intTypePromotion=1

Quan niệm về tự do của con người trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh

Chia sẻ: ViVatican2711 ViVatican2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
30
lượt xem
4
download

Quan niệm về tự do của con người trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Là triết học phi duy lý, chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh tính độc đáo của nhân vị và tự do của cá nhân đối lập với đoàn nhóm, với sự đồng dạng phổ biến và xã hội đại chúng đề cao duy lý. Triết thuyết này dựa trên quan điểm cho rằng tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý nghĩa và khái niệm cuộc sống của mình, phải tạo ra được một bản sắc riêng cho mình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quan niệm về tự do của con người trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN SAIGON UNIVERSITY<br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC SCIENTIFIC JOURNAL<br /> ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY<br /> Số 64 (4/2019) No. 64 (4/2019)<br /> Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn<br /> <br /> <br /> <br /> QUAN NIỆM VỀ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI<br /> TRONG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH<br /> The notion of human freedom in educational philosophy of existentialism<br /> <br /> ThS. Trần Thị Thảo<br /> Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM<br /> <br /> <br /> Tóm tắt<br /> Là triết học phi duy lý, chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh tính độc đáo của nhân vị và tự do của cá nhân đối<br /> lập với đoàn nhóm, với sự đồng dạng phổ biến và xã hội đại chúng đề cao duy lý. Triết thuyết này dựa<br /> trên quan điểm cho rằng tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý nghĩa và khái niệm cuộc<br /> sống của mình, phải tạo ra được một bản sắc riêng cho mình. Giáo dục là phương thức hữu hiệu nhất để<br /> đào tạo ra những con người có bản sắc riêng. Theo các nhà hiện sinh, giáo dục mang sứ mệnh khai phóng<br /> ý thức và trách nhiệm của con người về chính nhân vị và sự tự do của họ. Với những nhận định đó, bài<br /> báo nhằm mục đích làm rõ quan niệm về tự do trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh.<br /> Từ khóa: chủ nghĩa hiện sinh, tự do, giáo dục<br /> Abstract<br /> Existentialism can be considered a type of irrationalism which emphasizes the individual’s uniqueness<br /> and freedom, in opposition to a group, common unity or mass society appreciating rationalism. This<br /> school of philosophy relies on the notion that all people are thoroughly responsible for the meaning and<br /> concept of their own life. Education is the most effective way to train people with their own identity.<br /> Existentialists believe that education has the mission to launch people’s consciousness and<br /> responsibility for humanity and their freedom. This paper is an attempt to clarify the notion of freedom<br /> in existentialist educational philosophy.<br /> Keywords: existentialism, freedom, education<br /> <br /> <br /> <br /> Đặt vấn đề Xuất phát từ việc đề cao tự do của con<br /> Chủ nghĩa hiện sinh là một trong người, các triết gia hiện sinh đem lại nhiều<br /> những trào lưu có ảnh hưởng nhất định của gợi ý về mặt giáo dục cho nền giáo dục<br /> triết học phương Tây thế kỷ XX, đặc biệt là hiện đại. Vào những năm 50 của thế kỷ<br /> trong và sau Thế chiến thứ hai. Đây là triết XX, một số nhà giáo dục học phương Tây<br /> thuyết chống lại triết lý truyền thống, đặc đã vận dụng những tư tưởng triết lý giáo<br /> biệt là chống lại những nỗ lực đã được thực dục hiện sinh vào việc xây dựng triết học<br /> hiện để tạo ra các hệ thống tư duy trật tự và giáo dục, đánh dấu sự ra đời của một<br /> trừu tượng. trường phái mới trong giáo dục - Giáo dục<br /> Email: thaonguyen310@gmail.com<br /> 102<br /> TRẦN THỊ THẢO TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN<br /> <br /> <br /> hiện sinh (Existentialist Education). động, không còn huyền bí, thần thánh nữa.<br /> Nội dung Hơn nữa, con người với tư cách là chủ thể<br /> 1. Từ quan điểm tự do đến triết lý còn có thể thấy rằng sự vật không có khả<br /> giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh năng cưỡng bức con người phải công nhận<br /> Các nhà hiện sinh không viết về giáo nó như thế này hay thế kia. Thậm chí, tính<br /> dục chính thức và toàn diện. Người ta có chủ thể còn giúp con người không bị áp<br /> thể chỉ suy luận quan niệm của giáo dục bức, thôn tính bởi tha nhân, giúp con người<br /> thông qua triết học của họ. Đặc biệt, thông dám nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống, bỏ<br /> qua cái nhìn của họ về tính chủ thể và sự vào ngoặc những ý tưởng trừu tượng phi<br /> tự do lựa chọn và trách nhiệm, họ nhấn thực tế.<br /> mạnh đến tính tích cực của cá nhân, của sự Về sự tự do lựa chọn và trách nhiệm<br /> khác biệt về phương pháp giáo dục. đối với sự lựa chọn: Theo các nhà hiện<br /> Về tính chủ thể, dù khác nhau về lập sinh, nếu cần định nghĩa người thì người<br /> trường bản thể luận nhưng các nhà hiện đầu tiên không là gì cả, về sau có thành cái<br /> sinh đều gặp nhau ở chỗ đề cao chủ thể gì thì là do sự lựa chọn của tự do. Tự do là<br /> tính của con người và xem đó là nền tảng hữu, là bản thể của hiện hữu nhân loại, của<br /> của tự do. Theo Jean – Paul Sartre: “Điều cá nhân. Con người không thể chối bỏ<br /> rắc rối là có hai loại hiện sinh […] Điểm được điều đó bởi lẽ như vậy là từ chối vị trí<br /> chung giữa họ chỉ là ở chỗ họ cho rằng căn bản của đời mình. Tự do là cái được<br /> hiện hữu đi trước bản chất hay nói cách phán quyết cho con người. Do đó, con<br /> khác, họ xuất phát từ tính chủ thể” (Sartre, người không phải được tự do mà bị tự do.<br /> 2015, tr. 27 – 28). Trong tác phẩm kinh điển của mình, Hữu<br /> Để giải thích về chủ thể tính, Sartre thể và vô thể, Sartre đã tuyên bố: “Thực ra,<br /> khẳng định: “Con người không chỉ tồn tại chúng ta là một tự do để lựa chọn, nhưng<br /> như nó được quan niệm, mà còn tồn tại chúng ta không chọn được tự do: chúng ta<br /> như nó muốn thể hiện; và vì nó được quan bị lên án phải tự do (Sartre, 2014, tr. 530).<br /> niệm sau khi có sự hiện hữu, và nó muốn Sự kết án ấy bắt nguồn từ thực tế rằng<br /> tỏ ra sau khi có cái đà ấy hướng tới sự hiện con người bị ném vào tự do. Vì vậy con<br /> hữu, nên con người không là gì khác ngoài người hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn,<br /> những gì mà nó tự tạo nên. Đó là nguyên lựa chọn hành vi, lựa chọn thái độ sống và<br /> tắc đầu tiên của thuyết hiện sinh. Đó cũng ý nghĩa cuộc đời của mình, bởi vì “Tôi là<br /> là điều người ta gọi là tính chủ thể” (Sartre, người, và mỗi người phải sáng tạo nên<br /> 2015, tr. 33). đường đi của chính mình” (Sartre, 1967, tr.<br /> Tính chủ thể là điểm xuất phát cho sự 127).<br /> tự do của con người. Con người như một Nhà hiện sinh đích thực không cho<br /> tồn tại giữa vũ trụ, nhưng xét ở khía cạnh phép họ đi theo một khuôn phép nhất định<br /> văn hóa, nó có thể vươn vượt lên trên vũ nào. Mỗi một cá nhân đều có quyền lựa<br /> trụ. Con người vừa gán cho vũ trụ những chọn cho mình một cách sống, một thái độ<br /> giá trị như mình muốn, vừa tự quy định sống, một bản chất sống không giống bất<br /> một cách tự do. Khi con người ý thức được kỳ ai, tức có ý thức để trở thành hiện sinh -<br /> chủ thể của mình, thì vũ trụ trở thành thụ tôi phải tự định đoạt số phận của tôi. Mọi<br /> <br /> <br /> 103<br /> SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 64 (4/2019)<br /> <br /> <br /> thứ luân lý đối với nhà hiện sinh đều là vô của con người.<br /> nghĩa nếu như nó bị khước từ tự do. Tự do Như vậy, có thể nói, trong tư tưởng tự<br /> là động lực của mọi thay đổi khi con người do của chủ nghĩa hiện sinh lựa chọn và<br /> đã nhận ra tự do của họ. Bản chất của con trách nhiệm (đối với tự do) là yếu tố quan<br /> người sẽ được khai lộ trong chính lựa chọn trọng nhất. Trách nhiệm không phải là sự<br /> của họ. Trong từng hoàn cảnh, từng điều sao chép lại tự do. Tự do là cái vốn có của<br /> kiện, từng giai đoạn sống con người sẽ có mỗi người, hoàn toàn không nhất thiết phải<br /> những lựa chọn để tạo tác nên chính bản được cấy ghép vào mỗi cá nhân riêng biệt<br /> thân mình. để rồi qua đó, cá nhân này bỗng dưng lại bị<br /> Tự do trong quan niệm của chủ nghĩa cô lập khỏi những người khác. Sartre đã<br /> hiện sinh là tự do lựa chọn, nhưng không lập luận: “Khi nói rằng con người tự mình<br /> tùy tiện mà gắn liền với trách nhiệm. Trách lựa chọn, thì chúng tôi hiểu rằng mỗi người<br /> nhiệm đối với sự lựa chọn tự do được xem trong chúng ta tự mình lựa chọn, nhưng<br /> xét từ những giác độ sau: qua đó, chúng tôi cũng muốn nói rằng,<br /> Một là, con người khi đã hiện hữu, đã trong khi tự mình lựa chọn ta lựa chọn tất<br /> lựa chọn thái độ hiện sinh của mình thì phải cả mọi người” (Sartre, 2015,tr.35). Với<br /> chịu trách nhiệm về sự lựa chọn bản chất nghĩa đó, mỗi người đều phải chịu trách<br /> hiện sinh của mình. Người hiện sinh dùng nhiệm về mọi người, đều phải lựa chọn con<br /> tự do để lựa chọn, định đoạt cuộc đời mình. người nói chung, lựa chọn mô hình con<br /> Mỗi quyết định là mỗi giá trị hiện sinh vì người. Theo chúng tôi, điều quan trọng là,<br /> mỗi một quyết định đó đều đòi hỏi một tinh khi tiến hành sự lựa chọn của mình, con<br /> thần trách nhiệm cao cả. Người hiện sinh là người không hành động một cách mù<br /> con người tự do siêu việt mà không một thế quáng, mà tuân thủ kết quả triết lý của<br /> lực nào có thể đe dọa, vây hãm. Họ là mình. Con người lựa chọn hình ảnh không<br /> những con người tự do đích thực khi đã tự những của bản thân mình, mà còn của<br /> đảm nhiệm hành động của mình. những người khác nhờ chính kết quả triết<br /> Hai là, khi đưa ra lựa chọn thì con lý đó.