SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:

GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM QUẢN LÍ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỈ LUẬT TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỜ ĐỎ LĨNH VỰC: CHỦ NHIỆM LỚP

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT CỜ ĐỎ _____________________________________________________________ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM QUẢN LÍ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỈ LUẬT TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỜ ĐỎ LĨNH VỰC: CHỦ NHIỆM LỚP

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HOA VÂN

Tổ bộ môn: Văn - Anh

Thời gian thực hiện: Năm học 2020 - 2021

Số điện thoại: 0362453478

Năm học 2020 - 2021

MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. ........................................................................ 2 3. Đối tượng nghiên cứu. .................................................................................... 2 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.......................................................................... 2 5. Phương pháp nghiên cứu. ............................................................................... 2 6. Thời gian nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu. ............................................... 2 PHẦN II: NỘI DUNG ...................................................................................... 3 1. Cơ sở lí luận của sáng kiến ............................................................................. 3 1.1. Những vấn đề cơ bản của các phương pháp kỉ luật tích cực ......................... 3 1.2. Phương pháp giáo dục kỉ luật tích cực ......................................................... 5 2. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến ......................................................................... 7 2.1. Thuận lợi và khó khăn ................................................................................. 7 2.2. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động khác ................................................. 8 3. Các biện pháp đã tiến hành để đưa phương pháp giáo dục kỷ luật tích cực áp dụng trong quản lí lớp chủ nhiệm tại trường THPT Cờ Đỏ. .............................. 10 3.1. Xác định đặc điểm từng đối tượng học sinh để có phương pháp quản lí phù hợp. .................................................................................................................. 10 3.2. Tìm hiểu hoàn cảnh học sinh, thiết lập mối liên kết và tình cảm giữa giáo viên chủ nhiệm và tập thể lớp ........................................................................... 12 3.3. Quản lí lớp bằng phương pháp giáo dục ý thức tôn trọng nội quy, kỉ luật của học sinh ............................................................................................................ 13 3.4. Quản lí lớp học để nâng cao chất lượng học tập của học sinh .................... 16 3.5. Thay đổi cách cư xử trong lớp học là dựa trên cơ sở động viên, khuyến khích nêu gương, tìm hiểu nhằm thúc đẩy học sinh có thái độ và hành vi đúng 17 3.6. Khen thưởng đúng lúc và xử lý kịp thời .................................................... 18 3.7. Xây dựng tập thể lớp thân thiện, đoàn kết, gắn bó ..................................... 18 3.8. Phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và các lực lượng giáo dục khác trong quản lí học sinh ................................................................................................ 22 3.9. Áp dụng một số hình phạt tích cực trong công tác quản lí và giáo dục học sinh .................................................................................................................. 24 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ............................................................ 28 4.1. Đối với tập thể lớp chủ nhiệm ................................................................... 29 4.2. Với bản thân .............................................................................................. 33 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 34 1. Kết luận ........................................................................................................ 34 2. Phạm vi áp dụng của đề tài ........................................................................... 34 3. Ý nghĩa của đề tài ......................................................................................... 34 4. Kiến nghị ...................................................................................................... 35

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TT Từ viết tắt Từ đầy đủ

1 GV Giáo viên

2 GDKLTC Giáo dục kỉ luật tích cực

3 HS Học sinh

4 THPT Trung học phổ thông

5 THCS Trung học cơ sỡ

6 BGH Ban giám hiệu

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lí do chọn đề tài

Trường học là nơi đào tạo nhiều thế hệ học trò, là môi trường tạo dựng cho đất nước những con người xã hội chủ nghĩa – có đủ tài năng trí tuệ và những phẩm chất đạo đức cách mạng, để sau này thực sự là người của dân, vì nhân dân mà cống hiến. Người trực tiếp đào tạo những con người như thế không ai khác là giáo viên, giáo viên giảng dạy bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp. Việc đưa lớp tiến lên là trách nhiệm lớn của những ai làm công tác chủ nhiệm, đồng thời cũng là khẳng định mình về năng lực và lương tâm nhà giáo.

Ở trường phổ thông nói chung và PTTH nói riêng, giáo viên chủ nhiệm có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh. Đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt trong hoạt động xã hội của con người, thực hiện chức năng hết sức quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức của học sinh vừa mang ý thức hệ xã hội, vừa phải phù hợp với với các qui định chuẩn mực của xã hội, đồng thời phải phù hợp với những qui định của nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay.

Đối với học sinh PTTH ở độ tuổi mà tâm sinh lý lứa tuổi đang phát triển mạnh, các em có nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu tìm hiểu, thích đua đòi ăn chơi, thích khẳng định mình. Trong khi đó các hiểu biết về kiến thức xã hội, về gia đình, pháp luật còn rất hạn chế do đó các em chưa có trách nhiệm với hành vi của mình nên dễ dẫn đến vi phạm nội quy nhà trường, vi phạm pháp luật.

Trên thực tế cho thấy có nhiều quan niệm sai lầm trong nhận thức về nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp nên giáo viên chưa làm hết vai trò của mình đối với học sinh, làm chưa đúng với các qui chế về quản lí giáo dục quy định và thậm chí có cả những phương pháp lỗi thời. Có những giáo viên quá dễ dãi, buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao để học sinh tự do vi phạm, làm suy giảm đạo đức của học sinh.

Là giáo viên chủ nhiệm lớp trong thời kì mở cửa của đất nước, để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Trước những thực tế xảy ra ở trường phổ thông tôi đã suy nghĩ và quyết định chọn đề tài “Giáo viên chủ nhiệm quản lí lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực ở trường trung học phổ thông Cờ Đỏ” với mong muốn nâng cao hiệu quả của công tác chủ nhiệm lớp, góp phần cùng nhà trường hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục trong thời kì mới.

1

2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.

Việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực (GDKLTC) giúp giáo viên giảm được áp lực quản lí lớp học do học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỉ luật. Từ đó giáo viên tạo được sự tin tưởng nơi học sinh, được học sinh tôn trọng, quý mến. Xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò, xây dựng được khối đoàn kết nhất trí trong lớp, giúp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.

Học sinh có nhiều cơ hội chia sẻ và bày tỏ. được mọi người quan tâm, tôn trọng và lắng nghe ý kiến, tích cực, chủ động hơn trong giờ học, tự tin trước mọi người… Từ đó, các em sẽ tìm thấy niềm vui trong học tập và hạn chế được những sai lầm, sa ngã của mình trước cám dỗ của xã hội.

3. Đối tượng nghiên cứu.

- Khoá học 2014 - 2017: Lớp C1

- Khoá học 2018 - 2021: Lớp A7

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.

Do điều kiện không cho phép nên trong đề tài nhỏ này, tôi chỉ nghiên cứu một số biện pháp “Giáo viên chủ nhiệm quản lí lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực ở trường trung học phổ thông Cờ Đỏ” đối với học sinh lớp mà tôi chủ nhiệm.

5. Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi đã dùng các phương pháp nghiên

cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận và phương pháp khoa học bằng con

đường suy luận trên thực tế và các tài liệu khác nhau.

- Phương pháp chính: Điều tra tìm hiểu tình hình qua giờ sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tiết sinh hoạt lớp, các tiết ngoại khoá, hoạt động Hướng nghiệp và Ngoài giờ lên lớp...

- Phương pháp hỗ trợ: Trò chuyện, đọc sách, quan sát..

6. Thời gian nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu.

- Thời gian nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu trong nhiều năm liên thông qua các lớp được nhà trường giao làm công tác chủ nhiệm từ năm học 2014 - 2015 đến năm học 2020 -2021.

- Địa điểm nghiên cứu: trường THPT Cờ Đỏ

2

PHẦN II: NỘI DUNG

1. Cơ sở lí luận của sáng kiến

1.1. Những vấn đề cơ bản của các phương pháp kỉ luật tích cực

1.1.1. Khái niệm kỉ luật

Theo từ điển Tiếng Việt: “Kỉ luật là tổng thể những quy định có tính chất bắt buộc đôí với các hoạt động của các thành viên trong một tổ chức để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức, là hình thức phạt đối với những người vi phạm kỉ luật”.

Theo quan điểm của Cambell- nhà tâm lí học người Anh: Kỉ luật có nghĩa là rèn luyện cho tâm trí và nhân cách của trẻ để giúp trẻ thành những người biết tự chủ và có ích cho xã hội, sự kỉ luật bao gồm: hướng dẫn trẻ bằng cách nêu gương, khuyên dạy bằng lời nói, bằng sách vở, dạy dỗ và giúp trẻ học thông qua kinh nghiệm vui chơi. Và hình phạt chỉ là một trong những biện pháp của việc kỉ luật, thậm chí còn là biện pháp kỉ luật tiêu cực nhất.

Như vậy, theo hai cách hiểu trên ta thấy kỉ luật là những quy định và hình phạt, song trong giáo dục cần đưa ra những kỉ luật có tác dụng tích cực đến người học.

Theo từ điển Tiếng Việt: “Kỉ luật là tổng thể những quy định có tính chất bắt buộc đối với các hoạt động của các thành viên trong một tổ chức để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức, là hình thức phạt đối với những người vi phạm kỉ luật”.

Kỉ luật tích cực: là động viên, khuyến khích, hỗ trợ trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, nuôi dưỡng lòng ham học, ý thức kỷ luật tự giác. Học sinh tự nhận hình thức kỉ luật và hứa không tái phạm.

Kỷ luật tích cực không phải là luôn chú ý kỷ luật học sinh, hoặc hình

phạt nặng hơn trước mà cần có những quan niệm giáo dục như:

- Mắc lỗi của học sinh được coi là lẽ tự nhiên của quá trình học tập, rèn

luyện và phát triển trong nhà trường.

- Việc quan trọng của ngành giáo dục là làm thế nào học sinh nhận thức

được bản thân, tự kiểm soát hành vi, thái độ trên cơ sở các quy định, nội quy…

- Như vậy, người giáo viên là người phân tích đúng sai, đối chiếu các quy định của những hành vi không đúng để học sinh nhận ra lỗi của mình để điều chỉnh sữa đổi, tiến bộ không mắc lỗi lần sau.

3

1.1.2. Khái niệm giáo dục kỉ luật tích cực[1]

Giáo dục kỷ luật tích cực là cách tiếp cận mang tính giáo dục, giúp xây

dựng sự tự tin, lòng tự trọng và tính trách nhiệm cao ở trẻ.

Giáo dục kỷ luật tích cực là giáo dục học sinh tự kiểm soát và tự tin để biết cách thực hiện hành vi mong đợi; không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của trẻ; có sự thỏa thuận giữa người lớn – trẻ em và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.

Giáo dục kỷ luật tích cực là việc dạy và rèn luyện cho các em tính tự giác tuân theo các quy định và quy tắc đạo đức ở thời điểm trước mắt cũng như về lâu dài.

Giáo dục kỉ luật tích cực là[1]

- Những giải pháp mang tính dài hạn giúp phát huy tính kỉ luật tự giác

của học sinh.

- Sự thể hiện rõ ràng những mong đợi, quy tắc và giới hạn mà học sinh

phải tuân thủ.

- Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.

- Dạy cho học sinh những kĩ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả

cuộc đời.

- Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học

tập và cuộc sống của các em.

- Dạy cho học sinh cách cư xử lịch sự, nhã nhặn, không bạo lực, có sự tôn

trọng bản thân, biết cảm thông và tôn trọng quyền của người khác.

1.1.3. Cơ sở của giáo dục kỉ luật tích cực[1]

Giáo dục kỷ luật tích cực dựa trên cơ sở:

- Những hiểu biết về sự phát triển tâm lí của học sinh trong từng giai đoạn

lứa tuổi;

- Các lĩnh vực phát triển của học sinh: thể chất, nhận thức, cảm xúc, xã

hội; - Những nhu cầu cơ bản của học sinh: an toàn, yêu thương, hiểu – thông cảm, tôn trọng, có giá trị; Tại sao học sinh “hư” và những cảm xúc của người lớn.

4

1.2. Phương pháp giáo dục kỉ luật tích cực

1.2.1. Các đặc điểm của phương pháp giáo dục kỉ luật tích cực[1]

- Không bạo lực và tôn trọng trẻ; thực hiện các tác động giáo dục phù hợp với nhu cầu, trạng thái của trẻ, giúp trẻ khắc phục nhận thức, hành vi chưa đúng của bản thân.

- Tạo cho trẻ có cảm giác an toàn, thân thiện và được tôn trọng bằng việc lắng nghe tích cực và khích lệ trẻ, giúp họ có khả năng vượt qua các rào cản về tâm lí, giảm bớt sự căng thẳng trong học tập và cuộc sống cá nhân

- Gia tăng năng lực hoạt động và cơ hội thành công cho trẻ bằng việc giáo

dục kĩ năng sống cơ bản (theo lứa tuổi) cho các em.

1.2.2. Phương pháp giáo dục kỉ luật tích cực là gì[1]

Phương pháp kỷ luật tích cực là biện pháp giáo dục học sinh không sử dụng đến các hình thức bạo lực, trừng phạt mà thay vào đó là sử dụng những hình thức kỉ luật tích cực, phù hợp để giúp học sinh giảm thiểu những hành vi không phù hợp, củng cố các hành vi tích cực và phát triển nhân cách một cách tốt đẹp, bền vững.

