PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế phát triển của thời đại, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi
mới, với trọng tâm phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đất nước ta đang
cần những nguồn năng lực dồi dào về thể chất, đạo đức và trí tuệ…Để thực hiện
được điều đó chúng ta cần phải đầu đến yếu tố con người vai trò của giáo
dục.
“Trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủ, biết học hành ngoanTr
em mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng toàn hội. Trẻ em
mầm non của đất nước do đó trẻ cần được hưởng sự chăm sóc, giáo dục, dạy dỗ
chu đáo của mọi người từ gia đình đến xã hội. Đặc biệt trẻ khuyết tật. vậy
giáo dục trẻ khuyết tật nhiệm vụ quan trọng đầy tính nhân văn của nghành
giáo dục.
Trẻ khuyết tật phải được hưởng mọi quyền lợi nnhững trẻ bình thường,
được hoc hòa nhập vui chơi như bao trẻ bình thường khác đó việc làm mang
tính nhân đạo, thể hiện quyền bình đẳng mà công ước Quốc tế, luật bảo vệ chăm
sóc bà mẹ trẻ em thừa nhận.
Lớp tôi đang dạy lớp 5 tuổi A3 cháu Thị Huyền Trang bị khuyết
tật “Chậm phát triển về thể lực,trí tuệ, ngôn ngữ kém” cháu sinh ngày 10 tháng
04 năm 2017. thể cháu phát triển không bình thường như bao trkhác, hoàn
cảnh gia đình cháu: Ông nội mất sớm, nội bị liệt không đi lại được lời nói
cũng không rõ, bố cháu là Võ Kiều Dương chỉ học đến lớp 3 là bỏ học, mẹ cháu
là Nguyễn Thị Huyền sức khỏe yếu chỉ ở nhà cấy ruộng và chăm mẹ chồng nằm
đâu nằm đấy, khi sinh bé Trang thì bố cháu mới 19 tuổi còn mẹ cháu 16 tuổi, gia
đình ngoại điều kiện cũng rất khó khăn không giúp được gì, cháu Trang lại bị
sinh non khi sinh cân nặng của cháu 1,3 kg vì hoàn cảnh gia đình nên cháu cũng
không được chăm sóc tốt như bao trẻ khác. Cũng chính thế thể của
cháu rất nhỏ, vào đầu năm học lớp 5-6 tuổi cháu cân nặng 12,3kg; chiều cao 90
cm thuộc kênh suy dinh dưỡng thể gầy còm mức độ nặng, ngôn ngữ của cháu
phát triển rất kém. Cháu thường không nói mà chỉ ú khi muốn biểu lộ điều gì,
hoặc ai hỏi cháu chỉ cười. Cháu hay ngồi một mình không chơi đùa cùng các
bạn, không tham gia vào các hoạt động của lớp. Cháu thường xuyên đi
ngoài ra quần không biết thưa cô, đầu tóc cháu thì cháu cũng không giữ gọn
gàng, giáo vừa chải tóc một lúc cháu lại ngồi lôi bỏ dây buộc tóc, khả
2
năng tự phục vụ bản thân còn hạn chế như xúc cơm, mặc quần áo…Vì vậy vấn
đề đặt ra đối với tôi lúc này cần phải tìm hiểu đặc điểm tâm sinh của trẻ
để tìm ra những biện pháp chăm sóc giáo dục, giúp cháu học tập tốt hơn hoà
đồng với các bạn, có khả năng tự phục vụ bản thân.
Chính vậy tôi đã nghiên cứu tìm ra một số biện pháp nhằm giáo dục
giúp đỡ cháu Thị Huyền Trang bị khuyết tật “Chậm phát triển về thể lực,
trí tuệ và ngôn ngữ kém hòa nhập với trường mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định các biện pháp giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường mầm
non nhằm phát huy hiệu quả của giáo dục toàn diện nhân cách giúp tr tự tin,
mạnh dạn trong giao tiếp, hòa nhập với bạn bè. Đồng thời giáo dục lòng nhân ái,
tình cảm yêu thương của các con đối với các bạn mình không may bị khuyết tật.
3. Đối tượng nghiên cứu
“Một số biện pháp giáo dục trẻ khuyết tật chậm phát triển về thể lực, trí tuệ
và ngôn ngữ kém hòa nhập với trường mầm non”
4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm
Lớp mẫu giáo A3 (5 – 6 tuổi), cháu Võ Thị Huyền Trang.
