intTypePromotion=3

Sản phẩm dầu mỏ và phụ gia - Dương Viết Cường

Chia sẻ: Nguyen Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:194

0
307
lượt xem
111
download

Sản phẩm dầu mỏ và phụ gia - Dương Viết Cường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Để đánh giá chất lượng dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ người ta thường xác định một số tính chất điển hình của nó. Một tính chất có thể chưa nói lên hết được tính chất của chúng, song tổng hợp các tính chất có thể cho phép sử dụng dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ hợp lý hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sản phẩm dầu mỏ và phụ gia - Dương Viết Cường

  1. D−¬ng ViÕt C−êng CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CÁC SẢN PHẨM DẦU MỎ VÀ PHỤ GIA 1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ DẦU MỎ 1.2. ĐẠI CƯƠNG VỀ CÁC SẢN PHẨM DẦU MỎ 1.3. ĐẠI CƯƠNG VỀ CÁC PHỤ GIA DẦU MỎ 1 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  2. D−¬ng ViÕt C−êng CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÓA LÝ VÀ PHÉP THỬ TÍNH NĂNG CỦA DẦU MỎ VÀ SẢN PHẨM DẦU MỎ Để đánh giá chất lượng dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ người ta thường xác định một số tính chất điển hình của nó. Một tính chất có thể chưa nói lên hết được tính chất của chúng, song tổng hợp các tính chất có thể cho phép sử dụng dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ hợp lý hơn. Đối với dầu mỏ, nó cho phép ta hoạch định phương pháp chế biến và phương thức lấy các sản phẩm phân đoạn. Đối với các sản phẩm dầu mỏ, nó cho phép sử dụng các sản phẩm dầu mỏ phù hợp với các yêu cầu sử dụng khác nhau. Đối với mỗi nước, dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ lại có các quy định khác nhau, phù hợp với điều kiện sử dụng của mỗi nước. Ngày nay, với xu hướng hội nhập toàn cầu thì các tiêu chuẩn quy định này cũng được sử dụng đan xen nhau, xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được quốc tế hóa. Các phương pháp phân tích hóa lý cơ bản đánh giá chất lượng, tính chất của dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ chủ yếu tuân theo một số tiêu chuẩn, quy chuẩn sau: - TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam. - ASTM (American society for testing materials), tiêu chuẩn Mỹ. - IP standard (The institute of petroleum), tiêu chuẩn của viện dầu mỏ Anh. - ISO (Organisation international de standardisation), tiêu chuẩn quốc tế. ……… 2.1 CÁC TÍNH CHẤT HÓA LÝ CƠ BẢN CỦA DẦU MỎ - SẢN PHẨM DẦU MỎ VÀ CÁCH XÁC ĐỊNH 2.1.1. Khối lượng riêng, tỷ trọng, độ API ASTM D1298-96; TCVN 6594 : 2007 Việc xác định chính xác tỉ trọng, khối lượng riêng hoặc độ API của dầu mỏ và các sản phẩm dầu mỏ rất cần thiết cho việc chuyển đổi thể tích đã đo ở nhiệt độ thực tế về thể tích hoặc khối lượng (hoặc cả hai) ở nhiệt độ đối chứng tiêu chuẩn trong quá trình bảo quản vận chuyển. Khối lượng riêng, tỉ trọng hoặc độ API là các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của dầu thô, góp phần điều chỉnh giá dầu. Tuy nhiên tính chất này của dầu mỏ không phải là một chỉ dẫn chắc chắn về chất lượng của dầu nếu không kết hợp các tính chất khác. Khối lượng riêng ρ của dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ là khối lượng của một đơn vị thể tích dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ ở nhiệt độ tiêu chuẩn 600F (15,60C) và áp suất 101,325 kPa (1 atm), ký hiệu là ρ60 hay ρ15,6 (hoặc ρ15 ). Đơn vị đo thường là: g/cm3, kg/m3. 2 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  3. D−¬ng ViÕt C−êng Tỷ trọng d là tỷ số giữa khối lượng của chất lỏng có thể tích đã cho ở nhiệt độ 15 C (hoặc 600F) so với khối lượng của nước tinh khiết (nước cất) có thể tích tương 0 đương ở cùng nhiệt độ đó. Trong nhiều trường hợp chúng ta thường không phân biệt giá trị giữa d và ρ vì ρ60 = 0,99904.d 60 , mặc dù thứ nguyên của chúng khác nhau. 60 Độ API (0API) được xác định thông qua tỷ trọng theo công thức: 141,5 0 API = − 131,5 (2.1) d 60 60 Khối lượng riêng của dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ thường từ 0,5 – 1,1 g/cm3, tỷ trọng thường nhỏ hơn nước trừ phân đoạn nhựa đường. Khi tỷ trọng thay đổi từ 0,7 đến 1 thì độ API giảm từ 70,6 đến 10,0. Quy trình xác định tỷ trọng: Mẫu được đưa về nhiệt độ chuẩn quy định chính xác bằng mày điều nhiệt (là 150C hoặc 200C) hoặc mẫu được giữ ở nhiệt độ thích hợp khác là nhiệt độ đo được của mẫu hoặc nhiệt độ của mẫu trùng với nhiệt độ phòng. Ống đong