy trì và nâng
- Quy định cụ thể về khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về XLVPHC trong CAND;
trong đó, cần tập trung vào các nội dung như: Các hình thức khai thác và sử dụng Cơ sở dữ
liệu về XLVPHC trong CAND; Đối tượng được khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu về
XLVPHC trong CAND; Kết nối Cơ sở dữ liệu về XLVPHC trong CAND với Cơ sở dữ
liệu về dân cư; Kết nối, tích hợp dữ liệu và truy cập thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia
về XLVPHC.
145
cấp, phát triển Cơ sở dữ liệu về XLVPHC trong CAND;
Kết luận Chương 4
QLNN đối với XLVPHC là nhiệm vụ mới, lần đầu tiên được quy định tại
Điều 17 Luật XLVPHC năm 2012. Những nội dung trọng tâm, cơ bản của nhiệm vụ
này được quy định cụ thể tại Chương II Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC. Đây đồng thời cũng là nhiệm
vụ mới đối với nhiều bộ, ngành và chính quyền các cấp. Trong điều kiện đất nước
đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập
kinh tế quốc tế, tích cực tham gia và là thành viên có trách nhiệm của nhiều hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới (FTA), ngành Công an, với chức năng, nhiệm vụ
của mình đã đạt được những kết quả quan trọng. Công tác đấu tranh phòng, chống
các hành vi vi phạm pháp luật hành chính, tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội,
nhất là về quản lý hành chính về TTATXH, phòng cháy và chữa cháy, giao thông,
quản lý vũ khí, vật liệu nổ, kinh doanh có điều kiện, ma túy, mua bán người, sử
dụng công nghệ cao,… đạt và vượt chỉ tiêu đề ra, kiềm chế sự gia tăng của các hành
vi VPHC và kiềm chế sự gia tăng tội phạm, không để những vấn đề trật tự, an toàn
xã hội, tội phạm chuyển hóa thành các vấn đề an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành Công an cũng còn
tồn tại khá nhiều khó khăn, vướng mắc và tồn tại. Hệ thống pháp luật về QLNN đối
với XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH tuy đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện
song vẫn còn thiếu cụ thể, đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu
tranh phòng, chống VPHC; các thủ tục hành chính còn rườm rà; công tác phát hiện,
XLVPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự và TTATXH đôi lúc còn chưa kịp thời, bị
lực lượng CAND bỏ lọt hành vi vi phạm, áp dụng chưa đúng quy định của pháp luật
XLVPHC; một bộ phận cán bộ, chiến sĩ CAND trực tiếp làm công tác phát hiện,
XLVPHC còn hạn chế về năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc, xử
lý chưa nghiêm các hành vi VPHC, thiếu sự chuẩn bị đầy đủ phương tiện, công cụ
được trang bị khi tiến hành công tác.,..
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận tại Chương 2, tình hình thực trạng về QLNN
đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, Chương 4 của Luận án đã đưa ra một
146
số quan điểm về tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là:
Đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng về mọi mặt về QLNN đối với
XLVPHC; quán triệt quan điểm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ vững chắc chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội; đồng thời đề xuất một số giải pháp: tăng cường xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; tăng
cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải
quyết khiếu nại tố cáo trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND;
tăng cường kiện toàn tổ chức; nâng cao trình độ năng lực cán bộ; tăng cường đầu tư cơ
sở vật chất, áp dụng khoa học kỹ thuật cho QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành
147
CAND.
KẾT LUẬN
QLNN đối với XLVPHC là một trong lĩnh vực quan trọng của QLNN, là
một trong những điều kiện không thể thiếu để giữ gìn ổn định xã hội, ổn định chính
trị, phát triển đất nước. Nội dung chủ yếu của QLNN đối với XLVPHC là: xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về QLNN đối với XLVPHC; tổ chức
thực hiện pháp luật XLVPHC; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN
đối với XLVPHC; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố
cáo trong QLNN đối với XLVPHC;
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục xác định
xây dựng, hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển nhanh, bền vững, phấn
đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để góp
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, định hướng nêu trên, đòi hỏi công tác xây dựng,
hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với XLVPHC phải có những giải pháp toàn diện,
đồng bộ, khắc phục khó khăn, trở ngại cả trong nhận thức và công tác thực thi; theo
đó, các cơ quan chức năng, trong đó, có lực lượng CAND cần thể chế hóa kịp thời,
đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về bảo vệ an ninh trật tự, TTATXH.
