VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THU HIỀN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN

NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI- 2021

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THU HIỀN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN

NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 9.38.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Bùi Thị Đào

HÀ NỘI- 2021

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông

tin nêu trong luận án là trung thực, chính xác. Các trích dẫn trong luận án đều

được chú thích đầy đủ và chính xác. Các kết quả trình bày trong luận án chưa

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Nguyễn Thu Hiền

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .................................................................................. 7

1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án ....................... 7

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ............ 13

1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án ............ 15

1.4. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu.................................. 16

Kết luận Chương 1 ........................................................................................ 17

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ............................... 18

2.1. Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính .......................... 18

2.2. Quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính ...................... 31

2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính ....... 43

2.4. Vai trò của quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính .... 57

2.5. Các bảo đảm tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm

hành chính ............................................................................................... 59

Kết luận Chương 2 ........................................................................................ 64

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ

LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN NGÀNH CÔNG AN

NHÂN DÂN ................................................................................................... 66

3.1. Tình hình, đặc điểm có liên quan đến quản lý nhà nước đối với

xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ........... 66

3.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ..................................................... 77

3.3. Nguyên nhân .................................................................................. 105

Kết luận Chương 3 ...................................................................................... 111

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TỪ

THỰC TIỄN NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN ...................................... 112

4.1. Dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với

xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ......... 112

4.2. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm

hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ................................. 117

4.3. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi

phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân ....................... 125

Kết luận Chương 4 ...................................................................................... 146

KẾT LUẬN .................................................................................................. 148

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 152

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

An ninh trật tự

: ANTT

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

: BPGDTXPTT

Cảnh sát Giao thông

:CSGT

Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn

:CSPCCC $CHCN

Cơ sở giáo dục bắt buộc

: CSGDBB

Công an nhân dân

: CAND

Quản lý nhà nước

:QLNN

Trật tự an toàn xã hội

: TTATXH

Trật tự xã hội

: TTXH

Trường Giáo dưỡng

:TGD

Vi phạm hành chính

: VPHC

Xử lý vi phạm hành chính

: XLVPHC

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

VPHC là một loại vi phạm pháp luật xảy ra phổ biến trong đời sống xã hội,

tuy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa đến mức coi là “tội phạm” nhưng

lại là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn làm nảy sinh tội phạm, nếu không được

ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Pháp luật về XLVPHC có nội dung tương đối phức tạp và được quy định

trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Ngoài những quy định chung

trong Luật XLVPHC năm 2012, còn có hơn 100 Nghị định do Chính phủ ban hành

quy định chi tiết XLVPHC trong các lĩnh vực QLNN, trong đó có nhiều lĩnh vực

liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND. Số liệu thống kê

của Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ cho thấy, số vụ xử phạt VPHC trung bình hàng

năm được phát hiện, xử lý trên các lĩnh vực QLNN, các ngành và các địa phương có

tới 75% số vụ việc thuộc thẩm quyền xử lý của ngành Công an. Chỉ tính riêng năm

2014, tổng số vụ VPHC đã được phát hiện là 4.766.626 vụ việc, các cơ quan có

thẩm quyền đã ra 1.637.684 quyết định xử phạt, đã thi hành xong 116.522 quyết

định; tổng số tiền phạt thu được là 5.254.473.450.824 đồng [29]; trong đó, riêng

ngành Công an đã phát hiện 4.146.966 vụ; tổng số tiền phạt thu được từ xử phạt

VPHC: 2.389.593.565.039đ [10]. VPHC diễn ra trên mọi lĩnh vực, trên khắp các địa

bàn tỉnh, thành trên cả nước và thường diễn ra trong các lĩnh vực như: giao thông;

an ninh trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường; xây dựng, đất đai; hải quan, thủ

tục thuế; thương mại, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý rừng, lâm

sản…, trong đó, nổi bật lên là VPHC trong lĩnh vực an toàn giao thông và lĩnh vực

an ninh TTATXH[29].

Với thực trạng VPHC diễn ra ngày càng phổ biến, trên nhiều lĩnh vực như số

liệu đã được thống kê, báo cáo cho thấy việc QLNN đối với XLVPHC nói chung và

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành Công an nói riêng trong thời gian qua

có diễn biến khá phức tạp. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ

thống về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, đưa ra các giải pháp

1

nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND đã đặt ra như một nhu cầu cấp thiết. Với những lý do trên, NCS đã lựa chọn

vấn đề: “QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND” làm đề tài luận án tiến

sĩ luật học, ngành Luật Hiến Pháp và Luật Hành chính, mã số 9 38 01 02.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, Luận án nhằm đạt mục đích sau: làm sáng

tỏ những vấn đề lý luận QLNN đối với XLVPHC nói chung; đánh giá thực trạng,

chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp góp phần tăng

cường hiệu quả của QLNN đối với XLVPHC nói chung và QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND nói riêng.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, Luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu về vấn đề có liên quan đến đề tài và chỉ ra

được những vấn đề luận án cần giải quyết qua hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả

thuyết nghiên cứu;

- Đưa ra được khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp QLNN đối với

XLVPHC; xác định các yếu tố bảo đảm QLNN đối với XLVPHC;

- Đánh giá thực trạng của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND; chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

- Đề xuất những quan điểm, giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, góp phần nâng cao hiệu quả

QLNN đối với XLVPHC.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận án nghiên cứu trong phạm vi một số ngành có chức

năng quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính và chủ yếu là ngành

2

CAND;

Về thời gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật từ năm 2010 đến nay 2020;

Về nội dung: QLNN đối với XLVPHC có nội dung nghiên cứu rộng; bao

trùm. Trong phạm vi nghiên cứu phù hợp với ngành Luật hiến pháp và Luật hành

chính, Luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu làm rõ những quy định của pháp luật

và tổ chức thực hiện pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND; đánh giá khái quát thực trạng QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND, không đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể trong QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

Về chủ thể: đây là một đề tài nghiên cứu rộng, phức tạp, có liên quan đến

nhiều chủ thể có trách nhiệm, thẩm quyền trong QLNN đối với XLVPHC. Trong

khuôn khổ của đề tài này, chủ thể chủ yếu được đề cập đến là cơ quan QLNN đối

với XLVPHC của một số bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp được giao

thẩm quyền và nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC được pháp luật quy định và

ngành CAND.

Số liệu của luận án được thu thập chủ yếu từ Cục Quản lý XLVPHC và theo

dõi thi hành pháp luật Bộ Tư Pháp và Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp

Bộ Công an; các Cục nghiệp vụ của ngành Công an có chức năng, thẩm quyền

XLVPHC theo quy định của pháp luật hành chính;

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp luật, thực tiễn

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở phương pháp luận

Luận án được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,

duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và

pháp luật; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về cải cách tư

pháp, cải cách thủ tục hành chính, về QLNN đối với XLVPHC, xây dựng Nhà nước

pháp quyền Việt Nam XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; cơ sở lý

3

luận của khoa học Luật Hiến Pháp và Luật Hành chính; các quan điểm của Đảng và

pháp luật của Nhà nước về phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật hành chính;

về xử lý các hành vi VPHC, về QLNN đối với XLVPHC nói chung và QLNN đối

với xử lý vi phạm hành từ thực tiễn ngành CAND nói riêng.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành và bảo đảm chất lượng của Luận án, quá trình nghiên cứu đề

tài, các phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng là phân tích, so sánh, thống kê,

tổng hợp, khảo sát, hệ thống hóa,…, cụ thể:

- NCS sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong tất cả

các chương của Luận án, nhằm trình bày, làm rõ các quan điểm, quan niệm khoa

học về VPHC, về XLVPHC, về QLNN và QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của

ngành CAND; các mô hình và kinh nghiệm QLNN đối với XLVPHC trên thế giới.

Trên cơ sở đó, làm rõ và xây dựng khái niệm, đặc điểm, nội dung của QLNN đối

với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND (Chương 1, 2).

- NCS sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát

để nghiên cứu, làm rõ thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; đánh giá thực trạng QLNN đối với XLVPHC

từ thực tiễn ngành CAND từ 2013 đến nay; làm rõ những ưu điểm, tồn tại, hạn chế

và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong QLNN đối với XLVPHC từ thực

tiễn ngành CAND. Đồng thời, NCS cũng sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát để

tìm hiểu quan điểm, nhận thức của các nhà chuyên môn, các chuyên gia pháp luật,

áp dụng pháp luật về hành vi VPHC, XLVPHC, về QLNN đối với XLVPHC từ

thực tiễn ngành CAND.

- Phương pháp dự báo khoa học, được sử dụng để dự báo về tình hình vi

phạm pháp luật hành chính và những vấn đề liên quan đến QLNN đối với XLVPHC

từ thực tiễn ngành CAND trong thời gian tới; tổng hợp kết quả nghiên cứu, trình

bày các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách hành chính, xây dựng Nhà

nước pháp quyền Việt nam XHCN và đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả quản lý nhà nước đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong thời

4

gian tới.

- Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng trong toàn bộ các chương của luận

án nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong luận án theo một trình tự, một bố cục

hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt được

mục đích, yêu cầu đã được xác định cho Luận án.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận án là một công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về

lý luận QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành Công an; đề xuất định hướng,

nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND, góp phần làm rõ hơn lý luận về VPHC, XLVPHC, QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn của ngành CAND, nâng cao hiệu quả của QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

Kết quả nghiên cứu của Luận án cung cấp các luận cứ khoa học cho các nhà

nghiên cứu, những người làm công tác lập pháp tham khảo khi xây dựng, hoàn thiện

cơ chế về QLNN đối với XLVPHC, về pháp luật XLVPHC nhằm nâng cao hiệu quả

QLNN đối với XLVPHC, góp phần vào công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư

pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN đã được ghi nhận trong văn

kiện Đại hội lần thứ XI, XII của Đảng và Hiến pháp năm 2013. Luận án là công

trình nghiên cứu có giá trị tham khảo, phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy,

học tập về pháp luật XLVPHC, về QLNN đối với XLVPHC trong các cơ sở đào tạo

về pháp luật, về QLNN.

6. Đóng góp mới về khoa học của Luận án

Thứ nhất, từ các kết quả nghiên cứu, luận án góp phần làm sáng tỏ những

vấn đề lý luận về QLNN đối với XLVPHC, trên các nội dung về khái niệm, đặc

điểm, phương pháp và các yếu tố bảo đảm tăng cường QLNN đối với XLVPHC.

Thứ hai, luận án đánh giá một cách khác quan, có hệ thống thực trạng

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, chỉ ra những ưu điểm, kết quả,

hạn chế, và những nguyên nhấn của hạn chế của QLNN đối với XLVPHC từ thực

tiễn ngành CAND.

Thứ ba, Luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp tăng cường hiệu quả

5

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong thời gian tới.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết thúc, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội

dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận của QLNN đối với XLVPHC.

Chương 3: Thực trạng QLNN đối với công tác XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ

6

thực tiễn ngành CAND.

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu, trao đổi khoa học về QLNN

đối với XLVPHC, nghiên cứu một số vấn đề hoặc một số những lĩnh vực, hoạt động

cụ thể của XLVPHC trong ngành CAND. Để phục vụ nghiên cứu luận án, nghiên

cứu sinh đã lựa chọn một số công trình nghiên cứu được xem là có liên quan trực

tiếp tới các nội dung của luận án và có thể sắp xếp các công trình theo nhóm các

vấn đề sau:

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về QLNN đối với

XLVPHC

- Sách chuyên khảo “Bước đầu tìm hiểu về QLNN về an ninh trật tự”,

PGS.TS. Nguyễn Duy Hùng - PGS.TS Hồ Trọng Ngũ, NXB CAND, 1997 [63].

Đây là công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về an ninh chính

trị và TTATXH ở Việt Nam trong tình hình mới, trong đó, chủ yếu hàm lượng của

cuốn sách tập trung chủ yếu vào các vấn đề về TTATXH; các vấn đề thuộc phạm

trù về an ninh chính trị chỉ được nêu ra để bảo đảm tính hệ thống. Theo đó, trên cơ

sở nghiên cứu thực tiễn của QLNN về TTATXH, quản lý hành chính về trật tự xã

hội, một số vấn đề nổi cộm trong QLNN đối với đấu tranh phòng chống tội phạm và

tệ nạn xã hội,…đồng tác giả đã đề cập đến khái niệm về “QLNN”, về “an ninh trật

tự”, về “QLNN về an ninh trật tự”,… và các đặc điểm, nội dung cơ bản của QLNN

về an ninh trật tự. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu có liên quan về QLNN nói

chung và QLNN về an ninh trật tự nói riêng, tác giả Nguyễn Duy Hùng và Hồ

Trọng Ngũ đã đề cập đến những vấn đề lớn, vừa mang tính phương pháp tiếp cận,

vừa đề cập đến những vấn đề cụ thể tình hình QLNN về an ninh - trật tự. Cuốn sách

đã phân tích các đặc điểm nội dung cơ bản của QLNN về ANTT, cơ sở pháp lý, cơ

chế điều chỉnh pháp luật của QLNN, QLNN trong lĩnh vực ANTT cùng những đặc

7

điểm riêng có của QLNN về ANTT, phương pháp điều chỉnh, chủ thể, khách thể

của QLNN về ANTT cùng những nội dung chủ yếu của nội hàm khái niệm về

QLNN về ANTT. Sau khi nêu lên một số vấn đề thực tiễn tình hình ANTT, đồng

tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận và một số dự báo về những vấn đề của tình hình

ANTT. Theo đồng tác giả, đây là là nội dung được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc

có tính biện chứng và kế thừa lịch sử - phương pháp luận cơ bản của dự báo các tiến

trình xã hội. Từ đó, đồng tác giả phân tích hệ thống các yếu tố ảnh hưởng và tác

động tới tình hình ANTT, quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế và đặc biệt quan tâm phân

tích quan hệ giữa các thiết chế về an ninh, an toàn cho lợi ích cá nhân, lợi ích tập

thể, lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành phần kinh tế trong một xã hội có

những biến đổi và phát triển theo xu hướng thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Trên cơ sở đó, cuốn sách đã đưa ra một số các yêu cầu, giải pháp đối với QLNN về

an ninh trật tự (những giải pháp về tư tưởng, về tính pháp lý, về các hình thức cụ thể

trong xây dựng và củng cố hệ thống QLNN về an ninh, trật tự,…). Có thể thấy rằng,

cuốn sách đã tiếp cận được tương đối cơ bản và khá hệ thống về QLNN về ANTT.

Đối với từng vấn đề nghiên cứu (QLNN về ANTT, chủ thể, khách thể, đối tượng,

đặc điểm, cơ sở pháp lý, dự báo và giải pháp tăng cường QLNN về ANTT) được

đồng tác giả tiếp cận, nghiên cứu theo quan điểm riêng và từng quan điểm được

đồng tác giả luận giải rõ ràng dựa trên những lý luận nhất định. Các tác giả đã xây

dựng được mô hình nghiên cứu riêng về QLNN về ANTT, làm rõ những cơ sở lý

luận và thực tiễn QLNN về ANTT, là cuốn chuyên khảo đầu tiên đi sâu nghiên cứu

những cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về an ninh chính trị và TTATXH trong tình

hình mới. Cuốn sách thực sự có giá trị tham khảo đối với NCS trong việc vận dụng

phương pháp nghiên cứu, phân tích, đánh giá số liệu, tập trung giải quyết một số

vấn đề có tính cơ bản, mấu chốt của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND, chủ thể nòng cốt, trực tiếp được nhà nước giao nhiệm vụ trên lĩnh vực bảo

đảm an ninh, trật tự và TTATXH.

- Giáo trình “QLNN về an ninh trật tự” của Học viện Hành chính, NXB

Khoa học và Kỹ thuật, năm 2013 [62]. Nội dung giáo trình đề cập và làm rõ những

vấn đề lý luận cơ bản về QLNN về an ninh trật tự như: Khái niệm, đối tượng,

8

phương pháp của QLNN về an ninh trật tự; Những vấn đề cơ bản về an ninh, quốc

phòng; Những quan điểm của Đảng, Nhà nước về an ninh, quốc phòng; Nội dung

QLNN về an ninh quốc gia, TTATXH và quốc phòng. Giáo trình là tài liệu trang bị

cho sinh viên, học sinh Học viện Hành chính quốc gia những kiến thức cơ bản về an

ninh, quốc phòng, về QLNN về an ninh, quốc phòng, đồng thời làm cơ sở phương

pháp luận để nghiên cứu các vấn đề thực tiễn QLNN về an ninh, quốc phòng. Giáo

trình đã đưa ra khái niệm về QLNN về an ninh trật tự và an toàn xã hội như sau:

“ QLNN về an ninh quốc gia, TTATXH là hoạt động chấp hành và điều hành

của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền, được

tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong cuộc

sống hàng ngày các chức năng nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và

TTATXH” [71]. Giáo trình là tài liệu tin cậy, giúp NCS hoàn thiện lý luận về QLNN

đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND được đề cập trong luận án.

1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng của QLNN đối với

XLVPHC

- Cuốn “Thẩm quyền XLVPHC của CAND” của GS, TS. Nguyễn Ngọc Anh

(Chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2015[2]. Cuốn sách đã đề cập đến

những vấn đề hết sức quan trọng về thẩm quyền XLVPHC trong lực lượng CAND,

đặc biệt là những cán bộ, chiến sĩ CAND trực tiếp XLVPHC tại các đơn vị, địa

phương. Được tiếp cận và phân tích trên bình diện lý luận về XLVPHC, đồng thời

dẫn chiếu những quy định của pháp luật thực định về thẩm quyền XLVPHC của lực

lượng CAND, cuốn sách đã phân tích và nêu lên những vấn đề cơ bản về hành vi

VPHC, phân biệt VPHC với những hành vi vi phạm pháp luật khác. Đặc biệt, trong

phần phân tích cụ thể về thẩm quyền xử lý vi phạm của lực lượng CAND, cuốn

sách đã tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền

XLVPHC của CAND theo các nội dung: thẩm quyền xử phạt VPHC, thẩm quyền

áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, thẩm quyền áp dụng các biện pháp

ngăn chặn VPHC và thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết

định xử phạt VPHC, xác định rõ thẩm quyền XLVPHC của CAND và phân biệt rõ

thẩm quyền xử lý vi phạm của CAND với thẩm quyền XLVPHC của các cơ quan,

9

lực lượng khác; tiếp cận những nhận thức chung nhất về XLVPHC, về thẩm quyền

XLVPHC và các nguyên tắc cơ bản trong XLVPHC của lực lượng CAND. Bên

cạnh đó, cuốn sách cũng đồng thời đề cập và phân tích một cách sâu sắc và cụ thể

về thẩm quyền của lực lượng CAND trong việc áp dụng các biện pháp XLHC.

- Luận án Tiến sĩ Luật học “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao

thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Đinh Phan Quỳnh, Học

viện Khoa học xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2018 [86].

Với nội dung về XLVPHC và XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trên

cơ sở pháp luật thực định, từ đó, tác giả đã xây dựng khái niệm về XLVPHC, từ đó

phân tích các đặc điểm, vai trò, nguyên tắc về XLVPHC cũng như đưa ra các đánh

giá về những kết quả đã đạt được, phân tích những khó khăn, hạn chế của hoạt động

XLVPHC nói chung và lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng; đề xuất những giải

pháp hướng tới sự hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực

quản lý về XLVPHC nói chung và trong lĩnh vực quản lý XLVPHC trong lĩnh vực

giao thông đường bộ nói riêng.

- Sách tham khảo Tìm hiểu Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, do

GS.TS Trần Đại Quang cùng tác giả GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên), Nhà

xuất bản Lao động, năm 2014[4]. Cuốn sách đã phân tích vai trò, tầm quan trọng

của công tác XLVPHC, khẳng định yêu cầu khách quan về sự cần thiết phải tăng

cường QLNN đối với công tác XLVPHC, đặc biệt là đối với lực lượng CAND, là sự

thể chế một cách kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy

định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần

bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối

với VPHC, tội phạm trong thời kỳ mới, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất và

chồng chéo trong hệ thống pháp luật về XLVPHC; đồng thời tạo cơ sở pháp lý đầy

đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các

điều ước quốc tế; đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội của

đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

- Sách tham khảo Tìm hiểu pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính do

10

Ths. Đặng Thanh Sơn (Chủ biên), Cục Xuất bản, in và phát hành năm 2014 [97].

Cuốn sách được sắp xếp theo trình tự, bố cục của Luật XLVPHC năm 2012, dưới

dạng hỏi, đáp, đề cập tương đối đầy đủ, toàn diện các nội dung chủ yếu của Luật

XLVPHC 2012, tập trung đề cập đến nội dung các quy định của pháp luật về áp

dụng các biện pháp xử lý hành chính và biện pháp thay thế XLVPHC quản lý tại gia

đình. Bên cạnh đó, nội dung cuốn sách còn là sự đánh giá, khẳng định một bước

phát triển mới về cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân, góp

phần duy trì kỷ cương, trật tự trong QLNN, quản lý hành chính ở nước ta, phù hợp

với tinh thần của Hiến pháp 2013, bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch

trong trình tự, thủ tục XLVPHC đồi với cá nhân, tổ chức VPHC, trong đó bao gồm

cả người chưa thành niên VPHC.

- Sách chuyên khảo: “Nghiên cứu lý nguyên lý chứng cứ trong xử phạt hành

chính” của Lý Hồng Phong, Nhà xuất bản Đại học Chính pháp Trung Quốc phát

hành năm 2013[100]. Cuốn sách gồm 06 chương, trình bày những nội dung chính:

Cơ sở lý luận của chứng cứ trong xử phạt hành chính, trong đó nhấn mạnh vào khái

niệm, đặc điểm, chức năng của chứng cứ trong xử phạt hành chính; so sánh chứng

cứ trong tố tụng hình sự với chứng cứ trong tố tụng hành chính; phân loại chứng cứ

trong xử phạt hành chính; công tác thu giữ, bảo quản, đánh giá chứng cứ trong xử

phạt hành chính; phương hướng xây dựng và hoàn thiện quy định về chứng cứ trong

xử phạt hành chính. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị nghiên cứu chung, cơ bản

nhất của xử phạt VPHC, giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn toàn diện, tổng quan

hơn khi nghiên cứu lý luận và gợi ý xây dựng một số giải pháp của đề tài luận án.

- Báo cáo “Về xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật của Cộng hòa

Pháp” của ông M.M. RouGevin – Baville, Hội đồng nhà nước Pháp (La sanction en

matiere administrative dans le droit Francais, Rapport pre’sente’ pas

M.M.RouGevin – Baville, Maitre des requetes qu Conseild’Etesde France)[103].

Theo nghiên cứu của M.M. RouGevin – Baville, ở nước Cộng hòa Pháp hiện nay tồn

tại 03 quan điểm về xử phạt VPHC:

Thứ nhất là, quan điểm thực dụng. Do yêu cầu của lợi ích công, đặc biệt là

tính nhanh chóng của hoạt động hành chính, nên cơ quan hành chính phải được trao

quyền xử phạt hành chính - nghĩa là tự mình áp dụng các chế tài mà không cần qua

11

cơ quan tư pháp.

Thứ hai là, quan điểm dựa trên nguyên tắc pháp chế, chế tài hành chính cũng

phải do thẩm phán áp dụng, đặc biệt là các chế tài liên quan đến việc tước đoạt tự

do cá nhân.

Thứ ba là, quan điểm trung gian, phụ thuộc vào việc phân biệt các mức độ vi

phạm, nếu vi phạm chỉ đơn thuần là không tôn trọng các quy định thủ tục, vi phạm

nhẹ, thì cơ quan hành chính có quyền xử lý, tuy nhiên, nếu việc thực thi chậm trễ thì

Tòa án cảnh sát có thể can thiệp; đối với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng,

không tuân thủ lệnh kiểm tra, thì thẩm quyền thuộc Tòa án. Cơ quan hành chính nào

có quyền cấp phép thì cũng có quyền tước giấy phép nếu có những vi phạm kỷ luật

(quy tắc sử dụng giấy phép), ngay cả khi không có văn bản nào quy định quyền này:

“xuất phát từ nội dung chấp nhận, cơ quan cấp giấy phép có quyền tước giấy phép

của chủ sử dụng đã không tuân thủ đầy đủ những điều kiện được cấp phép”.

- Tác phẩm Luật Hành chính của tác giả V.T.Batychko (bản tiếng Nga, xuất

bản năm 2008 [102]. Đây là tài liệu phục vụ cho sinh viên và nghiên cứu sinh ngành

luật trong quá trình học tập. Cuốn sách được chia thành 9 phần lớn, trong đó Phần

thứ 8 trình bày về Trách nhiệm hành chính. Trong Phần thứ 8, tác giả đã đề cập đến

các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hành chính, các dấu hiệu, yếu tố cấu thành

VPHC, chủ thể, nguyên tắc xử phạt VPHC. Một số nội dung của Phần này có ý

nghĩa khá quan trọng với luận án trong việc phân tích những khái niệm có liên quan

đến hoạt động XLVPHC, các quan điểm về hoàn thiện lý luận về XLVPHC. Ví dụ

như trong khi phân tích về yếu tố chủ thể trong VPHC, tác giả chú trọng đến “chủ

thể đặc biệt” trong thực hiện hành vi VPHC, ngoài các chủ thể thông thường, vì

theo tác giả, nếu có sự phân định rõ ràng, sẽ tránh được và hạn chế việc áp dụng

trách nhiệm hành chính một cách máy móc.

1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu các giải pháp về QLNN đối

với XLVPHC

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành

chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự”, PGS.TS Đặng Anh làm chủ nhiệm đề tài,

năm 2009 [6]. Đề tài tập trung phân tích về VPHC và XLVPHC trong lĩnh vực an

ninh, trật tự; từ đó chỉ ra các dấu hiệu của VPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự, phân

12

biệt với vi phạm pháp luật hình sự. Tác giả đã tập trung làm rõ thực trạng của tình

hình VPHC, phân tích, đánh giá và từ đó đưa ra một số giải pháp cụ thể góp phần

nâng cao hiệu quả XLVPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự của ngành CAND. Đây

là tài liệu giúp nghiên cứu sinh tham khảo sâu hơn về lý luận VPHC, gợi mở các

giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu lực QLNN đối với XLVPHC trong quá trình

nghiên cứu đề tài luận án.

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi

phạm hành chính thuộc chức năng của Công an nhân dân”, TS.Vũ Huy Khánh làm

Chủ nhiệm đề tài[65]. Đề tài nghiên cứu đã đề cập và phân tích khái niệm QLNN về

thi hành pháp luật XLVPHC; phân tích làm rõ mực tiêu, yêu cầu, nội dung và trách

nhiệm của QLNN về thi hành pháp luật XLVPHC thuộc chức năng của CAND.

Trên cơ sở phân tích số liệu thống kê, tổng hợp về tình hình QLNN về thi hành

pháp luật XLVPHC, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc, từ đó đề xuất một số giải

pháp nâng cao hiệu quả QLNN về thi hành pháp luật XLVPHC thuộc chức năng

của CAND. Đây là tài liệu tham khảo giúp nghiên cứu sinh có thêm một góc nhìn

về QLNN về thi hành pháp luật XLVPHC thuộc chức năng của CAND, đồng thời là

một gợi ý cho nghiên cứu sinh định hướng nghiên cứu luận án này.

- Luận án Tiến sĩ Luật học “Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị từ thực

tiễn địa bàn thành phố Hà Nội”, Dương Thanh Liêm, Học Viện Khoa học Xã hội,

Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2019[66] đã phân tích một số vấn đề lý

luận về QLNN vè an ninh, trật tự ở đô thị, làm rõ thực trạng QLNN về an ninh trật tự ở

đô thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội, làm rõ các đặc điểm đặc trưng của đô thị

Hà Nội và một số nội dung về QLNN về an ninh, trật tự đô thị từ thực tiễn địa bàn

thành phố Hà Nội. Luận án có giá trị khá quan trọng để nghiên cứu sinh định hướng, kế

thừa một số vấn đề về lý luận QLNN khi thực hiện đề tài luận án của mình.

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Qua nghiên cứu các công trình có liên quan đến nội dung của luận án đã

được công bố ở ngoài nước và trong nước đã phân tích ở trên, NCS có một số nhận

xét, đánh giá như sau:

Một là, các công trình nghiên cứu đã công bố trước đây về cơ bản đã làm

13

sáng tỏ các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về công tác QLNN đối với

XLVPHC. Đồng thời, các công trình cũng đã xây dựng, phát triển và làm phong

phú thêm hệ thống tri thức lý luận về những vấn đề có tính quy luật; luận giải, phân

tích về quá trình hình thành, khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp của

QLNN đối với XLVPHC.

Nhóm các công trình nghiên cứu về lý luận QLNN đối với XLVPHC cũng

đã cung cấp các luận cứ khoa học về việc vận dụng chủ trương, chính sách của

Đảng, Nhà nước trong công tác XLVPHC, giữ gìn TTATXH; về việc đáp ứng yêu

cầu thể chế một cách kịp thời, đầy đủ, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng về

xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp,

cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về xây dựng nhà nước pháp quyền, của dân,

do dan, vì dân, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Tuy

nhiên, trước những diễn biến mới phức tạp của tình hình thế giới và trong nước,

chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, kịp thời bổ sung, phát triển, hoàn thiện những vấn

đề lý luận mới này sinh trong QLNN đối với XLVPHC để phục vụ cho sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

QLNN đối với XLVPHC ở mỗi lĩnh vực QLNN khác nhau có những đặc thù

khác nhau, vì vậy, việc kế thừa các lý luận của các công trình nghiên cứu cũng phải

xem xét để đề xuất những quan điểm, giải pháp phù hợp. Đối với ngành CAND, các

công trình đã phân tích và đưa ra các khái niệm về XLVPHC trong lĩnh vực bảo

đảm TTATXH, hoạt động XLVPHC của ngành CAND,…Kết quả nghiên cứu của

các công trình này đều là những tài liệu tham khảo có giá trị trong việc làm sảng tỏ

các vấn đề lý luận của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

Hai là, tuy đã có một số công trình, bài viết khoa học ở trong nước và ở nước

ngoài nghiên cứu về VPHC, XLVPHC, QLNN về TTATXH nhưng chưa có công

trình nào chuyên sâu nghiên cứu về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND. Các công trình đã công bố mới chỉ dừng lại ở việc hoặc đề xuất hoàn thiện

pháp luật về XLVPHC, thẩm quyền XLVPHC hoặc đề xuất các giải pháp về nâng

cao hiệu quả hoạt động QLNN ở lĩnh vực an ninh trật tự mà chưa có có công trình

nào đánh giá, tổng kết một cách toàn diện về thực tiễn thi hành pháp luật hành chính

14

trên các lĩnh vực QLNN, đặc biệt là từ thực tiễn QLNN đối với XLVPHC ngành

CAND, để từ đó đánh giá một cách khách quan, chính xác những thuận lợi, khó

khăn, vướng mắc và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả

QLNN đối với XLVPHC, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Ba là, trong tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo chủ trương

của Đảng và nhà nước ta nhằm xây dựng một nhà nước pháp quyền Việt Nam xã

hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đẩy mạnh cải cách hành

chính, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa và hội nhập quốc tế, cho tới nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu

chuyên sâu từ tình hình thực tiễn quản lý XLVPHC của một ngành cụ thể, từ đó

khái quát về mặt lý luận, phương pháp, nội dung, đặc điểm của QLNN đối với

XLVPHC, đề xuất những giải pháp mang tính tổng thể nhằm nâng cao QLNN đối

với XLVPHC trong các lĩnh vực QLNN.

1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Từ nhận xét tổng quan nên trên, vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu luận án là:

(1) Nghiên cứu, làm rõ quan điểm của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc Nhà

nước quản lý đất nước bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội

chủ nghĩa về cải cách hành chính, về QLNN, các quy định của pháp luật về VPHC,

XLVPHC để xây dựng khái niệm, đặc điểm, nội dung của QLNN đối với XLVPHC

từ thực tiễn ngành CAND.

(2) Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về VPHC, XLVPHC,

QLNN đối với XLVPHC, như: Khái niệm về VPHC, khái niệm VPHC trong lĩnh

vực TTATXH; khái niệm về XLVPHC; khái niệm QLNN, QLNN đối với

XLVPHC; khách thể, chủ thể, đối tượng, nội dung của QLNN đối với XLVPHC.

(3) Khảo sát, đánh giá tình hình có liên quan đến VPHC, XLVPHC, QLNN

đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; Phân tích, đánh giá thực trạng tình

hình QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong những năm gần đây;

trên cơ sở đó, rút ra những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của những hạn

chế, thiếu sót trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

(4) Đề xuất quan điểm, giải pháp góp phần tăng cường hiệu quả QLNN đối

15

với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong tình hình mới.

1.4. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.4.1. Giả thuyết nghiên cứu

QLNN đối với XLVPHC tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu nhưng

còn tồn tại khá nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về QLNN đối với XLVPHC.

Và cho đến nay, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề nghiên

cứu chuyên sâu về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND. Trước yêu

cầu của tình hình mới, cần phải bổ sung, hoàn thiện các giải pháp nhằm tăng cường

hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, góp phần bảo đảm

trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các hành vi

VPHC và tội phạm trong thời kỳ mới.

1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu

Nhằm tăng cường hiệu quả QLNN đối với XLVPHC đối với XLVPHC từ

thực tiễn ngành CAND, nhiệm vụ của luận án cần tập trung giải đáp một số câu hỏi

nghiên cứu sau:

- Cơ sở lý luận của QLNN đối với XLVPHC là gì? QLNN đối với

XLVPHC? Nội dung của QLNN đối với XLVPHC? Các biện pháp bảo đảm nhằm

tăng cường QLNN đối với XLVPHC ?

- Thực trạng của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND như thế

nào? Sự đáp ứng của tình hình QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND

ra sao trong tình hình xây dựng, phát triển đất nước?

- Các giải pháp bảo đảm nhằm tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ thực

16

tiễn ngành CAND? Cách thức, biện pháp triển khai ra sao?

Kết luận Chương 1

Trong Chương 1, luận án nghiên cứu một số công trình khoa học có liên

quan trực tiếp tới QLNN đối với XLVPHC. Các công trình được chia làm ba nhóm

khác nhau, đó là: lý luận, thực trạng và kiến nghị giải pháp. Các nội dung này tương

ứng với ba chương của Luận án.

Chương tổng quan của Luận án cho thấy, đã có khá nhiều công trình nghiên

cứu đi theo hướng phân tích thực trạng QLNN của một lĩnh vực quản lý cụ thể, trên

cơ sở đó rút ra các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp như: QLNN về xử phạt

VPHC trong lĩnh vực TTATXH của lực lượng CSGT; QLNN về an ninh trật tự của

Công an xã; QLNN về theo dõi hoạt động thi hành pháp luật XLVPHC trong

CAND; QLNN về an ninh, trật tự… Một số công trình nghiên cứu về QLNN đối

với an ninh trật tự theo hướng nghiên cứu hoàn thiện thể chế, cơ chế QLNN trong

lĩnh vực an ninh trật tự…. Nhìn chung các công trình nghiên cứu khá đa dạng,

phong phú. Mặc dù vậy, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề lý luận về QLNN về an ninh

trật tự, an toàn xã hội, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu một cách toàn diện hơn, có hệ

thống hơn và chuyên sâu hơn về vấn đền QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

ngành CAND.

Kết quả nghiên cứu tại Chương 1 là tiền đề có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc

đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận về VPHC, XLVPHC, về QLNN và QLNN đối với

17

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND được trình bày ở Chương 2 của luận án.

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

2.1. Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính

2.1.1. Vi phạm hành chính

2.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của vi phạm hành chính

VPHC là hành vi vi phạm pháp luật xảy ra phổ biến, tuy tính chất, mức độ vi

phạm và hậu quả chưa đến mức là tội phạm, song, VPHC là hành vi gây ra những

thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tổ

chức, cá nhân cũng như lợi ích chung của cộng đồng, ảnh hưởng trên các mặt của

đời sống xã hội, là tiền đề nảy sinh tội phạm nếu không ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Cơ sở của việc XLVPHC là có hành vi VPHC được quy định trong pháp luật hành

chính. Việc nghiên cứu về khái niệm hành vi VPHC vừa có ý nghĩa lý luận quan

trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về hành

vi VPHC mới có thể xác định được các VPHC cụ thể trong từng lĩnh vực QLNN.

Xác định được đúng hành vi VPHC, tức là xác định đúng cơ sở xử phạt, thì việc

thực hiện xử phạt hành chính mới bảo đảm chính xác, bảo đảm được quyền và lợi

ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục

đích của việc xử phạt hành chính là nhằm lập lại trật tự QLNN bị xâm hại, góp phần

giáo dục, người vi phạm và răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai, tránh được

sự tuỳ tiện trong xử phạt hành chính.

Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, VPHC thường được

hiểu một cách chung nhất là hành vi vi phạm các quy tắc quản lý của Nhà nước

nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tục hành chính do những người

có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành mà không phải là

cơ quan Tòa án với các thủ tục tư pháp.

Trước khi Pháp lệnh Xử phạt VPHC năm 1989 được Uỷ ban thường vụ Quốc

hội ban hành thì các văn bản pháp luật chỉ đề cập đến khái niệm “vi cảnh”. Khái

18

niệm “vi cảnh” chính thức được sử dụng trong Nghị định số 143/CP của Hội đồng

Chính phủ ngày 27/5/1977 ban hành kèm theo Điều lệ xử phạt vi cảnh. Theo quy

định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì, tất cả những hành vi xâm phạm đến TTATXH

mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức

truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm

pháp vi cảnh. Cũng theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì có 04 hình thức

xử phạt vi cảnh, đó là: cảnh cáo; phạt tiền từ 01 đến 10 đồng; phạt lao động công

ích từ 01 đến 03 ngày; phạt giam từ 01 đến 03 ngày. Bên cạnh đó, Điều lệ xử phạt

vi cảnh cũng quy định tịch thu phương tiện dùng vào việc vi phạm tuỳ theo tính

chất, mức độ của vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt với hình thức phạt cảnh

cáo, phạt tiền cho cán bộ có thẩm quyền của các ngành Kiểm lâm, Thuỷ sản,

Thương nghiệp, Y tế, Giao thông vận tải... trong khi thừa hành công vụ, ngoài lực

lượng cán bộ, chiến sĩ Công an là lực lượng có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình

thức xử phạt mà Điều lệ xử phạt vi cảnh quy định. Về sau, trong các văn bản pháp

luật do Nhà nước ta ban hành, khái niệm vi cảnh được hiểu rộng hơn, không chỉ là

những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công cộng mà được hiểu là những vi phạm nhỏ

chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 2 của Điều lệ về phạt vi cảnh nói

trên định nghĩa như sau: những hành vi xâm phạm đến TTATXH mà có tính chất

đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách

nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là

phạm pháp vi cảnh.

Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm VPHC lần đầu tiên được định nghĩa

một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt VPHC ngày 30/11/1989: VPHC là hành

vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc QLNN

mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt

hành chính. Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi

hành pháp luật hành chính và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật.

Theo Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh XLVPHC năm

2002 thì, khái niệm VPHC không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa lẩn

vào trong khái niệm XLVPHC. Nếu trích dẫn từ định nghĩa về XLVPHC được quy

19

định tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 thì VPHC được hiểu là hành

vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về

QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt

VPHC. Về ngôn ngữ thể hiện, có thể thấy có đôi chút khác nhau giữa định nghĩa về

VPHC được quy định trong các Pháp lệnh về xử phạt/XLVPHC 1989, 1995 và

2002, tuy nhiên về bản chất hành vi VPHC thì các định nghĩa trong các văn bản

pháp luật này, không có gì khác nhau. Việc đưa ra khái niệm vi phạm pháp luật

hành chính một cách khoa học, chính xác không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý

nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đây là cơ sở để xác định hành vi vi phạm pháp luật cụ thể,

cũng đồng thời là căn cứ quan trọng để Nhà nước truy cứu trách nhiệm pháp lý đối

với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật. Có thể thấy rằng, nếu căn cứ vào

tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì hành vi vi phạm pháp luật chia làm hai

mức độ: Các hành vi vi phạm thấp, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho Nhà

nước,tổ chức, cá nhân ở mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa “đáng kể” thì gọi là

VPHC; còn hành vi vi phạm pháp luật ở mức độ cao, có tính chất, mức độ nguy

hiểm lớn hơn gọi là vi phạm hình sự.

VPHC trước hết là hành vi vi phạm pháp luật. VPHC luôn là hành vi có lỗi

và là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Lỗi cố ý như: Cố ý tạo vật chướng ngại trên luồng gây

cản trở giao thông,…; nhưng trong nhiều trường hợp, VPHC là lỗi vô ý, như: không

lắp đủ các loại thiết bị an toàn cho xe ô tô. Điều này cho thấy, người vi phạm chưa

nhận thức và chưa xác định được hành vi của mình là hành vi VPHC. Chính vì vậy,

việc xác định rõ khái niệm VPHC trong văn bản quy phạm pháp luật là rất cần thiết,

nhằm nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa vi phạm, đồng thời

là cơ sở để xác định hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật hành chính.

Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, việc đưa ra khái niệm VPHC

cần phải bảo đảm phản ánh đầy đủ dấu hiệu đặc trưng của loại vi phạm này, giúp

phân biệt rõ với vi phạm hình sự. Trong khoa học pháp luật hành chính, cho đến

nay, khái niệm VPHC cũng còn khá nhiều vấn đề phải được làm rõ. Nghiên cứu các

quy định về pháp luật hành chính của nước ta qua các thời kỳ, có thể thấy, nhìn

chung, khái niệm về VPHC đều có sự thống nhất về các dấu hiệu cơ bản của loại vi

20

phạm này. Tuy nhiên, bên cạnh quan điểm khá thống nhất của đa số giới nghiên cứu

khoa học, đồng tình với khái niệm về VPHC và được luật định, cũng còn có ý kiến

không hoàn toàn đồng tình, cụ thể là ý kiến của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt. Trong

cuốn giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự

thật 2013, tác giả Nguyễn Cửu Việt đã trình bày quan điểm của mình về VPHC như

sau: “VPHC là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi

(cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành vi hành chính hoặc

tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự QLNN và trật tự xã hội, trật tự quản lý, sở hữu

của nhà nước, tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp

của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm

hành chính”.

Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật

hành chính và trên cơ sở nghiên cứu lý luận về VPHC, có thể thấy, VPHC là một

loại vi phạm xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội, là hành vi có lỗi, do cá

nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định về QLNN mà chưa đến mức truy cứu

trách nhiệm hình sự. Điều quan trọng ở đây là cần xác định rõ được tính chất, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của loại hành vi vi phạm này, trong đó đặc biệt chú trọng

xác định ranh giới giữa hành vi VPHC và hành vi vi phạm hình sự, tạo sơ sở vững

chắc để quy định, xử lý cũng như đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các

hành vi VPHC.

Cho đến thời điểm hiện nay, VPHC đã được Luật XLVPHC năm 2012 [80]

và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm XLVPHC năm 2012

[84] (có hiệu lực từ ngày 01/01/2022) quy định cụ thể như sau:

“VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định

của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật

phải bị xử phạt VPHC”.

Theo định nghĩa này, thì VPHC có 04 dấu hiệu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, VPHC là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp

luật về QLNN; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc

không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản

21

pháp luật về xử phạt VPHC. Đây chính là dấu hiệu pháp định của vi phạm.

Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện (hành

động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại

trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu vật chất (material)

của vi phạm.

Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây

là dấu hiệu xác định chủ thể của vi phạm.

Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận thức

được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức

được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi

phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả và để mặc cho

hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước

được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được

hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy

2.1.1.2. Cấu thành của vi phạm hành chính

trước được hậu quả của vi phạm. Đây có thể coi là dấu hiệu tinh thần của vi phạm.

Các dấu hiệu của VPHC được thể hiện rõ nét ở bốn (04) yếu tố cấu thành của

VPHC, đó là: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của hành vi vi phạm.

Về mặt khách thể: Khách thể của VPHC là những quan hệ xã hội được pháp

luật hành chính bảo vệ, bị các hành vi VPHC xâm hại tới. VPHC là hành vi xâm hại

đến trật tự của QLNN được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ, xâm phạm

đến các quan hệ xã hội về QLNN trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

như quy tắc về an toàn giao thông, quy tắc về an ninh, trật tự an toàn xã hội,… và

được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hành chính.

Về mặt khách quan: Mặt khách quan của VPHC là mặt bên ngoài của VPHC

với những dấu hiệu vi phạm, hậu quả, tác hại của hành vi, mối quan hệ nhân quả

giữa hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi vi phạm đó; thời gian, địa điểm thực

hiện hành vi vi phạm.

Hành vi VPHC là dấu hiệu cơ bản trong mặt khách quan, thông qua hành vi

VPHC mới có thể đánh giá, xác định được các yếu tố khác. Hành vi VPHC xâm hại

22

các quan hệ xã hội được quy định trong các quy tắc quản lý hành chính nhà nước.

Hành vi VPHC phải là hành vi có tính trái pháp luật hành chính, được thể hiện dưới

hai hình thức, đó là: Hành động hoặc không hành động. Hành động là trường hợp

chủ thể chủ động, tích cực thực hiện hành vi xâm phạm trật tự QLNN mà hành vi

đó bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Không hành động là không làm những việc

mà pháp luật buộc phải thực hiện trong những hoàn cảnh cụ thể, mặc dù chủ thể có

điều kiện thực hiện hành vi đó. Sự không hành động được mô tả trong các văn bản

quy phạm pháp luật quy định về VPHC và XLVPHC.

Đối với một số loại VPHC cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính

chất phức tạp, không đơn giản chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong

hành vi mà còn có thể có các yếu tố khác như: thời gian, địa điểm thực hiện hành vi

vi phạm; công cụ, phương tiện vi phạm; hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa

hành vi và hậu quả, trong nhiều trường hợp, hành vi của cá nhân, tổ chức bị coi là

hành vi VPHC chỉ khi hành vi đó gây ra những thiệt hại cụ thể trên thực tế.

Về chủ thể: VPHC là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính

thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Chủ thể thực hiện VPHC là tổ chức hoặc cá

nhân có năng lực trách nhiệm hành chính. Theo đó, cá nhân là chủ thể của VPHC là

người không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức

hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và đạt độ tuổi do pháp luật quy định; tổ

chức là chủ thể của VPHC là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề

nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập

theo quy định của pháp luật.

Mặt chủ quan: Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của VPHC là dấu hiệu

lỗi của chủ thể vi phạm. VPHC phải là hành vi có lỗi, thể hiện ở hình thức cố ý hoặc

vô ý. Người vô ý thực hiện hành vi này là người trong trạng thái có đầy đủ năng lực

nhận thức và điều khiển hành vi nhưng đã vô ý, thiếu thận trọng mà không nhận

thức được điều đó. Người cố ý thực hiện hành vi vi phạm là người có nhận thức

được tính trái pháp luật của hành vi, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng

như hậu quả của nó nhưng vẫn cố tình thực hiện vi phạm. Ngoài yếu tố lỗi là dấu

23

hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của VPHC thì trong một số trường hợp cụ thể,

pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc của một số loại

VPHC.

Vấn đề xác định dấu hiệu lỗi của VPHC đối với tổ chức còn có nhiều ý kiến

khác nhau. Có ý kiến cho rằng, lỗi là trạng thái tâm lý cá nhân khi thực hiện VPHC

nên không đặt ra đối với tổ chức. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, cần thiết phải

xác định dấu hiệu lỗi VPHC đối với tổ chức thì mới có đầy đủ cơ sở pháp lý để tiến

hành xử lý vi phạm đối với tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Trong

thực tế, Luật XLVPHC 2012 [80] và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

XLVPHC 2020 [84] cũng mới chỉ dừng ở việc quy định chung về nguyên tắc xử

phạt VPHC đối với tổ chức vi phạm, đó là: tổ chức bị xử phạt VPHC về mọi hành

vi VPHC do mình gây ra và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt VPHC.

2.1.2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội

2.1.2.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn

xã hội

Về nguyên tắc, VPHC trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội được coi là một

dạng của VPHC. Chính vì vậy, dạng vi phạm này cũng có đầy đủ các yếu tố cấu

thành vi phạm, đó là các yếu tố về khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ

quan như VPHC nói chung. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã

hội hiểu theo nghĩa rộng là vi phạm quy tắc QLNN trên nhiều lĩnh vực như: Bảo

đảm trật tự xã hội, đăng ký, quản lý cư trú; trật tự an toàn giao thông; an toàn phòng

cháy, chữa cháy; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ,… Các hành vi VPHC

trong lĩnh vực TTATXH được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật

khác nhau của Chính phủ, như: Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013

quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự xã hội; phòng chống tệ

nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình [49]; Nghị

định số 132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh

vực giao thông đường thủy nội địa [53]; Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày

26/5/2016 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường

sắt [54]…; Trong phạm vi về XLVPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự, có thể đưa ra

24

khái niệm về VPHC trong lĩnh vực TTATXH như sau:

“VPHC trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội là hành vi do tổ chức, cá nhân

thực hiện do lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm quy định của pháp luật về QLNN trong lĩnh

vực trật tự, an toàn xã hội mà không mà không phải là tội phạm và theo quy định

2.1.2.2. Phân biệt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã

hội với tội phạm

của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”.

Trong các dạng hành vi vi phạm pháp luật, VPHC và tội phạm là hai hiện

tượng có một số dấu hiệu giống nhau. Khi xem xét mối liên hệ giữa VPHC trong

lĩnh vực TTATXH và tội phạm trong một số trường hợp cấu thành tội phạm có yếu

tố bắt buộc là: “đã bị xử phạt VPHC về hành vi này mà còn vi phạm”. Do VPHC

trong lĩnh vực TTATXH và hành vi vi phạm hình sự đều là những hành vi (hành

động hoặc không hành động) và khách thể bị xâm hại của VPHC trong lĩnh vực

TTATXH và hành vi vi phạm hình sự có khoảng giao thoa, đặc biệt là về mặt hành

vi và lỗi, nên về mặt khoa học, có sự thống nhất cao tong quan điểm cho rằng, tính

nguy hiểm và mức độ hậu quả gây thiệt hại cho xã hội là tiêu chí cơ bản nhất để

phân biệt giữa hành vi VPHC và hành vi vi phạm hình sự. Hành vi VPHC trong lĩnh

vực TTATXH luôn có tính nguy hiểm thấp hơn so với hành vi vi phạm hình sự, nên

tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPHC trong lĩnh vực TTATXH được coi là

chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Sự khác biệt về mức độ nguy

hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện ở những điểm cơ bản:

Một là, tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại.

Một hành vi bị coi là tội phạm khi nó xâm hại đến quan hệ xã hội được luật

hình sự bảo vệ và được xác định một cách khái quát tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật

Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và được cụ thể hóa bằng các tội danh

quy định trong Bộ luật Hình sự. Do tầm quan trọng của khách thể bị xâm hại nên có

thể thấy, các hành vi như: giết người, cướp tài sản,…luôn được xác định là tội

phạm. trong khi đó, những hành vi không thực hiện những quy định về khai báo tạm

trú, tạm vắng,…tuy cũng xâm hại trật tự QLNN về TTATXH, nhưng do tính nguy

hiểm cho xã hội của hành vi này không đáng kể nên được xác định là VPHC và

25

không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hai là, trong nhiều trường hợp VPHC trong lĩnh vực trật tựu an toàn xã hội

và tội phạm cùng xâm hại đến một khách thể thì căn cứ để định lượng tính nguy

hiểm cho xã hội của hành vi, xác định hành vi đó là VPHC hay tội phạm thể hiện ở

mức độ thiệt hại do hành vi đó gây ra nghiêm trọng đến mức nào hoặc tính chất của

hành vi (vi phạm lần đầu, hay đã từng bị xử phạt về chính hành vi đó).

Ba là, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm luôn được định lượng qua

thông qua hậu quả và những thiệt hại thực tế mà hành vi phạm tội gây ra. Vì vậy,

thiệt hại là một dấu hiệu thường được mô tả trong cấu thành vật chất của nhiều tội

danh quy định trong Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, đa số các VPHC trong lĩnh vực

TTATXH mặc dù xâm phạm đến trật tự QLNN, gây hậu quả xấu cho xã hội nhưng

không trực tiếp gây ra thiệt hại trên thực tế mà chỉ ẩn chứa khả năng gây thiệt hại

hoặc gây thiệt hại không đáng kể.

Bốn là, về mặt hình thức, có thể thấy rằng, tội phạm chỉ được quy định trong

một văn bản quy phạm pháp luật duy nhất là Bộ luật Hình sự; còn hành vi VPHC

được quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC trong các

lĩnh vực khác nhau của QLNN. Đối với chủ thể áp dụng pháp luật, đây là dấu hiệu

quan trọng, là căn cứ đầu tiên để nhận diện một hành vi vi phạm pháp luật là tội

phạm hay VPHC. Cần lưu ý, nếu trong một hành vi vừa được quy định trong Bộ

luật Hình sự, vừa được quy định trong Nghị định của Chính phủ về xử phạt VPHC

thì cần đánh giá đến yếu tố định lượng, hậu quả, tính nguy hiểm cho xã hội của

hành vi để khẳng định hành vi đó thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản pháp luật

nào và xác định hành vi đó VPHC hay hình sự.

Tội phạm và VPHC trong lĩnh vực TTATXH đều có biểu hiện hình thức ra

bên ngoài của hành vi, đó là hành động và không hành động. Tuy nhiên, chỉ có một

số ít tội phạm có biểu hiện hành vi là không hành động phạm tội (ví dụ: tội không

cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tội không tố giác

tội phạm,…); còn VPHC có nhiều hành vi có hình thức biểu hiện là không hành

động, ví dụ: Hành vi người điều khiển phương tiện không sử dụng đèn chiếu sáng

trong thời gian từ 19g ngày hôm trước đến 05g ngày hôm sau hoặc khi sương mù,

26

thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn, quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 6 Nghị định số

46/2016/NĐ-CP [54]. Ngoài những dấu hiệu cơ bản trên, việc phân biệt VPHC

trong lĩnh vực TTATXH và tội phạm còn căn cứ vào dấu hiệu chủ thể. Theo pháp

luật hiện hành, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương

mại trong một số tội cụ thể; trong khi đó, chủ thể của VPHC trong lĩnh vực

TTATXH bao gồm cá nhân, tổ chức, trong đó có cả cơ quan nhà nước.

2.1.3. Xử lý vi phạm hành chính

2.1.3.1. Khái niệm và đặc điểm xử lý vi phạm hành chính

XLVPHC là một khái niệm có thể được xem xét từ những góc độ khác nhau.

Nhìn từ góc độ lịch sử xây dựng và hoàn thiện pháp luật XLVPHC cho thấy, đã có

nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về XLVPHC, trong đó có thể kể đến là

Pháp lệnh XLVPHC năm 1989, Pháp lệnh XLVPHC năm 1995, Pháp lệnh

XLVPHC năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008 và đến nay là Luật XLVPHC

2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020. Trong các văn bản pháp luật này, khái niệm về

XLVPHC được đưa ra ở các góc độ khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể,

nhưng nhìn chung, đều thống nhất coi XLVPHC là một biện pháp cưỡng chế hành

chính. Trên cơ sở quy định của pháp luật hành chính qua các thời kỳ và của khoa

học Luật hành chính, khái niệm về XLVPHC được hiểu theo nghĩa khái quát như

sau: “XLVPHC là việc áp dụng một biện pháp cưỡng chế hành chính của Nhà nước

đối với cá nhân, tổ chức có hành vi VPHC”.

Theo nghĩa cụ thể hơn, có thể định nghĩa về XLVPHC như sau: “XLVPHC

được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những

biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi

phạm pháp luật hành chính nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

XLVPHC bao gồm: các hình thức xử phạt VPHC, các biện pháp khắc phục hậu

quả; và, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác”.

Từ khái niệm nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm của XLVPHC như sau:

Thứ nhất, XLVPHC là hoạt động áp dụng pháp luật về XLVPHC. Việc tiến

hành XLVPHC đòi hỏi phải đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định. Kết

27

quả XLVPHC phải dược thể hiện bằng quyết định XLVPHC có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, XLVPHC là hoạt động cưỡng chế nhà nước do các chủ thể (chức

danh) có thẩm quyền XLVPHC tiến hành và bảo đảm bằng quyền lực nhà nước.

Thứ ba, mục đích của XLVPHC là nhằm truy cứu trách nhiệm hành chính

một hành vi VPHC, qua đó, buộc chủ thể VPHC phải gánh chịu mọt biện pháp

cưỡng chế hành chính tương xứng với hành vi vi phạm của mình. Như vậy, VPHC

là cơ sở làm phát sinh hoạt động XLVPHC.

Thứ tư, đối tượng tác động của XLVPHC là cá nhân hoặc tổ chức đã thực

hiện hành vi vi phạm hành .

2.1.3.2. Nguyên tắc XLVPHC

Theo Từ điển Tiếng Việt 1992, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm

từ điển ngôn ngữ, Hà Nội 1992 [92, tr.688] đưa ra định nghĩa về nguyên tắc như

sau: “ Nguyên tắc là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt

việc làm”.

Trong lĩnh vực XLVPHC, nguyên tắc XLVPHC được coi là những nội dung

cơ bản, quan trọng nhất chi phối mọi hoạt động trong quá trình xử phạt VPHC cũng

như trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Những nguyên tắc

XLVPHC đã được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh XLVPHC năm 1989 và được

kế thừa, bổ sung tại Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và 2002. Do sự độc lập giữa xử

phạt VPHC và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Điều 3 Luật XLVPHC 2012

quy định về nguyên tắc XLVPHC được tách thành hai khoản, trong đó Khoản 1 quy

định về các nguyên tắc xử phạt VPHC và Khoản 2 quy định về các nguyên tắc áp

dụng biện pháp xử lý hành chính, cụ thể như sau:

Thứ nhất, mọi hành vi VPHC phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử

lý nghiêm minh, mọi hậu quả do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng quy

định của pháp luật.

VPHC là hành vi trái pháp luật nên có tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy

hiểm cho xã hội của hành vi VPHC thể hiện ở chỗ VPHC phá vỡ trật tự xã hội được

Nhà nước thiết lập, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến quyền, lợi ích chính

28

đáng, hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, xã hội, Nhà nước. Việc phát hiện, ngăn

chặn kịp thời hành vi VPHC sẽ góp phần xác minh các tình tiết liên quan đến vi

phạm để xử lý chính xác hay ngăn chặn tác động tiêu cực của hành vi vi phạm.

Thứ hai, việc xử phạt VPHC được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách

quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật.

Việc xử phạt VPHC được tiến hành nhanh chóng. VPHC thường được coi là

hành vi có tính nguy hiểm thấp hơn tội phạm nên thông thường việc xử phạt VPHC

không phải mất quá nhiều thời gian mà vẫn có thể đảm bảo chính xác, đúng pháp

luật. Việc xử phạt nhanh chóng sẽ có khả năng ngăn ngừa kịp thời các tác động tiêu

cực do VPHC gây ra. Nguyên tắc này được thể hiện ở cả hai thủ tục xử phạt VPHC.

Trong thủ tục xử phạt không lập biên bản, quyết định hành chính được ban hành

ngay khi người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm. Trong thủ tục xử phạt có

lập biên bản, thời hạn ban hành quyết định xử phạt VPHC nói chung là 7 ngày;

trong trường hợp pháp luật quy định có giải trình hoặc trường hợp không có giải

trình nhưng phức tạp thì thời hạn là 30 ngày kể từ ngày lập biên bản VPHC. Với

thời hạn như vậy, việc xử phạt VPHC cần được thực hiện nhanh chóng vì nếu hết

thời hạn thì người có thẩm quyền không được ban hành quyết định để xử phạt về

hành vi vi phạm đó nữa.

Việc xử phạt VPHC phải được tiến hành công khai, khách quan, phải đúng

thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật. Xử phạt VPHC là

hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước để áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với

người vi phạm nên chỉ người có thẩm quyền mới có quyền xử phạt VPHC và chỉ

được xử phạt trong giới hạn thẩm quyền pháp luật quy định. Việc xử phạt đúng

thẩm quyền sẽ tạo nên sự hài hòa, không chồng chéo, không bỏ sót vi phạm và xử

phạt được thuận tiện, chính xác.

Thứ ba, việc xử phạt VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi

phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng

Bất cứ hành vi VPHC nào cũng có tính nguy hiểm cho xã hội và tùy theo

mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà pháp luật quy định hình thức, mức

phạt phù hợp. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPHC tùy thuộc vào nhiều

29

yếu tố như bản thân hành vi đó là hành vi gì, mức độ nghiêm trọng của hậu quả gây

ra, người vi phạm là ai, thực hiện hành vi vi phạm trong điều kiện hoàn cảnh nào…

Vì vậy, để xử phạt VPHC nghiêm minh, công bằng, có giá trị răn đe, phòng ngừa

cao thì khi xử phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đồi tượng

vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức, mức xử phạt.

Thứ tư, một hành vi VPHC chỉ bị xử phạt một lần; nhiều người cùng thực

hiện một hành vi VPHC thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi VPHC đó;

một người thực hiện nhiều hành vi VPHC hoặc VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về

từng hành vi vi phạm.

Một hành vi vi phạm pháp luật nói chung đều có 2 dấu hiệu: dấu hiệu nội

dung là hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội; dấu hiệu hình thức là hành vi đó

phải được pháp luật quy định đó là hành vi vi phạm pháp luật. Ví dụ, pháp luật quy

định người khiếu nại có nghĩa vụ chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu

lực pháp luật nhưng pháp luật không có quy định hành vi không thực hiện quyết

định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật là hành vi VPHC nên không thể xử

phạt cá nhân, tổ chức khiếu nại nếu họ không thực hiện quyết định giải quyết khiếu

nại. Nguyên tắc này thể hiện quan điểm là chỉ có cơ quan có thẩm quyền XLVPHC

mới có quyền xác định một hành vi trái pháp luật nào đó có phải là VPHC không.

Thứ năm, người có thẩm quyền xử phạt hành chính có trách nhiệm chứng

minh VPHC; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người

đại diện hợp pháp chứng minh mình không VPHC.

Để xử phạt VPHC đối với cá nhân, tổ chức thì, sau khi lập biên bản VPHC,

người có thẩm quyền xử phạt phải điều tra, xác minh vụ việc VPHC xem có hay

không có VPHC, đối tượng VPHC, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ,... Trong thực tế,

có những trường hợp vi phạm có thể xác định được ngay đối tượng vi phạm, tính

chất, mức độ vi phạm (ví dụ: hành vi VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ:

vượt đèn đỏ, vượt quá tốc độ cho phép,...); nhưng cũng có không ít những hành vi

không thể xác định ngay được đối tượng vi phạm, tính chất, mức độ vi phạm (hành

vi VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, khoáng sản,…). Do đó, khi phát hiện

VPHC thuộc lĩnh vực của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải

30

kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản. Đây là một

nguyên tắc rất cần thiết và quan trọng nhằm khắc phục tình trạng cơ quan hành

chính ban hành quyết định xử phạt mang tính đơn phương, áp đặt ý chí chủ quan

của người có thẩm quyền xử phạt. Mặt khác, bảo đảm được nguyên tắc xử phạt

công khai, dân chủ, khách quan và chính xác trên cơ sở xác minh rõ vụ việc, bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của người bị xử phạt.

Thứ sáu, đối với cùng một hành vi VPHC thì mức phạt tiền đối với tổ chức

bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân

Theo đó, đối với cùng một hành vi VPHC thì tổ chức vi phạm sẽ bị phạt tiền

với mức tiền phạt cao gấp đôi so với mức tiền phạt đối với cá nhân đã thành niên.

Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa trong tất cả các nghị định quy định về VPHC và

xử phạt VPHC trong các lĩnh vực cụ thể.

2.2. Quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

2.2.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm

hành chính

2.2.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

Trong lý luận về XLVPHC, QLNN đối với XLVPHC là một nội dung đặc

biệt quan trọng. Việc ghi nhận bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện các quy định

của pháp luật về XLVPHC là một yêu cầu cần thiết để thực hiện QLNN một cách

có hiệu quả. Đây cũng đồng thời là tiêu chí để đánh giá một nền hành chính công

bằng, văn minh. Theo đó, để làm rõ khái niệm về QLNN đối với XLVPHC, trước

tiên cần phải nghiên cứu lý luận về QLNN, từ đó mới có thể làm rõ được khái niệm

về QLNN đối với XLVPHC.

Phải khẳng định rằng, từ lâu, lý luận về QLNN đã là một lĩnh vực của khoa

học pháp lý. Bắt đầu manh nha từ khoa học pháp lý, những vấn đề đầu tiên của lý

thuyết QLNN rõ ràng đã phát sinh từ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, từ

khoa học Luật Nhà nước rồi luật Hành chính. Ngay cả sau này, khi có sự phân

nhánh, trở thành một ngành lý luận độc lập thì những phạm trù, khái niệm, những

phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của lý luận khoa học trong lĩnh vực

31

này cũng không thể là những vấn đề gì khác ngoài những vấn đề về pháp luật, tổ

chức thực hiện pháp luật và hoàn thiện nhà nước,… Những vấn đề đó cũng là

những đặc trưng của khoa học pháp lý. Trong cuốn C.Mac và Ph.Ăngghen, Toàn

tập, tập 20, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, C.Mac và Ph.Ăngghen

đã khẳng định sự quan trọng bậc nhất của QLNN thể hiện qua chức năng xã hội: “Ở

khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính

trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó”[98, tr.

253]. Điều nay có nghĩa là, mọi nhà nước xuất hiện và tồn tại đều có chức năng giai

cấp và chức năng xã hội, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chức năng xã hội

của nhà nước là thực hiện việc quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã

hội. Và, trong một giới hạn xác định, nhà nước phải hoạt động để thỏa mãn những

nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nó. Việc giải quyết

một cách có hiệu quả những vấn đề chung của xã hội sẽ tạo điều kiện để duy trì xã

hội trong vòng trật tự theo quan điểm và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Như vậy,

thực hiện chức năng xã hội theo quan điểm và giới hạn của giai cấp cầm quyền là

phương thức, điều kiện để nhà nước đó thực hiện vai trò thống trị giai cấp của nó.

Theo Từ điển Tiếng Việt 1992, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm

từ điển ngôn ngữ, Hà Nội 1992, đưa ra định nghĩa về nhà nước như sau: “Nhà nước

là tổ chức, đứng đầu là Chính phủ, quản lý công việc chung của một nước”[92,

tr.695] và định nghĩa về quản lý: “Quản lý là tổ chức và điều khiển những hoạt

động theo những yêu cầu nhất định” [92, tr.789]. Như vậy, có thể hiểu một cách

chung nhất thì, QLNN là việc tổ chức, điều hành các hoạt động của xã hội theo

những yêu cầu và trật tự nhất định.

Trên thực tế, QLNN được hiểu ở hai cấp độ khác nhau, đó là: QLNN được

hiểu là quản lý các công việc của nhà nước (cấp độ 1); đồng thời, QLNN còn được

hiểu dưới góc độ pháp lý, bằng ngôn ngữ của khoa học pháp lý, đó là thực thi quyền

hành pháp, là hoạt động quản lý xã hội của nhà nước, bằng pháp luật, là quản lý

nhân danh công quyền (cấp độ 2).

Hiểu theo cấp độ 1, QLNN là quản lý các công việc của nhà nước là quản lý

tất cả các hoạt động của toàn bộ những gì thuộc phạm trù cơ quan nhà nước, trong

32

đó có cả các hoạt động của các cơ quan lập pháp, các hoạt động lập pháp, toàn bộ

các hoạt động của các cơ quan tư pháp và xét xử, các hoạt động hành pháp, chấp

hành pháp luật ở các cấp, các hoạt động đối nội, đối ngoại khác của nhà nước. Quan

niệm như thế về QLNN chỉ là cách nói bao quát về hoạt động nhà nước, có ý nghĩa

văn chương hay phổ thông, xã hội thuần túy.

QLNN, hiểu ở cấp độ nhận thức thứ hai là một phạm trù khoa học. QLNN

với tư cách là phạm trù nền tảng của lý luận QLNN, một phạm trù khoa học pháp

lý. QLNN là loại hình quản lý xã hội rộng lớn nhất, đó là hoạt động điều chỉnh và

chấp hành của các cơ quan nhà nước được chức năng hóa trên lĩnh vực này, nhằm tổ

chức và phối hợp những cố gắng chung của toàn xã hội để giải quyết các nhiệm vụ

xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội và các nhiệm vụ khác trên tất cả các lĩnh vực

khác nhau của đời sống xã hội theo pháp luật của nhà nước.

Từ những phân tích nêu trên, khái niệm về QLNN được hiểu như sau:

“QLNN là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng

pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối

ngoại của nhà nước trong việc thiết lập và duy trì một xã hội nhất định”.

Để duy trì sự tồn tại và từng bước phát triển, mọi quốc gia và mọi chế độ nhà

nước đều cần có một xã hội ổn định, trong đó, mọi hoạt động của nhà nước, cơ

quan, tổ chức xã hội và công dân được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật; quyền

và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong xã hội được tôn trọng và bảo vệ; mọi

hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp đó đều bị phát hiện và xử lý theo

đúng quy định của pháp luật. QLNN là những hoạt động dựa trên quyền lực của nhà

nước. Quyền lực của nhà nước được thể hiện thông qua hệ thống pháp luật và pháp

luật được coi là phương tiện chủ yếu của QLNN. Bằng pháp luật, nhà nước có thể

trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt

động QLNN, giữ ổn định xã hội. Tính ổn định xã hội và tính trật tự kỷ cương của xã

hội được thể hiện ở chỗ, mọi hoạt động của nhà nước, tổ chức xã hội và công dân

đều được thực hiện và duy trì trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật. Mọi

hành vi lệch chuẩn, xâm phạm đến tính ổn định, tính trật tự kỷ cương của xã hội đều

bị lên án và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm lợi ích chung

33

của xã hội; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong thực tế, đa số

và phần lớn các tổ chức, công dân đều tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên, vẫn có những

hiện tượng đi ngược lại xu thế chung, phá vỡ trật tự QLNN, xâm phạm đến lợi ích

của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Tất cả các hiện tượng trên đều được xác định là

hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi VPHC. Có thể thấy, các hành vi vi

phạm pháp luật rất đa dạng, xảy ra phổ biến và hầu khắp trên nhiều lĩnh vực của đời

sống xã hội. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, tùy vào từng ngành luật cụ thể với

những quy phạm khác nhau, song do tính chất, nội dung và biện pháp bảo vệ của

pháp luật nên thường được quy về các loại hành vi: vi phạm pháp luật hình sự

(ngành Luật hình sự), vi phạm pháp luật hành chính (ngành Luật hành chính),…Nếu

căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, có thể chia thành 02

mức độ: Các hành vi vi phạm thấp, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho Nhà

nước, tổ chức, cá nhân ở mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa “đáng kể” thì gọi là

VPHC; còn hành vi vi phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn thì gọi là vi

phạm pháp luật hình sự.

Một trong những đặc điểm để xác định đó là hành vi VPHC, ngoài tính nguy

hiểm cho xã hội, tính có lỗi thì cần phải xác định được yếu tố trái pháp luật hành

chính, là hành vi xâm phạm đến trật tự QLNN, xâm phạm đến các quan hệ xã hội

được pháp luật về quản lý hành chính của nhà nước bảo vệ. Đây được coi là dấu

hiệu hình thức của vi phạm hành chính. Việc tiến hành xử lý hành vi VPHC được

hiểu là việc áp dụng một biện pháp cưỡng chế hành chính của Nhà nước đối với cá

nhân, tổ chức có hành vi VPHC. Mục đích của XLVPHC là nhằm truy cứu trách

nhiệm hành chính một hành vi VPHC, qua đó, buộc chủ thể VPHC phải gánh chịu

một biện pháp cưỡng chế hành chính tương xứng với hành vi vi phạm của mình.

Như vậy, VPHC là cơ sở làm phát sinh hoạt động XLVPHC.

XLVPHC là hoạt động quan trọng của QLNN, nhằm duy trì trật tự, kỷ cương

trong quản lý hành chính nhà nước, góp phần quan trọng trong phòng ngừa, đấu

tranh có hiệu quả đối với các VPHC, bảo đảm trật tự QLNN và nâng cao hiệu quả

của QLNN, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động chung của xã hội, giữ vững và

ổn định TTATXH. Hoạt động XLVPHC còn góp phần tăng cường pháp chế xã hội

34

chủ nghĩa, ngăn ngừa, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật

khác, bởi hành vi VPHC là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp

xâm hại đến trật tự chung của xã hội, đến sự an toàn, ổn định của xã hội, đến các

quy định của đời sống xã hội,… gây khó khăn cho công tác QLNN trong hoạt động

bảo đảm TTATXH. Có thể thấy rằng, hoạt động xử lý vi phạm hành chính có ý

nghĩa quan trọng trong công tác QLNN, đặc biệt là đối với QLNN về TTATXH,

bảo đảm duy trì một trật tự xã hội ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển

kinh tế - xã hội.

Từ các phân tích, lập luận trên, với vai trò quan trọng của hoạt động

XLVPHC và xuất phát từ khái niệm chung về QLNN, NCS đưa ra khái niệm về

QLNN đối với XLVPHC là:

“QLNN đối với XLVPHC là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà

nước (cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác được Nhà nước trao quyền), trên cơ

sở pháp luật tới các đối tượng tham gia quan hệ pháp luật hành chính nhằm duy trì

trật tự, kỷ cương và thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong lĩnh vực

2.2.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

XLVPHC”.

Có thể xác định rằng, hoạt động QLNN đối với XLVPHC thuộc lĩnh vực

quản lý hành chính nhà nước, được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan

hành chính nhà nước, có nội dung chủ yếu là bảo đảm sự chấp hành - điều hành của

nhà nước. Hoạt động QLNN đối với XLVPHC cũng có nguyên tắc, đặc điểm tương

tự hoạt động của QLNN nói chung. Cụ thể như sau:

Một là, QLNN đối với XLVPHC là một lĩnh vực QLNN đa ngành, đa lĩnh

vực, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.

Hai là, QLNN đối với XLVPHC mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức

cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước.

Ba là, QLNN đối với XLVPHC mang tính sáng tạo cao, được thực hiện trên

cơ sở các hoạt động QLNN khác.

Ngoài những đặc điểm trên, quản lý đối với XLVPHC còn có một số những

35

đặc điểm riêng có như sau:

Thứ nhất, về khách thể:

Khách thể của quản lý nói chung là trật tự quản lí. Trật tự quản lý này được

quy định bởi nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau. Khách thể của QLNN là trật

tự QLNN. Trật tự QLNN do pháp luật quy định. Như vậy, có thể hiểu rằng, khách

thể của QLNN đối với XLVPHC là các quan hệ xã hội về trật tự quản lý hành chính

nhà nước, về QLNN trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, được pháp

luật hành chính quy định và bảo vệ. Hay nói một cách khác, khách thể của QLNN

đối với XLVPHC chính là trạng thái xã hội ổn định, có trật tự, kỷ cương; mọi hoạt

động của Nhà nước, cơ quan, tổ chức xã hội và công dân được thực hiện trong

khuôn khổ pháp luật; quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong xã hội

được tôn trọng và bảo vệ; mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp đó

đều bị phát hiện và xử lý.

Khách thể của QLNN đối với XLVPHC đóng một vai trò quan trọng đối với

sự ổn định nói chung của một xã hội, một đất nước, có vai trò đặc biệt quan trọng

đối với công tác bảo đảm an ninh xã hội, trong bảo đảm trật tự xã hội, phòng chống

các hành vi VPHC,.. và cũng là mục tiêu quan trọng của Nhà nước. Trong quá trình

đấu tranh dựng nước và giữ nước, bất kể trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng và

nhà nước ta cũng xác định rõ: bảo đảm trật tự quản lý hành chính, bảo đảm trật tự

xã hội là nhiệm vụ thường xuyên và là nội dung cơ bản trong QLNN, quản lý xã

hội. Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện pháp

luật hành chính, hoàn thiện thể chế điều hành, quản lý,.. mà trong quá trình tổ chức

thực hiện QLNN đối với XLVPHC còn luôn quan tâm đến việc huy động mọi

nguồn lực của xã hội, sức mạnh của cả hệ thống chính trị để đầu tư cơ sở kỹ thuật,

đổi mới nội dung quản lý, phương pháp quản lý nhằm bảo đảm xây dựng một nền

trật tự QLNN hoàn thiện, thực sự là nền tảng ổn định chính trị - xã hội, là tiền đề

cho việc phát triển đất nước, nhằm ngăn chặn và phòng ngừa không cho các hành vi

vi phạm pháp luật xảy ra. Bên cạnh đó, QLNN đối với XLVPHC vừa phải tuân thủ

những nguyên tắc chung của QLNN, đồng thời phải tính đến những nguyên tắc đặc

thù của QLNN đối với XLVPHC, từ đó có những tính toán và sử dụng những

36

phương pháp quản lý phù hợp.

Thứ hai, về chủ thể:

Chủ thể của QLNN là các tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà nước

trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý. Dưới góc độ lý luận về QLNN thì

chủ thể QLNN về QLN`N đối với XLVPHC là các cơ quan nhà nước, các cán bộ

nhà nước có thẩm quyền, tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền để thực hiện

QLNN đối với XLVPHC. Các chủ thể này khi tham gia vào các quan hệ QLNN nói

chung và QLNN đối với XLVPHC có quyền sử dụng quyền lực nhà nước để chỉ

đạo,yêu cầu các đối tượng quản lý thuộc quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý,

đồng thời bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ

QLNN đối với XLVPHC. QLNN đối với XLVPHC có phạm vi điều chỉnh rất rộng;

chủ thể của QLNN về XLVPHC rất đa dạng do vậy, dẫn đến các quy phạm pháp

luật hành chính có số lượng lớn. Và, để thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với

XLVPHC đòi hỏi phải có sự tham gia đồng bộ của hệ thống các cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội và cá nhân có thẩm quyền. Nhà nước giao quyền cho nhiều chủ thể

khác nhau tham gia QLNN đối với XLVPHC. Chủ thể QLNN đối với XLVPHC là

một hệ thống các cơ quan hành pháp từ Chính phủ, các Bộ, ngành đến các cấp hành

chính, các cơ quan tổ chức và cá nhân.

Một đặc điểm cần lưu ý về chủ thể của QLNN đối với XLVPHC là, do xuất

phát từ bản chất của quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành

chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên các lĩnh vực khác

nhau của đời sống xã hội, vì thế, chủ thể của QLNN đối với XLVPHC chủ yếu là

các cơ quan nhà nước (các cơ quan hành chính nhà nước), các tổ chức, cá nhân

mang quyền lực nhà nước, được nhà nước trao quyền quản lý đối với XLVPHC.

Và, chỉ có thể nói đến chủ thể QLNN đối với XLVPHC khi trong quan hệ quản lý

xuất hiện chức năng chấp hành - điều hành của nhà nước.

Pháp luật XLVPHC giao thẩm quyền cho Chính phủ quy định các hành vi

VPHC. Điều đó có nghĩa là, chỉ có Chính phủ mới có thẩm quyền quy định về các

hành vi VPHC trong các lĩnh vực QLNN, hình thức và mức phạt đối với VPHC

trong các lĩnh vực QLNN. Tại Điều 4 Luật XLVPHC 2012 [80] quy định: Chính

37

phủ quy định hành vi VPHC; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục

hậu quả đối với từng hành vi VPHC; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo

từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với từng hành vi VPHC trong từng

lĩnh vực QLNN; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và quy định mẫu

biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt VPHC.

Do tính chất đặc biệt của yếu tố khách thể QLNN đối với XLVPHC và đối

tượng điều chỉnh của lĩnh vực này, dẫn đến chủ thể của QLNN đối với XLVPHC

cũng mang những nét đặc thù riêng biệt. Đó chính là việc, các chủ thể QLNN đối

với XLVPHC khi thực hiện chức năng quản lý của mình, phải tiến hành đồng bộ

cùng một lúc nhiều nội dung, biện pháp, trong đó, bên cạnh chức năng QLNN thì

việc trực tiếp, chủ động phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến các

quyền và lợi ích cơ bản của công dân, xâm phạm lợi ích nhà nước, góp phần bảo

đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh

phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC.

Một đặc điểm nữa cần lưu ý về chủ thể của QLNN đối với XLVPHC, đó là:

chủ thể QLNN đối với XLVPHC được xác định bao gồm 02 loại: chủ thể đặc biệt

và chủ thể thường. Chủ thể được nhà nước giao sử dụng quyền lực nhà nước trong

XLVPHC theo quy định của pháp luật hành chính (chủ thể quản lý hành chính),

theo khoa học luật hành chính, được coi là chủ thể đặc biệt. Chủ thể đặc biệt tham

gia vào quan hệ QLNN đối với XLVPHC trên cơ sở quyền lực nhà nước, được nhân

danh nhà nước và được sử dụng quyền lực nhà nước, thực chất là các cơ quan nhà

nước, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền XLVPHC. Chủ thể thường là bên chủ thể

không được sử dụng quyền lực nhà nước và có nghĩa vụ phải phục tùng việc sử

dụng quyền lực nhà nước của chủ thể đặc biệt, thực chất là đối tượng bị XLVPHC.

Thứ ba, về đối tượng QLNN đối với XLVPHC.

Đối tượng QLNN đối với XLVPHC, theo khoa học pháp lý, được xác định là

đối tượng quản lý hành chính nhà nước. Đây cũng có thể coi là một đặc điểm riêng

của QLNN đối với XLVPHC, bởi việc điều chỉnh pháp lý đối với các đối tượng này

không chỉ nhằm mục đích bảo đảm lợi ích của riêng nhà nước mà còn ảnh hưởng tới

quyền lợi nhiều mặt của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Thẩm quyền

38

QLNN đối với XLVPHC chỉ có thể thực hiện nếu có sự tham gia tích cực từ phía

các đối tượng quản lý. Các đối tượng quản lý của XLVPHC khá phong phú, bao

gồm tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ QLNN đối với XLVPHC: Chính phủ,

các Bộ, các cơ quan ngành Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và tất cả các đối tượng có

hành vi vi phạm pháp luật về hành chính.

Riêng các đối tượng bị XLVPHC được căn cứ vào một số yếu tố như đặc

điểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức của các đối tượng, hành vi VPHC của các đối

tượng. Theo quy định tại Điều 5 Luật XLVPHC 2012 [80], thì các đối tượng bị

XLVPHC bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt VPHC về

VPHC do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt VPHC về mọi VPHC; Người

thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, CAND VPHC thì bị xử lý như đối với công

dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép,

chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng,

an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, CAND có

thẩm quyền xử lý; Tổ chức bị xử phạt VPHC về mọi VPHC do mình gây ra; Cá

nhân, tổ chức nước ngoài VPHC trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải,

vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam

thì bị xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều

ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy

định khác và cá nhân là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy

2.2.1.2. Phương pháp quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

định của Luật XLVPHC.

Phương pháp QLNN là phương thức, cách thức mà chủ thể quản lý tác động

lên khách thể quản lý (hành vi, đối tượng quản lý) nhằm đạt được những mục đích

quản lý; thể hiện ý chí của nhà nước, là thực hiện những chức năng và nhiệm vụ

hành chính của bộ máy nhà nước, là cách thức tác động của nhà nước lên các đối

tượng của QLNN, nhằm đạt được hành vi xử sự cần thiết. Các phương pháp quản lý

trong hoạt động QLNN còn được hiểu là các nội dung cụ thể, bao gồm: cách thức tổ

chức hoạt động của chính chủ thể quản lý (cách thức phối hợp hoạt động giữa các

39

cán bộ, công chức ở những vị trí khác nhau, làm những phần việc khác nhau nhưng

cùng hướng tới việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định); hoặc là thể hiện trong cách

thức giải quyết những vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý (trong việc

quyết định ban hành quyết định quản lý: quyết định của tập thể hay cá nhân hay là

có sự phối hợp của nhiều chủ thể). Các phương pháp quản lý chính bao gồm: thuyết

phục, cưỡng chế, hành chính, kinh tế; ngoài ra còn có phương pháp riêng áp dụng

trong quá trình thực hiện chức năng riêng biệt hoặc những khâu, những giai đoạn

riêng biệt của quá trình quản lý.

Phương pháp QLNN đối với XLVPHC là cách thức, phương thức tác động

của nhà nước được sử dụng để tác động lên các đối tượng của quản lý XLVPHC

nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết, bảo đảm việc thực hiện các chức

năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ thể QLNN đối với XLVPHC, gồm các

phương pháp chủ yếu sau:

Một là, phương pháp giáo dục, thuyết phục

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích của chủ thể quản lý và đối tượng quản

lý, về cơ bản là nhất trí, hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí và

phục vụ lợi ích của nhân dân lao động. Chính vì vây, phương pháp QLNN đối với

XLVPHC chủ yếu là phương pháp giáo dục, thuyết phục. Những mục tiêu và nhiệm

vụ chủ yếu của QLNN đối với XLVPHC không thể đạt được nếu thiếu sự ủng hộ

rộng rãi và tích cực của quần chúng. Hoạt động quản lý của nhà nước đối với

XLVPHC chỉ có thể có hiệu quả cao trên cơ sở động viên và tạo điều kiện cho quần

chúng tham gia vào giải quyết những nhiệm vụ đặt ra của lĩnh vực này. Sự trùng

hợp về mặt nguyên tắc lợi ích của nhà nước và lợi ích của đối tượng quản lý

XLVPHC tạo cơ sở vững chắc cho ưu thế của phương pháp giáo dục, thuyết phục

và phương pháp này được coi là cơ sở quan trọng của QLNN đối với XLVPHC.

Thông qua phương pháp thuyết phục, các chủ thể QLNN đối với XLVPHC giáo dục

cho mọi công dân, mọi đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật hành

chính và xã hội nói chung có nhận thức đúng đắn về trật tự, kỷ cương xã hội, kỷ luật

của nhà nước, động viên họ tự giác tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật

40

hành chính, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội.

Phương pháp giáo dục, thuyết phục thể hiện ở việc các chủ thể QLNN đối

với XLVPHC, trên cơ sở pháp luật hành chính đã được ban hành, tiến hành công tác

tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân bằng các biện pháp khác nhau như

giải thích, nhắc nhở, tổ chức, giáo dục, kêu gọi. cung cấp thông tin, tuyên truyền,

phát triển các hình thức tự quản xã hội, tổ chức thi đua khen thưởng, phổ biến kinh

nghiêm tiên tiến….

Nội dung giáo dục, thuyết phục cần tập trung vào những nội dung cụ thể về

pháp luật hành chính, cung cấp cho đối tượng quản lý VPHC những kiến thức pháp

luật cần thiết, từ đó góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật, ý thức trách

nhiệm của cá nhân đối với nhà nước, đối với xã hội, góp phần bảo đảm TTATXH.