<br /> người không chỉ có trách nhiệm trước bản Để con người có được tự do, Theo các<br /> thân, mà còn trước người khác và trước nhà hiện sinh, giáo dục đóng vai trò quan<br /> toàn xã hội về sự lựa chọn đó. Khi chúng trọng trong việc làm cho con người nhận<br /> ta lựa chọn hành động như thế này hay như thức được tự do của mình và tự thiết kế<br /> thế khác, thì chúng ta đã khẳng định giá trị mình thành con người tự do. Theo<br /> của điều mà chúng ta đã chọn. Kierkegaard, giáo dục hiện sinh tập trung<br /> Ba là, con người phải chịu trách vào mục đích làm cho người trở thành<br /> nhiệm đến cùng về sự lựa chọn của mình chính bản thân nó, tự do, độc lập. Muốn<br /> cho dù kết quả của nó có như thế nào, là vậy các cá nhân chỉ có thể lấy sự lựa chọn<br /> thành hay bại. Trách nhiệm đeo bám con tồn tại của riêng mình và sau đó ghi lại sự<br /> người suốt cả cuộc hành trình của cõi nhân thật tồn tại hoặc chủ quan trong cuộc sống<br /> sinh, không vì cái gì mà từ bỏ nó, không vì riêng của họ. Vấn đề là cá nhân không thể<br /> một sự thỏa hiệp nào mà chối bỏ nó, nó là sống bằng trải nghiệm của người khác. Vì<br /> định mệnh của con người, gắn với tự do vậy chủ nghĩa hiện sinh đề cập một quan<br /> <br /> <br /> 104<br /> TRẦN THỊ THẢO TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN<br /> <br /> <br /> điểm giáo dục hướng tới sự khai phóng tự thân con người. Sartre đã tuyên bố rằng:<br /> do con người cá nhân cụ thể. “Con người không là gì khác ngoài dự<br /> a. Về mục đích giáo dục phóng của mình, nó chỉ tồn tại trong giới<br /> Đối với các nhà hiện sinh, mục đích hạn nó hiện thực hóa bản thân, vì vậy con<br /> của giáo dục là cung cấp trải nghiệm sâu người không là gì khác ngoài toàn bộ các<br /> rộng và toàn diện với cuộc sống dưới mọi hành vi của mình, không có gì khác ngoài<br /> hình thức, là cho phép mỗi cá nhân tự phát đời sống của nó” (Sartre, 2015, tr.58).<br /> triển tiềm năng đầy đủ nhất của mình để tự Do đó, giáo dục hiện sinh đảm nhận<br /> hoàn thành. Do đó, mục đích giáo dục hiện trách nhiệm đánh thức mỗi cá nhân về sức<br /> sinh bao gồm những vấn đề sau: mạnh của bản thân mình (xác định bản thân<br /> Phát triển bản thân đích thực của là hiện tượng của nhận thức về tính chủ<br /> người học thể). Hiện sinh đề cao phương pháp học tập<br /> Các nhà hiện sinh cho rằng con người trong đó đặc điểm và giá trị của bản thân<br /> không chỉ là trí tuệ, mà còn là cảm giác và được truyền đạt một cách có ý nghĩa.<br /> cảm xúc. Do đó, người học phải học cách Chuẩn bị cho con người đối mặt với bi<br /> cảm nhận, để trở thành một “cá nhân được kịch của cuộc sống<br /> chứng thực”. Mối quan tâm chính của chủ Mỗi cá nhân phải đối mặt với nhiều<br /> nghĩa hiện sinh là sự tồn tại của “bản thân”. tình huống bi thảm trong cuộc sống của<br /> Sartre giải thích hai dạng của tồn tại đó là mình. Sự kiện bi thảm quan trọng nhất và<br /> tồn tại tự thân và tồn tại vị thân. Tồn tại tự không thể tránh khỏi là cái chết. Theo<br /> thân là dạng tồn tại trong chính hiện trạng Heidegger con người là một tồn tại hướng<br /> thực tế của nó còn tồn tại vị thân là dạng đến cái chết. Một trong những mục tiêu<br /> tồn tại mà con người sẽ kiến tạo nên bản chính của giáo dục chủ nghĩa hiện sinh là<br /> thân mình bằng những nỗ lực. Giáo dục sẽ thái độ đúng đắn đối với cái chết.<br /> giúp người học phát triển bản thân mình Giáo dục cho cái chết có thể được đưa<br /> theo hướng tồn tại vị thân. Do đó, mục tiêu vào để hiểu rõ hơn về cuộc sống tốt đẹp và<br /> của giáo dục là phải giúp người học phát nghĩa vụ của một người trong cuộc sống.<br /> triển một quy mô nhất quán các giá trị, xác Con người nên nhận thức được cái chết của<br /> thực sự tồn tại của chúng bằng cách cam mình trong từng khoảnh khắc của cuộc<br /> kết với các giá trị này và hành động để đạt sống. Việc nhận ra cái chết này sẽ giúp ích<br /> được các giá trị đó. trong việc tận hưởng từng khoảnh khắc<br /> Hỗ trợ khả năng tự nhận thức ở người học trong cuộc sống của con người do thực tế<br /> Giáo dục giúp người học đạt được sự là họ đã chuẩn bị cho cái chết. Thomas<br /> tự giác. Theo quan điểm của các nhà hiện Flynn đã nhận xét rằng: “Đối với<br /> sinh, một nền giáo dục tốt là một nền giáo Heidegger, chính sự cương quyết chấp<br /> dục giúp mỗi chúng ta nhìn thấy chính nhận tồn – tại – hướng – đến – cái – chết<br /> mình với những nỗi sợ hãi, thất vọng và hy của mình mới đưa những mối bận tâm rải<br /> vọng, cũng như những cách chúng ta sử rắc khác vào trong việc nhận biết ý nghĩa<br /> dụng tri thức và đạo đức. Bước đầu tiên của tồn tại. Đây là một cách trải nghiệm<br /> trong bất kỳ nền giáo dục nào đó là làm khác về sự bất tất của ta. Một khi nhận ra<br /> cho con người phải hiểu được chính bản rằng vào lúc nào đó tại nơi nào ta sẽ không<br /> <br /> <br /> 105<br /> SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 64 (4/2019)<br /> <br /> <br /> còn nữa, ta có thực nhận nào đó về ý nghĩa mà chúng ta có thể nghĩ đến, vì nó liên<br /> của sự hiện hữu” (T. Flynn, 2018, tr.134). quan đến toàn thể nhân loại […] Như vậy<br /> Hiểu được tầm quan trọng của sự lựa tôi chịu trách nhiệm với chính mình và với<br /> chọn làm nên sức mạnh của bản thân mọi người, và tôi đã sáng tạo ra một hình<br /> Giáo dục nên đào tạo con người để ảnh nào đó về con người mà tôi đã lựa<br /> đưa ra lựa chọn tốt hơn và nhận thức được chọn; khi chọn lấy chính tôi, tôi chọn con<br /> rằng vì sự lựa chọn không bao giờ hoàn người (Sartre, 2015, tr.36 – 37).<br /> hảo, nên hậu quả không thể dự đoán được. Chính vì con người luôn sống cùng với<br /> Cuộc sống là một quá trình liên tục đưa ra những sinh mệnh khác cho nên giáo dục có<br /> lựa chọn và tất cả các lựa chọn là riêng tư trách nhiệm làm cho con người hội nhập<br /> và cá nhân. vào các hình thức và cấu trúc, nhóm và thể<br /> Phát triển năng lực cho sự lựa chọn tự chế của xã hội.<br /> do bao gồm hai bước cơ bản: (1) trau dồi Phát triển ý thức trách nhiệm của<br /> khả năng đưa ra quyết định tự do và hợp lý người học<br /> và (2) phát triển thiên hướng để đưa ra Giáo dục hiện sinh nhấn mạnh đến tầm<br /> quyết định như vậy ngay từ đầu. Trong đó quan trọng của trách nhiệm cá nhân, và cho<br /> bước thứ 2 là quan trọng hơn. Mục đích cơ rằng không có lối nào thoát khỏi trách<br /> bản của giáo dục theo chủ nghĩa hiện sinh nhiệm cá nhân. Nhiệm vụ của giáo viên là<br /> là phát triển ý thức cam kết lựa chọn tự do. hỗ trợ học sinh tự chịu trách nhiệm, đối<br /> Chuẩn bị cho người học thích nghi với mặt với thế giới một cách có trách nhiệm.<br /> xã hội Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng đối với tất cả<br /> Nhờ giáo dục nên con người có thể các lựa chọn của mình, con người không<br /> nhìn xa hơn lợi ích và mục tiêu cá nhân. thể đổ lỗi cho người khác, cho dù đó là cha<br /> Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng giáo dục xã mẹ hay xã hội và họ thậm chí không thể đổ<br /> hội nên dạy cách tôn trọng tự do của tất cả lỗi hoàn cảnh sống của mình. Hơn nữa,<br /> mọi người. Tôn trọng sự tự do của mình không có gì để hướng dẫn họ trong lựa<br /> cũng như những người khác là cần thiết chọn của họ; không có nguyên tắc hay quy<br /> như nhau. Giáo dục tốt sẽ chuẩn bị cho con tắc nào có thể đảm bảo rằng bất kỳ sự lựa<br /> người ý chí tự do của mình, đồng thời đưa chọn nào là đúng. Mọi người chỉ cần lựa<br /> đến tự do cho tất cả những người khác. Khi chọn và chấp nhận hậu quả mặc dù hậu quả<br /> con người khẳng định giá trị của bất kỳ có thể không lường trước được.<br /> hành động nào cũng là đang khẳng định b. Về chương trình giảng dạy<br /> một giá trị với lời kêu gọi phổ quát “Tôi Theo chủ nghĩa hiện sinh, chương<br /> chịu trách nhiệm cho bản thân và cho tất cả trình giảng dạy biểu tượng cho một thế giới<br /> mọi người”. Sartre cho rằng: tri thức để khám phá. Kiến thức sẽ cung<br /> Nếu chúng ta muốn hiện hữu cùng một cấp nội dung cụ thể để thực hiện phân tích<br /> lúc với việc chúng ta nhào nặn nên hình và phê bình tự do và thiết lập một nền tảng<br /> ảnh của mình, thì hình ảnh ấy có giá trị đối vững chắc cho nỗ lực sáng tạo cá nhân.<br /> với tất cả mọi người và đối với toàn bộ thời Chủ nghĩa hiện sinh thừa nhận “sự<br /> đại chúng ta. Như vậy trách nhiệm của khác biệt cá nhân” hay còn gọi là nhân vị.<br /> chúng ta lớn lao hơn nhiều so với những gì “Nhân vị của con người chính là hiện sinh<br /> <br /> <br /> 106<br /> TRẦN THỊ THẢO TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN<br /> <br /> <br /> của nó mang bộ mặt riêng biệt, đặc thù xa năng sáng tạo của người học. Trong<br /> lạ với mọi tính cách phổ quát” (Nguyễn phương pháp dạy học, chủ nghĩa hiện sinh<br /> Tiến Dũng, 2006, tr.78) và nhấn mạnh vào nhấn mạnh vào việc áp dụng các kỹ thuật<br /> sự đa dạng chương trình giảng dạy phù hợp hướng dẫn thu hút cảm giác, cảm xúc, sáng<br /> với nhu cầu, khả năng và năng khiếu của cá tạo và ý nghĩa sâu sắc hơn của cuộc sống.<br /> nhân. Chương trình giảng dạy cần đáp ứng Chủ nghĩa hiện sinh ủng hộ phương<br /> nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài. Nó pháp giảng dạy Socrates. Đây là phương<br /> nên được thiết kế để người học có mọi trải pháp đặt câu hỏi, lọc chỉnh câu trả lời, đặt<br /> nghiệm tạo nên cuộc sống của mình. nhiều câu hỏi hơn và đẩy vấn đề cho đến<br /> Chương trình giảng dạy nên được lựa khi đạt được kết luận chấp nhận được.<br /> chọn, sắp xếp và sở hữu bởi người học vì Giáo viên tìm cách thu thập thông tin<br /> mỗi cá nhân có nhu cầu và sở thích cụ thể từ học sinh bằng các câu hỏi được định<br /> liên quan đến sự tự hoàn thành của mình. hướng khéo léo. Sinh viên tư duy bằng<br /> Triết học hiện sinh có thể trang bị cho cách tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi của<br /> người học cơ sở để lựa chọn tính chủ thể, giáo viên. Phương pháp này dựa trên giả<br /> vì nó cung cấp cho họ cơ hội lớn hơn cho định rằng kiến thức là bẩm sinh nhưng<br /> sự phát triển và thể hiện cá nhân. chúng ta khó có thể rút ra được nếu không<br /> Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh giáo có sự trợ giúp của chuyên gia. Sở dĩ chủ<br /> dục là để làm cho người học nhận ra những nghĩa hiện sinh ủng hộ cách tiếp cận<br /> đặc ân mà cuộc sống dành cho họ để thực Socratic trong giảng dạy là vì phương pháp<br /> thi quyền tự do. Triết thuyết này cũng đồng Socrates là cá nhân, dễ gần và người học<br /> thời phản đối bất kỳ loại hình đào tạo nghề đạt được kiến thức và trí tuệ thông qua sự<br /> nào ở giai đoạn sớm vì nó không giúp tương tác lẫn nhau giữa người dạy và<br /> người học trở thành một cá nhân tự do, mà người học. Theo các nhà hiện sinh, bất kỳ<br /> ngược lại đào tạo họ trở thành một dạng phương pháp nào có khả năng kiểm tra đời<br /> người cụ thể, mặc định nào đó. sống nội tâm mà không can thiệp vào tính<br /> Về giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức chủ quan của cả giáo viên và người dạy<br /> phải dựa trên những nguyên tắc đạo đức đều được chấp nhận. Phương pháp<br /> mà người ta đã chọn một cách có ý thức Socrates bao gồm “phương pháp nêu vấn<br /> hoặc sắp chọn cho “chính bản thân mình” đề”. Mặc dù ủng hộ phương pháp Socrates<br /> vì sự phán xét đạo đức và tính cách cá nhân nhưng chủ nghĩa hiện sinh không khuyến<br /> có nguồn gốc từ bản thân chủ quan. Điều khích phương pháp nêu vấn đề vì nó không<br /> này có nghĩa là cá nhân phải được tự do lựa mang tính cá nhân, không hiệu quả và<br /> chọn đạo đức và giá trị của chính mình thường có định hướng xã hội. Tuy nhiên,<br /> trong cuộc sống. Do đó, trong chương trình họ thừa nhận phương pháp vấn đề nếu vấn<br /> giảng dạy của chủ nghĩa hiện sinh cần bao đề bắt nguồn từ cuộc sống của người phải<br /> gồm tất cả những gì hỗ trợ cho sự xác lập tìm ra giải pháp chứ không chấp nhận nếu<br /> tự do cá nhân đích thực. vấn đề xuất phát từ nhu cầu của xã hội.<br /> c. Về phương pháp giảng dạy Chủ nghĩa hiện sinh không ủng hộ<br /> Theo chủ nghĩa hiện sinh, phương giáo dục đại chúng vì nó dẫn đến việc học<br /> pháp giảng dạy phải phát huy được khả vẹt nghĩa là người học lặp lại những gì<br /> <br /> <br /> 107<br /> SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 64 (4/2019)<br /> <br /> <br /> mình đã được dạy trong lớp. Họ cũng từ cách giải thích này, mỗi cá nhân đặc trưng<br /> chối phương pháp nhóm vì trong hoạt động cho mình bằng các khái niệm về thực tế,<br /> nhóm, tính ưu việt của quyết định nhóm sự thật, lòng tốt và kết quả là các trường<br /> nổi bật hơn so với quyết định cá nhân nên học tồn tại để giúp người học nhận thức<br /> cơ hội thể hiện sư độc đáo của cá nhân và được bản thân và vị trí của mình trong xã<br /> sự lựa chọn tự do bị mất. Các nhà hiện sinh hội. Trong trường phái hiện sinh thì con<br /> cho rằng trước tiên giáo viên xem học sinh người phi lý trí, tức là bản thân thẩm mỹ,<br /> như những cá nhân và cho phép họ có một đạo đức và cảm xúc của con người thể<br /> vai trò tích cực trong việc định hình giáo hiện rõ hơn bản thân lý trí, khoa học.<br /> dục và cuộc sống của chính họ, sống động Những người theo chủ nghĩa hiện sinh<br /> trong từng khoảnh khắc, theo Sartre: “Mỗi quan tâm nhiều hơn đến phát triển khía<br /> khoảnh khắc chỉ xuất hiện để đưa dẫn cạnh hiệu quả của con người - khả năng<br /> những khoảnh khoảnh khắc tiếp theo. Tôi yêu thương, đánh giá cao và đáp ứng tình<br /> đem hết lòng mình ra nâng niu từng cảm với thế giới xung quanh.<br /> khoảnh khắc: tôi biết rằng mỗi khoảnh Mục đích của trường học là để nuôi<br /> khắc là độc nhất, không thể thay thế dưỡng sự tự lập và trau dồi sự tự đánh giá.