Tình hình VPHC trong lĩnh vực TTATXH xảy ra mọi lúc, mọi nơi và gây
mất ổn định xã hội, tác động xấu đến quá trình phát triển kinh tế và giữ gìn
TTATXH. QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công an là hoạt động
được tiến hành thường xuyên, liên tục gắn với chức năng, nhiệm vụ của ngành
CAND, là một trong những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QLNN
trong lĩnh vực bảo đảm an ninh, TTATXH. QLNN đối với VPHC từ thực tiễn
ngành CAND trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu cơ bản, góp phần
quan trọng trong việc bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính nhà nước, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng chống có hiệu quả đối
với các hành vi VPHC và tội phạm trong thời kỳ mới; đồng thời tạo cơ sở pháp lý
đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt nam đã cam kết trong các
148
điều ước quốc tế, đáp ứng đòi hỏi của thực tế đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
trong giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động của tình hình
thế giới và tình hình trong nước, các hành vi VPHC, đặc biệt là VPHC trong lĩnh
vực an ninh trật tự và an toàn xã hội có chiều hướng ngày càng phức tạp, đa dạng và
thực sự chưa được kiểm soát và chưa được xử lý triệt để. Kết quả XLVPHC trong
lĩnh vực TTATXH còn gặp những hạn chế, khó khăn, vướng mắc về cơ sở pháp lý,
tổ chức thực hiện,… cùng với những tác động chủ quan, khách quan nên hiệu quả
xử lý các hành vi VPHC chưa cao, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh
trật tự và TTATXH cũng như sự ổn định chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra một số kiến nghị, đề
xuất nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là
thực sự cần thiết.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, Luận án đã làm sáng tỏ những nội dung
sau đây:
1. Phân tích, làm rõ một số khái niệm có liên quan đến VPHC, XLVPHC;
QLNN đối với XLVPHC; cơ sở pháp lý, đặc điểm, mục tiêu, vai trò của QLNN đối
với XLVPHC.
2. Phân tích đặc điểm, tình hình có liên quan đến công tác QLNN đối với
XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; thực trạng QLNN đối với XLVPHC từ thực
tiễn ngành CAND; đánh giá về những kết quả đạt được và hạn chế trong QLNN đối
với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; phân tích nguyên nhân của những hạn chế
nêu trên.
3. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, dự báo tình hình có liên quan, đề tài đã đề
xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực
tiễn ngành CAND trong thời gian tới, bao gồm các giải pháp sau: tăng cường xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực
tiễn ngành CAND; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; tăng cường hoạt động thanh
tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
ngành CAND; tăng cường kiện toàn tổ chức; nâng cao trình độ năng lực cán bộ; tăng
149
cường đầu tư cơ sở vật chất, áp dụng khoa học kỹ thuật cho QLNN đối với XLVPHC
từ thực tiễn ngành CAND.
Những vấn đề được đưa ra và giải quyết trong đề tài mặc dù chưa thực sự
toàn diện, đầy đủ, song với các kết quả đã đạt được, đề tài cơ bản đáp ứng được yêu
cầu, nhiệm vụ nghiên cứu, là tài liệu tham khảo để tiếp tục hoàn thiện lý luận, pháp
luật và nâng cao hiệu quả công tác QLNN về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn
ngành CAND trong thời gian tới.
QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là một vấn đề phức tạp,
có phạm vi rộng, là một lĩnh vực nghiên cứu mới trong khi trình độ của nghiên cứu
sinh còn hạn chế. Do đó, luận án sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Nghiên
cứu sinh rất mong có được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học để luận án
150
được hoàn thiện hơn. Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn./.
151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu trong nước
1.
Nguyễn Ngọc Anh (2007), Một số vấn đề về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, Nhà xuất bản Công an nhân
dân, Hà Nội.
2.
Nguyễn Ngọc Anh (2015), Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của
Công an nhân dân, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, 2015.
3. Nguyễn Ngọc Anh (2014), Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật xử lý vi
phạm hành chính, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội.
4.
Nguyễn Ngọc Anh (2014), Tìm hiểu Luật xử lý vi phạm hành chính
năm 2012, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.
5.
Nguyễn Ngọc Anh (2014), Tìm hiểu các quy định của pháp luật về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nhà
xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội.
6.
Nguyễn Ngọc Anh (2017), Bình luận quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Công
ty Cổ phần in Khoa học Công nghệ mới, Hà Nội.
7.
Đặng Anh (2009), Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
8.
Ban chấp hành trung ương (2012), Chỉ thị số 18-CT/TW ngày
04/9/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo
đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội
địa và khắc phục ùn tắc giao thông, Hà Nội.
9.
Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
152
10. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
11. Bộ Công an (2014), Báo cáo số 4449/BCA-V19 ngày 29/12/2014
cung cấp thông tin công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính năm 2014, Hà Nội.
12. Bộ Công an (2015), Báo cáo số 2688/BCA-V19 ngày 26/11/2015
cung cấp thông tin công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính năm 2015, Hà Nội.
13. Bộ Công an (2016), Báo cáo số 2897/BCA-V19 ngày 28/12/2016
cung cấp thông tin công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính năm 2016, Hà Nội.
14. Bộ Công an (2018), Báo cáo số 343/BCA-V03 ngày 01/02/2018 cung
cấp thông tin công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính năm 2018, Hà Nội.
15. Bộ Công an (2019), Báo cáo số 411/BCA-V03 ngày 10/02/2019 về
việc tổng hợp kết quả công tác thi hành pháp luật về XLVPHC trong
lĩnh vực ANTT năm 2019, Hà Nội.
