intTypePromotion=1

Sinh sản vô tính

Chia sẻ: Van Thuong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:24

0
88
lượt xem
20
download

Sinh sản vô tính

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Người ta hy vọng, công nghệ nhân bản động vật sẽ giúp các nhà chăn nuôi và nông dân sản xuất ra những gia súc khỏe mạnh hơn. Ông Jim Greenwood, chủ tịch kiêm tổng giám đốc của Tổ chức Công nghiệp Công nghệ sinh học (BIO), cho biết từ khi Dolly ra đời cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã tìm ra những kỹ thuật nhân bản an toàn hơn và chất lượng cao hơn, nhờ đó đã cho ra đời những con vật lành mạnh hơn....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sinh sản vô tính

  1. Sinh sản vô tính: Những cột mốc đáng nhớ 1981: Gail Martin tại đại học California, San Francisco và Martin Evans thuộc Đại học Cambridge, lần đầu tiên đã tách được tế bào gốc từ phôi của chuột. 23/2/1996: Các nhà khoa học đã công bố I. ỨNG DỤNG SINH SẢN TRÊN ĐỘNG VẬT về việc nhân bản thành công con vật hữu nhũ đầu tiên, cừu Dolly (ra đời tại Viện Roslin) 1. Sinh sản vô tính sẽ cho nhiều thịt hơn, thịt ngon hơn 7/1988: Trung tâm nghiên cứu gia súc Người ta hy vọng, công nghệ nhân bản động vật sẽ giúp các Ishikawa (Nhật Bản) nhân bản vô tính nhà chăn nuôi và nông dân sản xuất ra những gia súc kh ỏe thành công 2 con bò đầu tiên có tên Noto và Kaga, mạnh hơn. 2001: Anh trở thành quốc gia đầu tiên hợp Ông Jim Greenwood, chủ tịch kiêm tổng giám đốc của Tổ pháp hóa các phương pháp nhân bản vô chức Công nghiệp Công nghệ sinh học (BIO), cho biết t ừ khi tính con người cho mục đích nghiên cứu Dolly ra đời cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã tìm ra những 2/2003: Cừu Dolly chết kỹ thuật nhân bản an toàn hơn và chất lượng cao hơn, nhờ đó đã cho ra đời những con vật lành mạnh hơn. 4/2003: Các nhà khoa học đã hoàn thiện chuỗi gen di truyền của con người Về ứng dụng của công nghệ sinh sản vô tính, ông Greenwood nói: “Hiện nay chúng tôi đang sử dụng công nghệ này để cải 2/2004: Nhà khoa học người Hàn Quốc thiện sản xuất thực phẩm và an toàn thực phẩm t ại các nước Hwang Woo-suk và nhóm của mình tuyên bố tạo ra được 30 phôi người vô tính và đã đang phát triển, sức khỏe của gia súc và an toàn của nguồn tách được tế bào mầm cung cấp thực phẩm. Sinh sản vô tính cũng s ẽ giúp khắc phục nguy cơ tuyệt chủng của một số loài động vật hoang dã, 8/2005: Tiến sĩ Hwang cho ra đời con chó như gấu trúc khổng lồ”. đầu tiên bằng sinh sản vô tính, Snuppy, Tháng 12/2006, Cục Quản lý Thuốc và Dược phẩm Hoa Kỳ 1/2006: Tiến sĩ Hwang bị cáo giác là đã ngụy tạo các kết quả nghiên cứu về sinh (FDA) đã công bố một bản dự thảo đánh giá rủi ro, trong đó sản vô tính ở người. Vài tháng sau, ông kết luận rằng thịt và sữa động vật sinh sản vô tính là an phải ra tòa ở Hàn Quốc về việc này. tòan đối với người tiêu thụ. 7/2006: Tổng thống Bush bác bỏ một dự luật liên quan đến việc đầu tư thêm kinh Thêm vào đó, nó cũng không có sự khác biệt với thịt động vật phí liên bang cho việc nghiên cứu tế bào có nguồn gốc từ phương thức chăn nuôi truyền thống. mầm Theo các chuyên gia, mặc dù hiện nay các sản phẩm từ động vật nhân b ản ch ưa có trên thị trường nhưng trong tương lai, người tiêu dùng s ẽ được hưởng lợi từ những s ản ph ẩm thịt và s ữa đồng nhất hơn, lành mạnh hơn và phong phú hơn, được sản xuất t ừ những động vật sinh s ản vô tính. Đồng thời, nhân bản động vật còn hứa hẹn tạo ra những con vật có những đ ặc đi ểm t ốt hơn. Điều này thật sự có ý nghĩa trong việc cải thiện chất lượng giống gia súc. Áp dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất giống lợn lai 3 máu Phát triển chăn nuôi theo hướng năng suất, chất lượng gắn với việc ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ là một yếu tố quan trọng đồng thời cũng là một yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp. Thực tế hiện nay, chăn nuôi của cả tỉnh nói chung và của Tiên Du nói riêng, phần lớn vẫn nhỏ lẻ, nuôi trong khuôn viên gia đình, nên gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, hơn nữa còn làm giảm hiệu quả sản xuất. Mặt khác, phương thức chăn nuôi này chưa tận dụng được triệt để nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương như: ốc bươu vàng, các sản phẩm phụ của nông nghiệp, chế biến nông sản thực phẩm… Một số địa phương tuy đã hình thành được