<br /> được… Tôi cúi mình trên mỗi phút giây, Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng việc tiếp tục<br /> tôi cố tâm sống cho cùng kiệt nó, chẳng có thử nghiệm sư phạm và tâm lý sẽ chẳng ích<br /> gì xảy ra mà tôi không nắm bắt lấy” gì nếu đứa trẻ không được nuôi dưỡng trong<br /> (Sartre, 1967, tr. 74) một trường học nhân hóa. Nhà trường cần<br /> Đúng là nếu học sinh mang nền tảng cung cấp môi trường nơi các cá nhân phát<br /> kinh nghiệm đến trường sẽ ảnh hưởng đến triển một cách lành mạnh. Trường học chủ<br /> quyết định cá nhân, nhưng nhìn chung, các yếu là một nơi để có kinh nghiệm với cuộc<br /> nhà hiện sinh cho rằng trường học và tổ sống từ đó chủ nghĩa hiện sinh, cũng như<br /> chức của họ là nơi tự do, nơi học sinh được chủ nghĩa thực dụng bác bỏ lý thuyết học<br /> khuyến khích làm việc vì sự đa dạng trong giả. Vì vậy, các trường học nên hòa mình<br /> giáo dục, không chỉ trong chương trình trong cuộc sống của học sinh. Nhà trường<br /> giảng dạy, mà trong cả cách dạy học. phải là một diễn đàn nơi sinh viên có thể<br /> Khi người học được khuyến khích theo tham gia đối thoại với các sinh viên và giáo<br /> đuổi các dự án họ sẽ phát triển các kỹ năng viên khác để giúp họ làm rõ tiến trình<br /> cần thiết và có được kiến thức cần thiết. hướng tới sự hoàn thiện bản thân.<br /> Phương pháp hiện sinh tập trung vào cá Tư tưởng dân chủ được thực thi trong<br /> nhân riêng biệt. Học là tự học, tự học chỉ trường học. Nó phải là nền dân chủ của<br /> đạo và bao gồm rất nhiều liên hệ của cá những cá nhân độc đáo coi trọng sự khác biệt<br /> nhân người học với giáo viên, người liên và tôn trọng lẫn nhau. Người học được tham<br /> quan đến mỗi học sinh một cách cởi mở và gia lập kế hoạch và khuyến khích một bầu<br /> trung thực. không khí tự do đặc trưng cho trường học.<br /> d. Về trường học Tuy nhiên, yếu tố môi trường gia đình<br /> Trong giáo dục, chủ nghĩa hiện sinh được chủ nghĩa hiện sinh đề cao. Các nhà<br /> tập trung vào cá nhân riêng biệt, tìm kiếm hiện sinh khẳng định rằng phát triển giáo<br /> sự hiểu biết cá nhân về thế giới. Thông qua dục không thể diễn ra mà không có sự hỗ<br /> <br /> <br /> 108<br /> TRẦN THỊ THẢO TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN<br /> <br /> <br /> trợ từ cuộc sống gia đình. Ở trường, trẻ có hội để trở thành tốt nhất họ có thể.<br /> ý tưởng trở thành một đối tượng như trong Giáo viên phải đảm bảo nguyên tắc tự<br /> số nhiều người trong khi ở nhà, nó tự định thực hiện. Đối với điều này, giáo viên phải<br /> hình bản thân mình. Trong gia đình, trẻ tìm thấy rằng cá nhân học sinh liên quan đến<br /> thấy điều kiện thích hợp để bồi dưỡng bản các vấn đề của họ bởi vì người ta không<br /> thân đích thực. Cũng Chính trong gia đình, thể nhận ra chính mình mà không hoàn<br /> trẻ em trải qua tình yêu của cha mẹ và mối thành công việc theo cách riêng của mình.<br /> quan tâm thường xuyên đối với lợi ích của Vai trò của giáo viên là hỗ trợ để họ sinh<br /> chúng mà nhân loại giúp chúng làm chủ trở thành “bản gốc” và “xác thực”. Giáo<br /> những khó khăn của cuộc sống hàng ngày. viên cần nỗ lực để thấy năng lực tự quản trị<br /> e. Về vai trò của người thầy của học sinh để giúp họ trở nên tự do và<br /> Chủ nghĩa hiện sinh được xem là một linh hoạt.<br /> trường phái triết học xem giáo dục là sự Giáo viên phải chủ động trong vai trò<br /> đánh thức lại sự quan tâm của con người giảng dạy của mình. Tác dụng của thầy đối<br /> đối với bản thân, nhiệm vụ của giáo viên với trò phải có “tính sản xuất” chứ không<br /> là đánh thức sự tự do và trách nhiệm của nên có tính “sao chép” hàng loạt tạo ra một<br /> học sinh. mẫu người theo mô thức của thầy. Dạy học<br /> Chủ nghĩa hiện sinh là một triết lý dựa trò “làm người là dạy phải vượt qua và vượt<br /> trên quan niệm rằng sự tồn tại của con trên ông thầy. Ông thầy nào biết dạy môn<br /> người là một kinh nghiệm nội tại, chủ sinh như thế thực đáng gọi là ông thầy cao<br /> quan. Nó cho rằng con người có thể vượt ra cả, ông thầy dạy ta làm người, chớ không<br /> ngoài sự tồn tại đơn thuần là bản chất, bằng dạy ta làm môn sinh suốt đời” (Trần Thái<br /> cách tích cực tìm cách khám phá tính mục Đỉnh, 2015, tr.149). Nietzsche viết: “Giờ<br /> đích trong sự tồn tại của họ và gán cho ý đây ta ra lệnh cho các ngươi hãy đánh mất<br /> nghĩa cá nhân của nó. Họ làm điều này ta và tìm chính bản lại diện mục của các<br /> bằng cách xác thực, lựa chọn độc lập và ngươi; chỉ khi nào tất cả các ngươi đều chối<br /> bằng cách nhận trách nhiệm về hậu quả của bỏ phủ nhận ta, lúc đó ta mới trở lại cùng<br /> những lựa chọn trong suốt cuộc đời của họ. các ngươi” (F.Niezsche, 2003, tr.159).