16. Bộ Công an (2017), Báo cáo số 406/BC-BCA ngày 13/9/2017 tổng
kết 04 năm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính trong Công an
nhân dân, Hà Nội.
17. Bộ Công an (2014-2018), Công văn về việc tổng hợp công tác thi
hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh,
trật tự, an toàn xã hội (các năm 2014, 2015, 2016, 2017, 6 tháng đầu
năm 2018), Hà Nội.
18. Bộ Công an - Bộ Giao thông vận tải (2011), Thông tư liên tịch số
08/2011/TT-BCA-BGTVT ngày 29/11/2011 quy định về phối hợp thực
hiện công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt, Hà Nội.
153
19. Bộ Công an - Bộ Giao thông vận tải (2013), Kế hoạch số
12593/KHPH-BGTVT-BCA ngày 21/11/2013 về phối hợp thực hiện
tuần tra kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm chở hàng vượt quá tải trọng
của xe ô tô, Hà Nội.
20. Bộ Công an - Bộ Giao thông vận tải (2016), Báo cáo số 305/BC-BCA-
BGTVT ngày 01/9/2016
tổng kết
thực hiện Kế hoạch số
12593/KHPH-BGTVT-BCA ngày 21/11/2013 về phối hợp thực hiện
tuần tra kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm chở hàng vượt quá tải trọng
của xe ô tô vận chuyển hàng hóa trên đường bộ và phương hướng
nhiệm vụ trong thời gian tới, Hà Nội.
21. Bộ Công an (2011), Thông tư 39/2011/TT-BCA ngày 21/6/2011 quy
định lực lượng Công an kiểm tra, xử lý vi phạm về bảo vệ kết cấu hạ
tầng giao thông đường bộ, Hà Nội.
22. Bộ Công an (2011), Thông tư 62/2011/TT-BCA ngày 07/9/2011 quy định
về hoạt động tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát đường thủy, Hà Nội.
23. Bộ Công an (2013), Thông tư số 37/2013/TT-BCA ngày 27/8/2013
quy định quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính
của Cảnh sát đường thủy, Hà Nội.
24. Bộ Công an (2015), Quyết định số 1727/QĐ-BCA ngày 07/4/2015
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của
Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Hà Nội.
25. Bộ Công an (2015), Quyết định số 2441/QĐ-BCA ngày 11/5/2015
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Hà Nội.
26. Bộ Công an (2016), Thông tư số 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016
quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát
giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông, Hà Nội.
154
27. Bộ Công an (2016), Thông tư 02/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 quy
định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông, Hà Nội.
28. Bộ Công an (2016), Thông tư 03/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 quy
định về quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính trên
đường cao tốc của Cảnh sát giao thông, Hà Nội.
29. Bộ Công an (2016), Quyết định số 4169/QĐ-BCA này 29/9/2016
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của
Công an phường, Hà Nội.
30. Bộ Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam,
Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.
Bộ Công an (2011), Viện Nghiên cứu chiến lược và Khoa học, Công
tác lý luận Công an nhân dân, Hà Nội.
31. Bộ Tư pháp (2014), Báo cáo số 66/BC-BTP ngày 20/3/2015 công tác
thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2014, Hà Nội.
Bộ Tư pháp (2014), Tìm hiểu Luật xử lý vi phạm hành chính, Nhà
xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
32. Bộ Tư pháp (2017), Báo cáo tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành
chính, Hà Nội.
Bộ Tư pháp (2020), Báo cáo số 51/BC-BTP ngày 06/3/2020 về công tác
thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2019, Hà Nội.
33. Công an thành phố Cần Thơ (2017), Báo cáo số 169/BC-CATP-PV19
ngày 16/6/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính,
Cần Thơ.
34. Công an thành phố Hà Nội (2017), Báo cáo số 169/BC-CATP-PV19
ngày 16/6/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà
Nội.
155
35. Công an thành phố Hồ Chí Minh (2017), Báo cáo số 1956/BC-CATP-
PV19 ngày 17/8/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành
chính, thành phố Hồ Chí Minh.
36. Cục Cảnh sát giao thông (2010-2017), Báo cáo tổng kết công tác năm
(các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Hà Nội.
37. Cục Cảnh sát giao thông (2017), Báo cáo số 4531/BC-C67-P1 ngày
05/7/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
38. Cục Cảnh sát giao thông (2017), Báo cáo số 5957/BC-C67-P13 ngày
26/9/2017 về công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã
hội của lực lượng Cảnh sát đường thủy, Hà Nội.
39. Cục Cảnh sát giao thông (2018), Báo cáo sơ kết công tác bảo đảm
trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội 6 tháng đầu năm 2018 của
lực lượng Cảnh sát giao thông, Hà Nội.
40. Cục Cảnh sát giao thông (2018), Kỷ yếu hội thảo khoa học công tác
tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông của
lực lượng Cảnh sát giao thông, những giải pháp nâng cao hiệu lực,
hiệu quả, Hà Nội.
41. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (2017), Báo
cáo số 3630/C66-P8 ngày 22/6/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi
phạm hành chính, Hà Nội.
42. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (2010-
2017), Báo cáo tổng kết công tác năm (các năm 2010, 2011, 2012,
2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Hà Nội.
43. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (2018), Báo
cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của lực lượng Cảnh sát phòng
cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Hà Nội.
44. Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (2010-2017), Báo
156
cáo tổng kết công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội (các năm
2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Hà Nội.
45. Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (2018), Báo cáo sơ
kết công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội 6 tháng đầu năm
2018, Hà Nội.
46. Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an (2017),
Bình luận quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội.
48. Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội
(2012), Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội, Nhà xuất bản Công
an nhân dân, Hà Nội.
49. Tổng cục Cảnh sát (2017), Báo cáo số 2734/BC-C41-C42 ngày
18/8/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
50. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2010), Nghị định số
73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội, Hà Nội.
51. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2012), Nghị định số
52/2012/NĐ-CP ngày 14/6/2012 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy, Hà Nội.
52. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số
81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số
93/2013/NĐ-CP ngày 20/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông hàng hải, đường thủy nội địa, Hà
Nội.
157
53. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số
112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 quy định hình thức xử phạt trục
xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục
hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam
trong thời gian làm thủ tục trục xuất, Hà Nội.
54. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số
115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 quy định về quản lý, bảo quản
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ; tịch thu theo
thủ tục hành chính, Hà Nội.
Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số
91/2013/NĐ-CP ngày 12/8/2013 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo
trong Công an nhân dân, Hà Nội.
55. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số
167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ
nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia
đình, Hà Nội.
56. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số
171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội.
57. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2014), Nghị định số
79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy, Hà Nội.
58. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2014), Nghị định số
106/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, Hà Nội.
158
59. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2015), Nghị định số
132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, Hà Nội.
60. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2016), Nghị định số
46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội.
61. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2016), Nghị định số
96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự
đối với một số ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện, Hà Nội.
62. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2016), Nghị định số
99/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định về quản lý và sử dụng con
dấu, Hà Nội.
63. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2017), Nghị định số
97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một
số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
64. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2018), Nghị định số
97/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2018 quy định chi tiết một số Điều và
biện pháp thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công
cụ hỗ trợ, Hà Nội.
65. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2018), Nghị định số
01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, Hà Nội.
66. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2017), Nghị định số
96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu của Bộ Tư pháp, Hà Nội.
Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2020), Nghị định số
159
67. 19/2020/NĐ-CP quy định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
68. Học viện Hành chính (2012), Tài liệu bồi dưỡng về “Quản lý hành
chính nhà nước” (Chương trình chuyên viên), Phần III “Quản lý nhà
nước đối với ngành, lĩnh vực”, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật,
Hà Nội.
69. Học viện Cảnh sát nhân dân (2016), Giáo trình Quản lý hành chính
về an ninh, trật tự, Hà Nội.
70. Nguyễn Duy Hùng - Hồ Trọng Ngũ (1997), “Bước đầu tìm hiểu về
quản lý nhà nước về an ninh trật tự”, Nhà xuất bản Công an nhân
dân, Hà Nội.
71. Học viện Hành chính (2013), Giáo trình “Quản lý nhà nước về an
ninh trật tự”, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
72. Vũ Huy Khánh (2017), Khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thi hành
Luật Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về an
ninh, trật tự và một số kiến nghị, đề xuất, Tạp chí Công an nhân dân,
Hà Nội.
73. Vũ Huy Khánh (2018), Quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý
vi phạm hành chính thuộc chức năng của Công an nhân dân, Đề tài
khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
74. Trương Diệu Loan (2015), Giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt
VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo chức năng của lực
lượng Cảnh sát giao thông, Luận án tiến sĩ an ninh và trật tự xã hội,
Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
75. Dương Thanh Liêm (2019), “Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô
thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận án Tiến sĩ Luật học,
Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2019.
160
76. Nguyễn Thanh Liêm (2014), Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng
hình thức xử phạt trục xuất đối với hành vi vi phạm hành chính trên
lĩnh vực an ninh, trật tự, Tạp chí Công an nhân dân, Hà Nội.
77. Đinh Phan Quỳnh (2018),“Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Học viện
Khoa học xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2018.
78. Trần Đại Quang (2015), Khoa học Việt Nam, Nhà xuất bản Công an
nhân dân, Hà Nội.
79. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật
Thanh tra số 56/2012/QH12/ ngày 15/11/2010, Hà Nội.
80. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật số
81. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
82. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật
phòng cháy và chữa cháy số 27/2001/QH10 ngày 29/6/2010, Hà Nội.
83. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Tổ
chức Chính phủ số /2013/QH13 ngày / /2013, Hà Nội.
84. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật
Công an nhân dân số /2014/QH13 ngày / /2014, Hà Nội.
85. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật
Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 ngày 15/6/2004, Hà
Nội.
86. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật
Đường sắt số 35/2005/QH11 ngày 14/6/2005, Hà Nội.
87. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật
Công an nhân dân số 54/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Hà Nội.
161
88. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật
Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 20/6/2008, Hà Nội.
89. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Xử
lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Hà Nội.
90. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật
Công an nhân dân số 73/2014/QH13 ngày 27/11/2014, Hà Nội.
91. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Luật
Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số
14/2017/QH14 ngày 20/6/2017, Hà Nội.
92. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018), Luật
Công an nhân dân năm
93. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020), Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số
/2020/QH13 ngày 20/6/2020, Hà Nội.
94. Lê Thế Tiệm (2001), Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về
trật tự an toàn xã hội trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.
95. Trần Quốc Toàn (2017), Một số vấn đề về xây dựng cơ sở dữ liệu xử
lý vi phạm hành chính về an ninh, trật tự trong Công an nhân dân,
Tạp chí Công an nhân dân, Hà Nội.
96. Nguyễn Quốc Tuấn (2009), Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính góp phần bảo đảm
trật tự an toàn giao thông đường thuỷ nội địa, Đề tài khoa học cấp Bộ,
Hà Nội.
97. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính số 44/2002/PL-UBTVQH10, Hà Nội.
98. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một
162
số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 04/2008/PL-
UBTVQH12, Hà Nội.
99. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1992), Từ điển Tiếng Việt, Trung
tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội.
100. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2005), Bình luận khoa học Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà
Nội.
101. Vũ Quang Vinh (2012), Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của
lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội, Nhà
xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.
102. Nguyễn Xuân Yêm (1998), Một số vấn đề quản lý nhà nước về An ninh
quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà
Nội.
103. Nguyễn Xuân Yêm (1999, tái bản), Một số vấn đề quản lý nhà nước về
An ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Nhà xuất bản Công an nhân
dân, Hà Nội.
104. Đặng Thanh Sơn (2014), Tìm hiểu pháp luật về các biện pháp xử lý
hành chính, Cục Xuất bản, Hà Nội.
II.
Tài liệu nước ngoài
105. C.Mac và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20(1995), Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
106. 李 红 枫 (2013), 行 政 处 罚 证 据 原 理 研 究, 中 国 政 法 大 学
出 版 社.
107. V.T.Batychko (2008), Luật Hành chính (bản tiếng Nga),
108. M.M.RouGevin – Baville, Maitre des requetes qu Conseild’Etesde
France “La sanction en matiere administrative dans le droit
Francais, Rapport pre’sente’ pas”, Paris.
163
109. Trường Đại học Luật NewYork (Fam.Ct.1978) “Những nội dung cơ
bản của pháp luật Mỹ”, Nhà Xuất bản General Editor, NewYork (In
re Andre B., 405 NY.S.ed.977 tại 981).
110. Kikot (2012), Vi phạm hành chính, Viện Kinh tế và Luật Ivan
Kushnir.
111. Prof Grzegorz Lewocki
(2011), Poland’s
experience on
administrative sanctions, Workshop agenda to get feedback on
regulations on administrative sanctions in bill on handling of
administrative violations.
112. Prof. Sarah Biddulph (2011), Report on Types of administrative
penalty in China anh comments on bill on handling of administrative