1.2.3. Nguyên tắc thực hiện phương pháp giáo dục kỉ luật tích cực[1]

- Nguyên tắc 1: Vì lợi ích thực tế nhất của học sinh

- Nguyên tắc 2: Không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần

- Nguyên tắc 3: Khích lệ và tôn trọng lẫn nhau

- Nguyên tắc 4: Phù hợp với đặc điểm và sự phát triển của lứa tuổi học

sinh

1.2.4. Đặc điểm tâm, sinh lí học sinh THPT[2]

Học sinh THPT đang ở độ tuổi trưởng thành ở giai đoạn đầu của tuổi

thanh niên, ở độ tuổi này có những đặc điểm sau:

* Về phát triển thể chất [2]

Cơ thể các em đã đạt đến mức phát triển của người trưởng thành, nhưng chưa hoàn thiện so với người lớn. Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh. Ở độ tuổi này các em dễ bị kích động, thích bắt chước, thích thể hiện là người lớn.

* Về phát triển trí tuệ [2]

5

Hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ. Cảm giác và tri giác của các em đã đạt đến mức độ người lớn. Khả năng quan sát phát triển, tuy nhiên sự quan sát của các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định.

* Về phát triển nhân cách [2]

- Sự tự ý thức: Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này. Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai. Ý thức làm người lớn khiến các em thích khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình.

Với những đặc điểm đó, người lớn, thầy cô giáo cần phải lắng nghe ý kiến của các em đồng thời cần giúp các em có sự nhìn nhận khách quan về nhân cách của mình, tự nhận thức và xác định được giá trị của bản thân nhằm giúp cho sự tự đánh giá bản thân được đúng đắn hơn, xác định được điểm mạnh, điểm yếu để tự điều chỉnh hoàn thiện bản thân, tránh những suy nghĩ lệch lạc, phiến diện hoặc quá ảo tưởng hoặc quá tự ti về bản thân dẫn đến các biểu hiện hành vi không tích cực.

- Sự hình thành thế giới quan: Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lí tuổi học sinh THPT. Vì các em sắp trở thành người lớn, chuẩn bị bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người. Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu, cái đẹp, cái thiện, cái ác, quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm…

Để giúp các em điều chỉnh suy nghĩ tư tưởng lệch lạc, giáo viên phải khéo léo, tế nhị khi phê phán những biểu hiện tư tưởng qua thái độ hành vi chưa đúng đắn của học sinh, giúp các em thay đổi nhận thức, điều chỉnh hành vi thái độ của mình. Giáo viên cần tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, tâm tư tình cảm, suy nghĩ của học sinh, nguyên nhân của những hành vi không tích cực để giúp các em phát triển đúng hướng. Tuyệt đối không dùng bạo lực.

- Hoạt động giao tiếp: Ở tuổi học sinh THPT các em có nhu cầu sống tự lập, có nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể. Thích được giao lưu, thích được tham gia các hoạt động tập thể. Tình bạn đối với các em ở độ tuổi này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tình bạn thân thiết chân thành sẽ cho phép các em nhìn nhận, điều chỉnh bản thân. Ở lứa tuổi này tình yêu cũng có thể

6

bắt đầu nảy nở. Cảm xúc của các em ở giai đoạn này rất phức tạp, dễ ảnh hưởng đến học tập, nhiều em không làm chủ được bản thân dẫn đến học hành sa sút.

Giáo viên cần hết sức bình tĩnh, coi đây là sư phát triển bình thường và tất yếu trong sự phát triển của con người, tế nhị, khéo léo không nên can thiệp một cách thô bạo như cấm đoán, kiểm điểm phê bình, bêu gương trước lớp…sẽ làm tổn thương đến tình cảm và lòng tự trọng của các em. Giáo viên nên gặp gỡ khuyên nhủ để các em xác định được nhiệm vụ học tập và có thái độ đúng đắn trong quan hệ tình cảm với bạn khác giới. Giúp các em biết kìm chế những cảm xúc của bản thân để tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra ảnh hưởng đến học tập và tương lai sau này.

Có thể nói, lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ đặc biệt quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người. Các em đứng trước “ngưỡng cửa cuộc đời”, giai đoạn này có tính chất quyết định đến sự thành công hay thất bại. Giáo viên và phụ huynh phải hiểu tâm lí của lứa tuổi này để có những cách giáo dục phù hợp.

2. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến

2.1. Thuận lợi và khó khăn

2.1.1. Thuận lợi

- Vấn đề ý thức đạo đức của học sinh hiện nay đang được nhà trường và

toàn xã hội quan tâm.

- Đối với trường THPT Cờ Đỏ, lãnh đạo nhà trường luôn chú trọng, quan tâm đến việc giáo dục đạo đức học sinh. Đồng thời, lãnh đạo nhà trường luôn thường xuyên quan tâm đến công tác chủ nhiệm cũng như năng lực chủ nhiệm của giáo viên làm công tác chủ nhiệm để có những chiến lược mới nhằm xây dựng những tập thể lớp chất lượng theo tiêu chí “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

- Các bộ phận trong nhà trường luôn quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp, luôn có tinh thần tự nguyện hợp tác với các giáo viên làm công tác chủ nhiệm để việc giáo dục đạo đức và kết quả học tập của học sinh đạt kết quả tốt nhất.

- Tập thể sư phạm nhà trường đều có ý thức và tinh thần trách nhiệm đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Rất nhiều thầy cô giáo luôn trăn trở tìm mọi biện pháp để giáo dục học sinh vươn lên trong học tập.

- Phụ huynh học sinh phần lớn rất nhiệt tình phối hợp với giáo viên để hỗ

trợ công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

- Nhiều học sinh được giáo dục tốt ở gia đình, ở các trường THCS đó là

hạt nhân tốt ở tập thể lớp để các học sinh khác noi theo.

7

2.1.2. Khó khăn

- Ngay từ đầu năm học khi tiếp nhận công tác chủ nhiệm lớp, tôi rất băn khoăn khi thấy lớp mình đa phần các em đều xa nhà, phải ở trọ, thiếu sự quản lí trực tiếp của phụ huynh. Đặc biệt nề nếp chưa tốt, nhiều học sinh còn vi phạm nội quy, quy chế của nhà trường như học sinh trèo tường, tụ tập uống rượu, chơi điện tử, nói tục, chửi thề, nghỉ học không có lí do, trang phục không đúng nội quy mà nhà trường, lớp đề ra và các em coi đó là chuyện bình thường, như không có chuyện gì.

- Một số ít phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến giáo dục con cái, còn nuông chiều, phó mặc cho nhà trường, thậm chí có những phụ huynh còn bất lực trước con cái. Một số ít phụ huynh chưa có phương pháp giáo dục con cái đúng theo khoa học, còn nặng về bạo lực, chửi bới con cái làm tổn hại đến thân xác và tinh thần của các em.

- Một số ít học sinh được bố mẹ nuông chiều, hoặc còn ỷ lại bố mẹ, nên

dễ dẫn đến vi phạm nội quy nhà trường và các quy định của xã hội.

- Phần lớn học sinh là con em lao động nghèo, ở xa trường, đường sá còn hết sức lạc hậu (chủ yếu là đường đất) như học sinh các xã Nghĩa Mai, Nghĩa Yên, Nghĩa Lâm, Nghĩa Minh..., nên điều kiện học tập còn thiếu thốn đủ bề do đó ít nhiều có ảnh hưởng đến sự rèn luyện đạo đức, học tập của học sinh.

- Là một giáo viên chủ nhiệm chắc hẳn không ai trong chúng ta không lo lắng khi thấy những học sinh uống rượu, chơi game sau buổi học, nghỉ học không lí do,...? Bản thân tôi cũng vậy, luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra những biện pháp hạn chế tình trạng này.

2.2. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động khác

Trong bối cảnh xã hội hiện nay đang có những biến đổi mạnh mẽ, việc nuôi dạy, giáo dục trẻ ở nhà và ở trường ngày càng trở nên thách thức hơn. Đa số người lớn đều mong muốn con em, học sinh của mình có ý thức kỷ luật, giữ gìn nề nếp tốt, chủ động, tự tin, là “con ngoan trò giỏi”.

Làm thế nào để đạt được điều đó luôn là câu hỏi khiến nhiều phụ huynh, giáo viên trăn trở, đặc biệt là đối với những trẻ em thường bị coi là bướng bỉnh, hay quậy phá, mắc lỗi. Trong rất nhiều trường hợp khi trẻ mắc lỗi, người lớn thường dùng các hình phạt hà khắc như đánh đập, mắng chửi để mong muốn trẻ thay đổi, sửa sai và không phạm lại lỗi đó nữa. Song kết quả thường không được như họ mong muốn. Thay vì làm theo ý người lớn, nhiều trẻ em trở nên khó bảo hơn, lì lợm và chống đối; cũng có nhiều trẻ trở nên khép mình hơn, trầm cảm và thiếu tự tin. Hậu quả là trẻ thường học tập kém, phát triển không toàn diện về thể chất, tinh thần và mối quan hệ với người lớn ngày càng trở nên tồi tệ hơn.

8

Trong thực tế, đa phần giáo viên đang rất nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ trồng người, nêu gương sáng cho cho học sinh noi theo, là chỗ dựa tin cậy cho học sinh bày tỏ tâm tư tình cảm, suy nghĩ của mình những lúc khó khăn trong cuộc sống. Các thầy cô giáo đã xử lí tinh tế khi học sinh phạm lỗi.

Tuy nhiên, không ít giáo viên đã sử dụng các hình thức kỷ luật không phù hợp, làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của các em học sinh, gây hậu quả nghiêm trọng. Gần đây, hiện tượng giáo viên sử dụng các biện pháp trừng phạt thân thể và xúc phạm tinh thần của học sinh trong lúc dạy học vẫn xảy ra gây bức xúc trong trong xã hội và gây ảnh hưởng lớn đến uy tín của ngành giáo dục.

Về phía gia đình, do ảnh hưởng từ cha mẹ, ông bà bởi cách giáo dục trước đây là “thương cho roi cho vọt” nên khi con cái mắc lỗi, thì bố mẹ đánh thật đau để chừa thói hư tật xấu.

Những vụ việc nổi cộm thời gian qua đã chứng tỏ một bộ phận giáo viên và trong một số gia đình chưa được trang bị đầy đủ các phương pháp giáo dục học sinh hoặc con em mình khi mắc lỗi. Vẫn còn sử dụng biện pháp trừng phạt thân thể và xúc phạm tinh thần của các em. Nguyên nhân này có thể kể đến là do:

- Một bộ phận các thành viên trong xã hội còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến. Quan niệm người lớn bắt trẻ em phải phục tùng, không được cãi lại. Quan niệm này được truyền từ đời này sang đời khác và nghiễm nhiên nó trở thành một biện pháp giáo dục mang tính chất phổ biến.

- Quan niệm sai lầm về giáo dục học sinh thông qua các hình thức kỷ luật. Trong giáo dục truyền thống, quan niệm “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” hoặc “Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời” vẫn được hầu hết các bậc phụ huynh và các thầy cô giáo áp dụng. Nhiều người đã sử dụng biện pháp trừng phạt thân thể khi trẻ mắc lỗi với hi vọng làm cho trẻ sợ, trẻ sẽ không tái phạm.

- Thiếu hiểu biết về tâm sinh lí của học sinh. Mỗi học sinh lớn lên đều trải qua các giai đoạn phát triển tâm sinh lí, quá trình phát triển đó có nhiều ảnh hưởng đến thái độ hành vi của các em. Cha mẹ, thầy cô phải nắm được tâm sinh lí của từng giai đoạn để có những phương pháp giáo dục phù hợp nhằm đạt được mục tiêu giáo dục, tránh những sự việc đáng tiếc xảy ra.

- Thiếu sự quan tâm, tình yêu thương. Gia đình - nhà trường - xã hội là 3 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển và trưởng thành của một con người. Tuy nhiên, một số em do hoàn cảnh mà thiếu đi sự quan tâm và tình yêu thương từ phía gia đình. Về phía nhà trường, một số giáo viên còn nóng vội hoặc thiếu hiểu biết khi dùng các biện pháp xử phạt nặng, hi vọng học sinh học tập tốt hơn, ít quan tâm đến tâm tư, tình cảm, hoàn cảnh của các em. Về phía xã hội, một số người lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của học sinh để lạm dụng, bắt lao động quá sức, bạo hành.

9

Dùng bạo lực với trẻ không phải là việc làm bình thường hay là việc riêng của cha mẹ, thầy cô mà đó là sự bất lực của người lớn, là sự vi phạm luật pháp Việt Nam và quốc tế. Khi giáo viên, phụ huynh có hiểu biết về các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực và vận dụng có hiệu quả thì thì các em sẽ được sống trong môi trường an toàn, có tình yêu thương, các em sẽ phát triển toàn diện, sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.

3. Các biện pháp đã tiến hành để đưa phương pháp giáo dục kỷ luật tích cực áp dụng trong quản lí lớp chủ nhiệm tại trường THPT Cờ Đỏ.

