
1/25
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. BỐI CẢNH CỦA SÁNG KIẾN
Năm học 2021-2022 là một dấu mốc quan trọng trong hành trình cải cách
chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS. Đây là năm đầu tiên cấp THCS
thực hiện thay đổi sách giáo khoa lớp 6 theo lộ trình cải cách của chương trình
giáo dục phổ thông tổng thể đề ra từ năm 2018. Theo đó, chương trình được xây
dựng theo định hướng phát triển năng lực học sinh, phù hợp với xu thế phát triển
của thời đại góp phần tạo ra những chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng
và hiệu quả giáo dục phổ thông: kết hợp dạy chữ, dạy người, định hướng nghề
nghiệp, phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Chương trình mới coi
trọng tính thực tiễn, coi trọng những hoạt động trải nghiệm của người học. Như
vậy, nền giáo dục nước nhà đang hướng đến mục tiêu góp phần đào tạo ra những
con người tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức, là
những con người học để làm, học để sống hòa nhập, học để chung sống theo
mục tiêu chung của UNESCO.
Một trong những phẩm chất và năng lực rất cần thiết của con người thời
đại mới chính là sự tự tin. Sự tự tin được ví như một chiếc chìa khóa vô cùng
quan trọng làm nên thành công cho mỗi người. Do đó, đây là điều quan trọng
cần hình thành và phát triển ngay từ khi còn nhỏ. Với học sinh lớp 6, đây cũng
là thời điểm thích hợp để rèn luyện đức tính tự tin để các em có đủ khả năng tiếp
nhận nội dung chương trình mới theo phương pháp dạy học mới hiện nay.
II. LÝ DO CHỌN VÀ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN:
Đối với môn Ngữ văn lớp 6 mới, mỗi bài học trong chương trình được
thiết kế đủ 4 kĩ năng: Đọc, viết, nói và nghe. Mục đích của chương trình là
không chỉ phát triển năng lực văn học cho học sinh mà còn phát triển năng lực
ngôn ngữ và nhiều phẩm chất khác nữa, trong đó có sự tự tin. Đây là điểm khác
biệt căn bản trong cách xây dựng chương trình Ngữ văn hiện hành so với
chương trình trước đây. Vì các tiết học hiện nay được tổ chức dưới sự dẫn dắt
của giáo viên, còn học sinh đóng vai trò là chủ động tiếp nhận bài học thông qua
các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. Trong các phương pháp đó,
không thể không kể đến các hoạt động nhóm, trạm học tập, thảo luận nhóm lớn,
nhóm nhỏ...yêu cầu học sinh phải tự bộc lộ ý kiến, quan điểm hay tự báo cáo các
nội dung của bài học. Do đó các em cần có phong cách thuyết trình tự tin, thoải
mái trước lớp. Nói đến 4 kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, sự tự tin thể hiện qua
hoạt động nói và nghe rõ rệt nhất. Chương trình Ngữ văn 6 có 10 bài học trong 1
năm. Tương ứng với số bài đó là có ít nhất 10 tiết nói và nghe. Trong tiết học

2/25
này, học sinh nói là chủ yếu. Vậy, nếu các em không đủ tự tin để trình bày trước
lớp thì coi như giờ học chưa thành công. Qua các tiết nói và nghe thực hiện từ
đầu Học kì I ở lớp 6 trường THCS, tôi nhận thấy các em còn rụt rè, e ngại khi
nói trước lớp vì vậy mà giờ học trở nên tẻ nhạt, học sinh chưa hào hứng học bài.
Như vậy, giờ học chưa thể đảm bảo mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển
năng lực học sinh. Vì vậy, tôi đã nghiên cứu một số giải pháp để giúp học sinh
tự tin trình bày bài nói trước lớp qua các tiết luyện nói. Và trong sáng kiến kinh
nghiệm này, xin trình bày các giải pháp cụ thể qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm:
“Giúp học sinh tự tin trình bày trước lớp kể về một trải nghiệm của bản thân”
III. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA SÁNG KIẾN
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Các giải pháp để giúp học sinh lớp 6 trường THCS tự tin trình bày trước
lớp trong tiết nói và nghe về một trải nghiệm của bản thân (Bài 1, Bài 3 môn
Ngữ văn 6, bộ sách “ Kết nối tri thức với cuộc sống” Học kì I)
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 6 trường THCS: Nghiên cứu năng lực nói của học sinh nói
chung và sự tự tin khi nói.
- Các giải pháp giúp học sinh tự tin khi nói theo chủ đề kể lại một trải
nghiệm đáng nhớ của bản thân.
- Các cách tổ chức hoạt động cho tiết “ Nói và nghe kể về một trải nghiệm
của em”.
IV. MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN
Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm tổng hợp những giải pháp giúp học sinh
lớp 6 trường THCS với mục đích sau:
- Đảm bảo giờ dạy theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất cho
học sinh.
- Giúp học sinh có kĩ năng nói một cách tự tin trước tập thể chủ động trình
bày được trải nghiệm đáng nhớ của mình cho cả lớp cùng nghe.
- Tạo hứng thú và không khí học tập sôi nổi trong giờ nói và nghe theo
chủ đề trên.
- Rèn luyện sự tự tin cho học sinh không chỉ cho riêng giờ Ngữ văn mà
cho cả các môn học khác, góp phần hình thành và phát triển kĩ năng mềm trong
tương lai.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG CỦA NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU

3/25
1. Cơ sở lí luận
Theo nghĩa rộng, tự tin là tin tưởng vào bản thân, tin vào khả năng và
hành động của chính mình. Vì vậỵ, biểu hiện của người tự tin thể hiện qua thái
độ điềm tĩnh, khônglo lắng trước hành động sắp thực hiện, không sợ mình sẽ
thất bại. Ngược lại, trái với tự tin là sự rụt rè, nhút nhát, thiếu bản lĩnh, không
dám thực hiện hành động hoặc lo sợ mình không thành công.Trong cuộc sống,
sự tự tin là thành tố quan trọng quyết định sự thành công của mỗi con người. Do
đó, mỗi học sinh cần rèn luyện cho mình sự tự tin ngay tự khi còn ngồi trên ghế
nhà trường.
Trong giao tiếp tự tin thể hiện qua cách nói năng, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt
khi giao tiếp với người khác. Người tự tin trong giao tiếp luôn luôn có trạng thái
thoải mái khi trò chuyện, khiến người nghe dễ dàng bị thuyết phục trước điều họ
trình bày và đem lại sự hài lòng trong cuộc giao tiếp đó. Đối với học sinh, môi
trường học tập là môi trường lí tưởng nhất để rèn luyện sự tự tin cho các em, bởi
ở đó các em có nhiều cơ hội để học hỏi thầy cô và bạn bè về phong thái tự tin
khi giao tiếp. Các em cần có sự tự tin khi các em trả lời câu hỏi, khi thuyết trình
nội dung bài học và nhất là trong các tiết “Nói và nghe”, sự tự tin là vô cùng cần
thiết, nó quyết định kết quả của phần trình bày của học sinh. Để thực hiện hành
động nói trước lớp, học sinh cần có đủ tự tin để nói dõng dạc, mạch lạc thì các
học sinh khác mới cảm thấy có sức thuyết phục. Thêm nữa, khi nói năng tự tin,
học sinh mới có thể kết hợp với các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt (Yếu tố phi ngôn
ngữ, ngôn ngữ cơ thể) để tăng sự hấp dẫn cho bài nói. Để có được điều đó, giáo
viên cần có giải pháp để học sinh rèn luyện, thực hành, rút kinh nghiệm thì mới
có kết quả khả quan.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu để rèn luyện sự tự tin trong giao
tiếp nói chung. Các ý kiến đều tập trung vào việc giảm bớt áp lực từ các yếu tố
chi phối sự tự tin của người nói như: Giọng nói (Giọng khàn, giọng quá cao, lạc
giọng ...); hoặc cách phát âm (Phát âm lẫn lộn hai phụ âm L và N), cách ăm mặc
v.v... Hay họ cũng bàn về cách lấy lại sự tự tin trong giao tiếp bằng cách luôn
suy nghĩ và hành động tích cực. Những ý kiến đó chính là một trong những gợi
ý để giáo viên có thể tham khảo và vận dụng vào việc giúp học sinh của mình
rèn luyện sự tự tin trong học tập.
2. Cơ sở thực tiễn
Học sinh lớp 6 trường tôi đa số là học sinh ngoại thành, nên các em
thường dè dặt trong giao tiếp, chưa phát huy được năng lực của bản thân. Để
tiến hành nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã khảo sát về những hạn
chế của học sinh lớp 6 qua thực tế giảng dạy tiết nói và nghe ở Bài 1,3,qua đó

4/25
mong muốn cả giáo viên và học sinh cùng đánh giá được thực trạng để việc trình
bày bài nói được thực hiện tốt hơn khi học các bài học tiếp theo.
Lớp/
Sĩ số Nội dung nói tốt
Không chủ
động xin trình
bày
Nội dung nói sơ
sài Nói nhỏ
Phát âm
sai/nói lắp
(L - N)
Lớp
6C
36HS
Số
lượng Tỉ lệ % Số
lượng Tỉ lệ % Số
lượng Tỉ lệ % Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng Tỉ lệ %
411,2 10 27,8 10 27,8 616,6 616,6
Lớp
6F
44HS
511,4 15 34,1 13 29,5 613,6 511,4
Phiếu khảo sát về mức độ tự tin khi trình bày các vấn đề trong tiết
nói và nghe
Câu hỏi khảo sát: Em hãy tự chấm điểm về mức độ tự tin của em khi trình
bày trước lớp các vấn đề của bài học trong tiết nói và nghe vào phiếu khảo sát.