violations of Vietnam, Law School, Melbourne University.
164
PHỤ LỤC
H1. Biểu đồ biểu diễn tình hình XPVPHC trong 06 tháng đầu năm 2020
Hình 2. Kết quả thi hành quyết định xử phạt hành chính trong 06 tháng đầu năm 2020
165
Hình 3. Thành phần các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong 06 tháng đầu năm 2020
Hình 4. Thành phần các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong 06 tháng đầu năm 2020
(Lưu ý: hình 3 và hình 4 có thể thay thế nhau, nên dùng Hình 4 sẽ rõ hơn trong nội dung này)
166
Hình 5. Các biện pháp xử lý hành chính 06 tháng đầu năm 2020
Năm 2019
H6. Biểu đồ biểu diễn tình hình XPVPHC trong năm 2019
167
Hình 7. Kết quả thi hành quyết định xử phạt hành chính trong năm 2019
Hình 8. Thành phần các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong năm 2019
168
Hình 9. Thành phần các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong năm 2019
(Lưu ý: hình 8 và hình 9 có thể thay thế nhau, nên dùng Hình 9 sẽ rõ hơn trong nội dung này)
Hình 10. Các biện pháp xử lý hành chính trong năm 2019
169
Bảng 2.2 TỔNG HỢP SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
Số vụ VPHC theo lĩnh vực
So sánh với cùng kỳ năm trước
STT
Năm
Số vụ VPHC
Số tiền phạt (tỷ đồng)
Giao thông
PCCC
Số vụ VPHC (%)
Số tiền phạt (%)
QLHC về TTXH 295.116
2010
6.879.018
6.575.340
8.562
1.783,16
1
2011
7.415.209
762.142
6.647.309
5.758
2.000,363
2
tăng 536.191 vụ (+ 7,8%)
tăng 217,203 tỷ (+ 12,18%)
2012
7.924.413
605.557
7.310.770
8.086
2.645,03
3
tăng 509.204 vụ (+ 6,9%)
tăng 644,667 tỷ (+ 32,23%)
2013
6.566.455
790.762
5.748.115
27.578
3.252,972
4
giảm 1.357.958 vụ (- 17,1%)
tăng 607,942 tỷ (+22,98%)
2014
5.415.756
299.472
5.097.060
19.224
3.146,523
5
giảm 1.150.699 vụ (- 17,5%)
giảm 106,449 tỷ (-3,27%)
2015
4.720.681
291.315
4.411.434
17.932
3.070,277
6
giảm 695.075 vụ (- 12,8%)
giảm 76,246 tỷ (-2,42%)
2016
4.787.097
284.206
4.483.225
19.666
2.918,312
7
tăng 66.416 vụ (+1,4%)
giảm 151,965 tỷ (-4,95%)
2017
4.596.743
322.847
4.253.454
20.442
2.895,366
8
giảm 190.354 vụ (-3,9%)
giảm 22,946 tỷ (-0,79%)
2.256.865
184.957
2.064.957
6.951
1.352,428
9
2018 (6 tháng)
50.562.237 100%
3.836.374 7,59%
46.591.664 92,14%
134.199 0,27%
giảm 56.280 vụ (-2,4%)
giảm 244,079 tỷ (- 15,29%)
Tổng cộng Tỷ lệ
23.064,431 (Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát giao thông)
170
Bảng 2.3 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
So sánh với cùng kỳ năm trước
STT
Năm
Số vụ VPHC
Số tiền phạt (tỷ đồng)
Số vụ VPHC (%)
Số tiền phạt (%)
1
2010
295.116
73,72
2
2011
762.142
92,7
3
2012
605.557
186
4
2013
790.762
217
5
2014
299.472
161
6
2015
291.315
165
7
2016
284.206
150
8
2017
322.847
145,4
9
184.957
74
2018 (6 tháng)
tăng 467.026 vụ (+ 158,3%) giảm 156.585 vụ (- 20,55%) tăng 185.205 vụ (+ 30,58%) giảm 491,290 vụ (- 62,1%) giảm 8.157 vụ (-2,72%) giảm 7.109 vụ (-2,44%) tăng 38,641 vụ (+ 13,6%) tăng 23.522 vụ (+ 14,6%)
18,98 tỷ (+ 25,75%) tăng 93,3 tỷ (+ 100,6%) tăng 31 tỷ (+ 16,67%) giảm 56 tỷ (- 25,8%) tăng 4 tỷ (+ 2,5%) giảm 15 tỷ (- 9,1%) giảm 4,6 tỷ (- 3,1%) tăng 1 tỷ (+ 1,37%)
Tổng cộng
1.264,82
3.836.374 Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
171
Bảng 2.4 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI CHIA THEO LĨNH VỰC (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
Chia theo lĩnh vực (số vụ VPHC)
STT
Năm
Tổng số vụ VPHC
Cư trú
Khác
Số tiền phạt (tỷ đồng)
TTCC- TTATGTĐT
Vũ khí - VLN - CCHT
Ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT
1 2 3 4 5 6 7 8
295.116 762.142 605.557 790.762 299.472 291.315 284.206 322.847
9.307 4.684 9.361 16.983 16.802 13.456 9.300 13.482
3.137 3.186 3.107 731 285 284 114 139
19.788 21.423 45.768 16.266 24.094 10.516 3.257 2.804
254.461 728.003 536.189 724.266 257.441 264.957 269.653 302.757