3.1. Xác định đặc điểm từng đối tượng học sinh để có phương pháp quản lí phù hợp.

Nhà giáo dục vĩ đại Nga Usinxki nói rằng : “muốn giáo dục con người về

mọi mặt thì phải hiểu con người về mọi mặt”

Nếu hiểu học sinh thì có thể lựa chọn những tác động thích hợp. Nếu không hiểu học sinh thì không thể tìm được những phương pháp giáo dục phù hợp với đối tượng và do đó có thể thất bại. Kể cả việc lựa chọn nội dung và hình thức giáo dục cũng cần căn cứ đặc điểm đối tượng. Chú ý đặc điểm đối tượng là nguyên tắc giáo dục học. Tìm hiểu học sinh và tập thể học sinh vừa là điều kiện vừa là một nội dung quan trọng trong công tác chủ nhiệm lớp.

Giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu và nắm vững các đặc điểm cơ bản về tâm sinh lí, tính cách, năng lực sức khoẻ, năng lực phát triển trí tuệ, sở thích, nguyện vọng, năng khiếu, phẩm chất đạo đức của học sinh. Về hoàn cảnh sống, mối quan hệ tập thể, bạn bè…Qua đó để thấy mặt mạnh, mặt yếu của từng học sinh, của tập thể lớp để phát huy và khắc phục. Trên cơ sở đó phát hiện yếu tố mới, những mầm mống, những nhân tố tích cực để làm nòng cốt cho phong trào của lớp.

Có nhiều cách tìm hiểu thông tin về học sinh và gia đình học sinh như:

Thứ nhất: Cho học sinh viết lí lịch. Nhưng hầu hết giáo viên chỉ khai thác thông tin học sinh để lấy các thông tin như ngày tháng năm sinh, nơi sinh quê quán, họ tên bố mẹ mục đích chính để phục vụ công tác hồ sơ lí lịch. Bản thân tôi cũng thường cho học sinh viết lí lịch để lấy thông tin nhưng trong đó bao giờ tôi cũng yêu cầu các em viết thêm sở thích, mong muốn cũng như những ước mơ và nguyện vọng của các em. Khi cho các em viết lí lịch, tôi luôn cho các em mang về nhà viết và để em viết tự do không theo một khuôn mẫu nào cả miễn sao các em cung cấp đầy đủ thông tin và quan trong nhất tôi luôn động viên các em chia sẻ những điều mà các em suy nghĩ. Qua đó, tôi có thêm thông tin và cũng như hiểu thêm về các em. Từ đó, tôi đã có những biện pháp thích hợp và những ứng xử phù hợp trong cách giáo dục, quản lí các em.

10

Thứ hai: Tìm hiểu học sinh thông qua quan sát trực tiếp. Quan sát trực tiếp học sinh hằng ngày trong các hoạt động trên lớp, ngoài lớp để biết hành vi thái độ học sinh. Đây là tài liệu sống, qua đó tôi cố gắng tìm ra những nét cá tính nhất của từng em. Tôi quan sát lớp chủ nhiệm cả trong giờ ra chơi xem em nào nghịch thái quá, em nào từ tốn, hiền lành, có khi trên đường vào dạy lớp khác tôi cũng ngang qua lớp chủ nhiệm. Nếu thấy những sai phạm của học sinh thì phải nhắc nhở ngay.

Thứ ba: Tôi còn đề nghị các em viết thư tâm sự, trong thư tôi yêu cầu các em kể về gia đình, về bản thân, về bạn bè trong lớp (có em không muốn kể về gia đình mình nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt thì việc lấy thông tin từ bạn bè rất cần thiết cho GVCN ), nhận xét về ưu nhược điểm của lớp và giải pháp của em... Nhờ những lá thư này mà tôi biết được những hoàn cảnh đặc biệt như em Hồ Như Quỳnh (khóa 2014- 2017) bố mẹ li hôn, em đã từng phạm sai lầm khi dính vào yêu đương năm lớp 8; em Hồ Thị Mai Linh, Ngô Thị thủy, Nguyễn Lê Thị Hoa (khóa 2014- 2017) không có bố từ nhỏ; em Võ Thị Ngọc Mai (khóa 2014- 2017) mẹ bị bệnh tâm thần; em Hoàng Thị Thúy, Nguyễn Thị Quý (khóa 2014- 2017) bố mất từ khi em mới lên 3, 4 tuổi,... Hay em Hồ Quỳnh Phương, em Hoàng Thị Lê (khóa 2019 – 2021) bố mẹ li hôn; em Nguyễn Thị Quỳnh Anh (khóa 2019 – 2021) bố mẹ li hôn, không nhà không cửa, bố bị ung thư, mẹ cũng bệnh tật nhiều không có khả năng nuôi con, em được dì ruột cưu mang từ khi mới bảy tháng tuổi; em Ngô Thị Ly, em Võ Quang Hiếu (khóa 2019 – 2021) vì cuộc sống mưu sinh, bố mẹ đi xuất khẩu lao động nhiều năm không về, em phải sống với bà ngoại, có lúc sống một mình... Đồng thời qua những lá thư đó, tôi biết được điểm mạnh yếu của lớp, của cá nhân, những mong muốn nguyện vọng của các em, có thêm thông tin và cũng như hiểu thêm về các em. Từ đó, tôi đã có những biện pháp thích hợp và những ứng xử phù hợp trong cách giáo dục, quản lí các em.

Thứ tư: Xây dựng hộp thư điều em muốn nói. Hộp thư “Điều em muốn nói” nhằm tạo ra cơ hội để học sinh được bày tỏ ý kiến của mình. Những ý kiến của học sinh có thể là những tình cảm, cảm nhận, mong muốn, đề nghị của các em về thầy cô, cha mẹ, nhân viên phục vụ, điều 25 kiện học tập – sinh hoạt và các hoạt động vui chơi…mà các em không thể hoặc chưa dám nói trực tiếp.

Hàng tuần, giáo viên chủ nhiệm sẽ mở hộp thư và quyết định chia sẻ cá nhân hoặc chia sẻ trực tiếp về những bức thư trên. Giáo viên chủ nhiệm cần kết hợp với Ban giám hiệu, Đoàn thanh niên trong việc giải quyết và trả lời những ý kiến của học sinh. Nếu có điều kiện, hộp thư nên được quan tâm, giải quyết hàng ngày.

Qua hộp thư, giáo viên sẽ có điều kiện hiểu các em nhiều hơn, đồng thời điều chỉnh các hoạt động dạy học, sinh hoạt sao cho phù hợp. Bên cạnh đó, còn có mục đích giúp các em nhận biết mình là một thành viên nhà trường, có quyền

11

được học tập – vui chơi – tham gia ý kiến. Từ đó, học sinh có ý thức tự giác và chủ động khi tham gia các hoạt động của chính các em.

Thứ năm: Tôi còn gặp giáo viên chủ nhiệm lớp năm học trước để nắm tình hình của lớp nói chung và tình hình cụ thể của từng học sinh nói riêng. Đặc biệt cần chú ý đến những em ngoan, học giỏi, có năng khiếu và những em chưa ngoan, học còn yếu kém, hay nghịch ngợm thường được gọi là học sinh cá biệt…

3.2. Tìm hiểu hoàn cảnh học sinh, thiết lập mối liên kết và tình cảm giữa giáo viên chủ nhiệm và tập thể lớp

Mỗi học sinh được sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh gia đình khác nhau. Tuổi tác, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của bố mẹ. Phương pháp giáo dục con cái của bố mẹ, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình. Hoàn cảnh kinh tế, tình cảm gia đình, quan hệ bạn bè tốt hay xấu... Tất cả đều ảnh hưởng đến nhân cách của học sinh. Bởi vậy việc tìm hiểu nắm vững gia phong, hoàn cảnh sống nói chung của từng học sinh là hết sức quan trọng. Nó giúp giáo viên biết được nguyên nhân, những yếu tố tích cực hay tiêu cực, những thuận lợi hay khó khăn đang tác động đến học sinh để lựa chọn phương pháp tác động phù hợp.

Giáo viên có thể tìm hiểu hoàn cảnh của các em thông qua bạn bè, các cuộc trò chuyện với học sinh để tìm hiểu nguyên nhân tại sao học sinh hay nói chuyện, phát biểu linh tinh, đi trễ, hoặc là gây sự với bạn bè… Giáo viên chủ nhiệm phải là người cha, người mẹ thứ hai biết yêu thương, quan tâm và thấu hiểu mọi tâm tư nguyện vọng của học sinh, là chỗ dựa tin tưởng nhất để các em giãi bày mọi khúc mắc. Giáo viên chủ nhiệm phải nắm bắt sự việc xảy ra trong lớp để có hướng xử lí kịp thời, triệt để. Đặc biệt, đối với những học sinh cá biệt hay những em thiếu thốn tình cảm gia đình thì sự thương yêu, thông cảm từ thầy cô chủ nhiệm có sức cảm hóa rất lớn.

Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh là một trong những nền tảng quan trọng của phương pháp quản lí lớp học bằng các biện pháp kỉ luật tích cực. Quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa người và người ở đất nước ta hiện nay là điều kiện thuận lợi để hình thành quan hệ tốt đẹp giữa người lớn và tuổi mới lớn. Đặc biệt, chúng ta đang thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” . Tuy vậy khó tránh khỏi những xung đột nhỏ giữa thanh thiếu niên và người lớn hay giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh. Điều đó một phần do học sinh và giáo viên chủ nhiệm sống và phát triển ở hai giai đoạn khác nhau. Bên cạnh đó, nó phụ thuộc nhiều vào thái độ của hai phía đối với nhau, quan điểm của hai phía về nhau. Quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh có thể tốt đẹp nếu giáo viên chủ nhiệm thực sự tin tưởng vào học sinh, tạo điều kiện để các em thoả mãn tính tích cực, độc lập trong hoạt

12

động, tạo điều kiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm của học sinh. Giáo viên chủ nhiệm không được quyết định thay, làm thay cho học sinh như vậy các em sẽ mất hứng thú và cảm thấy phiền toái. Mặt khác, thái độ “đỡ đầu” quá cặn kẽ của giáo viên chủ nhiệm sẽ củng cố ở học sinh tính trẻ con, thờ ơ và vô trách nhiệm. Nếu quen với cảm giác đỡ đầu đó các em sẽ rụt rè, không dám quyết định khi cần thiết. Giáo viên chủ nhiệm cần tổ chức lớp tích cực, tự quản, tự giác nhưng không phải thờ ơ, để mặc lớp làm gì thì làm, phải lôi kéo tất cả học sinh vào hoạt động chung, kích thích được tinh thần trách nhiệm, sự tự giáo dục và giáo dục lẫn nhau của các em.

Về điều này, tôi đã tiến hành khảo sát và tìm ra những điều học sinh cần cũng như những điều học sinh chưa đồng ý về giáo viên chủ nhiệm, từ đó rút ra kinh nghiệm để xây dựng được mối quan hệ tốt và nhận được sự ủng hộ của học sinh trong quá trình quản lí lớp.

3.3. Quản lí lớp bằng phương pháp giáo dục ý thức tôn trọng nội quy, kỉ luật của học sinh

Sự cần thiết của kỉ luật trong nhà trường và thực trạng “nhờn” kỉ luật, coi thường nội quy của học sinh. Để điều chỉnh hành vi người công dân, Nhà nước phải có pháp luật, để buộc mọi người tôn trọng pháp luật cần phải có những thiết chế, công cụ như: toà án, nhà tù… Tương tự như thế, nhà trường cũng cần có nội quy, điều lệ để điều chỉnh hành vi của học sinh, cần có những biện pháp kỉ luật để buộc học sinh phải tôn trọng nội quy. Nội quy không chặt chẽ, kỉ luật không nghiêm thì học sinh sẽ “nhờn”. Học sinh “nhờn” kỉ luật thì kỉ cương nề nếp nhà trường sẽ sụp đổ. Thực tế hiện nay có một số học sinh hư hỏng. Do nhiều nguyên nhân như ảo tưởng về khả năng giáo dục của nhà trường với đối tượng này; sự vô trách nhiệm của cha mẹ học sinh; các quy định về mức độ kỉ luật quá mềm, sự e ngại đến thành tích nhà trường... nên số học sinh này vẫn ngang nhiên tồn tại. Điều nguy hiểm là những tấm gương xấu này lại có khả năng lây lan, lôi kéo một bộ phận học sinh “lưng chừng”. Đây là những học sinh chưa chăm ngoan nhưng cũng chưa hư hỏng. Nếu thấy kỉ luật của nhà trường nghiêm thì số học sinh này sẽ khép mình trong khuôn khổ. Nhưng khi thấy những học sinh quậy phá mà chẳng bị nghiêm trị thì các học sinh này sẽ đua đòi, bắt chước để trở thành những học sinh hư. Do vậy, kỉ luật nghiêm khắc thì chỉ loại ra một số học sinh hư hỏng, kỉ luật không nghiêm thì sẽ làm hư luôn những học sinh chưa hư .