  2. khu chăn nuôi tách ra khỏi khu dân cư song vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có tại địa phương và mức đầu tư của nông dân. Trong quá trình chăn nuôi vẫn bộc lộ những bất cập, nhất là về khâu giống. Cơ cấu giống lợn chưa phù hợp, các giống lợn lai kinh tế tăng trưởng chậm, tỷ lệ nạc chưa cao vẫn chiếm ưu thế, nên ảnh hưởng tới quá trình tiêu thụ, chưa tương xứng với mức đầu tư của người chăn nuôi. Thực tế này đang đòi hỏi phải có nguồn giống tốt, có mức tăng trọng, tỷ lệ nạc cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng để cung cấp cho người chăn nuôi. Để đáp ứng nguyện vọng của người chăn nuôi, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của huyện Tiên Du giai đoạn 2006-1010 là: Phát triển chăn nuôi theo mô hình kinh tế trang trại VAC, xây dựng khu chăn nuôi tách khỏi khu dân cư , kết hợp đưa quy trình công nghệ hiện đại vào sản xuất, bảo đảm an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường. UBND huyện chỉ đạo Trạm Khuyến nông phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khoa học triển khai thực hiền đề tài: “Áp dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm giống lợn lai 3 máu, kết hợp phát triển chăn nuôi ngoài khu dân cư trên địa bàn huyện Tiên Du”. Mô hình sẽ được thực hiện với qui mô 200 lợn nái và 500 lợn lai 3 máu nuôi thương phẩm. Quy trình công nghệ lai tạo giống lợn 3 máu được tiến hành theo các bước. Bước 1, lai tạo giống lợn lai 3 máu, bước 2 tạo đàn con lai 3 máu nuôi thương phẩm. Sau đó lấy con lai phối hợp với lợn đực ngoại, sẽ tạo con lai 3 máu, gồm 75% máu ngoại và 25% máu nội. Lợn lai 3 máu có ưu thế hơn hẳn lợn lai kinh tế vì tỷ lệ máu ngoại là 75%, còn lợn lai tỷ lệ máu ngoại chỉ có 50%. Vì thế lợn lai 3 máu có mức tăng trọng nhanh hơn, tỷ lệ nạc cao… phù hợp với điều kiện đầu tư chăn nuôi theo quy mô công nghiệp. Mặt khác, lợn lai 3 máu còn có 25% máu nội, nên vẫn duy trì được các ưu điểm là tính chống chịu tốt với các yếu tố ngoại cảnh như: điều kiện chuồng trại, khí hậu, có thể tận dụng tối đa nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương, sẽ giảm được giá thành. Thực hiện thành công được mô hình này sẽ giúp địa phương xây dựng quy trình kỹ thuật chọn giống lợn nái, kỹ thuật lai tạo giống lợn nái lai 3 máu để chuyển giao cho nông dân. Từng bước tiến tới sản xuất lợn giống lai 3 máu cung cấp tại địa phương và các vùng lân cận. Góp phần thay đổi cơ cấu giống lợn theo hướng tăng tỷ lệ đàn lợn nuôi thương phẩm 3 máu, tăng tỷ lệ đàn lợn nái lai, giảm tỷ lệ đàn lợn lai kinh tế và tỷ lệ đàn lợn nái nội. Phấn đấu thực hiện mục tiêu năm 2010, tổng đàn lợn toàn huyện đạt 75.000 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt gần 12.380 tấn. Đồng thời xây dựng các mô hình chăn nuôi xa khu dân cư, bảo đảm an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường.
  3. 2. Ứng dụng thành công kỹ thuật sinh sản nhân tạo trên động vật 2.1 Cấy truyền phôi động vật trong nhân giống bò Trước nhu cầu ngày càng cao về nguồn sữa bò của thị trường trong nước và quốc tế, từ tháng 1 – 2004, Trung tâm khuyến nông tỉnh Đồng Nai đã bắt tay vào thực hiện đề tài: "Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật cấy truyền phôi động vật trong việc nhân giống bò thịt, bò sữa cao sản” tại hai điểm: Công ty cổ phần bò sữa Đồng Nai và xã Lộc An, huyện Long Thành. Đến nay, đề tài đã cơ bản đạt được các mục tiêu đặt ra và báo cáo sơ kết trước Hội đồng khoa học tỉnh vào ngày 9 -11 - 2006. Cấy truyền phôi được xem là biện pháp đặc biệt, áp dụng công nghệ cao trong việc sớm tạo ra những con giống tốt làm hạt nhân của đàn bò sữa. Công nghệ cấy truyền phôi giúp nâng cao khả năng chống bệnh cho bò, nhân nhanh các giống tốt, quý hiếm ra thực tế sản xuất trên cơ sở khai thác triệt để tiềm năng di truyền của những cá thể cái cao sản; nâng cao khả năng sinh sản, tăng năng suất sữa, thịt, làm ngắn thời gian tuyển chọn giống vì một con bò cho phôi có thể tạo ra nhiều bê chất lượng cao trong một năm, dành kinh phí đầu tư chuồng trại, thức ăn và nhân công. Thực tế, cấy truyền phôi bò đã được nghiên cứu, ứng dụng vào Việt Nam từ những năm 1980 tại Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, tuy nhiên số lượng còn hạn chế. Hơn nữa ở Việt Nam nói chung và ở Đồng Nai nói riêng, việc nhập nhiều bò sữa ngoại làm bò nền rất khó thực hiện, một phần vì tốn kém, một phần vì bò ngoại rất khó thích nghi với khí hậu nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn những con bò cái có năng suất sữa, thịt cao sẵn có tại địa phương để làm bò cho phôi và sử dụng bò nền Lai Sind hoặc bò cái sữa lai Hà Lan F1, F2 năng suất thấp để làm bò nhận phôi bằng cách gây động dục đồng pha với bò cho phôi là rất cần thiết để tăng nhanh số lượng bò sữa, bò thịt có chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sau quá trình thử nghiệm, cho thấy: Quy trình gây rụng trứng nhiều trên bò cho phôi có hai công thức đạt kết quả cao và các loại hoocmon sử dụng dễ tìm trên thị trường, giá thành thấp. Để gây động dục đồng loạt và động dục đồng pha cho bò nhận phôi thì thực hiện quy trình 2 (tiêm PMSG + PG-F2α) là hiệu quả nhất. Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng cho biết, thời gian thu phôi tốt nhất được chọn vào ngày thứ 7 sau khi phối giống. Ở thời điểm này, phôi ở giai đoạn phôi dâu, phôi nang khá bền vững. Nếu thu sau ngày thứ 8 thì có khả năng phôi đã phát triển tới giai đoạn phôi nang già, chui ra khỏi màng trong suốt, sẽ khó tìm phôi và khả năng phôi bị tổn thương cũng rất cao.
