
1
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
1.1.“Hãy chấm dứt việc coi giáo dục là sự chuẩn bị đơn thuần cho cuộc
sống tương lai, hãy coi giáo dục như là ý nghĩa đầy đủ của đời sốngđang diễn ra
trong hiện tại”. Đây là một quan điểm đúng đắn của nhà cải cách giáo dục người
Mỹ John Dewey (1859-1952), Nó đặt ra vấn đề then chốt của giáo dục hiện nay là
tạo ra một môi trường học tập, rèn luyện và vui chơi, tạo cơ hội tốt nhất cho người
học được phát triển toàn diện về năng lực, phẩm chất, sở thích, thiên hướng ngay
chính trong môi trường học tập của hiện tại. Học tập chính là những trải nghiệm
sống thú vị và sống chính là học tập tích cực. Công văn 7043/ Bộ GD và ĐT ngày
31/08/2012 có đặt ra mục tiêu “tạo điều kiện và khuyến khích tính tích cực, chủ
động của HS trong học tập, vui chơi, hoạt động giáo dục. Chú trọng các nội dung
hoạt động để tăng cường tính tự học, kĩ năng sống và văn hóa trường học của
người học…” trong cuộc phát động xây dựng môi trường học tập thân thiện, tích
cực. Và tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ giáo dục triển khai xây dựng “
trường học hạnh phúc” với mong muốn “trường học hạnh phúc hướng tới hình
thành các giá trị cốt lõi là yêu thương, an toàn và tôn trọng. Trong đó mỗi thành
viên từ cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh được nói lên suy nghĩ, có điều kiện đổi
mới sáng tạo, phát huy hết các năng lực cá nhân. Ở môi trường này, từng thành
viên đều cảm thấy mỗi ngày đến trường là một ngày vui, trường học như một gia
đình…” như vậy có thể nói xây dựng môi trường học tập tích cực là một trong
những mục tiêu lâu dài và nhu cầu thiết thực của sự nghiệp giáo dục, và công cuộc
này rất cần sự nỗ lực từ gốc, đó chính là sự chuyển mình từ giáo viên, từ môi
trường lớp học cụ thể.
1.2. Môi trường giáo dục cần được chú trọng và đầu tư vì đây là yếu tố cần
để có thể tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng giáo dục. Muốn HS và GV có
được tinh thần tích cực nhất khi đến trường, khi học tập và giảng dạy thì chúng ta
cần xây dựng một không gian học tập gần gũi, thân thiện, các mối quan hệ chân
thành, cởi mở, dân chủ. Chỉ khi môi trường học tập tạo được sự hứng thú, kích
thích được ham muốn cho người học thì mới có thể tiến tới xây dựng trường học
hạnh phúc, HS hạnh phúc. Vậy cốt lõi của môi trường học tập phải được chú trọng
ở mức nhỏ nhất : Lớp học. Đây là không gian cụ thể, trực tiếp và thường xuyên
nhất mà HS sống, học tập, rèn luyện, vui chơi, là không gian tương tác nhiều nhất
để HS bộc lộ năng lực và phẩm chất. Sẽ thật tồi tệ nếu học sinh đến lớp với tinh
thần hờ hững, thậm chí chán nản và ép buộc như một nghĩa vụ. Cho nên, để lớp
học đủ ấm áp, thân thiện, tích cực đòi hỏi sự đổi mới, cải tạo thực sự môi trường
lớp học, làm sao có thể “kích hoạt” được tinh thần vui vẻ, thoải mái cho HS để HS
tham gia một cách hiệu quả các hoạt động học tập và rèn luyện tốt nhất.
1.3. Để xây dựng được môi trường dạy - học tích cực nhất không thể không
kể đến vai trò của GVBM và HS. Tuy nhiên, người giữ vai trò quan trọng nhất
chính là giáo viên chủ nhiệm (GVCN). Công tác chủ nhiệm là một hoạt động vô

2
cùng quan trọng trong nhà trường. GVCN là cầu nối giữa HS và nhà trường, giữa
HS và phụ huynh. Sự quan tâm, chăm lo của GVCN đến học sinh, đến môi trường
học tập của HS góp phần không nhỏ đẩy mạnh chất lượng học tập của HS. Trong
nhiều nghiên cứu ghi nhận, trên cùng một đối tượng HS, nếu được GVCN quan
tâm, giám sát, tích cực, cởi mở và thấu hiểu nhu cầu cũng như nguyện vọng của
HS, lớp học đó sẽ đạt kết quả học tập cao hơn hẳn một lớp học không nhận được
sự chăm lo và thái độ dân chủ ở GVCN. Muốn làm tốt công tác chủ nhiệm GV cần
là một thành viên, là đầu tàu tích cực nhất “lôi kéo” học sinh vào các hoạt động có
ý nghĩa. Như vậy, GVCN muốn đưa lớp học đi lên, muốn phát triển các năng lực
và phẩm chất cho người học hẳn nhiên phải xây dựng được môi trường học tập tích
cực, thân thiện, trân trọng, thấu hiểu giữa GV và HS, giữa HS và HS.
1.4. Trên thực tế, giáo dục ở các địa phương nói chung các trường học nói
riêng đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, diện mạo mới của những trường
học đạt chuẩn, thân thiện, cởi mở. Tuy nhiên, những thay đổi của môi trường học
tập còn mang tính hình thức nhiều hơn nội dung, thậm chí còn mang tính “thời vụ”
nhằm đảm bảo yêu cầu chung của ngành trong các phong trào thi đua. Do đó, sự
đổi mới và xây dưng môi trường học tập chưa thực sự cụ thể, chưa có giải pháp lâu
dài và bền vững, và đặc biệt chưa quan tâm đến đối tượng cơ sở nhất của một
trường học là lớp học. GVCN phần lớn còn chưa đầu tư thực sự cho lớp học của
mình, do ít nhiều vẫn mang tâm lí chủ nhiệm tạm thời, hoặc chỉ chủ nhiệm như
một cách để đảm bảo số tiết theo quy định chuẩn giờ lao động. Điều này đem lại
một thực tế là công tác chủ nhiệm chưa thực sự được quan tâm đúng mực, GVCN
chưa tâm huyết trong công tác quản lí, giáo dục HS, và tất yếu chưa có những giải
pháp cụ thể để xây dựng môi trường lớp học tích cực, dân chủ, thân thiện cho HS.
Trải qua nhiều năm gắn bó với công tác chủ nhiệm, cũng như có những thử
nghiệm về giải pháp xây dựng môi trường lớp học tích cực, dành nhiều tâm huyết
cho HS các khóa chủ nhiệm, tôi nhận thấy công việc chủ nhiệm không đơn giản, để
hiểu và đồng hành cùng học sinh đòi hỏi người GVCN không chỉ có “trí sáng” mà
cần có “tim hồng”, Chỉ khi GVCN tâm huyết với HS lớp chủ nhiệm thì khi đó HS
sẽ cảm thấy được yêu thương, được hiểu và mong muốn được “cháy” hết mình vì
tập thể. Muốn vậy, GVCN cần có nhiều giải pháp, hình thức hoạt động trải nghiệm
sáng tạo và độc đáo cùng HS. Cho nên, xây dựng một môi trường học tập tích cực
là vô cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.
Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề: Một số biện pháp xây
dựng môi trường học tập tích cực cho học sinh THPT qua công tác chủ nhiệm
lớp làm đối tượng nghiên cứu.
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
2.1. Đối tượng nghiên cứu

3
Như tên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của sáng kiến này là Một
số biện pháp xây dựng môi trường học tập tích cực cho học sinh THPT qua công
tác chủ nhiệm lớp.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài, chúng tôi sẽ chỉ bàn đến xây dựng môi trường học tập tích cực
cho học sinh tại lớp học thông qua các hoạt động chủ nhiệm, được tiến hành qua
các hoạt động: Xây dựng môi trường lớp học xanh, xây dựng trạm đọc và xây dựng
các tiết sinh hoạt mở. Từ đó, GV định hướng cho HS những yêu cầu và phẩm chất,
năng lực quan trọng trong bối cảnh giáo dục HS thành những công dân toàn cầu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Sáng kiến nhằm chứng minh sự cần thiết cũng như khả năng, ưu thế và hiệu
quả to lớn của các biện pháp xây dựng môi trường học tập tích cực thông qua công
tác chủ nhiệm lớp
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài, bao gồm việc làm rõ sự cần thiết
của việc xây dựng môi trường dạy học tích cực, thực trạng và khả năng xây dựng
môi trường dạy học tích cực thông qua hoạt động của công tác chủ nhiệm lớp
3.2.2. Xây dựng hệ thống phương pháp, biện pháp về môi trường dạy học tích
cực, thực trạng và khả năng xây dựng môi trường dạy học tích cực thông qua hoạt
động của công tác chủ nhiệm lớp
3.2.3. Tiến hành khảo sát để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của những
phương pháp, biện pháp xây dựng môi trường dạy học tích cực.
4. Giả thuyết khoa học.
Nếu đề xuất và áp dụng đồng bộ các biện pháp có tính khoa học, khả thi nêu
trong đề tài, có thể giải quyết được:
- Xây dựng môi trường học tập tích cực, hiệu quả cho HS THPT
- Tạo ra không gian học tập và rèn luyện vô cùng gần gũi và thân thiên với môi
trường, HS gắn bó với nhau trong các hoạt động tập thể
- HS được tôn trọng, yêu thương và chia sẽ trong tập thể lớp học.
- Cải tiến các hình thức và biện pháp giáo dục và quản lí HS trong công tác chủ
nhiệm
5. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuộc hai nhóm nghiên cứu lý
thuyết và nghiên cứu thực tiễn: Dùng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết,

4
phân loại và hệ thống hoá lý thuyết để đánh giá, thẩm định những nghiên cứu có
liên quan đến đề tài.
