
Sáng kiến kinh nghiệm môn quản trị doanh nghiệp – thực trạng pháp luật về
quản trị công ty cổ phần
Chương II.
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN
I. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về quyền của cổ đông
1. Các quyền của cổ đông nói chung theo quy định của pháp luật
Hoạt động cổ đông bao gồm: Giám sát về hoạt động của công ty; thực hiện quyền
cổ đông; tham dự hội nghị cổ đông; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp.
Do đó, quy định về quản trị công ty tốt sẽ đảm bảo được lợi ích cho các cổ đông
và tất cả các bên có quyền và lợi ích liên quan, tạo ra môi trường minh bạch và
thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh.
Xét về khía cạnh quản trị công ty, LDN năm 2005 đã phát triển thêm những đổi
mới và tiến bộ về bảo vệ quyền lợi của cổ đông so với LDN năm 1999. Trong Luật
có các quy định bảo vệ và tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền hạn chính

đáng của các chủ sở hữu; bảo đảm đối xử công bằng giữa các chủ sở hữu; công
khai thông tin và minh bạch hoá cơ chế quản trị công ty; các quyền của HĐQT và
cơ chế giám sát HĐQT của chủ sở hữu trong cơ chế quản trị công ty… Đó là cơ sở
pháp lý quan trọng và cụ thể nhất cho hoạt động của quản trị doanh nghiệp hiện
nay.
Cụ thể, LDN năm 2005 đã thiết lập được những cơ chế hợp lý để bảo vệ cổ đông
phổ thông (bao gồm cả cổ đông sáng lập), thừa nhận các quyền cơ bản của cổ
đông phổ thông, cụ thể:
- Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của ĐHĐCĐ
- Được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người
không phải là cổ đông, trừ trường hợp cổ đông phổ thông của cổ đông sáng lập chỉ
có thể chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ
đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ.
- Quyền nhận và cung cấp thông tin
- Quyền của cổ đông không giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông: i) quyền yêu
cầu tòa án xem xét và hủy bỏ các quyết định của ĐHĐCĐ; ii) Quyền yêu cầu công
ty mua lại cổ phần khi biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty
hoặc thay đổi quyền và nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ; iii). Khi công ty
giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ
phần góp vốn vào công ty
- Bảo vệ cổ đông lớn, như bảo đảm cho họ quyền tham gia quản lý, điều hành và
chi phối công ty.
- Quy định về kiểm soát giao dịch tư lợi, như hợp đồng, giao dịch phải được
ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận (Điều 120).

- Các quyền tham gia vào hoạt động quản lý của công ty
2. Về vấn đề bảo vệ các cổ đông thiểu số
Bên cạnh việc tạo cơ sở pháp lý cho các cổ đông có điều kiện và cơ hội thực hiện
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty, thì LDN năm 2005 cũng
bảo vệ mạnh hơn quyền và lợi ích của cổ đông thiểu số như:
- Cổ đông có quyền xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ
biên bản họp ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ (điểm e khoản 1 Điều 79);
nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục
ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có các
quyền sau đây: Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của HĐQT, báo
cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và
các báo cáo của Ban kiểm soát; yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ; yêu cầu Ban kiểm
soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của
công ty khi xét thấy cần thiết.
- Một số cơ chế khá hiệu quả nhằm bảo vệ quyền của cổ đông đã được áp dụng
rộng rãi trên thế giới được thừa nhận trong LDN năm 2005.
- Quy định cho phép cổ đông ủy quyền bằng văn bản cho bên thứ ba để chủ thể
này biểu quyết thay mình tại các cuộc họp ĐHĐCĐ.
- Quy định cho phép nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông
trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại
Điều lệ công ty có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp ĐHĐCĐ cho
người triệu tập họp ĐHĐCĐ. Người triệu tập họp ĐHĐCĐ phải chấp nhận và đưa
kiến nghị này vào dự kiến chương trình và nội dung cuộc họp (trừ trường hợp kiến
nghị được gửi đến không đúng thời hạn hoặc không đủ, không đúng nội dung; vấn
đề kiến nghị không thuộc thẩm quyền quyết định của ĐHĐCĐ; và các trường hợp

khác theo quy định của Điều lệ công ty). Kiến nghị được chính thức bổ sung vào
chương trình và nội dung cuộc họp nếu được ĐHĐCĐ chấp thuận.
Với trường hợp cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty
hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền
yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó
nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do
yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn mười
ngày làm việc, kể từ ngày ĐHĐCĐ thông qua quyết định. Đây là một công cụ hữu
hiệu mà tất cả các cổ đông đều có quyền sử dụng để bảo vệ lợi ích của mình theo
các điều kiện quy định.
II. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
của công ty
1. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về Hội đồng quản trị
Theo thông lệ quốc tế, HĐQT là một cơ quan có quyền lực cao nhất của
doanh nghiệp – nơi vạch ra những chiến lược và giám sát hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
HĐQT được xác định là “cơ quan quản lý công ty” và “có toàn quyền nhân danh
công ty để giải quyết tất cả các vấn đề, trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của
ĐHĐCĐ”, khoản 2 Điều 108 LDN năm 2005 đã quy định khá đầy đủ quyền và
nhiệm vụ của HĐQT. So với quyền và nhiệm vụ được quy định trong LDN năm
1999 thì quyền và nhiệm vụ của HĐQT được quy định ở LDN năm 2005 (khoản 2
Điều 108) có quy định thêm thẩm quyền về giám sát của HĐQT, cụ thể: giám sát,
chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành
công việc kinh doanh hằng ngày của công ty.

Tuy nhiên, các quy định về quyền và nhiệm vụ của HĐQT vẫn nghiêng về khía
cạnh quản lý trực tiếp và còn mờ nhạt về vấn đề giám sát. So với LDN năm 1999,
thì LDN năm 2005 quy định về cách thức tổ chức và vận hành của cơ quan này đã
có một số thay đổi cơ bản theo hướng cởi mở, tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư
trong phần vốn của mình bỏ ra để kinh doanh và tiếp cận gần hơn với các qui tắc
được thừa nhận rộng rãi, cụ thể:
Về HĐQT, LDN năm 1999 không quy định tiêu chuẩn của thành viên HĐQT.
Trong điều kiện và thực tế ở Việt Nam, điều này là hoàn toàn phù hợp với các
công ty cổ phần khu vực tư nhân. Tuy nhiên đối với các CTCP lớn, CTCP có sự
tham gia vốn của đối tác nước ngoài hoặc CTCP có sự tham gia vốn của Nhà
nước, nhất là vốn đa số thì nảy sinh nhiều vấn đề không thể kiểm soát được. Vấn
đề này, LDN năm 2005 áp dụng thống nhất cho bốn loại hình cơ bản của doanh
nghiệp (đại bộ phận số doanh nghiệp hiện nay), gồm công ty trách nhiệm hữu hạn,
CTCP, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, không phân biệt tính chất sở
hữu và thành phần kinh tế (khác với LDN năm 1999), vì thế sẽ có các CTCP có sự
tham gia vốn của đối tác nước ngoài hoặc CTCP có sự tham gia vốn của Nhà
nước, nhất là vốn đa số. Do đó, để tránh những vấn đề nảy sinh không thể kiểm
soát được, LDN năm 2005 đã quy định rõ tiêu chuẩn của thành viên HĐQT.
“1. Thành viên HĐQT phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh
nghiệp theo quy định của Luật này;
b) Là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông hoặc người
khác có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc trong
ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác quy
định tại Điều lệ công ty.