  4. Trong điều kiện chăn nuôi nông hộ, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn phương pháp thu phôi không phẫu thuật để tiến hành lấy phôi từ bò cho; dung dịch sau khi dội rửa được soi dưới kính hiển vi soi nổi để tìm phôi; sau đó nâng độ phóng đại lên để phân loại. Những phôi điển hình cho giai đoạn phát triển, không có khuyết điểm gì, hoặc phôi đúng với giai đoạn phát triển, màu sắc tế bào đẹp, có một vài tế bào tách rời được chọn để cấy cho bò nhận hoặc đông lạnh bảo quản phôi ở dung dịch Nitơ lỏng – 196oC. Các sản phẩm đề tài đã thu được là: Phôi bò sữ cao sản từ thu phôi siêu bào noãn là 237 phôi; phôi bò sữa cao sản dông lạnh từ thu phôi siêu bào noãn là 107 phôi; bê con cấy hợp tử tươi cho bò Lai Sind hoặc bò lai F1 là 28 con; bê con từ cấy hợp tử đông lạnh là 25 con. Hội đồng khoa học cũng đánh giá tính ứng dụng cao cũng như hiệu quả kinh tế mà đề tài sẽ mang lại khi nghiên cứu thành công, đồng thời đóng góp ý kiến cho nhóm tác giả đề tài đó là cần tiếp tục theo dõi bệnh của bò sau khi cấy truyền phôi và sức khoẻ của bê con sinh ra, nhanh chóng mở các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật cấy truyền phôi cho các cán bộ kỹ thuật để kết quả nghiên cứu nhanh chóng được ứng dụng, thực hiện được các mục tiêu mà đề tài mong muốn. 2.2 Sản xuất thành công giống cá đối Quy trình thực hiện thành công bởi Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ. Việc sinh sản nhân tạo, ấp nở và ương nuôi cá bột cá đối tại trại ở Ngọc Hiển, Cà Mau. Theo các chuyên gia thủy sản thì, nguồn cá bố mẹ thành thục được chọn từ tự nhiên. Cá đối có sức sinh sản khá lớn. Cá đối mẹ có trọng lượng 250 gam, cho đẻ được 304.800 trứng, tỷ lệ nở khoảng 50%. Sau khi nở, cá được ương nuôi trên các bể 4m3. Cá bột lớn nhanh đạt kích cỡ 1,1-1,3cm và tỷ lệ sống 20-40% sau 3 tuần tuổi.Cá đối là loài ăn tạp thiên về thực vật và có tiềm năng tốt để phát triển nuôi ở vùng nước lợ, mặn hay nuôi ghép với tôm sú trong các mô hình nuôi quảng canh cải tiến, tôm ruộng, tôm rừng.Hiện nay Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ vẫn đang tiếp tục nghiên cứu nhằm nâng cao tỷ lệ sống và hoàn thiện hơn nữa quy trình nuôi để ứng dụng tốt trong sản xuất, hướng đến sản xuất giống đại trà tại đồng bằng sông Cửu Long. 2.3. Sinh sản nhân tạo loài cá ngựa lớn nhất thế giới Trong số 7 loài cá ngựa ở vùng biển Việt Nam, đã có 5 loài được cho sinh sản ở điều kiện thí nghiệm, trong đó loài cá ngựa thân trắng là loài quý hiếm nhất. Cá ngựa thân trắng (Hippocampus kelloggi) là một trong số rất ít loài có kích thước lớn nhất trong giống Hippocampus. Hầu hết các loài cá ngựa trên thế giới có chiều dài nhỏ hơn 20cm. Nhưng loài cá ngựa thân trắng đạt kích thước cực đại đến 35cm; loài H. abdominalis phân bố ở Úc chỉ đạt tối đa 32cm.
  5. Những nghiên cứu gần đây cho thấy cá ngựa thân trắng có hàm lượng amino acid và acid béo không no HUFA rất cao, đặc biệt là DHA. Hàm lượng kẽm và mangan cũng khá cao ở cá ngựa. Về mặt y học, điều này giải thích vì sao sử dụng cá ngựa giúp tăng cường hoạt động của thận và sự sinh tinh. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng cá ngựa giàu Na, K và P, rất cần thiết cho sự trao đổi chất của con người. Hàm lượng kẽm và sắt cao (160 microgam/g) ở cá ngựa giúp cải thiện hệ miễn dịch và tăng sự vận chuyển oxy của huyết sắc tố ở người. Cá ngựa thân trắng được ưa chuộng nhất trong y học cổ truyền Trung Quốc nhờ có kích thước lớn, thân trắng và nhẵn. Người ta cho rằng loài này có hoạt tính sinh học cao nhất trong các loài cá ngựa (ở Hồng Kông một số loài cá ngựa đen được tẩy trắng bằng hóa chất cũng là vì lý do này), do đó giá của chúng rất cao từ 100-300USD cho một cá thể có chiều dài từ 29-32 cm. Ở Việt Nam, cùng kích thước này, cá có giá dao động từ 700.000 đồng - 1.000.000 đồng/con. Cũng như hầu hết các loài cá ngựa khác ở nước ta và trên thế giới, loài cá ngựa thân trắng nằm trong sách đỏ Việt Nam, danh sách đỏ (Red list) của Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) và phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Điều này có nghĩa là chúng có nguy cơ bị đe dọa về nguồn lợi và vấn đề mua bán phải được giám sát chặt chẽ theo CITES. Ở Việt Nam, loài cá này phân bố ở độ sâu 20-150m, từ vùng biển Đà Nẵng đến Vũng Tàu, và rất hiếm gặp trong các mẻ lưới khai thác. Cá ngựa con được nuôi thả trong bể tại Viện Hải dương học. Trong thời gian gần đây, tập thể nghiên cứu của Viện Hải dương học đã cho sinh sản thành công đối với loài cá này. Cá có tỷ lệ sống trên 60%, tốc độ sinh trưởng nhanh, cá 7 tháng tuổi đạt chiều dài trung bình 20cm, dự kiến cá tròn 1 năm tuổi đạt chiều dài 25-26cm và có khả năng phát dục trong điều kiện thí nghiệm. Thành công này sẽ mở ra triển vọng tạo đàn cá bố mẹ F1, khép kín chu trình nuôi. Lưu ý rằng, một cá đực mang trứng ngoài tự nhiên có thể đẻ 1.000 con (với tỷ lệ sống như trên), sau một năm, người nuôi sẽ thu được hơn 600 cá thương phẩm, giá bán dao động 300.000-400.000 đồng/con. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là nguồn cá bố mẹ rất hiếm để cho sinh sản nhân tạo. Chi phí nuôi cá ngựa không lớn, ít rủi ro cho nên đây là đối tượng nuôi có triển vọng và tiềm năng về kinh tế. Tuy nhiên, nuôi cá ngựa cũng cần lưu ý đến vấn đề phát triển bền vững, tránh tình trạng mâu thuẫn giữa nghề nuôi và bảo vệ nguồn lợi như đã xảy ra ở một số đối tượng nuôi khác ở nước ta.