- Dùng các phương pháp quan sát và điều tra để nắm bắt những dữ liệu cần
thiết về hoạt động xây dựng môi trường học tập thân thiện, tích cực, sáng tạo.
- Dùng phương pháp khảo sát để thẩm định, đánh giá tính khoa học, tính khả
thi của hệ thống phương pháp, biện pháp xây dựng môi trường học tập sáng tạo,
tích cực qua các hoạt động chủ nhiệm.
6. Những luận điểm cần bảo vệ của sáng kiến
Chúng tôi tập trung làm sáng rõ ba luận điểm đưa ra trong biện pháp xây
dựng môi trường học tập tích cực cho HS THPT qua công tác chủ nhiệm lớp:
- Xây dựng phòng học xanh – Bồi dưỡng lối sống xanh
- Xây dựng trạm đọc – bồi dưỡng thình yêu sách và văn hóa đọc
- Xây dựng các giờ sinh hoạt mở - bồi dưỡng năng lực phản biện
7. Đóng góp của sáng kiến
- Nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề xây dựng môi trường học tập tích
cực cho học sinh qua công tác chủ nhiệm.
- Đề xuất những phương pháp, biện pháp có tính khả thi nhằm đưa lại một môi
trường học tập thân thiện, tích cực, hạnh phúc cho người học.
- Phát triển, rèn luyện học sinh những năng lực, phẩm chất quan trọng trong
yêu cầu phát triển con người toàn diện của giáo dục mới hiện nay.
8. Cấu trúc của sáng kiến : Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham
khảo, nội dung của sáng kiến sẽ được triển khai qua 3 mục:
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
2. Một số biện pháp xây dựng môi trường học tập tích cực cho học sinh qua
công tác chủ nhiệm
3. Kết quả của biện pháp xây dựng môi trường học tập tích cực cho học sinh
qua công tác chủ nhiệm.

5
PHẦN II. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Định hướng xây dựng môi trường học tập tích cực trong chương trình
giáo dục phổ thông hiện nay
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung Đảng về đổi mới căn
bản toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển giáo dục và
đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh
quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học”. Trong công cuộc đổi mới giáo dục để đạt được mục tiêu
và chất lượng của chương trình giáo dục phổ thông mới, Bộ giáo dục phát động
phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Công văn 7043/ Bộ
GD và ĐT ngày 31/08/2012 “Chú trọng các nội dung hoạt động để tăng cường tự
học, kĩ năng sống và văn hóa trường học của người học. Xây dựng Quy tắc ứng xử
văn hóa thiết thực, hiệu quả trong trường học phù hợp với điều kiện của mỗi nhà
trường.” Để tiếp tục xây dựng môi trường giáo dục phù hợp với xu thế phát triển
của giáo dục toàn cầu và xây dựng môi trường học tập dân chủ, tích cực cho HS,
nhằm phát huy cao độ khả năng, năng lực và phẩm chất cho người học, Công văn
số 312/CĐN ngày 12/11/2019 của Công đoàn Giáo dục Việt Nam về việc hướng
dẫn công đoàn các trường học tổ chức và tham gia xây dựng Trường học hạnh
phúc theo kế hoạch nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo, người
lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Các trường học tiếp tục
phát động phong trào “Xây dựng trường học hạnh phúc”
Xây dựng môi trường học tập tích cực nhằm hướng tới việc hình thành các giá
trị cốt lõi là yêu thương, an toàn và tôn trọng. Trong đó, mỗi thành viên từ cán bộ
quản lý, giáo viên, học sinh được nói lên suy nghĩ, có điều kiện đổi mới sáng tạo,
phát huy hết các năng lực cá nhân. Ở môi trường này, từng thành viên đều cảm thấy
mỗi ngày đến trường là một ngày vui, trường học như gia đình. Để làm được điều
này, bản thân mỗi nhà trường, giáo viên và lãnh đạo quản lý đều phải thay đổi để tạo
môi trường giáo dục khiến học sinh hạnh phúc.
Giáo sư Hà Vĩnh Thọ - một chuyên gia trong lĩnh vực Giáo dục đặc biệt và
trị liệu Xã hội cho rằng: “Các kỳ thi, điểm số và bài kiểm tra là một phần tự nhiên
của hệ thống giáo dục, nhưng chúng không phải là mục tiêu cuối cùng của nó.
Chúng chỉ đơn giản là phương tiện kết thúc. Mục đích của giáo dục là giúp trẻ em
và thanh thiếu niên phát huy hết tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, thực tiễn (giáo dục
cái đầu, trái tim, bàn tay); Kiến thức học thuật là quan trọng, nhưng trong thời đại
của công nghệ số, HS cần được trang bị các kỹ năng xã hội, kỹ năng cảm xúc, sáng
tạo và khả năng làm việc nhóm. Không cái nào trong số này có thể dễ dàng được
kiểm tra trong các kỳ thi truyền thống chủ yếu đánh giá trí nhớ, thông tin và tư duy
logic. Do đó, yêu cầu đặt ra cho GV và HS cần thoát khỏi áp lực về các kì thi và