hình trụ, có đường kính trong của ống ≥ 25 mm so với đường kính ngoài của tỷ trọng kế. Chiều cao của ống đong phải đủ để tỷ trọng kế nổi trong mẫu và đáy của tỷ trọng kế cách đáy của ống đong ít nhất 25 mm. Đưa nhiệt độ ống đong và nhiệt độ tỷ trọng kế gần bằng nhiệt độ mẫu thử. Rót mẫu nhẹ nhàng vào ống đong sao cho tránh tạo bọt và tránh sự bay hơi của các phân đoạn nhẹ (khi cần thiết phải dùng xi phông), sao cho đủ lượng để tỷ trọng kế nổi được và đọc được số. Gạt bỏ tất cả các bọt khí sau khic húng nổi trên bề mặt mẫu bằng cách dùng giấy lọc sạch chạm vào chúng. Đặt ống đong chứa mẫu ở vị trí thẳng đứng, thả từ từ tỷ trọng kế thích hợp vào sao cho không chạm vào thành nống và để yên. Chú ý phần nổi của tỷ trọng kế không được ướt. Dùng nhiệt kế để khuấy mẫu sao cho bầu thủy ngân luôn ngập trong mẫu thử. Ngay sau khi số đọc của nhiệt kế ổn định, ghi lại nhiệt độ của mẫu chính xác đến 0,250C sau đó lấy nhiệt kế ra. Ấn tỷ trọng kế xuống khoảng hai vạch và sau đó thả tỷ trọng kế ra hoặc có thể xoay nhẹ để đưa tỷ trọng kế về trạng thái cân bằng, nổi tự do không chạm vào thành ống. Đặt mắt ngang bề mặt chất lỏng, đọc đúng vạch cắt của thang chia độ và mặt chất lỏng theo hai trường hợp: chất lỏng trong suốt và chất lỏng đục. Phương pháp tỷ trọng kế này là phù hợp nhất để xác định khối lượng riêng, tỉ trọng hoặc độ API của các loại dầu nhớt thấp trong suốt. 3 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  4. D−¬ng ViÕt C−êng Mặt phẳng Mặt phẳng Xem chi tiết ngang của Xem chi tiết ngang của chất lỏng chất lỏng Chất lỏng Đáy của mặt Đáy của mặt Chất lỏng khum khum Mặt phẳng Mặt phẳng ngang của Đọc tại Đọc tại ngang của chất lỏng điểm điểm chất lỏng này này Mặt khum Mặt khum Chi tiết Chi tiết a) b) Hình 2.1: Thang đọc của tỷ trọng kế đối với chất lỏng dầu mỏ trong suốt (a) và không trong suốt (b) Phương pháp này cũng áp dụng cho loại chất lỏng nhớt với thời gian đủ để tỷ trọng kế đạt đến trạng thái cân bằng, hoặc thích hợp áp dụng cho loại chất lỏng đục nếu hiệu chỉnh mặt khum thích hợp. Khi đo với lượng dầu lớn, các sai số hiệu chỉnh thể tích sẽ được giảm thiểu bằng cách quan sát số đo trên tỷ trọng kế tại nhiệt độ gần sát nhiệt độ của bồn dầu. 2.1.2. Độ nhớt ASTM D445 - 06; TCVN 3171: 2007 Độ nhớt là đại lượng đặc trưng cho mức độ cản trở giữa hai lớp chất lưu khi chúng chuyển động tương đối, trượt lên nhau. Một cách tổng quát, một chất lưu có độ nhớt càng lớn khi nó càng khó chảy. Độ nhớt là một chỉ tiêu quan trọng và cơ bản của dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ. Đối với dầu mỏ và đa số các sản phẩm dầu mỏ độ nhớt liên quan mật thiết đến tính lưu biến của chúng trong các điều kiện nhiệt độ làm việc khác nhau. Thông thường nhiệt độ giảm thì độ nhớt tăng và ngược lại. Sự thay đổi độ nhớt của dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ cũng phụ thuộc nhiều vào bản chất của chúng. Dầu chứa nhiều parafin thường có độ nhớt thay đổi nhiều theo nhiệt độ. 4 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  5. D−¬ng ViÕt C−êng Đối với các chất bôi trơn, độ nhớt là một tính chất quyết định độ dày màng dầu, nó làm giảm ma sát và mài mòn giữa hai bề mặt tiếp xúc. Nó có ảnh hưởng đến độ khít, tổn hao công ma sát, khả năng chống mài mòn, khả năng chống tạo cặn, khả năng làm mát các chi tiết làm việc… Trong động cơ, độ nhớt đóng vai trò quyết định lượng tiêu hao nhiên liệu, khả năng tiết kiệm dầu và hoạt động của động cơ. Đối với một số loại động cơ, đặc biệt là động cơ ôtô cũng ảnh hưởng tới khởi động và tốc độ trục khuỷu. Độ nhớt quá cao sẽ làm giảm tốc độ của trục và do đó làm tăng lượng nhiên liệu tiêu hao (kể cả sau khi động cơ đã khởi động). Độ nhớt quá thấp sẽ dẫn tới chóng mài mòn và tăng lượng tiêu hao dầu. Chính vì vậy độ nhớt được lấy làm cơ sở cho hệ thống phân loại dầu nhờn (theo cấp độ nhớt SAE). Có hai loại độ nhớt là độ nhớt động lực và độ nhớt động học. Trong công nghiệp dầu mỏ thường dùng độ nhớt động học, còn độ nhớt động lực được sử dụng nhiều trong các phương pháp nghiên cứu. Độ nhớt động học được xác định bằng phương pháp sử dụng nhớt kế mao quản với đơn vị đo chủ yếu là cSt. Có nhiều loại nhớt kế được thiết kế có hình dáng khác nhau để đo độ nhớt của chất lỏng khác nhau theo tiêu chuẩn ASTM D 446-06. Vì vậy việc lựa chọn nhớt kế sao cho phù hợp với chất lỏng cần đo độ nhớt có ý nghĩa rất quan trọng. Điều này thể hiện qua thời gian chảy của mẫu từ vạch này đến vạch kia của bầu đo. Nếu thời gian chảy nhanh