Theo đó, cũng cần tập trung xác định một cách cụ thể, rõ ràng mục đích, đối tượng,

nội dung pháp luật hành chính cần tuyên truyền, giáo dục và đặc biệt là phải phù

hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn, lĩnh vực, nhu cầu xã hội, bảo đảm chất

lượng, thiết thực và hiệu quả như: chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước

về XLVPHC; vị trí, vai trò, chức năng của chủ thể quản lý, đối tượng QLNN đối

với XLVPHC; các phương thức, dạng thức của các hành vi vi phạm pháp luật hành

chính và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong QLNN đối với

XLVPHC và tầm quan trọng của QLNN đối với XLVPHC.

Trong quá trình sử dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục, cần đa dạng

hóa hình thức, phương pháp vận động, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về

QLNN đối với XLVPHC; không chỉ tiến hành thông qua việc tuyên truyền bằng

việc tổ chức các hội nghị, cuộc họp, buổi nói chuyện, tọa đàm,… mà cần tiến hành

đồng bộ cùng với nhiều hình thức khác như panô, khẩu hiệu, áp phích, tủ sách pháp

luật, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về xử lý vi phạm hành hành chính. Việc

vận động, giáo dục, thuyết phục về pháp luật XLVPHC cần được thực hiện thường

xuyên, rộng rãi, hình thức phong phú, sinh động, lồng ghép với việc thực hiện các

nhiệm vụ khác về bảo đảm TTATXH.

Hai là, phương pháp cưỡng chế

Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có

41

thẩm quyền đối với những cá nhân hoặc tổ chức nhất định trong những trường hợp

pháp luật quy định, về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ

chức đó phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định hoặc

phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hoặc tổ chức

hoặc tự do thân thể của các cá nhân.

Phương pháp cưỡng chế trong QLNN đối với XLVPHC (gọi là cưỡng chế

hành chính) thể hiện trong việc áp dụng những quyết định bắt buộc đơn phương đối

với đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật hành chính và thường được sử dụng

trong những trường hợp quyết định xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ

quan, tổ chức có thẩm quyền XLVPHC không được các đối tượng vi phạm thực

hiện một cách tự giác. Phương pháp cưỡng chế hành chính là biện pháp cưỡng chế

nhà nước do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối

với các cá nhân hay tổ chức có hành vi VPHC hoặc đối với một số các nhân, tổ

chức nhất định với mục đích ngăn chặn hay phòng ngừa, vì lý do an ninh quốc

phòng hoặc vì lợi ích quốc gia.

Cưỡng chế hành chính giữ một vai trò quan trọng trong QLNN đối với

XLVPHC, thể hiện rõ nét tính chất quyền lực của nhà nước trong hoạt động QLNN

đối với XLVPHC, bởi nếu không có cưỡng chế thì kỉ luật nhà nước không được bảo

đảm, pháp chế không được tôn trọng, gây mất ổn định xã hội và mất TTATXH.

Cưỡng chế hành chính trong QLNN đối với XLVPHC được quy định trong pháp

luật hành chính, bao gồm các biện pháp cụ thể sau: Các hình thức xử phạt VPHC;

các biện pháp ngăn chặn VPHC và bảo đảm việc XLVPHC; các biện pháp khắc

phục hậu quả của VPHC; các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

VPHC; các biện pháp phòng ngừa hành chính; các biện pháp được áp dụng trong

trường hợp thật cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng và vì lợi ích quốc gia.

Các hình thức xử phạt VPHC gồm: Các hình thức xử phạt hành chính (phạt

tiền; phạt cảnh cáo); Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hàn nghề có thời

hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử

dụng để VPHC; trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật

42

hành chính.

Các biện pháp xử lý hành chính bao gồm: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

Đưa vào TGD; Đưa vào CSGDBB; Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm XLVPHC bao gồm: Tạm giữ người

theo thủ tục hành chính; Áp giải người vi phạm; Tạm giữ tang vật, phương tiện

VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ

vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện VPHC; quản lý người nước ngoài vi

phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; Giao cho gia đình,

tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian

làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính; truy tìm đối tượng phải chấp hành

quyết định đưa vào TGD, đưa vào CSGDBB trong trường hợp bỏ trốn.

Ba là, phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế của QLNN đối với XLVPHC là phương pháp tác động

gián tiếp đến các hành vi của đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn

bẩy của kinh tế tác động đến lợi ích của toàn thể thành viên trong xã hội, bảo đảm

cân bằng lợi ích của các chủ thể, phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm ổn định,

TTATXH.

Phương pháp kinh tế của QLNN đối với XLVPHC là việc nhà nước, sử dụng

khéo léo, kết hợp các đòn bẩy để phát triển kinh tế, quy định các cơ chế, hành lang

pháp lý cho sự hoạt động, phát triển kinh tế trong đời sống xã hội, trao cho các tổ

chức kinh tế, các cá nhân quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh,… và các lợi ích

kinh tế khác; đồng thời đặt ra các quy phạm pháp luật hành chính, các chế tài cụ thể,

chi tiết trong từng lĩnh vực kinh tế để xử lý vi phạm, đảm bảo cho hoạt động chung

của QLNN và bảo đảm trật tự chung của xã hội.

2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

QLNN đối với XLVPHC là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà

nước (cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác được Nhà nước trao quyền), trên cơ

sở pháp luật tới các đối tượng tham gia quan hệ pháp luật hành chính nhằm duy trì

trật tự, kỷ cương và thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong lĩnh vực

XLVPHC. Dưới góc độ nghiên cứu của khoa học pháp lý, nội dung QLNN đối với

43

XLVPHC bao gồm các nội dung sau:

2.3.1. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà

nước đối với xử lý vi phạm hành chính

Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp lý quan

trọng nhất trong hoạt động của các chủ thể QLNN, nhằm thực hiện các chức năng,

nhiệm vụ của mình. Nhiệm vụ cụ thể hóa các quy định của pháp luật ở tầm Đạo

luật, Luật trong từng lĩnh vực quản lý chuyên ngành được giao cho các cơ quan

QLNN tương ứng nhằm mục đích chi tiết hóa những quy phạm pháp luật, căn cứ

vào điều kiện địa lý, thời gian, chuyên ngành quản lý bảo đảm sát thực tế và sự chấp

hành luật một cách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao.

Xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật về QLNN đối với XLVPHC

là vấn đề đầu tiên được đề cập đến và được coi là một khâu đặc biệt quan trọng của

quá trình thực hiện QLNN đối với lĩnh vực này. Các chủ thể QLNN đối với

XLVPHC cần phải xây dựng được hệ thống các quy phạm pháp luật hành chính

nhằm định ra các quy tắc chung cần xử sự cho các cá nhân, tổ chức là đối tượng

quản lý của XLVPHC trong những tình huống cụ thể được dự liệu trước và được

lặp đi lặp lại nhiều lần trong thực tiễn. Mặt khác, khi tiến hành hoạt động QLNN đối

với XLVPHC thì giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đã phát sinh các quan

hệ xã hội cần được pháp luật hành chính điều chỉnh.

Pháp luật về XLVPHC được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật

chung của nhà nước: Hiến Pháp, Luật chuyên ngành, các văn bản pháp luật quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật. Các Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức

Chính phủ, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật XLVPHC, Luật CAND,

Luật Biên giới quốc gia, Luật phòng, chống ma túy, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật

nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật

Phòng cháy, chữa cháy,…đều có quy định cụ thể về nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền

hạn của các cơ quan QLNN đối với việc bảo đảm ổn định và TTATXH.

Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp[72], hoạt động QLNN đối với

việc bảo đảm ổn định xã hội và TTATXH được quy định cụ thể trong các văn bản

pháp luật chuyên ngành. Luật Tổ chức Chính phủ năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm

44

2019) [74], Điều 20 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản

lý về an ninh quốc gia, TTATXH, thống nhất QLNN về an ninh quốc gia, trật tự, an

toàn xã hội; tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật luật xây dựng nền an ninh

nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị,

phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm trật

tự, an toàn xã hội.

Luật CAND năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) [75] xác định các nhiệm

vụ, quyền hạn của lực lượng CAND trong việc bảo đảm an ninh trật tự. Đây là cơ

sở pháp lý quan trọng của lực lượng CAND trong việc triển khai thực hiện các

nhiệm vụ của mình trong QLNN về an ninh trật tự và bảo đảm TTATXH.

Luật XLVPHC năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)[84] quy định đầy đủ,

toàn diện những vấn đề về QLNN đối với XLVPHC, về XLVPHC góp phần bảo

đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC, tội

phạm trong thời kỳ mới, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ

mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao

của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Trên cơ sở các quy định của Hiến Pháp, Luật, các nghị định quy định chi tiết

và biện pháp thi hành Luật chuyên ngành cũng đồng thời được ban hành nhằm cụ

thể hóa hơn nữa các quy định của các văn bản Luật, tạo điều kiện cho việc thực thi

pháp luật hành chính, bảo đảm phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, từng bước

hoàn thiện pháp luật về XLVPHC, đặc biệt là QLNN đối với XLVPHC, chú trọng

đến hệ thống các chế tài hành chính, phù hợp với chủ trương xây dựng nhà nước

pháp quyền, phát huy thế mạnh của việc áp dụng các quy định của pháp luật

XLVPHC nhằm bảo đảm tốt nhất sự ổn định xã hội và bảo đảm quyền, lợi ích hợp

pháp của các tổ chức và công dân. Nội dung của pháp luật về QLNN đối với

XLVPHC rất đa dạng, nhưng chủ yếu là các quy phạm pháp luật hành chính và tập

trung và một số nhóm sau đây:

- Nhóm pháp luật quy định về thẩm quyền QLNN đối với XLVPHC

Điều 109 Hiến pháp năm 2013 [72] quy định chức năng của Chính phủ là:

45

“…thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã

hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước; bảo đảm hiệu lực bộ máy nhà

nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và

pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân

dân”. Chính phủ thực hiện chức năng QLNN bằng pháp luật, phối hợp với các cơ

quan, tổ chức, các Bộ, ngành, địa phương có liên quan trong khi thi hành nhiệm vụ

của mình.

Theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm

2019) [74] thì: nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý về an ninh quốc

gia, TTATXH, thống nhất QLNN về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều

20); Chính phủ có trách nhiệm tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật, xây

dựng nền an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ vững

ổn định chính trị, phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm, vi phạm pháp

luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Theo quy định của Luật XLVPHC, Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền quy

định về xử phạt VPHC trong các lĩnh vực QLNN và chế độ áp dụng các biện pháp

xử lý hành chính, cụ thể:“….Chính phủ quy định hành vi VPHC; hình thức xử phạt,

mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC; thẩm quyền

xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối

với VPHC trong từng lĩnh vực QLNN; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành

chính và quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt VPHC”.

Chính phủ thực hiện chức năng QLNN đối với XLVPHC bằng cách ban

hành các văn bản quy phạm dưới luật về QLNN đối với XLVPHC và tổ chức, điều

hành các hoạt động thực hiện QLNN đối với XLVPHC theo đúng quy định của

pháp luật. Quá trình QLNN đối với XLVPHC đòi hỏi Chính phủ phải quy định

được những nguyên tắc chung trong từng lĩnh vực QLNN như lĩnh vực an ninh,

TTATXH, phòng cháy và chữa cháy, môi trường, ma túy, bạo lực gia đình, hải

quan, thuế, tần số vô tuyến điện, báo chí, xuất bản, thương mại, quản lý vật liệu nổ,

46

bảo vệ công trình giao thông,….; quy định những nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ cụ

thể của các bên tham gia quan hệ pháp luật XLVPHC; xác định rõ thẩm quyền và

thủ tục tiến hành hoạt động của các chủ thể QLNN đối với XLVPHC.

Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN về: Xây

dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo

dục pháp luật,…; Quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC; Hướng dẫn,

theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật, QLNN đối với XLVPHC

thuộc chức năng của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương theo quy định của

pháp luật; Theo dõi chung và báo cáo công tác thi hành pháp luật về XLVPHC theo

quy định của pháp luật; Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn,

tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về XLVPHC; kiểm tra

việc thi hành pháp luật về XLVPHC theo quy định của pháp luật. (Nghị định số

96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu của Bộ Tư pháp) [55].

Theo đó, từ khi Luật XLVPHC năm 2012 được Quốc hội thông qua và có

hiệu lực thi hành cho đến nay, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành xây

dựng, thẩm định và tham mưu cho Chính phủ ký ban hành hơn 100 Nghị định quy

định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật XLVPHC và các nghị định quy định về xử

phạt VPHC (bao gồm cả ban hành mới và sửa đổi, bổ sung) trong các lĩnh vực

QLNN, trong đó có nhiều lĩnh vực liên quan đến trách nhiệm, thẩm quyền của lực

lượng CAND.

Bộ Công an là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về an

ninh trật tự. Điều 3 Luật CAND năm 2014 [75] quy định về vị trí, chức năng của

lực lượng CAND như sau: “CAND là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt

trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội,

đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự,

an toàn xã hội”.

“CAND có chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh

quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi

phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện QLNN về bảo

47

vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội

phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh

phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi

phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[75,Điều 15].

Các Bộ, ngành trung ương, trong phạm vi quyền hạn của mình, có trách

nhiệm ban hành các văn bản pháp luật theo thẩm quyền của các Bộ, ngành về xử lý

các hành vi VPHC đối với lĩnh vực chuyên ngành, chức năng mà mình được giao

quản lý; phối hợp với Bộ Công an trong thực hiện QLNN đối với XLVPHC, góp

phần bảo đảm TTATXH.

Để thực hiện chức năng QLNN đối với XLVPHC trên tất cả các lĩnh vực,

một hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương được hình

thành trên nguyên tắc, mọi hình thức tổ chức và mọi hoạt động của các cơ quan

hành chính nhà nước luôn có sự phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực cùng cấp.

Theo đó, dưới Chính phủ và các Bộ, ban, ngành ở Trung ương, ở các địa phương

theo cấp hành chính có chức năng và vai trò QLNN của Ủy ban nhân dân và Hội

đồng nhân dân.

Hội đồng nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có

trách nhiệm quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc

gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật; thực hiện QLNN

đối với XLVPHC, về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở địa

phương;

Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm:

ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền để tổ chức thực hiện nhiệm

vụ QLNN đối với XLVPHC, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp

luật, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và các nhiệm vụ bảo đảm trật tự,

an toàn xã hội do cấp có thẩm quyền giao; Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các biện

pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Chỉ đạo các cơ quan phối hợp với CAND cùng

cấp thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở

địa phương; Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của

Mặt trận, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện chức năng QLNN đối

48

với XLVPHC, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương;

- Nhóm pháp luật quy định về nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC

XLVPHC và QLNN đối với XLVPHC là một trong những biện pháp quan

trọng của hoạt động QLNN nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính

của nhà nước ta, giữ vững tính ổn định xã hội. Điều 17 Luật XLVPHC 2012 [80] đã

quy định cụ thể trách nhiệm của Chính phủ trong việc thống nhất quản lý công tác

thi hành pháp luật về XLVPHC: “Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành

pháp luật về XLVPHC trong phạm vi cả nước”.

Cũng theo quy định tại Điều 17 Luật XLVPHC, Bộ tư pháp là cơ quan chịu

trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật

về XLVPHC. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý công

tác thi hành pháp luật về XLVPHC, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Chủ trì hoặc phối

hợp trong việc đề xuất, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban

hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC; Theo dõi chung và

báo cáo công tác thi hành pháp luật về XLVPHC; thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ

liệu quốc gia về XLVPHC; Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp

vụ trong việc thực hiện pháp luật về XLVPHC; Kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành

hữu quan tiến hành thanh tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, ngành có trách nhiệm

thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ đề xuất, xây dựng và

trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy

phạm pháp luật về XLVPHC; kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về

XLVPHC để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ 06 tháng, hằng năm báo cáo

Bộ Tư pháp về công tác XLVPHC trong phạm vi quản lý của cơ quan mình.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân tối cao thực

hiện nhiệm vụ đề xuất, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban

hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC; định kỳ 06 tháng,

hằng năm gửi thông báo đến Bộ Tư pháp về công tác XLVPHC trong phạm vi quản

lý của cơ quan mình; chỉ đạo Tòa án nhân dân các cấp thực hiện việc cung cấp

thông tin về XLVPHC; chủ trì, phối hợp với Chính phủ ban hành văn bản quy định

49

chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định có liên quan.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp

quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC tại địa phương, có trách nhiệm sau

đây: Chỉ đạo việc tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC; tổ

chức phổ biến, giáo dục pháp luật về XLVPHC; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm

và giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về

XLVPHC; Kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về XLVPHC để xây dựng

cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ 06 tháng, hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác

XLVPHC trên địa bàn.

Cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt VPHC, Tòa án nhân dân có thẩm

quyền xem xét, quyết định các biện pháp xử lý hành chính, cơ quan thi hành quyết

định xử phạt, thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, cơ quan

thi hành các quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm gửi

văn bản, quyết định xử lý vi phạm hành chính tới cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về

XLVPHC của Bộ Tư pháp, cơ quan tư pháp địa phương.

Luật XLVPHC tại Điều 18 cũng quy định rõ trách nhiệm của Thủ trưởng cơ

quan, đơn vị trong công tác XLVPHC, trong phạm vi, quyền hạn của mình có trách

nhiệm: Thường xuyên kiểm tra, thanh tra và kịp thời xử lý đối với vi phạm của

người có thẩm quyền XLVPHC thuộc phạm vi quản lý của mình; giải quyết khiếu

nại, tố cáo trong XLVPHC theo quy định của pháp luật; Không được can thiệp trái

pháp luật vào việc XLVPHC và phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm

của người có thẩm quyền XLVPHC thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình theo

quy định của pháp luật; Không được để xảy ra hành vi tham nhũng của người có

thẩm quyền XLVPHC do mình quản lý, phụ trách; Trách nhiệm khác theo quy định

của pháp luật.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm sau đây: Thường

xuyên chỉ đạo, kiểm tra việc XLVPHC của người có thẩm quyền XLVPHC thuộc

phạm vi quản lý của mình; Xử lý kỷ luật đối với người có sai phạm trong XLVPHC

50

thuộc phạm vi quản lý của mình; Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về XLVPHC

trong ngành, lĩnh vực do mình phụ trách theo quy định của pháp luật; Trách nhiệm

khác theo quy định của pháp luật.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có

thẩm quyền XLVPHC có trách nhiệm phát hiện quyết định về XLVPHC do mình

hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ,

ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.

2.3.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với xử lý

vi phạm hành chính

Cùng với việc ban hành hệ thống pháp luật hành chính, nhà nước còn tiến

hành đồng bộ nhiều hoạt động để pháp luật đã ban hành được triển khai thực hiện

trong thực tế. Việc tổ chức thực hiện pháp luật về QLNN đối với XLVPHC được

coi là cơ sở quan trọng nhất của việc đánh giá hiệu quả của QLNN trong lĩnh vực

này. Cũng nhờ đó, pháp luật hành chính phát huy tốt hơn vai trò của nó trong thực

tế, góp phần làm cho đời sống xã hội ổn định, bảo đảm TTATXH, quyền và lợi ích

hợp pháp của các tổ chức, cá nhân được tôn trọng và bảo vệ.

Hệ thống pháp luật XLVPHC rất đa dạng, phong phú, chính vì vậy, các chủ

thể thực hiện pháp luật hành chính cũng rất đa dạng, bao gồm các cơ quan nhà

nước, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền XLVPHC và các đối tượng có hành vi

VPHC. Khoa học pháp lý phân chia và xác định có bốn hình thức thực hiện pháp

luật, đó là: Tuân theo pháp luật (tuân thủ pháp luật); Thi hành pháp luật (chấp hành

pháp luật); Sử dụng pháp luật (vận dụng pháp luật); Áp dụng pháp luật. Bên cạnh

đó, pháp luật XLVPHC được coi là phương tiện quan trọng trong họa động QLNN,

góp phần quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các

hành vi VPHC ở nước ta, bảo đảm trật tự QLNN và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của

công tác QLNN, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, giữ v

ổn định trật tự, an toàn xã hội để phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập.

Trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định, các Bộ, ngành, các cơ

quan QLNN chuyên ngành ban hành các văn bản pháp luật về XLVPHC đối với

51

từng lĩnh vực được giao quản lý để thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Việc ban hành các văn bản pháp luật về XLVPHC của từng lĩnh vực, cần đặc biệt

chú trọng đến vai trò của Chính phủ - cơ quan thống nhất QLNN trên tất cả các lĩnh

vực của đời sống xã hội. Tổ chức thực hiện pháp luật XLVPHC cần phải được căn

cứ theo từng nhóm quan hệ pháp luật hành chính để có những phương pháp cho phù

hợp, như: quản lý kinh tế, quản lý văn hóa, quản lý an ninh, quản lý chính trị, quản

lý trật tự, an toàn xã hội, xử lý vi phạm pháp luật, thanh tra, kiểm tra, giải quyết

khiếu nại, tố cáo,…

2.3.3. Phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý nhà nước đối với xử lý

vi phạm hành chính

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN đối với XLVPHC là khâu

đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật hành chính, có vai trò quan trọng trong

việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của

nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về

QLNN đối với XLVPHC còn là một biện pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa vi phạm

pháp luật hành chính xảy ra, làm cho mọi người tự giác để duy trì, bảo vệ trật tự xã

hội và lợi ích tập thể của chính bản thân mình. Khi ý thức pháp chế trong nhân dân

được nâng cao thì nhân dân sẽ tham gia ngày càng tích cực vào việc xây dựng pháp

luật, thấy rõ luật pháp Nhà nước chính là do mình làm ra để bảo vệ quyền lợi cho

mình, do đó việc tuân thủ kỷ luật xã hội và pháp luật Nhà nước sẽ mất dần tính chất

gò bó, và trở thành một thói quen, một tập quán, một nhu cầu của tất cả mọi người.

Như vậy, trong phạm vi, quyền hạn của mình, các cơ quan QLNN của từng

lĩnh vực có trách nhiệm hướng dẫn, thực hiện và tiến hành các hoạt động tuyên

truyền pháp luật về XLVPHC nói chung và tuyên truyền pháp luật về XLVPHC

thuộc lĩnh vực ngành mình quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau. Trách nhiệm

này thuộc về các ngành, các cấp ở trung ương cũng như địa phương, trong đó sự

phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan

nhà nước với các tổ chức hữu quan trong việc tổ chức triển khai thực hiện pháp luật

XLVPHC cần được quan tâm đúng mức.

Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: ''Triển khai mạnh

52

mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật; huy động lực lượng của các đoàn

thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các

đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng

nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong xã hội''. Đặc

biệt, Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về

tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp

hành pháp luật của cán bộ, nhân dân (Chỉ thị số 32-CT/TW) đã khẳng định: “Phổ

biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là

nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Hiến pháp năm 1992 giao Chính phủ nhiệm vụ: “tổ chức và lãnh đạo công

tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân”.

Điều 6, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012[71] đã quy định rõ: “Cơ

quan QLNN về phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm: Chính phủ thống nhất QLNN

về phổ biến, giáo dục pháp luật; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực

hiện QLNN về phổ biến, giáo dục pháp luật; chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính

phủ ban hành chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn về phổ biến, giáo dục pháp

luật; chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; Bộ, cơ quan ngang bộ trong

phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực

hiện QLNN về phổ biến, giáo dục pháp luật; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm

thực hiện QLNN về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương”.

Xác định rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục, phổ biến về QLNN đối

với XLVPHC, về Luật XLVPHC, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành

Luật XLVPHC, trong đó quy định cụ thể các nội dung về QLNN về thi hành pháp

luật XLVPHC [45]. Theo đó, tại Điều 20 quy định các nội dung của công tác phổ

biến, giáo dục về QLNN đối với XLVPHC, bao gồm: Nghiên cứu, biên soạn tài liệu

phục vụ công tác phổ biến, bồi dưỡng, tập huấn pháp luật về XLVPHC; Tổ chức tập

huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác XLVPHC; Tổ chức phổ biến

pháp luật xử ly VPHC với nội dung và hình thức phù hợp từng đối tượng cụ thể;

53

Hướng dẫn nghiệp vụ áp dụng pháp luật về XLVPHC.

Chính phủ giao Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện

công tác QLNN đối với XLVPHC: “…Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác phổ biến

pháp luật XLVPHC; chủ trì, phối hợp với Bộ cơ quan ngang Bộ có liên quan

hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về

XLVPHC” (Điều 26, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP) [45].

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc

Bộ thực hiện các nhiệm vụ phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ áp dụng pháp

luật về XLVPHC thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ.

Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện các

nhiệm vụ phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ áp dụng pháp luật về XLVPHC

thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương.

2.3.4. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi

phạm pháp luật hành chính

Thanh tra, kiểm tra là phương tiện quan trọng để phòng ngừa, ngăn chặn và

phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật VPHC. Trong QLNN, thanh tra, kiểm tra là

biện pháp quản lý và là hoạt động không thể thiếu trong quá trình thực hiện QLNN.

QLNN và thanh tra, kiểm tra là hai mặt của một vấn đề, không thể tách rời; ở đâu có

quản lý, ở đó có thanh tra, kiểm tra; phạm vi quản lý đến đâu, phạm vi thanh tra,

kiểm tra đến đó.

Luật Thanh tra 2010 [70], tại Điều 2 quy định: Mục đích hoạt động thanh tra

nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với

cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử

lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy

định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả

hoạt động QLNN; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ

quan, tổ chức, cá nhân.

Hoạt động thanh tra trong QLNN đối với XLVPHC là phương thức để thực

hiện dân chủ trong QLNN của lĩnh vực này. Hoạt động thanh tra về QLNN đối với

XLVPHC nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hành

54

chính; phát hiện những sơ hở trong chính sách, pháp luật về XLVPHC để kiến nghị

kịp thời với cơ quan có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; góp phần nâng cao

hiệu quả của hoạt động QLNN đối với XLVPHC, bảo vệ lợi ích của nhà nước,

quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Việc thanh tra, phối hợp thanh tra việc QLNN đối với XLVPHC được quy

định và triển khai cụ thể như sau: Ở trung ương, triển khai giữa Bộ Tư pháp với các

Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan; ở địa phương, triển khai giữa Sở Tư pháp với

các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn

của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đóng trên

địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ủy ban nhân dân cấp huyện được

thực hiện trong trường hợp có kiến nghị, phản ánh của cá nhân, tổ chức, báo chí về

việc áp dụng quy định của pháp luật về XLVPHC gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến

quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Kiểm tra đối với QLNN về XLVPHC là một trong những chức năng quan

trọng của cơ quan hành pháp. Hoạt động kiểm tra này được thực hiện trước hết bởi

Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp đối với các đối

tượng quản lý thuộc quyền quản lý của cơ quan đó. Hình thức kiểm tra về QLNN

đối với XLVPHC cũng rất phong phú, tùy thuộc vào nội dung, mục đích của từng

đợt kiểm tra, tùy thuộc vào chủ thể kiểm tra là cơ quan chuyên môn quản lý lĩnh

vực ngành hay cơ quan hành chính nhà nước.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo

trong QLNN đối với XLVPHC do Chính phủ thống nhất quản lý theo quy định tại

Điều 17 Luật XLVPHC. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc

kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tiến hành thanh tra việc thi hành

pháp luật về XLVPHC. Ngày 12/2/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số

19/2020/NĐ-CP quy định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về

XLVPHC. Đây là văn bản quy phạm pháp luật rất quan trọng, đánh dấu một bước

tiến lớn trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về XLVPHC; tạo cơ sở pháp

lý cụ thể, rõ ràng, minh bạch cho công tác kiểm tra thi hành pháp luật về XLVPHC

mà hiện nay hầu hết các bộ, ngành và địa phương đang lúng túng do gặp nhiều khó

55

khăn, vướng mắc.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp

quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC tại địa phương có trách nhiệm

kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo

trong việc thực hiện pháp luật về XLVPHC.

Trong phạm vi, quyền hạn của mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm

quyền XLVPHC có trách nhiệm thường xuyên tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý

kịp thời đối với vi phạm của người có thẩm quyền XLVPHC thuộc phạm vi quản lý

cua mình; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong XLVPHC theo quy định của pháp luật

[80, Điều 18].

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thường xuyên

tiến hành chỉ đạo, kiểm tra việc XLVPHC của người có thẩm quyền XLVPHC

thuộc phạm vi mình quản lý; Xử lý kỷ luật đối với người có sai phạm trong

XLVPHC thuộc phạm vi quản lý của mình; Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về

XLVPHC trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách theo quy định của pháp luật [80,

Điều 18].

Hoạt động kiểm tra, thanh tra QLNN đối với XLVPHC tập trung vào các nội

dung chính sau: Tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến

XLVPHC; Công tác phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, bố trí

nguồn lực và các điều kiện khác để bảo đảm cho việc thi hành pháp luật XLVPHC

trong phạm vi Bộ, ngành và địa phương; Việc áp dụng các quy định pháp luật về

XLVPHC; Việc thực hiện chế độ thống kê về XLVPHC; Việc xây dựng, quản lý cơ

sở dữ liệu về XLVPHC và cung cấp thông tin để tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc

gia; Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong XLVPHC.

Hoạt động kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC chỉ được tiến hành

trong các trường hợp cụ thể: Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; Theo đề nghị

của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Theo đề nghị của Sở Tư pháp, Phòng Tư

pháp trên cơ sở theo dõi tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC; Việc thi hành

pháp luật về XLVPHC thuộc phạm vi quản lý liên ngành đang có nhiều khó khăn,

56

vướng mắc, bất cập hoặc đối với vụ việc phức tạp.

Khiếu nại, tố cáo là hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân trực tiếp tham

gia vào QLNN và quản lý xã hội. Theo quy định của pháp luật hiện hành công dân

có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước, có thẩm quyền về những việc làm

trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực

lượng vũ trang hoặc bất cứ cá nhân nào trên các mặt của đời sống xã hội như kinh

tế, chính trị, tư tưởng, pháp lý. Nhà nước bảo đảm những điều kiện thuận lợi nhất

khẳng định địa vị pháp lý của công dân - chủ thể quan trọng nhất của xã hội. Vì thế,

việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết trong thời

hạn pháp luật quy định. Mọi cá nhân, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, tố cáo và

đấu tranh phòng, chống VPHC.

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về QLNN đối với XLVPHC được quy

định rõ tại Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 như sau: Cá nhân, tổ chức

bị XLVPHC có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định XLVPHC theo quy

định của pháp luật; Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật

trong việc XLVPHC theo quy định của pháp luật; Trong quá trình giải quyết khiếu

nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định XLVPHC bị khiếu nại, khởi

kiện sẽ gây hậu quả xấu thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định

tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật.

2.4. Vai trò của quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

QLNN đối với XLVPHC có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động

QLNN, trong sự nghiệp chung bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước, duy trì một xã

hội ổn định, giữ gìn TTATXH, góp phần bảo đảm kỷ cương quản lý hành chính, an

ninh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Một là, QLNN đối với XLVPHC đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách

của Đảng về cải cách hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính

được xác định trong các nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết

số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn

thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 [8] và

Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách

57

tư pháp đến năm 2020 [9] theo hướng: “Hình thành cơ chế pháp lý để Chính phủ

thực hiện quyền yêu cầu xem xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm

nghiêm trọng được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật”,

“tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của

công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”. Theo đó, pháp luật về XLVPHC đã

từng bước được quy định một cách cụ thể theo hướng ngày càng hoàn thiện, toàn

diện và đầy đủ các vấn đề về XLVPHC, các hành vi VPHC trong các lĩnh vực

QLNN, bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, khắc phục những tồn

tại, hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật XLVPHC trước đó, tạo cơ sở pháp lý

thuận lợi cho việc thực hiện, tuân thủ và chấp hành pháp luật về XLVPHC của công

dân; góp phần đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các hành vi vi phạm pháp

luật hành chính và các hành vi vi phạm pháp luật khác trong thời kỳ mới.

Hai là, QLNN đối với XLVPHC góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển

bền vững về mọi mặt của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi mới của hoạt

động QLNN trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo

đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Với định hướng nhằm

phát huy cao độ nội lực, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đầy đủ cam

kết quốc tế, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong hoàn thiện và tổ chức thi

hành pháp luật về XLVPHC, hệ thống pháp luật về XLVPHC được xây dựng trên

nguyên tắc chung, đó là: Mọi hành vi VPHC đều phải được phát hiện, ngăn chặn

kịp thời và xử lý nghiêm minh. Mọi hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được

khắc phục theo đúng quy định của pháp luật. Thực hiện tốt công tác QLNN đối với

XLVPHC góp phần bảo đảm lợi ích chung của xã hội, giữ gìn TTATXH, đáp ứng

yêu cầu giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và

củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Ba là, QLNN đối với XLVPHC là cơ sở cho việc theo dõi, kiểm tra, thanh

tra và giải quyết những khiếu nại, tố cáo về XLVPHC, tạo điều kiện thuận lợi cho

việc xây dựng, hoàn thiện áp dụng, thi hành các chế tài hành chính, tăng cường tính

công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ trong trình tự, thủ tục xử phạt VPHC và

58

áp dụng biện pháp xử lý hành chính; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công

dân. Đồng thời, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu

cải cách bộ máy nhà nước trong tình hình mới.

2.5. Các bảo đảm tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi

phạm hành chính

2.5.1. Yếu tố chính trị

Trong hệ thống chính trị của Việt Nam hiện nay, Nhà nước giữ vị trí trung

tâm và có vai trò chủ đạo đối với quản lý xã hội. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ, qua lại với Đảng Cộng sản Việt Nam và

các tổ chức xã hội khác. Hiến pháp 2013, Điều 4 nêu rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam

“là lực lượng lãnh đạo Nhà nước”; “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng

Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”. Theo

đó, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo một cách toàn diện từ tổ chức đến các hoạt

động của nhà nước, bằng việc Đảng vạch ra đường lối chiến lược về đối nội, đối

ngoại để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật; kiểm

tra hoạt động bộ máy Nhà nước; chỉ đạo công cuộc cải cách, hoàn thiện bộ máy nhà

nước và đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy nhà nước. Trong

điều kiện một đảng cầm quyền, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà

nước và Đảng trên cơ sở phân định rõ chức năng của Nhà nước với chức năng của

Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng Đảng không làm thay nhà nước. Việc phân

định rõ chức năng này chỉ có thể thực hiện được bằng công cụ pháp luật mới bảo

đảm sự chắc chắn và bền vững. Nhà nước là phương tiện quan trọng nhất để đưa

đường lối, chính sách của Đảng vào cuộc sống thông qua ba hình thức chủ yếu là

xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật nhằm thực hiện

mục tiêu của Đảng đặt ra là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hệ thống pháp luật hành chính và XLVPHC được xây dựng trên cơ sở các

quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

đến năm 2020 thể hiện tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược

xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng

đến năm 2020 [8] và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải

59

cách tư pháp đến năm 2020 [9] của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam. Theo đó, Đảng định hướng: Việt Nam cần phát huy nội lực,

tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế, phát huy dân

chủ, tăng cường pháp chế trong hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật nói chung

và pháp luật về XLVPHC nói riêng một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng,

phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có hệ thống chế tài hành chính,

phù hợp với chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy thế mạnh của việc

áp dụng các quy định của pháp luật về xử phạt VPHC trên thực tiễn, đồng thời vẫn

bảo đảm tốt nhất các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã được Hiến pháp nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận.

Để việc triển khai thực hiện pháp luật về XLVPHC trong thực tế có hiệu quả,

cần có sự quyết tâm chính trị của tất cả các cấp, các ngành trong việc tổ chức thực

hiện pháp luật hành chính vào thực tế, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp

thực hiện, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về XLVPHC nhằm lôi cuốn các thành

viên trong xã hội vào mọi hoạt động thực hiện, tuân thủ pháp luật và bảo vệ pháp

luật XLVPHC. Các tổ chức Đảng ở các cấp, các chủ thể có liên quan trong QLNN

đối với XLVPHC cần có nhận thức sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng về

xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật hành chính, xác định rõ trách

nhiệm, nhiệm vụ của mình, từ đó đề ra các phương hướng, biện pháp cụ thể trong

hoạt động QLNN đối với XLVPHC phù hợp và cụ thể trong quá trình thực hiện

QLNN đối với lĩnh vực này.

2.5.2. Yếu tố pháp luật

Nhà nước, trong hệ thống chính trị, được xem như là nơi hội tụ của đời sống

chính trị - xã hội của một quốc gia. Nhà nước có vai trì chủ đạo, đặc biệt quan

trọng, mang tính quyết định trong hệ thống chính trị. “Nhà nước được tổ chức và

hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp

luật” (Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013).

Nhà nước có pháp luật và sử dụng pháp luật trở thành công cụ quản lý xã hội

một cách hiệu quả nhất. Để thực hiện quyền lực của mình, nhà nước xây dựng và tổ

chức bộ máy nhà nước, bao gồm một hệ thống các cơ quan nhà nước và một đội

60

ngũ công chức đông đảo, được tổ chức chặt chẽ từ trung ương xuống địa phương,

được vận hành theo những nguyên tắc, quy định pháp luật thống nhất và thông suốt,

trong đó quy định rõ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cơ quan và xác

lập những mối quan hệ đúng đắn giữa các cơ quan này, tạo thành những hệ thống

thống nhất và đồng bộ cùng thực hiện quyền lực nhà nước. Pháp luật càng đầy đủ,

đồng bộ và thống nhất thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức của

bộ máy nhà nước thực hiện đúng và có hiệu quả.

Trong lĩnh vực QLNN đối với XLVPHC, mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy

nhiên, văn bản pháp luật điều chỉnh và quy định về XLVPHC còn nằm rải rác ở quá

nhiều văn bản, khối lượng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này quá

lớn, dễ dẫn đến có sự quy định chồng chéo về mặt nội dung cũng như phạm vi điều

chỉnh. Một phần của lý do này cũng xuất phát từ thực tế của lĩnh vực XLVPHC quá

rộng, điều chỉnh nhiều lĩnh vực quản lý của nhà nước. Chính vì vậy, các chủ thể

quản lý của lĩnh vực này phải sử dụng cơ sở pháp lý ở nhiều văn bản pháp luật khác

nhau để thực hiện chức năng quản lý của mình.

2.5.3. Năng lực thực hiện của bộ máy quản lý nhà nước đối với xử lý

vi phạm hành chính

Cùng với việc ban hệ thống quy tắc xử sự kịp thời, phản ánh đúng thực tế

khách quan, nhà nước đã tiến hành nhiều hoạt động để pháp luật về XLVPHC có

thể được thực hiện triệt để trong thực tế. Nhà nước thực hiện các hoạt động quản lý

của mình trong lĩnh vực XLVPHC nhằm bảo đảm trật tự kỷ cương của quản lý hành

chính, an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hợp pháp của công dân;

đấu tranh và phòng chống có hiệu quả đối với các hành vi VPHC, tội phạm trong

thời kỳ mới. Để thực hiện tốt nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC, yếu tố đóng vai

trò quan trọng chính là năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy nhà nước. Điều này

thể hiện ở tính hợp lý của bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương, được tổ

chức tinh gọn, chặt chẽ, hợp lý, dân chủ, bảo đảm sự kiểm soát quyền lực nhà nước,

nâng cao hiệu lực, hiệu quả của QLNN trong XLVPHC.

Năng lực thực hiện, năng lực quản lý của bộ máy QLNN đối với XLVPHC

thể hiện ở năng lực, phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp

61

của từng cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước, đặc biệt là công chức lãnh đạo.

Việc nhận thức đúng đắn các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, chính

sách pháp luật của nhà nước đối với XLVPHC của chính quyền các cấp, đứng đầu

là các tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý, là đặc biệt quan trọng, từ

đó sẽ đưa ra được các quyết sách phù hợp với việc QLNN đối với XLVPHC trên cơ

sở thực tế của địa phương mình; đồng thời cũng kịp thời đưa ra các biện pháp chấn

chỉnh, xử lý kịp thời những sai phạm trong quá trình thực hiện pháp luật, tạo niềm

tin cho quần chúng, nhân dân.

2.5.4. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước đối với

xử lý vi phạm hành chính

Nghị quyết số 24/2012/QH13 ngày 20/6/2012 của Quốc hội về việc thi hành

Luật XLVPHC quy định tại khoản 2 Điều 4 về trách nhiệm xây dựng cơ sở vật chất

phục vụ cho hoạt động QLNN, cụ thể như sau: “Chính phủ, Toà án nhân dân tối

cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và

hướng dẫn thi hành Nghị quyết này; tổ chức việc rà soát các văn bản có liên quan

để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với Luật XLVPHC;

Chính phủ khẩn trương chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất, tổ chức, nguồn lực kịp

thời triển khai việc quản lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về XLVPHC để

bảo đảm hiệu lực thi hành của Luật XLVPHC”. Theo đó, Chính phủ đã ban hành

Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 17/3/2013 quy định chi tiết một số điều và biện

pháp thi hành Luật XLVPHC [45]. Chính phủ giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện xây dựng cơ sở

vật chất để phục vụ cho hoạt động QLNN đối với XLVPHC phù hợp với ngành,

lĩnh vực và địa phương mình quản lý, phụ trách.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ xây dựng

và hoàn thiện pháp luật về XLVPHC trong phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan ngang

Bộ. Theo đó, trong phạm vi, quyền hạn và chức năng quản lý của mình: “Xây dựng

cơ sở vật chất, kiện toàn tổ chức, bố trí nguồn lực để triển khai việc thi hành pháp

luật về XLVPHC”; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn của mình có trách nhiệm: “ Chỉ đạo xây dựng cơ sở vật chất, kiện toàn tổ

62

chức, bố trí nguồn lực để triển khai việc thi hành pháp luật về XLVPHC theo quy

định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 24/2012/QH13 của Quốc hội về việc thi

hành Luật XLVPHC” [45, Khoản 7 Điều 30].

2.5.5. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước đối

với xử lý vi phạm hành chính

Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hoạt động quản lý của nhà nước

đó là nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào QLNN. Hiến pháp 2013

Điều 2 nêu rõ: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”; “Nhà nước

bảo đảm và phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân; công nhận, tôn

trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” [72, Điều 3]. Sự tham

gia của nhân dân vào hoạt động QLNN đối với XLVPHC thể hiện bản chất dân chủ

sâu sắc của nhà nước ta; đồng thời ghi nhận nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước

thuộc về nhân dân. Bằng nhiều hình thức tham gia phong phú vào hoạt động QLNN

đối với XLVPHC được Hiến pháp 2013 ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng các

phương tiện của Nhà nước, nhân dân lao động đã phát huy được trí tuệ, khả năng,

năng lực của bản thân trong việc góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, góp phần

“thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi

người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [72].

Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động QLNN đối với XLVPHC được thực

hiện dưới các hình thức: tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền, chức năng quản lý đối với XLVPHC, nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà

pháp luật quy định; tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội có liên quan tới

QLNN đối với XLVPHC; tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở như bảo vệ an

ninh, trật tự,..; trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý

hành chính nhà nước đối với XLVPHC.

Thực tiễn QLNN cho thấy, nơi nào, địa phương nào có sự tham gia tích cực

của quần chúng nhân dân vào hoạt động QLNN đối với XLVPHC, nơi đó, địa bàn

đó kinh tế, chính trị và xã hội ổn định, phát triển, tình hình an ninh TTATXH được

63

giữ vững, công tác phòng, chống các hành vi VPHC thực sự có hiệu quả.