Làm thế nào để học sinh “tự giác” chấp hành nội quy, kỉ luật? Thuyết phục, cảm hoá, tác động bằng tình cảm… để học sinh tự giác chấp hành nội quy? Nghe thì rất hay nhưng lại không thực tế. Với những học sinh chăm ngoan, có ý thức học tập thì chẳng cần ai thuyết phục, cảm hoá cả, các em rất tự giác chấp hành nội quy. Nhưng đa số với tất cả học sinh, việc chấp hành nội quy là do sợ bị kỉ luật. Muốn học sinh chấp hành nội quy trước tiên các em phải hiểu

13

nội quy, phải biết điều gì được làm điều gì không được làm, vi phạm mức độ nào là bị phê bình kiểm điểm trước lớp, bị hạ hạnh kiểm, vi phạm mức độ nào là bị đưa ra hội đồng kỉ luật… Tất cả đều có trong điều lệ, quy định của nhà trường nhưng học sinh lại không nhớ. Phải có những quy định rõ ràng, cụ thể và bắt học sinh học thuộc như người tham gia giao thông phải học thuộc luật giao thông. Để học sinh chấp hành tôt nội quy thì trách nhiệm không chỉ ở giáo viên chủ nhiệm và để học sinh có ý thức tôn trọng và tự giác chấp hành nội quy của lớp, của trường... tôi đã thực hiện bằng các cách sau:

Thứ nhất: Đầu năm học giáo viên chủ nhiệm phổ biến cho học sinh nắm

được qui chế về xếp loại hạnh kiểm và học lực đối với học sinh

Thứ hai: Giáo viên chủ nhiệm cho học sinh học nội qui của nhà trường đối với học sinh đồng thời phổ biến quy định của nhà trường về việc xếp loại hạnh kiểm hàng tuần, hàng tháng cho học sinh.

Thứ ba: Giáo viên chủ nhiệm cho học sinh tự bàn bạc, thống nhất xây dựng nội quy lớp học, quy chế khen thưởng và hình thức phê bình. Bản nội quy được treo trên tường của lớp học để luôn nhắc nhở học sinh thực hiện tốt nội quy. Với biện pháp này học sinh được tự thảo luận rồi đề ra qui ước lớp là một phương cách khuyến khích ý thức tự giác của học sinh, trong mỗi hành động học sinh tự hiểu mình sẽ bị phạt hay được khen. Việc giáo viên chủ nhiệm tự đặt ra các quy định này nọ rất khô khan lại mang tính áp đặt, nên có khi phạt học sinh nhưng các em không “tâm phục, khẩu phục”. Đặc biệt giáo viên chủ nhiệm phải rất chú ý đến sự tiến bộ của những học sinh hay vi phạm để kịp thời tuyên dương, khen ngợi sự cố gắng của học sinh trước lớp, có như vậy mới giúp học sinh càng thêm tự tin, tạo động lực cho học sinh nhanh chóng tiến bộ.

* Xây dựng nội quy lớp học

Trong cuộc họp lớp đầu năm, tôi cho học sinh xây dựng nội quy lớp dựa trên nội quy học sinh của nhà trường và tình hình riêng của lớp. Các tiêu chí sẽ được lượng hóa thành điểm. Mỗi học sinh được tặng điểm ban đầu là 100 điểm. Nếu học sinh thực hiện tốt sẽ được cộng điểm, nếu thực hiện chưa tốt sẽ bị trừ điểm. Mỗi tổ sẽ có quyển sổ theo dõi riêng để tại lớp, hàng ngày mỗi người sẽ tự giác ghi vào sổ những ưu điểm, nhược điểm, những vi phạm của mình, điểm trừ, điểm cộng (nếu có). Sau mỗi tuần, các tổ trưởng sẽ tổng hợp điểm của các thành viên của mình. Bầu chọn ra các thành viên xuất sắc để biểu dương khen thưởng.

Sau đây là bảng nội quy của lớp A7 đã xây dựng: (Xem phần phụ lục)

* Xây dựng qui chế khen thưởng và hình thức phê bình

Dựa trên tổng điểm mà mỗi học sinh đạt được, sẽ đưa ra hình thức khen thưởng và phê bình. Điểm thưởng và điểm trừ do các em tự theo dõi và các bạn giám sát nên các em rất tự giác và công bằng khách quan. Tôi vận động phụ

14

huynh xây dựng tự nguyện “quỹ khuyến học và thi đua khen thưởng” của lớp. Hàng tuần, hàng tháng ban đại diện cha mẹ học sinh cử người đến dự sinh hoạt cùng lớp, trao quà cho những bạn đạt trên 100 điểm.

- Những em có tiến bộ được biểu dương tại lớp và được nhận “tràng pháo tay” từ cả tập thể lớp. Những học sinh nào còn vi phạm nội quy, bị trừ điểm tự nhận hình thức đi tưới hoa, nhổ cỏ khu vực bồn hoa mà lớp được phân công chăm sóc hoặc các hình thức khác như làm vệ sinh, trực nhật... khu vực lớp được phân công.

- Mỗi tổ đề cử ra 1 học sinh tiêu biểu để được khen thưởng.

- Các tổ cũng thi đua với nhau, dựa vào tổng điểm của các tổ và những việc tốt làm được, số học sinh đạt điểm cao sẽ bầu chọn tổ tiêu biểu để được khen thưởng.

- Những học sinh chưa thực hiện tốt thì tự giác làm bản tự kiểm điểm nói rõ lý do vì sao chưa tốt và cách khắc phục. Đồng thời tự giác đi nhổ cỏ, tưới hoa, làm vệ sinh, trực nhật... khu vực lớp được phân công.

Thứ tư: Là vai trò chỉ đạo hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm. Do giáo viên chủ nhiệm không phải lúc nào cũng có mặt ở trường và nếu đến trường thì còn phải thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các lớp khác nên việc quản lí lớp phải giao cho ban cán sự lớp. Giáo viên chủ nhiệm tổ chức, giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách quản lí lớp cho ban cán sự lớp. Giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên kiểm tra, uốn nắn để cho bộ máy lớp chạy đều. Trong giờ sinh hoạt lớp, giáo viên chủ nhiệm nên để cho ban cán sự lớp điều hành và chỉ tham gia ý kiến chỉ đạo khi có những sự việc ban cán sự lớp không giải quyết được.

Thứ năm: Là phát huy vai trò tích cực, chủ động của ban cán sự lớp. Phải làm cho ban cán sự lớp thấy rằng mình không phải kẻ thừa hành, chỉ làm những công việc mà giáo viên chủ nhiệm sai bảo. Ban cán sự lớp phải có những quyền hành nhất định, phải có “tiếng nói” trong việc khen thưởng, xử kỉ luật và xếp loại hạnh kiểm học sinh. Giáo viên chủ nhiệm nên động viên ban cán sự lớp đề xuất những biện pháp đưa lớp tiến bộ. Qua sự theo dõi của mình, ban cán sự lớp có quyền yêu cầu các học sinh vi phạm nội quy hoặc lơ là học tập phải tự phê bình, kiểm điểm trước lớp,… Tóm lại vai trò của ban cán sự lớp là hết sức quan trọng. Nó đòi hỏi cao tính gương mẫu, tinh thần trách nhiệm, tính trung thực không vị nể… Do đó việc chọn được ban cán sự lớp tốt là yếu tố đầu tiên quyết định để quản lí lớp thành công. Kinh nghiệm cho thấy, không phải việc để cho tập thể lớp bầu ban cán sự lớp bao giờ cũng tốt. Tuy phát huy dân chủ là cần thiết nhưng thực tế học sinh ưa bầu những bạn vui vẻ, dễ dãi và sẵn lòng bao che cho những khuyết điểm của mình trước giáo viên chủ nhiệm. Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm nên hướng cho lớp bầu những học sinh có phẩm chất mà mình đã lựa

15

chọn. Nếu cần, giáo viên chủ nhiệm trực tiếp chỉ định các học sinh làm cán sự lớp thì vẫn tốt hơn so với bầu cử dân chủ không chọn được học sinh xứng đáng.

Thứ sáu: Là tăng cường sự giám sát nội quy lớp học của của học sinh.

- Làm nhật ký lớp bằng cách làm một quyển sổ để tại lớp, ghi những việc làm tốt, những nhận xét của các thầy cô giáo và phát biểu cảm nghĩ của các em học sinh.

- Việc thực hiện nội quy lớp học được giám sát, nhắc nhở bởi chính các

thành viên trong lớp, trong tổ.

- Các tổ trưởng theo dõi, nhắc nhở và giám sát nề nếp tổ mình bằng sổ

theo dõi riêng, đồng thời giám sát nề nếp của tổ khác.

- Giám sát việc thực hiện nội qui của học sinh thông qua đội thanh niên

xung kích.

- Giáo viên chủ nhiệm gần gũi học sinh, nhắc nhở các em thực hiện tốt nội

qui của trường của lớp.

Mỗi học sinh vừa là người “bị giám sát” vừa là người được tham gia giám

sát các bạn khác nên các em rất tích cực và tự giác.

Thứ bảy: Là phát huy yếu tố “cộng đồng trách nhiệm”. Phát huy tính cộng đồng trách nhiệm tức là làm cho học sinh tốt hiểu rằng chỉ mình tốt là chưa đủ mà phải giúp cho bạn mình cùng tốt và làm cho những học sinh chưa tốt hiểu rằng việc mình vi phạm nội quy, lười học… không chỉ mình chịu hậu quả mà còn làm cho các bạn khác bị “vạ lây”. Muốn vậy, giáo viên chủ nhiệm cần phải hướng dẫn, góp ý cho học sinh xây dựng nội dung và biểu điểm thi đua giữa các tổ để khen thưởng các tổ thi đua tốt và lấy kết quả thi đua tổ để định mức tỉ lệ phần trăm các xếp loại hạnh kiểm của những thành viên trong tổ, từng tuần, từng tháng. Ví dụ tổ xếp hạng nhất thì định mức là 100% học sinh được xếp loại hạnh kiểm tốt, hạng nhì định mức là 80%, hạng ba định mức là 60%, hạng chót định mức là 50%...

3.4. Quản lí lớp học để nâng cao chất lượng học tập của học sinh

Một tiết học có chất lượng và hiệu quả thì bên cạnh vai trò của giáo viên còn có vai trò của học sinh sẽ tạo tâm thế, cảm hứng cho tiết dạy của giáo viên. Một lớp học và học sinh không thuộc bài cũ, không chuẩn bị bài mới, không tập trung nghe giảng, không giơ tay phát biểu... thì giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình bao nhiêu cũng đành bất lực. Với những lớp mà học sinh thông minh, chăm học thì tự nó đã có “không khí” để tạo tâm thế và cảm hứng cho giáo viên. Nhưng có lớp học sinh, học không sôi nổi thì các biện pháp quản lí của giáo viên chủ nhiệm để tạo “không khí” lớp học là rất cần thiết. Tôi đã áp dụng các biện pháp quản lí sau:

16

Thứ nhất là: Phát huy vai trò của cán bộ lớp và cán sự bộ môn. Có những tiết học do giáo viên bộ môn bao quát lớp tốt nên học sinh học tập nghiêm túc nhưng cũng có những tiết học bộ môn “thoải mái” học sinh thừa cơ hội nói chuyện riêng gây mất trật tự. Ở những tiết này vai trò và khả năng quản lí lớp của ban cán sự lớp sẽ được phát huy. Bằng các biện pháp như nhắc nhở, ghi tên các học sinh làm mất trật tự để phê bình, khiểm điểm trước lớp, ban cán sự lớp có thể giúp lớp ổn định. Ban cán sự lớp theo dõi, ghi nhận việc soạn bài, học bài cũ và phát biểu xây dựng bài của học sinh để làm căn cứ xếp loại thi đua giữa các tổ và để biểu dương những học sinh học tốt, phê bình kiểm điểm những học sinh không soạn bài, làm bài tập ở nhà, không thuộc bài cũ,… Ban cán sự lớp tổ chức, phân công cho các cán sự bộ môn giúp các bạn giải quyết những bài tập khó và quản lí lớp để việc tự học ở 15 phút đầu giờ có hiệu quả.

Thứ hai là: Các hình thức khen thưởng và khiển trách học sinh trong học tập. Những học sinh không soạn bài, làm bài tập, không thuộc bài cũ… đều phải viết kiểm điểm, kiểm điểm phê bình trước lớp. Cần phải đưa việc học tập vào xếp loại hạnh kiểm học sinh. Số lần làm phê bình, kiểm điểm về học tập cũng như về thực hiện nội quy càng nhiều thì xếp loại hạnh kiểm càng thấp.

Tuy nhiên, cũng nên tạo cơ hội cho học sinh phấn đấu trong học tập. Chẳng hạn, một học sinh kiểm tra bài cũ môn này bị điểm 2 thì nếu đạt được điểm 8 kiểm tra miệng môn khác thì sẽ được xoá một lần kiểm điểm trong tuần đó. Việc khen thưởng cũng cần có hình thức riêng. Thông thường chỉ có những học sinh giỏi khá được khen thưởng, một số học sinh học lực yếu mà phấn đấu lên trung bình thì không được khen mặc dù với học sinh đó đạt loại trung bình là một cố gắng lớn. Bởi vậy, giáo viên chủ nhiệm nên phối hợp với Chi hội phụ huynh học sinh có hình thức khen thưởng cho các học sinh có tiến bộ trong học tập như từ trung bình lên khá, yếu lên trung bình, đặc biệt là những học sinh có hoàn cảnh khó khăn hoặc gia đình neo đơn.