Kết quả tổng hợp thu được như sau:
Lớp
Sĩ số
Rất tự tin
(9-10 điểm)
Khá tự tin
(7- 8 điểm)
Chưa tự tin lắm
(5-6 điểm)
Thiếu tự tin
(1- 4 điểm)
Không tự tin
(0 điểm)
Số
lượng Tỉ lệ% Số
lượng Tỉ lệ% Số
lượng Tỉ lệ% Số
lượng Tỉ lệ% Số
lượng Tỉ lệ%
411,1 616,6 12 33,4 822,3 616,6
6F/
44 715,9 10 22,7 13 29,6 10 22,7 49,1
Tìm hiểu nguyên nhân các hạn chế trên tôi nhận thấy như sau:
Về nội dung bài nói sơ sài có hai nguyên nhân chủ yếu: Một là do học
sinh chuẩn bị nội dung bài nói không kĩ, hoặc có những học sinh băn khoăn
không biết bài làm của mình đã đúng yêu cầu chưa; hai là do tâm lí học sinh
không tốt nên khi trình bày bai nói học sinh không nhớ được hết các nội dung để
trình bày.
Đối với vấn đề học sinh không chủ động xung phong nguyên nhân chủ
yếu là tâm lí rụt rè, e ngại việc đứng trước tập thể.
Còn những em học sinh nói lắp bắp, nói nhỏ một phần là do bản tính, một
phần là do tâm lí.

5/25
Như vậy có thể thấy vấn đề tâm lí ảnh hưởng khá nhiều đến kết quả bài
nói. Và đó cũng là nguyên nhân chính của việc thiếu tự tin. Với số lượng 34,6 %
số học sinh thiếu tự tin và không tự tin để trình bày bài nói, đó sẽ là một khó
khăn cho giáo viên khi tổ chức hoạt động trong giờ học nói và nghe.
Một nguyên nhân khác nữa là do các em học sinh lớp 6 năm nay tiếp cận
với chương trình và sách giáo khoa mới với tâm lí hết sức bỡ ngỡ. Ở lớp 5, các
em học môn Tiếng Việt, trong đó cũng có Văn bản, có Tiếng Việt, có Tập làm
văn nhưng yêu cầu và cách thức học hoàn toàn khác so với môn Ngữ văn cấp
THCS. Gần như khi làm văn ở cấp tiểu học, các em mới tập tạo lập văn bản viết
với những bài Tập làm văn ngắn theo kiểu trả lời câu hỏi gợi ý. Tiết nói và nghe
trong chương trình là hoàn toàn mới mẻ với học sinh. Do đó, các em mới đang
dần làm quen với các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực
học sinh nên có nhiều em chưa bắt nhịp được ngay, vì thế mới có những tồn tại,
hạn chế như trên.
Riêng về lỗi phát âm sai hai phụ âm “ L và N”, đây là hạn chế chung của
học sinh thuộc khu vục tôi đang giảng dạy. Điều này cũng có tác động khá lớn
đối với sự tự tin. Bởi khi các em phát âm sai, các em dễ bị bạn cười nhạo khiến
các em có tâm lí ngại trình bày vấn đề. Nếu sau này ra hòa nhập vào môi trường
giao tiếp với người ở địa phương khác cũng sẽ thành rào cản lớn trong giao tiếp,
khiến các em không được thoải mái, tự nhiên.
Có thể nói, với các nguyên nhân đã trình bày ở trên nên giờ nói và nghe
dù ở bất kì chủ đề nào cũng cần được cải thiện để giờ học trở nên sôi nổi, học
sinh tích cực và tự tin trong khi trình bày bài nói. Chính vì vậy, tôi dã nghiên
cứu các giải pháp và thực hiện áp dụng ở một số tiết nói và nghe theo các chủ đề
ở từng bài, trong đó có tiết: Nói và nghe “ Kể về một trải nghiệm của bản thân”.
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Các giải pháp mới đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1.1. Khuyến khích học sinh xem và học hỏi kĩ năng nói từ các bài nói mẫu
Đối với các học sinh còn thiếu tự tin khi trình bày trước lớp, giáo viên nên
khuyến khích học sinh thường xuyên xem các video của những người có cách
nói, cách hùng biện hay, thu hút được sự chú ý của người nghe. Gần gũi với các
em học sinh lớp 6 và kểu bài kể lại một trải nghiệm của em nhất là các video học
sinh thi tuyên truyền sách hoặc thi kể chuyện. Ở các video này, học sinh thường
có phong cách nói tự tin, truyền cảm, hấp dẫn người nghe. Cho nên giáo viên
cũng có thể dùng các video đó làm tư liệu để khởi động giờ nói và nghe hoặc

