intTypePromotion=1
ADSENSE

So sánh đối chiếu thành ngữ có hình ảnh con chuột trong tiếng Việt và tiếng Đức

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

215
lượt xem
10
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nhằm mục đích chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về ý nghĩa của các thành ngữ tiếng Việt và tiếng Đức chứa thành tố chỉ con chuột. Bằng phương pháp miêu tả và so sánh, kết hợp với các thao tác phân tích, thống kê và tổng hợp, bài viết cho thấy một số nét tương đồng giữa thành ngữ trong hai ngôn ngữ trên: Hình ảnh con chuột chủ yếu gắn với nghĩa tiêu cực, các thành ngữ đều mang giá trị giáo huấn, dạy dỗ, có tính phê phán, chê bai hay phàn nàn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: So sánh đối chiếu thành ngữ có hình ảnh con chuột trong tiếng Việt và tiếng Đức

VĂN HÓA - VĂN HỌC v<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> SO SÁNH-ĐỐI CHIẾU THÀNH NGỮ<br /> CÓ HÌNH ẢNH CON CHUỘT<br /> TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ĐỨC<br /> LÊ THỊ BÍCH THỦY*<br /> *Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội,  lethibichthuy78@gmail.com<br /> Ngày nhận bài: 26/8/2018; ngày sửa chữa: 10/10/2018; ngày duyệt đăng: 20/12/2018<br /> <br /> <br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Bài viết nhằm mục đích chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về ý nghĩa của các thành ngữ<br /> tiếng Việt và tiếng Đức chứa thành tố chỉ con chuột. Bằng phương pháp miêu tả và so sánh, kết<br /> hợp với các thao tác phân tích, thống kê và tổng hợp, bài viết cho thấy một số nét tương đồng<br /> giữa thành ngữ trong hai ngôn ngữ trên: Hình ảnh con chuột chủ yếu gắn với nghĩa tiêu cực; các<br /> thành ngữ đều mang giá trị giáo huấn, dạy dỗ, có tính phê phán, chê bai hay phàn nàn. Tuy nhiên,<br /> mỗi ngôn ngữ đều có những nét đặc trưng riêng. Thành ngữ tiếng Việt phản ánh những nét đặc<br /> trưng văn hóa của làng quê Việt Nam, trong khi đó thành ngữ tiếng Đức liên quan nhiều tới tín<br /> ngưỡng,...<br /> Từ khóa: chuột, thành ngữ, văn hóa<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng thao<br /> tác thống kê, phân tích và tổng hợp, cũng như so<br /> Việc học tiếng Đức đối với nhiều người Việt sánh đối chiếu các thành ngữ có yếu tố chỉ con<br /> không hề đơn giản, học thành ngữ tiếng Đức lại chuột trong tiếng Đức và tiếng Việt. Thành ngữ<br /> càng phức tạp hơn. Vì vậy, chúng tôi nghĩ cần có tiếng Việt được chúng tôi tham khảo chủ yếu<br /> những nghiên cứu so sánh-đối chiếu liên quan trong “Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao Việt<br /> tới cặp ngôn ngữ này, qua đó chỉ ra những điểm Nam. Quyển thượng” của Việt Chương (2005) và<br /> tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ để giúp “Thành ngữ học Tiếng Việt” của Hoàng Văn Hành<br /> cho người học một mặt gặp ít khó khăn hơn, mặt (2004). Thành ngữ tiếng Đức được tập hợp từ Từ<br /> khác hiểu rõ hơn về văn hóa Đức. Với mục đích điển Duden Redewendungen: Wörterbuch der<br /> nêu trên, bài viết này tập trung vào nghiên cứu deutschen Idiomatik (2012) và Lexikon der Zitate<br /> đối chiếu thành ngữ tiếng Đức và tiếng Việt có sử und Redensarten.<br /> dụng hình ảnh con chuột, để qua đó thấy được sự<br /> giống nhau và khác nhau của các nghĩa biểu trưng, Để phục vụ cho bài viết này, chúng tôi thống<br /> cũng như dấu ấn văn hóa của hai dân tộc trong các kê được 23 thành ngữ có thành tố chỉ con chuột<br /> thành ngữ đó. trong tiếng Đức và 23 thành ngữ có thành tố chuột<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 17 (01/2019) 83<br /> v VĂN HÓA - VĂN HỌC<br /> <br /> <br /> trong tiếng Việt1. Trong bài viết này chúng tôi riêng lẻ (Duden Universal; Burger, 2007, tr. 11-12;<br /> không muốn so sánh về mặt cấu trúc thành ngữ ở Fleischer và các tác giả khác, 2001, tr.108-109).