<br /> Do đó, các giáo viên phải nhận ra rằng Giáo viên phải khuyến khích sự sáng<br /> thực tế được trải nghiệm một cách chủ tạo, khám phá của người học, nhưng không<br /> quan và sau đó họ phải tôn trọng và nuôi nên cố gắng hướng sinh viên hoặc áp đặt ý<br /> dưỡng thực tế chủ quan của học sinh. Họ chí của mình lên họ. Trách nhiệm và nghĩa<br /> có thể làm điều này bằng cách áp dụng hai vụ của giáo viên hiện sinh là rất khó khăn<br /> nguyên tắc hiện sinh trong lớp học của họ. vì trong cách đối xử với “tha nhân”, người<br /> Đầu tiên, giáo viên phải hứng thú thay giáo viên phải giữ sự chủ quan của chính<br /> vì ngăn cản sự trải nghiệm xác thực của mình đồng thời nhận ra sự chủ quan của<br /> học sinh. Thứ hai, họ có thể khuyến khích người khác. Theo Jaspers, nhà giáo dục<br /> học sinh của mình “can đảm để trở thành” thực thụ là người suốt đời tham gia vào quá<br /> bằng cách nhận ra thực tế chủ quan của học trình tự giáo dục thông qua giao tiếp. Giáo<br /> sinh, bằng cách tôn vinh sự chân thực và dục chỉ có thể trở nên đúng đắn nếu người<br /> bằng cách khuyến khích học sinh với cơ tiếp nhận nó có được khả năng giáo dục<br /> <br /> <br /> 109<br /> SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 64 (4/2019)<br /> <br /> <br /> bản thân thông qua việc học tập nghiêm hiện sinh. Các nhà hiện sinh khẳng định<br /> ngặt và bền bỉ. rằng một nền giáo dục tốt sẽ khuyến khích<br /> f. Về mối quan hệ giữa giáo viên và con người nhận thức được rằng cá nhân<br /> học sinh con người là một sinh vật tình cảm và phi<br /> Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh rằng lý hơn là một sinh vật vô cảm và duy lý.<br /> mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh Quan điểm tự do của chủ nghĩa hiện<br /> của mình phải thân mật, gần gũi, sống sinh đề cao tính chủ thể. Đó là những trải<br /> động và cá nhân hơn so với mối quan hệ nghiệm độc đáo của riêng cá nhân đến từ<br /> hiện có giữa hai người trong trường học nhận thức của chính bản thân. Nhận thức<br /> truyền thống. Học sinh trước hết được xem này không chỉ giới hạn ở lý trí hoặc trực<br /> như một cá nhân, biết tự chịu trách nhiệm giác mà bao gồm các trải nghiệm về cảm<br /> về những suy nghĩ, niềm tin và cách cư xử giác, đức tin, hành động có ý thức phản xạ<br /> của chính mình. Vai trò của giáo viên là trước các mối quan hệ. Con người tách<br /> cung cấp các con đường để thăm dò học mình ra khỏi tập thể và bắt đầu quá trình<br /> sinh, tạo ra một môi trường mà họ có thể tự thực hiện những khả năng do chính mình<br /> do lựa chọn cách ưa thích của riêng mình. đề xuất. Cá nhân ý thức được rằng họ phải<br /> Tất cả các nhà hiện sinh lên án các mối chịu trách nhiệm cho những gì đã làm.<br /> quan hệ mang tính hình thức. Họ khẳng Điều này có những đóng góp cho giáo dục,<br /> định rằng mối quan hệ giữa giáo viên và nó giúp học sinh và giáo viên tạo ra ý<br /> học sinh phải rất chặt chẽ liên quan đến sự nghĩa trong cuộc sống của họ, khám phá<br /> thân mật trong việc thông giao. Giáo viên những ý tưởng về bản thân và thế giới của<br /> cũng như học sinh trong mọi trường hợp họ. Quan niệm này có thể làm sáng tỏ và<br /> phải là một nhân cách tự do của riêng họ. mang lại nhiều yếu tố dân chủ hơn cho<br /> Giáo viên phải giao thoa hài hòa, người giáo dục Việt Nam, đặc biệt là mang đến<br /> giáo viên hiện sinh là phải chia tâm hồn cho giáo viên phương pháp giáo dục mới<br /> mình thành hai thái cực: ngoan ngoãn và để đào tạo nên những học sinh có tư chất<br /> nổi loạn nhưng giáo viên phải có sự chính độc lập, sẵn sàng thích nghi và ứng phó với<br /> trực, hòa nhập với học sinh thông qua hành tình huống bất trắc của cuộc sống.<br /> động và thái độ của mình. Xã hội hiện đại làm cho con người trở<br /> 2. Ảnh hưởng quan điểm tự do trong nên khách quan đến mức mối quan hệ của<br /> triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh con người với bản thân bị phá vỡ. Con<br /> đối với giáo dục hiện nay người bị quy đồng trong những mẫu số<br /> Tuy không trình bày một cách rõ ràng chung của những định chế, quy ước của xã<br /> và có hệ thống về giáo dục nhưng chủ hội, luôn lo lắng và thất vọng. Cá nhân trở<br /> nghĩa hiện sinh là một triết lý mang tính thành con người phiến diện, con người một<br /> giáo dục. Nó thể hiện sự tiếp nối một số chiều kích. Marcuse cho rằng: “khi sự phát<br /> truyền thống của châu Âu và giải quyết các triển của công nghệ hiện đại tạo ra những<br /> vấn đề quan trọng của thời điểm đương đại “false needs” (những nhu cầu giả tạo), ví dụ<br /> cho cả triết học và cuộc sống. Việc đánh như chủ nghĩa tiêu thụ, và là cái bóng khổng<br /> thức sự quan tâm của con người đối với lồ chế ngự sự đa dạng, tính sáng tạo, cái<br /> chính mình là đặc điểm chính của giáo dục nhìn khai phóng trong đời sống con người”.<br /> <br /> <br /> 110<br /> TRẦN THỊ THẢO TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN<br /> <br /> <br /> (H. Marcuse, 2007, tr.7). Hình tượng “một Các khái niệm về “tồn tại”, “nhân vị”<br /> chiều” ở đây ám chỉ việc con người đang bị vốn dĩ không được chủ nghĩa hiện sinh làm<br /> kẹt trong một kiểu sống mòn, khi các rõ với tư cách là hệ thống phạm trù, bỡi lẽ<br /> phương tiện truyền thông cùng nhau truyền chủ nghĩa hiện sinh luôn từ chối tính hệ<br /> tải lặp đi lặp lại một vài thông điệp và thống. Do đó, không dễ để xây dựng một<br /> quảng bá một vài giá trị nhất định trong khi chương trình giáo dục khi thuật ngữ cho<br /> kiến thức ngày nay là đa chiều. Bản chất các mục tiêu của quá trình giáo dục không<br /> con người có nhiều mặt, phức tạp và liên rõ ràng.<br /> quan đến sự khác biệt cá nhân. Do đó, quan Tư tưởng giáo dục hiện sinh hướng tới<br /> điểm tự do trong triết lý giáo dục hiện sinh phát triển cá nhân quá nhấn mạnh tính cá<br /> góp phần đáp ứng nhu cầu của thời đại mới, nhân đến mực cực đoan cho nên con người<br /> dần dần đưa người học đến tính chủ thể. Sự khó đạt được sự hài hòa giữa cá nhân và<br /> quan tâm của chủ nghĩa hiện sinh hướng cộng đồng. Tuy nhiên, tự do chỉ thực sự<br /> đến “con người” - con người chân chính và đạt được trong bối cảnh xã hội của cộng<br /> đích thực, những lựa chọn của con người đồng. Giáo dục phải làm cho cá nhân có<br /> được thực hiện với toàn bộ trách nhiệm về trách nhiệm tập thể. Giáo dục là một quá<br /> kết quả của sự lựa chọn để tự do. Hay nói trình tương tác và con người chỉ có thể có<br /> cách khác tự do của chủ nghĩa hiện sinh kinh nghiệm khi làm việc cùng nhau trong<br /> nhấn mạnh đến sự tồn tại của con người, xã hội thông qua đối thoại, tương tác.<br /> phẩm chất của từng cá nhân hơn là con 3. Kết luận<br /> người trong trừu tượng của tự nhiên và thế Trái ngược với thế giới quan có trật tự<br /> giới nói chung. Cho nên, quan điểm giáo đã được trình bày bởi các triết lý truyền<br /> dục của chủ nghĩa hiện sinh hướng đến làm thống, chủ nghĩa hiện sinh cố gắng giải<br /> phong phú trí tuệ của con người để họ có phóng con người khỏi thế giới các mô<br /> thể được tôn trọng trong mắt của chính phỏng. Chủ nghĩa hiện sinh làm nổi bật<br /> mình và của những người khác. Chính điều tâm lý con người, tự do cá nhân và trách<br /> này thúc đẩy sự sáng tạo của người học, tạo nhiệm cá nhân, mạnh dạn định nghĩa con<br /> sự khai phóng trong giáo dục, không rập người là một cá nhân chịu trách nhiệm tự<br /> khuôn, máy móc. nhận mình trong lĩnh vực của đời mình.<br /> Tuy nhiên, bên cạnh đó, quan niệm về Trong nỗ lực tiếp cận ban đầu, mọi người<br /> tự do trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa phải thấy được kết quả rằng họ tạo ra bản<br /> hiện sinh cũng có những hạn chế. chất và giá trị của mình mà không sử dụng<br /> Các mục tiêu, chương trình giảng dạy các tiêu chí bên ngoài. Giáo dục hiện sinh<br /> và phương pháp theo chủ nghĩa hiện sinh là coi tự do của con người là nhiệm vụ quan<br /> phụ thuộc vào sự lựa chọn và tự do của cá trọng nhất của nó. Giáo viên hiện sinh<br /> nhân. Một chương trình giáo dục như vậy nhấn mạnh tâm lý của cá nhân và cố gắng<br /> rất khó để thực thi đại chúng; Mối quan hệ thúc đẩy sự tự nhận thức và ý thức trách<br /> cá nhân của giáo viên yêu cầu giáo viên nhiệm trong học sinh. Thông qua các lựa<br /> phải có sự hiểu biết sâu sắc về mọi tính chọn có ý nghĩa cá nhân, người học có thể<br /> cách của học sinh sẽ đòi hỏi rất nhiều thời tự tạo cá tính cho riêng mình. Mục tiêu của<br /> gian và công sức. loại hình giáo dục này không thể được xác<br /> <br /> <br /> 111<br /> SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 64 (4/2019)<br /> <br /> <br /> định trước, giáo viên và hệ thống giáo dục chủ nghĩa hiện sinh đã tác động đến giáo<br /> không thể áp đặt nó cho học sinh. Mỗi dục truyền thống và góp phần từng bước<br /> người chịu trách nhiệm về giáo dục của đưa đến một quan điểm triết học giáo dục<br /> riêng mình. Tuy còn nhiều hạn chế như đã mới, phát huy tối đa vai trò chủ thể của<br /> được vạch ra ở trên, tư tưởng tự do của người học.<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> <br /> E. Muonier. (1970). Những chủ đề triết học hiện sinh. Sài Gòn: Nhị Nùng.<br /> F.Niezsche. (2003). Zarathustra đã nói như thế, (Trần Xuân Kiểm dịch). Hà Nội: Văn hóa<br /> thông tin .<br /> Herbert Marcuse. (2007). One-Dimensional Man. London and New York.<br /> Jean - Paul – Sartre. (1967). Buồn nôn. Sài Gòn: An Tiêm.<br /> Jean - Paul – Sartre. (2014). L'Etre Et Le Neant. France: Tel Gallimard.<br /> Jean Paul Sartre. (2015). Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản. (Đinh Hồng Phúc dịch).<br /> Hà Nội: Tri Thức.<br /> Nguyễn Tiến Dũng. (2006). Chủ nghĩa hiện sinh Lịch sử và sự hiện diện ở Việt Nam.<br /> Thành phố Hồ Chí Minh: TH TP HCM.<br /> Richard Tarnas. (2008). Qúa trình chuyển biến tư tưởng phương Tây. (Lưu Văn Hy dịch).<br /> Hà Nội: Văn hóa thông tin.<br /> Thomas Flynn. (2018). Chủ nghĩa hiện sinh dẫn luận ngắn. (Đinh Hồng Phúc dịch).<br /> TP.HCM: Tổng Hợp.<br /> Trần Thái Đỉnh. (2015). Triết học hiện sinh. Hà Nội: Văn học.<br /> <br /> <br /> Ngày nhận bài: 07/3/2019 Biên tập xong: 15/4/2019 Duyệt đăng: 20/4/2019<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 112<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2