73,72 92,7 186 217 161 165 150 145,4
8.423 4.846 11.132 32.516 850 2.102 1.882 3.665
9
184.957
1.767
147
14.642
163.525
74
4.876
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 (6 tháng)
3.836.374 100%
11.130 0,29%
95.142 2,48%
158.558 4,14%
1.264,82
70.292 1,83%
Tổng cộng Tỷ lệ
3.501.252 91,26% Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
172
Bảng 2.5 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
Số vụ VPHC theo lĩnh vực
So sánh với cùng kỳ năm trước
STT
Năm
Tổng số vụ VPHC
Số tiền phạt (tỷ đồng)
Đường bộ
Đường sắt
Số vụ VPHC (%)
Số tiền phạt (%)
Đường thủy nội địa
2010
1
140
2011
2
82
2012
3
1.771
2013
4
1.858
2014
5
1.976
2015
6
5.244
2016
7
9.563
2017
8
14.236
9
6.575.340 6.647.309 7.310.770 5.748.115 5.097.060 4.411.434 4.483.225 4.253.454 2.064.957
2018 (6 tháng)
1.699.49 1.898.943 2.446.03 3.014.35 2.958.088 2.872.889 2.730.836 2.695.36 1.262.961
7.660
tăng 71.969 vụ (+ 1,2%) tăng 663.461 vụ (+ 9,98%) giảm 1.562.655 vụ (- 21,37%) giảm 651.055 vụ (- 13,45%) giảm 685.626 vụ (- 13,45%) tăng 71.791 vụ (+1,63%) giảm 229.771 vụ (- 5,13%) giảm 179.159 vụ (- 7,98%)
tăng 199,453 tỷ (+ 11,74 %) tăng 547,087 tỷ (+ 28,81%) tăng 568,32 tỷ (+ 23,23%) giảm 56,262 tỷ (- 1,87%) giảm 82,199 tỷ (- 2,88%) giảm 142,053 tỷ (- 4,94%) giảm 35,476 tỷ (-1,3%) giảm 237,765 tỷ (- 15,84%)
Tổng cộng
46.591.664 100%
6.362.907 6.433.922 7.102.156 5.536.203 4.883.692 4.195.258 4.250.114 4.032.822 1.966.376 44.763.450 96.08%
Tỉ lệ %
21.578.947
212.293 213.305 206.843 210.054 211.392 210.932 223.548 206.396 90.921 1.785.684 3.79%
42.530 0.13%
173
Bảng 2.6 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
Tạm giữ phương tiện giao thông
STT Năm
Số vụ VPHC
Tước GPLX
Tổng số
Ô tô
Mô tô
Khác
Số tiền phạt (tỷ đồng)
2010
1
1.601
700.491
12.912
2011
2
1.792.9
559.236
4.063
2012
3
6.362.907 6.433.922 7.102.156
2.331
226.695 275.666 378.439
739.715 587.580 711.993
26.312 24.281 25.368
679.527
7.098
2013
4
5.536.203
2.901.88
449.223
654.105
31.407
609.945
12.753
tăng 570,88 tỷ (+ 24,8%)
2014
5
601.332
11.835
2015
6
552.528
13.827
2.838.597 2.750.2
2016
7
2.597.242
616.162
13.225
2017
8
4.883.692 4.195.258 4.250.114 4.032.822
2.560.075
403.055 354.189 374.026 350.927
644.966 596.110 680.851 632.078
31.799 29.755 51.464 39.074
585.187
7.817
So sánh với cùng kỳ năm trước Số tiền phạt Số vụ VPHC (%) (%) tăng 259 tỷ tăng 733.272 vụ (+ 19,3%) (+ 13,8%) tăng 191,9 tỷ tăng 107.015 vụ (+ 12%) (+ 1,68%) tăng 538,1 tỷ tăng 688.234 vụ (+ 30,01%) (+ 10.38%) giảm 1.565.953 vụ (- 22%) giảm 652.511 vụ (- 11,7%) giảm 668.434 vụ (- 14%) tăng 54.856 vụ (+ 1,31%) giảm 217.292 vụ (- 5,11%)
9
1.966.376
1.196.768
164.697
313.137
20.780
288.193
4.164
giảm 163.402 vụ (- 7,67%)
giảm 63 tỷ (- 2,17%) giảm 87,95 tỷ (- 3.09%) giảm 87,95 tỷ (- 5,58%) giảm 37.167 tỷ (- 1,43%) giảm 234,715 tỷ (- 16,39%)
2018 (6 tháng)
Tổng cộng
44.763.450
20.569.662
2.976.917
5.560.535
280.240
5.192.601
87.694
174
175
Bảng 2.7 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
So sánh với cùng kỳ năm trước
STT
Năm
Số vụ VPHC
Số tiền phạt (tỷ đồng)
Số vụ VPHC (%)
Số tiền phạt (%)
1
2010
0.062
140
2
2011
0.043
82
3
2012
0.39
1.771
4
2013
0.42
1.858
5
2014
0.597
1.976
6
2015
1.359
5.244
7
2016
2.066
9.563
8
2017
3.137
14.236
9
2.158
2018 (6 tháng)
giảm 58 vụ (- 41,4%) tăng 951 vụ (+ 115,97%) tăng 87 vụ (+ 4,91%) tăng 118 vụ (+6,35%) tăng 3.268 vụ (+ 165,38%) tăng 4.319 vụ (+ 82,36%) tăng 4.673 vụ (+ 48,86%) tăng 3.408 vụ (+ 80,15%)
7.660
giảm 19 triệu (- 30,6%) tăng 347 triệu (+ 806,9%) tăng 30 triệu (+ 7,69%) tăng 159,3 triệu (+ 37,94%) tăng 780 triệu (+ 134,57%) tăng 707 triệu (+ 52%) tăng 1.071 triệu (+ 51,84%) tăng 1.118 triệu (+ 107,5%)
Tổng cộng
10.232
42.530
Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát giao thông
176
Bảng 2.8 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG (Từ năm 2010 đến 31/5/2008)
So sánh với cùng kỳ năm trước
STT
Năm
Số vụ VPHC
Số tiền phạt (tỷ đồng)
Số vụ VPHC (%)
Số tiền phạt (%)
Tước bằng, chứng chỉ lái tàu
Đình chỉ phương tiện hoạt động
1
2010
212.293
98.428
224
751
2
2011
213.305
106
232
502
3
2012
206.843
114.640
124
589
4
210.054
112.050
2.342
2013
159
5
2014
211.392
118.894
171
659
6
2015
210.932
121.330
74
459
7
2016
223.548
131.528
45
838
8
2017
206.396
132,148
18
507
9
16
29
6/2018
90.921
64.035
giảm 10,528 vụ (-4,7%) tăng 1,013 vụ (+ 0,47%) giảm 6.462 vụ (-3,03%) tăng 3.211 vụ (+ 1,57%) tăng 1338 vụ (+ 0,63%) giảm 460 vụ (-0,22%) tăng 12.616 vụ (+ 5,98%) giảm 17.152 vụ (- 7,67%) giảm 19,165 vụ (-17,41%)
giảm 6,83 tỷ (-6,5%) tăng 7,572 tỷ (+ 7,7%) tăng 8,64 tỷ (+8,15%) giảm 2,59 tỷ (-2,25%) tăng 6,844 tỷ (+6,11%) tăng 2,436 tỷ (+ 2,05%) tăng 10,198 tỷ (+8,41%) tăng 620 triệu (+0,47%) giảm 4,168 tỷ (-6,11%)
999.053
Tổng cộng
1.785.684
823
6.713
(Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát giao thông)
177
Bảng 2.9 SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH CHÁY, NỔ (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
Số vụ cháy, nổ
Thiệt hại
STT
Năm
Số người chết
Số người bị thương
Tài sản (tỷ đồng)
Cháy
Nổ
1 2 3 4 5 6 7 8
2.231 1.764 1.906 2.624 2.375 2.792 3.006 4.074
29 25 29 35 42 35 23 21
246 245 186 304 173 305 228 227
618,3 572.042 1.114,6 1.656,148 1.310,51 1.499,196 1.241,53 2.124,164
84 84 84 108 119 74 105 107
9
2.024
16
151
1.303,306
68
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 (6 tháng)
Tổng cộng
22.796 255
255
2.065
11.439,796
833
Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
178
Bảng 2.10 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN, CỨU HỘ (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
So sánh với cùng kỳ năm trước
STT
Năm
Số vụ VPHC
Số tiền phạt (tỷ đồng)
Đình chỉ hoạt động
Số vụ VPHC (%)
Số tiền phạt (%)
Tạm đình chỉ hoạt động
1
2010
8.562
9,95
2
9
2
2011
5.758
8,72
12
17
3
2012
8.086
13
27
29
4
2013
27.578
21.622
20
69
5
2014
19.224
27.435
18
28
6
2015
17.932
32.388
12
25
7
2016
19.666
37.476
4
99
8
2017
20.442
54.606
173
258
9
6/2018
6.951
15.467
0
0
Tổng cộng
134.199
220.664
273
534
tăng 1.328 vụ (+ 18,36%) giảm 1.901 vụ (- 22,2%) tăng 2.328 vụ (+ 40,43%) tăng 19.492 vụ (+241%) giảm 8.354 vụ (-30,3%) giảm 1.292 vụ (-6,72%) tăng 1.734 vụ (+9,7%) tăng 776 vụ (+ 3,9%) tăng 158 vụ (+ 2,3%)
tăng 0,85 tỷ (+9,34%) giảm 1,23 tỷ (- 12,4%) tăng 4,28 tỷ (+ 49,1%) tăng 8,622 tỷ (+ 66,3%) tăng 9,61 tỷ (+ 44,4%) tăng 4,953 tỷ (+ 18,05%) tăng 5,079 tỷ (+ 15,7%) tăng 17,13 tỷ (+ 45,7%) giảm 7.314 tỷ (- 32,1%)
Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
179
Bảng 2.11 TỔNG HỢP SỐ LIỆU TỈNH HÌNH THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)
Tổng số QĐ XPVPHC chia theo lĩnh vực
Năm
Số QĐ XPVPHC bị khiếu nại
Tổng số QĐ trong lĩnh vực
Số QĐ XPVPHC được hoãn, miễn, giảm thi hành tiền phạt
Số QĐ XPVPHC bị cưỡng chế thi hành
QÐ XPVPHC trong lĩnh vực PCCC
QÐ XPVPHC trong lĩnh vực QLHC về XPVPHC
QÐ XPVPHC trong lĩnh vực giao thông
2010
6.879.018
295.116
6.575.340
8.562
4.856
816
47
2011
7.415.209
762.142
6.647.309
5.758
6.132
1.125
52
2012
7.924,413
605.557
7.310.770
7.310.770
3.549
942
20
2013
6.566.455
790.762
5.748.115
27.578
5.764
239
15
2014
5.415.756
299.472
5.097.060
19.224
9.255
381
37
2015
4.720.681
291.315
4.411.434
17.932
7.494
423
32
2016
4.787.097
284.206
4.483.225
19.666
8.083
319
35
2017
4.596.743
322.847
4.253.454
20.442
4.079
1.014
45
2018
2.256.865
184.957
2.064.957
6.951
1.985
507
21
51.197
5.766
Tổng số
50.562.237
3.836.374
46.591.664
304
134.199 Nguồn cung cấp: Cục C06, C07, C08
180