Để việc học tập của mỗi học sinh trở thành phong trào, giáo viên chủ nhiệm cần cụ thể hoá các khâu học bài cũ, chuẩn bị bài mới phát biểu xây dựng bài,... thành các chỉ tiêu cụ thể trong thi đua giữa các tổ. Tự phê bình hoặc kiểm điểm của các học sinh không thuộc bài phải được phụ huynh xem và kí tên xác nhận. Như vậy, phụ huynh có thể nắm được tình hình học tập của con em mình để phối hợp với giáo viên chủ nhiệm có biện pháp giáo dục thích hợp, kịp thời.

3.5. Thay đổi cách cư xử trong lớp học là dựa trên cơ sở động viên, khuyến khích nêu gương, tìm hiểu nhằm thúc đẩy học sinh có thái độ và hành vi đúng

Giáo viên chủ nhiệm nắm bắt được tình hình, đặc điểm lớp học từ đó có biện pháp giáo dục phù hợp. Giáo viên không nên cầu toàn, đặt quá nhiều kì vọng vào học sinh, không nên yêu cầu quá cao vào học trò. Giáo viên cần ghi nhận những cố gắng và kết quả mà những em đạt được về mọi mặt học tập, nề

17

nếp hay tham gia các hoạt động văn thể mĩ của trường. Đồng thời khuyến khích các em phát huy thế mạnh của mình, kích thích sự tích cực của mỗi cá nhân trong lớp học. Giáo viên cần tuyên dương học sinh có tiến bộ trong mỗi tuần. Sự động viên khích lệ kịp thời của giáo viên sẽ có sức mạnh cổ vũ, động viên ý thức của học sinh.

Giáo viên nhận xét, góp ý một cách khéo léo về những điều mà các em chưa làm được hoặc chưa tốt không nên chê bai, chỉ trích vì điều đó sẽ làm thui chột đi sự tích cực chủ động của các em. Hãy để học sinh cảm nhận được sự tin tưởng thầy cô dành cho chúng .

Mỗi lời nói, mỗi hành động, tác phong cũng như cách cư xử của giáo viên trên lớp sẽ có tác động không nhỏ đến nhận thức và tình cảm của học trò. Giáo viên sẽ không thuyết phục được học sinh nghe theo sự chỉ dạy của mình nếu như bản thân không chuẩn mực và thiếu đi sự chân thành. Cho nên, mỗi giáo viên là một tấm gương sáng về nhân cách để học sinh noi theo.

3.6. Khen thưởng đúng lúc và xử lý kịp thời

Thông qua các hoạt động học tập, các phong trào thi đua, các hoạt động bề nổi có những cá nhân tiêu biểu. GVCN có biện pháp nêu gương, khen thưởng để động viên khuyến khích kịp thời khích lệ tinh thần học tập rèn luyện các em. Đối với HS vi phạm kỉ luật phải có biện pháp giáo dục, nhắc nhở để các em sửa chữa. Với đối tượng HS cá biệt GV làm sổ theo dõi quá trình tu dưỡng rèn luyện, thường xuyên quan tâm, giáo dục kịp thời. Để "thuần hóa" học sinh cá biệt cần đảm bảo nguyên tắc "nghiêm khắc" và "nhẹ nhàng". Nếu các em vi phạm ta phải xử lí kịp thời với thái độ nghiêm khắc, công bằng (Không nên nghiêm khắc quá mức sẽ phản tác dụng). Đồng thời cũng phải quan tâm, thương yêu gần gũi với các em để các em không thấy mình bị ghét bỏ, bị bỏ rơi.

3.7. Xây dựng tập thể lớp thân thiện, đoàn kết, gắn bó

Xây dựng một tập thể lớp thân thiện, cảm thông, gắn bó giữa học sinh trong quá trình giáo dục. Một tập thể lớp tốt là môi trường lí tưởng để học sinh học tập và phát triển nhân cách, là một tập thể hướng tới và hoạt động dựa trên các giá trị như: tôn trọng, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm, biết cách giải quyết các xung đột không bằng bạo lực… Học sinh có thể học từ một tập thể lớp tốt những bài học đạo đức qua những tấm gương tốt của giáo viên và của các bạn trong lớp. Trong tập thể đó, học sinh có cơ hội để suy nghĩ, bàn bạc, được thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc của mình về các nguyên tắc đạo đức với sự khuyến khích, cảm thông và tôn trọng của thầy cô và các bạn. Để xây dựng một tập thể lớp thân thiện, cảm thông, gắn bó giữa học sinh trong quá trình giáo dục. Tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:

18

Thứ nhất: Phân công các nhóm học tập. Dựa vào lực học, tôi chia ra các nhóm học tập, phân công cho các em học giỏi kèm các em học yếu hơn để giúp bạn trong học tập. Cán bộ lớp, cán bộ đoàn thường xuyên nhắc nhở những bạn còn vi phạm nề nếp.

Thứ hai: Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, ngoại khóa. Thông qua các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn viên, tôi tư vấn cho các em xây dựng các chương trình ngoại khóa để các em bày tỏ ý kiến của mình.

Trong năm học tôi đã tổ chức thành công buổi ngoại khóa với chủ đề: “Điều em muốn nói”, buổi ngoại khóa tôi có mời các thầy cô giáo bộ môn, đại diện phụ huynh đến dự. Buổi ngoại khóa được các em xây dựng nội dung rất chu đáo, phân công nhau chuẩn bị. Giữa các hoạt động có xen kẽ các trò chơi, các tình huống cần thảo luận. Trong buổi ngoại khóa, các em đã mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình về những mong muốn thầy cô, cha mẹ dành cho mình. Mạnh dạn đưa ra những quan điểm của mình về tình cảm, tình yêu tuổi học trò, những khó khăn mà các em đang gặp phải,… Các em cũng được nghe những tâm sự của các thầy cô, cha mẹ, những lời khuyên bổ ích, những định hướng của những người đi trước.

Hình 1: Học sinh lớp 12A7 đang tham gia trò chơi trong buổi ngoại khóa

Trong năm học tôi cũng đã tổ chức cho các em tham dự buổi ngoại khóa với chủ đề: “Sống ước mơ và khát vọng” do diễn giả Đào Ngọc Cường lên lớp. Trong buổi này, tôi mời cả phụ huynh của học sinh cùng đến dự. Tại đây các em được nghe những câu chuyện vượt khó vươn lên, những định hướng cho việc

19

học tập và chọn nghề, những bí quyết và kinh nghiệm để thành công và cũng là dịp các em được nói lên ước mơ, dự định của bản thân về tương lai để bố mẹ, thầy cô và bạn bè cùng biết. Đặc biệt trong buổi ngoại khóa các em còn có cơ hội nói lên tâm tư tình cảm của mình đối với thầy cô, bố mẹ... những điều này chưa một lần các em nói ra.

Tổ chức ngoại khóa sẽ rất vất vả cho giáo viên chủ nhiệm, nhưng vô cùng hiệu quả. Vấn đề đặt ra là giáo viên chủ nhiệm phải khéo léo gắn ngoại khóa vào mục tiêu giáo dục học sinh. Tôi nhận thấy học sinh bây giờ bị áp lực học tập đè nặng, các em cần có một sân chơi để giải tỏa áp lực, giải phóng năng lượng bản thân và tự tin thể hiện cá tính. Do vậy khi tôi đặt vấn đề ngoại khóa, các em rất hào hứng nhưng tôi kèm theo điều kiện là sau ngoại khóa phải đặt chỉ tiêu phấn đấu về học tập và nề nếp như thế nào – giống như một bản hợp đồng cô trò kí kết với nhau. Và đúng là sau ngoại khóa, học sinh thấy công sức của giáo viên đã bỏ ra vì các em như thế nào nên các em đều tự giác thực hiện phần hợp đồng của mình một cách vui vẻ và tự nguyện. Quan trọng nhất là các em đã được đánh thức về tính đoàn kết, ý thức khẳng định giá trị bản thân và tập thể lớp.

Hình 2: Cô và trò lớp 12A7 chụp ảnh lưu niệm cùng diễn giả Đào Ngọc

Cường trong buổi ngoại khóa

Thứ ba: Tổ chức các hoạt động vui chơi, thể dục thể thao. Các hoạt động vui chơi lành mạnh, mang niềm vui cho học sinh, tạo sự đoàn kết giữa các em trong lớp. Trong năm học, tôi đã phối hợp với hội phụ huynh tổ chức các em đi thăm quan tại các mô hình du lịch canh nông ở thị xã Thái Hòa, trang trại TH- Nghĩa Đàn, tham quan các danh lam thắng cảnh trong vùng. Chuyến đi dã ngoại thực tế đã giúp các em hiểu hơn về các kiến thức lí thuyết đã học ở nhà trường,

20

thêm yêu quê hương đất nước, có ý thức bảo về rừng và tài nguyên của đất nước. Giúp các em gắn kết nhau hơn.

Hình 3:Đội bóng đá nam học sinh 10A7 nhận giải nhì trong đợt thi đua

chào mừng ngày 26/3/2019

Sau các buổi học căng thẳng, tôi khuyến khích tổ chức cho các em các buổi giao lưu, luyện tập thể dục thể thao như: bóng chuyền, bóng đá… Không những giúp các em rèn luyện sức khỏe, tạo không khí sôi động trong lớp mà còn giúp các em đoàn kết hơn, gắn bó hơn với các bạn trong lớp.

Hình 4: Đội bóng chuyền nữ học sinh 10A7 (áo đỏ) đánh trận chung kết

với học sinh 12A2 trong đợt thi đua chào mừng ngày 26/3/2019

21

Thứ tư: Xây dựng nhật kí lớp. Đây là hoạt động giúp tạo lập tập thể bền vững hơn, một cảm giác gắn kết với các thành viên khác trong lớp, giúp các thành viên tự hào về tập thể lớp mình. Ngoài ra còn có tác dụng nâng cao lòng tự trọng vì học sinh có cảm giác mình là một thành viên của một tập thể thành công và được quý trọng.

3.8. Phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và các lực lượng giáo dục khác trong quản lí học sinh

Thứ nhất: Phối hợp với Ban giám hiệu (BGH) nhà trường

Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa Hiệu trưởng với học sinh, truyền đạt chủ trương chính sách của ngành, nội quy của nhà trường đến học sinh không phải bằng mệnh lệnh mà bằng sự thuyết phục cảm hoá, gương mẫu của bản thân mình. Bên cạnh đó khi có khó khăn thắc mắc tôi đều xin ý kiến chỉ đạo hoặc nhận sự giúp đỡ từ phía BGH.

Thứ hai: Phối hợp với gia đình học sinh

Giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh phải thống nhất được phương hướng phấn đấu của lớp đặt trong kế hoạch chung của nhà trường, đặc biệt là thống nhất được các biện pháp quản lí, giáo dục học sinh khi đến trường cũng như ở nhà. Đây là điều kiện đầu tiên để giáo viên chủ nhiệm có được sự ủng hộ

của phụ huynh trong công tác chủ nhiệm lớp.

Hình 5: Cô và trò 11A7 đến thăm nhà học sinh em Thúy ở Nghĩa Thịnh

22

Với tôi việc đến thăm gia đình học sinh rất cần thiết. Trước khi đến thăm phụ huynh học sinh, giáo viên cần phải phân loại đối tượng học sinh: Hạnh kiểm tốt, học tập tốt – hạnh kiểm tốt, học tập trung bình, yếu – hạnh kiểm trung bình, yếu…để có kế hoạch đi thăm. Tốt nhất là nên đi thăm trước đối với gia đình những em có hạnh kiểm trung bình, yếu hoặc những trường hợp đặc biệt khác của học sinh…

Đến với gia đình những em chăm ngoan là nhằm để biết thêm về hoàn cảnh gia đình, phương pháp học tập…của các em. Tiện thể giáo viên báo cho gia đình biết những ưu điểm về hạnh kiểm, học tập… Đến với học sinh hay nghịch, lơ là việc học tập, việc giáo viên chủ nhiệm đến nhà thăm gia đình là hết sức cần thiết. Vì có những học sinh gia đình lao động nghèo, cha mẹ ít có thời gian quản lý, chỉ bảo chuyện học hành của con cái, có thể nói là họ giao con mình cho thầy cô. Và điều cần lưu ý là khi giáo viên chủ nhiệm trao đổi cùng phụ huynh học sinh phải có mặt các con.

Ngoài ra trong mỗi lần họp phụ huynh (3lần/năm), tôi triển khai rất nhanh những nội dung cứng của nhà trường, sau đó dùng nhiều thời gian để nhận xét với phụ huynh về ưu nhược điểm của từng học sinh để phát huy những ưu điểm của con, đồng thời phối hợp cùng phụ huynh tìm cách giáo dục những học sinh còn phạm lỗi.

Thứ ba: Phối hợp với các giáo viên bộ môn

Giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên liên hệ, trao đổi với giáo viên bộ môn về tình hình học tập của lớp cũng như của từng học sinh để nắm bắt được khả năng trình độ của các em từ đó chọn lọc, phân tích thông tin để phối hợp tác động giáo dục cùng chiều, khắc phục khó khăn, vướng mắc của học sinh trong quá trình học tập. Đồng thời đề đạt nguyện vọng của học sinh với giáo viên bộ môn để nâng cao chất lượng giáo dục. Tôi còn đề nghị giáo viên bộ môn có kế hoạch phụ đạo thêm những em yếu kém giúp các em lấy lại kiến thức cơ bản.

