intTypePromotion=1

SKKN: Xây dựng tập san chủ quyền của nước ta ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa góp phần giáo dục chủ quyền biển, đảo trong dạy học Địa lí 12

Chia sẻ: Trần Thị Ta | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:117

0
21
lượt xem
1
download

SKKN: Xây dựng tập san chủ quyền của nước ta ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa góp phần giáo dục chủ quyền biển, đảo trong dạy học Địa lí 12

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là đưa ra thực trạng sự hiểu biết của học sinh về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tìm ra nguyên nhân và hướng giải quyết vấn đề. Sáng kiến mà tôi đưa ra là tôi xây dựng cuốn tập san chủ quyền biển đảo nước ta tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đó sử dụng trong một số bài học chương trình Địa lí 12 để học sinh dễ dàng nhận thức được những đặc điểm, chủ quyền của nước ta tại hai quần đảo này, phạm vi các bộ phận vùng biển nước ta thông qua Luật biển quốc tế, năm 1982 đồng thời nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Xây dựng tập san chủ quyền của nước ta ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa góp phần giáo dục chủ quyền biển, đảo trong dạy học Địa lí 12

  1. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN I. LỜI GIỚI THIỆU Cuộc đấu tranh bảo vệ  chủ  quyền và toàn vẹn lãnh thổ  là nhiệm vụ  thiêng liêng,  trọng đại và phức tạp. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ  nước, ông cha ta đã đấu tranh kiên cường không mệt mỏi để  giữ  vững chủ  quyền quốc gia. Cuộc đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích của Việt Nam trên   vùng biển, thềm lục địa và hải đảo là cuộc đấu tranh phức tạp về nhiều mặt đòi  hỏi không chỉ các nhân tố  nội lực truyền thống mà đòi hỏi người tham gia đấu   tranh phải có tri thức toàn diện, có hiểu biết về lịch sử và ngoại giao, vận dụng   luật pháp, công luận trong và ngoài nước. Để giữ vững chủ quyền biển, đảo thì   trước hết phải giáo dục chủ  quyền.Qua đó, chúng ta thêm tự  hào hơn về  dân  tộc, thêm yêu quê hương đất nước, có mục tiêu sống, lí tưởng sống tốt đẹp, có  định hướng đúng trong tương lai góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng  và phát triển đất nước. Hơn bao giờ hết, giáo dục chủ quyền biển, đảo đặc biệt  giáo dục chủ quyền của nước ta tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa càng   trở nên quan trọng và cấp thiết. Thời gian gần đây, Trung Quốc có những hành động và quan điểm sai trái  về hai quần đảo Hoàng  Sa và Trường Sa. Trung Quốc tuyên bố thành lập Tam   Sa diễn ra sau khi Việt Nam thông qua Luật Biển vào tháng 6/2012. Việc thành  lập trái phép cái gọi là “Thành phố  Tam Sa” của Trung Quốc là một bước tiến   mới nằm trong âm mưu lâu dài nhằm kiểm soát, khống chế tiến tới độc chiếm  biển Đông của giới cầm quyền Trung Quốc – một ý đồ  nhất quán, xuyên suốt  trong nội bộ chính quyền và xã hội Trung Quốc. Trung Quốc hạ đặt giàn khoan   Hải Dương 981 nằm sâu trong vùng biển thuộc chủ  quyền và quyền tài phán   của Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2014, đã trở thành sự kiện thu hút sự  quan tâm của thế giới, làm dấy lên những làn sóng dư luận phản đối mạnh mẽ  cả ở trong và ngoài nước. Không dừng lại ở đó, Trung Quốc tiến hành xây dựng   1
  2. một cách trái phép các đảo nhân tạo bằng cách hủy hoại các rạn san hô tại bãi   đá thuộc  quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Các đảo nhân tạo có diện tích bề  nổi lớn gấp từ  hàng chục, thậm chí hàng trăm lần so với trạng thái trước kia.  Đồng thời với hoạt động đó trên thực địa, là việc một số quan chức Trung Quốc   liên tiếp đưa ra những tuyên bố  và phát biểu bát chấp những yêu cầu sơ  đẳng  của công pháp và những thỏa  ước quốc tế  cũng như  khu vực mà Trung Quốc   vốn là một thành viên tham gia. Đứng trước những hành động, những khó khăn này có rất nhiều nghiên  cứu của các nhà khoa học, nhà sử học,… cho ra đời những cuốn sách giúp người  đọc hiểu hơn về chủ quyền biển đảo của nước ta tại hai quần đảo Hoàng Sa và  Trường Sa.  Ở  lứa tuổi học sinh, không phải ai cũng nghiên cứu và tìm hiểu vì   học sinh không biết, không đủ  kiên nhẫn và không có nhiều thời gian đọc do   kiến thức phải học nhiều hơn nữa nguồn thông tin rất đa dạng, học sinh không   biết chọn lọc thông tin . Trên thực tế, học sinh chỉ  được nghe mà không hiểu   được bản chất của vấn đề, của những hành động sai trái đó. Thậm chí nhiều  học sinh còn không biết vị trí của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong   dạy học Địa lí, giáo dục chủ  quyền biển đảo giữ  vai trò rất quan trọng song   song với đó là cần nâng cao chất lượng dạy học. Rõ ràng, điều này đáng báo   động trong việc giáo dục chủ quyền biển đảo của nước ta không chỉ ở hai quần  đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì vậy, tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm:   “ Xây  dựng tập san chủ  quyền của nước ta  ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa   góp phần giáo dục chủ  quyền biển, đảo trong dạy học Địa lí 12”.  Với đề  tài  này, tôi đưa ra thực trạng sự hiểu biết của học sinh về hai quần đảo Hoàng Sa  và Trường Sa, tìm ra nguyên nhân và hướng giải quyết vấn đề. Sáng kiến mà tôi  đưa ra là tôi xây dựng cuốn tập san chủ  quyền biển đảo nước ta tại hai quần   đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ  đó sử  dụng trong một số  bài học chương trình   Địa lí 12 để học sinh dễ dàng nhận thức được những đặc điểm, chủ quyền  của  nước ta tại hai quần đảo này, phạm vi các bộ phận vùng biển nước ta thông qua  2
  3. Luật biển quốc tế, năm 1982 đồng thời nâng cao chất lượng dạy học môn Địa  lí. II. TÊN SÁNG KIẾN “ Xây dựng tập san chủ quyền của nước ta  ở hai quần đảo Hoàng Sa và   Trường Sa góp phần giáo dục chủ quyền biển, đảo trong dạy học Địa lí 12” III. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến ­ Vấn đề  xây dựng tạp san khẳng định chủ  quyền nước ta tại hai quần đảo   Hoàng Sa và Trường Sa. ­ Giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh. ­ Nâng cao chất lượng dạy học ­ Dạy bài 2: Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ, bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu  sắc của biển; bài 42: Vấn đề phát triển kinh tế an ninh quốc phòng ở biển Đông   và các đảo, quần đảo.(Địa lí 12 – Ban cơ bản) 2. Vấn đề sáng kiến giải quyết ­ Giúp học sinh biết đầy đủ các cơ sở để khẳng định chủ quyền của nước ta ở  hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. ­ Tích hợp kiến thức môn Lịch sử, Văn học, Giáo dục công dân ­ Giúp học sinh thêm yêu biển đảo nước ta. ­ Gây hứng thú học tập, kích thích tính tò mò, khả  năng sáng tạo của học sinh,   làm cho giờ học thêm sinh động, hạn chế việc ghi nhớ cho học sinh. IV. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC ÁP DỤNG   THỬ ­ Ngày 20/9/2017 V. MÔ TẢ BẢN CHẤT SÁNG KIẾN 3
  4. PHẦN MỞ ĐẦU I. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1. Mục đích nghiên cứu ­ Đề  tài sẽ  tạo ra phong trào đọc, phong trào nghiên cứu trải nghiệm…cho các  lớp học sinh. ­ Học sinh biết xem tranh  ảnh, đọc lược đồ, sơ đồ, biết sắp xếp nội dung kiến   thức một cách hợp lí, khoa học. ­ Thông qua tập san học sinh hiểu hơn về  vị  trí, địa chất địa hình đáy biển,   những chứng cứ  lịch sử, cơ  sở  pháp lí  để  khẳng định chủ  quyền về  hai quần   đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. ­ Học sinh nhận thấy vai trò của mình trong việc giữ vững chủ quyền biển đảo  bằng các hành động như:  ủng hộ  phong trào “Góp đá xây Trường Sa”, tích cực  học tập, nhiệt tình tham gia vào các phong trào, nâng cao hiểu biết xã hội,… ­ Phần lớn người dân Việt Nam chỉ biết chung chung rằng hai quần đảo Hoàng   Sa và Trường Sa là của Việt Nam mà không biết cụ thể những chứng cứ pháp lí   chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa. Qua cuốn tập san này giúp tuyên truyền để  đại bộ  phận người dân hiểu được chủ  quyền nước ta tại hai quần đảo Hoàng   Sa, Trường Sa. 4
  5. ­ Giúp học sinh sống có mục đích, lí tưởng và không ngừng vận động, sáng tạo,  tạo dựng ước mơ trở thành người có ích cho xã hội. ­ Giúp học sinh thêm tự  hào về dân tộc, thêm yêu biển đảo, yêu quê hương đất  nước, bảo vệ môi trường vùng biển nước ta. ­ Truyền đạt hiểu biết về  biển, đảo nước ta có kĩ năng bảo vệ  tài nguyên và   môi trường biển, kĩ năng ứng phó với thiên tai. ­ Giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm với biển cũng như tài nguyên, môi trường   biển và có những hành động thích hợp để giúp mọi người xung quanh hiểu biết  thêm về biển, có ý thức bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc, bảo vệ tài   nguyên, môi trường biển, phát triển kinh tế tổng hợp vùng biển theo hướng bền   vững. ­ Nâng cao chất lượng trong dạy học địa lí 12, một nội dung trong chương trình  thi trung học phổ thông Quốc gia. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu ­ Xây dựng tạp san chủ quyền nước ta ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. ­ Tham khảo các tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài. ­ Trao đổi, thảo luận với giáo viên môn Lịch sử, Văn học, Giáo dục công dân để  đưa nội dung chọn lọc vào mỗi phần của tạp san và bài học. ­ Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính đúng đắn và khả thi của đề tài. II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Góp phần giáo dục chủ quyền biển đảo thông qua 3 bài học trong chương trình   Địa lí 12 – Ban cơ bản: 1. Bài 2: Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ. 2. Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển. 3. Bài 42: Vấn đề  phát triển kinh tế  an ninh quốc phòng  ở  biển Đông và các   đảo, quần đảo. III. PHƯƠNG PHÁP  1. Sử dụng phương pháp đồ dùng trực quan là cơbản 5
  6. ­ Bảnđồ ­ Atlat Địa lí Việt Nam ­ Sơ đồ (giáo viên tựlàm) ­ Tranh ảnh mà GV sưu tầmđược ­ Đối với phương pháp này GV chuẩn bị  đầy đủ  và thực hiện theo phân   phối chương trình. 2. Sử dụng máy chiếu Powerpoint ­  GV không cần cần nhiều đồ  dùng dạy học lên lớp nữa mà thay vào đó giáo  viên chuẩn bị sẵn bài soạn máy chiếu Powerpoint ­  Trong quá trình sử dụng hai cách trên, GV kết hợp sử dụng các phương pháp:  thuyết trình, đàm thoại, đặt và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm,… IV. KHÔNG GIAN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Học sinh lớp 12, cụ thể hai lớp: 12A4và 12A5 trường THPT Phạm   Công  Bình – huyện Yên Lạc – tỉnh Vĩnh Phúc. Hai lớp đều chọn môn Địa   để  thi Trung học phổ  thông Quốc gia, nhận thức của HS hai lớp tương  đương. Trong đó lớp 12A2, ít được lồng ghép giáo dục chủ  quyền biển đảo hơn  lớp 12A3. ­ Lớp 12A4: 31 họcsinh. ­ Lớp 12A5: 32 họcsinh 6
  7. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I. CƠ  SỞ  LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ  DỤNG   TẬP   SAN   GIÁO   DỤC   CHỦ   QUYỀN   BIỂN,   ĐẢO   TRONG   CHƯƠNG  TRÌNH  ĐỊA LÍ LỚP 12 I. CƠ SỞ LÍ LUẬN I.1. Giáo dục chủ quyền biển đảo I.1.1. Quan điểm giáo dục chủ quyền biển đảo ­ Khái niệm về “giáo dục”: Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông giáo dục là hoạt   động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất   của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm   chất và năng lực như yêu cầu đề ra.  7
  8. ­ Khái niệm “chủ  quyền” theo từ  điển Tiếng Việt phổ  thông “chủ  quyền” là  quyền làm chủ của một nước trong các quan hệ đối nội và đối ngoại  ­ Khái niệm về  “chủ  quyền biển, đảo” nằm trong khái niệm “chủ  quyền lãnh  thổ  quốc gia”. Theo từ điển thuật ngữ lịch sử  phổ thông “chủ  quyền quốc gia”  là “quyền cao nhất của một dân tộc, một quốc gia độc lập, tự  mình quyết định   vận mệnh của mình. Những nội dung này được khẳng định trong pháp luật mỗi  nước trong văn bản pháp lí quốc tế, là nguyên tắc cơ bản cần tuân theo. Vì vậy,  chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt   của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình.Quyền tối cao của quốc   gia đối với lãnh thổ là quyền quyết định mọi vấn đề của quốc gia đối với lãnh   thổ, đó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm.Quốc gia có quyền đặt ra quy   chế  pháp lý đối với lãnh thổ. Với tư  cách là chủ  quyền sở  hữu, Nhà nước có  quyền chiếm hữu, sử  dụng và định đoạt đối với lãnh thổ  thông qua hoạt động  của các cơ quan Nhà nước như các hoạt động luật pháp, hành pháp và tư pháp.  ­ Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nước Cộng   hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, thống nhất  và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển, vùng trời.” ­ Theo công  ước của Liên hợp Quốc về  luật biển năm 1982 (United Nations   Convention on Law of The Sea – UNCLOS), quy định các quốc gia ven biển có  các vùng biển: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh   tế và thềm lục địa. Chiều rộng của các vùng biển được tính từ đường cơ sở. I.1.2.  Sự cần thiết giáo dục chủ quyền biển, đảo. I.1.2.1.  Khái quát vị trí địa lí quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô, phân bố rải rác trong phmj vi  từ  khoảng khin tuyến 1110  Đông đến 1130  Đông; từ  vĩ tuyến 15045’  Bắc đến  17015’ Bắc, ngang với Huế và Đà Nẵng, phía ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, ở phía Bắc   Biển Đông. Quần đảo Hoàng Sa gồm hơn 37 đảo, đá, bãi cạn, chia làm hai   nhóm: nhóm phía đông có tên là An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo, đá, bãi cạn, trong   8
  9. đó có hai đảo đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1.5 km 2;  nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp thành hình vòng cung nên còn gọi là nhóm  Lưỡi Liềm. Quần đảo Trường Sanằm về phía Đông Nam của Biển Đông, cách Hoàng   Sa 200 hải lý về  phía nam, bao gồm hơn 100 đảo nổi, đảo chìm, bãi ngầm, bãi   san hô trong khoảng từ  60  30’ đến 120  00’ Bắc và kinh độ  1110  30’ đến 1170  20’  nằm trải rộng trong một vùng biển khoảng 180 ngàn km 2 với 325 hải lý Đông –  Tây và 274 hải lý Bắc – Nam. Đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa cách  Cam Ranh 250 hải lý, Vũng Tàu 305 hải lý, cách đảo Hải Nam Trung Quốc 600  hải lý. Quần đảo Trường Sa được chia thành 8 cụm đảo (Song Tử, Thị Tứ, Loại   Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên). Diện tích  toàn bộ phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn, bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng  3 km2   nhỏ hơn diện tích của quần đảo Hoàng Sa (10km2 ) nhưng lại trải ra trên  một vùng biển rộng gấp hơn nhiều lần quần đảo Hoàng Sa. Đảo Ba Bình là đảo  lớn nhất (0,735 km2  ), đảo Song Tử  Tây là đảo cao nhất (khoảng 4­6 m so với   mực nước biển).  Các đảo trong quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo ở  quần đảo Hoàng   Sa. Độ cao trung bình trên mặt nước khoảng 3 – 5 m. Quần đảo Trường Sa chia  thành 8 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh T ồn, Tr ường Sa, Thám  Hiểm, Bình Nguyên.  Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển phụ  cận là nơi chứa   đựng nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng về  chủng loại, có thể  khai thác với  trữ  lượng lớn, đặc biệt là dầu khí. Đó là nguồn nguyên, nhiên, vật liệu quan  trọng cho sự  phát triển  ổn định, lâu dài đối với nền nông nghiệp, công nghiệp  nhẹ, công nghiệp nặng và du lịch sinh thái của đất nước. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm án ngữ  trên tuyến hàng hải  quốc tế nhộn nhịp vào bậc nhất, nhì thế giới, là một trong hai khu vực có tuyến   đường giao thông, vận tải biển sau eo biển Malaccca. 9
  10. Các tuyến đường biển chiến lược đi qua hai quần đảo nói trên là yết hầu   cho giao lưu hàng hóa của nhiều nước châu Á (xuất khẩu hàng hóa của Nhật  phải đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công  nghiệp mới 26%, Australia 40% và Trung Quốc 22%). Vị trí của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể khống chế, kiểm soát  các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và phục vụ cho mục đích quân sự như đặt  trạm ra – đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu  cho tàu bè… Với diện tích và độ  sâu lí tưởng, vị trí chiến lược hiểm yếu và nguồn tài  nguyên phong phú, Biển Đông có giá trị hết sức to lớn về mặt quân sự. Do nằm  án ngữ giữa biển Đông nên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam   có vị trí quan trọng về giao thông hàng hải và quốc phòng. Từ hai quần đảo này  có thể  kiểm soát việc đi lại nhiều loại tàu của các nước bởi tàu bè đi lại giữa   nhiều nước châu Á hoặc đi từ  châu Âu sang châu Á đều đi ngang qua hai quần  đảo này. Từ  Xingapo đi Hồng Kông (Trung Quốc), nếu không đi theo bờ  biển  Borneo thì nhất thiết phải đi qua quần đảo Trường Sa ở phía Nam và quần đảo  Hoàng Sa  ở  phía Bắc Biển Đông. Từ  đây có thể  khống chế, phong tỏa các tàu  biển ra vào vịnh Bắc Bộ và các cảng lớn như Đà Nẵng, Cam Ranh,… Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng là nơi dừng chân, trú bão của  nhiều tàu bè trên thế  giới thông thương theo đường hàng hải mỗi khi gặp bão   tố. Từ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể  kiểm soát vùng biển, vùng   trời; cung cấp thông tin về  tình hình gió, bão, thủy văn cho Việt Nam và các   nước thuộc vùng Đông Nam Á thông qua đài khí tượng vô tuyến điện báo; kiểm  tra và hỗ trợ các hoạt động của tàu thuyền, đảm bảo an ninh quốc phòng. Nhận thức được tầm quan trọng về vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên   phong phú cho phát triển kinh tế  ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, từ xa  xưa các thế  hệ  người Việt Nam đến đây khai phá, sinh sống và xem hai quần  đảo này là một nhân tố  đóng vai trò rất quan trọng trong sự  nghiệp xây dựng,  bảo vệ và phát triển đất nước. Bằng chứng là việc dựng bia xác lập chủ quyền,  10
  11. đưa các loại thảo mộc từ  đất liền ra trồng trên quần đảo Hoàng Sa và Trường  Sa, đo đạc vẽ bản đồ xác định vị trí địa lí, thành lập những đội quân ra khai thác  trên các quần đảo này…. của các triều đại phong kiến Việt Nam. Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được  quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông. Là một trong những điểm trọng yếu về chiến lược của khu vực và quốc   tế nên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam đã trở  thành đối tượng của những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ với một số nước   trong quá khứ  và hiện tại đặc biệt là nước láng giềng Trung Quốc – một đất  nước luôn ôm tham vọng bành trướng lãnh thổ ra biển và phát triển thành cường   quốc biển. Như  vậy, với vị  trí, vai trò quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa và  Trường Sa về kinh tế, giao thông  và quốc phòng thì vấn đề giáo dục chủ quyền   biển đảo cho thế hệ học sinh Việt Nam càng trở  nên quan trọng, cần thiết hơn  bao giờ hết1 I.1.2.2.   Tài nguyên thiên nhiên  ở  biển – hai quần đảo Hoàng Sa và   Trường Sa Tài nguyên thiên nhiên ở biển ­ quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa khá phong  phú và đa dạng, bao gồm: tài nguyên địa chất khoáng sản (gồm: di sản địa chất,   dầu khí, băng cháy, phân chim), tài nguyên sinh vật, tài nguyên khí tượng ­ thuỷ  văn và tài nguyên vị thế:  a. Tài nguyên địa chất khoáng sản ­ Các đảo thuộc quần đảo Trường Sa là những thực thể  di sản địa chất.  Nếu có những lỗ khoan địa tầng xuyên qua đảo, đến nền đá cứng mà san hô bám  vào đó để  phát triển, chúng ta sẽ  xác lập được lịch sử  tiến hoá của quần đảo  Trường Sa hay các quá trình địa chất đã từng xảy ra ở đây.  1Xin xem thêm “Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa qua tư   liệu Việt Nam và nước ngoài”, của tác giả Trương Minh Dục, NXB Thông tin và Truyền  thông, 2013 11
  12. ­ Phân chim: theo kết quả khảo sát của các nhà địa chất, tổng tài nguyên  dự báo quặng phốt phát từ phân chim có thể lên tới 2.780.000 tấn. Quặng này đã  được dùng làm phân bón trực tiếp cho cây xanh trên các đảo thuộc quần đảo  Trường Sa và có thể  đáp  ứng nhu cầu trồng trọt của các tỉnh phía Nam trong  nhiều thập kỷ. Điều đáng nói  ở  đây là theo kết quả  phân tích mẫu phân phốt  phát lấy được từ khu vực quần đảo Hoàng Sa của Phòng thí nghiệm Viện Khảo  cứu Bộ Nông nghiệp Sài Gòn và các chuyên gia phân bón, thành phần phốt phát  trong mẫu phân lấy từ khu vực quần đảo Hoàng Sa chứa đến 20,51% (trong khi   đó chỉ  càn chứa 16% trong trọng lượng phân thì phân đã có hiệu quả  và chất   lượng tốt) và có chứa thêm một lượng pootat nên phân sản xuất tại Hoàng Sa  rất tốt. Đã vậy giá thành của phân Hoàng Sa chỉ  bằng phân từ  các nước ngoài   vào thời gian trên2 ­ Tài nguyên dầu khí: Trong những năm gần đây, các công ty dầu khí củ  các nước phương Tây đã nhiều lần thăm dò và phát hiện xung quanh hai quần   đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhất là Trường Sa có một trữ  lượng dầu khí khá  lớn3 Theo từ điển Bách khoa mở Wikipedia, vùng biển Đông đã được xác định   có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1,2 km3 (7,7 tỉ  thùng), với  ước tính khối lượng là  4,5 km3 (28 tỉ thùng). Trữ lượng khí tự nhiên được ước tính khoảng 7500 km3 Số  liệu công bố  của cơ  quan thông tin năng lượng Mỹ  (EIA) cho biết   tiềm năng dầu khí ở Biển Đông 11 tỉ thùng dầu và 190.000 tỷ m3 khí đố tự nhiên.  Riêng vùng quần đảo Trường Sa của Việt Nam có trữ lượng khoảng 800 – 5,4 tỉ  thùng dầu. Báo cáo cũng cho biết khó có thể xác định được trữ lượng chính xác  23Thông tin này được tác giả  tham khảo từ  bài “Tài nguyên thiên nhiên  ở  quần đảo Trường Sa” trên  trang quydisan.org  và cuốn Chủ  quyền quốc gia Việt nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa  của tác giả Trương Minh Dục, NXB Thông tin và truyền thông, 2013 3 12
  13. của dầu và khí đốt  ở  Biển Đông vì lý do điều kiện thăm dò và những vấn đề  tranh cháp chủ quyền. Tuy số  liệu công bố  có khác nhau, nhưng theo cơ  quan Thông tin năng  lượng Mỹ  (EIA), trữ  lượng dầu khí  ở  Biển Đông nói chung và vùng biển hai  quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng vượt xa so với dự báo trước đây và  có thể nhiều hơn cả nguồn tài nguyên của Châu Âu cộng lại. Ngoài dầu khí, trong các bể trầm tích  ở thềm lục địa Việt Nam còn có trữ  lượng than đáng kể. Bao quanh vùng quần đảo Trường Sa, trên sườn lục địa –   chân lục địa, ở độ sâu 2000 m đến 4000 m và đáy biển sâu có tiềm năng về kết  hạch sắt – mangan, bùn đa kim. ­ Tài nguyên “băng cháy”: theo các chuyên gia Nga thì khu vực biển Việt   Nam nói chung và vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng chứa đựng tiềm  năng rất lớn về tài nguyên băng cháy. Đây là nhiên liệu mới, không gây ô nhiễm   môi trường, là nguồn năng lượng thay thế  dầu khí trong tương lai gần. Băng   cháy là một khí hydrate tồn tại dưới dạng hỗn hợp rắn, trông bề  ngoài giống   băng hoặc cồn khô, có thể trong suốt hay mờ đục, dạng tinh thể màu trắng, xám  hoặc vàng. Băng cháy bao gồm khí hydrocarbon và nước, được hình thành trong  điều kiện áp suất cao và nhiệt độ thấp nên có khả năng bay hơi trong điều kiện   bình thường như băng phiến. Khi nguồn năng lượng truyền thống như than đá, than bùn, dầu khí,..ngày  càng cạn kiệt thì băng cháy với trữ  lượng lớn gấp hơn hai lần trữ lượng năng   lượng hó thạch đã biết được xem là nguồn năng lượng có hiệu suất cao, sạch và  là năng lượng thay thế tiềm tàng trong tương lai. Chính vì thế, băng cháy đã thu  hút sự chú ý của nhiều quốc gia biển, quốc đảo trên thế giới. Ở Việt Nam, gần đây mới có một số công trình nghiên cứu tổng quan về  băng cháy trên cơ sở hồi cố các tài liệu đã có. Thông qua các tài liệu địa chất –   địa vật lý, địa hóa khí các trầm tích và các tiền đề  khác ở thềm lục địa và vùng   biển sâu củ Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác nhiều năm với nước ngoài (chủ  yếu với Nga, Mỹ), các nhà địa chất đã nhận định biển biển nước ta cũng có  13
  14. triển vọng lớn về  băng cháy. Vì thế  các, Chính phủ  rất quan tâm và năm 2010   Thủ tướng đã ban hành Quyết định số  796/QĐ – TTg phê duyệt “Chương trình   nghiên cứu, điều tra cơ bản về tiềm năng khí hydrate  ở các vùng biển và thềm   lục địa Việt Nam”. Tổng cục biển và hải đảo Việt Nam phối hợp với Tập đoàn  Dầu khí Quốc gia Việt Nam thực hiện chương trình thông qua hợp tác với các   nước có kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến. Trên  các   đảo  thuộc  quần  đảo  Hoàng  Sa  và  Trường  Sa  còn  có  các   tài  nguyên khác như: cát, vỏ sò, ốc,… các loại này có thể xay thành bột rồi nung lên   (hoặc ngược lại) dùng để trị phèn rất hữu hiệu cho các vùng đất phèn hoặc trộn  theo một tỉ lệ nhất định làm thức ăn cho gia súc. b. Tài nguyên sinh vật Tài nguyên sinh vật  ở  quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa rất  phong phú và đa dạng, mang tính đặc trưng của quần thể sinh vật đảo ­ rạn san   hô nhiệt đới, gồm: sinh vật phù du, động vật đáy, rong biển, cá, san hô… .  Ngoài  tôm, cá mực có trữ lượng lớn, vùng biển hai quần đảo  Hoàng Sa và Trường Sa  có nhiều loại hải sản dùng làm thực phẩm quý như: hải sâm, vích, đồi mồi, rau   câu, yến,... Tài nguyên sinh vật biển ở Hoàng Sa rất phong phú và đa dạng. Nơi đây là  ngư  trường với nhiều loại hải sản, một trong những địa điểm quen thuộc cho   hoạt động đánh bắt của ngư dân các tỉnh miền Trung. Sinh vật biển ở quần đảo Trường Sa rất đa dạng. Do sở hữu hàng trăm rạn san   hô rải rác khắp một vùng biển rộng lớn nên nơi đây là nơi có đa dạng sinh học  cao. Tại vùng biển Trường Sa có khoảng 10 nghìn loài sinh vật. Riêng các rạn  san hô là tập hợp của 329 loài san hô thuộc 69 chi và 15 họ.Các rạn san hô là nơi  trú ngụ lí tưởng cho các lòi sinh vật biển, là nơi nuôi dưỡng nguồn lợi hải sản   cho toàn vùng biển Đông. Sinh vật biển  ở đây rất phong phú, trong đó có nhiều   loài quý hiếm với giá trị kinh tế cao như cá ngừ vây vàng, cá thu ngàng, tôm hùm   rùa biển,… Các họ cá đa dạng với các họ: cá thìa, bàng chài, cá mó, cá hồng, cá  14
  15. mú, cá đuôi gai,…Trên đảo có nhiều loài chim biển.  Ở  đảo Ba Đình có gần 60   loài chim khác nhau4 c. Tài nguyên khí tượng ­ thuỷ văn Tài   nguyên   khí   tượng   ­   thuỷ   văn   gồm   có:   nắng,   gió,   sóng,   thủy   triều  (nguồn năng lượng sạch) và nước.  Ở  quần đảo Trường Sa, năng lượng mặt  trời, năng lượng gió, nước ngầm và nước mưa đang được khai thác rất hiệu  quả. d. Tài nguyên vị thế Tài nguyên vị thế của biển đảo Trường Sa là vị trí các đảo, quần đảo, các   cảnh quan địa mạo, vũng vịnh biển, các mũi nhô của địa hình bờ đảo, mặt bằng  và độ  cao của đảo, đá ngầm, các rạn san hô đang sống hay ám tiêu san hô, các  thềm san hô, các hang hốc trong các rạn san hô ngập nước, các luồng lạch sâu  và rãnh ngầm ven đảo… đều là những tài nguyên vị thế. I.2.3.  Di sản văn hóa Ngày 13/6/2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng các bia chủ  quyền tại đảo Song Tử Tây, xã Song Tử Tây và đảo Nam Yết, xã đảo Sinh Tồn,  thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa là "Di tích lịch sử  cấp quốc gia".  Cụm bia chủ  quyền này được hoàn thành tháng 8/1956 nhằm khẳng định chủ  quyền của Việt Nam tại biển Đông.  Ngoài ra, trên đảo Trường Sa Lớn còn có chùa, Nhà tưởng niệm Chủ tịch  Hồ Chí Minh và đài tưởng niệm liệt sĩ tạo nên một quần thể các công trình văn  hóa và đã trở  thành chốn linh thiêng trên đảo giữa biển khơi của Việt Nam.   Trong   chùa   ở   đảo   Trường   Sa   Lớn   có   bức   tượng   Phật   ngọc   màu   xanh   ngự  trên Tam Bảo là do Liên đoàn Phật giáo Thế giới tặng Thủ tướng Nguyễn Tấn  Dũng và đã được Thủ  tướng tặng lại chùa Trường Sa Lớn với lời cầu chúc:  4Thông tin về sinh vật biển ở quần đảo Trường Sa, người đọc có thể xem thêm trong cuốn: Kể  chuyện biển đảo Việt Nam tập 3 – các huyện đảo miền Trung – của nhóm tác giả Lê Thông , Lưu Hoa  Sơn , Đỗ Văn Thanh,  Lê Mỹ Dung , Nguyễn Thanh Long: Kể chuyện biển đảo Việt Nam tập 3 – các  huyện đảo miền Trung –NXB giáo dục Việt Nam, 2014 15
  16. “nước Việt Nam hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân  chủ, công bằng, văn minh”. Bên cạnh đảo Trường Sa Lớn, trên đảo Đá Tây có bài thơ  thần của Lý  Thường Kiệt được khắc trong một Ban thờ  tuy đơn sơ  nhưng rất trang trọng,  một lần nữa khẳng định chủ quyền lãnh thổ  vô cùng thiêng liêng của đất nước   ở khu vực quần đảo Trường Sa này với lòng tự hào dân tộc sâu sắc5 I.1.3. Những tranh chấp ở biển Đông hiện nay I.1.3.1.  Những tranh chấp đang tồn tại ở biển Đông hiện nay. Hiện   tại,   trong   Biển   Đông   đang   tồn   tại   hai   loại   tranh   chấp   chủ   yếu: ­ Tranh chấp chủ  quyền lãnh thổ  đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo  Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. ­ Tranh chấp trong việc xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng   lấn giữa các nước có bờ  biển liền kề  hay đối diện nhau  ở  xung quanh Biển   Đông. Như  vậy, vấn đề  tranh chấp chủ  quyền lãnh thổ  đối với hai quần đảo Hoàng  Sa và Trường Sa là vẫn đề còn tồn tại và là vấn đề nóng hiện nay. I.1.3.2. Thực trạng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và vị trí chiếm đóng của   các bên tranh chấp đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa   thuộc chủ quyền của Việt Nam. a, Đối với quần đảo Hoàng Sa: Trung Quốc đã tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Việt Nam vào đầu thế  kỷ  thứ  XX (năm 1909), mở  đầu là sự  kiện Đô đốc Lý Chuẩn chỉ  huy 3 pháo  thuyền ra khu vực quần đảo Hoàng Sa, đổ  bộ  chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm,  sau đó phải rút lui vì sự hiện diện của quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là  lực lượng được Chính quyền Pháp, đại diện cho nhà nước Việt Nam, giao   nhiệm vụ bảo vệ, quản lý quần đảo này. 5Toàn bộ phần di sản văn hóa ở Trường Sa, tác giả tham khảo từ bài viết “Tài nguyên thiên nhiên ở Trường Sa”   đăng trên trang quydisan.org.  16
  17. Năm 1946, lợi dụng việc giải giáp quân đội Nhật Bản thua trận, chính  quyền Trung Hoa Dân quốc đưa lực lượng ra chiếm đóng nhóm phía Đông quần  đảo Hoàng Sa. Khi Trung Hoa Dân quốc bị đuổi khỏi Hoa lục, họ phải rút luôn   số quân đang chiếm đóng ở quần đảo Hoàng Sa. Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương  theo quy định của Hiệp định Giơ­ne­vơ  và trong khi chính quyền Nam Việt  Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã đưa quân ra chiếm   đóng nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, lợi dụng quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trên đà sụp đổ,  quân đội viễn chinh Mỹ  buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, Trung Quốc   lại huy động lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa đang   do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ. Mọi hành động xâm lược bằng vũ lực nói trên của  Trung Quốc đều gặp   phải sự chống trả quyết liệt của quân đội Việt Nam Cộng hòa và đều bị Chính  phủ  Việt Nam Cộng hòa, với tư  cách là chủ  thể  trong quan hệ  quốc tế, đại   diện cho Nhà nước Việt Nam quản lý phần lãnh thổ miền Nam Việt Nam theo   quy định của Hiệp định Giơ­ne­ve năm 1954, lên tiếng phản đối mạnh mẽ  trên   mặt trận đấu tranh ngoại giao và dư luận. Trung Quốc hiện đang chiếm giữ  toàn bộ  Hoàng Sa kể  từ  sau trận  Hải  chiến Hoàng Sa 1974 ngày 19 tháng 1 năm 1974, và chiếm đóng một phần của  Trường Sa từ sau ngày 14 tháng 3 năm 1988 sau khi bắn chìm 3 tàu, làm chết 74  chiến sĩ của Hải quân Việt Nam trong trận Hải chiến Trường Sa 1988. Tháng 4  năm 1988, Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết để thành lập tỉnh Hải Nam,  trong đó bao gồm cả  Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam đã khẳng định chủ  quyền. Tháng 11 năm 2007, Quốc vụ  viện Trung Quốc lại phê chuẩn việc lập  thành phố Tam Sa, nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên biển Đông, trong  đó có Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa.  Năm 2007, đã có vài cuộc biểu tình diễn ra ở Việt Nam để phản đối việc  Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa, Trường Sa cũng như thành lập Tam Sa.  17
  18. b ,Đối với quần đảo Trường Sa: * Trung Quốc:  Đã tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa từ  những năm 30  của thế kỷ trước, mở đầu bằng một công hàm của Công sứ Trung Quốc ở Paris   gửi cho Bộ Ngoại giao Pháp khẳng định “các đảo Nam Sa là bộ phận lãnh thổ  Trung Quốc”. Năm 1946, quân đội Trung Hoa Dân quốc xâm chiếm đảo Ba Bình.Năm  1956, quân đội Đài Loan lại tái chiếm đảo Ba Bình. Năm 1988, CHND Trung Hoa huy động lực lượng đánh chiếm 6 vị  trí, là  những bãi cạn nằm về phía tây bắc Trường Sa, ra sức xây dựng, nâng cấp, biến  các bãi cạn này thành các điểm đóng quân kiên cố, như  những pháo đài trên  biển. Năm 1995, CHND Trung Hoa lại huy động quân đội đánh chiếm đá Vành  Khăn, nằm về phía Đông Nam quần đảo Trường Sa. Hiện nay họ đang sử dụng   sức mạnh để bao vây, chiếm đóng bãi cạn Cỏ Mây, nằm về phía Đông, gần với  đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Như vậy, tổng số đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc đã dùng sức mạnh để  đánh chiếm ở quần đảo Trường Sa cho đến nay là 7 vị trí. Đài Loan chiếm đóng  đảo Ba Bình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm 1 bãi  cạn rạn san hô là bãi Bàn Than. * Phi­líp­pin   Bắt đầu tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng sự kiện   Tổng thống Quirino tuyên bố rằng quần đảo Trường Sa phải thuộc về Phi­líp­ pin vì nó ở gần Phi­líp­pin. Từ năm 1971 đến năm 1973, Phi­líp­pin đưa quân chiếm đóng 5 đảo; năm  1977­1978, chiếm thêm 2 đảo; năm 1979, công bố  Sắc lệnh của Tổng thống   Marcos ký ngày 11 tháng 6 năm 1979 gộp toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo  Trường Sa, vào trong một đơn vị  hành chính, gọi là Kalayaan, thuộc lãnh thổ  18
  19. Phi­líp­pin. Năm 1980, Phi­líp­pin chiếm đóng thêm 1 đảo nữa nằm về  phía  Nam Trường Sa, đó là đảo Công Đo... Đến nay, Phi­lip­pin chiếm đóng 9 đảo,   đá trong quần đảo Trường Sa. * Mai­lai­xia Mở  đầu bằng sự  việc Sứ  quán Mai­lai­xia  ở  Sài Gòn, ngày 03 tháng 02   năm 1971, gửi Công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa hỏi rằng quần  đảo Trường Sa hiện thời thuộc nước Cộng hòa Morac Songhrati Mead có thuộc   lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa hay Việt Nam Cộng hòa có yêu sách đối với quần  đảo đó không? Ngày 20 tháng 4 năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trả  lời rằng quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ  Việt Nam, mọi xâm phạm chủ  quyền Việt Nam ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế. Tháng 12 năm 1979, Chính phủ Ma­lai­xia xuất bản bản đồ  gộp vào lãnh  thổ Ma­lai­xia khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm đảo An Bang và Thuyền   Chài đã từng do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ. Năm 1983­1984 Ma­lai­xia cho quân chiếm đóng 3 bãi ngầm  ở  phía Nam   Trường Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ  Vân. Năm 1988, họ  đóng thêm 2 bãi  ngầm nữa là Én Đất và Thám Hiểm. Hiện nay, Ma­lai­xia đang chiếm giữ  5  đảo, đá, bãi cạn trong quần đảo Trường Sa. * Bru­nây Tuy được coi là một bên tranh chấp liên quan đến khu vực quần đảo  Trường Sa, nhưng trong thực tế Bru­nây chưa chiếm đóng một vị trí cụ thể nào.   Yêu sách của họ là ranh giới vùng biển và thềm lục địa được thể hiện trên bản   đồ có phần chồng lấn lên khu vực phía Nam Trường Sa. I.1.3.3 Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc Yêu sách “đường lưỡi bò” bao phủ  trên 80% diện tích biển Đông “nuốt”   trọn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam và nhiều đảo đá, bãi  cạn, bãi ngầm khác, không chỉ  xâm phạm nghiêm trọng chủ  quyền của Việt   Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn xâm phạm nghiêm  19
  20. trọng quyền chủ  quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng đặc  quyền kinh tế  và thềm lục địa của Việt Nam (bao trùm 2/3 thềm lục địa 200  hải lý của Việt Nam  ở  miền Trung và phía Nam). Bằng yêu sách phi lý này,  Trung Quốc đã trắng trợn coi phần lớn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa   Việt Nam là “vùng biển của Trung Quốc”, là “vùng chồng lấn”, “vùng có tranh  chấp” và đòi “cùng khai thác” ở  trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa  của Việt Nam. Mối nguy hại nghiêm trọng củ yêu sách “đường lưỡi bò” là phủ  nhận chủ  quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa  cũng như  quyền chủ  quyền của Việt Nam đối với phần lớn vùng đặc quyền   kinh tế và thềm lục địa đã được UNCLOS của Liên Hợp quốc ghi nhận. Từ  tháng 1 năm 2013, Philipines đã chính thức kiện Trung Quốc ra  Tòa  trọng tài quốc tế và tháng 3 năm 2014 đã nộp hồ  sơ  chi tiết, tuy rằng Trung   Quốc đã từ  chối tham dự phiên tòa quốc tế này. Sáng kiến này của Philippines  đã   được   sự   ủng   hộ   của Liên   minh   châu   Âu và Hoa   Kỳ,   nhưng   các   quốc  gia ASEAN lại   không   đồng   nhất   ủng   hộ.   Ngày   12/7/2016, Tòa   án   Trọng   tài  thường trực theo Phụ lục VII của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm   1982 tuyên bố  Trung Quốc thua kiện với lý do "không có căn cứ  pháp lý cho   việc Trung Quốc nêu quyền lịch sử  với các tài nguyên nằm trong vùng biển   trong Đường Chín Đoạn" . I.1.4.  Giải quyết tranh chấp Các   quốc   gia   Đông   Nam   Á   có   tranh   chấp   trên   Biển   Đông   đã   dựa   vào ASEAN như  là một trung gian để  giải quyết tranh chấp giữa Trung Quốc   và các thành viên của ASEAN. Các thỏa thuận giữa các quốc gia ASEAN và   Trung Quốc bao gồm các cam kết thông báo cho nhau về bất kỳ động thái quân  sự  tại khu vực tranh chấp, và tránh xây dựng thêm công trình mới trên các hòn  đảo Trong đầu thế kỷ 21, là một phần của chính sách đối ngoại của chính phủ  Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trỗi dậy hòa bình (Hán Việt: Hòa bình quật  khởi), Trung Quốc đã hạn chế sử dụng vũ lực ở quy mô lớn trong khu vực Biển   Đông, chuyển sang hiện thực hóa tuyên bố chủ quyền của mình qua các vụ bắt  20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2