<br /> hai ngôn ngữ, mà chỉ muốn so sánh hình ảnh con Như vậy, thành ngữ được đặt trong quan hệ đối lập<br /> chuột với các nét nghĩa biểu trưng cũng như dấu với các cấu trúc tự do (Fleischer, 2001, tr.108) hay<br /> ấn của hai nền văn hóa Đức và Việt được thể hiện các cụm từ tự do (Burger, 2007, tr.12).<br /> qua các thành ngữ có thành tố chỉ chuột trong tiếng<br /> Đức và tiếng Việt. Theo Burger (2007), thành ngữ có những đặc<br /> điểm chung sau đây: 1) Thành ngữ bao gồm ít nhất<br /> 2. QUAN NIỆM VỀ THÀNH NGỮ là hai từ trở lên; 2) Các cấu phần của một thành<br /> ngữ chỉ có thể được hiểu trong phạm vi của thành<br /> 2.1. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt ngữ đó, nếu một yếu tố thay đổi thì nghĩa của thành<br /> ngữ sẽ mất đi, bị hiểu sai hoặc trở nên vô nghĩa; 3)<br /> Trong tiếng Việt, thành ngữ được đa số tác giả<br /> Sự khác nhau giữa nghĩa từ vựng và nghĩa thành<br /> hiểu là cụm từ/ngữ/tổ hợp từ cố định (Hoàng Phê,<br /> ngữ: nếu sự khác nhau càng lớn thì tính thành ngữ<br /> 2003, tr.915; Nguyễn Thiện Giáp, 2002, tr.77; Mai<br /> càng cao.<br /> Ngọc Chừ, 2015, tr.190; Hoàng Văn Hành, 2004,<br /> tr.27) và có giá trị biểu trưng về mặt nghĩa (Mai Ví dụ: Thành ngữ Öl auf die Lampe gießen<br /> Ngọc Chừ, 2015, tr.190). Ngoài ra, Hoàng Phê được cho là có tính thành ngữ rất cao; người ta<br /> (2003) cũng đề cập tới việc không thể giải thích không thể dựa vào nghĩa của từng từ trong thành<br /> nghĩa tổng thể của thành ngữ bằng nghĩa của các ngữ trên để suy ra nghĩa tổng thể của thành ngữ.<br /> từ tạo nên nó. Trong số các định nghĩa của các tác Nếu dịch từng từ trong thành ngữ trên, ta có “đổ<br /> giả nêu trên, chúng tôi thấy quan điểm về thành dầu vào đèn”. Tuy nhiên, nghĩa của thành ngữ trên<br /> ngữ của Hoàng Văn Hành (2004, tr.27) diễn đạt lại là “uống rượu”. Nếu thay từ “Lampe” (đèn)<br /> trọn vẹn nhất cách hiểu về thành ngữ: Đó là “một bằng một từ khác, ví dụ như “Pfanne” (chảo)<br /> loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu<br /> thì nghĩa “uống rượu” của thành ngữ Öl auf die<br /> trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng<br /> Lampe gießen không còn nữa.<br /> rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong<br /> khẩu ngữ.” 3. PHÂN BIỆT THÀNH NGỮ VỚI TỤC<br /> NGỮ, CỤM TỪ CỐ ĐỊNH VÀ CỤM TỪ TỰ DO<br /> Như vậy, có thể thấy thành ngữ có hai đặc trưng<br /> nổi bật là: 1) Tính ổn định, cố định về thành phần Trong nghiên cứu của mình, Hoàng Văn Hành<br /> từ vựng và cấu trúc; 2) Tính hoàn chỉnh và bóng (2004, tr.38) đã đưa ra những đặc trưng dùng làm<br /> bẩy về nghĩa (Hoàng Văn Hành, 2004, tr.28-29). tiêu chí để nhận diện thành ngữ và tục ngữ, qua<br /> đó làm nổi bật sự khác biệt giữa hai loại này. Các<br /> Ví dụ: Thành ngữ Chuột chạy cùng sào có tính<br /> đặc trưng đó là đặc trưng về hình thái cấu trúc, có<br /> ổn định rất cao. Không thể thay thế chuột bằng<br /> vần điệu, có đối điệp; chức năng biểu hiện nghĩa<br /> mèo, hay sào bằng que trong thành ngữ trên, vì<br /> định danh; chức năng biểu hiện hình thái nhận<br /> khi đó nghĩa gốc của thành ngữ đó sẽ mất. Xét<br /> thức và đặc trưng ngữ nghĩa. Ở ba đặc trưng đầu<br /> về nghĩa, thành ngữ trên rất hoàn chỉnh, trọn vẹn;<br /> tiên, thành ngữ có sự phân biệt rõ ràng với tục ngữ.<br /> ngoài ra nó còn có sự bóng bẩy về nghĩa, mang<br /> Trong khi thành ngữ là tổ hợp từ cố định, mang<br /> tính hình tượng cao.<br /> quan hệ hình thái thì tục ngữ là câu cố định và<br /> 2.2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Đức mang quan hệ cú pháp. Thành ngữ định danh sự<br /> vật, hiện tượng, quá trình, biểu thị khái niệm bằng<br /> Trong giới Đức ngữ học, thành ngữ được hình ảnh biểu trưng, còn tục ngữ định danh sự tình,<br /> nhiều tác giả cho là các cụm từ cố định mà nghĩa sự kiện, trạng huống, biểu thị phán đoán bằng hình<br /> tổng thể của nó không thể suy ra từ các thành tố tượng biểu trưng. Chỉ ở đặc trưng ngữ nghĩa thì ở<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 84 Số 17 (01/2019)<br /> VĂN HÓA - VĂN HỌC v<br /> <br /> <br /> <br /> cả thành ngữ và tục ngữ, hai tầng ngữ nghĩa được chuột ngày hoặc biến thể là Nhấm nhắt như chuột<br /> tạo bằng phương thức so sánh và ẩn dụ hóa. ngày xuất phát từ thực tế về thói quen sinh hoạt<br /> của loài chuột là thường đi tìm thức ăn về đêm,<br /> Khác với Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện khi mọi người đã đi ngủ. Lúc đó chuột ăn vụng<br /> Giáp (2002, tr.79-86) lại phân biệt thành ngữ với dễ dàng hơn, không sợ bị bắt. Nhưng khi kiếm ăn<br /> ngữ định danh và cụm từ tự do. Ông phân biệt ban ngày, lúc mọi người đang thức, nó sẽ phải lén<br /> thành ngữ với ngữ định danh dựa trên các đặc lút hoạt động. Thành ngữ này chê bai những kẻ đi<br /> điểm về nội dung và về mặt cấu trúc cú pháp, phân lại, ra vào lén lút, làm việc ám muội. Chuột vốn là<br /> biệt với cụm từ tự do ở mặt hình thức và sự hoàn loài hay phá hoại ngấm ngầm và trốn trong nhà mà<br /> chỉnh về nghĩa. Cụ thể thì thành ngữ là tên gọi gợi nhiều khi ta không biết. Đến khi cháy nhà, bị khói<br /> cảm của hiện tượng nào đó, có ý nghĩa cụ thể, hình hun thì chuột mới lộ ra. Tương tự như thế, trong<br /> thành ở phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏi cần có cuộc sống có những kẻ làm chuyện xấu một cách<br /> sự bình giá và biểu cảm, hay gặp quan hệ tường ngấm ngầm và chỉ lộ chân tướng, bị phát hiện khi<br /> thuật,...; còn ngữ định danh là tên gọi thuần túy có chuyện. Điều này có thể thấy trong thành ngữ<br /> của sự vật, diễn đạt đồng thời quan hệ chủng và Cháy nhà ra mặt chuột. Thành ngữ Mèo mẹ bắt<br /> loại, có cả diện chung và diện riêng của ý nghĩa, chuột con cũng dùng để chê bai những người có<br /> hình thành ở phạm vi hoạt động trí tuệ của con khả năng lớn nhưng lại chỉ làm những việc nhỏ.<br /> người, ít gặp quan hệ tường thuật. Thành ngữ khác Hay khi muốn chê những việc lúc đầu có vẻ to tát,<br /> với cụm từ tự do ở tính hoàn chỉnh về nghĩa và tính hoành tráng nhưng khi kết thúc lại gần như chẳng<br /> phi cú pháp trong quan hệ. có gì, rất đối lập với lúc đầu, người Việt dùng Đầu<br /> voi đuôi chuột. Và để chê người ta làm được việc<br /> 4. THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG này nhưng lại làm hỏng việc khác, người Việt có<br /> ĐỨC CÓ CHỨA HÌNH ẢNH CON CHUỘT thành ngữ Đánh chuột làm vỡ bình sứ/Ném chuột<br /> vỡ lu, còn khi muốn chê ai đó không che dấu được<br /> 4.1. Thành ngữ tiếng Việt toàn bộ hành vi, sự việc và bị lộ một phần bí mật,<br /> người Việt nói Chuột chạy hở đuôi. Những người<br /> Trong suy nghĩ của người Việt, khi nói tới làm việc không tới nơi tới chốn sẽ bị chê là Dở dơi<br /> chuột, thường chúng ta nghĩ ngay tới con vật bẩn dở chuột/Nửa dơi nửa chuột, còn những kẻ bày<br /> thỉu, chuyên phá hoại, gây bệnh dịch, ăn vụng, ..., cách cho kẻ xấu biết lối tránh tội, không bị trừng<br /> tức là những ý nghĩ rất xấu về con vật này. Có phát sẽ bị phê phán là Bày đường cho chuột chạy.<br /> thể thấy điều này trong định nghĩa đầu tiên về<br /> con chuột ở Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2003, Tiếng Việt có 6 thành ngữ có thành tố “chuột”<br /> tr.185). Vì thế, hình ảnh con chuột trong thành ngữ chỉ sự châm biếm. Trước hết có thể kể đến Chuột<br /> tiếng Việt có thành tố “chuột” cũng thường gắn gặm chân mèo. Mèo và chuột vốn là kẻ thù truyền<br /> liền với những ý nghĩa tiêu cực. kiếp, thế mà chuột lại dám đến gần mèo, thậm chí<br /> gặm chân mèo. Thành ngữ này chỉ hành động liều<br /> Trong số 23 thành ngữ có yếu tố “chuột” của lĩnh, nguy hiểm. Cũng đặt trong mối quan hệ với<br /> tiếng Việt, có tới 11 thành ngữ mang hàm ý phê mèo nhưng thành ngữ Chuột cắn dây cột mèo vừa<br /> phán, chê bai. Liên quan tới chê bai về hình thức có giá trị phê phán, vừa có giá trị châm biếm, cười<br /> có thể kể đến các thành ngữ sau đây: Hôi như những kẻ ngu muội cứu giúp kẻ thù của mình.<br /> chuột chù dùng để chê bai về tính chất của ai đó Tương tự như vậy, để phê phán và chê cười những<br /> (có mùi rất hôi), còn Lù rù như chuột chù phải kẻ không ra gì nhưng lại tỏ vẻ, chúng ta có Chuột<br /> khói được sử dụng để miêu tả dáng vẻ của một chù đeo đạc; để phê phán, châm biếm những kẻ<br /> người trông rất lù rù, kém tinh ranh. Ngoài các xấu xa phải núp dưới vỏ hào nhoáng để che bớt<br /> thành ngữ trên thì các thành ngữ khác chủ yếu sự xấu xa của mình, người Việt dùng Chuột đội vỏ<br /> chê bai về tính cách. Ví dụ thành ngữ Thì thụt như trứng. Cũng châm biếm nhưng có tính trào phúng<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 17 (01/2019) 85<br /> v VĂN HÓA - VĂN HỌC<br /> <br /> <br /> là thành ngữ Chuột chù lại có xạ hương và Voi đú, tr.319), những người nông dân trước đây thường<br /> chó đú, chuột chù cũng nhảy cẫng. Ở thành ngữ gác cây sào trong nhà để vắt quần áo hay treo đồ<br /> đầu tiên, ta thấy chuột chù vốn rất hôi, vậy mà lại đạc, vì vậy mới có hình ảnh Chuột chạy cùng sào,<br /> khoe là mình thơm. Dựa trên ý đó, thành ngữ này chuột mà leo lên sào, bị đuổi thì chỉ còn đường<br /> hàm ý chỉ những kẻ không có tài cán gì nhưng lại chạy từ đầu nọ sang đầu kia, để rồi cuối cùng cũng<br /> khoe mẽ. Trong khi đó thành ngữ thứ hai cười chê sẽ bị bắt. Ở nông thôn Việt Nam, để mèo không đi<br /> những kẻ đua đòi, thích bắt chước người khác một lang thang sang nhà khác, người ta cũng hay dùng<br /> cách ngu ngốc, vì thế trở nên lố bịch. dây để cột con mèo lại, vì thế mới có thành ngữ<br /> Chuột cắn dây cột mèo. Ngoài ra, còn một số hình<br /> Ngoài những thành ngữ mang tính phê phán, ảnh khác đặc trưng cho văn hóa của Việt Nam như<br /> châm biếm hay trào phúng kể trên, các thành ngữ bình sứ hay cái lu; đây vốn là những thứ rất quý<br /> trong tiếng Việt có thành tố chuột (5) còn cho thấy giá đối với người dân Việt thời xưa; vì thế mới có<br /> triết lý sống hoặc những bài học giáo huấn/bài học thành ngữ Đánh chuột làm vỡ bình sứ/Ném chuột<br /> kinh nghiệm. Khi nói về việc làm những chuyện vỡ lu.<br /> vừa sức, phù hợp với khả năng, người Việt dùng<br /> Mèo nhỏ bắt chuột con; nói về sự cần cù, nhẫn nại 4.2. Thành ngữ tiếng Đức<br /> khi làm việc gì đó giống như con mèo rình chuột,<br /> người Việt nói Rình như mèo rình chuột. Trong Trong số 23 thành ngữ tiếng Đức có hình ảnh<br /> cuộc sống có những lúc chúng ta rơi vào tình trạng chuột, có 10 thành ngữ được dùng để phê phán,<br /> nguy hiểm, đe dọa đến tính mạng thì không khác chê bai hay phàn nàn. Để phê phán ai đó có cách<br /> nào chuột sa cũi mèo, hoặc khi tình thế đến bước hành xử không ổn, để cho người khác phải chờ đợi<br /> đường cùng, con người cũng giống như chuột chạy quyết định của mình quá lâu nhưng cuối cùng lại<br /> cùng sào, hay bỗng nhiên được sống trong một gia đưa ra một quyết định có tính tiêu cực, làm người<br /> đình giàu có, sung túc thì chẳng khác nào chuột sa kia thất vọng, người Đức dùng thành ngữ Mit<br /> chĩnh gạo/chuột sa hũ nếp/chuột sa lọ mỡ. Triết lý jemandem Katz und Maus spielen (Chơi trò mèo<br /> là người đã nhiều tuổi sẽ không còn bạo gan như và chuột). Để chỉ những người đã một lần ăn cắp<br /> những thanh niên trẻ tuổi nữa được thể hiện qua thì sẽ luôn lặp lại chuyện đó trong những lần sau,<br /> thành ngữ Mèo già lại thua gan chuột nhắt. người Đức sử dụng Die Katze lässt das Mausen<br /> nicht (Mèo không để chuột yên). Tương tự như<br /> Trong số 23 thành ngữ được lựa chọn để nghiên vậy, để miêu tả cách hành xử hỗn láo, xấc xược<br /> cứu, chỉ có duy nhất một thành ngữ dùng hình ảnh của người nào đó, tiếng Đức dùng sich mausig<br /> con chuột để miêu tả hình dáng bên ngoài của con machen. Khi phàn nàn, kêu ca về một hoàn cảnh,<br /> người khi họ bị ướt sũng. Đó là thành ngữ Ướt như sự việc nào đó không ổn, người Đức có thành ngữ<br /> chuột lột. Mäuse merken/riechen (Nhận ra/ngửi thấy chuột)<br /> hay Das ist eine Maus im Mehl (Có một con chuột<br /> Bên cạnh các nét nghĩa biểu trưng được trình trong đống bột mì). Từ thực tế là khi con chuột<br /> bày ở trên, các thành ngữ có hình ảnh chuột còn (màu xám) ở trong đống bột mì màu trắng thì sẽ<br /> ghi đậm khá rõ dấu ấn văn hóa Việt. Ví dụ qua bị phát hiện ra ngay, và rõ ràng là đống bột có vấn<br /> thành ngữ Chuột sa chĩnh gạo/Chuột sa hũ nếp/ đề. Cũng mang nghĩa phàn nàn, nhưng thành ngữ<br /> Chuột sa lọ mỡ, ta có thể thấy Việt Nam là một zum Mäusemelken sein (Vắt sữa chuột) lại miêu<br /> nước nông nghiệp, lương thực chính là gạo, ngoài tả tâm trạng bực mình, phát điên lên vì việc gì đó.<br /> ra người Việt cũng hay dùng gạo nếp làm lương Thành ngữ này xuất phát từ thực tế là: Vắt sữa<br /> thực, thay vì dùng dầu ăn như hiện nay thì trước chuột là một công việc hết sức khó khăn và không<br /> đây họ lại dùng mỡ để nấu ăn. Hay hình ảnh cây hề dễ chịu chút nào. Khi phàn nàn về việc dù đã<br /> sào cũng rất quen thuộc với nông thôn Việt Nam, rất cố gắng, đã tư vấn hết sức xong vẫn không<br /> nhất là trong quá khứ. Theo Việt Chương (2005, thu được kết quả như ý, người Đức nói Der Berg<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 86 Số 17 (01/2019)<br /> VĂN HÓA - VĂN HỌC v<br /> <br /> <br /> <br /> kreißt und gebar eine Maus (Quả núi trở dạ rồi mỡ), dùng để miêu tả cuộc sống sung sướng, no<br /> sinh ra một con chuột). Để chê bai cái gì đó quá đủ, giống như con chuột vốn rất thích ăn thịt mỡ<br /> ít ỏi, người Đức dùng thành ngữ Das trägt eine thì nay được ngồi ở đúng nơi nó thích. Chuột vốn<br /> Maus auf dem Schwanze fort (Cái đó thì một con là con vật hay bị đuổi bắt nên nó phải ẩn mình,<br /> chuột cũng mang được trên cái đuôi của mình). phải giữ im lặng, hay chỉ quan sát từ xa và điều<br /> Sự chê bai còn thấy ở thành ngữ graue Maus (Con đó cũng đi vào thành ngữ Đức Still wie eine Maus<br /> chuột xám) vốn dùng để chỉ một người không có (im lặng như chuột) hay Mäuschen sein/spielen<br /> gì nổi bật, ở thành ngữ weiße Mäuse sehen (nhìn wollen (Muốn là/đóng vai một con chuột nhắt)<br /> thấy chuột trắng) vốn dùng để miêu tả tình trạng dùng để chỉ một người muốn quan sát, nghe ngóng<br /> tâm lý bị ảo giác. một cách bí mật sự kiện hoặc cuộc thoại nào đó.<br /> Khi muốn nói không có gì thay đổi, mọi chuyện<br /> So với các thành ngữ mang tính phê phán, chê đã định sẵn rồi, người Đức nói Davon beißt die<br /> bai, phàn nàn thì các thành ngữ có tính châm biếm Maus keinen Faden ab (Con chuột không cắn đứt<br /> ít hơn hẳn (1): Có thể thấy một chút châm biếm sợi chỉ). Thành ngữ này bắt nguồn từ câu chuyện<br /> nhẹ nhàng ở (Vor Scham/Angst) am liebsten in ein liên quan tới ngày 17/3 là ngày mà con chuột của<br /> Mauseloch kriechen (chỉ muốn bò ngay vào hang Thánh Gertrud cắn sợi chỉ ở con quay và điều đó<br /> chuột do xấu hổ/sợ hãi) khi nói tới tâm lý rất xấu có nghĩa là công việc đồng áng cho mùa đông đã<br /> hổ/sợ hãi của ai đó. chấm dứt và có thể chuyển sang công việc đồng<br /> áng cho mùa hè. Nếu con chuột không cắn đứt chỉ<br /> Số lượng các thành ngữ chỉ sự bông đùa cũng ở con quay thì mọi thứ vẫn giữ nguyên như cũ,<br /> rất ít (2): Khi muốn đùa bỡn, người Đức dùng hình không có gì thay đổi. Cũng có nguồn gốc từ câu<br /> ảnh những con chuột trắng weiße Mäuse để chỉ chuyện trong quá khứ, khi tàu bè thường hay bị<br /> cảnh sát giao thông trong trang phục màu trắng; chìm, không trừ bất cứ ai, bất cứ thứ gì, người Đức<br /> hay muốn đe dọa bông đùa người Đức nói dass nói Mit Mann und Maus untergehen (Cả người và<br /> dich das Mäuslein beißt (Chuột nhắt cắn đấy), chuột đều chết chìm). Con chuột tượng trưng cho<br /> nhưng thực chất thành ngữ này lại có nghĩa là “cậu những thứ nhỏ bé, không có ý nghĩa cũng theo<br /> điên à?”. người chìm xuống biển.<br /> Bên cạnh đó, người Đức cũng đưa ra triết lý, Hình ảnh con chuột không chỉ xuất hiện trong<br /> giáo huấn thông qua các thành ngữ có thành tố các thành ngữ mang tính phê phán, châm biếm,<br /> chuột (9): Khi khuyên ai đó muốn đạt được nhiều hay giáo huấn như trên, mà còn xuất hiện trong<br /> thứ thì phải dùng đúng mồi, trong tiếng Đức có các thành ngữ miêu tả tính cách (khen) hay miêu<br /> thành ngữ Mit Speck fängt man Mäuse (Dùng thịt tả hình thức của con người: Trong mắt người Đức,<br /> mỡ sẽ bắt được chuột). Hoặc cũng từ việc đúc rút chuột là con vật rất nhanh nhẹn, hoạt bát và vì vậy<br /> kinh nghiệm trong cuộc sống, người Đức thấy họ mới so sánh những người nhanh nhẹn, hoạt<br /> những phụ nữ lớn tuổi cũng muốn tìm kiếm các bát với con chuột flink wie eine Maus (nhanh như<br /> chàng trai trẻ, giống như những con chuột già chuột). Và người nào đó bị ướt từ đầu tới chân,<br /> cũng thích ăn thịt mỡ như trong thành ngữ Alte trông thật đáng thương sẽ được so sánh với một<br /> Mäuse fressen auch gern Speck. Khi miêu tả con chuột vừa tắm xong: wie eine gebadete Maus.<br /> hoàn cảnh sống của ai đó rất nghèo túng, người<br /> Đức dùng hình ảnh con chuột trong nhà thờ Arm Dấu ấn văn hóa Đức cũng thể hiện khá rõ qua<br /> wie eine Kirchmaus (Nghèo như con chuột trong các thành ngữ. Ví dụ hình ảnh nhà thờ trong thành<br /> nhà thờ), vì nhà thờ không phải là nơi có đồ ăn ngữ arm wie eine Kirchmaus (Nghèo như chuột<br /> cho chuột có thể tìm kiếm hoặc ăn vụng thức ăn. trong nhà thờ). Đa số người Đức theo đạo Thiên<br /> Ngược lại với thành ngữ trên là Wie die Maus im chúa giáo và vì vậy có thể thấy rất nhiều nhà thờ ở<br /> Speck sitzen (Như con chuột ngồi trong miếng thịt Đức. Đây chính là một biểu tượng cho tín ngưỡng<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 17 (01/2019) 87<br /> v VĂN HÓA - VĂN HỌC<br /> <br /> <br /> của họ. Ngoài ra còn thấy loại lương thực chính sa chĩnh gạo/Chuột sa hũ nếp/Chuột sa lọ mỡ<br /> được người Đức sử dụng nhiều là bột mì (Mehl) (tiếng Việt) và Wie die Maus im Speck sitzen (như<br /> hay thịt mỡ (Speck) cũng xuất hiện trong thành con chuột ngồi trong miếng thịt mỡ) (tiếng Đức),<br /> ngữ có thành tố chuột. dùng chỉ miêu tả hoàn cảnh sống sung sướng, no<br /> đủ của ai đó.<br /> Bảng 1 bên dưới là bảng biểu thống kê về mức<br /> độ đa nghĩa của thành ngữ có thành tố chuột tiếng 5.2. Sự khác biệt<br /> Việt và tiếng Đức.<br /> Tiếng Đức có duy nhất một thành ngữ mà ở đó<br /> 5. SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT cả con chuột (hoạt bát, nhanh nhẹn), cũng như cả<br /> TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ nghĩa của thành ngữ có thành tố chuột đều mang<br /> TIẾNG ĐỨC nghĩa tích cực. Đó là flink wie eine Maus (nhanh<br /> như chuột), dùng để khen một ai đó có tính cách<br /> 5.1. Sự tương đồng nhanh nhẹn, khéo léo khi di chuyển hoặc khi làm<br /> việc. Trong khi đó, tiếng Việt không có một thành<br /> Hình ảnh con chuột gắn với những điều không ngữ nào gắn với hình ảnh con chuột lại mang tính<br /> tốt đẹp, đều xuất hiện ở cả hai ngôn ngữ. Theo tích cực như vậy. Tương tự, các thành ngữ chỉ sự<br /> đó, nghĩa của các thành ngữ gắn với hình ảnh con bông đùa cũng chỉ xuất hiện trong tiếng Đức.<br /> chuột cũng thường mang tính tiêu cực. Phần lớn<br /> các thành ngữ trong hai ngôn ngữ Việt và Đức đều Chuột trong thành ngữ tiếng Đức gắn liền với<br /> mang tính phê phán, chê bai, phàn nàn hay châm yếu tố màu sắc là trắng và xám như trong thành<br /> biếm. Bên cạnh đó cũng có khá nhiều thành ngữ ngữ weiße Mäuse, weiße Mäuse sehen hay graue<br /> mang tính triết lý, giáo huấn, dạy dỗ. Maus. Yếu tố màu sắc gắn liền với chuột không hề<br /> xuất hiện trong tiếng Việt.<br /> Và để miêu tả hình thức của ai đó bị ướt từ<br /> đầu đến chân, người Việt và người Đức đều dùng Thành ngữ tiếng Đức có nguồn gốc gắn với<br /> hình ảnh con chuột bị ướt để so sánh. Người Việt các câu chuyện liên quan tới tín ngưỡng, còn thành<br /> nói Ướt như chuột lột, còn người Đức nói Wie eine ngữ tiếng Việt không có hiện tượng đó. Tuy nhiên,<br /> gebadete Maus (Ướt như con chuột vừa tắm xong). nét văn hóa của làng quê Việt Nam hiện lên khá rõ<br /> trong thành ngữ tiếng Việt, đó là hình ảnh cây sào,<br /> Chuột trong các thành ngữ tiếng Việt và tiếng chĩnh gạo, hũ nếp, lọ mỡ, bình sứ,… Trong khi đó,<br /> Đức đều được đặt trong quan hệ với mèo, với mỡ những hình ảnh của văn hóa làng quê ở Đức rất<br /> (nhưng ở tiếng Việt là lọ mỡ, còn tiếng Đức là mờ nhạt.<br /> miếng thịt mỡ); đều gắn với các động từ như cắn,<br /> bị bắt. Ngoài ra, ở cả hai ngôn ngữ đều xuất hiện 6. KẾT LUẬN<br /> thành ngữ có hình ảnh con chuột và bản thân thành<br /> ngữ đó mang tính tích cực, mặc dù hình ảnh con Bài viết này cho thấy một số khác biệt trong<br /> chuột trong các thành ngữ đó không làm người ta thành ngữ có hình ảnh con chuột trong tiếng Đức<br /> liên tưởng tới sự tiêu cực hay tích cực. Đó là Chuột và tiếng Việt. Hình ảnh con chuột trong thành ngữ<br /> <br /> Bảng 1: Mức độ đa nghĩa của thành ngữ có thành tố chuột tiếng Việt và tiếng Đức<br /> Ngữ<br /> Phê phán, Châm biếm,<br /> nghĩa Triết lý, giáo Miêu tả hình Miêu tả tính<br /> chê bai, trào phúng Bông đùa<br /> huấn thức cách (khen)<br /> phàn nàn<br /> Thành ngữ<br /> Tiếng Việt 11 6 0 5 1 0<br /> Tiếng Đức 10 1 2 8 1 1<br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 88 Số 17 (01/2019)<br /> VĂN HÓA - VĂN HỌC v<br /> <br /> <br /> <br /> tiếng Đức gắn với màu sắc, với tín ngưỡng và với Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt<br /> sự nhanh nhẹn, nhưng những điều này không thấy Hùng, Bùi Minh Toán (2015), Nhập môn ngôn ngữ học,<br /> NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.<br /> xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt. Ngược lại,<br /> một số hình ảnh đặc trưng cho văn hóa làng quê Việt Chương (2005), Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao<br /> thể hiện khá sắc nét trong tiếng Việt, còn trong Việt Nam, Quyển thượng, NXB Tổng hợp Đồng Nai.<br /> tiếng Đức rất mờ nhạt. Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học Tiếng Việt, NXB<br /> Giáo dục, Hà Nội.<br /> Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không phải là<br /> Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học Tiếng Việt, NXB<br /> không có những điểm tương đồng giữa hệ thống Khoa học xã hội, Hà Nội.<br /> thành ngữ của hai ngôn ngữ này, ví dụ hình ảnh<br /> Hoàng Phê (2002) (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà<br /> con chuột ướt sũng được dùng để tả một người bị<br /> Nẵng, Đà Nẵng.<br /> ướt từ đầu đến chân, hình ảnh con chuột trong cả<br /> hai ngôn ngữ phần lớn đều mang nghĩa tiêu cực, T.G (2018), Hình ảnh chuột trong các sáng tác dân gian,<br /> truy cập ngày 30/9/2018, .<br /> nghiên cứu sau, chúng tôi sẽ tìm hiểu kỹ thêm về<br /> Burger, Harald (2007), Phraseologie. Eine Einführung am<br /> nguồn gốc xuất xứ của các thành ngữ để có thể làm<br /> Beispiel des Deutschen. Erich Schmidt Verlag. Berlin.<br /> rõ nét hơn dấu ấn văn hóa Đức và Việt./.<br /> Duden Redewendungen: Wörterbuch der deutschen<br /> Chú thích: Idiomatik (Duden - Deutsche Sprache in 12 Bänden,<br /> Band 11) (2012).<br /> 1. Trong luận văn của mình, Nguyễn Thị Bảo (2003)<br /> đã thống kê được 47 thành ngữ tiếng Việt có thành tố chuột. Duden – Deutsches Universalwörterbuch: Das<br /> umfassende Bedeutungs-wörterbuch der deutschen<br /> Con số đó trong nghiên cứu của Phan Văn Quế là 30 và của<br /> Gegenwartssprache (2015): Bibliographisches Institut.<br /> Trịnh Cẩm Lan là 37 (dẫn theo Nguyễn Thị Bảo 2003, tr.16).<br /> Fleischer, Wolfgang/Helbig, Gerhard/Lerchner, Gotthard<br /> Tài liệu tham khảo: (Hrsg.) (2001): Kleine Enzyklopädie. Deutsche Sprache.<br /> Nguyễn Thị Bảo (2003), Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật Peter Lang. Frankfurt am Main.<br /> trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Lexikon der Zitate und Redensarten. Königswinter: Tandem<br /> Anh), Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, TP. Hồ Chí Minh. Verlag. (o.J.)<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> A CONTRASTIVE ANALYSIS OF VIETNAMESE AND GERMAN IDIOMS<br /> CONTAINING THE IMAGE OF A MOUSE<br /> LE THI BICH THUY<br /> Abstract: This paper aims to point out the similarities and differences in meaning of Vietnamese<br /> and German idioms containing the image of a mouse. Using descriptive and comparative methods<br /> in combination with the critical analysis, statistics and synthesis, this article points out shows<br /> some similarities of the Vietnamese and German idioms: Mice are often negatively associated<br /> negative things; almost idioms have the educational, critical and complaining values. However,<br /> each language has its own special features. Vietnamese idioms have special features of culture of<br /> the village in Vietnam, while German idioms are related to religion, etc.<br /> Keywords: mouse, idioms, culture<br /> Received: 26/8/2018; Revised: 10/10/2018; Accepted: 20/12/2018<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 17 (01/2019) 89<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2