Kết luận Chương 2

Chương 2 đã nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về QLNN đối với

XLVPHC và rút ra những kết luận sau:

Từ những định hướng và quan điểm thể chế hóa các chủ trương, chính sách

của Đảng về cải cách hệ thống pháp luật, cải các tư pháp và cải các hành chính, bảo

đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân, luận án đã làm rõ vai trò của QLNN đối với XLVPHC,

đó là QLNN đối với XLVPHC góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững

về mọi mặt của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi mới của hoạt động QLNN

trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây

dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm

quyền con người, quyền tự do, dân chủ của nhân dân; QLNN đối với XLVPHC là

cơ sở cho việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra và giải quyết những khiếu nại, tố cáo về

XLVPHC, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, hoàn thiện áp dụng, thi hành

các chế tài hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ.

QLNN đối với XLVPHC là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà

nước (cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác được Nhà nước trao quyền), trên cơ

sở pháp luật tới các đối tượng tham gia quan hệ pháp luật hành chính nhằm duy trì

trật tự, kỷ cương và thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong lĩnh vực

XLVPHC.

Nội dung của QLNN đối với XLVPHC bao gồm: Xây dựng, ban hành văn

bản quy phạm pháp luật QLNN đối với XLVPHC; tổ chức thực hiện pháp luật

QLNN đối với XLVPHC; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật pháp luật

QLNN đối với XLVPHC; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm và giải quyết khiếu

nại, tố cáo pháp luật QLNN đối với XLVPHC;

Chương 2 cũng đã làm rõ được chủ thể, khách thể, đối tượng của QLNN đối

với XLVPHC; mục tiêu và các giải pháp bảo đảm tăng cường hiệu lực pháp luật

64

QLNN đối với XLVPHC.

Chương 2 đã khái quát được những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật

QLNN đối với XLVPHC, làm cơ sở, nền tảng cho việc phân tích, đánh giá thực

65

trạng quản pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

Chương 3

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ LÝ VI PHẠM

HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN

3.1. Tình hình, đặc điểm có liên quan đến quản lý nhà nước đối với

xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

3.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội và an ninh trật tự có liên quan

Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, TTATXH

trong nước có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác QLNN

về ANTT và TTATXH của ngành CAND. Tình hình VPHC trên phạm vi toàn quốc

nhìn chung có chiều hướng gia tăng, diễn biến tương đối phức tạp, nghiêm trọng về

tính chất và mức độ vụ việc; đối tượng thực hiện các hành vi VPHC đa dạng, thuộc

nhiều thành phần, lứa tuổi, trình độ. Đáng chú ý là hiện tượng ngày càng trẻ hóa về

đối tượng vi phạm, mức độ manh động cao, thậm chí còn có hành vi chống đối,

thách thức lực lượng thi hành nhiệm vụ. VPHC xảy ra trên hầu hết các lĩnh vực của

đời sống xã hội như: an ninh trật tự, an ninh kinh tế - văn hóa, an toàn xã hội, trật tự

đô thị, trật tự an toàn giao thông đường bộ - đường thủy nội địa, vệ sinh an toàn

thực phẩm, khai thác tài nguyên khoáng sản, môi trường, thương mại, vi phạm về

đăng ký và quản lý cư trú; vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh

có điều kiện; vi phạm về sử dụng trái phép chất ma túy, đánh bạc, gây rối trật tự

công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà chưa đến mức truy

cứu trách nhiệm hình sự… Đặc biệt, tình hình VPHC ở các lĩnh vực: an toàn giao

thông, TTATXH, quản lý xuất nhập cảnh, gây rối trật tự công cộng với việc sử dụng

các loại hung khí nguy hiểm, tụ tập lôi kéo đông người; vi phạm pháp luật về bảo vệ

môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm có chiều hướng gia tăng về số vụ vi phạm và

đối tượng vi phạm.

Trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh: tình hình người nước ngoài,

Việt kiều nhập cảnh, đăng ký tạm trú với mục đích chủ yếu là đi du lịch, đầu tư,

66

thăm thân nhân có chiều hướng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ở một số tỉnh,

thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Khánh Hòa… kéo

theo các hành vi VPHC chủ yếu là vi phạm các quy định về xuất, nhập cảnh, cư trú,

đi lại; hoạt động sai mục đích xuất, nhập cảnh (tổ chức hội thảo, mở lớp truyền đạo,

khám chữa bệnh, hoạt động du lịch trái phép, thu mua nông sản trái phép…), lưu trú

quá thời hạn cho phép, gây rối trật tự công cộng, trốn truy nã tại Việt Nam..; Đặc

biệt là tình trạng người nước ngoài sử dụng con dấu tạm trú giả để tìm cách ở lại

Việt Nam; người Trung Quốc, Hàn Quốc hoạt động dịch vụ trái phép ở các tỉnh

miền Trung diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại

các địa phương. Bên cạnh đó, hành vi của người Việt Nam giả mạo hồ sơ, giấy tờ

xin cấp hộ khẩu, chứng minh nhân dân để được cấp hộ chiếu, sử dụng hộ chiếu

người khác để xuất cảnh, khai không đúng sự thật để cấp hộ chiếu; công dân Việt

Nam nhập cảnh trái phép vào các nước Ba Lan, Anh, Đức; tình hình công dân Việt

Nam xuất cảnh trái phép sang các nước Trung Quốc, Hồng Kông lao động tiếp tục

diễn ra, số xuất cảnh trái phép này đều có người dẫn đường, do người Việt Nam

móc nối với người Trung Quốc đi qua đường tiểu ngạch,…

Trong lĩnh vực thương mại, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả: tình hình

buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả tiếp tục diễn biến phức

tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi: vận chuyển lâm sản không có nguồn

gốc, hồ sơ, không kèm hóa đơn giá trị gia tăng gốc nhằm mục đích quay vòng hồ

sơ, hóa đơn; giả mạo hồ sơ, chữ ký, con dấu, mẫu xác nhận của kiểm lâm để hợp

thức hóa nguồn gốc lâm sản, lợi dụng chính sách miễn thuế đối với tài sản di

chuyển là xe ô tô của Việt Kiều hồi hương để dựng nên nhiều hồ sơ giả, nhập khẩu

vào thị trường nhiều loại xe đắt tiền, trốn thuế với số lượng lớn;

Trong lĩnh vực giao thông đường bộ, hành vi vi phạm chủ yếu: chạy quá tốc

độ quy định; điều khiển xe không đúng phần đường, làn đường; không mang giấy

chứng nhận đăng ký, giấy phép lái xe, sử dụng rượu bia quá nồng độ quy định; chở

quá khổ, quá tải; không đội mũ bảo hiểm; không chấp hành tín hiệu đèn, biển báo…

Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: các hành vi vi phạm pháp luật về môi

trường và an toàn thực phẩm ngày càng diễn ra nghiêm trọng, có chiều hướng gia

67

tăng về số lượng vụ việc vi phạm cũng như tính chất vụ việc, như: xả thải vượt quá

quy chuẩn kỹ thuật về chất thải; thải mùi hôi thối, mùi khó chịu vào môi trường;

không thực hiện chương trình quan trắc môi trường, giám sát môi trường theo quy

định; sử dụng chất phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm quá hạn sử

dụng, nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ; kinh doanh thực phẩm tươi sống

không rõ nguồn gốc, hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn, phát thải bụi, mùi hôi, đặt miệng

ống xả thải ngầm trái phép, vi phạm các quy định về thực hiện cam kết bảo vệ môi

trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, chôn lấp, đổ chất thải rắn thông

thường không đúng quy định; vi phạm các quy định trong khai thác khoáng sản, vi

phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, không đảm bảo quy định về địa

điểm hoặc khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn ô nhiễm và các

yếu tố gây hại khác; không duy trì việc kiểm soát chất lượng, kiểm nghiệm sản

phẩm định kỳ theo quy định, sử dụng phụ gia, hóa chất công nghiệp không đúng

quy định để chế biến, tẩm ướp thực phẩm gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người

tiêu dùng…

Trong lĩnh vực an ninh văn hóa, thông tin và truyền thông: hành vi vi phạm

chủ yếu là cung ứng dịch vụ thư trong nước không có giấy phép, cung cấp dịch vụ

game online khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt về nội dung, kịch bản; các

hành vi in lậu, không có giấy phép, in vượt số lượng được quy định trong giấy phép;

phát hành sách không có hóa đơn, giấy tờ chứng minh nguồn gốc, các hành vi sử

dụng thẻ nhà báo trái phép, hết hiệu lực…

Trong lĩnh vực quản lý hành chính về TTATXH, phổ biến là các hành vi

làm mất giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, làm mất con dấu, làm mất giấy phép sử

dụng công cụ hỗ trợ, vi phạm các quy định, ngành nghề kinh doanh có điều kiện về

an ninh trật tự.

Trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng tập trung chủ yếu là các hành vi: Kinh doanh hàng hóa

nhập lậu, sản xuất, buôn bán hàng cấm, vi phạm về kinh doanh hàng hóa quá hạn sử

dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ và có vi phạm khác

Hoạt động của các loại tội phạm tiềm ẩn nhiều dấu hiệu phức tạp, nhất là

68

hoạt động của các nhóm tội phạm có sử dụng vũ khí, tội phạm sử dụng công nghệ

cao, chống người thi hành công vụ. Tội phạm về ma túy, hình sự và các tệ nạn xã

hội có xu hướng gia tăng cả về số vụ và tính chất, mức độ vi phạm. Các phần tử xấu

lợi dụng các ngành nghề đầu tư kinh doanh, nhất là kinh doanh lưu trú, karaoke, vũ

trường, cầm đồ,… để hoạt động phạm pháp; tội phạm công nghệ cao làm giả con

dấu để lừa đảo diễn ra ở nhiều nơi trên phạm vi toàn quốc. Theo số liệu thống kê

của Cục CSQLHC về TTXH, đến tháng 6 năm 2018, toàn quốc có 110.126 cơ sở

kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự với 367.524 người tham gia [42, tr.4].

Tình hình vi phạm về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tiếp tục diễn

biến phức tạp, nhất là tình trạng sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ để gây

án, chống người thi hành công vụ có chiều hướng gia tăng; tình hình cháy, nổ vẫn

tiếp tục xảy ra nghiêm trọng, có xu hướng tăng về số vụ và thiệt hại (Xem bảng 2.9).

Trung bình mỗi năm xảy ra 2.711 vụ cháy nổ, làm chết 98 người, bị thương 242

người, thiệt hại về tài sản trị giá khoảng 1.345 tỷ đồng.

Tình hình trật tự, an toàn giao thông vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, đặc biệt

là vi phạm về giao thông đường bộ, chiếm đến 96% số vụ VPHC và cũng là lĩnh

vực gây bức xúc trong xã hội, gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản.

Trong lĩnh vực giao thông đường sắt, lỗi vi phạm chủ yếu là mở đường

ngang trái phép, vi phạm các quy định về kinh doanh vận tải đường sắt, vi phạm

quy tắc giao thông tại đường ngang, cầu chung, hầm,.. gây thiệt hại về người và tài

sản rất lớn.

Lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, các hành vi vi phạm chủ yếu là đi

sai luồng, lạch; thuyền viên, người lái phương tiện không có bằng, giấy chứng nhận

khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn phù hợp; phương tiện thủy không

đăng ký, đăng kiểm theo quy định; khai thác cát, sỏi hoặc khoáng sản khác trong

phạm vi hành lang bảo vệ luồng không đúng quy định,… Với đặc điểm sông, kênh,

ngòi dày đặc (cả nước có 3.551 sông, kênh, trong đó: có 3.45 sông, kênh nội tỉnh;

406 sông, kênh liên tỉnh, chảy ra biển thông qua 124 cửa sông; tổng chiều dài lên

tới 80.577 km, trong đó có khoảng 42.000km sông, kênh có khả năng khai thác vận

tải)...; tổng chiều dài đường thủy nội địa đã công bố và đang quản lý, khai thác là

69

17.253km. Hiện nay, cơ quan chức năng mới đăng ký được 248.132 phương tiện

thủy trong tổng số 515.513 phương tiện thủy thuộc diện phải đăng ký (đạt 48,13%),

đăng kiểm được 285.664 phương tiện thủy trong tổng số 444/142 phương tiện thủy

thuộc diện phải đăng kiểm (đạt 64,3%).

3.1.2. Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự

của ngành Công an nhân dân

Những năm qua, tình hình VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự diễn biến

phức tạp, cả về chiều rộng và chiều sâu, gây mất ổn định an ninh và TTATXH, xâm

phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, xâm phạm đến quyền và lợi

ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Thực tiễn của công tác XLVPHC cho thấy,

các lĩnh vực xảy ra nhiều hành vi VPHC là: Lĩnh vực an toàn giao thông; lĩnh vực

an ninh, TTATXH; xây dựng, đất đai; lĩnh vực bảo vệ môi trường; lĩnh vực thương

mại, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; lĩnh vực quản lý rừng, lâm sản; lĩnh

vực hải quản, thủ tục thuế; Hành vi VPHC trong từng lĩnh vực tập trung chủ yếu:

- Trong lĩnh vực giao thông, các hành vi vi phạm phổ biến là: Đi không

đúng phần đường, làn đường; tránh, vượt trái quy định; vi phạm quy định về tốc độ;

dừng, đỗ xe trái quy định; không chấp hành tín hiệu giao thông, đi vào đường cấm,

đường ngược chiều; người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo

hiểm...; Không có giấy phép lái xe hoặc có nhưng không phù hợp; người điều khiển

phương tiện khi tham gia giao thông có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở vượt

quá giới hạn cho phép...; Thay đổi kết cấu, thiết kế phương tiện trái phép; không

đăng kiểm lại khi hết hạn; đưa phương tiện không đủ điều kiện, không bảo đảm an

toàn giao thông vào lưu hành...; Chở hàng quá tải; vận chuyển vật liệu xây dựng

làm rơi vãi trên đường; vận chuyển hành khách vi phạm trật tự an toàn giao

thông…; Xe khách dừng, đón, trả khách không đúng nơi quy định; chở quá số người;

xe ô tô chở hàng rời, vật liệu rời không che phủ bạt để rơi vãi...; Hành vi vi phạm trật

tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa: thuyền viên làm việc trên phương tiện không

có chứng chỉ nghiệp vụ; chở hàng quá vạch dấu mớn nước an toàn;

- Trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội các hành vi vi phạm phổ biến

70

là: trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, đánh nhau gây mất an ninh trật tự khu dân

cư; cố ý làm hư hỏng tài sản, hủy hoại tài sản, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại

dâm xảy ra khá phổ biến...

- Trong lĩnh vực xây dựng, đất đai, hành vi vi phạm phổ biến là: sử dụng đất

không đúng mục đích; xây dựng không phép, sai phép, không trang bị bảo hộ lao

động cho người lao động theo quy định, không thực hiện đúng các quy định về điều

kiện năng lực hoạt động, hành nghề, không để vật liệu đúng như biện pháp thi công

đã được chủ đầu tư phê duyệt, …

- Trong lĩnh vực môi trường, các hành vi vi phạm phổ biến là: không có giấy

phép khai thác, sử dụng nước dưới đất, xả thải vào nguồn nước; không giám sát quá

trình khai thác, sử dụng và xả nước thải; mua bán, vận chuyển khoáng sản không có

nguồn gốc hợp pháp; xả nước thải, khí thải vượt quá quy chuẩn kĩ thuật về chất thải;

thực hiện không đúng quy định về bảo vệ môi trường đối với chủ nguồn thải chất

thải nguy hại; thực hiện không đúng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường

đã được phê duyệt và yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động

môi trường…

Trong lĩnh vực thương mại, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả, các

hành vi vi phạm phổ biến là: kinh doanh hàng cấm (thuốc lá điếu ngoại nhập lậu);

vận chuyển, buôn bán hàng giả (gas, phân bón...), hàng kém chất lượng; vận chuyển

hàng hóa không hóa đơn, chứng từ....

- Trong lĩnh vực quản lý rừng, lâm sản, các hành vi vi phạm phổ biến là: khai

thác tài nguyên rừng, việc chặt phá rừng đặc dụng, rừng sản xuất để làm rẫy, trồng

cao su vẫn diễn biến khá phức tạp, đặc biệt đối với các khu vực rừng phòng hộ, khu

bảo tồn thiên nhiên, khai thác các loài cây cổ thụ trong rừng tự nhiên về làm cây

cảnh cũng đang trong tình trạng báo động; săn bắt, vận chuyển, kinh doanh trái

phép động vật hoang dã và sản phẩm của chúng còn diễn ra nhiều nơi với thủ đoạn

tinh vi, khó kiểm soát…

- Trong lĩnh vực hải quan, thủ tục thuế, các hành vi vi phạm phổ biến là: kê

khai sai về thuế; trốn thuế, nộp chậm thuế; khai, nộp hồ sơ hải quan không đúng

71

thời hạn quy định; khai báo sai tên hàng, mã số, xuất xứ,…

- Tình trạng các đối tượng VPHC là các đối tượng nghiện ma túy ở ngoài

cộng đồng ngày càng tăng, gia tăng các nguy cơ phát sinh các hành vi vi phạm pháp

luật như trộm cắp, cướp giật, tiêm chích ma túy nơi công cộng, gây mất an ninh trật

tự, an toàn xã hội ở một số địa phương trong thời gian vừa qua. Theo thống kê của

Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về ma túy Bộ Công an, số lượng người nghiện

ma túy ngày càng có chiều hướng gia tăng, đặc biệt ở khu vực nông thôn, chiếm tới

1,8% dân số. Nhiều người nghiện chuyển từ sử dụng các loại ma túy truyền thống

như heroin, thuốc phiện sang sử dụng ma túy tổng hợp, ma túy “đá”. Tệ nạn ma túy

diễn biến phức tạp, thành phần đối tượng nghiện đa dạng và ngày càng trẻ hóa.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an, tình hình VPHC

trong lĩnh vực an ninh trật tự thuộc chức năng QLNN của Bộ xảy ra phổ biến, có

chiều hướng gia tăng trên tất cả các lĩnh vực. Các hành vi VPHC chủ yếu trong lĩnh

vực an ninh trật tự như: VPHC trong lĩnh vực giao thông (bao gồm giao thông

đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt); phòng cháy, chữa cháy; quản lý hành

chính về an ninh trật tự (bao gồm: đăng ký và quản lý cư trú, quản lý ngành nghề

kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, vi phạm trật tự công cộng, quản lý, sử

dụng Chứng minh nhân dân, quản lý và sử dụng con dấu, quản lý sử dụng vật liệu

3.1.2.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy

nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm,…); Cụ thể như sau:

Tình hình VPHC trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy thời gian qua xảy

ra khá phổ biến ở hầu hết các cơ sở và khu dân cư, chủ yếu do lỗi sơ xuất, chưa kịp

thời thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy; số lỗi do

cố ý chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 15 %. Các hành vi VPHC trong lĩnh vực này là vi

phạm quy định về nội quy, thiết bị phòng cháy, chữa cháy như: khoảng cách an toàn

phòng cháy, chữa cháy và ngăn cháy; vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

trong đẩu tư xây dựng; thi công, lắp đặt không đúng theo thiết kế về phòng cháy và

chữa cháy đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt,.. Việc tiến hành xử phạt VPHC

trong phòng cháy và chữa cháy chủ yếu được thực hiện do lực lượng Cảnh sát

phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thực hiện; một số trường hợp do Chủ tịch

72

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định xử phạt, còn Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp

huyện, cấp xã hầu như chưa ra quyết định xử phạt. Theo số liệu thống kê của Cục

Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, từ năm 2010 đến tháng 6 năm

2018, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đã phát hiện và

sử phạt 134.199 trường hợp VPHC với số tiền xử phạt là 220.664 tỷ đồng; tạm đình

chỉ hoạt động 534 trường hợp, đình chỉ hoạt động 273 trường hợp. Trung bình mỗi

năm, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đã phát hiện, xử

phạt gần 16.000 trường hợp VPHC trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy (Xem

3.1.2.2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông

Bảng 2.10).

Tình hình VPHC trong lĩnh vực giao thông thời gian qua xảy ra thường

xuyên, diễn biến phức tạp, đặc biệt là VPHC về giao thông đường bộ, chiếm 96%

số vụ VPHC và đây cũng là lĩnh vực gây nhiều thiệt hại về người và tài sản. Trung

bình hàng năm, CSGT xử phạt trên 4.000.000 vụ VPHC. Theo thống kê của Cục

CSGT, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, CSGT toàn quốc đã phát hiện và xử

phạt 46.951.664 trường hợp VPHC trong lĩnh vực giao thông, với tổng số tiền phạt

là 21.578.947 tỷ đồng (Xem bảng 2.5).

Qua số liệu thống kê cho thấy, tình hình VPHC trong lĩnh vực giao thông

nước ta xảy ra ở mức cao, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực giao thông đường bộ với

tính chất, mức độ vi phạm ngày một nghiêm trọng, nhiều hành vi VPHC là nguyên

nhân dẫn đến tai nạn giao thông, do người điều khiển phương tiện vi phạm làn

đường, phần đường chiếm 24,05%; không chấp hành quy định về tốc độ chiếm

9,55%; chuyển hướng không đúng quy định chiếm 9,37%; tránh phương tiện không

đúng quy định chiếm 2,17%; không nhường đường 6,47%; vượt phương tiện khác

không đúng quy định 6,26%; vi phạm quy trình, thao tác điều khiển phương tiện

chiếm 2,04%, vi phạm biển báo hiệu, dừng đỗ sai quy định, không có giấy phép lái

xe và các nguyên nhân khác không đúng quy định chiếm 33,96%.

Tình hình VPHC xảy ra nhiều xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có

nguyên nhân do người tham gia giao thông chưa nhận thức đầy đủ các quy định của

pháp luật về giao thông. Mặt khác, do nhận thức và thực hiện trách nhiệm chủ yếu

73

là của chính quyền các cấp và một số ngành chức năng. Hệ thống báo hiệu đường

bộ còn nhiều bất cập, nhiều đoạn đường hệ thống vạch sơn, biển báo thiếu, không

đồng bộ hoặc chưa đúng quy định; các nút giao cắt giữa đường bộ, đường sắt không

3.1.2.3. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật

tự xã hội

có gờ giảm tốc,…

Hành vi VPHC trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật tự xã hội bao gồm

các hành vi quy định về: Trật tự công cộng; bảo đảm sự yên tĩnh chung; giữ gìn vệ

sinh chung; đăng ký và quản lý cư trú; quản lý, sử dụng Chứng minh nhân dân, thẻ

Căn cước công dân; quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ

chơi nguy hiểm bị cấm; quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an

ninh trật tự; quản lý và sử dụng con dấu,... Theo thống kê của Cục Cảnh sát quản lý

hành chính về TTATXH, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, CSQLHC về TTXH

phát hiện và xử phạt 3.836.374 trường hợp VPHC với số tiền phạt trên 1.264.82 tỷ

đồng (xem Bảng 2.3). Trung bình mỗi năm, Cảnh sát Quản lý hành chính về

TTATXH phát hiện và xử phạt trên 451.338 trường hợp VPHC với số tiền phạt trên

148 tỷ đồng. Trong số các cụ việc VPHC được lực lượng Cảnh sát Quản lý hành

chính về TTATXH phát hiện, chủ yếu các VPHC xảy ra ở lĩnh vực trật tự công

cộng - giao thông đô thị (Xem Bảng 2.4.).

3.1.3. Tình hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với xử lý vi

phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Qua mỗi thời kỳ, mô hình tổ chức của lực lượng CAND trong thực hiện

QLNN về an ninh trật tự đều có sự thay đổi để phù hợp với yêu cầu quản lý của Nhà

nước. Từ năm 2009, tổ chức bộ máy của CAND thực hiện theo Nghị định số

77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ

cấu tổ chức của Bộ Công an, Nghị định số 21/2014/NĐ-CP ngày 25/3/2014 sửa đổi,

bổ sung Nghị định số 77/2009/NĐ-CP, Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày

17/11/20014 và Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 quy định chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Mỗi mô hình tổ chức của

74

CAND có sự điều chỉnh, thay đổi theo các văn bản nêu trên thì chức năng QLNN

của các lực lượng có thẩm quyền xử phạt VPHC của lực lượng CAND cũng được

điều chỉnh thay đổi cho phù hợp. Ngoài Luật CAND thì chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn về XLVPHC của lực lượng CAND còn được điều chỉnh bởi Luật

XLVPHC, các văn bản pháp luật về XLVPHC trong các lĩnh vực QLNN và các

quyết định của Bộ Công an quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức

bộ máy của từng lực lượng trong CAND.

Theo Luật CAND 2018 [78] và Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày

06/8/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ

Công an [59], hiện nay, các lực lượng có thẩm quyền xử phạt VPHC của Bộ Công

an bao gồm chủ yếu là hai lực lượng Cảnh sát và An ninh, được tổ chức ở 04 cấp, từ

trung ương đến cơ sở, cụ thể như sau:

- Về tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng Công an có thẩm quyền xử

phạt vi phạm hành chính ở Bộ Công an (cấp Bộ):

Ở Bộ Công an (cấp Bộ), mô hình tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng

CAND có thẩm quyền xử phạt VPHC gồm: Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội

bộ, Cục trưởng Cục An ninh kinh tế, Cục trưởng Cục CSQLHC về TTXH, Cục

trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát

điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều

tra tội phạm về ma túy, Cục trưởng Cục CSGT, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng

cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội

phạm về môi trường, Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử

dụng công nghệ cao, Cục trưởng Cục An ninh nội địa, Cục trưởng Cục Cảnh sát

quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng, Cục trưởng Cục

Quản lý xuất nhập cảnh, Tư lệnh Cảnh sát cơ động.

- Về tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng Công an có thẩm quyền xử

phạt vi phạm hành chính cấp tỉnh: Giám đốc Công an cấp tỉnh; Trưởng phòng

nghiệp vụ thuộc Cục An ninh chính trị nội bộ; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục

CSQLHC về TTXH; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục CSGT; Trưởng phòng

nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Trưởng

75

phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công

nghệ cao; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh; Trưởng

phòng Công an cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Trưởng

phòng Cảnh sát quấn lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều

tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham

nhũng, kinh tế, buôn lậu, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy,

Trưởng phòng CSGT, Trưởng phòng CSGT đường bộ - đường sắt, Trưởng phòng

CSGT đường bộ, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát cơ

động, Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ, Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự

và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường,

Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng phòng

An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Trưởng phòng

Quản lý xuất nhập cảnh, Trưởng phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh đối

ngoại, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động, Thủy đoàn trưởng.

- Về tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng Công an có thẩm quyền xử

phạt vi phạm hành chính cấp huyện:

Ở cấp huyện, theo Quyết định số 1727/QĐ-BCA ngày 07/4/2015 của Bộ

trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy

của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Công an cấp huyện có

nhiệm vụ thực hiện xử phạt VPHC theo quy định. Cụ thể:

+ Mô hình tổ chức bộ máy của Công an huyện gồm 11 đội, trong đó, có Đội

CSQLHC về TTXH; Đội CSGT, trật tự, cơ động (riêng Công an huyện thuộc thành

phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ có thêm Đội Cảnh sát phản ứng nhanh)

thực hiện chức năng xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATXH.

+ Mô hình tổ chức bộ máy của Công an quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có

13 đội, trong đó có Đội CSQLHC về TTXH; Đội CSGT; Đội Cảnh sát trật tự, cơ

động (riêng Công an huyện thuộc thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ

có thêm Đội Cảnh sát phản ứng nhanh) thực hiện chức năng xử phạt VPHC trong

76

lĩnh vực TTATXH.

- Về tổ chức bộ máy và chức danh của lực lượng Công an có thẩm quyền xử

phạt vi phạm hành chính cấp phường:

Theo Quyết định số 4169/QĐ-BCA ngày 29/9/2016 của Bộ trưởng Bộ Công

an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an

phường thì Công an phường gồm các tổ: Tổng hợp; Cảnh sát khu vực; Cảnh sát trật

tự; Cảnh sát phòng, chống tội phạm. Lực lượng Cảnh sát nhân dân thuộc Công an

phường là cấp Công an cơ sở trực tiếp thực hiện hoạt động hoạt động xử phạt

VPHC trong lĩnh vực TTATXH theo phạm vi địa bàn quản lý và theo quy định của

pháp luật.

Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 1, 2, 3 Điều 39 Luật XLVPHC, một số

chức danh của lực lượng CAND có thẩm quyền xử phạt VPHC: Chiến sĩ CAND

đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng, Trưởng Công an cấp xã, Trưởng

đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất , Trưởng Công an

cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trưởng trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất, Trưởng

Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Cảnh sát

cơ động, Thủy đội trưởng.

3.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

3.2.1. Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm

hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

3.2.1.1. Kết quả xây dựng và ban hành pháp luật về quản lý nhà nước đối

với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản, không thể thiếu của

bất kỳ nhà nước nào. Các nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật để xây dựng một

hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các

cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và việc ứng xử của các cá

nhân trong toàn xã hội. Xây dựng pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện

chức năng nhà nước, là sự thể hiện và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tiễn, thể

77

hiện mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhà nước và pháp luật.

Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện

pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhằm đáp ứng yêu cầu thể

chế kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của

Hiến pháp về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, thực

hiện giảm dần pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính

phủ quy định những vấn đề dưới Luật theo chủ trương của Nghị quyết Hội nghị lần

thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, hệ thống văn bản pháp luật về

XLVPHC ngày càng được hoàn chỉnh, trở thành công cụ pháp lý quan trọng, góp

phần tích cực vào việc ổn định xã hội, giữ gìn TTATXH, kỷ cương quản lý hành

chính của nhà nước và đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC, tội phạm

trong thời kỳ mới.

Hiến pháp năm 2013 Điều 109 [81] quy định chức năng của Chính phủ :

“thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,

quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước; bảo đảm hiệu lực bộ máy nhà nước

từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp

luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc, bảo đảm ổn định, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”.

Pháp luật về XLVPHC là một bộ phận trong hệ thống pháp luật chung của nhà

nước ta, bao gồm các quy phạm pháp luật của rất nhiều ngành khác nhau điều chỉnh.

Các quy phạm pháp luật về XLVPHC là cơ sở pháp lý để nhà nước, thông qua các cơ

quan chức năng của mình để thực hiện việc QLNN đối với XLVPHC. Pháp luật về

XLVPHC được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật chung của nhà nước:

Hiến pháp, các Luật chuyên ngành, các văn bản pháp luật quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành Luật, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ

chức Chính quyền địa phương, Luật XLVPHC, Luật CAND, Luật Biên giới quốc

gia, Luật phòng, chống ma túy, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật nhập cảnh, xuất cảnh,

quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật Phòng cháy, chữa

cháy,…đều có quy định cụ thể về nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các cơ

78

quan QLNN đối với việc bảo đảm ổn định và TTATXH.

Thực tiễn cho thấy, QLNN đối với XLVPHC có ý nghĩa rất quan trọng trong

việc xây dựng, áp dụng chế tài hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác

thi hành, hoàn thiện pháp luật XLVPHC. Luật XLVPHC năm 2012 và Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật XLVPHC năm 2020 đã quy định trách nhiệm QLNN

đối với XLVPHC tại Điều 17, Điều 18 của Luật; theo đó, Luật quy định cụ thể trách

nhiệm của Chính phủ trong việc thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về

XLVPHC và Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc

thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC. Trong phạm vi chức

năng, nhiệm vụ của mình, Tòa án nhân dân, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các

cấp có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp thực hiện với Bộ Tư pháp trong việc

thực hiện công tác quản lý thi hành pháp luật về XLVPHC.

Theo Báo cáo số 51/BC-BTP ngày 06/3/2020 của Bộ Tư pháp công tác thi

hành pháp luật về XLVPHC, tính đến thời điểm 28/02/2020, tổng số văn bản được

Chính phủ ban hành để quy định chi tiết Luật XLVPHC là 119 nghị định (bao gồm

cả các nghị định thay thế và sửa đổi, bổ sung). Trong tổng số 119 nghị định có 91

nghị định còn hiệu lực; 28 nghị định đã hết hiệu lực thi hành. Trong tổng số 91 nghị

định còn hiệu lực thi hành gồm có 08 nghị định quy định về các vấn đề chung; 05

nghị định quy định về các biện pháp xử lý hành chính; 78 nghị định quy định về xử

phạt VPHC trong các lĩnh vực QLNN [51].

Luật XLVPHC đã dành 01 chương (Chương II, từ Điều 38 đến Điều 54) quy

định về thẩm quyền xử phạt VPHC và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ

tịch Ủy ban nhân dân; CAND; Bộ đội Biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Kiểm

lâm; Cơ quan thuế; Quản lý thị trường; Thanh tra; Cảng vụ hàng hải; Cảng vụ hàng

không; Cảng vụ đường thủy nội địa; Tòa án nhân dân; cơ quan thi hành án dân sự;

Cục quản lý lao động ngoài nước; cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự; cơ

quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;

Luật XLVPHC cũng quy định về các biện pháp xử lý hành chính và các vấn

đề có liên quan đến việc áp dụng các BPXLVPHC (từ Điều 89 đến Điều 118); trong

79

đó, quy định rõ thẩm quyền của lực lượng Công an và thẩm quyền của Tòa án nhân

dân, Ủy ban nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, gồm: Giáo

dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào TGD; Đưa vào CSCBBB; Đưa vào cơ sở cai

nghiện bắt buộc.

Luật XLVPHC quy định rõ, cụ thể các chức danh có thẩm quyền xử phạt, áp

dụng các biện pháp khắc phục, các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm XLVPHC, áp

dụng các biện pháp cưỡng chế, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của lực

lượng CAND. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho lực lượng CAND thực hiện

nhiệm vụ QLNN của mình trong lĩnh vực giữ gìn và bảo đảm TTATXH. Theo đó,

có thể thấy, trách nhiệm, chức năng, thẩm quyền của ngành CAND trong XLVPHC

đóng một vai trò hết sức quan trọng, thể hiện ở các Chương, Điều luật của Luật

XLVPHC, trên hầu hết các quy định về XLVPHC, từ xử phạt, cưỡng chế xử phạt,

trục xuất, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn và

bảo đảm XLVPHC cho đến các biện pháp xử lý hành chính khác. Hoạt động

XLVPHC chính là hoạt động cưỡng chế hành chính của nhà nước đối với các tổ chức,

cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật hành chính nhằm mục đích giúp các cá nhân, tổ

chức vi phạm nhận thức rõ hành vi vi phạm cũng như trách nhiệm của mình trước pháp

luật. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về xử phạt VPHC trong

từng lĩnh vực QLNN, đặc biệt là trong lĩnh vực TTATXH đáp ứng yêu cầu về QLNN

đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân vi phạm, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động

QLNN đối với XLVPHC của lực lượng này.

Luật CAND năm 2018 (khoản 9 Điều 16) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của

CAND, trong đó xác định nhiệm vụ của CAND: “Thực hiện quản lý về xử phạt,

XLVPHC trong lĩnh vực an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; xử phạt VPHC và

thực hiện các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật; bảo đảm an

ninh, trật tự trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế khi có yêu cầu của cơ quan

có thẩm quyền; Thực hiện quản lý về cư trú, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ

sở dữ liệu căn cước công dân, con dấu, trật tự, an toàn giao thông, trật tự công

cộng, vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ, phòng cháy, chữa cháy

80

và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của pháp luật; cấp, quản lý thẻ Căn cước công

dân và giấy tờ tùy thân khác; đăng ký, cấp, quản lý biển số phương tiện giao thông

cơ giới đường bộ; thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và

thực hiện quản lý về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có

điều kiện theo quy định của pháp luật” [92].

Trên cơ sở quy định của Luật XLVPHC, căn cứ và chức năng, nhiệm vụ của

ngành CAND theo quy định của Hiến pháp, của Luật CAND, Bộ Công an đã chủ trì,

phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng, tham mưu và đề xuất với Chính

phủ ban hành các văn bản quy định về xử lý vi phạm hành trên nhiều lĩnh vực thuộc

phạm vi QLNN của ngành mình được giao; đồng thời chủ động trong công tác chỉ

đạo, tổ chức triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về XLVPHC thuộc thẩm

quyền của ngành CAND. Theo đó, một khối lượng lớn các văn bản pháp luật liên

quan đến lĩnh vực XLVPHC thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý an toàn trật tự của

lực lượng Công an trên các lĩnh vực đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký

ban hành như: XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH, xử phạt VPHC và thực hiện các

biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật, quản lý về cư trú, cơ sở dữ

liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu căn cước công dân, con dấu, trật tự, an toàn

giao thông, trật tự công cộng, vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ,

phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của pháp luật; cấp, quản lý

thẻ Căn cước công dân…, cụ thể: 48 Nghị định; 08 Quyết định của Thủ tướng

Chính phủ; 376 Thông tư; 42 Thông tư liên tịch,…, điển hình:

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt VPHC

trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và

chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định 112/2013/NĐ-CP ngày

02/10/2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải

người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp

luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; Nghị định 17/2016/NĐ-CP

ngày 17/3/2016 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 112/2013/NĐ-CP;

Nghị định 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện

pháp xử lý hành chính đưa vào TGD và đưa vào CSGDBB; Nghị định

81

166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử

phạt VPHC; Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 quy định về quản lý, bảo

quản tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; Nghị

định 165/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định việc quản lý, sử dụng và danh

mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện VPHC về

trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường; Nghị định 132/2015/NĐ-CP ngày

25/12/2015 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa;

Nghị định 56/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực

giao thông đường bộ, đường sắt; Nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 quy

định một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú; Nghị định 137/2015/NĐ-CP

ngày 31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật căn cước

công dân; Nghị định 136/2020/NĐ-CP/ ngày 24/11/2020 quy định chi tiết một số

điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luạt sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy; Nghị định 75/2020/NĐ-CP ngày

01/7/2020 quy định chi tiết một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật

nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Nghị

định 17/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định

07/2017/NĐ-CP ngày 25/01/2017 quy định trình tự, thủ tục thực hiện thí điểm cấp thị

thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam; Nghị định 22/2019/NĐ-CP

ngày 25/02/2019 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong CAND;

- Thông tư 34/2014/TT-BCA ngày 15/8/2014 quy định về các biểu mẫu để

sử dụng khi xử phạt VPHC thuộc thẩm quyền của CAND; Thông tư 38/2014/TT-

BCA ngày 12/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành

chính đưa vào TGD; Thông tư 39/2014/TT-BCA ngày 12/9/2014 quy định về biểu

mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSGDBB; Thông tư

42/2014/TT-BCA ngày 25/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng trong CAND khi

áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

Thông tư 43/2014/TT-BCA ngày 08/10/2014 quy định chi tiết thi hành Nghị định số

02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử

lý hành chính đưa vào TGD và CSGDBB; Thông tư 45/2014/TT-BCA ngày

82

15/10/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 171/2013/NĐ-CP

ngày 13/11/2013 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ;

Thông tư 47/2014/TT-BCA ngày 17/10/2014 quy định chi tiết thi hành Nghị định

115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương

tiện VPHC bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; Thông tư 48/2014/TT-BCA

ngày 17/10/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định

111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành

chính GDTXPTT; Thông tư 07/2015/TT-BCA ngày 27/01/2015 quy định về quản

lý trại viên CSGDBB; Thông tư 10/2015/TT-BCA ngày 11/02/2015 của Bộ Công

an quy định chi tiết về xử phạt VPHC trong lĩnh vực liên quan đến an ninh, trật tự,

an toàn xã hội; Thông tư 20/2015/TT-BCA ngày 14/5/2015 của Bộ Công an ban

hành nội quy TGD; Thông tư 21/2015/TT-BCA ngày 14/5/2015 của Bộ Công an

ban hành nội quy CSGDBB; Thông tư 40/2015/TT-BCA ngày 24/8/2015 của Bộ

Công an quy định về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong CAND

để phát hiện VPHC về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường; Thông tư

58/2015/TT-BCA ngày 03/11/2015 của Bộ Công an quy định về tuần tra, kiểm soát

bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội của lực lượng Cảnh sát cơ động; Thông tư

16/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và

XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ; Thông tư 03/2016/TT-BCA ngày

04/01/2016 quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và XLVPHC trong lĩnh vực

giao thông đường bộ; Thông tư 07/2016/TT-BCA ngày 01/02/2016 quy định chi tiết

một số điều của Luật Căn cước công dân và Nghị định 137/2015/NĐ-CP ngày

31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công

dân; Thông tư 10/2016/TT-BCA ngày 03/3/2016 quy định về công tác tàng thư căn

cước công dân; Thông tư 11/2016/TT-BCA ngày 04/3/2016 quy định về trình tự

cấp, đổi lại, cấp lại thẻ căn cước công dân; Thông tư 41/2016/TT-BCA ngày

12/10/2016 quy định quy trình đăng ký xe; Thông tư 05/2018/TT-BCA ngày

07/02/2018 quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp

XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Thông tư 08/2018/TT-BCA ngày

83

05/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Nghị định 83/2017/NĐ-CP ngày

18/7/2017 quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa

cháy; ….

Song song với việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về QLNN đối

với XLVPHC, Bộ Công an cũng đã kịp thời chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương,

các lực lượng có thẩm quyền xử phạt VPHC của ngành Công an triển khai thực hiện

nghiêm túc quy định của pháp luật về XLVPHC thuộc phạm vi, thẩm quyền, chức

năng được giao, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, nâng cao ý thức

chấp hành, vận dụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công

dân, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và bảo đảm TTATXH trong tình

hình mới. Hàng năm, các đơn vị chức năng của ngành Công an tham mưu, đề xuất

với lãnh đạo Bộ Công an ban hành các kế hoạch, chương trình công tác về quản lý,

theo dõi tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC, chỉ đạo Công an các đơn vị, địa

phương thực hiện nghiêm túc và đúng quy định của pháp luật XLVPHC; ban hành

các văn bản dưới các hình thức như Điện, Kế hoạch, Công văn,… chỉ đạo Công an

các đơn vị, địa phương tăng cường kiểm soát, kiểm tra, xử phạt, XLVPHC trong các

lĩnh vực quản lý như: công tác phồng cháy, chữa cháy đối với các cơ sở trọng điểm;

các kế hoạch phối hợp về tuần tra, kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm hàng chở quá tải

trọng của xe ô tô; Công văn chỉ đạo các đơn vị, địa phương về việc lập lại trật tự hành

lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt; điện về mở đợt cao điểm tấn công trấn

áp tội phạm, bảo đảm TTATXH vào các dịp Lễ, Tết; Các chỉ thị về tăng cường công

tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của lực lượng CAND trong tình hình mới;

tăng cường công tác tuần tra kiểm soát và XLVPHC chở hàng quá tải trên đường bộ;

tuyên truyền và xử lý vi phạm quy định về nồng độ cồn đối với người điều khiển

phương tiện giao thông cơ giới đường bộ,…Ngoài ra, căn cứ vào tình hình thực tế,

Bộ Công an ban hành các văn bản chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương triển khai

thực hiện công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, tuần tra, kiểm soát, XLVPHC

trong lĩnh vực giao thông, phòng cháy chữa cháy, xử lý vi phạm pháp luật trong kinh

doanh xăng dầu, khí đốt hóa lỏng, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đăng ký quản

lý cư trú, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác phù hợp với từng đối tượng vi

84

phạm ở địa bàn quản lý,…

3.2.1.2. Một số hạn chế của xây dựng và ban hành pháp luật về quản lý

nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Xây dựng và ban hành pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

ngành CAND được coi là khâu đầu tiên của quá trình điều chỉnh pháp luật

XLVPHC trong lĩnh vực bảo đảm an trật tự và an toàn xã hội. Thông qua hoạt động

xây dựng và ban hành pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành

CAND, các quy định của pháp luật sẽ được điều chỉnh, sửa đổi hoặc bãi bỏ cho phù

hợp với tình hình thực tế thi hành pháp luật XLVPHC, đáp ứng yêu cầu bảo đảm

một xã hội phát triển ổn định, trật tự, có kỷ cương. Chính vì vậy, có thể khẳng định

rằng, xây dựng và ban hành pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của

ngành Công an là hoạt động mang tính sáng tạo, theo đó, trong quá trình xây dựng

và ban hành pháp luật, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải dự liệu được trước

những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong tương lai để có thể đặt ra các quy

định pháp luật bảo đảm nhu cầu phát triển lâu dài, ổn định của đất nước.