  6. Biện pháp hiệu quả nhất để sử dụng hợp lý nguồn lợi cá ngựa là phát triển nghề nuôi trên cơ sở sử dụng cá bố mẹ thế hệ F1 và thả cá giống trở lại với sinh cảnh thích hợp của chúng để tái tạo nguồn lợi. 2.4. Chú khỉ có hai mẹ một cha Theo tin ngày 27/8 từ DailyMail, các nhà khoa học Mỹ đã lợi dụng công nghệ thụ tinh ống nghiệm thực hiện thành công sửa đổi những khiếm khuyết di truyền của DNA. Họ đã tạo ra 4 chú khỉ sửa đổi gen khỏe mạnh. Điều khiến mọi người phải ngạc nhiên là những chú khỉ này có 2 người mẹ và một người bố. Các nhà khoa học cho biết, bằng công nghệ này, trong vài năm tới sẽ có thể cho ra đời những em bé được sửa đổi gen. Các nhà khoa học Mỹ đầu tiên lấy một tế bào trứng từ khỉ mẹ có DNA mang bệnh di truyền, sau đó tách bỏ gen có thể dẫn đến bệnh di truyền và lấy nhân DNA cấy ghép vào tế bào trứng khỏe mạnh của một khỉ mẹ khác. Trước đó, nhân DNA của tế bào trứng ở khỉ mẹ đã được tách ra. Như vậy các nhà khoa học đã thu được một tế “bào trứng hỗn hợp”. Sau đó tiếp tục đưa tế bào trứng này và tinh trùng của khỉ bố tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm, từ đó tạo ra một chú khỉ khỏe mạnh. Như vậy, về mặt sinh lý học, thì chú khỉ này có hai mẹ và một bố. Các nhà khoa học cho biết, tế bào phải được cung cấp năng lượng mới có thể sống, trong khi đó ti thể là cơ quan tạo ra năng lượng cho tế bào. Mỗi một ti thể chứa một chuỗi DNA nhỏ, có mang 37 đến 20.000 loại gen khác nhau. DNA ty thể chỉ có thể di truyền thông qua tế bào trứng của khỉ mẹ. Giới y học đã xác định, có khoảng 50 loại bệnh mang tính di truyền là do sự đột biến DNA ty thể gây ra.
  7. Trong khi giới y học rất hoan nghênh sự nghiên cứu đột phá này, thì các nhà đạo đức học lại tỏ ra vô cùng lo lắng. Josephine Quintavalle thuộc tổ chức Comment on Reproductive Ethics cho biết: “Sinh sản là một công trình di truyền, chúng ta không nên can thiệp bằng bất kỳ mọi giá vào quá trình sinh sản đã tiến hóa hàng mấy triệu năm. Mặc dù mục đích của nghiên cứu để có thể ngăn chặn được bệnh tật ty thể cho thế hệ sau, nhưng dự án này có lẽ sẽ mang đến những kết quả hết sức đáng lo ngại.” 4. Ý nghĩa của việc sinh sản vô tính cừu Dolly còn là nh ững ứng d ụng quan trọng trong tương lai đối với ngành y tế. Nghiên cứu tế bào mầm: Còn nhiều tranh cãi Thành công trong việc tạo ra cừu Dolly đã cung cấp động lực cho các nhà khoa học đ ẩy m ạnh các nghiên cứu về tề bào mầm với mục đích t ối hậu là cải thi ện s ức kh ỏe con ng ười. Tế bào mầm được xem là tế bào “chủ” của cơ thể. Được chứa trong phần trung tâm của phôi, tế bào m ầm là loại t ế bào có khả năng chuy ển hóa thành bất kỳ tế bào nào cần thiết cho các bộ phận của cơ th ể, nh ư xương, máu, não…
  8. Hiện nay, các nhà y học đang khai thác khả năng của tế bào m ầm để tìm ra nh ững li ệu pháp y khoa hữu hiệu. Theo các chuyên gia, tế bào mầm có thể được sử d ụng trong đi ều trị các b ệnh như tiểu đường, đột quị, mù lòa, v.v… Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng h ọ đang g ặp nhi ều trở ngại không chỉ về mặt kỹ thuật mà cả về phương diện đạo đức trong việc khai thác và ứng dụng tế bào mầm. Hiện nay, việc sử dụng tế bào mầm đang là một vấn đề đang gây tranh cãi. Nhi ều ng ười cho rằng tế bào mầm của bào thai là bất khả xâm phạm. Do đó, t ế bào mầm ở ng ười trưởng thành đang được xem là một sự lựa chọn để thay thế. Do còn nhiều điều kiện chưa thuận lợi nên cho đến nay, vẫn chưa có nhi ều trường hợp dùng t ế bào mầm để thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể con người. Thế nhưng, điều khiến công chúng quan tâm hơn cả, đó là việc nếu người ta có thể cho sinh sản vô tính một động vật như cừu Dolly thì liệu, có thể tạo ra con người từ sinh sản vô tính không. II. ỨNG DỤNG SINH SẢN Ở NGƯỜI Thụ tinh trong ống nghiệm 1. : Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng BS. Hồ Mạnh Tường, BS.Vương Thị Ngọc Lan, BS. Phạm Việt Thanh, BS. Nguyễn Thị Ngọc Phượng 27/01/2004 ĐẶT VẤN ĐỀ Hơn 20 năm qua thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đã gặt hái rất nhiều thành công trong điều trị hiếm muộn do vòi trứng, hiếm muộn vô căn hoặc do chồng. Tuy nhiên, tỉ lệ thành công của TTTON với nguyên nhân do chồng thấp hơn so với trường hợp tinh trùng chồng bình thường. Nếu tinh trùng chồng có vấn đề, tỉ lệ TTTON chỉ đạt khoảng 20-30% (bình thường 60-70%) và khoảng 1/3 bệnh nhân hoàn toàn không có hiện tượng thụ tinh giữa tinh trùng và trứng. Đa số các trung tâm TTTON đều có tiêu chuẩn nhất định cho tinh trùng khi nhận bệnh nhân làm TTTON (trên 0,5 triệu tinh trùng di động tốt sau rửa). Do đó, nhiều cố gắng nhằm cải thiện tỉ lệ thụ tinh cho những trường hợp tinh trùng yếu đã được thử nghiệm trong những năm gần đây. Năm 1991, Ng và cộng sự (Singapore) báo cáo trường hợp thành công đầu tiên bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào khoang quanh noãn (SUZI). Năm 1992, Cohen và cộng sự (Mỹ) công bố trường hợp thành công đầu tiên bằng phương pháp tạo lỗ thủng nhân tạo ở zona pellucida (PZD). Tuy nhiên hai phương pháp nêu trên vẫn không làm tăng đáng kể tỉ lện thụ tinh ở những trường hợp tinh trùng chồng yếu. Cũng vào năm 1992, phương pháp ICSI được giới thiệu sau một loạt những trường hợp thành công của Palermo (Bỉ) và cộng sự khi tiêm tinh trùng trưc tiếp vào bào tương trứng. Từ đó đến nay, kỹ thuật ICSI đã không ngừng được cải tiến và áp dụng ngày càng rộng rãi. Ở Mỹ, năm 1996, ICSI đã
  9. chiếm hơn 30% các chu kỳ hỗ trợ sinh sản. Hiện nay tỉ lệ này có thể còn cao hơn. ICSI là kỹ thuật hỗ trợ cho quá trình thụ tinh giữa tinh trùng và trứng in-vitro. Khi điều trị với ICSI, các bước tiến hành hoàn toàn tương tượng như TTTON thông thường, chì khác ở giai đoạn thụ tinh, 1 tinh trùng được tiêm trực tiếp vào trứng dưới sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác. Việc thành công của kỹ thuật ICSI đã tạo một tiếng vang lớn và làm thay đổi nhiều quan niệm về quá trình thụ tinh ở người và động vật nói chung. Kỹ thuật ICSI từ khi thành công đã được xem là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh nam. Trong một khảo sát về ICSI với qui mô lớn nhất cho đến nay của Hiệp hội sinh sản người và Phôi học Châu Aâu (ESHRE) báo cáo năm 1998, tỉ lệ thụ tinh của noãn sau khi tiêm tinhg trùng vào bào tương noãn của 174 bệnh nhân là 55,4%; tỉ lệ noãn thụ tinh tiếp tục phát triển là 44,0% (số liệu năm 1994, số liệu từ 30 trung tâm khác nhau). Các em bé sinh ra do thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 4 năm 1998 tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ. Đây cũng là nơi đầu tiên ở Việt Nam thực hiên thành công kỹ thuật tiêm trùng vào bào tương trứng năm 1998, em bé đầu tiên được sinh ra kỹ thuật này vào tháng 2/1999. cho đến nay chưa có nghiên cứu nào báo cáo về khả năng ứng dụng và kết quả kỹ thuật ICSI trong điều trị vô sinh nam tại Việt Nam. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đây là một nghiên cứu. Chúng tôi thu thập các số liệu từ tất cả các trường hợp được điều trị với kỹ thuật ICSI tại khoa Hiếm muộn, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ từ tháng 5/1999 đến tháng 3/2000. Qui trình thực hiện ICSI Người vợ được cho thuốc kích thích buồng trứng để tăng tối đa nang noãn phát triển trong chu kỳ điều trị. Chúng tôi sử dụng phác đồ dài, phối hợp GnRH agonist (Decapeptyl 0,1 mg) và FSH tái tổ hợp (Puregon). Bệnh nhân sau đó được theo dõi bằng siêu âm vá định lượng nội tiết (LH, E2) để điều chỉnh liều thuốc và xác định thời điểm nang noãn trưởng thành. hCG (Pregnyl) được sử dụng để kích thích sự trưởng thành của noãn. Chọc hút trứng qua âm đạo, dưới hướng dẫn của siêu âm với đầu dò âm đạo. Trứng chọc hút được tiến hành khoảng 35 giờ sau khi tiêm hCG. Trứng chọc hút được sẽ được cấy với môi trường cấy (IVF-20) trong tủ cấy CO2 từ 5 đến 6 giờ. Tinh dịch được lấy khoảng 2 giờ sau khi chọc hút. Sau đó chúng tôi tiến hành lọc tinh trùng bằng Sperm Grad-100 và rửa lại 2 lần với các môi trường Sperm Rinse-20 và Gamete-20. Khoảng 5-6 giờ sau khi chọc hút trứng, trứng được cho vào môi trừơng Gamete-20 chứa men hyaluronidase nồng độ 80IU/ml để tách các lớp tế bào nang xung quanh trứng. Việc bóc tách các tế bào quanh trứng được hỗ trự vói pipette Pasteru kéo nhỏ có đường kính nhỏ dần từ 100-150 mm dưới kính hiển vi soi nổi.
  10. Trứng sau đó được cho vào các giọt môi trường trên đĩa cấy đường kính 30mm. Tinh trùng sau khi lọc và rửa cũng được cho vào giọt PVP 10% trên đĩa cấy. Tất cả các giọt môi trường trong đĩa cấy được phủ một lớp dầu (Ovoil-150). Sau đó đĩa cấy được đặt vào kính hiển vi đảo ngược có bệ sưởi ấm 370C để thực hiện tiêm tinh trùng vào trứng được thực hiên dưới kính hiển vi đảo ngược với hệ thống vi thao tác (micromanipulation) ở độ phóng đại 200 lần. Kim tiêm tinh trùng (microinjection pipette) với đường kính khoảng 5-6 m sẽ được đặt vào giọt PVP 10% để cố định và bắt tinh trùng. Sau đó đặt kim giữ trứng (holding pipette) với đường kính trong khoảng 30-40 m cùng với kim tiêm tinh trùng vào giọt môi trường chứa trứng. Tạo áp lực âm trong kim giữ trứng để giữ cố định trứng lúc tịem tinh trùng. Kim tiêm tinh trùng được đâm xuên qua màng trong suốt và màng tế bào trứng. Tinh trùng sau đó được tiêm vào bào tương trứng. Trứng sau khi tiêm tinh trùng sẽ được nuôi cấy trong tủ cấy CO2. việc kiểm tra thụ tinh được thực hiên từ 16-18 giờ sau. Sau đó trứng sẽ được đặt trở lại tủ cấy. Trứng thụ tinh sẽ đựơc kiểm tra lần thứ hai vào ngày hôm sau để đánh giá sự phát triển của phôi và chọn phôi chuyển vào buồng tử cung. Hai tuần sau khi chuyển phôi, bệnh nhân được làm xét nghiệm thử thai bằng cách định lượng kCG trong huyết thanh (phư8ơng pháp mễim dịch men). Nếu xét nghiêm thử thai dương tính, bệnh nhân sẽ được hẹn siêu âm 3 tuần sau để siêu âm xác định túi thai trong buồng tử cung. Thai lâm sàng được định nghĩa khi trên siêu âm thấy có túi thai và tim trong lòng tử cung. Một kỹ thuật mới làm tăng khả năng có thai - Hỗ trợ phôi thoát màng bằng Laser Hơn 10 năm sau khi 3 em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam, nhiều phương pháp mới trong điều trị vô sinh đã được ứng dụng tại bệnh viện Từ Dũ. Với mục đích nâng cao tỉ lệ thành công trong điều trị, khoa Hiếm muộn - bệnh viện Từ Dũ không ngừng đẩy mạnh công tác đào tạo và triển khai các kỹ thuật mới. Hỗ trợ phôi thoát màng bằng laser đang được triển khai tại đơn vị chúng tôi. Trong một chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, bệnh nhân thường trải qua các bước: kích thích buồng trứng, chọc hút trứng, nuôi cấy phôi, chuyển phôi, làm xét nghiệm thử thai, và theo dõi thai cho đến ngày sinh. Có thể nói sự thành công của một chu kỳ điều trị là một chuỗi liên kết chặt chẽ sự hoàn tất của các khâu trên. Do đó sau khi phôi được chuyển vào buồng tử cung, để gọi là thành công thì phôi phải làm tổ được trong buồng tử cung và phát triển thành thai cho đến ngày sinh. Có ba giả thuyết giải thích vì sao phôi không làm tổ được. Đầu tiên là nguyên nhân liên quan đến yếu tố nội tại của phôi, nghĩa là chính bản thân phôi không có khả năng làm tổ. Nguyên nhân thứ hai có thể do thiếu các thành phần gắn kết với phôi tại nội mạc tử cung (bình thường phôi phải gắn với các phân tử tại nội mạc tử cung này thì mới có thể làm tổ
  11. được). Cuối cùng là phôi không thể thoát khỏi sự bao bọc của màng zona (màng bao bọc quanh phôi) Nguyên nhân sau cùng này chính nó mang lại sự phát triển các kỹ thuật vi thao tác nhằm hỗ trợ phôi nuôi cấy trong môi trường ống nghiệm(Cohen và cs , 1990 ). Sự thụ tinh ở người xảy ra ở đoạn eo bóng của vòi trứng. Sau đó trứng đã thụ tinh sẽ di chuyển vào buồng tử cung. Trong ống nghiệm, sự xuất hiện 2 tiền nhân trong thụ tinh bình thường xuất hiện khoảng 18-19 giờ sau cấy tinh trùng. Đến ngày 2-3, phôi phát triển đến giai đoạn 2-4 và 8 tế bào. Hiện tượng nén tế bào có thể xảy ra ở giai đoạn 8 tế bào khoảng ngày 3. Biểu hiện bằng sự tăng tiếp xúc bằng cách hình thành các cầu nối giữa các phôi bào kế cận, giảm các khoảng gian bào và đường viền mờ đi. Ngày thứ 4 sau khi thụ tinh, có sự hình thành khoang phôi nang ở giữa. Ngay thời điểm bắt đầu quan sát thấy khoang này là bắt đầu giai đoạn phôi nang. Hiện tượng thoát màng thường xảy ra vào ngày thứ 5 hay 6, lúc này phôi đã ở tại buồng tử cung. Ở người hiện tượng này xảy ra tại một vùng trên bề mặt của phôi nang. Phôi dần dần thoát ra khỏi màng trong suốt bằng cách lồi qua một lỗ nhỏ. Hiện tượng thoát màng hoàn toàn là lúc phôi chui ra khỏi màng trong suốt, thường xảy ra vào ngày thứ 6 hay 7. Hỗ trợ phôi thoát màng có thể làm tăng tỷ lệ có thai cho những bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm Bs Trần Huy Dũng 18/06/2009 1. Hiện tượng thoát màng của phôi:
  12. Trong một chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, bệnh nhân thường trải qua các bước: - kích thích buồng trứng - chọc hút trứng - nuôi cấy phôi - chuyển phôi - làm xét nghiệm thử thai và theo dõi thai cho đến ngày sinh. Có thể nói sự thành công của một chu kỳ điều trị là một chuỗi liên kết chặt chẽ sự hoàn tất của các khâu trên. Do đó sau khi phôi được chuyển vào buồng tử cung, để gọi là thành công thì phôi phải làm tổ được trong buồng tử cung và phát triển thành thai cho đến ngày sinh. Có ba giả thuyết giải thích vì sao phôi không làm tổ được: - Do yếu tố nội tại của phôi, nghĩa là chính bản thân phôi không có khả năng làm tổ - Do thiếu các thụ thể gắn kết với phôi tại nội mạc tử cung - Do phôi không thể thoát khỏi sự bao bọc của màng zona (màng bao bọc quanh phôi). Nguyên nhân sau cùng này chính nó mang lại sự phát triển các kỹ thuật vi thao tác nhằm hỗ trợ phôi nuôi cấy trong môi trường ống nghiệm (Cohen và cộng sự, 1990) Sự thụ tinh ở người xảy ra ở đoạn eo bóng của vòi trứng. Sau đó trứng đã thụ tinh sẽ di chuyển vào buồng tử cung. Trong ống nghiệm, sự xuất hiện 2 tiền nhân trong thụ tinh bình thường xuất hiện khoảng 18-19 giờ sau cấy tinh trùng. Đến ngày 2-3, phôi phát triển đến giai đoạn 2-4 và 8 tế bào. Hiện tượng nén tế bào có thể xảy ra ở giai đoạn 8 tế bào khoảng ngày 3. Biểu hiện bằng sự tăng tiếp xúc bằng cách hình thành các cầu nối giữa các phôi bào kế cận, giảm các khoảng gian bào và đường viền mờ đi. Ngày thứ 4 sau khi thụ tinh, có sự hình thành khoang phôi nang ở giữa. Ngay thời điểm bắt đầu quan sát thấy khoang này là bắt đầu giai đoạn phôi nang. Hiện tượng thoát màng thường xảy ra vào ngày thứ 5 hay 6, lúc này phôi đã ở tại buồng tử cung. Ở người hiện tượng này xảy ra tại một vùng trên bề mặt của phôi nang. Phôi dần dần thoát ra khỏi màng trong suốt bằng cách lồi qua một lỗ nhỏ. Hiện tượng thoát màng hoàn toàn là lúc phôi chui ra khỏi màng trong suốt, thường xảy ra vào ngày thứ 6 hay 7.
  13. Phôi thoát khỏi màng bao xung quanh Mặc dù phôi nang người dễ nở rộng trong ống nghiệm, trong một số trường hợp những phôi nang này gặp trở ngại trong vấn đề giãn nở hay chỉ giãn rộng ở một vài chỗ hoặc không thể dãn nở hoàn toàn để thoát khỏi màng zona, cuối cùng nang xẹp xuống và thoái hóa. 2. Kỹ thuật Hỗ trợ phôi thoát màng: Hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted hatching) đã được thực hiện từ những năm đầu của thập niên 90. Đây là kỹ thuật làm mỏng hoặc tạo một lỗ thoát trên màng của phôi nhằm cải thiện tỉ lệ có thai và tỉ lệ làm tổ của phôi. Có 4 cách để hỗ trợ phôi thoát màng: Phương pháp cơ học • Phương pháp hóa học (acid Tyrod) • Phương pháp sinh hóa (men thủy phân protein) • Phương pháp laser • Hỗ trợ thoát màng bằng acid Tyrod
  14. Kỹ thuật này được áp dụng cho những trường hợp phôi tiên lượng kém từ năm 1990 (Cohen và cộng sự). Dùng pipette giữ phôi ở vị trí 9 giờ và một pipette 10 μm chứa dung dịch acid Tyrod được đưa vào vị trí 3 giờ cạnh vùng có khoang quanh noãn trống. Một vùng khiếm khuyết trên màng zona được tạo ra bằng cách thổi acid Tyrod trên bề mặt ngoài của màng zona. Phôi sau đó được rửa vài lần để loại bỏ lượng acid Tyrod thừa và được đặt trong môi trường nuôi cấy trở lại cho đến lúc chuyển phôi. Hỗ trợ thoát màng bằng phương pháp cơ học Cieslak và cộng sự đã mô tả kỹ thuật này vào năm 1999. Phôi được giữ nhẹ nhàng bằng một pipette giữ và một vi kim đâm xuyên qua màng zona ở vị trí khoảng trống quanh phôi bào lớn nhất. Sau đó phôi được buông ra khỏi pipette giữ, lúc này phôi được giữ bởi vi kim. Mang phôi đang bị vi kim xuyên qua cọ bên dưới pipette giữ cho đến khi tạo được một vết cắt trên màng zona. Hỗ trợ thoát màng bằng phương pháp sinh hóa
  15. Với phương pháp này, phôi được đặt trong môi trường có chứa men thủy phân trong một thời gian nhất định. Được mô tả bởi Fong và cs vào năm 1998. Đầu tiên đặt phôi trong dung dịch pronase hòa tan trong 60 giây. Sau đó kiểm tra dưới kính hiển vi đảo ngược để xem màng zona có bị dãn rộng, mờ đi và khoảng quanh noãn có tăng lên không. Nếu những tiêu chuẩn này không đạt được thì phôi được đặt tiếp tục trong dung dịch pronase từ 30-60 giây nữa. Tiếp đó phôi được đặt trở lại môi trường nuôi cấy cho đến khi chuyển phôi. Kết quả là màng zona được làm mỏng. Hỗ trợ thoát màng bằng laser
  16. Đây là kỹ thuật sử dụng tia laser có bước sóng hồng ngoại để làm mỏng hoặc tạo một lỗ thoát trên màng zona. So với các kỹ thuật khác kỹ thuật này được cho là nhanh nhất và thuận lợi nhất (Balaban và cộng sự, 2002). - Dụng cụ gồm: • Hệ thống laser quang học hồng ngoại • Màn hình vi tính • Phần mềm vi tính giúp điều chỉnh vị trí chiếu tia và mức năng lượng laser phù hợp - Các bước thực hiện: • Điều chỉnh mức năng lượng laser phù hợp • Phôi được đặt trong giọt môi trường nuôi cấy, đặt dưới kính hiển vi đảo ngược có gắn hệ thống laser hồng ngoại • Chọn vị trí cần chiếu tia laser và tiến hành chiếu tia - Ứng dụng khác: • Lấy đi những phân mảnh trong quá trình phân cắt của phôi • Sinh thiết phôi bào để làm chẩn đoán bất thường di truyền của phôi Trong một nghiên cứu hồi cứu thực hiện với 794 chu kỳ tiên lượng xấu, tỷ lệ thai lâm sàng trên chu kỳ chuyển phôi thay đổi giữa 46% (acid Tyrod) và 49,3% (xé màng zona) nhưng không liên quan đến bất kỳ kỹ thuật thoát màng nào (tỷ lệ làm tổ cũng không). Nhưng có bằng chứng từ một nghiên cứu tiền cứu trên những bệnh nhân lớn tuổi (Hsieh và cộng sự, 2002) cho thấy khi xét về tỷ lệ làm tổ (8,2 với 3,8%) cũng như tỷ lệ thai (31,8 m vượt trội hơnµvới 16,1%) hỗ trợ thoát màng bằng laser bước sóng 1,48 ít nhất đối với phương pháp hóa học (P
  17. - Phụ nữ lớn tuổi - Màng zona (màng phôi) dày - Chuyển phôi trữ lạnh - Không có thai sau 2-3 lần chuyển phôi - Nồng độ FSH cơ bản cao. - IVM (In Vitro Maturation - Trưởng thành trứng non trong ống nghiệm) - Thường qui (một số quan điểm áp dụng kỹ thuật này cho tất cả các đối tượng làm thụ tinh trong ống nghiệm) Như vậy, các chuyên gia hỗ trợ sinh sản cũng như những cặp vợ chồng mong con đã có thêm một chọn lựa mới để cải thiện khả năng có thai trong những chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm. Hỗ trợ phôi thoát màng bằng laser là một kỹ thuật có khả năng tăng hiệu quả điều trị, kỹ thuật không quá phức tạp và mang tính ứng dụng ca Phôi thoát màng Mặc dù phôi nang người dễ nở rộng trong ống nghiệm, khoảng 20% những phôi nang này gặp trở ngại trong vấn đề giãn nở hay chỉ dãn rộng ở một vài chỗ hoặc không thể dãn nở hoàn toàn để thoát khỏi màng zona, cuối cùng nang xẹp xuống và thoái hóa. Hỗ trợ phôi thoát màng: Hỗ trợ phôi thoát màng đã được thực hiện từ những năm đầu của thập niên 90. Đây là kỹ thuật làm mỏng hoặc tạo một lỗ thoát trên màng của phôi nhằm cải thiện tỉ lệ có thai và tỉ lệ làm tổ của phôi. Theo Ủy ban Thực hành của Hiệp hội các Kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản và Hội Y học Sinh sản của Hoa Kỳ (2005), hỗ trợ phôi thoát màng có thể mang lại lợi ích lâm sàng đối với những người có tiên lượng kém: thực hiện IVF thất bại 2 lần, chất lượng phôi kém, lớn tuổi. Ngoài ra nhiều nghiên cứu đã cho thấy lợi ích làm tăng tỉ lệ làm tổ cũng như tỉ lệ thai lâm sàng ở các đối tượng: chuyển phôi trữ, màng zona dày, FSH cơ bản cao. Cho nên hỗ trợ phôi thoát màng thường được các trung tâm hỗ trợ sinh sản trên thế giới chỉ định trong các trường hợp sau: lớn tuổi, màng zona(màng phôi) dày, chuyển phôi trữ, không có thai sau 3 lần chuyển phôi, FSH cơ bản cao. Về phương pháp thực hiện, trước đây một kỹ thuật được thực hiện phổ biến để hỗ trợ phôi thoát màng đó là làm thủng màng zona bằng dung dịch acid Tyrod. Dù kỹ thuật này đã được báo cáo là có hiệu quả to lớn đối với tỷ lệ thai, nhưng nó có nhiều điều không thuận tiện, bao gồm nguy cơ tổn thương tế bào bên dưới màng zona, thoát màng sớm, và đòi hỏi thời gian thực hiện nghiêm ngặt và tay nghề của người thực hiện. Kỹ thuật mới nhất và đang được ứng dụng nhiều nơi trên thế giới đó là Hệ
  18. thống quang học laser hồng ngoại, hiện tại cung cấp một kỹ thuật thay thế mà nó có thể khắc phục được những cản trở của các kỹ thuật trước. Các kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản tại bệnh viện Từ Dũ BS.Dương Khuê Tú 01/06/2009 Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies – ART) bao gồm những kỹ thuật điều trị vô sinh trong đó có chọc hút trứng và đem trứng ra ngoài cơ thể. Theo phân loại của nhiều trung tâm trên thế giới, thụ tinh nhân tạo – bơm tinh trùng vào buồng tử cung không được xếp vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Thụ tinh trong ống nghiệm – IVF (In-vitro Fertilization) Phương pháp này thường được chỉ định khi: • Tắc vòi trứng • Tinh trùng ít, yếu, dị dạng (không đủ để bơm tinh trùng vào buồng tử cung) • Không tinh trùng, phải lấy tinh trùng từ mào tinh, tinh hoàn • Vợ lớn tuổi • Bơm tinh trùng nhiều lần thất bại. Tóm tắt kỹ thuật: - Kích thích buồng trứng cho vợ. - Chọc hút trứng. - Chuẩn bị tinh trùng chồng. - Cấy tinh trùng và trứng trong môi trường nhân tạo để hình thành phôi. - Chuyển phôi vào buồng tử cung cho vợ. Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng - ICSI (Intracytoplasmic Sperm Injection) ICSI có nghĩa là tiêm tinh trùng trực tiếp vào trứng để tạo phôi. Với kỹ thuật TTTON bình thường, một số trường hợp tinh trùng không thể tự thụ tinh do bất thường về thụ tinh, dẫn đến không có phôi để chuyển vào buồng tử cung. Với kỹ thuật ICSI, có thể tránh gần như hoàn toàn các trường hợp trên.
  19. Chỉ định của ICSI: • Vô sinh nam (tinh trùng ít, yếu, dị dạng nhiều, không tinh trùng trong tinh dịch phải lấy tinh trùng bằng phẫu thuật) • Bất thường thụ tinh • Vô sinh không rõ nguyên nhân • Thất bại với thụ tinh ống nghiệm bình thường Tóm tắt kỹ thuật: - Kích thích buồng trứng. - Chọc hút trứng. - Chuẩn bị tinh trùng. - Dùng hệ thống vi thao tác, tiêm trực tiếp 1 tinh trùng vào trứng. - Chuyển phôi vào buồng tử cung. Trưởng thành trứng trong ống nghiệm – IVM (Invitro Maturation of Oocytes) Trong IVM, trứng chưa trưởng thành được lấy ra từ buồng trứng chưa được kích thích, bệnh nhân không cần chích thuốc kích thích buồng trứng nhiều như trong thụ tinh ống nghiệm bình thường. Thực hiện phương pháp này sẽ giảm được nhiều chi phí và tránh được hội chứng quá kích buồng trứng. Tuy nhiên thường chỉ phụ nữ có buồng trứng đa nang mới là đối tượng thích hợp để thực hiện IVM. Tóm tắt kỹ thuật: • Tiêm thuốc hỗ trợ buồng trứng trong 3 ngày • Chọc hút trứng non. • Nuôi trứng non trong lab. • Chuẩn bị tinh trùng • Trứng và tinh trùng được cho thụ tinh (thường bằng kỹ thuật ICSI – Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng). • Kiểm tra chất lượng phôi, hỗ trợ phôi thoát màng nếu có chỉ định. • Chuyển phôi vào buồng tử cung.
  20. Thụ tinh ống nghiệm xin trứng – Oocyte donation Chỉ định khi nguyên nhân vô sinh là do buồng trứng người vợ (vợ lớn tuổi, suy buồng trứng sớm) Tóm tắt kỹ thuật: Kích thích buồng trứng người cho trứng− Chuẩn bị tử cung cho người nhận− Chọc hút trứng của người cho− Chuẩn bị tinh trùng (của chồng người nhận)− Cho trứng và tinh trùng thụ tinh (bằng kỹ thuật IVF hoặc ICSI)− Chuyển phôi vào buồng tử cung người nhận− Chuyển phôi trữ - Frozen Embryo Transfer (FET) Trong chu kỳ thụ tinh ống nghiệm đầu tiên, nếu vì lý do nhất định không thể chuyển phôi ngay hoặc đã chuyển phôi mà còn phôi dư, các phôi đạt tiêu chuẩn sẽ được trữ lại để sử dụng cho những lần sau. Trong chu kỳ chuyển phôi trữ: Chuẩn bị nội mạc tử cung người vợ bằng nội tiết− Rã đông phôi− Chuyển phôi sau rã đông vào buồng tử cung− Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng sau rã đông Trong chu kỳ thụ tinh ống nghiệm đầu tiên, vì lý do nhất định phải trữ lạnh trứng (chồng không lấy được tinh trùng…), trứng được rã đông để sử dụng cho lần sau Tóm tắt kỹ thuật: Chuẩn bị nội mạc tử cung cho người vợ− Rã đông trứng− Tiêm trực tiếp tinh trùng vào trứng− Chuyển phôi vào buồng tử cung− Các kỹ thuật hỗ trợ khác Trữ tinh trùng Tinh trùng được trữ lạnh trong các trường hợp: Lưu trữ tinh trùng của người cho− Người chồng không thể tới bệnh viện lấy tinh trùng vào ngày chọc hút trứng− Trước khi điều trị một số bệnh lý của người chồng như: mổ u tinh hoàn, hoá trị, xạ trị ung thư…−
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2