
Sâm cầm và truyền thuyết cây nhân sâm
Lâu nay, ở khu vực ven Hồ Tây, người dân Hà thành ai cũng biết đến một đặc sản có giá
trị lâu đời qua câu ca dân gian:
Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm,
Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây.
Sâm cầm là một loài chim cỡ trung bình, nặng 0,5-0,8kg, thân bầu, to hơn con le le và
nhỏ hơn con vịt trời. Đầu và cổ phủ lông đen, mắt đỏ. Mỏ nhọn màu vàng nhạt, mào là
một cục thịt rộng màu trắng ngà, hơi nhô lên. Lông ở lưng và bụng màu xám, đuôi màu
thẫm hơn. Đôi cánh ngắn phớt tím. Chân cao màu lục xám nhạt, có 4 ngón, 2 ngón giữa
có 3 đốt, 2 ngón bên có 2 đốt; các ngón đều có màng mỏng khá rộng.
Chính là chim sâm cầm di cư từ phương Bắc, sống thành đàn ở những nơi có nước như
ao, hồ, đầm lầy, sông ngòi có nhiều cây thủy sinh.
Tên gọi sâm cầm bắt nguồn từ một truyền thuyết xa xưa như sau: Ở một làng nọ, nhân
dân bỗng mắc một chứng bệnh kỳ lạ khó chữa, bệnh trở thành dịch và người bệnh cứ ốm
dần, ốm mòn rồi chết mà không có thuốc nào chữa được. Có cô con gái người thợ săn
chợt nhớ đến câu chuyện mà cha cô kể lại trước đây rằng ở trên dãy núi Trường Bạch có
một loài chim thường ăn rễ của một loài cây cỏ nhỏ, ưa bóng râm và kỵ nước. Do ăn loại
rễ cây này mà chim đã chống chịu được thời tiết khắc nghiệt và bệnh tật. Cô lập tức lên
đường đi tìm thuốc quý về chữa bệnh cho dân làng. Vượt qua bao đỉnh núi mây phủ, giữa
tiết trời băng giá, cô đã đến được núi Trường Bạch, nhưng sức đã kiệt và thiếp đi. Khi
tỉnh dậy, cô nhìn thấy mấy con chim đang đào bới rễ một gốc cây nhỏ gần đó để ăn. Cô
nghĩ ngay đó là loài cây mình đang tìm kiếm, bèn bò đến, đào rễ ăn ngấu nghiến vì đang
đói và khát. Thật kỳ lạ, ăn xong, cô thấy người tỉnh táo và khỏe khoắn hẳn lên. Cô rất
mừng, bèn đào một số rễ đem về làng phân phát cho những người đang ốm. Thế là nhờ
uống rễ cây này mà dân làng thoát chết và dịch bệnh tiêu tan. Từ đó, người ta đặt tên cho
cây thuốc quý đó là nhân sâm (Panax ginseng C.A.Mey) và loài chim sinh sống bằng rễ
cây này là sâm cầm (Fulica atra L.).

Thật vậy, trước đây chim sâm cầm là sản vật để tiến vua. Theo điều lệ triều Nguyễn, từ
năm Tự Đức thứ 17 (1857), cùng với các địa phương khác trong cả nước có sản vật quý,
vùng Hồ Tây (Hà Nội) hằng năm cứ đến Tết Nguyên đán phải cống vua 10 đôi chim sâm
cầm đã được chọn lọc rất cẩn thận. Mãi đến năm Tự Đức thứ 24, lệ tiến cống sâm cầm
mới được bãi bỏ.
Thịt chim sâm cầm mềm, màu đỏ tươi, được chế biến rất cầu kỳ thành những món ăn
ngon đặc sắc như quay, rán, hầm, nướng quả. Do có sự tích nêu trên mà những người làm
thuốc cho rằng thịt sâm cầm săn lành, dùng riêng hoặc đem hầm với một số vị thuốc quý
như đương quy, thục địa, kỷ tử, hạt sen sẽ có tác dụng bổ dưỡng cao, tăng lực mạnh, rất
thích hợp với người bị thiếu máu, người cao tuổi thể tạng suy yếu, phụ nữ mới sinh, trẻ
em gầy còm suy dinh dưỡng.
Theo các cụ cao niên kể lại vào những năm cuối của thế kỷ 19, ở Hà Nội có một vài cửa
hàng đặc sản thịt sâm cầm rất đắt khách, nhưng không dám trưng biển hiệu vì sợ phạm
thượng.
Theo kinh nghiệm dân gian, chân sâm cầm cắt ra, rửa sạch, sấy khô, ngâm với rượu trong
thời gian càng lâu càng tốt (có người cho rằng phải trên 100 ngày), uống làm thuốc mạnh
gân xương, chân tay cứng cáp, bớt đau mỏi, lao động khỏe và dai sức, đặc biệt rất tốt cho
những người cao tuổi.