Tuy đã có nhiều văn bản pháp luật, từ đạo luật quan trọng nhất là Hiến pháp,

Nghị quyết của Đảng, các văn bản Luật của Quốc hội và rất nhiều văn bản pháp luật

của Chính phủ được xây dựng, ban hành về XLVPHC, đặc biệt là QLNN đối với

XLVPHC, nhưng qua thực tế triển khai thi hành pháp luật của lĩnh vực này trong

những năm qua cho thấy, tình hình VPHC diễn biến hết sức phức tạp, có nơi có lúc

còn xảy ra nghiêm trọng, gây mất ổn định trật tự xã hội, xâm phạm tới lợi ích nhà

nước, lợi ích của cá nhân, tổ chức. Công tác XLVPHC có phạm vi rộng, bao trùm

nhiều lĩnh vực QLNN, chỉ riêng lĩnh vực của ngành Công an đã chiếm tới 48 nghị

định quy định về xử phạt VPHC trên tống số 119 Nghị định hướng dẫn thi hành

chung của Luật XLVPHC; trong khi đó, Luật Xử ký VPHC chưa quy định được

một cách đầy đủ, cụ thể, phân định thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng giữa các

ngành, cơ quan chức năng, nhất là trong phối hợp thực hiện công tác XLVPHC.

Điều này dẫn đến tình trạng các quy định của luật chuyên ngành cùng với nhiều

nghị định xử phạt VPHC ban hành thiếu thống nhất, chồng chéo chức năng, nhiệm

85

vụ, tạo ra sự khó kiểm soát về QLNN đối với XLVPHC.

Công tác QLNN đối với XLVPHC trên một số lĩnh vực như quản lý người

nước ngoài, nhập cảnh, xuất cảnh, trục xuất hành chính người nước ngoài vi phạm

pháp luật hành chính Việt Nam chưa thực sự phù hợp với sự phát triển của xã hội;

trình độ xây dựng pháp luật còn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

xã hội, chưa thực sự thực hiện đúng những nguyên tắc chuyên nghiệp trong công

tác xây dựng, ban hành pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của

ngành CAND, chưa thể hiện được sự hiểu biết sâu sắc nhất về lĩnh vực QLNN đối

với XLVPHC từ thực tiễn của ngành CAND, với những đặc thù riêng có của lực

lượng vũ trang, được nhà nước giao trách nhiệm thay mặt nhà nước QLNN đối với

XLVPHC thuộc lĩnh vực bảo đảm TTATXH.

Một số quy định của pháp luật liên quan đến việc thực hiện các quyết định về

áp dụng các BPXLVPHC còn chưa thống nhất, gây ra nhiều khó khăn trong việc áp

dụng pháp luật trên thực tiễn. Việc áp dụng BPXLVPHC giáo dục tại xã, phường,

thị trấn, đưa vào CSCBBB, TGD đối với người VPHC có hiệu quả thấp do cơ quan,

tổ chức được giao giúp đỡ người vi phạm chưa thực sự quan tâm và chủ động thực

hiện nhiệm vụ được giao.

Các hành vi VPHC tuy đã được quy định khá đầy đủ trong các văn bản quy

phạm pháp luật thuộc lĩnh vực an ninh trật tự nhưng thực sự chưa theo kịp với sự

phức tạp của hành vi VPHC như: VPHC trong lĩnh vực giao thông (bao gồm giao

thông đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt); phòng cháy, chữa cháy; quản lý

hành chính về an ninh trật tự (bao gồm: đăng ký và quản lý cư trú, quản lý ngành

nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, vi phạm trật tự công cộng, quản lý,

sử dụng Chứng minh nhân dân, quản lý và sử dụng con dấu, quản lý sử dụng vật

liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm,…); chống người thi

hành công vụ,…

Các văn bản dưới luật đã được ban hành song chưa đồng bộ, chưa có quy

định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện, đặc biệt về lĩnh vực cưỡng chế thi hành

quyết định xử phạt. Bên cạnh đó, một số quy định về xử phạt VPHC đối với từng

hành vi vi phạm còn chưa phù hợp với thực tế, chưa đủ tính răn đe nên thực tế

86

người vi phạm chấp nhận bị xử phạt VPHC chứ không thực hiện các biện pháp, yêu

cầu mà Nghị định xử phạt bắt buộc phải thực hiện. Điều này làm cho các ngành

chức năng, trong đó có lực lượng CAND khó khăn trong triển khai thực hiện, đặc

biệt là đối với những quy định mới của Luật XLVPHC.

Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật XLVPHC 2012 chưa được ban hành kịp thời, đồng bộ; một số

quy định trong các văn bản chưa phù hợp với thực tiễn khiến cho các đơn vị chức

năng thuộc ngành CAND còn lúng túng trong áp dụng pháp luật.

3.2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật quản lý nhà nước đối với

xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

3.2.2.1. Kết quả tổ chức thực hiện pháp luật quản lý nhà nước đối với xử

lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Việc tổ chức thực hiện pháp luật nói chung có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã

hội. Bằng việc tổ chức thực hiện pháp luật, các quy định của pháp luật từ các nguồn

luật đi vào đời sống, trở thành hành vi thực tế của các chủ thể. Nhờ đó, pháp luật phát

huy được vai trò của nó trong thực tế, làm cho trật tự xã hội ổn định, có điều kiện phát

triển, các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức được bảo đảm, bảo vệ,

đời sống xã hội được an toàn. Thông qua thực hiện pháp luật, những hạn chế, khiếm

khuyết của pháp luật sẽ bộc lộ, nhờ đó pháp luật sẽ được hoàn thiện kịp thời.

Công tác tổ chức thực hiện pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của

ngành CAND được tiến hành thông qua việc tiến hành các biện pháp phát hiện các

VPHC, đình chỉ, tiến hành các thủ tục xử phạt VPHC và xử lý các hành vi VPHC theo

quy định của pháp luật hành chính trong lĩnh vực QLNN về an ninh trật tự và an toàn

xã hội theo đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm được giao, cụ thể là một số lĩnh

vực sau: xử phạt VPHC và thực hiện các biện pháp xử lý hành chính theo quy định

của pháp luật; Bảo đảm an ninh, trật tự trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế

khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; Thực hiện quản lý về cư trú, cơ sở dữ

liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu căn cước công dân, con dấu; Trật tự, an

toàn giao thông, trật tự công cộng; vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ

87

hỗ trợ; Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của pháp luật; cấp,

quản lý thẻ Căn cước công dân và giấy tờ tùy thân khác; Đăng ký, cấp, quản lý biển

số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; Thực hiện công tác phòng cháy, chữa

cháy, cứu nạn, cứu hộ và thực hiện quản lý về an ninh, trật tự đối với các ngành,

nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật.

- Trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật tự xã hội:

QLNN đối với XLVPHC của ngành CAND trong lĩnh vực quản lý hành chính

về trật tự xã hội bao gồm: QLNN về cư trú; quản lý về lĩnh vực kinh daonh có điều

kiện về an ninh trật tự; quản lý về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ,…Trong từng

lĩnh vực cụ thể, lực lượng CAND tiến hành thực hiện pháp luật XLVPHC khác nhau,

tổ chức một cách có hệ thống, có kế hoạch và nội dung, biện pháp cụ thể. Thông qua

việc phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật hành chính của các đối tượng, lực

lượng CAND tiến hành các thủ tục xử phạt VPHC theo đúng quy định của pháp luật.

Theo số liệu thống kê của Cục CSQLHC về TTXH, tính từ năm 2010 đến tháng 6 năm

2018, lực lượng CSQLHC về TTXH đã phát hiện 3.836.374 trường hợp VPHC, trong

đó, VPHC trong lĩnh vực quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an

ninh trật tự là 95.142 trường hợp, chiếm 2,48%; lĩnh vực trật tự công cộng - giao thông

đô thị là 3.501.252 trường hợp, chiếm 91.26%; lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ,

công cụ hỗ trợ là 11.130 trường hợp, chiếm 0,29%; lĩnh vực đăng ký quản lý cư trú là

158.558 trường hợp, chiếm 1,83%. (Bảng 2.4)

Trong năm 2017, CSQLHC về TTXH đã phát hiện: lĩnh vực quản lý ngành,

nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự: 13.482 trường hợp VPHC; lĩnh

vực quản lý con dấu: 2.648 trường hợp vi phạm; lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ,

công cụ hỗ trợ và pháo: vận động nhân dân giao nộp 1.550 súng các loại, 559 công cụ

hỗ trợ, 4.134 viên đạn, 32 mìn, 25 bom, 251 lựu đạn, 109 đầu đạn các loại, 51 quả đạn,

135,7 kg thuốc nổ, 1.058 vũ khí thô sơ, phát hiện và bắt giữ 1.100 vụ vận chuyển, tàng

trữ, sản xuất, sử dụng pháo trái phép, bắt 1.269 đối tượng, thu giữ 22.748,5kg pháp,

6.118 quả pháp, 124 hộp pháo, phát hiện 139 trường hợp vi phạm; lĩnh vực đăng ký,

quản lý cư trú: 2.804 trường hợp vi phạm; lĩnh vực bảo đảm trật tự giao thông đô thị:

302.757 trường hợp vi phạm, xử lý 21.628 vụ việc. Theo số liệu báo cáo của Cục

88

CSQLHC về TTXH, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, lực lượng CSQLHC về

TTXH đã tiến hành lập biên bản VPHC đối với 3.628.977 trường hợp/3.836.374

trường hợp vi phạm, ra quyết định xử phạt tại chỗ là 207.397 trường hợp; trong đó,

VPHC trong lĩnh vực quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh

trật tự là 95.142 trường hợp (chiếm 2,48%); VPHC trong trật tự công cộng - giao thông

đô thị là 3.501.252 trường hợp (chiếm 91,26%); VPHC trong lĩnh vực quản lý vũ khí,

vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ là 11.130 trường hợp (chiếm 0,29%); VPHC trong lĩnh vực

đăng ký, quản lý cư trú là 158.558 trường hợp (chiếm 4,14%); VPHC trong các lĩnh

vực khác thuộc phạm vi quản lý của Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH là 70.292

trường hợp (chiếm 1,83%).

- Trong lĩnh vực giao thông: Theo số liệu thống kê của Cục CSGT, từ năm 2010

đến tháng 6 năm 2018, đã phát hiện 46.591.664 trường hợp VPHC, trong đó: giao

thông đường bộ: 44.763.450 trường hợp (chiếm 96,08%); giao thông đường thủy nội

địa: 1.785.684 trường hợp (chiếm 3,79%); giao thông đường sắt: 42.530 trường hợp,

chiếm 0,13% (Bảng 2.5)

VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ: với số trường hợp vi phạm được

phát hiện (44.763.450 trường hợp), trung bình mỗi năm phát hiện hơn 5 triệu trường

hợp VPHC trong lĩnh vực này. Các lực lượng CSGT tiến hành tuần tra, kiểm soát theo

quy định của pháp luật, thông qua hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao

thông đường bộ để phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp

luật trên phạm vi tuyến, địa bàn được phân công. Bên cạnh đó, lực lượng CSGT còn

phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ trong và ngoài ngành Công an tiến hành tuần tra,

kiểm soát nhằm phát hiện các VPHC để kịp thời ngăn chặn, xử lý theo quy định. Tính

riêng trong năm 2014, có tổng số 4.883.692 trường hợp vi phạm bị phát hiện có

172.729 trường hợp VPHC là xe khách, 672.409 trường hợp là xe tải, 216.716 trường

hợp là xe con, 5.630 trường hợp là xe container, 2.304.368 trường hợp là xe moto,

31.244 trường hợp là các phương tiện khác; 1.408.587 trường hợp VPHC không tổng

hợp, phân tích các loại vi phạm. Lực lượng CSGT đã tiến hành lập biên bản VPHC đối

với 38.300.296 trường hợp (chiếm 96,67%); ra quyết định xử phạt VPHC là

89

44.763.450 trường hợp, với số tiền xử phạt là 20.569.662 tỷ đồng.

VPHC trong lĩnh vực giao thông đường sắt: Việc kiểm tra, kiểm soát và phát

hiện, XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường sắt được thực hiện trên cơ sở các

quy định của pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường sắt. Hàng

năm, lực lượng CSGT phối hợp với các cơ quan chức năng của ngành giao thông

như Cục Đường sắt Việt Nam, Thanh tra đường sắt Việt Nam,... tiến hành kiểm tra

việc bảo đảm an toàn và công tác vận tải đường sắt, kiểm tra các cung đường sắt,

cung thông tin tín hiệu, đường ngang, cầu chung và các đoạn đường sắt xung yếu,

phát hiện và xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi VPHC trong lĩnh

vực giao thông đường sắt.

Theo số liệu thống kê của Cục CSGT, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018,

đã phát hiện 42.530 trường hợp VPHC trong lĩnh vực giao thông đường sắt. Số liệu

tổng hợp hàng năm cho thấy, những năm gần đây, tình hình VPHC trong lĩnh vực

giao thông đường sắt tăng mạnh, cụ thể: năm 2010, chỉ phát hiện 140 trường hợp

VPHC; năm 2017: phát hiện 14.236 trường hợp VPHC (Bảng 2.7). Tính trung bình,

mỗi năm lực lượng CSGT toàn quốc phát hiện trên 5.000 trường hợp VPHC trong

lĩnh vực giao thông đường sắt. Lực lượng CSGT đã tiến hành lập biên bản VPHC

đối với 41.565 trường hợp (chiếm 0,11%); Ra quyết định xử phạt VPHC đối với

42.530 trường hợp VPHC, tổng số tiền phạt là 10.232 tỷ đồng.

VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa: Do đặc điểm sông,

kênh, ngòi dày đặc của hệ thống giao thông đường thủy nội địa của Việt Nam, tổng

chiều dài đường thủy nội địa đã công bố và đang quản lý, khai thác là 17.253km,

lực lượng CSGT phải tiến hành phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ trong ngành

Công an, Bộ đội Biên phòng, lực lượng quản lý đường thủy nội địa Việt Nam, Đăng

kiểm Việt Nam, Tổng Cục Thủy sản,… tiến hành tuần tra, kiểm soát người và

phương tiện hoạt động giao thông đường thủy, phát hiện VPHC trong lĩnh vực này.

Theo số liệu thống kê của Cục CSGT, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, đã phát

hiện 1.785.684 trường hợp VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.

Trung bình mỗi năm, lực lượng CSGT phát hiện trên 210.000 trường hợp VPHC.

Chỉ tính riêng trong năm 2017, phát hiện 206.396 trường hợp VPHC, trong đó, lỗi

90

vi phạm chủ yếu là chở quá vạch mơn nước an toàn: 106.269 trường hợp vi phạm

(chiếm 51,5%); vi phạm về đăng ký, đăng kiểm là 14.804 trường hợp (chiếm 7,2%);

vi phạm về trang thiết bị an toàn phương tiện, dụng cụ nổi cứu sinh, cứu đắm là

10.255 trường hợp (chiếm 5%); vi phạm về danh bạ thuyền viên, định biên thuyền

viên: 8.553 trường hợp (chiếm 2,8%); vi phạm quy định về bằng, chứng chỉ chuyên

môn là 4.159 trường hợp (chiếm 26,9). Lực lượng CSGT đã tiến hành lập biên bản

VPHC đối với 1.688.370 trường hợp (chiếm 4,22%); ra quyết định xử phạt VPHC

là 1.785.684 trường hợp (chiếm 3,79%) với số tiền phạt là 999.053 tỷ đồng.

- Trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Công an, hàng năm, lực lượng CSPCCC và

CNCH ở Trung ương và các địa phương đã tiến hành kiểm tra, phát hiện và xử lý

các hành vi VPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy nhằm hạn chế tối đa các

VPHC xảy ra, đặc biệt là các VPHC là nguyên nhân dẫn đến cháy nổ. Theo thống

kê của Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, từ năm 2010 dến

tháng 6 năm 2018, toàn quốc đã xảy ra 22.796 vụ cháy, 255 vụ nổ làm 833 người bị

chết, 2.065 người bị thương, thiệt hại về tài sản trị giá khoảng 11.439.796 tỷ đồng

(Bảng 2.9). Trung bình mỗi năm phát hiện gần 16.000 trường hợp VPHC trong lĩnh

vực phòng cháy, chữa cháy; ra quyết định xử VPHC 134.199 trường hợp với số tiền

xử phạt là 220.644 tỷ đồng; tạm đình chỉ hoạt động 534 cơ sở, đình chỉ hoạt động

273 cơ sở.(Bảng 2.10).

Phân tích tình hình cháy nổ cho thấy, các vụ cháy lớn có diễn biến phức tạp

có chiều hướng gia tăng, các vụ cháy, nổ xảy ra nhiều ở đại bàn thành thị, nơi có

khu công nghiệp, khu kinh tế, ở các tỉnh, thành phố có sự phát triển về kinh tế, tốc

độ đô thị hóa nhanh. Khi phát hiện VPHC trong lĩnh vực này, lực lượng Cảnh sát

Phòng cháy chữa cháy đình chỉ ngay VPHC. Về cơ bản, các tổ chức, cá nhân có

hành vi vi phạm đều tuân thủ nghiêm túc, chấm dứt ngay hành vi vi phạm theo yêu

cầu, hiệu lệnh của người đang thi hành công vụ. Tuy nhiên, cũng có một số trường

hợp không chấp hành theo yêu cầu của người thi hành công vụ mà cố tình tiếp tục

thực hiện hành vi vi phạm, bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm, thậm chí có

91

trường hợp còn chống lại người thi hành công vụ.

- Về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác

Theo quy định tại các Điều 2, 89, 90, 91, 92, 95, 96 của Luật XLVPHC thì biện

pháp xử lý hành chính khác là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp

luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm các biện

pháp: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào TGD; Đưa vào CSGDBB; Đưa vào

cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét về mặt bản chất của các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an

toàn xã hội, mặc dù chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng các hành

vi này thực sự gây ra mối lo ngại lớn cho xã hội, cộng đồng dân cư, tiềm ẩn nguy cơ

gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm lợi ích nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích

chính đáng của công dân nên việc quy định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

nhằm ngăn ngừa, giáo dục các đối tượng này là hết sức cần thiết, đặc biệt, đối với các

đối tượng nghiện hút ma túy, những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện

hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý do Bộ luật Hình sự quy

định như: trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc,…

Từ khi Luật XLVPHC 2012 có hiệu lực thi hành, các quy định của pháp luật

XLVPHC về áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã phát huy tốt vai

trò của gia đình trong việc áp dụng các biện pháp thay thế XLVPHC đặc biệt đối

với người chưa thành niên. Việc tiếp nhận đối tượng vào các cơ sở giáo dục, TGD

được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đối tượng được đưa vào các cơ

sở trên đều được tạo điều kiện tham gia học văn hóa, học nghề để sau khi chấp hành

xong quyết định xử phạt sẽ sớm ổn định cuộc sống, tìm kiếm việc làm. Theo kết

quả báo cáo của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kết quả áp dụng

các BPXLVPHC được tiến hành thực hiện theo từng năm (từ năm 2014 đến 2019),

cụ thể như sau:

- Năm 2014: (tính từ ngày 30/9/2013 đến ngày 01/10/2014), số hồ sơ đề

nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 8.409; số đối tượng bị đề

nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là 2.903 đối tượng; trong đó, số hồ sơ

đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân quyết định là

92

400 hồ sơ [10].

- Năm 2015: số đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là 2.294

đối tượng: Số đối tượng bị áp dụng biện pháp GDTXPTT theo quyết định

của Ủy ban nhân dân cấp xã là 1.335 đối tượng; số đối tượng bị áp dụng các biện pháp

xử lý hành chính theo quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện là 302 đối tượng [11].

- Năm 2016: số đối tượng bị áp dụng các BPXLHC là 21.675 đối tượng bị áp

dụng biện pháp GDTXPTT theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã là 10.249

đối tượng; số đối tượng bị áp dụng các BPXLHC theo quyết định của Tòa án nhân

dân cấp huyện là 11.426 đối tượng [12].

- Năm 2017, tổng số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng các BPXLHC là

37.277 đối tượng; số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp GDTXPTT

là 20.715 đối tượng; số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng các BPXLHC do tòa

án nhân dân quyết định là 16.562 đối tượng [12].

- Năm 2018, số đối tượng bị đề nghị áp dụng các BPXLHC là 48.468 đối

tượng; số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPGDTXPTT là 26.411 đối

tượng; số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng các BPXLHC do tòa án nhân dân

cấp huyện quyết định là 22.057 đối tượng [13].

- Năm 2019, đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPXLHC đối với 29.462 đối

tượng, có 28.446 đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPGDTXPTT, trong đó,

có 26.337 đối tượng bị áp dụng BPGDTXPTT [14].

3.2.2.2.Hạn chế tổ chức thực hiện pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý vi

phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Trong những năm qua, mặc dù công tác tổ chức thực hiện pháp luật QLNN đối

với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND đã đạt được những kết quả quan trọng, đáng

khích lệ, tuy nhiên, vẫn bộc lộ rất nhiều hạn chế, vướng mắc. Các văn bản dưới luật đã

được ban hành song chưa đồng bộ, chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực

hiện, đặc biệt về lĩnh vực cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt. Bên cạnh đó, một

số quy định về xử phạt VPHC đối với từng hành vi vi phạm còn chưa phù hợp với

thực tế, chưa đủ tính răn đe nên thực tế người vi phạm chấp nhận bị xử phạt VPHC

chứ không thực hiện các biện pháp, yêu cầu mà Nghị định xử phạt bắt buộc phải

93

thực hiện. Qua triển khai thực hiện các quy định của Luật XLVPHC và các văn bản

hướng dẫn thi hành cho thấy, một số quy định còn chưa thống nhất, chưa phù hợp

với thực tiễn và dẫn đến khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực hiện, điển hình là:

các quy định cụ thể về mức xử phạt VPHC trong các lĩnh vực còn chưa mang tính

răn đe, giáo dục cao; công tác XLVPHC, cưỡng chế hành chính chưa thật sự triệt

để, còn bỏ sót hành vi vi phạm hoặc áp dụng không đúng quy định của pháp luật.

Một bộ phận nhân dân do thiếu hiểu biết pháp luật dẫn đến tình trạng vi phạm còn

xảy ra nhiều, coi thường pháp luật, cố tình trì hoãn không chấp hành quyết định xử

phạt VPHC dẫn đến việc thi hành quyết định xử phạt VPHC còn nhiều khó khăn;

việc chấp hành quyết định xử phạt VPHC của các đối tượng trên phạm vi toàn quốc

cơ bản là tốt, tuy nhiên, còn không ít trường hợp chưa nghiêm túc chấp hành các

quyết định xử phạt VPHC của người có thẩm quyền xử lý vi phạm, chủ yếu là trong

lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông, ví dụ như: người vi phạm khai báo không đúng

nơi cư trú nên dẫn đến khó khăn cho công tác xác minh; nhiều trường hợp đã được

tống đạt quyết định xử phạt và mời lên làm việc, đôn đốc nhiều lần nhưng có thái

độ chây ỳ, cố tình không chấp hành; đối tượng bị xử phạt bỏ địa phương đi đâu

không rõ, đối tượng ở ngoại tỉnh đến VPHC bị xử phạt không chấp hành. Thậm chí

một số đối tượng VPHC còn có động cơ xấu như có ý định chạy trốn, tiêu hủy tang

vật, phương tiện vi phạm khi điều khiển phương tiện giao thông phóng nhanh, vượt

ẩu, chở quá số người quy định; gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công

vụ; trộm cắp tài sản. Việc áp dụng quy định về tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC

còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện bảo đảm cho việc di chuyển, tạm giữ tang vật,

phương tiện vi phạm còn nhiều hạn chế như không có đủ kho, bến bãi hoặc kho, bến

bãi không có mái che, thiếu phương tiện tháo dỡ… khiến cho các phương tiện bị thu

giữ xuống cấp; hồ sơ đưa vào TGD, cơ sở giáo dục chưa phản ánh hết tình trạng của

đối tượng nên việc nắm bắt tình hình sức khỏe, tâm lý để có sự phân loại đối tượng

ngay từ đầu nhằm quản lý, giáo dục cho phù hợp gặp nhiều khó khăn. Việc phát

hiện người mắc nghiện hoặc người có tiền sử nghiện ma túy chưa được thực hiện

trong quá trình giáo dục, do đó ảnh hưởng đến công tác quản lý, giáo dục, chữa

bệnh cho đối tượng giáo dục. Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Công

94

an một số đơn vị, địa phương đạt hiệu quả chưa cao, còn nhiều hạn chế do các

nguyên nhân khách quan như: việc tạo công ăn việc làm, đào tạo nghề, hỗ trợ kinh

tế… đối với đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn chưa

được quan tâm đúng mức; vai trò của các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, doanh

nghiệp còn khá mờ nhạt; một số đối tượng vi phạm chưa tự giác chấp hành quyết

định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; chưa có đầy đủ chương trình, nội

dung giáo dục đặc thù dành riêng cho trại viên; chưa có đủ cán bộ chuyên môn và

cơ sở vật chất phù hợp để dạy và học. Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác áp dụng

các biện pháp xử lý hành chính còn thiếu; công tác phối hợp liên ngành trong

XLVPHC về an ninh, trật tự, an toàn xã hội còn nhiều hạn chế.

3.2.3. Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý

vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

3.2.3.1. Kết quả trong phổ biến, giáo dục pháp luật quản lý nhà nước đối với xử

lý vi phạm hành chính từ thực tiễn của ngành Công an nhân dân

Giáo dục pháp luật là quá trình tác động của nhiều hình thức, phương tiện vào ý

thức của con người. Xét về mặt bản chất, giáo dục pháp luật là quá trình hoàn thiện

nhân tố xã hội - pháp lí của con người, nâng cao khả năng sáng tạo của con người trong

thực tiễn. Giáo dục, phổ biến pháp luật, trước hết, đó là một nhiệm vụ mang tính

thường xuyên, liên tục của nhà nước.

Giáo dục, phổ biến pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới

nhận thức của cá nhân công dân, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an và các cá

nhân có liên quan, nhằm trang bị cho các đối tượng này trình độ pháp lý nhất định, từ

đó có ý thức đúng đắn về pháp luật QLNN đối với XLVPHC, tôn trọng và tự giác thực

hiện, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật trong lĩnh vực này.

Phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND phải đảm bảo tính kịp thời, sát thực và phù hợp với đối tượng cần phổ biến,

giáo dục cả về nội dung và hình thức, trong đó cần chú trọng gắn phổ biến, giáo dục

pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND với quá trình thực thi

nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội của đất

95

nước, của từng vùng, miền, địa phương và gắn với an sinh xã hội.

Từ khi Luật XLVPHC có hiệu lực, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị,

địa phương tổ chức nhiều lớp phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng và tập huấn chuyên sâu

nghiệp vụ pháp luật về QLNN đối với XLVPHC, nghiệp vụ áp dụng pháp luật về

XLVPHC trên các lĩnh vực QLNN thuộc thẩm quyền quản lý của ngành CAND cho

toàn thể cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền quản lý trong toàn lực lượng CAND, nhất là

đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có thẩm quyền XLVPHC nắm vững những nội dung cơ bản

của Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành, nâng cao nhận thức, ý thức

chấp hành pháp luật và vận dụng vào thực tiễn công tác, bảo đảm quyền và lợi ích

hợp pháp của công dân, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội trên phạm

vi toàn quốc.

Nội dung phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng và tập huấn tập trung vào các quy định

của pháp luật XLVPHC, trong đó chú trọng vào kỹ năng xác định hành vi VPHC và áp

dụng về pháp luạt XLVPHC; các nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử phạt VPHC; kỹ năng

xác định thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt VPHC, biện pháp khắc phục hậu quả,

ký năng áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc XLVPHC, kỹ năng lập hồ sơ,

xác định thẩm quyền, đối tượng dụng các BPXLVPHC khác.

Qua khảo sát, từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, các đơn vị chức năng thuộc

Bộ Công an (trong đó tập trung là các Cục CSQLHC về TTXH, Cục CSGT, Cục Cảnh

sát Phòng cháy, chữa cháy va cứu nạn, cứu hộ,…) cùng với các đơn vị nghiệp vụ,

Công an các đơn vị, địa phương đã tổ chức hàng trăm buổi tập phổ biến, giáo dục, tập

huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về pháp luật XLVPHC cho các đối tượng là cán bộ, chiến sĩ

trực tiếp thi hành nhiệm vụ XLVPHC, điển hình như:

Cục CSQLHC về TTXH phối hợp với các cục nghiệp vụ tổ chức gần 40 lớp tập

huấn, bối dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực

TTATXH cho lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về TTATXH từ lãnh đạo cấp

Phòng, chỉ huy cấp đội, chỉ huy công an Phường, lực lượng Cảnh sát khu vực, Công an

xây dựng phong trào và phụ trách xã về ANTT với trên 4.300 cán bộ, chiến sĩ [41].

Cục CSPCCC và CNCH đã xây dựng, biên soạn tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ

về công tác xử phạt VPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ

96

cho lực lượng CSPCCC và CNCH địa phương. Đã tổ chức 15 lớp tập huấn bối dưỡng,

giáo dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa

cháy và cứu nạn, cứu hộ, lồng ghép nội dung về xử phạt VPHC, chú trọng giải đáp

những khó khăn, vướng mắc trong công tác XLVPHC về phòng cháy, chữa cháy và

cứu nạn, cứu hộ, qua đó kịp thời nâng cao kiến thức pháp luật về XLVPHC trong lĩnh

vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho cán bộ, chiến sĩ thực hiện công tác

XLVPHC [39].

Cục CSGT đã tổ chức 03 lớp tập huấn bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ

pháp luật về XLVPHC cho hơn 871 cán bộ, chiến sĩ, lãnh đạo các đơn vị, công an địa

phương; tổ chức tập huấn bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về

XLVPHC cho 14 đơn vị thuộc Cục, 05 trường Công an, 63 Phòng CSGT Công an cấp

tỉnh với hơn 431 cán bộ, chiến sĩ; tổ chức tập huấn công tác nghiệp vụ, tin học (phần

mềm giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông) cho hơn 1.464 lãnh đạo, chỉ

huy, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trực thuộc Cục và Công an các địa phương [34].

Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã tổ chức nhiều lớp

tập huấn bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC cho cán bộ,

chiến sĩ thuộc quyền: Công an thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức bồi dưỡng, giáo dục,

phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC cho 13 đồng chí là lãnh đạo, chỉ huy các

đơn vị có thẩm quyền XLVPHC thuộc Công an thành phố; tổ chức bồi dưỡng, giáo

dục, phổ biến nghiệp vụ pháp luật về XLVPHC, nghiệp vụ bảo đảm trật tự an toàn giao

thông cho 612 cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng Công an trên địa bàn thành phố [33];

Công an thành phố Cần Thơ đã tổ chức 07 lớp bồi dưỡng, giáo dục, phổ biến nghiệp vụ

pháp luật về XLVPHC cho các đồng chí là lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị, chỉ huy đội,

chỉ huy phường, xã, thị trấn và các cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 480 lượt là cán bộ lãnh

đạo, Đội trưởng, Phó đội trưởng, Trưởng Công an xã, phường, thị trấn có thẩm quyền

XLVPHC[31].

Để hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực

tiễn ngành CAND được tiến hành thuận lợi, có hiệu quả, Bộ Công an đã chỉ đạo Công

an các đơn vị, địa phương phối hợp với các ban, ngành, chức năng ở trung ương và địa

phương xác định nội dung, đối tượng giáo dục, loại hình giáo dục và cấp độ giáo dục

97

để tiến hành công tác giáo dục, phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn ở địa bàn mình quản

lý. Theo đó, các đơn vị chức năng phối hợp với Đài phát thanh, truyền hình, cơ quan

báo chí ở trung ương và địa phương tuyền truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về

VPHC và XLVPHC trong lĩnh vực bảo đảm TTATXH, cho các đối tượng là doanh

nghiệp, người dân, cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thực hiện công tác XLVPHC với nhiều

hình thức: Tổ chức hội nghị, triển lãm bằng pano ảnh, in đĩa CD, tuyền truyền trên các

phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp tuyên truyền, giáo dục trong các trường học,

cơ quan,…

Kết quả: từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, Công an các đơn vị, địa phương

đã tổ chức hàng nghìn cuộc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về XLVPHC tại

các cơ quan, đơn vị, trường học, tổ chức, địa bàn cơ sở với hàng triệu lượt người tham

dự. Chỉ tính riêng lực lượng CSGT, Cục CSGT đã phối hợp với CSGT địa phương, đài

phát thanh, truyền hình ở trung ương và địa phương xây dựng và phát sóng 8.512 tin,

phóng sự về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông; viết 103.179 tin, bài đăng

trên các báo; tổ chức tuyên truyền cho hơn 11 triệu lượt người nghe, phát hành

9.913 đĩa CD, 1.03.109 tờ rơi[34]; Công an thành phố Hà Nội tổ chức tuyên

truyền pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực giao thông bằng phát loa tại các điểm

nút giao thông trọng điểm với 32 cụm loa tuyên truyền; dán đề can “tuyên truyền

pháp luật về trật tự an toàn giao thông” tại 150 nhà chờ, đón, trả khách, các điểm

trung chuyển xe buýt và đầu bến xe[32].

3.2.3.2. Hạn chế của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật quản lý nhà nước

đối với xử lý vi phận hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng, tập huấn, hướng dẫn về kỹ năng, nghiệp vụ

pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND đóng một vai trò đặc

biệt quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả trong thực tế pháp luật XLVPHC,

nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, góp phần không nhỏ trong công tác đấu tranh,

phòng ngừa vi phạm pháp luật hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN,

kiềm chế sự gia tăng vi phạm pháp luật. Bằng những chủ trương, chỉ đạo sát sao,

tích cực của lãnh đạo Bộ Công an, công tác phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng, tập huấn,

hướng dẫn về kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

98

ngành CAND đã đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, pháp luật về

XLVPHC là một lĩnh vực có phạm vi điều chỉnh rộng, nên công tác phổ biến, giáo

dục, bồi dưỡng, tập huấn, hướng dẫn về kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật QLNN đối

với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND vẫn còn tồn tại một số những hạn chế, bất

cập, cụ thể là:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC tính ổn định chưa cao,

phạm vi điều chỉnh rộng, có nhiều nội dung cụ thể phải ủy quyền nên không chỉ gây

khó khăn cho công tác tuyên tuyền, phổ biến, giáo dục pháp luật mà công tác triển

khai thực hiện trong thực tế cũng gặp rất nhiều vướng mắc, bất cập, còn có tình

trạng triển khai thực hiện thụ động, chủ yếu theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của các

cơ quan cấp trên.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về XLVPHC về vai trò

của QLNN XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND mặc dù đã được quan tâm thực

hiện nhưng chưa đi vào chiều sâu nên chưa thực sự phát huy hiệu quả cao nhất,

chưa thấm sâu vào nhận thức của đông đảo cá nhân, cơ quan, tổ chức. Ý thức chấp

hành pháp luật của một số tổ chức, cá nhân chưa cao, dễ dẫn đến những hành vi

VPHC, vi phạm nhiều lần, đối tượng cố tình tìm cách trì hoãn hoặc trốn tránh không

thực hiện quyết định xử phạt hành chính, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành

chính. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho việc triển khai

công tác thi hành pháp luật về XLVPHC còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.

Nhận thức, hiểu biết về pháp luật của một bộ phận nhân dân còn nhiều hạn

chế dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật hoặc do mâu thuẫn nội bộ trong nhân

dân chậm được giải quyết, không được kịp thời hòa giải dẫn đến xung đột, vi phạm

pháp luật, nhất là ở các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Công tác

XLVPHC có nơi, có lúc chưa thật sự nghiêm túc và triệt để; một số chế tài xử phạt

đối với một số hành vi VPHC chưa đủ mạnh, do đó giảm tính răn đe, ý thức chấp

hành pháp luật của tổ chức cá nhân chưa nghiêm túc.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về việc áp dụng các

biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào TGD, đưa vào

CSGDBB ở nhiều địa phương chậm được triển khai thực hiện, nhất là tại các địa

phương vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, trình độ dân trí thấp

99

dẫn đến việc thực hiện công tác này còn nhiều hạn chế, chưa đạt yêu cầu.

3.2.4. Thực trạng kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý

vi phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm từ thực tiễn ngành Công

an nhân dân

3.2.4.1. Kết quả của công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo

và xử lý vi phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực

tiễn ngành Công an nhân dân

- Kiểm tra, thanh tra quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực

tiễn ngành Công an nhân dân

Hoạt động kiểm tra QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND nhằm

phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật, phát hiện những

yếu kém trong tổ chức và hoạt động của lực lượng CAND trong việc thực thi nhiệm vụ

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn chính ngành mình. Thông qua hoạt động kiểm

tra, lực lượng Công an có thể phát hiện những ưu điểm, tích cực cần phát huy cũng như

phát hiện ra những tiêu cực trong công tác QLNN đối với XLVPHC thuộc chức năng

quản lý của ngành Công an, từ đó đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện các văn bản

pháp luật liên quan đến QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND. Điều 17

Luật XLVPHC 2012 quy định: Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực

hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC trong phạm vi nhà nước và có

quyền hạn kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tiến hành thanh tra việc thi

hành pháp luật về XLVPHC.

Ngày 26/5/2015, Bộ Tư pháp có Công văn số 1775/BTP-

LXLVPHC&TDTHPL về việc tổ chức Đoàn kiểm tra tình hình triển khai nhiệm vụ

quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC (XLVPHC) tại Bộ Công an.

Theo Báo cáo số 1288/BCA-V19 ngày 30/6/2015 của Bộ Công an tổng hợp

đầy đủ các nội dung của Bộ Tư pháp yêu cầu báo cáo về tình hình quản lý công tác

thi hành pháp luật về XLVPHC của toàn ngành CAND trên tất cả các lĩnh vực

QLNN thuộc chức năng, trách nhiệm của Bộ Công an, cụ thể: về tình hình công tác

chỉ đạo triển khai thi hành pháp luật về XLVPHC của Bộ Công an; Công tác hoàn

thiện pháp luật về XLVPHC; Công tác phổ biến pháp luật, hướng dẫn, tập huấn, bồi

100

dưỡng nghiệp vụ về pháp luật XLVPHC Công tác kiểm tra, thanh tra, phối hợp

thanh tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC; Việc áp dụng các quy định pháp luật

về XLVPHC trong lĩnh vực, trên địa bàn quản lý; Công tác giải quyết khiếu nại, tố

cáo trong XLVPHC.

Qua công tác báo cáo của Bộ Công an hàng năm theo quy định của Luật

XLVPHC, có thể thấy, từ khi Luật XLVPHC 2012 có hiệu lực thi hành, lãnh đạo Bộ

Công an nhận thức rõ công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC trong

CAND là một trong những chức năng cơ bản của hoạt động trong công tác quản lý

XLVPHC. Việc kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC trong CAND nhằm

mục đích thu thập thông tin, nắm bắt tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC, tìm

ra các nhân tố tích cực cũng như phát hiện ra các sai sót, vi phạm trong quá trình áp

dụng pháp luật về XLVPHC. Chính vì vậy, trong thời gian qua, lãnh đạo Bộ Công

an hết sức quan tâm và chú trọng tới việc triển khai các nội dung của công tác kiểm

tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC. Công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật

về XLVPHC trong CAND thời gian qua đã được thực hiện theo đúng quy định của

pháp luật XLVPHC trong các trường hợp theo sự chỉ đạo và đề nghị của các chủ thể

có thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP

ngày 17/9/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC.

Hàng năm, các đơn vị chức năng của Bộ Công an tham mưu với lãnh đạo Bộ

Công an ban hành các kế hoạch, chương trình công tác kiểm tra, thanh tra, quản lý,

theo dõi tình hình XLVPHC, tình hình thi hành pháp luật XLVPHC để chỉ đạo

Công an các đơn vị, địa phương thực hiện hoạt động QLNN đối với XLVPHC:

Quyết định số 391/QĐ-BCA-V19 ngày 29/01/2015 ban hành kế hoạch quản lý, theo

dõi tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn

xã hội; Quyết định số 392/QĐ-BCA-V19 ngày 29/-1/2015; Quyết định số 577/QĐ-

BCA-V19 ngày 22/02/2016 ban hành chương trình công tác quản lý, theo dõi tình

hình thi hành pháp luật về XLVPHC; Kế hoạch số 26/KH-BCA(C66) ngày

04/9/2014 chỉ đạo Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy. Công an các địa phương tiếp

tục đẩy mạnh đợt tổng kiểm tra toàn diện công tác phòng cháy, chữa cháy tại những

cơ sở trọng điểm, có nguy cơ cháy nổ cao; Công văn số 2734/BCA-C61 ngày

101

20/8/2014 chỉ đạo các đơn vị, địa phương về việc lập lại trật tự hành lang an toàn

giao thông đường bộ, đường sắt giai đoạn 2014 – 2020; Chỉ thị số 02/CT-BCA ngày

03/4/2015 về tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông cua lực lượng

CAND trong tình hình mới; Kế hoạch số 226/KH-BCA-C67 ngày 01/8/2016 về

tuyên truyền, vận động và xử lý quy định về nông độ cồn đối với người điều khiển

phương tiện giao thông cơ giới đường bộ giai đoạn 2016 -2020; Kế hoạch số

250/KH-BCA-C67 ngày 29/8/2016 thực hiện Chỉ thị số 23/CT-TTg của Thủ tướng

Chính phủ về tăng cường các giải pháp cấp bách bảo đảm trật tự an toàn giao thông

đường thủy nội địa trong tình hình mới,…

Cục CSPCCC và CNCH tham mưu với lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo lực

lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy trên toàn quốc tăng cường công tác kiểm tra,

XLVPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy như kiểm tra, xử lý vi phạm về

công tác bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy tại các cơ sở trọng điểm; kiểm tra,

xử lý vi phạm pháp luật hành chính trong kinh doanh xăng dầu, khí đốt hóa lỏng,…

Cục Cảnh sát quản lý hành chính về TTATXH tham mưu cho lãnh đạo Bộ

Công an chỉ đạo lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về TTATXH thực hiện

nghiêm các quy định về XLVPHC quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP và

các văn bản pháp luật liên quan, tăng cường công tác kiểm tra, XLVPHC theo

chuyên đề như: chuyên đề về quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chuyên

đề về đăng ký, quản lý cư trú,…

Điều 18 Luật XLVPHC 2012 cũng quy định về trách nhiệm kiểm tra, thanh tra

của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác XLVPHC. Theo đó, Thủ trưởng cơ quan,

đơn vị trong lực lượng CAND phải có trách nhiệm thường xuyên tiến hành kiểm tra,

thanh tra và kịp thời xử lý đối với vi phạm của người có thẩm quyền XLVPHC thuộc

phạm vi quản lý của mình. Lãnh đạo Bộ Công an, cùng với việc tiến hành các hoạt

động kiểm tra, thanh tra, XLVPHC theo chức năng nhằm thực hiện nhiệm vụ phòng

ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật hành chính trên địa bàn, lĩnh vực

thuộc phạm vi quản lý của ngành Công an, còn đặc biệt quan tâm đến chỉ đạo việc

nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về

XLVPHC trong CAND, tiến hành kiểm tra theo định kỳ, theo chuyên đề, địa bàn,

102

kiểm tra đột xuất và phối hợp kiểm tra liên ngành nếu thấy cần thiết. Nhìn chung,

công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC được thực hiện

theo đúng các nội dung quy định của pháp luật, chưa có khó khăn vướng mắc lớn

trong thực tiễn.

Công an các đơn vị, địa phương thường xuyên tiến hành sơ kết, tổng kết,

đánh giá kết quả qua mỗi cuộc, đợt thanh tra, kiểm tra công tác thi hành pháp luật

hành chính và QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn, từ đó rút ra kinh nghiệm,

nghiêm túc nhìn nhận những tồn đọng, những điểm yếu kém trong công tác áp

dụng, thực thi pháp luật XLVPHC của đơn vị, của cá nhân cán bộ, chiến sĩ CAND.

Trên cơ sở những ưu điểm, tồn tại trong công tác XLVPHC và QLNN đối với

XLVPHC, đề ra những cách thức, biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật

về XLVPHC, QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND phù hợp với chức

năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của đơn vị, địa bàn, địa phương, từng bước đưa

công tác QLNN đối với XLVPHC của ngành Công an vào nề nếp, nâng cao chất

lượng, hiệu lực, hiệu quả, góp phần bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng chống tội

phạm và các hành vi phạm pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về an ninh

và TTATXH.

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước đối với

xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Khiếu nại, tố cáo về QLNN đối với XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH thuộc

phạm vi, chức năng QLNN của ngành Công an tức là khiếu nại, tố cáo những cơ quan,

cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Hoạt động giải quyết

khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND

phải bảo đảm tuân thủ những quy định hiện hành của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và

các văn bản hướng dẫn thi hành về khiếu nại, tố cáo.

Thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp

Công dân và các văn bản hướng dẫn thi hành, lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo Thanh tra

Bộ Công an và các đơn vị chức năng tập trung thực hiện tốt công tác tiếp công dân, rà

soát và giải quyết dứt điểm, nhanh chóng, kịp thời các vụ việc khiếu nại, tố cáo của

công dân về QLNN đối với XLVPHC thuộc phạm vi, chức năng quản lý của ngành

103

Công an nếu có, không để tình trạng tồn đọng, kéo dài. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị

số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao

hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thanh tra Bộ Công an cũng

tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo lực lượng thanh tra CAND trên toàn quốc

thực hiện tốt công tác tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý các đơn khiếu nại, tố cáo đúng

quy định, tập trung giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở, nhất là đối với

những vụ việc đông người, phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất trật tự an ninh,

TTATXH. Bộ Công an đã tham mưu, đề xuất Chính phủ ký ban hành Nghị định số

91/2013/NĐ-CP ngày 12/8/2013 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong CAND.

Theo đó, Bộ Công an ban hành Thông tư số 10/2014/TT-BCA ngày 04/3/2014 quy

định việc xử lý, giải quyết tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo trong CAND

làm cơ sở pháp lý để giải quyết kịp thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công

dân, trong đó có các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo liên quan đến QLNN đối với

XLVPHC thuộc phạm vi, chức năng của ngành Công an, không để phát sinh các

điểm nóng, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự.

3.2.4.2. Hạn chế của công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo

và xử lý vi phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực

tiễn ngành Công an nhân dân

Công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm

pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND hiện nay vẫn nghiêng về

kiểm tra và XLVPHC, chưa thực sự chú trọng đến công tác kiến nghị, đề xuất nhằm

hoàn thiện hơn chính sách, pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả về QLNN đối

với công tác này. Các kết quả của kiểm tra, thanh tra mới chỉ đưa ra được những hạn

chế, vướng mắc trong thực tế của từng vụ việc kiểm tra, thanh tra cụ thể, trong trách

nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của từng sự việc, vụ việc, mang tính chất đơn lẻ mà

chưa quan tâm đến việc tập trung đưa ra các giải pháp để thực hiện trong thực tế các

kết luận, kiến nghị của thanh tra Bộ Công an hoặc thanh tra địa phương.

Công tác tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết đơn thư khiếu

nại, tố cáo trong lĩnh vực này còn chậm, chất lượng chưa cao, nhiều vụ việc còn để tình

trạng tồn động, kéo dài, gây bức xúc cho quần chúng, nhân dân. Trên thực tế việc phối

104

hợp kiểm tra của các Bộ, ngành, địa phương khó triển khai thực hiện và chưa phổ

biến do chưa có hướng dẫn chung. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế hậu kiểm và xử lý

trách nhiệm sau kiểm tra nên nhiều trường hợp vi phạm được phát hiện chưa được

xử lý triệt để. Việc phát hiện các hành vi VPHC trong một số lĩnh vực còn hạn chế,

vì các cuộc thanh tra, kiểm tra được tiến hành theo một vài lĩnh vực cụ thể, tại các

thời điểm khác nhau trong khi công tác XLVPHC được tiến hành trên nhiều lĩnh

vực. Có những trường hợp khi phát hiện hành vi VPHC thì không xử phạt được do

đã hết thời hiệu xử phạt hoặc do cá nhân, tổ chức vi phạm cố tình trốn tránh để

không bị xử lý.

Công tác kiểm tra, hướng dẫn thi hành pháp luật về XLVPHC chưa được

thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, kịp thời và triệt để; Cán bộ, công chức chưa

được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ kiểm tra, nhất là nghiệp vụ kiểm tra chuyên

sâu; công tác hậu kiểm chưa được chú trọng thực hiện; một số đơn vị chưa nghiêm

túc trong việc khắc phục sai sót thông qua kết quả kiểm tra; chưa có cơ chế phối

hợp thanh tra, kiểm tra liên ngành; Luật Thanh tra 2010 quy định áp dụng chung đối

với thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Một số bước trong quy trình là

phù hợp với thanh tra hành chính nhưng lại không phù hợp với thanh tra chuyên

ngành, đặc biệt khi tiến hành thanh tra liên ngành, trên diện rộng.

3.3. Nguyên nhân

Thực hiện quy định của Luật XLVPHC và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP,

QLNN đối với XLVPHC trong ngành Công an được triển khai thực hiện kịp thời,

đồng bộ. Về cơ bản, văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC của ngành Công an

đã được ban hành tương đối đầy đủ và có hiệu lực thi hành. Luật XLVPHC, Nghị

Quyết số 24/2012/QH13, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Quyết định số 1950/QĐ-

TTg là cơ sở cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản

lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về XLVPHC của Bộ Tư pháp, của Bộ

Công an, trong đó có Công an các đơn vị, địa phương. Việc thực hiện một số nội

dung QLNN đối với XLVPHC của ngành Công an tại một số Công an đơn vị, địa

phương đã đem lại kinh nghiệm nhất định, tạo tiền đề cho triển khai công tác này

105

trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, QLNN đối với XLVPHC từ

thực tiễn ngành CAND cũng xuất hiện những tồn tại, khó khăn và vướng mắc cần

tiếp tục tổng hợp, nghiên cứu, đánh giá để xác định rõ nguyên nhân, từ đó đưa ra

các biện pháp cụ thể, góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an

ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và đấu tranh phòng,

chống có hiệu quả đối với VPHC, tội phạm trong thời kỳ mới.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có

những nguyên nhân cơ bản sau đây:

Một là, hệ thống văn bản pháp luật về XLVPHC chưa thực sự đồng bộ, có lúc, có

nơi còn chồng chéo, mâu thuẫn; cách hiểu và áp dụng pháp luật xử lý hành chính của các

cấp, các ngành chưa có sự thống nhất dẫn đến hiệu quả của QLNN đối với XLVPHC chưa

cao, đặc biệt là QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành CAND.

Luật XLVPHC đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013 (đối với các quy

định về xử phạt VPHC) và từ ngày 01/01/2014 (đối với các quy định về việc áp

dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định).

Cùng với thời điểm có hiệu lực thi hành của Luật XLVPHC 2012, công tác tổ chức

thực hiện pháp luật về XLVPHC của ngành Công an được lãnh đạo Bộ Công an

quan tâm, chỉ đạo sát sao và có hướng dẫn cụ thể tới Công an các đơn vị, địa

phương trên mọi lĩnh vực thuộc thẩm quyền XLVPHC của ngành. Tuy nhiên, một

số văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật chưa được ban hành đồng

bộ làm cho các ngành chức năng lúng túng trong XLVPHC, nhất là trong việc thực

hiện các quy định của Luật về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác. Việc

áp dụng quy định của pháp luật để phát hiện, xử lý đối với một số hành vi vi phạm

theo quy định của pháp luật còn thiếu tính khả thi; năng lực nhận thức và áp dụng,

vận dụng pháp luật của một bộ phận cán bộ trực tiếp thực thi pháp luật còn hạn chế

đã làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả trong thi hành pháp luật, làm giảm tính răn

đe, giáo dục đối với các đối tượng vi phạm. Một số những lĩnh vực trong công tác

triển khai thực hiện pháp luật về QLNN của ngành Công an, mặc dù đã phát huy

106

hiệu quả, song vẫn còn không ít bất cập, vướng mắc.

Một số nghị định xử phạt VPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy quy

định mức phạt đối với hành vi VPHC quy định mức phạt đối với hành vi vi phạm

chưa phù hợp với thực tế, chưa đủ tính răn đe nên dẫn đến tình trạng người vi phạm

chấp nhận bị xử phạt hành chính chứ không thực hiện các biện pháp, yêu cầu mà

hành vi VPHC trong nghị định xử phạt VPHC bắt buộc phải thực hiện, ví dụ như:

xử phạt đối với hành vi “cơ sở thuộc diện phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mà

không mua theo quy định"; hoặc là trường hợp người vi phạm bị tạm giữ phương

tiện để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC, nhưng mức tiền phạt đối với

hành vi vi phạm có giá trị lớn hơn giá trị tài sản bị tịch thu nên người vi phạm

không chấp hành quyết định xử phạt VPHC (không đóng phạt)…

Trong lĩnh vực giao thông đường thủy, việc xử phạt VPHC cũng gặp nhiều

khó khăn do quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành còn chưa phù

hợp thực tiễn. Ví dụ: việc gửi quyết định xử phạt VPHC cho các cá nhân, tổ chức vi

phạm qua đường bưu điện (Điều 70 Luật XLVPHC) trong thời hạn 02 ngày làm

việc; tuy nhiên, thực tế thời gian qua chưa thực hiện được vì đa số người vi phạm

không có địa chỉ, nơi cư trú rõ ràng, phương tiện hành trình trên sông nước nhiều

ngày liền nên người vi phạm thường không có mặt tại nơi đăng ký thường trú…;

việc xử phạt vi phạm đối với một số trường hợp tước quyền sử dụng bằng, chứng

chỉ chuyên môn chưa mang lại tính hiệu quả, tính răn đe chưa cao do việc áp dụng

pháp luật giữa các địa phương chưa thống nhất.

Hai là, nhận thức về tầm quan trọng và nội dung của nhiệm vụ QLNN đối

với XLVPHC của ngành Công an còn chưa cao.

QLNN đối với XLVPHC của ngành Công an nói riêng và của các Bộ, ngành

nói chung là nhiệm vụ mới, lần đầu tiên được quy định tại Luật XLVPHC. Những

nội dung trọng tâm, cơ bản của nhiệm vụ này được quy định tại Chương II Nghị

định số 81/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, do đây là nhiệm vụ mới, việc nhận thức về tầm

quan trọng và nắm bắt đầy đủ nội dung quản lý thi hành pháp luật về XLVPHC của

Công an các đơn vị, địa phương và các cán bộ làm công tác XLVPHC còn hạn chế.

Thêm vào đó, do đây là lĩnh vực phức tạp, có phạm vi rộng, trong khi hiểu biết của

107

nhiều cán bộ về pháp luật XLVPHC nói chung và về nhiệm vụ quản lý công tác thi

hành pháp luật pháp luật về XLVPHC còn ở mức độ khiêm tốn. Điều này gây khó

khăn lớn cho việc triển khai công tác nói chung, cho việc tập trung nguồn lực, nhân

sự để triển khai nhiệm vụ nói riêng.

Việc thi hành quyết định xử phạt VPHC còn gặp nhiều khó khăn do một bộ

phận nhân dân thiếu hiểu biết pháp luật dẫn đến vi phạm còn xảy ra nhiều, coi

thường pháp luật, thường xuyên vi phạm, cố tình trì hoãn không chấp hành quyết

định xử phạt VPHC nhưng chưa có biện pháp chế tài thích hợp, chủ yếu là trong

lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, ví dụ như: người vi phạm khai báo không đúng

nơi cư trú nên dẫn đến khó khăn cho công tác xác minh; nhiều trường hợp đã được

tống đạt quyết định xử phạt và mời lên làm việc, đôn đốc nhiều lần nhưng có thái

độ chây ỳ, cố tình không chấp hành; đối tượng bị xử phạt bỏ địa phương đi đâu

không rõ, đối tượng ở ngoại tỉnh đến VPHC bị xử phạt nhưng không chịu chấp

hành, thậm chí, một số đối tượng VPHC còn có ý định chạy trốn, tiêu hủy tang vật,

phương tiện vi phạm khi có hành vi điều khiển phương tiện giao thông phóng

nhanh, vượt ẩu, chở quá số người quy định; gây rối trật tự công cộng, chống người

thi hành công vụ; trộm cắp tài sản; cố ý gây thương tích… Ngoài ra, còn có tình

trạng người vi phạm là người làm thuê ngoại tỉnh, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

không có tài sản để cưỡng chế thi hành quyết định. Công tác XLVPHC, cưỡng chế

hành chính chưa thật sự triệt để, còn bỏ sót hành vi vi phạm, áp dụng không đúng

quy định của pháp luật. Nhận thức pháp luật của một số cán bộ, công chức về quản

lý XLVPHC và theo dõi thi hành pháp luật còn hạn chế; cán bộ đầu mối phụ trách,

tham mưu của một số đơn vị còn thiếu.

Ba là, công tác phối hợp triển khai thực hiện pháp luật QLNN đối với

XLVPHC giữa các lực lượng chức năng của ngành Công an và giữa ngành Công an

với các bộ, ngành chức năng khác trong việc trao đổi thông tin, sử dụng lực lượng

phối hợp, đấu tranh, phòng, chống vi phạm pháp luật chưa chặt chẽ, nhiều thủ tục

bất cập.

Hiện nay, chưa có hướng dẫn thống nhất về việc xây dựng cơ sở dữ liệu về

XLVPHC ở địa phương, do vậy cơ chế chia sẻ và cung cấp thông tin về các đối

108

tượng VPHC còn có hạn, gây khó khăn trong việc xác định các trường hợp VPHC

nhiều lần, tái phạm để xem xét là tình tiết tăng nặng trong XLVPHC cũng như các

thông tin của người vi phạm nhằm tránh các trường hợp bị tạm giữ, tước quyền sử

dụng giấy phép ở địa phương này thì đến địa phương khác xin cấp lại dẫn đến hồ sơ

xử lý bị tồn đọng, đặc biệt là giấy phép lái xe,…;

Bốn là, các kết quả của kiểm tra, thanh tra QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

của ngành CAND mới chỉ đưa ra được những hạn chế, vướng mắc trong thực tế của

từng vụ việc kiểm tra, thanh tra cụ thể, trong trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo

của từng sự việc, vụ việc, mang tính chất đơn lẻ mà chưa quan tâm đến việc tập trung

đưa ra các giải pháp để thực hiện trong thực tế các kết luận, kiến nghị của thanh tra Bộ

Công an hoặc thanh tra địa phương.

Việc phát hiện các hành vi VPHC về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

ngành CAND trong một số lĩnh vực còn hạn chế, vì các cuộc thanh tra, kiểm tra

được tiến hành theo một vài lĩnh vực cụ thể, tại các thời điểm khác nhau trong khi

công tác XLVPHC được tiến hành trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế

hậu kiểm và xử lý trách nhiệm sau kiểm tra nên nhiều trường hợp vi phạm được

phát hiện chưa được xử lý triệt để.

Năm là, các điều kiện bảo đảm thi hành pháp luật về XLVPHC còn khó

khăn, phương tiện công nghệ thông tin, phương tiện nghiệp vụ phục vụ cho công tác

phát hiện XLVPHC chưa được trang bị đầy đủ, chưa huy động được các nguồn lực

ngoài ngân sách nhà nước tham gia hỗ trợ cho công tác tổ chức thi hành pháp luật.

Cơ sở vật chất của TGD, CSGDBB còn thiếu, lạc hậu, đầu tư kinh phí cho ăn, ở,

sinh hoạt, giáo dục, học tập, dạy nghề, y tế… nhìn chung còn thấp so với mức sống

chung của xã hội. Đây là vấn đề cần được xem xét, giải quyết để có cơ chế pháp

luật và những điều kiện bảo đảm phù hợp với mục tiêu, nội dung, yêu cầu của các

biện pháp xử lý hành chính. Cơ quan quản lý công tác QLNN về thi hành pháp luật

về XLVPHC tại Công an các đơn vị, địa phương đang trong giai đoạn thành lập

hoặc bước đầu hoàn thiện tổ chức nhân sự. Trình độ của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ

trực tiếp thực hiện công tác XLVPHC tại Công an các đơn vị, địa phương không

đồng đều, kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế; thiếu về biên chế nên dẫn đến việc phát

109

hiện, điều tra, xử lý đối với các hành vi vi phạm chưa thực sự hiệu quả. Đây là khó

khăn, thách thức rất lớn bởi lẽ các cơ quan phải thực hiện nhiệm vụ mới trong bối

cảnh hầu hết các cơ quan chưa có đầu mối chịu trách nhiệm chính; các nhiệm vụ

liên quan đến công tác này đang có sự phân tán, trong đó có những nhiệm vụ chưa

thể triển khai thực hiện được như xây dựng và quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở dữ

liệu quốc gia về XLVPHC; thiết lập, duy trì hoạt động của Cổng thông tin điện tử

để tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị, kết quả giải quyết các vụ việc VPHC, thống

kê về XLVPHC; một số công việc mặc dù đã triển khai song kết quả còn rất hạn chế

như: xây dựng báo cáo công tác quản lý thi hành pháp luật về XLVPHC định kỳ 6

tháng và hàng năm, kiểm tra tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC, hướng dẫn

110

việc kiểm tra việc thực hiện pháp luật về XLVPHC.

Kết luận Chương 3

Trong Chương 3, Luận án đã đề cập đến thực trạng của QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công an; trên cơ sở phân tích số liệu thống kê,

tổng hợp về công tác QLNN đối với XLVPHC, Luận án đã phân tích, làm rõ những

vấn đề sau đây:

- Phân tích đặc điểm, tình hình có liên quan đến công tác QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công an.

- Thực trạng công tác QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công

an, gồm các nội dung như: thực trạng tổ chức bộ máy QLNN đối với XLVPHC của

ngành CAND; thực trạng công tác QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành

Công an.

- Đánh giá, nhận xét về kết quả và những tồn tại, khó khăn, vướng mắc phát

sinh trong công tác QLNN đối với XLVPHC của CAND, đồng thời, chỉ ra các

nguyên nhân của những tồn tại và khó khăn, vướng mắc này.

Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng tại Chương 3 là cơ sở để phân tích, dự

báo tình hình liên quan đến công tác QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của

ngành Công an và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác

111

này trong thời gian tới được đề cập trong Chương 4 của Luận án.

Chương 4

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TỪ THỰC TIỄN NGÀNH CÔNG AN NHÂN DÂN

4.1. Dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với

xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

4.1.1. Những yếu tố có ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và

an toàn xã hội trong thời gian tới

Trong những năm tới, tình hình trong nước và trên thế giới sẽ tiếp tục có

những diễn biến phức tạp, có tác động không nhỏ đến tình hình chính trị, kinh tế và

xã hội của nước ta. Tình hình kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, TTATXH trong

nước vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, xuất hiện nhiều nhân tố tiêu cực ảnh

hưởng đến tình hình an ninh TTATXH. Nhà nước sẽ đẩy mạnh phát triển kinh tế

xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; theo đó, các khu công

nghiệp, các dự án sẽ phát triển, mở rộng, đất nước sẽ có cơ hội hội nhập sâu hơn,

toàn diện hơn với thế giới. Quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra nhiều việc làm cho công

nhân ở các khu công nghiệp, các dự án nhưng lại thu hẹp dần đất nông nghiệp dẫn

đến việc thiếu đất sản xuất nông nghiệp, dôi dư khối lượng lao động là nông dân,

lao động không có tay nghề, gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, mại

dâm, đặc biệt là việc phát sinh các tranh chấp đất đai, khiếu kiện, thậm chí phát sinh

những điểm nóng; tình trạng lạm phát, mất giá khó kiểm soát, phân tầng xã hội,

chênh lệch giàu nghèo, gia tăng phương tiện giao thông; Tình trạng suy giảm đạo

đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức thiếu gương mẫu, chạy chức,

chạy quyền; một bộ phận thanh thiếu niên phai nhạt lý tưởng, thực dụng, đua đòi,

ăn chơi; Công tác quản lý xã hội, quản lý tư tưởng của nhà nước đôi lúc, đôi nơi bị

buông lỏng, bất cập trong chính sách và năng lực quản lý; hệ thống pháp luật nói

chung còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu sự phân cấp, phân quyền rõ ràng, rành

112

mạch; pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế…

Việc sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức theo hướng cải cách hành chính trên

phạm vi nhiều bộ, ngành, địa phương trong đó có việc kiện toàn, sắp xếp lại bộ máy

của Bộ Công an trong thời gian vừa qua cũng có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt

động QLNN đối với XLVPHC của ngành Công an do phải cần có một thời gian

nhất định để ổn định tổ chức, ổn định lực lượng. Việc sáp nhập, tách, chuyển chức

năng, tên gọi của một số lực lượng và đơn vị của ngành đã có nhiều ảnh hưởng trực

tiếp đến công tác XLVPHC và QLNN đối với XLVPHC của ngành CAND.

4.1.2. Dự báo tình hình vi phạm hành chính và quản lý nhà nước đối với

xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân thời gian tới

Tình hình VPHC tuy đã được kiềm chế, song sẽ vẫn diễn ra phổ biến, phức

tạp và có dấu hiệu gia tăng theo chiều hướng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, việc gia

tăng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, trong đó có một số lượng không

nhỏ là các phương tiện đã qua sử dụng nhiều năm, cũ nát, không bảo đảm yêu cầu

về tiêu chuẩn tham gia giao thông, hệ số an toàn thấp; cơ sở hạ tầng giao thông

đường bộ đã xuống cấp do sử dụng nhiều năm... Mặt khác, pháp luật về bảo đảm an

toàn giao thông, xử lý các hành vi VPHC trong lĩnh vực giao thông tuy đã được chú

trọng bổ sung, sửa đổi nhưng chưa đầy đủ, thiếu tính cụ thể và đồng bộ; công tác

tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về giao thông, công tác đào tạo, sát

hạch lái xe còn nhiều hạn chế; ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của người

dân chưa cao, nạn kẹt xe, tắc đường làm mất trật tự an toàn đô thị và gia tăng nguy

cơ mất an toàn giao thông vẫn thường xuyên và tiếp tục diễn ra ở các đô thị, thành

phố, thậm chí là ở nông thôn, đặc biệt là đối với một số thành phố lớn như Hà Nội,

Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ,…; nhu cầu sử dụng năng lượng

điện, nhiên liệu khí đốt ngày càng nhiều kéo theo sự gia tăng các nguy cơ tiềm ẩn

về cháy, nổ, …

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức tự

giác chấp hành pháp luật của người dân tuy đã được các cấp, các ngành tổ chức

thực hiện nhưng chưa được quan tâm đúng mức, chưa được thực hiện thường

113

xuyên, liên tục nên một bộ phận người dân còn chưa hiểu rõ được các quy định

pháp luật của nhà nước, chưa nhận thức đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong

việc tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật. Pháp luật về XLVPHC trong thời gian

tới sẽ có nhiều thay đổi, bổ sung. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

XLVPHC năm 2012 sẽ có hiệu lực thi hành vào 01/01/2022, vì vậy, hệ thống văn

bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ

sung một số điều của Luật XLVPHC cũng phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban

hành mới theo các nội dung của Luật sửa đổi cho phù hợp, đặc biệt là hệ thống văn

bản pháp luật về XLVPHC liên quan đến QLNN đối với XLVPHC của ngành Công

an. Theo đề nghị của Bộ Tư pháp với Chính phủ, trong tổng số 37 Nghị định về

XLVPHC thuộc các lĩnh vực phải sửa đổi, bổ sung, ban hành mới theo Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật XLVPHC năm 2012, có 13 Nghị định sửa đổi, bổ

sung; 16 Nghị định thay thế; 08 Nghị định ban hành mới.

Riêng Bộ Công an có 07 Nghị định có liên quan trực tiếp đến XLVPHC cần

phải sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật XLVPHC năm 2012. Theo đó, Bộ Công an cần tiến hành rà

soát hệ thống các thông tư, văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC theo thẩm

quyền của ngành Công an để sửa đổi, bổ sung, thay thế và ban hành mới cho phù

hợp với các quy định mới của Luật và các Nghị định; đồng thời, Bộ Công an còn

phải tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn cho phù hợp với mô hình

mới về bộ máy, tổ chức của toàn ngành CAND. Các văn bản pháp luật mới về

QLNN đối với XLVPHC của ngành CAND sẽ xây dựng theo hướng bổ sung, luật

hóa các hành vi vi phạm pháp luật hành chính mới xuất hiện, bổ sung đầy đủ các

chế tài, trình tự, thủ tục xử phạt đối với các hành vi vi phạm; các hành vi VPHC

trước đó còn quy định chung chung sẽ được mô tả lại cho cụ thể hơn; phân định rõ

thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền quản lý, thẩm quyền xử

phạt VPHC nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng CAND thực hiện tốt hơn

nữa nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Dự báo trong thời gian tới, tình hình VPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự và

an toàn xã hội sẽ tăng theo chiều hướng ngày càng phức tạp do tác động của các yếu

114

tố chính trị, xã hội nêu trên, trong đó, có khả năng sẽ tập trung vào một số lĩnh vực:

- Lĩnh vực trật tự an toàn giao thông: VPHC trong lĩnh vực giao thông xảy

ra chủ yếu vẫn là các hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định; đi không

đúng làn đường, phần đường; tránh, vượt, dừng, đỗ xe không đúng quy định; chở

quá số người quy định, chở quá tải trọng; điều khiển phương tiện tham gia giao

thông khi đã sử dụng rượu, bia; điều khiển xe mô tô, xe máy không đội mũ bảo

hiểm; vi phạm quy định về đăng ký, quản lý phương tiện giao thông; chiếm dụng

lòng đường, vỉa hè trái phép để buôn bán hoặc làm nơi trông giữ xe; vi phạm hành

lang an toàn giao thông; mở đường ngang trái phép, vi phạm các quy định về kinh

doanh vận tải đường sắt, điều kiện kinh doanh đường sắt; đi sai luồng, lạch, chở quá

tải, thuyền viên, người lái phương tiện không có bằng, giấy chứng nhận khả năng

chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn phù hợp; phương tiện thủy không đăng ký,

đăng kiểm theo quy định; khai thác cát, sỏi, hoặc khoáng sản khác trong phạm vi

hành lang bảo vệ luồng, trong phạm vi luồng không đúng quy định theo giấy phép

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tài nguyên,…

- VPHC trong lĩnh vực quản lý hành chính về TTATXH:

VPHC được dự đoán sẽ xảy ra nhiều và có xu hướng tăng ở nhóm hành vi vi

phạm về quản lý ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự,

trong đó tập trung vào một số ngành nghề tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra vi phạm

như kinh doanh dịch vụ cầm đồ, dịch vụ xoa bóp, kinh doanh trò chơi điện tử có

thưởng, dịch vụ đặt cược, dịch vụ karaoke, vũ trường, kinh doanh các ngành, nghề

sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ; vi phạm về trật tự công cộng,

trật tự đô thị, vi phạm các quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung,…

VPHC trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy: Các hành vi vi phạm phổ biến

xảy ra trong lĩnh vực này là vi phạm về nội quy, thiết bị phòng cháy, chữa cháy;

khoảng cách an toàn về phòng cháy, chữa cháy, ngăn cháy; vi phạm quy định về

phòng cháy, chữa cháy trong đầu tư xây dựng; đưa nhà, công trình vào hoạt động,

sử dụng khi chưa tổ chức nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy; thi công, lắp đặt

không đúng theo thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đã được cơ quan có thẩm

115

quyền duyệt; thoát nạn trong phòng cháy, chữa cháy; vi phạm quy định về tổ chức

thực tập phương án chữa cháy, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy, bảo

quản và sử dụng phương tiện phòng cháy, chữa cháy,…

Đối với ngành CAND, QLNN đối với XLVPHC trong thời gian tới sẽ chịu

sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố sau:

QLNN đối với xử lý vi phạm hành từ thực tiễn của ngành Công an là hoạt

động có nhiều nội dung được thực hiện ở tất cả các cấp Công an. Mặc dù Luật xử lý

vi phạm hành đã có hiệu lực thi hành được hơn 8 năm, nhưng thực tiễn triển khai

còn nhiều lúng túng. Ngoài cơ quan chuyên trách được thành lập ở Cục Pháp chế và

cải cách hành chính, tư pháp (Phòng 6) để thực hiện nhiệm vụ này thì ở Công an các

đơn vị, địa phương đều chưa có tổ chức hay cán bộ chuyên trách để giúp Thủ

trưởng thực hiện chức năng theo dõi, QLNN về QLNN đối với xử lý vi phạm hành

từ thực tiễn của ngành Công an. Thời gian tới, trong điều kiện thắt chặt về tổ chức

và biên chế theo chủ trương của nhà nước và Bộ Công an thì việc tăng cường đội

ngũ làm công tác này sẽ rất khó khăn và chưa thể kiện toàn ngay được.

Cùng với yếu tố con người thì việc bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ

thuật có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác QLNN đối với XLVPHC từ thực

tiễn của ngành Công an, đặc biệt là hoạt động thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về

XLVPHC. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2016/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu

quốc gia về XLVPHC. Tuy nhiên, việc triển khai Nghị định này đến các bộ, ngành,

địa phương đòi hỏi phải có nguồn lực rất lớn mới có thể thực hiện và duy trì được.

Bên cạnh đó, thời gian qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy

định của pháp luật chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục đến mọi tầng lớp

nhân dân ở địa phương, nên một bộ phận người dân chưa hiểu rõ được các quy định

của pháp luật về ANTT, ATXH, chưa nhận thức đầy đủ vị trí, tầm quan trọng của

việc bảo đảm ANTT, ATXH, cũng như trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân

trong công tác này mà chỉ hiểu đơn thuần công tác bảo đảm ANTT, ATXH là trách

nhiệm của Nhà nước và trực tiếp, nòng cốt là của lực lượng CAND. Vì vậy, cần

phải nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi quy định của pháp luật, trong đó có quy

định của pháp luật về XLVPHC nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của tổ chức, cá

116

nhân, phòng, ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm ANTT, ATXH. Tình hình nói trên

sẽ có những tác động nhất định đến QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành

Công an trong thời gian tới.

Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Bộ Công an đã thay đổi theo quy định của Nghị

định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Theo đó, tổ chức bộ máy của Bộ Công an được

xây dựng theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”; trong

đó, không tổ chức cấp tổng cục, sắp xếp và thu gọn đầu mối các đơn vị thuộc Bộ,

các đơn vị cấp phòng, cáp đội, sáp nhập 20 Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương vào Công an cấp tỉnh,.. bảo đảm mô hình tổ chức

bộ máy mới gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả.

Lực lượng chủ yếu làm nhiệm vụ XLVPHC trong ngành CAND là lực lượng

Cảnh sát cũng có rất nhiều thay đổi về mô hình, tổ chức: Ở Bộ sáp nhập Cục Cảnh

sát đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư vào Cục CSQLHC về

TTXH; thu gọn đầu mối cấp phòng ở các Cục (giao thông, phòng cháy, chữa cháy

và cứu nạn, cứu hộ).

Ở địa phương, sáp nhập CSPCCC và CNCH vào Công an cấp tỉnh thành

Phòng CSPCCC và CNCH thuộc Công an cấp tỉnh; sáp nhập Phòng Cảnh sát

đường thủy vào Phòng CSGT đường bộ - đường sắt; thu gọn đầu mối các đội thuộc

phòng và thuộc công an cấp huyện… Với việc thu gọn tổ chức bộ máy như trên thì

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng này cũng có nhiều thay đổi, các

chức danh thuộc lực lượng Cảnh sát cũng thay đổi theo (thay đổi theo tên gọi, thay

đổi chức danh mới do đơn vị sáp nhập, chia tách), trong khi đó, pháp luật về

XLVPHC chưa kịp điều chỉnh theo. Điều này sẽ dẫn đến việc có những ảnh hưởng

lớn đến hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH, đặc biệt trong việc áp dụng

thẩm quyền xử phạt VPHC, phân công, phân cấp thẩm quyền xử phạt VPHC.

4.2. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm

hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

4.2.1. Đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng về mọi mặt về

quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động QLNN được ghi nhận thành một

117

nguyên tắc cơ bản, hàng đầu trong quản lý hành chính nhà nước. Khoản 1 Điều 4

Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của

giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân

tộc Việt Nam, đại biểu trung thành của nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy

chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực

lượng lãnh đạo xã hội”.

Đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng về mọi mặt về QLNN đối

với XLVPHC là bảo đảm sự lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với các hoạt động

QLNN trong lĩnh vực này. Mọi hoạt động QLNN đối với XLVPHC đều đặt dưới sự

quản lý của nhà nước, nhưng mọi hoạt động của nhà nước cũng là sự thể chế hóa

đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng thành hệ thống pháp luật, chiến lược,

chương trình nhằm mục đích bảo đảm sự ổn định xã hội, bảo đảm kỷ cương,

TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng chống có hiệu

quả VPHC và vi phạm hình sự. Cần nhấn mạnh rằng, việc ghi nhận sự lãnh đạo

tuyệt đối của Đảng về QLNN đối với XLVPHC không đồng nghĩa với việc thừa

nhận sự can thiệp của các tổ chức Đảng vào các hoạt động chuyên môn của các cơ

quan nhà nước trong lĩnh vực này. Sự lãnh đạo của Đảng trong QLNN đối với

XLVPHC chỉ là sự định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối quan điểm, chủ

trương, chính sách và công tác tổ chức trong lĩnh vực XLVPHC.

Hệ thống pháp luật về XLVPHC luôn được xây dựng trên cơ sở các quan

điểm chỉ đạo của Đảng, là sự thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về

cải cách hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính được xác đinh

rõ trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết số 48/NQ-

TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xay dựng và hoàn thiện hệ

thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-

TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

theo hướng: “Hình thành cơ chế pháp lý để Chính phủ thực hiện quyền yêu cầu xem

xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát hiện trong

quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật”; “tạo điều kiện thuận lợi cho người

dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của công dân và cơ quan công quyền

118

trước Tòa án”. Pháp luật về XLVPHC, QLNN đối với XLVPHC phải được quy

định một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề về XLVPHC, bảo đảm kế thừa những

quy định pháp luật đã được kiểm nghiệm trong thực tế, khắc phục một cách cơ bản

những hạn chế, bất cập, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm phù hợp với điều kiện

kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách bộ máy nhà nước.

Cùng với sự phát triển, đổi mới về nhận thức, tư duy lý luận về bảo vệ an

ninh quốc gia không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, lực lượng CAND đã tham

mưu Ban Chấp hành T.Ư Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều nghị

quyết, chỉ thị, kết luận về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác bảo vệ

an ninh quốc gia trong tình hình mới. Ðồng thời, phối hợp với các ban, bộ, ngành,

địa phương tham mưu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ

tướng Chính phủ và các cơ quan thẩm quyền hoạch định chiến lược xây dựng, hoàn

thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ Tổ quốc nói chung, bảo vệ an ninh quốc gia

nói riêng, tạo cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc cho thực tiễn; Quán triệt, thể chế

hóa quan điểm, đường lối của Ðảng, các quy định của Hiến pháp, pháp luật về bảo

đảm an ninh, trật tự, lực lượng CAND đã chủ động nắm tình hình, xây dựng các

phương án, kế hoạch triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, tạo thế chủ động chiến

lược từ xa, từ sớm, từ cơ sở. An ninh các vùng chiến lược được giữ vững ổn định

phục vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần

của nhân dân. Các vấn đề an ninh xã hội, an ninh tôn giáo, dân tộc, an ninh văn hóa

- tư tưởng, an ninh thông tin, truyền thông, an ninh mạng được quan tâm giải quyết

thỏa đáng, không để các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng kích động, lôi kéo

người dân tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự. Việc nhận diện, phòng ngừa,

giải quyết các xung đột xã hội trong nội bộ nhân dân, ở cơ sở, nhất là tại các địa bàn

vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo được chú trọng; quyền

con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được tôn trọng, bảo đảm thực

hiện tốt hơn.

Vai trò lãnh đạo của Đảng trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ, tổ chức bộ máy của ngành CAND,

cụ thể: Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành

119

Trung ương Đảng khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ

thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Đảng ủy Công an Trung

ương đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành nghiên cứu xây dựng Đề án “Một số

vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động

hiệu lực, hiệu quả” (Đề án 106). Quá trình nghiên cứu xây dựng Đề án 106, Đảng

ủy Công an Trung ương đã bám sát, cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về xây

dựng tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy,

tinh nhuệ, từng bước hiện đại; quán triệt sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban

Bí thư, tranh thủ tối đa ý kiến của cấp ủy các địa phương; đồng thời, huy động sự

vào cuộc của toàn lực lượng CAND, lãnh đạo chủ chốt và cán bộ lão thành. Đổi

mới, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với sắp xếp lại đội ngũ cán bộ là vấn đề lớn,

công việc hệ trọng, phức tạp và nhạy cảm, tác động trực tiếp đến tư tưởng cán bộ

chiến sĩ và nhiều mặt công tác Công an. Quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy

đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề đặt ra: Sắp xếp tổ chức không làm ảnh hưởng

đến chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và nhiệm vụ chung; tinh gọn bộ máy

nhưng vẫn phải bảo đảm đủ nguồn lực để giải quyết công việc; không làm gián

đoạn, không gây xáo trộn trong thực hiện nhiệm vụ của Công an các cấp; bảo đảm

ổn định tư tưởng, tâm lý của cán bộ chiến sĩ...

Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng về QLNN đối với XLVPHC từ thực

tiễn ngành CAND còn được thể hiện ở việc chỉ đạo Đảng ủy các cấp trong ngành

Công an tiến hành kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của

Đảng trong hoạt động QLNN đối với lĩnh vực này, nhằm đánh giá tính hiệu quả,

tính thực tế của các chính sách mà Đảng đã đề ra, chỉ đạo. Có thể khẳng định rằng,

sau hơn 02 năm thực hiện tinh gọn bộ máy của ngành Công an theo chỉ đạo của

Đảng, việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, tập trung, thống

nhất, chuyên sâu, không chỉ khắc phục được tình trạng cồng kềnh về tổ chức bộ

máy, trùng giẫm về chức năng, nhiệm vụ và sự chia cắt về địa bàn, lĩnh vực quản lý

mà còn tạo cơ sở cho việc điều chỉnh, bố trí lại lực lượng, sắp xếp cán bộ, cơ cấu

biên chế trong nội bộ Bộ Công an một cách hợp lý. Trong quá trình đổi mới, sắp

xếp tổ chức bộ máy, Đảng ủy Công an Trung ương luôn tuân thủ nguyên tắc bảo

120

đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng CAND;

thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công tâm; lắng nghe, tiếp

thu những ý kiến đóng góp xác đáng. Đó còn là quyết tâm chính trị cao, đoàn kết,

thống nhất, chung sức, đồng lòng của toàn lực lượng CAND. Trong đó, sự thống

nhất cao về tư tưởng và hành động của lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ CAND là

yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng.

4.2.2. Quán triệt quan điểm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động

theo tinh thần đề cao quyền tự chủ của nhân dân, trong đó quyền lực nhà nước là

thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước

trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thừa nhận vị trí tối

thượng của Hiến pháp và luật trong đời sống xã hội. Nhà nước tổ chức và hoạt động

trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật; thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong mối quan

hệ giữa nhà nước và công dân, Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các

quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội theo

Hiến pháp và pháp luật. Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức

và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp

luật”. Đây là quy định mang tính nguyên tắc và là nền móng pháp lý cho việc xây

dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc pháp

chế xã hội chủ nghĩa trong QLNN nói chung và QLNN đối với XLVPHC nói riêng.

Chính vì vậy, cần tăng cường QLNN đối với XLVPHC, thường xuyên quán triệt và

bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng, phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ

chính trị đối với từng giai đoạn cánh mạng Việt Nam. Tăng cường QLNN đối với

XLVPHC là một trong những nội dung của cải cách hành chính, cải cách bộ máy

nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trước những đòi hỏi của tình hình mới, QLNN đối với XLVPHC nói chung

và QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành Công an nói riêng cần phải tiếp tục

đổi mới một cách toàn diện, đẩy nhanh tiến độ cải cách hành chính, xây dựng cơ

chế quản lý thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về QLNN đối

121

với XLVPHC, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục hành chính. Theo đó, thực hiện

chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ “Chương trình tổng thể cải

cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”, Bộ Công an đã kịp thời ban hành

“Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, định

hướng giai đoạn 2021 -2030 trong CAND”. Theo báo cáo tổng kết của Bộ Công an,

sau 10 năm triển khai thực hiện, công tác cải cách hành chính của lực lượng CAND

đã có bước chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đáp ứng được

những yêu cầu cơ bản của nền hành chính hiện đại. Công tác kiểm soát thủ tục hành

chính được đẩy mạnh; Bộ Công an đã ban hành 14 quyết định công bố thủ tục hành

chính trên các lĩnh vực QLNN về an ninh, trật tự, chuẩn hóa dữ liệu của 293 thủ tục

hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết; cắt giảm, đơn giản hóa 139 thủ tục hành

chính. Trong thời gian tới, ngành CAND tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế trong

CAND đảm bảo giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội để phục vụ hiệu

quả cho việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành

chính và kiểm soát thủ tục hành chính; xây dựng giải pháp đồng bộ ứng dụng công

nghệ thông tin trong CAND để đáp ứng yêu cầu của Chính phủ điện tử và công dân,

doanh nghiệp điện tử.

Việc quán triệt quan điểm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa trong QLNN đối với XLVPHC, ngành Công an, với vai trò, chức

năng, nhiệm vụ chính là bảo đảm an ninh, TTATXH còn phải thực hiện tốt công tác

phối hợp giữa lực lượng Công an các cấp với các ban, ngành đoàn thể trong lĩnh

vực QLNN đối với XLVPHC, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục

pháp luật, tăng cường triển khai các biện pháp phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm

các hành vi VPHC.