Tôi còn xin phép giáo viên bộ môn được dự giờ thăm lớp mình để biết được thực lực từng môn của các em như thế nào từ đó đề ra biện pháp giúp đỡ phù hợp. Còn trong các tiết học đề nghị giáo viên bộ môn thường xuyên kiểm tra bài vở, gọi các em phát biểu ý kiến. Những câu trả lời đúng giáo viên bộ môn tuyên dương hoặc cộng điểm để các em có hứng thú trong học tập

Thứ tư: Phối hợp với Đoàn thanh niên, ban tư vấn học đường

Giáo viên chủ nhiệm cũng thường xuyên phối hợp với các thầy cô phụ trách công tác Đoàn, đội cờ đỏ, để thường xuyên nắm bắt tình hình học sinh lớp mình cũng như phối hợp học sinh cá biệt của lớp.

Những khó khăn vướng mắc mà học sinh gặp phải trong quá trình học tập và sinh hoạt xã hội. Tôi luôn tích cực tham vấn và nhờ ban tư vấn hỗ trợ, giúp

23

đỡ học sinh và đưa ra những lời khuyên xác đáng khi các em gặp khó khăn hoặc giúp các em giải quyết các mâu thuẫn một cách hợp lý nhất.

3.9. Áp dụng một số hình phạt tích cực trong công tác quản lí và giáo dục học sinh

Mục tiêu của giáo dục là phát triển con người một cách toàn diện, chú trọng giáo dục, uốn nắn, tác động hành vi hơn là trừng phạt, răn đe. Trong một số trường hợp học sinh vi phạm nội quy trường lớp, các biện pháp giáo dục ý thức kỉ luật học sinh tỏ ra bất lực thì các hình thức kỉ luật bằng các hình phạt mới được đưa vào giáo dục. Như vậy, hình phạt chỉ là biện pháp sau cùng nhằm mục đích điều chỉnh những sai phạm của người học. Tuy nhiên, biện pháp kỉ luật bằng hình phạt phải vì lợi ích của học sinh, không gây tổn hại đến thể xác và tinh thần của các em. Trong quá trình quản lí học sinh lớp chủ nhiệm tôi đã áp dụng một số hình phạt tích cực sau và những hình phạt này có tính giáo dục học sinh rất lớn.

Thứ nhất: Vệ sinh trường lớp: Đối tượng bị phạt lao động là những học sinh xả rác bừa bãi, viết bậy hoặc vấy bẩn lên tường, lên bàn lớp học, hoặc làm hư hại cơ sở vật chất của trường, học sinh sẽ bị phạt vệ sinh quét dọn, lau chùi trường lớp, tự khắc phục hậu quả do hành vi vô ý thức của các em gây ra. Biện pháp giáo dục bằng hình thức kỉ luật lao động này sẽ giúp học sinh biết trân trọng môi trường sạch đẹp mình đang có, giúp học sinh ý thức rằng việc giữ gìn cảnh quan trường lớp không phải chỉ là công việc của những lao công mà là trách nhiệm của mỗi học sinh với ngôi trường.

Hình 6: Học sinh 12A7 đang lau chùi lớp học

24

Thứ hai: Trồng và chăm sóc cho các bồn hoa, cây xanh tạo bóng mát cho khuôn viên trường: Học sinh đem xô, lấy nước ở các vòi nước và tưới nước và vun, xới chăm sóc cho các bồn hoa của lớp, cây xanh trong khuôn viên trường mà lớp được phân công chăm sóc (GVCN cùng học sinh làm để khích lệ và gần gũi các em hơn). Biện pháp giáo dục kỉ luật bằng hình thức trồng cây có ý nghĩa rất lớn, giúp học sinh thêm yêu và gắn bó, biết giữ gìn và bảo vệ ngôi trường và lớp học của mình.

Để động viên học sinh tích cực hơn trong việc trồng cây và tạo cảnh quan cho nhà trường, ngoài sự khích lệ, khen ngợi của giáo viên chủ nhiệm, nhà trường cần tuyên dương trong giờ sinh hoạt dưới cờ những lớp có học sinh tham gia trồng, chăm sóc cây xanh tạo không gian sạch sẽ, dễ chịu và có thẩm mĩ…cho trường.

Hình 7: Ảnh chăm sóc bồn hoa nhà trường của học sinh lớp 12A7

Thứ ba: Đọc sách: Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu của nhân loại. Sách cung cấp cho chúng ta vô vàn kiến thức về mọi lĩnh vực của đời sông tự nhiên và xã hội. Sách không chỉ nâng cao tầm hiểu biết mà còn bồi dưỡng và hoàn thiện nhân cách cho người đọc. Cho nên việc đọc sách có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhận thức được những ích lợi của việc đọc sách, giáo viên đưa ra hình thức kỉ luật học sinh: đến thư viện của nhà trường tìm đọc một cuốn sách mà giáo viên giới thiệu. Trong thời gian một tuần học sinh phải đọc và chia sẻ những điều mà mình đã đọc và học ở cuốn sách đó trong giờ sinh hoạt lớp. Gía trị của biện pháp này là giúp học sinh hiểu được vai trò, tầm quan trọng của

25

sách, ý nghĩa của việc đọc sách, kích thích ở học sinh khả năng tự đọc, tự học, hình thành ở học sinh thói quen đọc sách và tra tài liệu. Việc giới thiệu những điều mình đọc được với những bạn trong lớp sẽ rèn luyện cho học sinh thêm khả năng giao tiếp, giúp học sinh mạnh dạn, tự tin trình bày trước tập thể những suy nghĩ của mình. Nếu học sinh giới thiệu tốt có thể gây được sự tò mò, hứng thú của một số học sinh khác trong lớp, kích thích những học sinh khác đến thư viện nhiều hơn.

Khi đọc sách chắc chắn học sinh sẽ bắt gặp không ít những bài học về cuộc đời, về tình yêu thương, sự bao dung, lòng vị tha cao thượng, những tấm gương về nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Và chắc chắn sẽ không có học sinh nào dửng dưng, vô cảm trước nghĩa cử cao đẹp trong đời, thờ ơ ở trước nỗi đau của người khác, hay không hề phẫn nộ trước những việc làm xấu xa vô nhân đạo. Khi biết phân biệt yêu- ghét, tốt - xấu, hay-dở, học sinh tự ý thức điều chỉnh hành vi của mình, có trách nhiệm hơn với việc học tập và cuộc sống của mình. Thiết nghĩ đọc sách là biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực có hiệu quả lâu dài. Có khó khăn khi thực hiện biện pháp này. Đó là khả năng tự đọc, nhận thức của mỗi học sinh khác nhau. Những học sinh vi phạm phần lớn lười học, không thuộc bài, không soạn bài, có học lực TB. Giáo viên không thể bao quát hết được những cuốn sách có trong thư viện để hướng dẫn và kiểm chứng kết quả đọc của học sinh. Thêm nữa, không phải học sinh nào cũng gạt bỏ được sự tự ti để đứng trước lớp giới thiệu một cách trôi chảy về cuốn sách mình đã đọc.

Hình 8: Học sinh 12A7 trong giờ đọc sách về Bác Hồ

26

Giải pháp hạn chế khó khăn để biện pháp giáo dục trở nên hiệu quả hơn là giáo viên không cầu toàn về kết quả đọc sách của học sinh, cần lựa chọn những cuốn sách tiêu biểu, có dung lượng vừa phải hoặc giáo viên sẽ lựa chọn chủ đề có nội dung giáo dục tương ứng với điều học sinh vi phạm:

Ví dụ: Đối với học sinh chơi game, giới thiệu các em lên tủ sách thư viện đọc cuốn tác hại của trò chơi trực tuyến hoặc những cuốn sách giáo dục lí tưởng sống như Mãi mãi tuổi hai mươi (Nguyễn Văn Thạc), Nhật kí Đặng Thùy Trâm...

Ví dụ: Đối với học sinh hay nói bậy… gây mất đoàn kết trong lớp, giáo viên có thể đưa ra những chủ đề về tình thầy trò, tình bạn hoặc hướng học sinh đến những cuốn sách trong tủ sách hạt giống tâm hồn: Ý nghĩa cuộc sống, Giá trị của yêu thương, tấm lòng vàng, quà tặng cuộc sống, hay một số cuốn sách: Tinh hoa xử thế, nghệ thuật sống, 365 ngày sống, Rèn luyện đức khiêm tốn….

Ví dụ: Đối với những học sinh lười học, hoặc làm việc riêng trong giờ, không soạn bài và không ghi chép bài đầy đủ, giáo viên hướng dẫn học sinh đến những cuốn sách: Khoa học vui, Những bài toán dân gian đố vui, Danh nhân thế giới, Câu chuyện về các nhà khoa học, Mãi mãi tuổi hai mươi, Kể chuyện Bác Hồ.

Để đạt được hiệu quả giáo dục từ biện pháp kỉ luật này, giáo viên hướng dẫn học sinh cách đọc, thường xuyên động viên, khích lệ học sinh, không yêu cầu quá cao kết quả tự đọc của các em, ghi nhận những điều học sinh làm được, khen thưởng những học sinh tích cực đọc và trình bày khá tốt trước lớp. Giáo viên có thể yêu cầu 1,2,3 học sinh cùng đọc một cuốn sách, cùng giới thiệu về một đối tượng. Giáo viên lắng nghe, so sánh và uốn nắn lại. Thêm nữa, giáo viên cử ra một thư kí ghi chép lại một cách chọn lọc những điều học sinh trình bày trước lớp, tổng hợp lại để mọi người cùng chia sẻ. Điều này sẽ tác động mạnh vào lòng tự trọng, sự kiêu hãnh của học sinh về những điều đã làm được. Từ đó học sinh tự xác định thái độ nghiêm túc trong việc đọc sách.

Thứ tư: Giúp đỡ những gia đình học sinh nghèo vượt khó (trong trường, lớp): Giáo viên tập hợp danh sách những học sinh vi phạm nội quy như đánh bài, chơi cờ caro, trốn tiết, chơi điện tử…), huy động những học sinh này đi lao động giúp đỡ những gia đình học sinh trong trường hoặc lớp có hoàn cảnh khó khăn mà vươn lên trong học tập.

Khó khăn khi thực hiện biện pháp này là cần rất nhiều thời gian, rất khó

xác định lao động những gì để giúp đỡ những gia đình học sinh khó khăn.

Nếu như phân công lao động không hợp lí sẽ lãng phí thời gian mà không mang lại hiệu quả. Mặt khác, sẽ là bất lợi nếu gia đình học sinh được giúp đỡ ở địa bàn cách xa trường học.

27

Để khắc phục những khó khăn này, giáo viên cần liên hệ trước với gia đình học sinh đó, ngỏ ý giúp đỡ và hỏi thăm trước những công việc mà gia đình đó cần chia sẻ.

Giáo viên phân công lao động và lựa chọn những gia đình học sinh ở không quá xa địa bàn trường học. Kết quả mà giáo viên hướng tới từ biện pháp giáo dục này là bồi dưỡng tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách và sự tự ý thức ở học sinh.

Hình 9: Học sinh 12A7 cùng với cô chủ nhiệm giúp gia đình bạn Thúy có hoàn cảnh khó khăn trong lớp thu hoạch mía vào ngày chủ nhật năm 2020.

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

Sau một thời gian áp dụng các biện pháp trên (từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 2 năm 2021), bản thân đã có được những thành công đáng khích lệ cả về phía cá nhân tôi và cả lớp tôi chủ nhiệm. Đồng thời, bản thân tôi cũng như đồng nghiệp, BGH cũng đã nhìn thấy được thay đổi rất lớn của nhiều cá nhân học sinh nói riêng và tập thể lớp tôi chủ nhiệm nói chung. Cụ thể, tập thể lớp 12C1 (khóa 2014-2017) và tập thể lớp 12A7 (khóa 2018-2021) đạt được những thành tích và những sự thay đổi như sau:

28

4.1. Đối với tập thể lớp chủ nhiệm

4.1.1. Đối với tập thể lớp 12C1 – Khóa 2014-2017

Tập thể lớp liên tục đạt được tuần học tốt, đạt thành tích chi đoàn- lớp

xuất sắc trong phong trào nề nếp, liên tục xếp thứ 1,2,3 trong 29 lớp.

Được tuyên dương và nhận thưởng trong các đợt tổng kết phong trào thi đua chào mừng các ngày lễ lớn trong năm do Đoàn Thanh niên và Nhà trường phát động.

Nhiều em tham gia các hoạt động công tác đoàn, văn hóa văn nghệ thể dục thể thao của trường, nổi bật là em Phan Thị Quỳnh. Đã có nhiều em vươn lên đạt nhiều thành tích cao trong học tập và rèn luyện. Có nhiều em đã đạt học sinh giỏi toàn diện và đạt kết quả cao trong các kì thi học sinh giỏi tỉnh, nổi bật có em Nguyễn Thị Quý, Lê Thị Dung, Hoàng Thị Thúy.

Danh sách học sinh giỏi tỉnh của lớp 12C1: Khóa 2014 - 2017

TT Họ và tên 1 2 3 4 Nguyễn Thị Quý Nguyễn Thị Quý Lê Thị Dung Hoàng Thị Thúy Năm dự thi Lớp 11 Lớp 11 Lớp 11 Lớp 11 Môn dự thi Đạt giải Giải ba Địa lí Giải ba Ngữ Văn Giải KK Ngữ Văn Giải KK Lịch Sử

Trong kì thi THPTQG năm 2018 tập thể lớp 12C1 đạt kết quả cao với 100% thành viên đậu tốt nghiệp và 100% các em đậu đại học với tổ hợp xét tuyển C00, trong đó có em Nguyễn Thị Quý được chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen (Có phụ lục kèm theo).

Tập thể lớp không còn hiện tượng học sinh đi học muôn, vi phạm các nội

quy của nhà trường, của Đoàn thanh niên và của tập thể lớp đề ra.

Không còn hiện tượng học sinh vi phạm đạo đức, tham gia đánh nhau,

không có học sinh bị đưa ra xử phạt trước Hội đồng kỷ luật của nhà trường.

Kết quả cụ thể như sau: * Kết quả đối chứng: Lớp 10C1: Học kì I, năm học 2014- 2015 (khi chưa áp dụng các biện

pháp kỉ luật tích cực)

Học lực Xếp loại

Giỏi-Tốt: Khá TB Yếu: Kém: SL 0 18 14 2 0 % 0.00% 52.94% 38.88% 8.18% 0.00% Hạnh kiểm % 58.82% 26.47% 14.71% 0.00% SL 20 9 5 0

29

34 100%

Cộng Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT 34 0 18 100.00% 0.00% 52.94%

* Kết quả thể nghiệm: Lớp 10C1: Học kì II, năm học 2014 - 2015 ( Sau khi áp dụng các biện

pháp kỉ luật tích cực)

Học lực Xếp loại

SL 2 20 12 0 0 34 % 5.88% 58.82% 35.30% 0.00% 0.00% 100%

Giỏi-Tốt: Khá TB Yếu: Kém: Cộng Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT Hạnh kiểm % 76.47% 20.59% 2.94% 0.00% 100.00% 5.88% 58.82% SL 26 7 1 0 34 2 20

Lớp 11C1: Năm học 2015 - 2016 ( Sau khi áp dụng các biện pháp kỉ luật

tích cực)

Học lực Xếp loại

SL 4 22 8 0 0 34 % 11.76% 64.71% 23.53% 0.00% 0.00% 100%

Giỏi-Tốt: Khá TB Yếu: Kém: Cộng Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT Hạnh kiểm % 82.35% 17.65% 0.00% 0.00% 100.00% 11.76% 64.71% SL 28 6 0 0 34 4 22

Lớp 12C1: Năm học 2014 - 2015 ( Sau khi áp dụng các biện pháp kỉ luật

tích cực)

Học lực Xếp loại

Giỏi-Tốt: Khá TB Yếu: Kém: SL 6 28 0 0 0 % 17.65% 82.35% 0.00% 0.00% 0.00% Hạnh kiểm % 97.06% 2.94% 0.00% 0.00% SL 33 1 0 0

30

34 100.00%

Cộng Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT 34 6 28 100.00% 17.65% 82.35%

4.1.2. Đối với tập thể lớp 12A7 – Khóa 2018-2021

Tập thể lớp 12A7 liên tục trong các năm học 2018-2019, năm học 2019- 2020 và học kì I năm học 2020-2021, đều đạt lớp có nề nếp xuất sắc và xếp thứ nhất trong 28 lớp toàn trường.

Được tuyên dương và nhận thưởng trong các đợt tổng kết phong trào thi đua chào mừng các ngày lễ lớn trong năm do Đoàn Thanh niên và Nhà trường phát động.

Nhiều em tham gia các hoạt động công tác đoàn, văn hóa văn nghệ thể dục thể thao của trường, nổi bật là em Hoàng Thị Lệ Giang, em Võ Quang Hiếu. Đã có nhiều em vươn lên đạt nhiều thành tích cao trong học tập và rèn luyện, trong đó nổi bật có em Dương Thị Hà Thảo đã đạt học sinh giỏi toàn diện hai năm liền và đạt kết quả cao trong các kì thi học sinh giỏi tỉnh môn thể dục ( 01 Giải ba môn điền kinh) và môn GDQP (01 Giải ba, 01 Giải KK).

* Kết quả đối chứng: Lớp 10A7: Học kì I, năm học 2018- 2019 ( khi chưa áp dụng các biện

pháp kỉ luật tích cực)

Học lực Xếp loại

SL 0 18 14 2 0 40 % 0.00% 52.94% 38.88% 8.18% 0.00% 100%

Giỏi-Tốt: Khá TB Yếu: Kém: Cộng Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT Hạnh kiểm % 58.82% 26.47% 14.71% 0.00% 100.00% 0.00% 52.94% SL 20 9 5 0 40 0 18

* Kết quả thể nghiệm: Lớp 10A7: Học kì II, năm học 2018 - 2019 ( Sau khi áp dụng các biện

pháp kỉ luật tích cực)

Học lực Xếp loại

Giỏi-Tốt: Khá TB Yếu: Kém: SL 4 28 8 0 0 % 10.00% 70.00% 20.00% 0.00% 0.00% Hạnh kiểm % 85.00% 15.00% 0.00% 0.00% SL 34 6 0 0

31

40 100.00%

Cộng Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT 40 4 28 100.00% 10.00% 70.00%

32

Lớp 11A7: Năm học 2018 - 2019 ( Sau khi áp dụng các biện pháp kỉ luật

tích cực)

Học lực Xếp loại

% 10.26% 82.05% 7.69% 0.00% 0.00% 100.00% SL 4 32 3 0 0 39

Giỏi-Tốt: Khá TB Yếu: Kém: Cộng Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT Hạnh kiểm % 89.74% 10.26% 0.00% 0.00% 100.00% 10.26% 82.05% SL 35 4 0 0 39 4 32

Lớp 12A7: Học kì I, năm học 2020 – 2021 ( Sau khi áp dụng các biện

pháp kỉ luật tích cực)

Học lực Xếp loại

% 5.13% 76.92% 17.95% 0.00% 0.00% 100.00% SL 2 30 7 0 0 39

Giỏi-Tốt: Khá TB Yếu: Kém: Cộng Danh hiệu HSG Danh hiệu HSTT Hạnh kiểm % 82.05% 17.95% 0.00% 0.00% 100.00% 5.13% 76.92% SL 32 7 0 0 39 2 30

4.2. Với bản thân

Khi áp dụng phương pháp giáo dục kỷ luật tích cực trong giáo dục học sinh, bản thân tôi đã có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn và sử dụng linh hoạt trong các tình huống sư phạm nhờ vậy cảm thấy yêu quý các em học sinh hơn, gần gũi các em hơn, mỗi tiết học thấy hiệu quả hơn. Các em cũng tin tưởng, thường tâm sự những khó khăn vướng mắc và chia sẻ cùng tôi những niềm vui, nỗi buồn vì vậy việc giáo dục học sinh cũng không còn thấy nhiều áp lực như trước.

Giảm được áp lực quản lý lớp vì học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỷ luật. Giáo viên không phải nhắc nhở, mất nhiều thời gian theo dõi, giám sát việc thực hiện kỷ luật của học sinh; đỡ mệt mỏi căng thẳng vì phải xử lý nhiều vụ vi phạm kỷ luật, giải quyết nhiều vấn đề khúc mắc trong quan hệ với học sinh, gia đình và nhà trường.

Xây dựng được mối quan hệ thân thiện Thầy – Trò. Trò kính trọng, tin tưởng và yêu quý thầy cô;thầy cô hiểu, thông cảm với khó khăn của trò, yêu thương và hết lòng vì học sinh

Nâng cao hiệu quả quản lý lớp học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

học sinh.

33

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Giáo viên chủ nhiệm không chỉ làm công tác dạy chữ mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh.Giảng dạy và chủ nhiệm là hai mặt quan trọng cuả người giáo viên. Trong công tác chủ nhiệm tôi đã sử dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh và đã thu được những kết quả nhất định. Nếu mọi thành viên trong nhà trường và tất cả các bậc phụ huynh cũng như các cơ quan chức năng, tổ chức đoàn thể trong xã hội đều thấy rõ tầm quan trọng và lợi ích của công tác giáo dục đạo đức học sinh bằng các biện pháp kỷ luật tích cực, biết đề cao trách nhiệm, biết đồng lòng, đồng sức phối hợp hành động vì mục tiêu chung sẽ đem lại nhiều thành tích hơn nữa cho nhà trường, sẽ có nhiều con ngoan trò giỏi, xã hội cũng bớt đi số trẻ em hư hỏng, cuộc sống sẽ tốt đẹp và lành mạnh hơn.

Trên đây là một số biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực mà tôi đã áp dụng trong công tác chủ nhiệm. Có lẽ những biện pháp trên còn nhiều thiếu sót, hạn chế cần được bổ sung, Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để công tác chủ nhiệm của tôi ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.

2. Phạm vi áp dụng của đề tài

Các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực mà tôi đã áp dụng đối với công tác quản lí học sinh lớp tôi chủ nhiệm là rất hiệu quả và có thể áp dụng rộng rãi đối với tất cả các cấp học.

Tôi thấy việc sử dụng phương pháp giáo dục kỷ luật tích cực là hướng đi tất yếu phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng trong đổi mới giáo dục. Tuy nhiên, phải xác định rằng “Kỉ luật tích cực” không phải là “cây đũa thần”, không phải là “chiếc chìa khóa vạn năng”. Do vậy bên cạnh việc sử dụng nó như một giải pháp chủ công thì còn phải linh hoạt, mềm dẻo kết hợp với hệ thống các giải pháp khác đi kèm để việc giáo dục học sinh đạt hiệu quả cao nhất.

3. Ý nghĩa của đề tài

Giảm được áp lực quản lý lớp vì học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỷ luật. Giáo viên không phải nhắc nhở, mất nhiều thời gian theo dõi, giám sát việc thực hiện kỷ luật của học sinh; đỡ mệt mỏi căng thẳng vì phải xử lý nhiều vụ vi phạm kỷ luật, giải quyết nhiều vấn đề khúc mắc trong quan hệ với học sinh, gia đình và nhà trường.

Xây dựng được mối quan hệ thân thiện Thầy – Trò. Trò kính trọng, tin tưởng và yêu quý thầy cô; thầy cô hiểu, thông cảm với khó khăn của trò, yêu thương và hết lòng vì học sinh

34

Nâng cao hiệu quả quản lý lớp học, góp phần nâng cao chất lượng giáo

dục học sinh.

4. Kiến nghị

Việc áp dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực trong quản lí lớp không thể thành công nếu giáo viên thực hiện một cách đơn lẻ vì vậy tôi đề nghị ban giám hiệu các nhà trường triển khai đồng bộ đến từng giáo viên. Ban giám hiệu cần thống nhất một kế hoạch chung áp dụng cho nhà trường. Đông thời BGH chỉ đạo và giám sát việc áp dụng, tạo cơ hội để giáo viên chia sẻ những khó khăn, những thành công và bài học kinh nghiệm. Để mỗi giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, thực hiện tốt phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

Nghĩa Đàn, ngày 10 tháng 03 năm 2021

NGƯỜI THỰC HIỆN

Nguyễn Thị Hoa Vân

35

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trang web: http://th-xuyenmoc-bariavungtau.violet.vn.

[2] Bộ giáo dục và đào tạo. Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông giai đoạn 2: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên THPT về giáo dục kỷ luật tích cực.

1. Mạng internet địa chỉ: Google.vn với từ khoá “ kỷ luật tích cực”

2. Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp - Tác giả: Hà Nhật Thăng – NXB GD - 2004

3. Giáo tiếp sư phạm - Tác giả: Nguyễn Văn Lê – NXB GD – 2000

4. Tài liệu bồi dưỡng công tác chủ nhiệm trường trung học, tác giả TS.Phan Thị Tố Oanh, trường Cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh- năm 2012.

5. Thông tư số: 08/TT ngày 21/03/1988 của Bộ giáo dục hướng dẫn về việc khen thưởng và thi hành kỷ luật học sinh.

6. Thông tư số: 58/2011/TT-BGDĐT, thông tư ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông.

36

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng quy chế thi đua do tập thể lớp A7 khóa 2018-2021, THPT Cờ Đỏ xây dựng

A.TÍNH ĐIỂM XẾP LOẠI HẠNH KIỂM:

1. GIỜ GIẤC: Bắt buộc buổi sáng 6 giờ 55 phút có mặt tại lớp học. Buổi chiều: 14 giờ 10 phút.

- Đi học muộn: Trừ 1,0 điểm/ buổi.

- Vào muộn 1 tiết: Trừ 1,0 điểm/ lần

- Nghỉ học chính khoá, lao động, hoạt động ngoại khoá:

+ Vô lý do (bỏ học) buổi sáng: Trừ 5,0 điểm mỗi lần.

+ Nghỉ học bồi dưỡng buổi chiều vô lí do từ 1 buổi: trừ 1,0 điểm.

+ Nghỉ học phụ đạo buổi chiều có lí do từ 2- 3 buổi: trừ 1,0 điểm.

+ Nghỉ học bồi dưỡng buổi chiều có lí do từ 4 buổi trở lên: trừ 4,0 điểm.

2. TRANG PHỤC:

- Không nhuộm tóc, không mặc quần thun bó, áo phông không cổ, không

trang điểm.

- Phải đeo thẻ, sơvin, đi dép quai hậu, hoặc giầy;

- Học sinh nam phải cắt tóc ngắn giản dị (không cắt trọc);

- Phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp điện.

- Nếu thiếu hoặc thực hiện không nghiêm túc một trong những nội dung

trên thì trừ 1,0 điểm/1lần vi phạm.

3. VỆ SINH, BẢO QUẢN CƠ SỞ VẬT CHẤT:

Trực nhật ở lớp hàng ngày có trách nhiệm làm vệ sinh lớp học và đổ rác đúng nơi quy định trước khi vào 15 phút đầu giờ (buổi sáng) và trước 5 phút đầu giờ (buổi chiều), đóng và chốt tất cả cửa kính, cửa chớp, khóa cửa ra vào của phòng học khi ra tập thể dục hoặc lên các phòng bộ môn để học, ngắt điện ở tất cả các thiết bị dùng điện khi ra khỏi phòng.

- Không trực nhật hoặc không trực tuần: Trừ 1,0 điểm/buổi

- Trực nhật hoặc trực tuần không hoàn thành: Trừ 0,5 điểm/ 1 buổi.

- Ăn quà: Trừ 1,0 điểm /1 lần.

37

- Ném phấn, xịt bình nước lau bảng đùa bạn, ném máy bay, không tắt quạt,

tắt điện, đóng cửa sổ khi ra khỏi phòng, trước khi về: Trừ 1,5 điểm/ 1 lần.

- Đánh bài trong giờ ra chơi: Trừ 1,0 điểm/1 lần. Đánh bài trong giờ học:

Trừ 6,0 điểm/1 lần.

- Đá bóng trong khu vực lớp: Trừ 1,5 đ/1 lần.

4. THEO DÕI QUA CÁC TIẾT HỌC:

- Vào sổ đầu bài, gv đánh giá giờ học điểm từ 9 - 9,5: Trừ 1,0 điểm/1 lần.

- Vào sổ đầu bài, gv đánh giá giờ học điểm từ 8 - 8,5: Trừ 3,0 điểm/1 lần.

- Vào sổ đầu bài, gv đánh giá giờ học điểm từ 7,5 trở xuống: Trừ 6,0 điểm/1

lần.

- Vô lễ với giáo viên: Trừ 10,0 điểm /lần vi phạm.

- Làm việc riêng: Trừ 1,0 điểm/lần vi phạm.

- Bị giáo viên nhắc nói chuyện từ lần thứ 2 trở đi, hoặc bắt đứng, không ghi

sổ đầu bài: Trừ 1,0 điểm/1 lần

- Không học bài cũ (không bị ghi sổ đầu bài): Trừ 1,0 điểm/1lần.`

- Đổi chỗ ngồi: Trừ 1,0 điểm/1 lần vi phạm.

5. ĐIỂM KHUYẾN KHÍCH:

- Đối với cán bộ lớp (Lớp trưởng, Lớp phó, Bí thư, Phó BT, các tổ trưởng,

cán sự các bộ môn, thủ quỹ, xung kích, khóa xe, giữ sổ đầu bài)

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: + 2,0 điểm.

- Hoàn thành tốt nhiệm vụ: + 1,0 điểm

- Không hoàn thành nhiệm vụ: - 1,0 điểm (Lấy điểm theo sự tín nhiệm của

tập thể lớp )

- Đối với các thành viên khác: Tích cực xây dựng bài, tích cực tham gia các hoạt động tập thể; cộng 1,0 điểm/ 1 lần được điểm tốt hoặc được gv và tập thể ghi nhận.

- Đối với cá nhân làm việc tốt trong tuần: như nhặt được tiền, điện thoại, máy tính..., báo lại với thầy cô, đoàn trường, BGH nhà trường để trả lại người đánh mất: cộng 2- 3 điểm (tùy mức độ).

6. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT:

- Thường xuyên vi phạm nội quy, không có ý thức sửa chữa, vi phạm kiểm

tra, đánh nhau... xử lý theo quy định của nhà trường.

38

- Điểm thi đua trong tháng: = 10 điểm + điểm được cộng - điểm bị trừ

- Xếp loại: Tốt ≥ 9 điểm; Khá: 7,0-8,5 điểm; Trung bình: 5,0-6,5 điểm.

Yếu < 5 điểm.

B. CÁC CHÚ Ý THÊM VỀ MỨC ĐỘ PHẠT (theo tháng )

1. Vi phạm lần 1 các lỗi: đi muộn, không thẻ (hoặc thẻ không dây, không đeo), dép lê, không sơ vin, ăn quà, mặc áo không cổ, đổi chỗ, không vở bài tập, không vở ghi, không vở soạn, không học bài cũ, điểm kém<5, không trực nhật hoặc trực nhật chậm, nghỉ học vô lí do, bỏ hoạt động ngoại khóa, bỏ lao động, đánh bài trong giờ ra chơi, đá bóng trong khu vực lớp, không thực hiện nghiêm túc hoặc không nộp, hoặc nộp chậm các bài thi, bài viết của Đoàn trường, nhà trường: Trừ điểm thi đua, nhắc nhở trước lớp, phạt tưới hoa và nhổ cỏ bồn hoa khu vực lớp được phân công chăm sóc.

Vi phạm lần 2 các lỗi trên: Viết bản tự kiểm điểm phụ huynh kí xác nhận, phạt lao động tưới hoa, nhổ cỏ. Riêng lỗi đi dép lê, mặc áo không cổ đến lần 2: thu dép, cho về, giáo viên điện báo phụ huynh.

2. Vào sổ đầu bài lần 1- giờ 8,0 đến 8,5 điểm: Viết bản kiểm điểm phụ

huynh kí xác nhận, phạt lao động tưới hoa, nhổ cỏ.

3. Vào sổ đầu bài lần 2 - giờ dưới 7,5 điểm, đánh bài trong giờ: viết bản tự kiểm điểm, phụ huynh kí xác nhận, đọc trước lớp, phạt lao động tưới hoa, nhổ cỏ.

4. Trèo tường rào, mặc quần thu bó, trang điểm, nhuộm tóc, sơn móng tay, không đội mũ bảo hiểm viết bản kiểm điểm, phụ huynh kí xác nhận, đọc trước lớp, phạt lao động tưới hoa, nhổ cỏ.

5. Vi phạm lần 3 tất cả các lỗi: Phụ huynh đến đọc bản kiểm điểm cho

con trước lớp, mời phụ huynh, phạt lao động tưới hoa, nhổ cỏ.

6. Vi phạm lần 4: Học sinh lên gặp Ban Giám Hiệu.

7. Vi phạm lần 5 trở lên: Họp lớp lập biên bản đưa ra hội đồng kỉ luật nhà

trường.

8. Có thái độ vô lễ với giáo viên: kể cả vào sổ đầu bài hoặc không đều mời

phụ huynh.

9. Vi phạm qui chế thi học kì: Hạnh kiểm yếu (theo TT58).

10. Sử dụng điện thoại: Bị giáo viên bắt lần 1, GVCN thông báo với phụ huynh và yêu cầu phụ huynh cùng học sinh gặp GVCN vào thứ 7 của tuần đó. Khi đi học sinh phải cầm theo bản kiểm điểm và bản cam kết. Phạt lao động và GVCN giữ luôn điện thoại, trả sim, GVCN mời CMHS đến trường, niêm phong

39

ĐTDĐ đến cuối năm học mới trả lại cho gia đình. Đối với học sinh sử dụng đến lần 2 GVCN mời phụ huynh, phạt lao động.

II. KHEN THƯỞNG

1. Cộng điểm:

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: + 2 điểm (Tuỳ theo công việc: Cán bộ lớp, Cán bộ Đoàn, Cán sự các môn, Thủ quĩ, khóa xe, xung kích, giữ sổ đầu bài, bảo vệ máy chiếu, khóa ghế). Hoàn thành tốt nhiệm vụ: + 1 điểm.

- Đối với các thành viên khác: Tích cực xây dựng bài, tích cực tham gia các hoạt động tập thể; cộng 01 điểm. Tham gia 1 tiết mục văn nghệ: cộng 2 điểm, 1 tiết mục văn nghệ: cộng 3 điểm.

- Những học sinh đạt điểm tốt nhiều trong tháng: Cộng từ 1 điểm

- Nếu được học sinh tiến tiến :

+ Tổng kết 6,5- 7đ: Cộng 02 điểm.

+ Tổng kết từ 7, 0- 7,5 : Cộng 03 điểm

+ Tổng kết từ 7,5 – 7,9: Cộng 04 điểm

+ Tổng kết từ 8,0 trở lên: Cộng 05 điểm

- Thi HK các môn thi chung:

+ Trong tốp 10: Cộng 3 điểm

+ Trong tốp 10 - 50: Cộng 2 điểm

+ Trong tốp 100: Cộng 1 điểm .

- Thi HSG cấp trường: Giải Nhất: Cộng 4 điểm; Giải nhì: Cộng 3 điểm;

Giải ba: Cộng 2 điểm; Giải Khuyến khích: Cộng 1 điểm

- Thi HSG cấp Tỉnh: Cộng cao hơn thi HSG cấp trường 1 điểm, theo thứ

bậc.

- Những cá nhân làm việc tốt sẽ được cộng điểm tùy theo tính chất của việc

làm.

2. Hình thức khen thưởng

- Cuối mỗi tuần: Các tổ sơ kết, tuyên dương những thành viên tiêu biểu.

- Cuối mỗi tháng: Sơ kết và phát thưởng.

- Cuối mỗi năm học: Khen thưởng cho 5 bạn có điểm thi đua cao nhất, ngoài ra còn khen thưởng thêm các mặt như: Tích cực tham gia các hoạt động

40

Họ và Tên

Phan Thị Quỳnh

Tổng 28.25 27.75 26.75 26.50 26.50 26.00 26.00 26.00 25.25 25.00 24.50 24.50 24.25 23.25 23.25 23.25 23.00 22.25 22.00 21.75 21.50 21.50 21.50 21.25 20.25 20.00 20.00 19.75 19.00 19.00 18.50 18.00 16.25 15.50 22.68 của lớp, điểm thi HK cao nhất, thi chất lượng bồi dưỡng cao nhất, học sinh tiến tiến, học sinh giỏi…) Phụ lục 2: Kết quả thi đại học của lớp 12C1, Khóa 2014 - 2017 (tổ hợp xét tuyển C00) TT 1 Nguyễn Thị Quý Lê Thị Dung 2 3 Tăng Phạm Quỳnh Anh 4 Hoàng Thị Thúy 5 Hồ Thị Thùy 6 Nguyễn Thị Thúy 7 8 Đặng Thị Hải Yến 9 Hồ Như Quỳnh 10 Trần Thị Thanh Thảo 11 Hoàng Đình Tú 12 Nguyễn Thị Thanh Tâm 13 Nguyễn Thị Hà b 14 Nguyễn LêThị Hoa 15 Hồ Thị Phương 16 Hồ Thị Mai Linh 17 Phạm Thị Thu Hà 18 Nguyễn Thị Hải Thương 19 Hà Thị Huệ 20 Hoàng Thị Huyền 21 Ngô Thị Thủy 22 Phạm Văn Nghĩa 23 Nguyễn Thị Hà a 24 Trần Thị Hồng 25 Nguyễn Thị Thùy Dung 26 Nghiêm Thị Ngọc Mai 27 Nguyễn Thị Nhung 28 Kim Giang Minh 29 Võ Thi Ngọc Mai 30 Nguyễn Thị Thu Lan 31 Trần Thị Quỳnh Nga 32 Nguyễn Thị Thu Thảo 33 Hoàng Thị Hậu 34 Võ Thị Thương Điểm tb Văn 9 8.75 8.5 8.25 8 8 8.25 8 7.75 8.25 8 8 7.75 7.25 7.25 7.75 7.75 7.75 6.5 7.5 7.5 6 8 7 8.25 7.25 7 7 7 6.5 7.5 6 6.75 6.25 7.54 Sử 9.5 9.5 9 8.5 9.25 8.25 8.25 8.25 8.25 7.75 8.75 7 7.75 6.75 6.5 7.25 6.25 6 8 6.75 6 6 5.5 6.75 4.25 5.25 6.25 4.5 5.5 6 5 4.25 3.75 3.5 6.74 Địa 9.75 9.5 9.25 9.75 9.25 9.75 9.5 9.75 9.25 9 7.75 9.5 8.75 9.25 9.5 8.75 9 8.5 7.5 7.5 8 9.5 8 7.5 8 7.5 6.75 8.25 6.5 6.5 6.25 7.75 5.75 5.75 8.40

41

Phụ lục 3: Em Nguyễn Thị Quý chụp anh lưu niệm cùng cô giáo chủ nhiệm trong buổi lễ tuyên dương của UBND tỉnh Nghệ An

42