5. Các phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích tổng hợp các tài liệu luận những văn bản liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
Tham khảo tài liệu nghiên cứu thực tiễn về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Tìm hiểu thực trạng tr khuyết tật lớp, liên hệ phối hợp với phụ huynh,
tìm hiểu tâm sinh lý, cá tính của trẻ, sơ lược về dạng khuyết tật của trẻ.
Nhóm phương pháp trải nghiệm
Thực hành trải nghiệm, quan sát trong quá trình giảng dạy, trong các hoạt
động trên lớp nhằm giúp trẻ khuyết tật hòa nhập.
Phương pháp đánh giá: theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của trẻ, phát huy điểm
tích cực và giúp đỡ, hạn chế những khiếm khuyết của trẻ.
6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023.
3
PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận
Giáo dục trẻ khuyết tật xu hướng chung của hầu hết các nước trên thế
giới đã được BGiáo Dục Đào Tạo Việt Nam xác định con đường chủ
yếu để thực hiện những quyền bản của mọi trẻ em, đặc biệt quyền được
giáo dục. Đây cũng hội để mọi trẻ em, trong đó chú trọng đến trẻ khuyết
tật, trẻ khó khăn được tiếp cận nền giáo dục bình đẳng, có chất lượng.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta đã một câu nói
nổi tiếng: “tàn mà không phế”, đó cũng chính là chủ trương của Đảng, chính phủ
và nhân dân Việt Nam đối với bộ phận người tàn tật.
Kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Thương người
như thể thương thân”, Đảng nhà nước ta luôn quan tâm đến những người
khuyết tật trong xã hội, nhất đối với trẻ em. Trong điều kiện đất nước gặp
nhiều khó khăn, kinh tế còn chậm phát triển, chúng ta đã từng bước xây dựng,
thực hiện chính ch biện pháp nhằm giúp đỡ người khuyết tật i chung,
nhất giúp đỡ trẻ em bị khuyết tật về vật chất tinh thần, vượt qua khó khăn
riêng để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng.
giáo viên Mầm non đã lâu năm gắn trong nghề, với lòng yêu nghề,
mến trẻ, tận tụy với nghề nghiệp tôi suy nghĩ và chăn chở là phải làm thế nào để
những biện pháp giáo dục cháu Thị Huyền Trang bị khuyết tật lớp i
một cách hiệu quả nhất góp phần hạn chế những khiếm khuyết của cháu để cháu
vững bước vào đời, hòa nhập với cộng đồng những người con ích cho
xã hội, cho đất nước.
2. Cơ sở thực tiễn
Giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật vào các trường bình thường đang
một xu hướng phổ biến trên thế giới nói chung đặc biệt đang được triển khai
ở một số nước có hệ thống giáo dục đặc biệt phát triển.
Cùng với sự phát triển giáo dục i chung, giáo dục hòa nhập trẻ khuyết
tật trong trường Mầm non nói riêng đã có bước chuyển biến khá tốt. Hầu hết các
trẻ khuyết tật đều ra lớp học hòa nhập. Tại địa phương nơi tôi đang công tác đã
huy động 100% trẻ khuyết tật 5 tuổi ra lớp học hoà nhập theo chương trình.
Bản thân giáo viên tôi là giáo viên lâu năm đã có nhiều kinh nghiệm trong
4
công tác giảng dạy chăm sóc trẻ, đã nhiều năm đạt chiến thi đua, giáo viên
dạy giỏi cấp huyện, được nhà trường đánh giá cao là giáo viên năng lực
chuyên môn tốt, về phía phụ huynh cũng rất yêu quý tin tưởng yên tâm khi
được con em mình vào lớp học do tôi phụ trách.
3. Khảo sát thực trạng
3.1. Khảo sát thực trạng của lớp trước khi thực hiện đề tài
Giáo dục hòa nhập đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để trẻ phát triển hết khả năng
của mình. Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiện trong việc điều chỉnh chương
trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc
thù… Nhằm chuẩn bị cho trẻ trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội.
Tuy nhiên, thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trường Mầm
non vẫn còn nhiều những hạn chế. Cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò
trách nhiệm trong việc chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật khả năng phát
triển của trẻ khuyết tật.
sở vật chất cho giáo dục trẻ khuyết tật còn kém về chất lượng thiếu
về số lượng, chủng loại, chưa những trang thiết bị đ dùng dạy học đặc
thù cho từng loại trẻ khuyết tật.
Đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về giáo dục trẻ khuyết tật.
Nhưng làm thế nào để trẻ khuyết tật hòa nhập trường Mầm non được tốt, đây
vấn đề toàn hội cần phải quan tâm, trong đó hệ thống giáo dục đóng vai
trò then chốt.
Trước thực trạng trên, trường Mầm non nơi tôi đang công tác nằm trên địa
bàn nông thôn, đời sống kinh tế của gia đình cũng như của địa phương còn khó
khăn. Cơ chế chính sách về giáo dục trẻ khuyết tật chưa đủ để bảo đảm cho giáo
dục trẻ khuyết tật. Các phương tiện hỗ trợ chưa có, chưa bảo đảm những yêu cầu
phù hợp cho trẻ khuyết tật. Trình độ giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật còn hạn
chế. Bất cập này đã dẫn đến mâu thuẫn. Mục tiêu mô, chính sách quốc gia
đúng đắn, hợp lòng dân, hợp xu thế thời đại, nhưng không kinh phí hỗ trợ,
giải pháp triển khai thực hiện còn chung chung chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa
giáo viên trong nhà trường và cán bộ chuyên trách về khuyết tật.
Năm học này trong lớp i phụ trách cháu Thị Huyền Trang,cháu
không may cơ thể đã yếu lại bị khuyết tật “ Chậm phát triển về thể lực, trí tuệ và
ngôn ngữ kém một giáo đã gắn nhiều năm trong nghề,với tinh thần
trách nhiệm, lòng yêu nghề, mến trẻ đặc biệt với tình yêu thương những đứa
trẻ kém may mắn tôi đã không ngại khó khăn chăm sóc cháu, tìm tòi nghiên cứu
5
qua mạng Internet, tham khảo tài liệu sách báo…đưa ra những biện pháp cụ thể
để chăm sóc giáo dục cháu Trang hòa nhập một cáchhiệu quả. Giúp cháu tự
tin, nhanh nhẹn, hoạt bát, phát triển trí tuệ ngôn ngữ, lĩnh hội những kiến
thức quý báu làm hành trang cho trẻ bước vào đời hòa nhập với cộng đồng và xã
hội.
3.2. Những thuận lợi và khó khăn
3.2.1. Thuận lợi
Lớp tôi được nhận bàn giao 27 trẻ, trong đó 12 cháu nữ 15 cháu
nam, có 2 cô giáo phụ trách lớp,phòng học tuy không rộng nhưng có nhà vệ sinh
khép kín. Phòng Giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện trang bị cơ
sở vật chất, đồ dùng đồ chơi tương đối đầy đủ. Phòng học số lớp hợp
nên việc tổ chức giảng dạy cho trẻ cũng dễ dàng. Được sự giúp đỡ của đồng
nghiệp trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.
Gia đình tôi gần gia đình nhà cháuTrang nên việc gặp gỡ, trao đổi, giúp
đỡ cháu có nhiều thuận lợi hơn.
3.2.2. Khó khăn
Về gia đình: Do trẻ khuyết tật, gia đình lại khó khăn, trong thời kỳ dịch
covid cháu chỉ ở nhà với bố mẹ vànội bị liệt không giao tiếp với ai, Gia đình
cháu rất khó khăn thuộc hộ nghèo trong đa bàn, bố mẹ cháu lại người ít học,
nhà cháu lại thường xuyên tiếp xúc với nội nói ú a ú nên phần nào cũng
bị ảnh hưởng đến cháu.
Về bản thân cháu Thị Huyền Trang gặp nhiều khó khăn khi tham gia
các hoạt động đọc thơ, hát múa, thể dục, dán, vẽ màu, làm quen chữ i
….và hòa nhập với các bạn cùng lứa với mình.
Về giáo viên: Còn hạn chế về chuyên môn dạy trẻ khuyết tật.
4. Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1: Khảo sát về đặc điểm tâm lý trẻ
Biện pháp 2: Lập kế hoạch, theo dõi sự tiến bộ của trẻ, đánh giá kết quả
thông qua các hoạt động.
Biện pháp 3: Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh và cán bộ y tế cùng nhau
giáo dục chăm sóc trẻ tốt hơn.
Biện pháp 4: Xây dựng môi trường giáo dục thân thiện với trẻ.
Biện pháp 5: Giáo dục trẻ có kỹ năng tự phục vụ bản thân.