4.2.3. Quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính phải hướng đến

phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mở rộng quyền dân chủ,

nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, giữa công dân với Nhà

nước, luôn được Đảng ta dành sự quan tâm đặc biệt. Nhiều Hội nghị của Trung

122

ương Đảng đề cập đến vấn đề này như văn kiện đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X

và nhiều Nghị quyết trung ương khác. Văn kiện Đại hội Đảng VI xác định: Xây

dựng một chính quyền không có đặc quyền, đặc lợi, hoạt động vì cuộc sống của

nhân dân. Nghị quyết trung ương 8 khoá VII xác định trên nguyên tắc: dân chủ xã

hội chủ nghĩa là vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước ta. Phát huy quyền làm chủ

của nhân dân trên mọi lĩnh vực; quyền làm chủ đó được thể chế hoá bằng pháp luật;

dân chủ đi đôi với kỷ cương, kỷ luật. Văn kiện Đại hội Đảng IX xác định rõ những

phương châm cơ bản: xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm: “dân biết,

dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và

Nhà nước; thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại

diện (là cơ quan dân cử và các đoàn thể), làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân

dân tự quản, bằng việc xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước tại cơ sở.

Nhiệm vụ giữ gìn và bảo đảm an ninh trật tự và TTATXH, giữ ổn định

chung để phát triển xã hội thuộc về trách nhiệm của các cấp, các ngành và các cá

nhân công dân. QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là một trong

những mắt xích quan trọng trong công tác này. Để thực hiện tốt nhiệm vụ nhiệm vụ

này, các cấp, các đơn vị nghiệp vụ của ngành Công an cần tập trung tăng cường lực

lượng hướng về cơ sở, cần trực tiếp gần dân hơn nữa, thực hiện tốt công tác tuyên

truyền, giáo dục pháp luật, vận động quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào

công tác QLNN đối với XLVPHC, xây dựng tốt phong trào toàn dân bảo vệ an ninh

tổ quốc, góp phần giữ gìn TTATXH cấp cơ sở. Cùng với đó, ngành Công an, các

cấp, các ngành có trách nhiệm trong QLNN đối với XLVPHC cần tạo điều kiện để

nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình trong việc tổ chức thực hiện pháp luật

về XLVPHC, tham gia vào công tác QLNN của lĩnh vực này bằng các hình thức

trực tiếp hoặc gián tiếp. Theo đó, nhân dân có thể phát huy quyền làm chủ của mình

thông qua các hoạt động tự quản ở cơ sở, ở nơi cư trú, sinh hoạt hoặc làm việc, học

tập như tham gia vào bảo vệ an ninh trật tự, tổ chức đời sống công cộng, vệ sinh

môi trường, phòng cháy, chữa cháy,…và tự mình thực hiện quyền tham gia QLNN,

quản lý xã hội của người dân mà pháp luật đã quy định, bảo đảm quyền làm chủ của

123

người dân thực sự được tôn trọng trong thực tế và bảo đảm thực hiện.

4.2.4. Bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ

có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đối ngoại rộng mở

của Đảng và nhà nước

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều phức tạp, quan điểm của Đảng

và nhà nước ta là phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền,

thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự,

an toàn xã hội. Nhận thức rõ điều này, bên cạnh việc chủ trương kết hợp có hiệu quả

giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ

nghĩa; kết hợp giữa phát triển kinh tế với phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh,

đối ngoại, thì việc đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", hoạt động

phá hoại, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bước đầu đối phó có hiệu

quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội

phạm, giữ ổn định xã hội nhằm phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã

hội và chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng và nhà nước đồng thời được xác

định là nhiệm vụ quan trọng của mọi hoạt động QLNN, trong đó có QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

Quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của

Nhà nước nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc, phục vụ

có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đối ngoại rộng mở của

Đảng trong QLNN đối với XLVPHC, các cấp ủy, chính quyền, các đơn vị, địa

phương cần phải có những giải pháp mang tính chiến lược, với mục tiêu trọng yếu

là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của hệ thống chính trị, tranh

thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh

bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,

bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi

mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo

vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh

124

quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nêu trên, QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

ngành CAND cần tiếp tục quán triệt, bám sát sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi

mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Các cấp, các ngành

và địa phương trên toàn quốc, đặc biệt là ngành Công an phải tập trung đẩy mạnh

công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và

từng người dân đối với nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự và TTATXH, bảo vệ Tổ

quốc; thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, lực lượng vũ

trang làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn

thiện hệ thống pháp luật về XLVPHC; hoàn thiện cơ chế, chính sách QLNN đối với

XLVPHC nhằm góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh,

trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh

phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC, tội phạm trong thời kỳ mới, nâng cao hiệu

lực, hiệu quả QLNN trong lĩnh vực XLVPHC; tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận tiện

cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc

tế, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong

giai đoạn phát triển mới.

4.3. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi

phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Trong thời gian tới, trật tự, cục diện thế giới tiếp tục có những diễn biến

phức tạp, khó dự báo; hòa bình, hợp tác, phát triển gặp nhiều trở ngại. Chiến tranh

cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố quốc tế; chủ nghĩa ly khai, cường

quyền, bảo hộ, dân túy; xu hướng tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia, dân tộc; các vấn đề

an ninh phi truyền thống, nhất là ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, thảm họa tự nhiên,

mặt trái của cách mạng công nghệ thông tin, sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa

các nước lớn gây sức ép lên hệ thống thể chế, cấu trúc an ninh, chính trị, kinh tế thế

giới; tình hình Biển Ðông tiềm ẩn nguy cơ căng thẳng, xung đột.

Ở trong nước, các yếu tố gây bất ổn còn tiềm ẩn, các thế lực thù địch, phản

125

động tăng cường chống phá với những phương thức, thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo

quyệt và manh động, nguy hiểm. Ranh giới giữa an ninh truyền thống và an ninh

phi truyền thống có thể tác động, chuyển hóa lẫn nhau; tình hình trật tự, an toàn xã

hội, hoạt động của tội phạm có những diễn biến mới, phức tạp, đe dọa trật tự, kỷ

cương xã hội, có thể chuyển hóa thành vấn đề an ninh quốc gia hoặc ngược lại.

Nhiều vướng mắc cản trở việc kết hợp giữa kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng,

an ninh chưa được nhận diện đầy đủ và kịp thời tháo gỡ; một số mâu thuẫn, xung

đột xã hội chậm được nhận diện, giải quyết. Bối cảnh tình hình nêu trên đòi hỏi cần

phải có một hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ

thực tiễn ngành CAND mới có thể đáp ứng yêu cầu ổn định xã hội, bảo đảm trật tự,

kỷ cương quản lý hành chính nhà nước, giữ gìn an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các vi phạm

pháp luật về hành chính trong điều kiện hội nhập quốc tế,….

Đề tài luận án xin đề xuất một số giải pháp chủ yếu, trọng tâm sau đây:

4.3.1. Tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về

quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an

nhân dân

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC, QLNN đối với

XLVPHC dần được hoàn thiện, có tính khả thi trong thực tiễn, bảo đảm tính công

khai, minh bạch, phát huy được vai trò là công cụ pháp lý hữu hiệu góp phần giữ

gìn an ninh, TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh

phòng, chống có hiệu quả các vi phạm pháp luật về hành chính, đáp ứng yêu cầu

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương. Tuy nhiên, so với

yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, hệ thống pháp luật về XLVPHC, QLNN đối

với XLVPHC vẫn còn một số quy định chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho

nhân dân khi thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình cũng như bảo đảm yêu cầu QLNN

đối với lĩnh vực này. Vì vậy, tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm

pháp luật về QLNN đối với XLVPHC trong giai đoạn hiện nay nhằm hoàn thiện cơ

sở pháp lý, bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức; đồng

126

thời, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác QLNN về XLVPHC, góp phần giữ vững

an ninh trật tự, TTATXH trong tình hình mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần

thiết. Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND cần tập trung theo hướng sau:

Một là, việc tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND cần quán triệt và bám sát các

quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp

luật, thực hiện quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; quán triệt, thể chế hóa quan

điểm, đường lối của Ðảng, các quy định của Hiến pháp, pháp luật về bảo đảm an ninh,

trật tự; bảo đảm thực hiện theo đúng quy định, trình tự xây dựng văn bản quy phạm

pháp luật theo quy định của Luật xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Cùng với sự phát triển, đổi mới về nhận thức, tư duy lý luận về bảo vệ an

ninh quốc gia, TTATXH không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, lực lượng CAND

trong thời gian tới cần chủ động hơn nữa trong việc tham mưu Ban Chấp hành

Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết

luận về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia,

bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội trong tình hình mới. Ðồng thời, phối hợp

với các ban, bộ, ngành, địa phương tham mưu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc

hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan thẩm quyền xây dựng, hoàn

thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn an ninh trật tự và

TTATXH, đổi mới cơ chế QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.

Hai là, việc tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND phải phát huy được tối đa

sức mạnh tổng hợp của toàn dân, huy động trí tuệ của các tầng lớp nhân dân trong

việc đóng góp ý kiến, tham gia thảo luận xây dựng các văn bản pháp luật về

XLVPHC, QLNN đối với VPHC, thực hiện mục tiêu Nhà nước bảo đảm và phát

huy quyền làm chủ của nhân dân theo tiêu chí “điều kiện tự do của mỗi người là

điều kiện tự do cho tất cả mọi người”; dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; bảo

127

đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định,

những văn bản pháp luật về XLVPHC liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân

dân, đảm bảo tính khả thi của pháp luật XLVPHC trong thực tiễn. Điều này còn thể

hiện nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội trên tinh thần phát huy dân chủ cần phải

tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, giữ vững kỉ

cương, kỷ luật và đề cao đạo đức xã hội.

Ba là, việc tăng cường xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND cần đảm bảo tính kế thừa

những quy định về XLVPHC đã được kiểm nghiệm trong thực tế, khắc phục một

cách cơ bản những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật XLVPHC hiện hành

thông qua việc tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về XLVPHC trong

những năm vừa qua, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu

cầu cải cách bộ máy nhà nước và đặc biệt, cần tham khảo một cách có chọn lọc kinh

nghiệm lập pháp của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đồng thời, nội luật

hóa kịp thời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ

mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế như Công ước của Liên hợp

quốc về quyền trẻ em, các công ước về quyền con người năm 1966 (Công ước quốc

tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân

sự, chính trị).

Bốn là, một số văn bản pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, xây dựng và ban hành

mới nhằm đáp ứng yêu cầu của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND

trong thời gian tới cần tập trung theo hướng quy định rõ về thẩm quyền XLVPHC

của ngành CAND trong từng lĩnh vực thuộc chức năng, phạm vi QLNN giao cho

ngành Công an; quy định rõ về nhiệm vụ QLNN đối với XLVPHC của ngành Công

an và các nội dung của QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, trong

đó chú trọng đến công tác tổ chức thực hiện pháp luật XLVPHC, tuyên truyền, phổ

biến, giáo dục pháp luật XLVPHC, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo

và xử lý các vi phạm pháp luật hành chính,…

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC năm 2012 đã được

128

Quốc Hội khóa XIII thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022 (Luật sửa

đổi, bổ sung Luật XLVPHC). Nội dung của Luật sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC

có nhiều quy định mới liên quan đến thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt VPHC và

biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

VPHC, thẩm quyền áp dụng các BPXLVPHC, thẩm quyền áp dụng các biện pháp

ngăn chặn và bảo đảm XLVPHC của ngành CAND; các quy định về QLNN, quan

hệ phối hợp giữa ngành CAND với các cơ quan chức năng, các chức danh có thẩm

quyền XLVPHC của các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp… Chính vì vậy, Bộ

Công an cần chỉ đạo các đơn vị chức năng của Bộ khẩn trương rà soát, tham mưu và

đề xuất với cấp có thẩm quyền để tiến hành sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống

văn bản quy phạm pháp luật XLVPHC thuộc phạm vi, chức ngăn QLNN của ngành

CAND theo hướng giảm tối đa những thủ tục hành chính không cần thiết, bảo đảm

yêu cầu cải cách hành chính, xác định rõ thẩm quyền của từng chức danh, phân định

rõ trách nhiệm của các cơ quan trong QLNN đối với XLVPHC trong lĩnh vực an

ninh trật tự, an toàn xã hội; quy định cụ thể trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các

cơ quan, chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC với nhau và với cơ quan có liên

quan, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật hành chính;

xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời tạo điều kiện

cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình theo

quy định của pháp luật XLVPHC. Cụ thể:

- Về Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt VPHC

trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo (sửa đổi, bổ sung theo Nghị

định 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017, Nghị định 45/2019/NĐ-CP ngày 21/5/2019

và Nghị định 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019), cần nghiên cứu, rà soát, sửa đổi

theo hướng bổ sung các quy định xử phạt hành chính đối với các hành vi: Tổ chức

lễ hội bán vé, thu tiền tham gia lễ hội; Sử dụng bài hát không được phép phổ biến,

lưu hành; Cung cấp dịch vụ vũ trường cho người chưa đủ 18 tuổi; Quảng cáo có nội

dung hướng dẫn, huấn luyện, tổ chức huấn luyện trái phép cách thức chế tạo, sản

xuất, sửa chữa vũ khí, vật liệu nổ hoặc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ; Quảng cáo có

129

nội dung huy động vốn trái phép.

- Về Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt VPHC

trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 124/2015/NĐ-CP ngày

19/11/2015 và Nghị định 141/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018) cần tiến hành nghiên

cứu, sửa đổi theo hướng bổ sung các quy định xử phạt VPHC về các hành vi vận

chuyển hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, gây khó khăn trong quá trình xử lý vi

phạm; hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm không thống nhất

với quy định của Bộ luật hình sự. Cụ thể, khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất,

buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm. Như vậy, cùng một hành vi mà pháp luật

quy định vừa bị xử phạt hành chính và vừa bị xử lý hình sự; Hành vi khai thác cát

(khoáng sản) trong phạm vi hành lang bảo vệ luồng, trong phạm vi luồng, trong

phạm vi bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa mà

không có giấy phép khai thác khoáng sản thì bị xử phạt theo Nghị định số

132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông

đường thủy nội địa. Tuy nhiên, theo Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy

định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản cũng có quy

định xử phạt đối với hành vi vi phạm về khai thác cát, sỏi trái phép và hình phạt

chính, hình phạt bổ sung cũng khác nhau nhiều. Hiện nay, chưa có hướng dẫn rõ về

hành vi, tính chất, mức độ vi phạm để áp dụng nghị định nào xử phạt phù hợp.

- Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt VPHC

trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa quy định xử phạt đối với hành vi chôn, lấp,

đổ chất thải xây dựng không đúng quy định về bảo vệ môi trường.

- Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy định về XPVPHC trong

lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, cần nghiên cứu, sửa đổi theo hướng bổ

sung quy định xử phạt VPHC đối với hành vi mua, bán, vận chuyển khoáng sản

không rõ nguồn gốc hợp pháp nên gây khó khăn trong việc xác minh, xử lý hành vi

khai thác khoáng sản trái phép; bổ sung quy định cụ thể về việc đo đạc khối lượng

tang vật khoáng sản; giám định loại khoáng sản để tháo gỡ khó khăn trong công tác

130

xử lý; bổ sung quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của Cục trưởng Cục CSGT,

Trưởng phòng CSGT, gây khó khăn trong công tác xử phạt VPHC đối với hoạt

động khai thác khoáng sản, cát, sỏi lòng sông.

- Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 quy định xử phạt VPHC trong

lĩnh vực lâm nghiệp: việc nhận diện, xác định loài động vật hoang dã gặp vướng

mắc đối với những sản phẩm đã qua sơ chế, không còn nguyên trạng thái ban đầu.

- Nghị định 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 quy định xử phạt VPHC trong

lĩnh vực thủy sản không quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của Trưởng phòng

CSGT, trong khi đây là lực lượng chính thực hiện kiểm tra, xử lý, xử phạt VPHC

đường thủy.

- Về Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quy định về cưỡng chế

thi hành quyết định xử phạt VPHC, đề nghị nghiên cứu, sửa đổi quy định về việc

thực hiện quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC bằng hình thức

khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức gặp khó khăn do các Ngân hàng nơi

người bị xử phạt mở tài khoản tìm cách từ chối cung cấp tài khoản cho người có

thẩm quyền xử phạt thực hiện cưỡng chế; bổ sung quy định hướng dẫn thủ tục sau

khi xác minh đối tượng bị cưỡng chế không có tài sản để kê biên;

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt VPHC trong

lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống, tệ nạn xã hội; phòng cháy và

chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình quy định một số hành vi xâm hại hoặc thuê

người khác xâm hại sức khỏe của người khác (điểm e khoản 3 Điều 5); hủy hoại hoặc

cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác (điểm a khoản 2 Điều 15) nhưng chưa quy

định hình thức xử phạt bổ sung “Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC” nên chưa bảo

đảm triệt để xử lý hành vi vi phạm.

- Nghị định 119/2017/NĐ-CP ngày 01/11/2017 quy định về xử phạt VPHC

trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hóa chưa quy định

xử phạt VPHC đối với hành vi bán hàng hóa phải có dấu hợp quy nhưng không có hồ

sơ kèm theo.

- Tại khoản 3 Điều 131 Luật xử phạt VPHC quy định thời hạn quản lý được

131

tính từ ngày lập hồ sơ cho đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng

biện pháp xử lý hành chính theo quyết định của Tòa án, cần quy định rõ thời hạn quản

lý tối đa là bao nhiêu ngày (quy định như hiện nay còn chung chung làm chậm thời

gian đưa người nghiện đi cai nghiện). Do đó, cần sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 131

Luật xử phạt VPHC theo hướng quy định rõ thời hạn quản lý tối đa là bao nhiêu ngày.

- Về quy định thông báo cho người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính

hoặc người đại diện hợp pháp của họ sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ quy định tại

khoản 4 Điều 97, khoản 3 Điều 99, khoản 3 Điều 101, khoản 3 Điều 103. Theo quy

định tại khoản 3 Điều 101 của Luật XLVPHC, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo

cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ để họ

đọc hồ sơ, ghi chép nội dung cần thiết. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định này trên

thực tế cho thấy người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ

thường không đến nên cơ quan Công an gặp rất nhiều khó khăn trong công tác lập,

hoàn thiện hồ sơ đề nghị, hoặc họ lợi dụng việc được thông báo để bỏ trốn. Đây là

một trong những nguyên nhân gây nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện

biện pháp xử lý hành chính.

- Khoản 3 và khoản 5 Điều 90 Luật xử phạt VPHC quy định đối tượng trong

06 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt VPHC về hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc,

gây rối trật tự công cộng (đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi); về hành vi xâm phạm tài sản

của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc

người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội (từ đủ 18 tuổi trở lên) thì bị áp

dụng biện pháp xử lý hành chính GDTXPTT chưa thống nhất với Bộ luật hình sự.

- Khoản 4 Điều 90 Luật xử phạt VPHC quy định một trong những đối tượng bị

áp dụng biện pháp GDTXPTT là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi

cư trú ổn định. Theo đó, khoản 2 Điều 11 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy

định các cơ quan có thẩm quyền phải xác định tình trạng nghiện ma túy hiện tại của

người nghiện, nhằm mục đích xác định đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp này

phải là người nghiện ma túy mà không đơn thuần là người sử dụng ma túy. Tuy

nhiên, theo quy định tại khoản 16 Điều 2 Luật xử phạt VPHC thì người nghiện ma

132

túy là “người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ

thuộc vào các chất này”. Với định nghĩa này, trên thực tế, việc xác định tình trạng

nghiện ma túy là rất khó khăn, phức tạp.

Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp tiền đề GDTXPTT đối với người nghiện

ma túy cũng là một trong những trở ngại lớn, làm kéo dài thời gian áp dụng biện

pháp đưa vào CSCNBB.

- Cần nghiên cứu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào CSCNBB đối

với người sử dụng ma túy trái phép (chưa nghiện), vì hiện nay, đối với đối tượng

này, pháp luật chỉ quy định xử phạt VPHC, không bảo đảm tính răn đe. Ngoài ra, về

mặt y học, việc đưa người sử dụng ma túy trái phép vào CSCNBB để sớm chữa trị,

cai nghiện cho họ sẽ có tác dụng tốt hơn việc “chờ đợi” cho họ “bị nghiện hẳn” rồi

mới can thiệp.

- Cần bổ sung đối tượng người nghiện ma túy từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi bị áp

dụng biện pháp đưa vào CSCNBB, vì tình hình thực tế hiện nay tại nhiều địa

phương, đối tượng nghiện ma túy có sự trẻ hóa, đặc biệt là đối tượng người nghiện

từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi nhưng Luật XLVPHC hiện hành không quy định áp dụng

biện pháp đưa vào CSCNBB đối với đối tượng này. Đây cũng là một trong những

nguyên nhân làm phát sinh tội phạm.

- Khoản 2 Điều 118 Luật xử phạt VPHC quy định trường hợp một người vừa

thuộc đối tượng đưa vào CSGDBB vừa thuộc đối tượng đưa vào CSCNBB. Theo

đó, trường hợp người nghiện ma túy thuộc loại côn đồ hung hãn thì áp dụng biện

pháp đưa vào CSGDBB. CSGDBB thực hiện việc cai nghiện cho đối tượng này.

Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể thế nào là hành vi côn đồ

hung hãn.

4.3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về

quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an

nhân dân

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động không thể thiếu

trong đời sống xã hội nhằm bảo đảm cho việc thực thi có hiệu quả các quy định của

133

pháp luật khi đã được ban hành, góp phần đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống.

Có làm tốt công tác này tới các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân thì mới phát huy

được sức mạnh tổng hợp của nhân dân, phát huy tinh thần “thượng tôn pháp luật”

và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân.

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công

an, cần chủ động phối hợp với các đơn vị chức năng trong ngành cũng như các cơ

quan ngoài ngành Công an tăng cường và đẩy mạnh, đa dạng hóa công tác tuyên

truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về XLVPHC theo hướng tuyên truyền, phổ

biến, giáo dục pháp luật gắn với đối tượng, địa chỉ cụ thể, xác định đúng nội dung,

phương pháp cần tuyên truyền, giáo dục.

Lực lượng CAND cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Luật

XLVPHC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC năm 2012 và

các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành ở Công an các đơn vị, địa

phương; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về công tác

XLVPHC thuộc lĩnh vực TTATXH cho các đối tượng là cán bộ, chiến sĩ CAND

trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xử phạt VPHC.

Lực lượng CAND cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động

người dân chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và

quy định của pháp luật QLNN đối với XLVPHC; tập trung tuyên truyền, phổ biến,

giáo dục pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH đến mọi tầng lớp nhân dân

một cách thường xuyên, liên tục với các nội dung thiết thực, cụ thể; hình thức tuyên

truyền phong phú, đa dạng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của nhân dân ở

từng khu vực, từng địa bàn. Việc tuyên truyền, phổ biến được thực hiện dưới các

hình thức như: tuyên truyền trên báo, đài phát thanh và truyền hình, trên các phương

tiện thông tin đại chúng, băng rôn, khẩu hiệu, panô, áp phích, phát động các cuộc thi

tìm hiểu pháp luật về XLVPHC, tổ chức các hội diễn văn nghệ quần chúng gắn với

công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội; lồng ghép vào các phong trào,

chương trình hành động của các cấp, các ngành như thông qua việc thực hiện

“Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm”, “Toàn dân xây dựng nếp sống văn

hóa ở địa bàn dân cư”, “Phong trào đấu tranh bài trừ tệ nạn xã hội”, “Phong trào

134

toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, hiểu biết

của người dân đối với các quy định của pháp luật XLVPHC để mọi người dân có ý

thức tự giác chấp hành pháp luật.

Lực lượng CAND cần tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển

hình tiên tiến về ANTT; triển khai quy chế dân chủ trong QLNN đối với XLVPHC

từ thực tiễn ngành Công an; gắn QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND vào việc triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước như

việc triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01/2001/NQLT ngày 4/12/2001 về

“Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong thời kỳ mới”, Chỉ thị

số 09-CT/TW ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình

hình mới”. Phối hợp chặt chẽ với Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh,

Mặt trận Tổ quốc các cấp để đưa nội dung QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

ngành CAND vào chương trình hoạt động của các tổ chức này.

Tăng cường phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện tốt chức năng tham

mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương; thành lập các tổ công tác xuống địa bàn

trọng điểm về an ninh trật tự có cán bộ nắm rõ về phong tục, tập quán của địa

phương để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật QLNN đối với XLVPHC từ

thực tiễn của ngành CAND. Phối hợp với các cơ quan đài, báo của trung ương và

địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật QLNN đối

với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND bằng nhiều hình thức (tin, bài, phóng sự,

chuyên đề, hội thi, treo gắn panô, khẩu hiệu, tuyên truyền trên hệ thống truyền

thanh, các chợ, trung tâm thương mại, tuyên truyền lưu động v.v..) với những nội

dung phong phú, thiết thực như: cảnh báo những nguy cơ, nguyên nhân có thể dẫn

đến vi phạm pháp luật hành chính trong các lĩnh vực QLNN về bảo đảm TTATXH

như: an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, môi trường, ma túy,…

tại các cơ sở, địa bàn trọng điểm; đề xuất, tham mưu với cấp có thẩm quyền biểu

dương kịp thời người tốt, việc tốt trong việc thực hiện các quy định pháp luật

135

QLNN đối với XLVPHC.

4.3.3. Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố

cáo trong quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành

Công an nhân dân

Công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về

XLVPHC có ý nghĩa rất quan trọng trong nâng cao hiệu quả QLNN, giúp lực lượng

CAND nắm tình hình an ninh trật tự; từ đó, rút ra những ưu điểm, nhược điểm, khó

khăn hạn chế trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công an để có

biện pháp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.

Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của

pháp luật về QLNN đối với XLVPHC, lực lượng CAND cần nắm tình hình, căn cứ

vào các điều kiện thực tế cụ thể tại địa bàn, địa phương mình, tham mưu, đề xuất

với các cấp có thẩm quyền để tiến hành kiểm tra, thanh tra phù hợp. Bên cạnh đó,

ngành CAND cần chủ động tổ chức kiểm tra, thanh tra dưới các hình thức như kiểm

tra, thanh tra đột xuất, định kỳ, thường xuyên. Mỗi đợt kiểm tra, thanh tra cần có sự

chuẩn bị tốt về nhân sự, cán bộ, phương pháp, phương tiện và phải lập kế hoạch

kiểm tra cụ thể, chi tiết đối với từng đối tượng, địa bàn. Thông qua công tác kiểm

tra, thanh tra QLNN đối với XLVPHC, lực lượng CAND phát hiện các trường hợp

tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về XLVPHC thì căn

cứ vào tính chất, mức độ vi phạm để đề nghị biện pháp xử lý phù hợp; đồng thời,

chủ động cung cấp các thông tin, tài liệu cho các lực lượng, các ngành có liên quan

nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN về ANTT, TTATXH, tạo điều kiện cho

việc điều tra, khám phá các vụ án liên quan.

Trong công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật

QLNN đối với XLVPHC, lực lượng CAND cần xác định trọng tâm, trọng điểm,

tránh tình trạng hình thức, thiếu chiều sâu, coi trọng số lượng hơn chất lượng. Quá

trình tiến hành kiểm tra, thanh tra, ngành CAND cần có sự phối hợp giữa các lực

lượng chức năng để công tác kiểm tra đạt kết quả cao. Trên cơ sở đó, ngành CAND

chủ động đề xuất, tham mưu với cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp quản lý

136

phù hợp, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời

phục vụ có hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp

luật, bảo đảm an ninh trật tự, TTATXH. Bên cạnh đó, ngành Công an cần phối hợp

với các cơ quan chức năng thuộc Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan, Sở Tư

pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức kiểm tra, thanh tra pháp luật

về QLNN đối với XLVPHC tại đơn vị, địa phương trong và ngoài ngành Công

an nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các

quy định của pháp luật về XLVPHC trên lĩnh vực an ninh trật tự và trật tự xã hội

để nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao hiệu

quả công tác thi hành pháp luật về XLVPHC, góp phần bảo đảm an ninh trật tự,

TTATXH, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Lãnh đạo Công an các cấp cần định kỳ tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá

kết quả kiểm tra, thanh tra QLNN đối với XLVPHC để từ đó rút ra kinh nghiệm,

phát hiện những sơ hở, thiếu sót, vướng mắc để đề xuất hướng xử lý. Quyết định

khen thưởng, động viên kịp thời đối với cán bộ, chiến sĩ có thành xuất sắc trong

lĩnh vực này; đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm đối với các cán bộ, chiến sĩ

có sai phạm. Đối với vụ việc có khiếu nại, tố cáo thì Công an các đơn vị, địa

phương cần chủ động xác minh, củng cố hồ sơ để xem xét, giải quyết nhằm bảo

đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

4.3.4. Tăng cường kiện toàn tổ chức; nâng cao trình độ năng lực cán bộ;

tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, áp dụng khoa học kỹ thuật cho quản lý nhà nước

đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

Cơ quan quản lý công tác QLNN đối với XLVPHC tại Công an các đơn vị,

địa phương đang trong giai đoạn thành lập hoặc bước đầu hoàn thiện tổ chức nhân

sự. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1950/QĐ-TTg phê

duyệt “Đề án xây dựng tổ chức, bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản lý thống

nhất công tác thi hành pháp luật về XLVPHC của Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan

ngang bộ và các cơ quan tư pháp địa phương” nhưng phải đến hơn một năm sau

Cục Quản lý XLVPHC thuộc Bộ Tư pháp mới được lập; theo đó, năm 2015, Phòng

137

quản lý XLVPHC và theo dõi thi hành pháp luật mới được thành lập thuộc Cục

Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an. Tại Công an các đơn vị, địa

phương đều chưa được thành lập mà tổ chức thành bộ phận kiêm nhiệm thuộc

Phòng Pháp chế hoặc Đội Pháp chế thuộc Phòng Tham mưu. Do đó, cần phải tiến

hành hoàn thiện, tăng cường cán bộ QLNN đối với XLVPHC nhằm tăng cường đầu

mối giúp lãnh đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện việc QLNN và tổ chức

thi hành pháp luật về XLVPHC;

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ với những hiểu biết chuyên sâu pháp luật về

XLVPHC và khả năng quản lý, thực hiện các nhiệm vụ trong công tác quản lý thi

hành pháp luật về XLVPHC là một trong những thách thức không nhỏ đối với ngành

tư pháp nói chung, ngành Công an nói riêng. Luật XLVPHC và các nghị định quy

định chi tiết không chỉ những quy định về xử phạt VPHC trong tất cả các lĩnh vực

QLNN mà còn quy định về các biện pháp xử lý hành chính; số lượng chức danh

người có thẩm quyền xử phạt VPHC trong CAND rất nhiều; nội dung quản lý công

tác thi hành pháp luật trong CAND thuộc nhiều lĩnh vực và khá phức tạp, bao gồm

nhiều công việc từ xây dựng chương trình, kế hoạch, dự án, dự thảo văn bản quy

phạm pháp luật về XLVPHC cho đến việc thực thi những văn bản này. Vì vậy, để

xây dựng một đội ngũ cán bộ với hiểu biết chuyên sâu và năng lực quản lý tốt, cần

một sự nỗ lực rất lớn, không chỉ trong thời điểm hiện tại mà còn thời gian tiếp theo.

Để nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với XLVPHC ngành CAND trong

thời gian tới, yêu cầu đặt ra là phải kiện toàn đội ngũ cán bộ thực hiện công tác

QLNN đối với lĩnh vực này. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền phải chú trọng hơn

nữa việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực công tác của cán bộ chuyên

trách QLNN đối với XLVPHC; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ làm

nhiệm vụ QLNN về công tác QLNN đối với XLVPHC về kiến thức pháp luật và

chuyên môn nghiệp vụ, phổ biến, quán triệt những nội dung mới của các văn bản

quy phạm pháp luật có liên quan. Mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND thực hiện công tác

QLNN đối với XLVPHC phải tự học tập, nắm vững đường lối, chủ trương, chính

sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề có liên quan đến chức

138

năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự nâng cao ý thức trách nhiệm, chuyên môn

nghiệp vụ, chủ động phát hiện các vấn đề về an ninh trật tự, an toàn xã hội, ý thức

phục vụ nhân dân, không gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân.

- Về mặt nhận thức, cán bộ làm công tác QLNN đối với XLVPHC phải xác

định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác QLNN về an ninh

trật tự, an toàn xã hội, là cơ sở nền tảng để thực hiện các mặt công tác có liên quan

khác; hiệu quả từ việc thực hiện công tác này có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác

phòng ngừa, đấu tranh, phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh

trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, phải thường xuyên đổi mới cách thức, biện pháp

công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

- Về trình độ, năng lực, cán bộ làm công tác QLNN về XLVPHC phải được

đào tạo chuyên ngành pháp luật, quản lý hành chính về trật tự xã hội, có kỹ năng

giao tiếp, ứng xử tốt, làm tốt công tác tham mưu, phân tích, tổng hợp, đánh giá được

thực trạng QLNN đối với XLVPHC để có đề xuất phù hợp, được đào tạo, bồi dưỡng

về công nghệ thông tin..

Trong thời gian tới, cần chú ý rà soát, sắp xếp, bổ sung biên chế thực hiện

công tác QLNN về XLVPHC đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đồng đều,

phù hợp với tình hình nhiệm vụ được giao. Tăng cường công tác sơ kết, tổng kết,

tập huấn chuyên đề cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ thực hiện QLNN đối với

XLVPHC; tổ chức tốt các đợt kiểm tra, đánh giá chất lượng, qua đó, kịp thời rút

kinh nghiệm, khắc phục tồn tại, thiếu sót về công tác này trong thời gian qua.

Đối với bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện QLNN đối với

XLVPHC ngành CAND đạt hiệu quả thì việc bảo đảm các điều kiện cần thiết về

ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cũng như huy động các thành tựu khoa

học và công nghệ của nền kinh tế quốc dân phục vụ hiệu quả hoạt động QLNN

trong lĩnh vực này là rất quan trọng, góp phần bảo đảm an ninh trật tự, TTATXH và

phục vụ các chính sách quan trọng của Đảng, Nhà nước. Trong thời gian tới, để

tăng cường việc bảo đảm điều kiện cho QLNN đối với XLVPHC, lực lượng CAND

139

cần tập trung thực hiện tốt các công tác sau đây:

- Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền như Chính Phủ, Bộ Công an, Ủy ban nhân

dân các cấp .v.v.. tiếp tục quan tâm tới việc đầu tư ngân sách, trang bị thiết bị, phương

tiện kỹ thuật và các điều kiện vật chất, kỹ thuật khác phục vụ QLNN đối với XLVPHC.

Cụ thể, trong thời gian tới các lực lượng trong CAND cần đề xuất cấp có thẩm quyền bổ

sung trang bị máy vi tính, máy điện thoại, các loại tài liệu, sổ sách, phương tiện bảo

quản, lưu trữ tài liệu, hồ sơ,.. phục vụ công tác QLNN đối với lĩnh vực này.

- Ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến phục vụ công tác

QLNN về XLVPHC, bao gồm việc chuyển giao công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa

học và phát triển công nghệ; bảo đảm cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu, tư liệu

khoa học và công nghệ. Để thực hiện nhiệm vụ này, đơn vị chức năng của Bộ Công an

đang thực hiện những nghiên cứu để xây dựng phần mềm thống kê xử phạt VPHC

trong lĩnh vực an ninh trật tự, TTATXH. Việc xây dựng phần mềm này sẽ tạo điều kiện

thuận lợi cho Công an các đơn vị, địa phương thực hiện thống kê, báo cáo, cập nhật, tra

cứu, sử dụng số liệu, dữ liệu về XLVPHC nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, giúp nâng

cao hiệu quả công tác quản lý, theo dõi thi hành pháp luật về XLVPHC trong CAND.

4.3.5. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý

nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH của ngành CAND là hoạt động liên quan

đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, có tính chất phức tạp với phạm vi điều chỉnh rộng,

trên nhiều lĩnh vực QLNN. Chính vì vậy, việc chủ động xây dựng, hoàn thiện và

thực hiện tốt quy chế phối hợp trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

CAND với các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền xử phạt VPHC là điều hết

sức cần thiết. Hiện nay, các văn bản pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và sự phối hợp của ngành CAND với các ngành khác cũng có thẩm

quyền QLNN đối với XLVPHC đã được các cấp, các ngành, các cơ quan có thẩm

quyền ban hành, song chưa thực sự đầy đủ; các quy định về mối quan hệ phối hợp

giữa ngành Công an với các ban ngành khác mới chỉ tập trung nhiều vào các kế

hoạch phối hợp cụ thể của từng lực lượng, theo từng nội dung, thời gian, địa điểm;

140

trong khi đó, VPHC trong lĩnh vực TTATXH xảy ra thường xuyên, liên tục, phức

tạp, địa bàn rộng và tính chất ngày một phức tạp. Việc xây dựng quy chế phối hợp

giữa ngành CAND với các cơ quan, các ban ngành khác trong QLNN đối với

XLVPHC nhằm cùng thống nhất về nội dung, phương pháp cụ thể để huy động lực

lượng, phương tiện phối hợp phục vụ giải quyết theo yêu cầu có hiệu quả. Thực tế

cho thấy, quan hệ phối hợp giữa ngành CAND với các ban ngành khác trong QLNN

đối với XLVPHC còn mang tính thụ động do chưa có một cơ chế phối hợp một

cách rõ ràng, rành mạch. Điều này dẫn đến sự chỉ đạo thiếu tập trung, thống nhất,

đặc biệt là việc áp dụng trong thực tế các biện pháp xử phạt VPHC hoặc áp dụng

các biện pháp ngăn chặn nhằm bảo đảm XLVPHC, áp dụng các biện pháp xử lý

hành chính khác. Sự thiếu đồng bộ trong công tác chỉ đạo, phối hợp đã ảnh hưởng

không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả của QLNN đối với XLVPHC.

Để thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp giữa ngành CAND và các ban, ngành

khác cũng như phối hợp giữa các đơn vị chức năng ngành CAND, khi xây dựng cơ chế

phối hợp cần chú ý đến việc xác định vai trò của lực lượng chính trong quan hệ cần

phối hợp. Theo đó, giao trách nhiệm cho lực lượng có vai trò chính và chủ yếu thực

hiện việc đề xuất các kế hoạch triển khai thực hiện,kế hoạch phối hợp thực hiện trong

công tác nắm thông tin, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi VPHC,…

Trong quy chế phối hợp, cần định rõ ràng, cụ thể các vấn đề sau: nội dung, hình

thức, chủ thể quan hệ phối hợp; nhiệm vụ của các chủ thể quan hệ phối hợp; lực lượng

chịu trách nhiệm chính và lực lượng tham gia phối hợp; trách nhiệm pháp lý của các

chủ thể trong quan hệ phối hợp khi thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ yêu cầu

và nhiệm vụ trong quan hệ phối hợp; vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trong quan hệ phối hợp;

cơ chế giám sát của cơ quan, đơn vị cấp trên trực tiếp, liên quan,… Chỉ khi có quy chế

phối hợp cụ thể mới có cơ sở pháp lý đầy đủ để các chức danh có thẩm quyền xử phạt

thực hiện hoạt động phối hợp, tạo sự đồng bộ, thống nhất, tập trung, huy động kịp thời

lực lượng và phương tiện phục vụ cho hoạt động QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

ngành CAND.

Việc phối hợp giữa ngành Công an với các lực lượng ngoài ngành để thực hiện

141

QLNN đối với XLVPHC được thể hiện trên các phương diện sau:

- Phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan để nghiên cứu, đề xuất cấp có

thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm

pháp luật liên quan đến XLVPHC nhằm khắc phục vướng mắc, khó khăn trong quá

trình thực thi để nâng cao hiệu quả công tác QLNN trong các lĩnh vực, góp phần bảo

đảm ANTT, TTATXH..

- Phối hợp với Bộ Tư pháp để xây dựng các nghị định quy định chi tiết và biện

pháp thi hành Luật XLVPHC; đề xuất với cơ quan có thẩm quyền việc xây dựng,

hoàn thiện pháp luật về XLVPHC; tiến hành sơ kết, tổng kết tình hình thi hành pháp

luật về XLVPHC; hướng dẫn công tác phổ biến pháp luật về XLVPHC; hướng dẫn,

tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về XLVPHC; hướng

dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thực hiện pháp luật XLVPHC; xây dựng cơ

sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC; hướng dẫn việc quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở

dữ liệu về XLVPHC; thực hiện chế độ thống kê về XLVPHC.

- Phối hợp với ngành lao động, thương binh và xã hội, hải quan, kiểm lâm, an

toàn thực phẩm, kế hoạch và đầu tư .v.v.. trong việc thực hiện các cuộc vận động

lớn về xây dựng nếp sống văn hóa mới, phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật,

quản lý, giáo dục người vi phạm; nắm tình hình, trao đổi thông tin phục vụ cho việc

QLNN về XLVPHC; tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành thanh tra, kiểm

tra trên địa bàn được giao.

- Ngoài ra, lực lượng CAND còn phối hợp với cơ quan văn hóa, thông tin, các

cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức xã hội, các đoàn thể để tuyên truyền, vận

động quần chúng nhân dân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về

XLVPHC.

- Ngành CAND cần phối hợp với các cơ quan có chức năng XLVPHC để thực

hiện cơ chế chia sẻ và cung cấp thông tin về các đối tượng VPHC để việc xác định

các trường hợp VPHC nhiều lần, tái phạm để xem xét là tình tiết tăng nặng trong

XLVPHC hoặc tránh các trường hợp bị tạm giữ, tước quyền sử dụng giấy phép,

142

nhất là giấy phép lái xe, đăng ký phương tiện ở địa phương này thì đến địa phương

khác xin cấp lại dẫn đến hồ sơ xử lý bị tồn đọng, khó xử lý; phối hợp với các cơ

quan, tổ chức giúp đỡ, quản lý.

Đối với các đơn vị chức năng trong ngành CAND, việc phối hợp cần chú ý phải

tiến hành chủ động phối hợp thông qua chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực

hiện tốt những yêu cầu theo sự phân công, phân cấp, sự chỉ huy, chỉ đạo chặt chẽ của

Công an cấp trên, cụ thể như sau:

- Phối hợp giữa Công an các đơn vị, địa phương: Đây là mối quan hệ phối

hợp giữa các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, Công an các tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương để thực hiện chức năng QLNN trong các lĩnh vực, bảo đảm an

ninh trật tự, TTATXH; theo đó, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, Công an

các đơn vị, địa phương phối hợp với nhau trong việc cung cấp các thông tin, tài liệu,

hỗ trợ và tạo điều kiện để tiến hành công tác phòng ngừa, xử lý các hành vi phạm

tội, vi phạm pháp luật hành chính .v.v.. Việc phối hợp tập trung vào công tác quản

lý, kiểm tra, xử lý hành vi VPHC. Cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra cấp dưới

phát hiện và đấu tranh xử lý đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm quy định về

XLVPHC.

- Phối hợp giữa các lực lượng nghiệp vụ trong CAND như: CSQLHC về

TTXH, Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cảnh sát điều tra tội phạm về

ma túy, Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và tham nhũng, An ninh điều tra, các đơn

vị nghiệp vụ của lực lượng an ninh. Trong mối quan hệ này, các lực lượng ngành

Công an cần chủ động cung cấp các thông tin, tài liệu, hỗ trợ và tạo điều kiện cho

nhau tiến hành công tác phòng ngừa, xử lý các các hành vi phạm tội, vi phạm pháp

luật; đồng thời, phục vụ công tác nắm tình hình, thu thập tài liệu, củng cố hồ sơ…

- Phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành

nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về XLVPHC; phát động phong trào toàn

dân tham gia tố giác tội phạm, vi phạm pháp luật; tuyên truyền về vị trí, vai trò,

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng, cơ quan chức năng trong bảo

đảm an ninh trật tự, TTATXH. Ngành Công an phối hợp với các cơ quan truyền

143

thông tuyên truyền, phổ biến pháp luật về XLVPHC trên các phương tiện thông tin

đại chúng, phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức các cuộc tuyên truyền, vận

động quần chúng nhân dân tích cực tham gia, hỗ trợ cơ quan chức năng trong

QLNN đối với XLVPHC.

- Các lực lượng nghiệp vụ của ngành Công an cần phối hợp chặt chẽ với

nhau trong việc tổ chức triển khai QLNN đối với XLVPHC, tập trung vào các lĩnh

vực như quản lý cư trú, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật

tự, quản lý đại bàn để thực hiện các yêu cầu bảo đảm TTATXH; lĩnh vực bảo đảm

trật tự an toàn giao thông; phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; .…

4.3.6. Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về xử phạt vi phạm hành chính

phục vụ cho quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn

ngành Công an nhân dân

Theo quy định tại Điều 17 Luật XLVPHC thì một trong những nội dung của

quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC là quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia

về XLVPHC. Để thực hiện quy định này, ngày 30/3/2016 Chính phủ đã ban hành

Nghị định số 20/2016/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC.

Theo quy định tại Điều 20 của Nghị định nêu trên thì Bộ Công an trong phạm vi

chức năng, nhiệm vụ của mình chỉ đạo tổ chức việc cập nhật thông tin và chịu trách

nhiệm về độ chính xác, toàn vẹn các thông tin, dữ liệu; bảo đảm kết nối an toàn, tích

hợp dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC do Bộ Tư pháp xây dựng và

quản lý; chủ trì hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho

cán bộ, chiến sĩ kỹ năng thực hiện việc cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin, kỹ

năng khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC; bố trí đầy đủ cơ sở vật

chất, nhân lực đảm bảo cho việc phối hợp xây dựng, quản lý và duy trì Cơ sở dữ

liệu quốc gia về XLVPHC; bảo đảm an toàn tài khoản quản trị Cơ sở dữ liệu quốc

gia về XLVPHC được cấp; phối hợp với Bộ Tư pháp để thực hiện việc kết nối giữa

Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC. Để thực

hiện công tác này, trong thời gian tới các cơ quan chức năng của Bộ Công an cần

tham mưu, đề xuất với cấp có thẩm quyền xây dựng ban hành văn bản quy phạm

144

pháp luật điều chỉnh nội dung trên trong CAND theo hướng:

- Quy định cụ thể về xây dựng, quản lý và duy trì cơ sở dữ liệu về XLVPHC

trong CAND; trong đó, cần tập trung vào các nội dung như: Xây dựng Cơ sở dữ liệu

về XLVPHC trong CAND; Xây dựng các trường thông tin trong Cơ sở dữ liệu về

XLVPHC trong CAND, gồm: thông tin về đối tượng bị xử phạt VPHC; thông tin về

quyết định xử phạt VPHC; thông tin về việc thi hành quyết định xử phạt VPHC; thi

hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có); thông tin về việc áp

dụng biện pháp xử lý hành chính; thông tin về việc áp dụng biện pháp quản lý tại

gia đình…; Quy định cụ thể trách nhiệm cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin về

XLVPHC của Công an các đơn vị, địa phương; Quy định cụ thể về việc đính chính,

bổ sung, hiệu chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu về XLVPHC trong CAND; Quy

định cụ thể về lưu dữ liệu điện tử về XLVPHC; bảo đảm an toàn Cơ sở dữ liệu về

XLVPHC; quản lý tài khoản quản trị Cơ sở dữ liệu về XLVPHC; duy trì và nâng

- Quy định cụ thể về khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về XLVPHC trong CAND;

trong đó, cần tập trung vào các nội dung như: Các hình thức khai thác và sử dụng Cơ sở dữ

liệu về XLVPHC trong CAND; Đối tượng được khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu về

XLVPHC trong CAND; Kết nối Cơ sở dữ liệu về XLVPHC trong CAND với Cơ sở dữ

liệu về dân cư; Kết nối, tích hợp dữ liệu và truy cập thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia

về XLVPHC.

145

cấp, phát triển Cơ sở dữ liệu về XLVPHC trong CAND;

Kết luận Chương 4

QLNN đối với XLVPHC là nhiệm vụ mới, lần đầu tiên được quy định tại

Điều 17 Luật XLVPHC năm 2012. Những nội dung trọng tâm, cơ bản của nhiệm vụ

này được quy định cụ thể tại Chương II Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi

tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC. Đây đồng thời cũng là nhiệm

vụ mới đối với nhiều bộ, ngành và chính quyền các cấp. Trong điều kiện đất nước

đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập

kinh tế quốc tế, tích cực tham gia và là thành viên có trách nhiệm của nhiều hiệp

định thương mại tự do thế hệ mới (FTA), ngành Công an, với chức năng, nhiệm vụ

của mình đã đạt được những kết quả quan trọng. Công tác đấu tranh phòng, chống

các hành vi vi phạm pháp luật hành chính, tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội,

nhất là về quản lý hành chính về TTATXH, phòng cháy và chữa cháy, giao thông,

quản lý vũ khí, vật liệu nổ, kinh doanh có điều kiện, ma túy, mua bán người, sử

dụng công nghệ cao,… đạt và vượt chỉ tiêu đề ra, kiềm chế sự gia tăng của các hành

vi VPHC và kiềm chế sự gia tăng tội phạm, không để những vấn đề trật tự, an toàn

xã hội, tội phạm chuyển hóa thành các vấn đề an ninh quốc gia.

Tuy nhiên, QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành Công an cũng còn

tồn tại khá nhiều khó khăn, vướng mắc và tồn tại. Hệ thống pháp luật về QLNN đối

với XLVPHC trong lĩnh vực TTATXH tuy đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện

song vẫn còn thiếu cụ thể, đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu

tranh phòng, chống VPHC; các thủ tục hành chính còn rườm rà; công tác phát hiện,

XLVPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự và TTATXH đôi lúc còn chưa kịp thời, bị

lực lượng CAND bỏ lọt hành vi vi phạm, áp dụng chưa đúng quy định của pháp luật

XLVPHC; một bộ phận cán bộ, chiến sĩ CAND trực tiếp làm công tác phát hiện,

XLVPHC còn hạn chế về năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc, xử

lý chưa nghiêm các hành vi VPHC, thiếu sự chuẩn bị đầy đủ phương tiện, công cụ

được trang bị khi tiến hành công tác.,..

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận tại Chương 2, tình hình thực trạng về QLNN

đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, Chương 4 của Luận án đã đưa ra một

146

số quan điểm về tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là:

Đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng về mọi mặt về QLNN đối với

XLVPHC; quán triệt quan điểm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ vững chắc chủ quyền,

thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã

hội; đồng thời đề xuất một số giải pháp: tăng cường xây dựng và ban hành văn bản

quy phạm pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; tăng

cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải

quyết khiếu nại tố cáo trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND;

tăng cường kiện toàn tổ chức; nâng cao trình độ năng lực cán bộ; tăng cường đầu tư cơ

sở vật chất, áp dụng khoa học kỹ thuật cho QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành

147

CAND.

KẾT LUẬN

QLNN đối với XLVPHC là một trong lĩnh vực quan trọng của QLNN, là

một trong những điều kiện không thể thiếu để giữ gìn ổn định xã hội, ổn định chính

trị, phát triển đất nước. Nội dung chủ yếu của QLNN đối với XLVPHC là: xây

dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về QLNN đối với XLVPHC; tổ chức

thực hiện pháp luật XLVPHC; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về QLNN

đối với XLVPHC; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố

cáo trong QLNN đối với XLVPHC;

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục xác định

xây dựng, hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ

nghĩa là nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển nhanh, bền vững, phấn

đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để góp

phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, định hướng nêu trên, đòi hỏi công tác xây dựng,

hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với XLVPHC phải có những giải pháp toàn diện,

đồng bộ, khắc phục khó khăn, trở ngại cả trong nhận thức và công tác thực thi; theo

đó, các cơ quan chức năng, trong đó, có lực lượng CAND cần thể chế hóa kịp thời,

đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về bảo vệ an ninh trật tự, TTATXH.

Tình hình VPHC trong lĩnh vực TTATXH xảy ra mọi lúc, mọi nơi và gây

mất ổn định xã hội, tác động xấu đến quá trình phát triển kinh tế và giữ gìn

TTATXH. QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn của ngành Công an là hoạt động

được tiến hành thường xuyên, liên tục gắn với chức năng, nhiệm vụ của ngành

CAND, là một trong những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QLNN

trong lĩnh vực bảo đảm an ninh, TTATXH. QLNN đối với VPHC từ thực tiễn

ngành CAND trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu cơ bản, góp phần

quan trọng trong việc bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính nhà nước, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng chống có hiệu quả đối

với các hành vi VPHC và tội phạm trong thời kỳ mới; đồng thời tạo cơ sở pháp lý

đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt nam đã cam kết trong các

148

điều ước quốc tế, đáp ứng đòi hỏi của thực tế đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

trong giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động của tình hình

thế giới và tình hình trong nước, các hành vi VPHC, đặc biệt là VPHC trong lĩnh

vực an ninh trật tự và an toàn xã hội có chiều hướng ngày càng phức tạp, đa dạng và

thực sự chưa được kiểm soát và chưa được xử lý triệt để. Kết quả XLVPHC trong

lĩnh vực TTATXH còn gặp những hạn chế, khó khăn, vướng mắc về cơ sở pháp lý,

tổ chức thực hiện,… cùng với những tác động chủ quan, khách quan nên hiệu quả

xử lý các hành vi VPHC chưa cao, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh

trật tự và TTATXH cũng như sự ổn định chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội của

đất nước. Vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra một số kiến nghị, đề

xuất nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là

thực sự cần thiết.

Trong phạm vi nghiên cứu của mình, Luận án đã làm sáng tỏ những nội dung

sau đây:

1. Phân tích, làm rõ một số khái niệm có liên quan đến VPHC, XLVPHC;

QLNN đối với XLVPHC; cơ sở pháp lý, đặc điểm, mục tiêu, vai trò của QLNN đối

với XLVPHC.

2. Phân tích đặc điểm, tình hình có liên quan đến công tác QLNN đối với

XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; thực trạng QLNN đối với XLVPHC từ thực

tiễn ngành CAND; đánh giá về những kết quả đạt được và hạn chế trong QLNN đối

với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; phân tích nguyên nhân của những hạn chế

nêu trên.

3. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, dự báo tình hình có liên quan, đề tài đã đề

xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực

tiễn ngành CAND trong thời gian tới, bao gồm các giải pháp sau: tăng cường xây

dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về QLNN đối với XLVPHC từ thực

tiễn ngành CAND; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND; tăng cường hoạt động thanh

tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo trong QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

ngành CAND; tăng cường kiện toàn tổ chức; nâng cao trình độ năng lực cán bộ; tăng

149

cường đầu tư cơ sở vật chất, áp dụng khoa học kỹ thuật cho QLNN đối với XLVPHC

từ thực tiễn ngành CAND.

Những vấn đề được đưa ra và giải quyết trong đề tài mặc dù chưa thực sự

toàn diện, đầy đủ, song với các kết quả đã đạt được, đề tài cơ bản đáp ứng được yêu

cầu, nhiệm vụ nghiên cứu, là tài liệu tham khảo để tiếp tục hoàn thiện lý luận, pháp

luật và nâng cao hiệu quả công tác QLNN về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn

ngành CAND trong thời gian tới.

QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là một vấn đề phức tạp,

có phạm vi rộng, là một lĩnh vực nghiên cứu mới trong khi trình độ của nghiên cứu

sinh còn hạn chế. Do đó, luận án sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Nghiên

cứu sinh rất mong có được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học để luận án

150

được hoàn thiện hơn. Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn./.

151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu trong nước

1.

Nguyễn Ngọc Anh (2007), Một số vấn đề về xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, Nhà xuất bản Công an nhân

dân, Hà Nội.

2.

Nguyễn Ngọc Anh (2015), Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của

Công an nhân dân, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, 2015.

3. Nguyễn Ngọc Anh (2014), Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật xử lý vi

phạm hành chính, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội.

4.

Nguyễn Ngọc Anh (2014), Tìm hiểu Luật xử lý vi phạm hành chính

năm 2012, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.

5.

Nguyễn Ngọc Anh (2014), Tìm hiểu các quy định của pháp luật về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nhà

xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội.

6.

Nguyễn Ngọc Anh (2017), Bình luận quy định về xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Công

ty Cổ phần in Khoa học Công nghệ mới, Hà Nội.

7.

Đặng Anh (2009), Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành

chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.

8.

Ban chấp hành trung ương (2012), Chỉ thị số 18-CT/TW ngày

04/9/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo

đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội

địa và khắc phục ùn tắc giao thông, Hà Nội.

9.

Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về

Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến

năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.

152

10. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của

Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.

11. Bộ Công an (2014), Báo cáo số 4449/BCA-V19 ngày 29/12/2014

cung cấp thông tin công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành

chính năm 2014, Hà Nội.

12. Bộ Công an (2015), Báo cáo số 2688/BCA-V19 ngày 26/11/2015

cung cấp thông tin công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành

chính năm 2015, Hà Nội.

13. Bộ Công an (2016), Báo cáo số 2897/BCA-V19 ngày 28/12/2016

cung cấp thông tin công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành

chính năm 2016, Hà Nội.

14. Bộ Công an (2018), Báo cáo số 343/BCA-V03 ngày 01/02/2018 cung

cấp thông tin công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành

chính năm 2018, Hà Nội.

15. Bộ Công an (2019), Báo cáo số 411/BCA-V03 ngày 10/02/2019 về

việc tổng hợp kết quả công tác thi hành pháp luật về XLVPHC trong

lĩnh vực ANTT năm 2019, Hà Nội.

16. Bộ Công an (2017), Báo cáo số 406/BC-BCA ngày 13/9/2017 tổng

kết 04 năm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính trong Công an

nhân dân, Hà Nội.

17. Bộ Công an (2014-2018), Công văn về việc tổng hợp công tác thi

hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh,

trật tự, an toàn xã hội (các năm 2014, 2015, 2016, 2017, 6 tháng đầu

năm 2018), Hà Nội.

18. Bộ Công an - Bộ Giao thông vận tải (2011), Thông tư liên tịch số

08/2011/TT-BCA-BGTVT ngày 29/11/2011 quy định về phối hợp thực

hiện công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt, Hà Nội.

153

19. Bộ Công an - Bộ Giao thông vận tải (2013), Kế hoạch số

12593/KHPH-BGTVT-BCA ngày 21/11/2013 về phối hợp thực hiện

tuần tra kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm chở hàng vượt quá tải trọng

của xe ô tô, Hà Nội.

20. Bộ Công an - Bộ Giao thông vận tải (2016), Báo cáo số 305/BC-BCA-

BGTVT ngày 01/9/2016

tổng kết

thực hiện Kế hoạch số

12593/KHPH-BGTVT-BCA ngày 21/11/2013 về phối hợp thực hiện

tuần tra kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm chở hàng vượt quá tải trọng

của xe ô tô vận chuyển hàng hóa trên đường bộ và phương hướng

nhiệm vụ trong thời gian tới, Hà Nội.

21. Bộ Công an (2011), Thông tư 39/2011/TT-BCA ngày 21/6/2011 quy

định lực lượng Công an kiểm tra, xử lý vi phạm về bảo vệ kết cấu hạ

tầng giao thông đường bộ, Hà Nội.

22. Bộ Công an (2011), Thông tư 62/2011/TT-BCA ngày 07/9/2011 quy định

về hoạt động tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát đường thủy, Hà Nội.

23. Bộ Công an (2013), Thông tư số 37/2013/TT-BCA ngày 27/8/2013

quy định quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính

của Cảnh sát đường thủy, Hà Nội.

24. Bộ Công an (2015), Quyết định số 1727/QĐ-BCA ngày 07/4/2015

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của

Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Hà Nội.

25. Bộ Công an (2015), Quyết định số 2441/QĐ-BCA ngày 11/5/2015

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Hà Nội.

26. Bộ Công an (2016), Thông tư số 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016

quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát

giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông, Hà Nội.

154

27. Bộ Công an (2016), Thông tư 02/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 quy

định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính

trong lĩnh vực giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông, Hà Nội.

28. Bộ Công an (2016), Thông tư 03/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 quy

định về quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính trên

đường cao tốc của Cảnh sát giao thông, Hà Nội.

29. Bộ Công an (2016), Quyết định số 4169/QĐ-BCA này 29/9/2016

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của

Công an phường, Hà Nội.

30. Bộ Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam,

Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

Bộ Công an (2011), Viện Nghiên cứu chiến lược và Khoa học, Công

tác lý luận Công an nhân dân, Hà Nội.

31. Bộ Tư pháp (2014), Báo cáo số 66/BC-BTP ngày 20/3/2015 công tác

thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2014, Hà Nội.

Bộ Tư pháp (2014), Tìm hiểu Luật xử lý vi phạm hành chính, Nhà

xuất bản Tư pháp, Hà Nội.

32. Bộ Tư pháp (2017), Báo cáo tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành

chính, Hà Nội.

Bộ Tư pháp (2020), Báo cáo số 51/BC-BTP ngày 06/3/2020 về công tác

thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2019, Hà Nội.

33. Công an thành phố Cần Thơ (2017), Báo cáo số 169/BC-CATP-PV19

ngày 16/6/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính,

Cần Thơ.

34. Công an thành phố Hà Nội (2017), Báo cáo số 169/BC-CATP-PV19

ngày 16/6/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà

Nội.

155

35. Công an thành phố Hồ Chí Minh (2017), Báo cáo số 1956/BC-CATP-

PV19 ngày 17/8/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành

chính, thành phố Hồ Chí Minh.

36. Cục Cảnh sát giao thông (2010-2017), Báo cáo tổng kết công tác năm

(các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Hà Nội.

37. Cục Cảnh sát giao thông (2017), Báo cáo số 4531/BC-C67-P1 ngày

05/7/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.

38. Cục Cảnh sát giao thông (2017), Báo cáo số 5957/BC-C67-P13 ngày

26/9/2017 về công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã

hội của lực lượng Cảnh sát đường thủy, Hà Nội.

39. Cục Cảnh sát giao thông (2018), Báo cáo sơ kết công tác bảo đảm

trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội 6 tháng đầu năm 2018 của

lực lượng Cảnh sát giao thông, Hà Nội.

40. Cục Cảnh sát giao thông (2018), Kỷ yếu hội thảo khoa học công tác

tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông của

lực lượng Cảnh sát giao thông, những giải pháp nâng cao hiệu lực,

hiệu quả, Hà Nội.

41. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (2017), Báo

cáo số 3630/C66-P8 ngày 22/6/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi

phạm hành chính, Hà Nội.

42. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (2010-

2017), Báo cáo tổng kết công tác năm (các năm 2010, 2011, 2012,

2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Hà Nội.

43. Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (2018), Báo

cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của lực lượng Cảnh sát phòng

cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Hà Nội.

44. Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (2010-2017), Báo

156

cáo tổng kết công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội (các năm

2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Hà Nội.

45. Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (2018), Báo cáo sơ

kết công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội 6 tháng đầu năm

2018, Hà Nội.

46. Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an (2017),

Bình luận quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội.

48. Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội

(2012), Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh

sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội, Nhà xuất bản Công

an nhân dân, Hà Nội.

49. Tổng cục Cảnh sát (2017), Báo cáo số 2734/BC-C41-C42 ngày

18/8/2017 tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.

50. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2010), Nghị định số

73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội, Hà Nội.

51. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2012), Nghị định số

52/2012/NĐ-CP ngày 14/6/2012 quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy, Hà Nội.

52. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số

81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện

pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.

Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số

93/2013/NĐ-CP ngày 20/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực giao thông hàng hải, đường thủy nội địa, Hà

Nội.

157

53. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số

112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 quy định hình thức xử phạt trục

xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục

hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam

trong thời gian làm thủ tục trục xuất, Hà Nội.

54. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số

115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 quy định về quản lý, bảo quản

tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ; tịch thu theo

thủ tục hành chính, Hà Nội.

Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số

91/2013/NĐ-CP ngày 12/8/2013 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo

trong Công an nhân dân, Hà Nội.

55. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số

167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ

nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia

đình, Hà Nội.

56. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Nghị định số

171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội.

57. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2014), Nghị định số

79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số

điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy, Hà Nội.

58. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2014), Nghị định số

106/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, Hà Nội.

158

59. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2015), Nghị định số

132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, Hà Nội.

60. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2016), Nghị định số

46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội.

61. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2016), Nghị định số

96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự

đối với một số ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện, Hà Nội.

62. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2016), Nghị định số

99/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định về quản lý và sử dụng con

dấu, Hà Nội.

63. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2017), Nghị định số

97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của

Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một

số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.

64. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2018), Nghị định số

97/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2018 quy định chi tiết một số Điều và

biện pháp thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công

cụ hỗ trợ, Hà Nội.

65. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2018), Nghị định số

01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, Hà Nội.

66. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2017), Nghị định số

96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu của Bộ Tư pháp, Hà Nội.

Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2020), Nghị định số

159

67. 19/2020/NĐ-CP quy định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp

luật về xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.

68. Học viện Hành chính (2012), Tài liệu bồi dưỡng về “Quản lý hành

chính nhà nước” (Chương trình chuyên viên), Phần III “Quản lý nhà

nước đối với ngành, lĩnh vực”, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật,

Hà Nội.

69. Học viện Cảnh sát nhân dân (2016), Giáo trình Quản lý hành chính

về an ninh, trật tự, Hà Nội.

70. Nguyễn Duy Hùng - Hồ Trọng Ngũ (1997), “Bước đầu tìm hiểu về

quản lý nhà nước về an ninh trật tự”, Nhà xuất bản Công an nhân

dân, Hà Nội.

71. Học viện Hành chính (2013), Giáo trình “Quản lý nhà nước về an

ninh trật tự”, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

72. Vũ Huy Khánh (2017), Khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thi hành

Luật Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về an

ninh, trật tự và một số kiến nghị, đề xuất, Tạp chí Công an nhân dân,

Hà Nội.

73. Vũ Huy Khánh (2018), Quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý

vi phạm hành chính thuộc chức năng của Công an nhân dân, Đề tài

khoa học cấp Bộ, Hà Nội.

74. Trương Diệu Loan (2015), Giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt

VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo chức năng của lực

lượng Cảnh sát giao thông, Luận án tiến sĩ an ninh và trật tự xã hội,

Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

75. Dương Thanh Liêm (2019), “Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô

thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận án Tiến sĩ Luật học,

Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2019.

160

76. Nguyễn Thanh Liêm (2014), Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng

hình thức xử phạt trục xuất đối với hành vi vi phạm hành chính trên

lĩnh vực an ninh, trật tự, Tạp chí Công an nhân dân, Hà Nội.

77. Đinh Phan Quỳnh (2018),“Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Học viện

Khoa học xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2018.

78. Trần Đại Quang (2015), Khoa học Việt Nam, Nhà xuất bản Công an

nhân dân, Hà Nội.

79. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật

Thanh tra số 56/2012/QH12/ ngày 15/11/2010, Hà Nội.

80. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật

Phổ biến, giáo dục pháp luật số

81. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến

pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.

82. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật

phòng cháy và chữa cháy số 27/2001/QH10 ngày 29/6/2010, Hà Nội.

83. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Tổ

chức Chính phủ số /2013/QH13 ngày / /2013, Hà Nội.

84. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật

Công an nhân dân số /2014/QH13 ngày / /2014, Hà Nội.

85. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật

Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 ngày 15/6/2004, Hà

Nội.

86. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật

Đường sắt số 35/2005/QH11 ngày 14/6/2005, Hà Nội.

87. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật

Công an nhân dân số 54/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Hà Nội.

161

88. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật

Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 20/6/2008, Hà Nội.

89. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Xử

lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Hà Nội.

90. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật

Công an nhân dân số 73/2014/QH13 ngày 27/11/2014, Hà Nội.

91. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Luật

Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số

14/2017/QH14 ngày 20/6/2017, Hà Nội.

92. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018), Luật

Công an nhân dân năm

93. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020), Luật

sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số

/2020/QH13 ngày 20/6/2020, Hà Nội.

94. Lê Thế Tiệm (2001), Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về

trật tự an toàn xã hội trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

95. Trần Quốc Toàn (2017), Một số vấn đề về xây dựng cơ sở dữ liệu xử

lý vi phạm hành chính về an ninh, trật tự trong Công an nhân dân,

Tạp chí Công an nhân dân, Hà Nội.

96. Nguyễn Quốc Tuấn (2009), Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác

tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính góp phần bảo đảm

trật tự an toàn giao thông đường thuỷ nội địa, Đề tài khoa học cấp Bộ,

Hà Nội.

97. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành

chính số 44/2002/PL-UBTVQH10, Hà Nội.

98. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một

162

số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 04/2008/PL-

UBTVQH12, Hà Nội.

99. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1992), Từ điển Tiếng Việt, Trung

tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội.

100. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2005), Bình luận khoa học Pháp

lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà

Nội.

101. Vũ Quang Vinh (2012), Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của

lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội, Nhà

xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

102. Nguyễn Xuân Yêm (1998), Một số vấn đề quản lý nhà nước về An ninh

quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà

Nội.

103. Nguyễn Xuân Yêm (1999, tái bản), Một số vấn đề quản lý nhà nước về

An ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Nhà xuất bản Công an nhân

dân, Hà Nội.

104. Đặng Thanh Sơn (2014), Tìm hiểu pháp luật về các biện pháp xử lý

hành chính, Cục Xuất bản, Hà Nội.

II.

Tài liệu nước ngoài

105. C.Mac và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20(1995), Nhà xuất bản Chính

trị Quốc gia, Hà Nội.

106. 李 红 枫 (2013), 行 政 处 罚 证 据 原 理 研 究, 中 国 政 法 大 学

出 版 社.

107. V.T.Batychko (2008), Luật Hành chính (bản tiếng Nga),

108. M.M.RouGevin – Baville, Maitre des requetes qu Conseild’Etesde

France “La sanction en matiere administrative dans le droit

Francais, Rapport pre’sente’ pas”, Paris.

163

109. Trường Đại học Luật NewYork (Fam.Ct.1978) “Những nội dung cơ

bản của pháp luật Mỹ”, Nhà Xuất bản General Editor, NewYork (In

re Andre B., 405 NY.S.ed.977 tại 981).

110. Kikot (2012), Vi phạm hành chính, Viện Kinh tế và Luật Ivan

Kushnir.

111. Prof Grzegorz Lewocki

(2011), Poland’s

experience on

administrative sanctions, Workshop agenda to get feedback on

regulations on administrative sanctions in bill on handling of

administrative violations.

112. Prof. Sarah Biddulph (2011), Report on Types of administrative

penalty in China anh comments on bill on handling of administrative

violations of Vietnam, Law School, Melbourne University.

164

PHỤ LỤC

H1. Biểu đồ biểu diễn tình hình XPVPHC trong 06 tháng đầu năm 2020

Hình 2. Kết quả thi hành quyết định xử phạt hành chính trong 06 tháng đầu năm 2020

165

Hình 3. Thành phần các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong 06 tháng đầu năm 2020

Hình 4. Thành phần các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong 06 tháng đầu năm 2020

(Lưu ý: hình 3 và hình 4 có thể thay thế nhau, nên dùng Hình 4 sẽ rõ hơn trong nội dung này)

166

Hình 5. Các biện pháp xử lý hành chính 06 tháng đầu năm 2020

Năm 2019

H6. Biểu đồ biểu diễn tình hình XPVPHC trong năm 2019

167

Hình 7. Kết quả thi hành quyết định xử phạt hành chính trong năm 2019

Hình 8. Thành phần các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong năm 2019

168

Hình 9. Thành phần các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong năm 2019

(Lưu ý: hình 8 và hình 9 có thể thay thế nhau, nên dùng Hình 9 sẽ rõ hơn trong nội dung này)

Hình 10. Các biện pháp xử lý hành chính trong năm 2019

169

Bảng 2.2 TỔNG HỢP SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

Số vụ VPHC theo lĩnh vực

So sánh với cùng kỳ năm trước

STT

Năm

Số vụ VPHC

Số tiền phạt (tỷ đồng)

Giao thông

PCCC

Số vụ VPHC (%)

Số tiền phạt (%)

QLHC về TTXH 295.116

2010

6.879.018

6.575.340

8.562

1.783,16

1

2011

7.415.209

762.142

6.647.309

5.758

2.000,363

2

tăng 536.191 vụ (+ 7,8%)

tăng 217,203 tỷ (+ 12,18%)

2012

7.924.413

605.557

7.310.770

8.086

2.645,03

3

tăng 509.204 vụ (+ 6,9%)

tăng 644,667 tỷ (+ 32,23%)

2013

6.566.455

790.762

5.748.115

27.578

3.252,972

4

giảm 1.357.958 vụ (- 17,1%)

tăng 607,942 tỷ (+22,98%)

2014

5.415.756

299.472

5.097.060

19.224

3.146,523

5

giảm 1.150.699 vụ (- 17,5%)

giảm 106,449 tỷ (-3,27%)

2015

4.720.681

291.315

4.411.434

17.932

3.070,277

6

giảm 695.075 vụ (- 12,8%)

giảm 76,246 tỷ (-2,42%)

2016

4.787.097

284.206

4.483.225

19.666

2.918,312

7

tăng 66.416 vụ (+1,4%)

giảm 151,965 tỷ (-4,95%)

2017

4.596.743

322.847

4.253.454

20.442

2.895,366

8

giảm 190.354 vụ (-3,9%)

giảm 22,946 tỷ (-0,79%)

2.256.865

184.957

2.064.957

6.951

1.352,428

9

2018 (6 tháng)

50.562.237 100%

3.836.374 7,59%

46.591.664 92,14%

134.199 0,27%

giảm 56.280 vụ (-2,4%)

giảm 244,079 tỷ (- 15,29%)

Tổng cộng Tỷ lệ

23.064,431 (Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát giao thông)

170

Bảng 2.3 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

So sánh với cùng kỳ năm trước

STT

Năm

Số vụ VPHC

Số tiền phạt (tỷ đồng)

Số vụ VPHC (%)

Số tiền phạt (%)

1

2010

295.116

73,72

2

2011

762.142

92,7

3

2012

605.557

186

4

2013

790.762

217

5

2014

299.472

161

6

2015

291.315

165

7

2016

284.206

150

8

2017

322.847

145,4

9

184.957

74

2018 (6 tháng)

tăng 467.026 vụ (+ 158,3%) giảm 156.585 vụ (- 20,55%) tăng 185.205 vụ (+ 30,58%) giảm 491,290 vụ (- 62,1%) giảm 8.157 vụ (-2,72%) giảm 7.109 vụ (-2,44%) tăng 38,641 vụ (+ 13,6%) tăng 23.522 vụ (+ 14,6%)

18,98 tỷ (+ 25,75%) tăng 93,3 tỷ (+ 100,6%) tăng 31 tỷ (+ 16,67%) giảm 56 tỷ (- 25,8%) tăng 4 tỷ (+ 2,5%) giảm 15 tỷ (- 9,1%) giảm 4,6 tỷ (- 3,1%) tăng 1 tỷ (+ 1,37%)

Tổng cộng

1.264,82

3.836.374 Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội

171

Bảng 2.4 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI CHIA THEO LĨNH VỰC (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

Chia theo lĩnh vực (số vụ VPHC)

STT

Năm

Tổng số vụ VPHC

Cư trú

Khác

Số tiền phạt (tỷ đồng)

TTCC- TTATGTĐT

Vũ khí - VLN - CCHT

Ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT

1 2 3 4 5 6 7 8

295.116 762.142 605.557 790.762 299.472 291.315 284.206 322.847

9.307 4.684 9.361 16.983 16.802 13.456 9.300 13.482

3.137 3.186 3.107 731 285 284 114 139

19.788 21.423 45.768 16.266 24.094 10.516 3.257 2.804

254.461 728.003 536.189 724.266 257.441 264.957 269.653 302.757

73,72 92,7 186 217 161 165 150 145,4

8.423 4.846 11.132 32.516 850 2.102 1.882 3.665

9

184.957

1.767

147

14.642

163.525

74

4.876

2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 (6 tháng)

3.836.374 100%

11.130 0,29%

95.142 2,48%

158.558 4,14%

1.264,82

70.292 1,83%

Tổng cộng Tỷ lệ

3.501.252 91,26% Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội

172

Bảng 2.5 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

Số vụ VPHC theo lĩnh vực

So sánh với cùng kỳ năm trước

STT

Năm

Tổng số vụ VPHC

Số tiền phạt (tỷ đồng)

Đường bộ

Đường sắt

Số vụ VPHC (%)

Số tiền phạt (%)

Đường thủy nội địa

2010

1

140

2011

2

82

2012

3

1.771

2013

4

1.858

2014

5

1.976

2015

6

5.244

2016

7

9.563

2017

8

14.236

9

6.575.340 6.647.309 7.310.770 5.748.115 5.097.060 4.411.434 4.483.225 4.253.454 2.064.957

2018 (6 tháng)

1.699.49 1.898.943 2.446.03 3.014.35 2.958.088 2.872.889 2.730.836 2.695.36 1.262.961

7.660

tăng 71.969 vụ (+ 1,2%) tăng 663.461 vụ (+ 9,98%) giảm 1.562.655 vụ (- 21,37%) giảm 651.055 vụ (- 13,45%) giảm 685.626 vụ (- 13,45%) tăng 71.791 vụ (+1,63%) giảm 229.771 vụ (- 5,13%) giảm 179.159 vụ (- 7,98%)

tăng 199,453 tỷ (+ 11,74 %) tăng 547,087 tỷ (+ 28,81%) tăng 568,32 tỷ (+ 23,23%) giảm 56,262 tỷ (- 1,87%) giảm 82,199 tỷ (- 2,88%) giảm 142,053 tỷ (- 4,94%) giảm 35,476 tỷ (-1,3%) giảm 237,765 tỷ (- 15,84%)

Tổng cộng

46.591.664 100%

6.362.907 6.433.922 7.102.156 5.536.203 4.883.692 4.195.258 4.250.114 4.032.822 1.966.376 44.763.450 96.08%

Tỉ lệ %

21.578.947

212.293 213.305 206.843 210.054 211.392 210.932 223.548 206.396 90.921 1.785.684 3.79%

42.530 0.13%

173

Bảng 2.6 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

Tạm giữ phương tiện giao thông

STT Năm

Số vụ VPHC

Tước GPLX

Tổng số

Ô tô

Mô tô

Khác

Số tiền phạt (tỷ đồng)

2010

1

1.601

700.491

12.912

2011

2

1.792.9

559.236

4.063

2012

3

6.362.907 6.433.922 7.102.156

2.331

226.695 275.666 378.439

739.715 587.580 711.993

26.312 24.281 25.368

679.527

7.098

2013

4

5.536.203

2.901.88

449.223

654.105

31.407

609.945

12.753

tăng 570,88 tỷ (+ 24,8%)

2014

5

601.332

11.835

2015

6

552.528

13.827

2.838.597 2.750.2

2016

7

2.597.242

616.162

13.225

2017

8

4.883.692 4.195.258 4.250.114 4.032.822

2.560.075

403.055 354.189 374.026 350.927

644.966 596.110 680.851 632.078

31.799 29.755 51.464 39.074

585.187

7.817

So sánh với cùng kỳ năm trước Số tiền phạt Số vụ VPHC (%) (%) tăng 259 tỷ tăng 733.272 vụ (+ 19,3%) (+ 13,8%) tăng 191,9 tỷ tăng 107.015 vụ (+ 12%) (+ 1,68%) tăng 538,1 tỷ tăng 688.234 vụ (+ 30,01%) (+ 10.38%) giảm 1.565.953 vụ (- 22%) giảm 652.511 vụ (- 11,7%) giảm 668.434 vụ (- 14%) tăng 54.856 vụ (+ 1,31%) giảm 217.292 vụ (- 5,11%)

9

1.966.376

1.196.768

164.697

313.137

20.780

288.193

4.164

giảm 163.402 vụ (- 7,67%)

giảm 63 tỷ (- 2,17%) giảm 87,95 tỷ (- 3.09%) giảm 87,95 tỷ (- 5,58%) giảm 37.167 tỷ (- 1,43%) giảm 234,715 tỷ (- 16,39%)

2018 (6 tháng)

Tổng cộng

44.763.450

20.569.662

2.976.917

5.560.535

280.240

5.192.601

87.694

174

175

Bảng 2.7 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

So sánh với cùng kỳ năm trước

STT

Năm

Số vụ VPHC

Số tiền phạt (tỷ đồng)

Số vụ VPHC (%)

Số tiền phạt (%)

1

2010

0.062

140

2

2011

0.043

82

3

2012

0.39

1.771

4

2013

0.42

1.858

5

2014

0.597

1.976

6

2015

1.359

5.244

7

2016

2.066

9.563

8

2017

3.137

14.236

9

2.158

2018 (6 tháng)

giảm 58 vụ (- 41,4%) tăng 951 vụ (+ 115,97%) tăng 87 vụ (+ 4,91%) tăng 118 vụ (+6,35%) tăng 3.268 vụ (+ 165,38%) tăng 4.319 vụ (+ 82,36%) tăng 4.673 vụ (+ 48,86%) tăng 3.408 vụ (+ 80,15%)

7.660

giảm 19 triệu (- 30,6%) tăng 347 triệu (+ 806,9%) tăng 30 triệu (+ 7,69%) tăng 159,3 triệu (+ 37,94%) tăng 780 triệu (+ 134,57%) tăng 707 triệu (+ 52%) tăng 1.071 triệu (+ 51,84%) tăng 1.118 triệu (+ 107,5%)

Tổng cộng

10.232

42.530

Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát giao thông

176

Bảng 2.8 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG (Từ năm 2010 đến 31/5/2008)

So sánh với cùng kỳ năm trước

STT

Năm

Số vụ VPHC

Số tiền phạt (tỷ đồng)

Số vụ VPHC (%)

Số tiền phạt (%)

Tước bằng, chứng chỉ lái tàu

Đình chỉ phương tiện hoạt động

1

2010

212.293

98.428

224

751

2

2011

213.305

106

232

502

3

2012

206.843

114.640

124

589

4

210.054

112.050

2.342

2013

159

5

2014

211.392

118.894

171

659

6

2015

210.932

121.330

74

459

7

2016

223.548

131.528

45

838

8

2017

206.396

132,148

18

507

9

16

29

6/2018

90.921

64.035

giảm 10,528 vụ (-4,7%) tăng 1,013 vụ (+ 0,47%) giảm 6.462 vụ (-3,03%) tăng 3.211 vụ (+ 1,57%) tăng 1338 vụ (+ 0,63%) giảm 460 vụ (-0,22%) tăng 12.616 vụ (+ 5,98%) giảm 17.152 vụ (- 7,67%) giảm 19,165 vụ (-17,41%)

giảm 6,83 tỷ (-6,5%) tăng 7,572 tỷ (+ 7,7%) tăng 8,64 tỷ (+8,15%) giảm 2,59 tỷ (-2,25%) tăng 6,844 tỷ (+6,11%) tăng 2,436 tỷ (+ 2,05%) tăng 10,198 tỷ (+8,41%) tăng 620 triệu (+0,47%) giảm 4,168 tỷ (-6,11%)

999.053

Tổng cộng

1.785.684

823

6.713

(Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát giao thông)

177

Bảng 2.9 SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH CHÁY, NỔ (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

Số vụ cháy, nổ

Thiệt hại

STT

Năm

Số người chết

Số người bị thương

Tài sản (tỷ đồng)

Cháy

Nổ

1 2 3 4 5 6 7 8

2.231 1.764 1.906 2.624 2.375 2.792 3.006 4.074

29 25 29 35 42 35 23 21

246 245 186 304 173 305 228 227

618,3 572.042 1.114,6 1.656,148 1.310,51 1.499,196 1.241,53 2.124,164

84 84 84 108 119 74 105 107

9

2.024

16

151

1.303,306

68

2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 (6 tháng)

Tổng cộng

22.796 255

255

2.065

11.439,796

833

Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ

178

Bảng 2.10 SỐ LIỆU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN, CỨU HỘ (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

So sánh với cùng kỳ năm trước

STT

Năm

Số vụ VPHC

Số tiền phạt (tỷ đồng)

Đình chỉ hoạt động

Số vụ VPHC (%)

Số tiền phạt (%)

Tạm đình chỉ hoạt động

1

2010

8.562

9,95

2

9

2

2011

5.758

8,72

12

17

3

2012

8.086

13

27

29

4

2013

27.578

21.622

20

69

5

2014

19.224

27.435

18

28

6

2015

17.932

32.388

12

25

7

2016

19.666

37.476

4

99

8

2017

20.442

54.606

173

258

9

6/2018

6.951

15.467

0

0

Tổng cộng

134.199

220.664

273

534

tăng 1.328 vụ (+ 18,36%) giảm 1.901 vụ (- 22,2%) tăng 2.328 vụ (+ 40,43%) tăng 19.492 vụ (+241%) giảm 8.354 vụ (-30,3%) giảm 1.292 vụ (-6,72%) tăng 1.734 vụ (+9,7%) tăng 776 vụ (+ 3,9%) tăng 158 vụ (+ 2,3%)

tăng 0,85 tỷ (+9,34%) giảm 1,23 tỷ (- 12,4%) tăng 4,28 tỷ (+ 49,1%) tăng 8,622 tỷ (+ 66,3%) tăng 9,61 tỷ (+ 44,4%) tăng 4,953 tỷ (+ 18,05%) tăng 5,079 tỷ (+ 15,7%) tăng 17,13 tỷ (+ 45,7%) giảm 7.314 tỷ (- 32,1%)

Nguồn cung cấp: Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ

179

Bảng 2.11 TỔNG HỢP SỐ LIỆU TỈNH HÌNH THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN (Từ năm 2010 đến 31/5/2018)

Tổng số QĐ XPVPHC chia theo lĩnh vực

Năm

Số QĐ XPVPHC bị khiếu nại

Tổng số QĐ trong lĩnh vực

Số QĐ XPVPHC được hoãn, miễn, giảm thi hành tiền phạt

Số QĐ XPVPHC bị cưỡng chế thi hành

QÐ XPVPHC trong lĩnh vực PCCC

QÐ XPVPHC trong lĩnh vực QLHC về XPVPHC

QÐ XPVPHC trong lĩnh vực giao thông

2010

6.879.018

295.116

6.575.340

8.562

4.856

816

47

2011

7.415.209

762.142

6.647.309

5.758

6.132

1.125

52

2012

7.924,413

605.557

7.310.770

7.310.770

3.549

942

20

2013

6.566.455

790.762

5.748.115

27.578

5.764

239

15

2014

5.415.756

299.472

5.097.060

19.224

9.255

381

37

2015

4.720.681

291.315

4.411.434

17.932

7.494

423

32

2016

4.787.097

284.206

4.483.225

19.666

8.083

319

35

2017

4.596.743

322.847

4.253.454

20.442

4.079

1.014

45

2018

2.256.865

184.957

2.064.957

6.951

1.985

507

21

51.197

5.766

Tổng số

50.562.237

3.836.374

46.591.664

304

134.199 Nguồn cung cấp: Cục C06, C07, C08

180