quá hoặc chậm quá thì kết quả đo đều sẽ không chính xác. Trong công nghiệp dầu mỏ người ta quan tâm đến hai loại nhớt kế chính là: nhớt kế chảy xuôi và nhớt kế chảy ngược. Trong đó, nhớt kế chảy xuôi thường được sử dụng cho các chất lỏng sáng màu và nhớt kế chảy ngược được sử dụng để đo độ nhớt của các chất lỏng tối màu hoặc sẫm màu. Hình 2.2: Nhớt kế mao quản chảy xuôi (a) và nhớt kế mao quản chảy ngược (b) 5 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  6. D−¬ng ViÕt C−êng Bảng 2.1: Một số thông số loại nhớt kế chảy xuôi hình 2.2 a Đường Hằng số Dải đo độ Đường Đường Nhớt Thể tích kính trong nhớt kế, nhớt kính trong kính trong kế số bầu C, ml ống tại E, (mm2/s)/s mm2/s ống R, mm ống N, mm mm 1 0,0008 1,05A min 0,38 5,6 2,8 – 3,2 3 2 0,003 2,1B – 3 0,49 5,6 2,8 – 3,2 3 3 0,01 3,8C – 10 0,66 5,6 2,8 – 3,2 3 4 0,03 6 – 30 0,87 5,6 2,8 – 3,2 3 5 0,1 20 – 100 1,18 5,6 2,8 – 3,2 3 6 0,3 60 – 300 1,55 5,6 2,8 – 3,2 3 7 1,0 200 – 1000 2,10 5,6 3,7 – 4,3 4 8 3,0 600 – 3000 2,76 5,6 4,6 – 5,4 5 9 10,0 2000 - 10000 3,80 5,6 4,6 – 5,4 5 A: thời gian chảy nhỏ nhất là 1320 giây B: thời gian chảy nhỏ nhất là 600 giây C: thời gian chảy nhỏ nhất là 380 giây, 200 giây cho tất cả các kích thước nhớt kế. Bảng 2.2: Một số thông số loại nhớt kế chảy ngược hình 2.2 b Đường Hằng số Dải đo độ Đường kính trong Thể tích Nhớt Thể tích nhớt kế, nhớt kính trong ống bầu A,C,J, kế số bầu D, ml (mm2/s)/s mm2/s ống R, mm N,E,F,I ml mm 25 0,002 0,4 -2 0,31 3,0 1,6 11 60 0,004 0,8 – 4 0,42 3,0 2,1 11 75 0,008 1,6 – 8 0,54 3,0 2,1 11 100 0,015 3 – 15 0,63 3,2 2,1 11 150 0,035 7 – 35 0,78 3,2 2,1 11 200 0,1 20 – 100 1,02 3,2 2,1 11 300 0,25 50 – 200 1,28 3,4 2,1 11 350 0,5 100 – 500 1,48 3,4 2,1 11 400 1,2 240 – 1.200 1,88 3,4 2,1 11 450 2,5 500 – 2.500 2,20 3,7 2,1 11 500 8,0 1.600 – 8.000 3,10 4,0 2,1 11 600 20,0 4.000 – 20.000 4,00 4,7 2,1 13 6 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  7. D−¬ng ViÕt C−êng * Quy trình xác định độ nhớt bằng nhớt kế mao quản: - Chọn nhớt kết phù hợp với độ nhớt của dầu sao cho tốc độ chảy khoảng 200 - 800 giây. - Nạp vào dụng cụ đo (nhớt kế) một lượng dầu thích hợp. - Để ổn định nhiệt tại một nhiệt độ nhất định trong bình ổn định nhiệt khoảng 30 phút sao cho đạt cân bằng nhiệt độ bên trong mẫu cần đo và nhiệt độ dầu của thiết bị ổn định nhiệt, dùng đồng hồ bấm giây đo thời gian chảy của lượng dầu trên từ vạch này đến vạch kia của dụng cụ đo, phụ thuộc vào hằng số nhớt kế (k) ta tính được độ nhớt động học của dầu theo công thức sau đây: ν = k.t Trong đó: ν : độ nhớt động học (cSt); k: hằng số nhớt kế (cSt/s); t: thời gian chảy (s). Hình 2.3: Bể xác định độ nhớt 2.1.3. Chỉ số độ nhớt (VI – viscosity index) ASTM D 2270-06 Chỉ số độ nhớt (VI) là đại lượng đặc trưng cho sự thay đổi độ nhớt của mẫu theo nhiệt độ. Thông thường khi nhiệt độ tăng độ nhớt sẽ giảm và ngược lại. Chỉ số độ nhớt còn phụ thuộc vào bản chất của dầu mỏ. Dầu chứa nhiều naphten có VI cao và dầu chứa nhiều parafin có VI thấp. Trong số các sản phẩm dầu mỏ, có lẽ chỉ có dầu mỡ bôi trơn, nhiên liệu phản lực người ta mới quan tâm nhiều đến VI. Vì chỉ tiêu này quyết định đến khoảng nhiệt độ làm việc rộng và chức năng của chúng. Điều này có thể giải thích như sau: trong các động cơ, môi trường làm việc của dầu có nhiệt độ thay đổi từ âm vài 0C đến vài trăm 0 C, khi đó độ nhớt của dầu thay đổi rất lớn. Ở nhiệt độ thấp, độ nhớt của dầu mỡ bôi trơn tăng làm giảm tính lưu biến của dầu, khó khăn trong quá trình bơm đi để bôi trơn các chi tiết động cơ trong quá trình khởi động. Ngược lại, ở nhiệt độ cao độ nhớt giảm đáng kể, khi đó độ dày màng dầu không đủ dầy để đảm bảo chức năng bôi trơn, giảm ma sát và các chức năng khác của mình. Chính vì vậy, VI luôn được coi là một trong số các chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đối với dầu mỡ bôi trơn động cơ. 7 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  8. D−¬ng ViÕt C−êng VI là một giá trị được xác định qua sự thay đổi độ nhớt theo nhiệt độ dựa trên cơ sở so sánh khoảng thay đổi tương đối về độ nhớt của hai loại dầu chọn lọc chuyên dùng, hai loại dầu này khác biệt nhau rất lớn về chỉ số độ nhớt VI. Độ nhớt, cSt L U VI = 0 H VI = 100 0 40 100 0 C Hình 2.4: Sự thay đổi độ nhớt của dầu bôi trơn theo nhiệt độ. Trong đó: L - độ nhớt của dầu có VI = 0 (dầu có VI thấp – dầu naphten) H - độ nhớt của dầu có VI = 100 (dầu có VI cao – dầu parafin) U - độ nhớt của dầu cần phải tính chỉ số độ nhớt Dựa vào độ nhớt động học ở 400C và 1000C của từng loại dầu để tính chỉ số độ nhớt (VI) tương ứng của chúng theo tiêu chuẩn ASTM D 2270. Tiêu chuẩn này phân ra hai trường hợp: dầu có VI dự đoán nhỏ hơn 100 và lớn hơn 100. * Trường hợp 1: Dầu bôi trơn có VI dự đoán nhỏ hơn 100. Chỉ số độ nhớt VI được tính theo công thức sau: VI = ( L − U ) .100 (2.2) (L − H) Trong đó: L – độ nhớt động học ở 400C của một loại dầu có VI = 0 và có cùng độ nhớt động học ở 1000C với dầu mà ta cần tính VI, cSt; U – độ nhớt động học ở 400C của dầu ta cần phải tính chỉ số độ nhớt, mm2/s; H - độ nhớt động học học ở 400C của một loại dầu có VI = 100 và có cùng độ nhớt động học ở 1000C với dầu mà ta cần tính VI, cSt; + Nếu độ nhớt động học của dầu cần đo ở 1000C nhỏ hơn hay bằng 70 cSt thì các giá trị tương ứng của L và H cần phải tra bảng 2.3. 8 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  9. D−¬ng ViÕt C−êng Bảng 2.3: Giá trị L,H tương ứng với độ nhớt động học ở 400C và 1000C Độ nhớt động học Giá trị L Giá trị H ở 1000C, mm2/s 2,00 7,994 6,394 2,10 8,640 6,894 5,00 40,230 28,490 5,10 41,990 29,480 15,00 296,500 149,700 15,10 300,000 151,200 20,00 493,200 229,500 20,20 501,500 233,000 70,00 4905,000 1558,000 Ghi chú: Nếu các giá trị độ nhớt không nằm trong bảng trên thì được suy ra bằng cách nội suy. + Nếu độ nhớt động học của dầu cần đo ở 1000C lớn hơn 70 cSt, thì giá trị L và H được tính như sau: L = 0,8353 Y2 + 14,67 Y – 216 (2.3) H = 0,1684 Y2 + 11,85 Y – 97 (2.4) Với Y là độ nhớt động học ở 1000C của dầu tính chỉ số độ nhớt, cSt. * Trường hợp thứ hai: Chỉ số độ nhớt dầu cần đo dự đoán lớn hơn 100: VI được tính theo công thức: VI = [(antilogN – 1)/0,00715] + 100 (2.5) Trong đó N = (logH – logU)/logY (2.6) Giá trị H được tính như ở cách tính thứ nhất. Ví Dụ 1: Tính chỉ số độ nhớt của dầu có: - Độ nhớt động học tại 40oC = 22,83mm2/s (cSt) - Độ nhớt động học tại 100oC = 5,05mm2/s (cSt) Từ bảng 2.3 (nội suy) ta có: H = 28,97 Thay vào phương trình (2.6) có: N = [(log28,97 - log22,83) / log5,05] = 0,14708 Thay vào phương trình (2.5) và làm tròn: VI = [((antilog 0,14708) - 1) / 0,00715] + 100 = 156,37 VI = 156 Ví Dụ 2: Tính chỉ số độ nhớt của dầu có: - Độ nhớt động học tại 40oC = 53,47mm2/s (cSt) 9 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  10. D−¬ng ViÕt C−êng - Độ nhớt động học tại 100oC = 7,8mm2/s (cSt) Từ bảng 2.3 ta có: H = 57,31 Thay vào phương trình (2.6) có: N = [(log57,31 - log53,47) / log7,80] = 0,03376 Thay vào phương trình (2.5) và làm tròn: VI = [((antilog 0,3376) - 1) / 0,00715] + 100 VI = 111 2.1.4. Nhiệt độ chớp cháy, nhiệt độ bắt cháy ASTM D 92-02; TCVN 2699-1995. ASTM D 93-02; TCVN 2693-1995. Nhiệt độ chớp cháy là nhiệt độ thấp nhất của chất lỏng mà ở đó hơi của nó và không khí tạo thành hỗn hợp có khẳ năng bắt cháy khi đưa ngọn lửa (có kích thước theo quy định) từ ngoài vào và cháy không quá 5 giây. Hoàn toàn tương tự, nếu ngọn lửa cháy với thời gian lơn hơn 5 giây được gọi là nhiệt độ bắt cháy. Nhiệt độ chớp cháy, bắt cháy trong một mức độ nào đó đặc trưng cho tính dễ cháy của dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ. Dựa vào nhiệt độ chớp cháy có thể biết được đặc tính của hydrocacbon có trong thành phần của nó cũng như sự có mặt của các cấu tử nhẹ. Hydrocacbon có nhiệt độ sôi cao thì điểm chớp cháy cao và ngược lại. Xác định nhiệt độ chớp cháy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo quản, tồn chứa nhiên liệu và an toàn cháy nổ. Có hai phương pháp xác định nhiệt độ chớp cháy, bắt cháy là: phương pháp cốc kín và cốc hở. Cách tiến hành của hai phương pháp này là hoàn toàn tương tự nhau. Sự khác nhau chỉ thể hiện ở hai điểm sau: - Nhiệt độ chớp cháy cốc kín được xác định trong điều kiện chén đựng mẫu được đậy nắp, nắp này được chỉ mở trong thời gian rất ngắn khi đưa ngọn lửa thử điểm chớp cháy vào; trong quá trình đo mẫu được khuấy liên tục. - Đối các dầu mỏ, sản phẩm dầu mỏ có khả năng bay hơi kém như: dầu thô, dầu mỡ bôi trơn... thì được xác định nhiệt độ chớp cháy cốc hở theo tiêu chuẩn ASTM D92-02 hoặc TCVN 2699:1995 bằng thiết bị chớp cháy cốc hở Cleveland Open Cup - COC. Các sản phẩm dầu mỏ có khả năng bay hơi mạnh như: khí hóa lỏng (LPG, CNG, LNG), xăng, điêzen, kerosen... thì nhiệt độ chớp cháy, bắt cháy cốc kín theo tiêu chuẩn ASTM D93-02 hoặc TCVN 2693:1995 bằng thiết bị chớp cháy cốc kín Pensky- Martesns close Cup Tester. * Quy trình xác định: Đổ một lượng mẫu theo mức cho phép, đặt vào máy đo độ chớp cháy, nối máy với bình ga, sau đó chỉnh ngọn lửa có đường kính 3,2 đến 4,8 mm và điều chỉnh nhiệt 10 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  11. D−¬ng ViÕt C−êng độ của mẫu sao cho từ 140C đến 170C/phút. Khi nhiệt độ của mẫu thấp hơn điểm chớp lửa dự đoán 560C giảm tốc độ xuống còn 5 – 60C/phút, cho đến khi nhiệt độ dự đoán xuống còn 280C thì giảm xuống 20C châm lửa 1 lần. Cứ thế cho đến khi xác định được nhiệt độ chớp cháy, bắt cháy. (a) (b) Hình 2.5: Thiết bị xác định nhiệt độ chớp cháy, bắt cháy cốc hở (a), cốc kín (b) Bảng 2.4: Thông số cơ bản của thiết bị cốc hở Giá trị, mm Thông số Nhỏ nhất Lớn nhất Đường kính A 3,2 4,8 Bán kính B 152 - Đường kính C 1,6 - D - 2 E 6,0 7 Đường kính F 0,8 - Bảng 2.5: Thông số cơ bản của thiết bị cốc kín Giá trị, mm Thông số Nhỏ nhất Lớn nhất A 4,37 5,16 B 41,94 42,06 C 1,58 3,18 D - 9,52 E 57,23 57,86 F 6,35 - 11 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  12. D−¬ng ViÕt C−êng 2.1.5. Áp suất hơi bão hòa Reid ASTM D323 – 99; TCVN 5731 : 2006 Áp suất hơi là một đặc tính lý học quan trọng đối với các chất lỏng dễ bay hơi. Nó là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng cho cả xăng hàng không và xăng ôtô, vì chúng ảnh hưởng đến quá trình khởi động, làm nóng máy và có xu hướng tạo hơi ở nhiệt độ vận hành cao hoặc ở trên cao. Ở một vài nơi giới hạn áp suất hơi lớn nhất của xăng được qui định mang tính pháp lý như một số đo kiểm soát sự ô nhiễm của không khí. Tiêu chuẩn ASTM D323 – 99; TCVN 5731 : 2006 áp dụng để xác định áp suất hơi ở 37,80C (1000F) của sản phẩm dầu mỏ và dầu thô có nhiệt độ sôi đầu lớn hơn 00C (320F). Khoang lỏng đã làm lạnh Ống truyền mẫu đã làm lạnh a) b) c) d) Bình chứa Dùng cụm Khoang lỏng Vị trí của hệ mẫu trước truyền mẫu được đặt thống truyền khi truyền làm nắp trên ống dẫn mẫu mẫu bình chất lỏng Hình 2.6: Sơ đồ truyền mẫu từ hệ thống loại mở sang khoang lỏng Cách xác định: Lấy bình mẫu ra khỏi bể làm lạnh, mở nắp và lắp ống truyền mẫu đã được làm lạnh vào (xem hình 2.6). Lấy khoang lỏng ra khỏi bể làm lạnh và đặt ở vị trí lộn ngược trên đầu ống truyền mẫu. Lật ngược thật nhanh toàn bộ hệ thống sao cho khoang lỏng thẳng đứng và đầu ống truyền cách đáy khoang lỏng khoảng 6 mm (0,25 in.). Nạp mẫu đầy tràn khoang lỏng. Rút ống truyền mẫu ra khỏi khoang lỏng trong khi mẫu vẫn tiếp tục tràn cho đến khi ống được rút ra hoàn toàn. Lấy ngay khoang hơi ra khỏi bể nước và nối với khoang lỏng đầy mẫu càng nhanh càng tốt, không để tràn. Khi khoang hơi đã đưa ra khỏi bể, nối với khoang lỏng sao cho không tạo ra sự trao đổi giữa không khí nhiệt độ phòng với không khí có nhiệt độ 37,80C (1000F) trong khoang đó. Hoàn tất thao tác lắp thiết bị trong vòng 10 giây. Lật úp thiết bị đã lắp ráp và cho toàn bộ mẫu từ khoang lỏng chảy vào khoang hơi, lắc mạnh, lật lên úp xuống 8 lần. Để đầu áp kế đo phía trên, nhúng ngập toàn bộ thiết bị trong bể nước được duy trì ở nhiệt độ 37,80C ± 0,10C (1000F ± 0,20F), ở vị trí 12 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  13. D−¬ng ViÕt C−êng nghiêng sao cho chỗ nối giữa khoang lỏng và khoang hơi nằm dưới mức nước. Kiểm tra cẩn thận sự rò rỉ. Nếu không có hiện tượng rò rỉ, tiếp tục ngâm thiết bị sao cho đỉnh của khoang hơi nằm dưới mặt nước ít nhất 25 mm (1 inch). Hình 2.7: Kích thước thiết bị đo áp suất hơi bão hòa Reid Bảng 2.6: Thông số thiết bị đo áp suất hơi bão hòa Reid Ký hiệu Mô tả Kích thước, mm A Chiều dài khoang hơi 254 B, C, D Đường kính trong của khoang lỏng và khoang hơi 51 E Đường kính trong của đầu nối, min 4,7 F, G Đường kính ngoài của đầu nối 12,7 H Đường kính trong của đầu nối 12,7 I Van 12,7 J Van 6,35 Sau khi ngâm thiết bị trong bể nước ít nhất 5 phút, gõ nhẹ áp kế đo và quan sát số đọc trên áp kế đo. Lấy thiết bị ra khỏi bể và lặp các bước tiến hành như trên. Cứ sau khoảng ít nhất 2 phút lại gõ nhẹ lên áp kế và ghi lại số chỉ của áp kế. Cứ lặp lại cách tiến hành như trên ít nhất 5 lần cho đến khi số chỉ của áp kế hai lần liên tiếp bằng nhau, nghĩa là áp suất đã đạt cân bằng. Giá trị áp suất này được gọi là áp suất hơi chưa hiệu chỉnh của mẫu. Tháo ngay áp kế ra khỏi thiết bị, không cần làm sạch hết chất lỏng còn bám vào áp kế, kiểm tra số đọc trên áp kế đo theo dụng cụ đo áp suất khi cho cả hai cùng chịu một áp lực ổn định bằng nhau, bằng số đo áp suất hơi chưa hiệu chỉnh khoảng 1,0 kPa (0,2 psi). Nếu có sự khác nhau giữa số đọc của hai áp kế thì giá trị chênh lệch này được cộng với áp suất hơi chưa hiệu chỉnh của mẫu. Giá trị áp suất này chính là áp suất hơi bão hòa Reid của mẫu. 13 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  14. D−¬ng ViÕt C−êng Hình 2.8: Sơ đồ thiết bị đo áp suất hơi Reid kiểu nằm ngang Có 4 quy trình đo áp suất hơi ứng với các trường hợp khác nhau. - Quy trình A: áp dụng cho sản phẩm dầu mỏ có áp suất hơi Reid nhỏ hơn 180 kPa (26 psi). - Quy trình B: áp dụng cho sản phẩm dầu mỏ có áp suất hơi Reid nhỏ hơn 180 kPa (26 psi) loại bể ngang. - Quy trình C: áp dụng cho sản phẩm dầu mỏ có áp suất hơi Reid lớn hơn 180 kPa (26 psi). - Quy trình D: áp dụng cho xăng hàng không có áp suất hơi Reid khoảng 50 kPa (7 psi). Tất cả bốn qui trình A, B, C, D đều dùng khoang hơi và khoang lỏng có thể tích bằng nhau. Qui trình B sử dụng thiết bị bán tự động ngâm chìm trong bể ngang và quay trong khi đạt cân bằng. Với qui trình này có thể dùng áp kế Bourdon hoặc bộ chuyển đổi áp suất. Qui trình C sử dụng khoang lỏng có hai lỗ van. Qui trình D qui định chặt hơn tỷ lệ giữa khoang hơi và khoang lỏng. 2.1.6. Thành phần cất ở áp suất khí quyển ASTM D86 – 05; TCVN 2698 : 2007 Thành phần cất ở áp suất khí quyển được hiểu là nhiệt độ tại đó thu được x% thể tích mẫu trong một thiết bị thử nghiệm tiêu chuẩn. Đối với dầu mỏ, biết được đặc tính thành phần cất ở áp suất khí quyển sẽ giúp cho người thiết kế hoạch định được tỷ lệ lấy sản phẩm trong quá trình chưng cất phân đoạn dầu mỏ và tính toán các thông số cơ bản của tháp chưng cất. 14 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  15. D−¬ng ViÕt C−êng Đối với các sản phẩm dầu mỏ, các đặc tính chưng cất (tính bay hơi) của các hydrocacbon thường có ảnh hưởng quan trọng đến an toàn và tính năng sử dụng của chúng, đặc biệt đối với các loại nhiên liệu và dung môi. Dựa vào dải sôi có thể biết được các thông tin về thành phần, tính chất của nhiên liệu trong quá trình bảo quản và sử dụng. Tính bay hơi là một yếu tố chính để xác định xu hướng tạo hơi nổ của hỗn hợp hydrocacbon. Các đặc tính chưng cất có vai trò đặc biệt quan trọng cho cả xăng ôtô và xăng máy bay, ảnh hưởng đến sự khởi động máy, làm nóng máy và xu hướng tạo nút hơi ở nhiệt độ vận hành cao hoặc ở độ cao lớn, hoặc cả hai. Sự có mặt của các thành phần có điểm sôi cao trong các loại nhiên liệu có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự tạo thành cặn cháy cứng. Tính bay hơi ảnh hưởng đến tốc độ bay hơi, tính chất này là một yếu tố quan trọng khi sử dụng các dung môi, đặc biệt những dung môi pha sơn. Thành phần cất của dầu mỏ và các sản phẩm dầu mỏ được xác định theo tiêu chuẩn ASTM D86 – 05; TCVN 2698 : 2007. Phương pháp này áp dụng để xác định các thành phần cất của dầu mỏ, xăng, nhiên liệu điêzen, dung môi gốc dầu mỏ, naptha, dầu hỏa và các loại nhiên liệu đốt lò. Sơ đồ thí nghiệm được bố trí như hình 2.9. Chiều dài ống ngưng trong bể ≈ 390 Hình chiếu đứng Hình chiếu cạnh Hình 2.9: Sơ đồ lắp đặt thiết bị xác định thành phần cất ở áp suất khí quyển 1. Bể ngưng tụ 10. Lỗ thông khí 2. Nắp bể 11. Bình cất 3. Đầu đo nhiệt độ của bể 12. Đầu đo nhiệt độ 4. Ống chảy tràn 13. Tấm đỡ bình cất 5. Ống tháo bể 14. Bộ đỡ bình cất 6. Ống ngưng 15. Dây nối đất 15 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  16. D−¬ng ViÕt C−êng 7. Tấm chắn 16. Bếp điện 8. Cửa quan sát 17. Núm điều chỉnh bộ đỡ 9a. Núm điều chỉnh điện áp 18. Dây điện 9b. Vôn kế hoặc ămpe kế 19. Ống hứng 9c. Công tắc 20. Bể làm lạnh ống hứng 9d. Đèn báo 21. Nắp ống hứng Hình 2.10: Chi tiết bình cất ASTM D86 – 05 Quy trình xác định: Cho 100 ml mẫu vào bình chưng, lắp chặt ống hơi của bình cất có nút bấc hoặc cao su hoặc nút polyme tương đương vào ống chưng. Chỉnh bình cất theo phương thẳng đứng sao cho ống hơi xuyên vào ống ngưng một khoảng từ 25 mm đến 50 mm. Nâng và chỉnh để tấm đỡ bình cất khí vào đáy của bình. Đặt ống hứng vừa dùng để đo thể tích mẫu (không cần làm khô bên trong) vào trong bể điều nhiệt nằm dưới đầu thấp của ống ngưng. Đầu của ống ngưng sẽ nằm giữa miệng ống hứng và sâu vào trong ống một khoảng ít nhất là 25 mm, nhưng không dưới vạch 100 mm. Xác định điểm sôi đầu: Để giảm lượng thất thoát của phần cất do bay hơi, đậy ống hứng bằng mảnh giấy thấm hoặc vật liệu tương tự đã được cắt vừa khít với ống ngưng. Nếu dùng ống dẫn dòng cho ống hứng thì bắt đầu chưng cất với đầu của ống dẫn dòng vừa chạm thành của ống hứng. Nếu không dùng ống dẫn dòng thì giữ đầu chảy của ống ngưng xa thành của ống hứng. Ghi lại thời gian bắt đầu. Quan sát và ghi lại điểm sôi đầu chính xác đến 0,5 0C (1,0 0F). Nếu không dùng ống dẫn dòng thì phải chuyển dịch ống hứng ngay, sao cho đầu ống ngưng chạm vào thành trong của nó. Điều chỉnh việc cấp nhiệt sao cho khoảng thời gian giữa lần cấp nhiệt đầu tiên và điểm sôi đầu đến khi thu được 5%, 10% phù hợp với từng loại mẫu cấn xác định. 16 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  17. D−¬ng ViÕt C−êng Xác định điểm sôi giữa và điểm sôi cuối: Tiếp tục điều chỉnh nhiệt sao cho tốc độ ngưng trung bình không đổi từ khi thu được 5 % hoặc 10 % đến khi còn 5 ml cặn trong bình cất là 4 ml/phút đến 5 ml/phút. Trong khoảng thời gian giữa điểm sôi đầu và kết thúc chưng cất, quan sát và ghi lại các số liệu cần thiết cho tính toán và báo cáo kết quả phép thử theo tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật qui định, hoặc như đã yêu cầu đối với mẫu thử. Các số liệu quan sát có thể bao gồm các số đọc nhiệt độ tại các phần trăm thu hồi định trước hoặc ngược lại, hoặc cả hai. 2.1.7. Trị số kiềm tổng (TBN), trị số axit tổng (TAN) ASTM D664 – 06a; TCVN 6325 : 2007 ASTM D974 – 06; TCVN 2695 : 2008 ASTM D2896 – 07a; TCVN 3167 : 2008 Trị số axit tổng (TAN) là là số milligam KOH cần để trung hòa hết 100 ml sản phẩm dầu mỏ. Các hợp chất mang tính axit chủ yếu trong sản phẩm dầu mỏ chủ yếu là các axit hữu cơ, phenol, các muối, lacton, các chất nhựa, đặc biệt là khi nó chứa các axit vô cơ như HCl sinh ra trong quá trình chế biến dầu mỏ. Sản phẩm dầu mỏ có TAN cao gây ăn mòn mạnh các máy – thiết bị trong quá trình vận chuyển, tồn chứa và sử dụng. Trên thế giới, mức quy định TAN hiện nay nằm trong khoảng từ 1 ÷ 4 mgKOH/100 ml. Sản phẩm dầu mỏ của Nga quy định mức TAN cho phép từ 0,8 ÷ 2 mgKOH/100 ml. TAN được xác định theo tiêu chuẩn ASTM D 664 – 06a; TCVN 6325 : 2007 xác định TAN của các sản phẩm dầu mỏ bằng phương pháp chuẩn độ điện thế. Phương pháp xác định như sau: Cho vào cốc 250 mL hoặc một bình chứa thích hợp một lượng mẫu như trong bảng 2.7 và thêm 125 ml dung môi chuẩn độ. Chuẩn bị các điện cực theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Đặt cốc hoặc bình chuẩn độ theo phương thẳng đứng và điều chỉnh vị trí của nó để các điện cực ở vị trí nửa chìm. Bắt đầu khuấy, và khuấy trong suốt quá trình ở mức đủ để kích động mạnh mẽ mà không bắn tung tóe và không để không khí bão hòa vào dung dịch chuẩn độ. Bảng 2.7: Lượng chất thử nghiệm Chỉ số axit Khối lượng, g Độ chính xác của phép cân, g 0,05÷1,0 20,0±2,0 0,10 1,0÷5,0 5,0±0,5 0,02 5÷20 1,0±0,1 0,005 20÷100 0,25±0,02 0,001 100÷260 0,1±0,01 0,0005 17 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  18. D−¬ng ViÕt C−êng Lựa chọn buret và đổ hoặc hút vào đó dung dịch kiềm KOH 0,1 mol/l. Đưa buret vào vị trí của bộ chuẩn độ, đảm bảo rằng đầu của buret ngập sâu khoảng 25 mm trong dung dịch chuẩn độ. Ghi lại thể tích dung dịch chuẩn trong buret và số chỉ điện áp của máy chuẩn độ điện thế. Có hai phương pháp được sử dụng trong cách xác định này là chuẩn độ thủ công và chuẩn độ tự động. Phương pháp chuẩn độ thủ công: Thêm một lượng nhỏ phù hợp dung dịch kiềm KOH 0,1M vào mẫu và đợi cho đến khi hằng số điện áp được thiết lập, ghi lại giá trị thể tích dung dịch chuẩn trong buret và chỉ số điện áp. Tại điểm bắt đầu chuẩn độ và chỉ tại các điểm uốn sau đó, chỗ mà 0,1 ml dung dịch chuẩn KOH 0,1M không làm thay đổi trong quá trình và tổng điện áp thay đổi của nó lớn hơn 30 mV ở điện cực, tiếp tục thêm một phần nhỏ 0,05 ml dung dịch chuẩn. Ở đoạn giữa (đoạn bằng) đường cong thế, nơi mà cũng với 0,1 ml dung dịch chuẩn KOH 0,1M làm thay đổi điện áp của điện cực nhỏ hơn 30 mV, tiếp tục thêm một phần nhỏ dung dịch chuẩn độ sao cho thế điện áp thay đổi không quá 30 mV. Tiếp tục chuẩn độ theo cách thức như trên cho đến khi tương ứng với 0,1 ml dung dịch chuẩn làm thay đổi điện áp không quá 5 mV thì dừng quá trình chuẩn độ (điểm cuối tự động) hoặc tới khi thế chỉ ra là dung dịch kiềm hơn dung dịch đệm kiềm không nước mới chuẩn bị (điểm cuối được chọn). Phương pháp chuẩn độ tự động: Kiểm tra lại các thiết bị thí nghiệm theo tiêu chuẩn để đảm bảo rằng thiết bị có thể xác định được lượng axit mạnh với số chỉ mV ban đầu của pháp thử. Mối liên hệ giữa điện thế của dung dịch axit đệm chỉ ra sự có mặt của các axit. Ghi lại thể tích của KOH được thêm vào cho đến khi số chỉ mV của dung dịch đệm pH = 4. Giá trị này được sử dụng để tính toán trị số axit mạnh. Thực hiện phương pháp chuẩn độ tự động và xây dựng đường cong điện thế hoặc đường cong đạo hàm như là các đường chuẩn. Chuẩn độ với dung dịch kiềm KOH 0,1M. Thiết bị se tự động điều chỉnh hoặc được thiết lập sẵn theo một chương trình nhất định. Khi tại các điểm uốn, nó có thể được sử dụng để tính toán một cách gần đúng, tốc độ thêm chất chuẩn và thể tích của chất chuẩn dựa trên sự thay đổi độ cong của đường cong chuẩn độ. Dung dịch chuẩn độ tăng lên sẽ được thêm vào sao cho sự thay đổi thế của điện cực là từ 5 – 15 mV đối với phần dung dịch chuẩn tăng thêm. Thể tích dung dịch chuẩn tăng thêm sẽ thay đổi từ 0,05 đến 0,5 ml. Sự tăng tiếp dung dịch chuẩn có thể được thêm vào nếu không có dấu hiệu thay đổi thế ở điện cực lớn hơn 10 mV trong 10 giây, nhưng thời gian lớn nhất giữa các lần tăng thêm dung dịch chuẩn độ không được quá 60 giây. 18 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  19. D−¬ng ViÕt C−êng Quá trình chuẩn độ có thể kết thúc khi dung dịch đệm có dấu hiệu đạt được độ pH = 11 và thế quá 200 mV. Điểm tương đương (cân bằng) có thể nhận ra nếu điểm bắt nguồn của đường cong chuẩn độ đạt giá cực đại, đó là điểm cao nhất so với các tín hiệu nhiễu mà điện cực thiết lập. Chuẩn mẫu trắng từ 125 ml dung môi chuẩn độ đối với quá trình chuẩn độ giống như chuẩn độ mẫu. Khi chuẩn độ xong, tráng điện cực bằng đầu buret bằng dung môi chuẩn độ sau đó bằng iso-propanol, cuối cùng bằng nước cất. Nhúng các điện cực trong nước ít nhất 5 phút trước khi dùng lại để phục hồi lớp gel nước của điện cực thuỷ tinh. Nhúng điện cực vào trong dung dịch KCl khi không dùng. Tính trị số axit, TAN: Quá trình chuẩn độ thủ công: Vẽ đường cong chuẩn độ dựa vào thể tích của dung dịch chuẩn kiềm KOH 0,1M tương ứng với số chỉ điện thế (hình 2.11). Đánh dấu điểm kết thúc chính xác phù hợp, xác định điểm uốn gần với điện áp pin đạt được tương ứng dung dịch axit hoặc dung dịch kiềm đệm. Nếu điểm uốn không xuất hiện hoặc xuất hiện không rõ ràng (đường cong B), đánh dấu điểm cuối tại số chỉ điện áp đạt được tương ứng với dung dịch đệm thích hợp. Thế của điện cực thủy tinh, mV ml dung dịch kiềm KOH 0,1M Hình 2.11: Đồ thị biểu diễn đường cong chuẩn độ 19 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia
  20. D−¬ng ViÕt C−êng Đường cong A: Đường cong chuẩn độ 125 ml mẫu trắng Đường cong B: Đường cong chuẩn độ 10 gam dầu động cơ đã sử dụng cộng với 125 ml dung môi chuẩn độ. không có điểm uốn rõ ràng, các điểm kết thúc được chọn tại số chỉ của điện cực đạt được tương ứng với hai dung dịch nước đệm. Đường cong C: Đường cong chuẩn độ 10 gam dầu chứa axit yếu cộng với 125 ml dung môi chuẩn độ. Điểm kết thúc được chọn là điểm mà tại đó đường cong chuẩn độ gần như thẳng đứng. Đường cong D: Đường cong chuẩn độ 10 gam dầu chứa axit yếu và axit mạnh cộng với 125 ml dung môi chuẩn độ. Các điểm kết thúc được chọn là điểm mà tại đó đường cong chuẩn độ gần như thẳng đứng. Tính trị số axit như sau: 56,1.(A − B).M Trị số axit TAN, mgKOH/g = (2.7) W Trong đó: A : Thể tích dung dịch rượu KOH đã dùng để chuẩn mẫu tới điểm cuối định phân xác định bằng điểm uốn đường cong chuẩn độ có giá trị đọc gần với giá trị dung dịch đệm kiềm hoặc nếu khó xác định hoặc không có điểm uốn thì xác định nhờ giá trị đọc của dung dịch đệm kiềm không nước, ml. B : Thể tích dung dịch kiềm KOH đã dùng để chuẩn mẫu trắng, ml. M : Độ chuẩn của dung dịch KOH, mol/l. W: Khối lượng mẫu,g. Độ kiềm trong dầu nhờn được biểu thị bằng trị số kiềm tổng (TBN), cho biết lượng axit clohydric hay percloric, được quy chuyển sang KOH tương đương cần thiết để trung hòa hết các hợp chất mang tính kiềm có mặt trong 1g mẫu. Hiện nay, nhiều loại phụ gia sử dụng nhằm nâng cao phẩm chất dầu bôi trơn. Các hợp chất được coi là có tính kiềm bao gồm: các chất kiềm vô cơ và hữu cơ, các muối của các kim loại nặng, các phụ gia, đặc biệt là các phụ gia được dùng trong điều kiện khắc nghiệt, như phụ gia tẩy rửa… Rất nhiều loại phụ gia hiện nay sử dụng cho dầu động cơ có chứa các hợp chất kiềm, nhằm trung hòa các sản phẩm axit của quá trình cháy, lượng tiêu tốn các thành phần kiềm này là một chỉ số về tuổi thọ sử dụng của dầu. Dầu có độ kiềm cao thì khả năng chống ăn mòn tốt. Khi TBN giảm đến một giá trị giới hạn nào đó thì dầu động cơ cần phải được thay mới. Khi độ kiềm quá thấp hay không còn thì dầu không có khả năng bảo vệ các chi tiết động cơ khỏi ăn mòn. Phương pháp ASTM D2896 – 07a; TCVN 3167 : 2008 thường được dùng để xác định các hợp chất kiềm trong các sản phẩm dầu mỏ. Quy trình xác định: 20 Sản phẩm dầu mỏ và Phụ gia

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản