
1
Luận văn
Đê tài “Quyền chọn chứng khoán: điều
kiện, khả năng và giải pháp để áp dụng
quyền chọn chứng khoán vào TTCK
Việt Nam”

2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam ra đời vào tháng 07/2000 đánh
dấu một bước phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính (TTTC) trong nước, qua
mười năm hoạt động đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Việt
Nam. Trong thời gian gần đây TTCK Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng
góp phần không nhỏ trong việc huy động vốn cho sự phát triển của nền kinh tế. Tuy
nhiên quy mô TTCK còn nhỏ bé, chính sách quản lý, điều hành, giám sát còn nhiều
yếu kém đã và đang mang lại nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư (NĐT) khi tham gia
kinh doanh chứng khoán. Hơn nữa hàng hóa trên TTCK còn quá đơn điệu, ngoài cổ
phiếu và trái phiếu thì vẫn chưa có nhiều sản phẩm khác. Tại các nước có TTTC
phát triển thì việc giảm thiểu rủi ro thông qua các công cụ chứng khoán phái sinh
như: hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, bán khống……ngày càng được sử
dụng rộng rãi như là những công cụ chủ yếu và không thể thiếu được trong việc
quản lý rủi ro. Trong thời gian gần đây TTCK Việt Nam đã có những biến động bất
thường khó dự đoán, thị trường liên tục mất điểm khiến đa số các NĐT đều thua lỗ.
Khi TTCK trong giai đoạn suy thoái những NĐT nhỏ lẻ không thể trụ vững trên thị
trường, họ ồ ạt bán chứng khoán để bảo toàn vốn làm cho thị trường càng trở nên
trầm trọng hơn dễ dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ. Vì vậy việc áp dụng các công cụ
chứng khoán phái sinh đặc biệt là quyền chọn chứng khoán vào TTCK Việt Nam
giúp các NĐT có thêm công cụ để hạn chế rủi ro cho các NĐT là vô cùng cần thiết.
Đó là lý do tôi chọn đê tài “Quyền chọn chứng khoán: điều kiện, khả năng và giải
pháp để áp dụng quyền chọn chứng khoán vào TTCK Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề cơ bản về quyền chọn, thị trường quyền
chọn, nghiên cứu một số mô hình tổ chức giao dịch quyền chọn chứng khoán tiêu
biểu trên thế giới.
- Nghiên cứu các điều kiện để áp dụng quyền chọn trên TTCK.

3
- Nghiên cứu lịch sử hình thành phát triển của TTCK Việt Nam, thực trạng
TTCK Việt Nam hiện nay từ đó đánh giá các điều kiện để phát triển giao dịch
quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp để áp dụng giao dịch quyền chọn vào TTCK Việt
Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các lý luận cơ bản về
quyền chọn chứng khoán, các điều kiện để áp dụng quyền chọn chứng khoán và khả
năng áp dụng quền chọn chứng khoán vào TTCK Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: các lý luận về quyền chọn chứng khoán, TTCK Việt
Nam, thị trường quyền chọn Mỹ, thị trường quyền chọn Châu Âu.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích-tổng hợp, thống
kê-mô tả, so sánh-đối chiếu, phương pháp quan sát thực tế để khái quát vấn đề cần
nghiên cứu.
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài với tên gọi: “Quyền chọn chứng khoán: điều kiện, khả năng và giải
pháp để áp dụng quyền chọn chứng khoán vào thị trường chứng khoán Việt Nam”,
được kết cấu thành 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền chọn và điều kiện để áp
dụng quyền chọn chứng khoán vào TTCK
Chương 2: Điều kiện để phát triển giao dịch quyền chọn chứng khoán:
thực trạng tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp để áp dụng quyền chọn chứng khoán vào
TTCK Việt Nam

4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ
ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN VÀO THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Giới thiệu về quyền chọn
1.1.1 Định nghĩa
1.1.1.1 Quyền chọn
Quyền chọn là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn
quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán xác định trước trong khoảng
thời gian nhất định với mức giá được xác định trước.
Như vậy việc yêu cầu thực hiện quyền chọn là quyền mà không phải nghĩa
vụ của người mua quyền chọn trong khi người bán phải thực hiện nghĩa vụ của
mình khi người mua yêu cầu. Do đó, người mua quyền chọn có thể yêu cầu thực
hiện quyền chọn, để quyền chọn hết hạn, hoặc bán lại quyền chọn trên thị trường.
Chính vì vậy người mua quyền chọn được xem là NĐT có vị thế dài hạn và người
bán ở vị thế ngắn hạn trên hợp đồng.
Một hợp đồng quyền chọn bao giờ cũng phải có đầy đủ ít nhất 5 nội dung
chính: chứng khoán cơ sở, quy mô hợp đồng, thời gian đáo hạn, giá thực hiện và giá
phí quyền chọn. Riêng giá phí quyền chọn là nội dung có thể thương lượng giữa các
bên tham gia. Giá phí quyền chọn chính là mức giá của quyền chọn mà bên mua
quyền chọn phải trả cho bên bán.
1.1.1.2 Quyền chọn mua:
Quyền chọn mua là một loại quyền chọn cho phép người sở hữu quyền chọn
được quyền mua một số lượng chứng khoán của một loại chứng khoán nhất định
với giá xác định trước trong một thời hạn ấn định.
Thời gian có hiệu lực của hợp đồng quyền chọn được xác định đến ngày đáo
hạn. Giá thực thi quyền chọn được gọi là giá thực hiện.
1.1.1.3 Quyền chọn bán:

5
Quyền chọn bán là một loại quyền chọn cho phép người sở hữu quyền chọn
được quyền bán một số lượng chứng khoán của một loại chứng khoán nhất định với
giá xác định trước trong một thời hạn ấn định.
1.1.2 Phân loại hợp đồng quyền chọn
1.1.2.1 Theo quyền của người mua
- Hợp đồng quyền chọn mua (Call options): Là một thỏa thuận giao dịch một
lượng tài sản cơ sở nhất định, trong đó người mua call options (A) sẽ trả cho người
bán call options (B) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn
(options premium) và A sẽ có quyền được mua nhưng không bắt buộc phải mua
một lượng tài sản cơ sở đó theo một mức giá đã được thoả thuận trước vào một
ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. B nhận được tiền từ A
nên B có trách nhiệm phải bán lượng tài sản cơ sở đó với giá thực hiện đã thỏa
thuận vào ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kì ngày nào
trong khoảng thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn
kiểu Mỹ), khi A muốn thực hiện quyền mua của mình. Vào ngày thực hiện quyền
(thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau khi xem xét với mức giá giao ngay
của tài sản cơ sở ở ngày này, nếu thấy có lợi cho mình, tức giá tài sản cơ sở lớn hơn
giá thực hiện, A có thể thực hiện quyền của mình để được mua lượng tài sản cơ sở
đó ở mức giá thực hiện, rồi ra thị trường bán lại với giá cao hơn để thu một khoản
lợi nhuận. Nếu thấy giá của tài sản cơ sở dưới giá thực hiện, A có thể không cần
phải thực hiện quyền mua của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn.
- Hợp đồng quyền chọn bán (Put options): Là một thỏa thuận giao dịch một
lượng tài sản cơ sở nhất định, theo đó người mua Put options (C) sẽ trả cho người
bán Put options (D) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn bán hay phí Put
options và C sẽ có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ phải bán lượng tài sản cơ sở
đó theo một mức giá đã thỏa thuận trước (giá thực hiện) vào một ngày hoặc một
khoảng thời gian xác định trong tương lai. D nhận được tiền từ C, nên có nghĩa vụ
phải mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực hiện vào ngày đáo hạn (nếu là
quyền chọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký

