
1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT MƯỜNG QUẠ
ĐỀ TÀI
PHÁT HUY NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CỦA
HỌC SINH MIỀN NÚI NGHỆ AN THÔNG QUA CÔNG
TÁC CHỦ NHIỆM
Lĩnh vực: Công tác chủ nhiệm
Người thực hiện: LÔ VĂN THẮNG
Tổ: TOÁN – LÍ – TIN - GDQP
Năm học: 2020 – 2021
(SĐT: 0973730794)

2
MỤC LỤC
Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
4. Đối tượng nghiên cứu
2
5. Phạm vi nghiên cứu
2
6. Phương pháp nghiên cứu
2
6.1. Hệ thống phương pháp nghiên cứu lí luận
2
6.2. Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3
7. Dự kiến đóng góp của đề tài
3
B. NỘI DUNG
3
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
3
1. Khái niệm về năng lực
3
2. Vai trò của kĩ năng giao tiếp và hợp tác
7
3. Tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm ở trường phổ thông
8
II. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
9
1.Thực trạng
9
2. Nguyên nhân
11
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP
TÁC CỦA HỌC SINH
13
1. Mục tiêu của giải pháp
13
2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
13
2.1.Giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác qua tiết sinh hoạt lớp
13
2.2. Giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
19
2.2.1. Giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp theo chủ đề của tháng kết hợp GDHN
19

3
2.2.2. Giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác qua buổi lao động
25
2.3.Giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác thông qua sự phối hợp giữa
GVCN với giáo viên bộ môn
29
2.4. Giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác thông qua sự phối hợp với gia
đình ở nhà
31
2.5. Giáo dục kĩ năng giao tiếp và hợp tác thông qua sự phối hợp Đoàn
thanh niên ở địa phương
32
IV. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
32
C. KẾT LUẬN
34
1.Đóng góp của đề tài
34
2.Kết luận chung
35

4
BẢNG VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Nội dung
Viết tắt
Trung học phổ thông
THPT
Đại học
ĐH
Cao đẳng
CĐ
Trung tâm
TT
Giáo viên chủ nhiệm
GVCN
Ngoài giờ lên lớp
NGLL
Giáo dục hướng nghiệp
GDHN
Người dẫn chương trình
MC
Giáo viên
GV
Học sinh
HS
Lao động
LĐ

5
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Theo tinh thần của Nghị Quyết số 29 – NQ/TW của Ban chấp hành Trung
ương Đảng về việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đó là
“…Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển
toàn diện năng lực và phẩm chất của người học”.
Trong những năm gần đây, chương trình giáo dục định hướng phát triển
năng lực nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến và đã trở
thành xu hướng chung của toàn ngành giáo dục. Giáo dục định hướng phát triển
năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học. Phương pháp dạy học theo
quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ
mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của
cuộc sống và nghề nghiệp. Đây là một yếu tố quan trọng giúp cho học sinh hình
thành được những kĩ năng sống cơ bản và cần thiết để xử lý được những tình
huống đặt ra trong cuộc sống hàng ngày.
Trường THPT Mường Quạ đứng chân trên địa bàn xã Môn Sơn huyện Con
Cuông, tuyển sinh ở hai xã Môn Sơn và Lục Dạ, học sinh chủ yếu là con em của
đồng bào dân tộc thiểu số như dân tộc Thái và Đan Lai. Do ảnh hưởng của nhiều
yếu tố như đời sống kinh tế khó khăn, điều kiện giao lưu và tiếp xúc với các bạn
cùng trang lứa ở vùng phát triển còn nhiều hạn chế, một phần bản tính của các em
hay e ngại, thiếu tự tin trong giao tiếp hàng ngày, không mạnh dạn khi trình bày
một vấn đề, từ đó việc hợp tác trong học tập và trong cuộc sống của các em chưa
có hiệu quả. Mặt khác, trong thời đại công nghệ số 4.0 điện thoại là phương tiện
không thể thiếu đối với mỗi người, tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mà điện thoại
mang lại, thì mặt trái của nó là tác động không nhỏ tới tính cách, lối sống của giới
trẻ, đặc biệt là lứa tuổi học sinh phổ thông. Nếu như trước đây sau mỗi buổi học ở
lớp, hay ở nhà, các em vẫn thường cùng bạn bè hoặc người thân ngồi lại trò
chuyện, thì bây giờ tình trạng mỗi người ngồi mỗi góc và chỉ chăm chú vào màn
hình điện thoại mà không quan tâm đến ai, xung quanh xảy ra việc gì, điều đó đã
không còn xa lạ ở giới trẻ hiện nay nói chung và học sinh nói riêng. Hiện tượng đó
trở nên phổ biến, không phải chỉ ở nơi công cộng mà ngay cả ở nhà. Vì thế rất
nhiều em học sinh thay đổi về tính cách trở nên lầm lì, không muốn giao tiếp với
người khác, không hợp tác trong các hoạt động.
Ở giai đoạn hiện nay, trong công tác giảng dạy, nhiều giáo viên cũng đã cố
gắng lồng ghép các nội dung và kết hợp nhiều phương pháp trong tiết học nhằm
khơi dậy, phát huy năng lực giao tiếp và hợp tác của các em, tuy nhiên hiệu quả
vẫn còn rất hạn chế, chỉ dừng lại ở một số em hăng hái, năng động, còn phần lớn
các em hay rụt rè, đặc biệt những em có học lực yếu, kém nhất là học sinh dân tộc
thiểu số thì vấn đề giao tiếp và hợp tác lại trở nên khó khăn trong hoạt động học

