intTypePromotion=1

So sánh hiệu quả sử dụng thức ăn hỗn hợp tự phối chế với thức ăn hỗn hợp của một số hãng trong chăn nuôi gà broiler Kabir tại Thái Nguyên

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
23
lượt xem
0
download

So sánh hiệu quả sử dụng thức ăn hỗn hợp tự phối chế với thức ăn hỗn hợp của một số hãng trong chăn nuôi gà broiler Kabir tại Thái Nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Với 480 gà broiler Kabir 1 ngày tuổi được phân thành 6 lô (mỗi lô 40 con, lặp lại 2 lần). Mỗi lô được sử dụng một khẩu phần thức ăn hỗn hợp khác nhau. Cụ thể: lô 1 sử dụng khẩu phần thức ăn KPKB1, lô 2 sử dụng khẩu phần thức ăn KPKB2, lô 3 sử dụng khẩu phần thức ăn An Khánh, lô 4 sử dụng khẩu phần thức ăn AFC, lô 5 sử dụng khẩu phần thức ăn Guyvomarch và lô 6 sử dụng khẩu phần thức ăn Proconco.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: So sánh hiệu quả sử dụng thức ăn hỗn hợp tự phối chế với thức ăn hỗn hợp của một số hãng trong chăn nuôi gà broiler Kabir tại Thái Nguyên

52(4): 99 - 104<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 4 - 2009<br /> <br /> SO SÁNH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN HỖN HỢP TỰ PHỐI CHẾ VỚI THỨC ĂN<br /> HỖN HỢP CỦA MỘT SỐ HÃNG TRONG CHĂN NUÔI GÀ BROILER KABIR<br /> TẠI THÁI NGUYÊN<br /> Trần Tố (Trường ĐH Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên)<br /> <br /> Tóm tắt<br /> Thí nghiệm so sánh hiệu quả sử dụng TĂHH thí nghiệm tự phối chế với TĂHH của một số hãng trong chăn nuôi<br /> gà broiler Kabir tại Thái Nguyên cho thấy:<br /> Với 480 gà broiler Kabir 1 ngày tuổi được phân thành 6 lô (mỗi lô 40 con, lặp lại 2 lần). Mỗi lô được sử dụng<br /> một khẩu phần thức ăn hỗn hợp khác nhau. Cụ thể: lô 1 sử dụng khẩu phần thức ăn KPKB1, lô 2 sử dụng khẩu<br /> phần thức ăn KPKB2, lô 3 sử dụng khẩu phần thức ăn An Khánh, lô 4 sử dụng khẩu phần thức ăn AFC, lô 5 sử<br /> dụng khẩu phần thức ăn Guyvomarch và lô 6 sử dụng khẩu phần thức ăn Proconco. Kết quả thí nghiệm cho thấy<br /> giữa các lô không có sự khác nhau rõ rệt về sức sản xuất, khả năng cho thịt và chất lượng thịt. Tuy nhiên, lô gà<br /> sử dụng thức ăn hỗn hợp tự pha chế đã làm giảm chi phí thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của gà từ 1,67% đến<br /> 5,3% so với các lô sử dụng các loại thức ăn của các hãng thức ăn chăn nuôi.<br /> <br /> I. Đặt vấn đề<br /> Đậu tương (Glycine max) là loại cây có thân,<br /> lá và hạt giàu dinh dưỡng nhất trong tập đoàn cây<br /> họ đậu làm thức ăn chăn nuôi (Ngô Quang Thắng,<br /> 1990). Bùi Văn Chính và cs (2001) cho biết: trong<br /> hạt đậu tương, protein thường chiếm 410-430 g/kg<br /> vật chất khô (VCK), lipit chiếm 160-180 g/kg<br /> VCK và năng lượng trao đổi (NLTĐ) là 36003800 Kcal/kg VCK. Theo Vũ Duy Giảng (1983)<br /> thì hàm lượng lysine trong protein đậu tương là<br /> 5,8% tương tự như trong protein trứng gà.<br /> Đậu nho nhe (Phaseolus calcaratus Roxb)<br /> được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc như<br /> Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Thái Nguyên… có<br /> năng suất xanh đạt 25-30 tấn/ha, năng suất hạt<br /> 1200-1800 kg/ha có thể dùng làm thức ăn chăn<br /> nuôi (Nguyễn Đăng Khôi, 1979). Tài liệu của Bùi<br /> Văn Chính và cs (2001) cho biết: hạt đậu nho nhe<br /> chứa 21,0% protein thô; 1,3% lipit; 55,2% gluxit;<br /> 4,3% xơ thô; 3,5% khoáng và năng lượng trao đổi<br /> (NLTĐ) là 2.829 Kcal/kg VCK. Theo Whyte<br /> (1955) thì hạt đậu nho nhe chứa 18,9% protein thô;<br /> 0,5% lipit; 53,3% gluxit và 4,9% xơ thô.<br /> Vì vậy chúng tôi đã tiến hành các thí nghiệm<br /> nghiên cứu sử dụng hai loại đậu trên chăn nuôi đàn<br /> gà broiler, kết quả đã lựa chọn được thức ăn hỗn hợp<br /> (TĂHH) thí nghiệm tự phối trộn tốt nhất cho gà<br /> broiler Kabir (Ký hiệu là KPKB1 và KPKB2). Để<br /> <br /> khẳng định kết quả này, chúng tôi tiếp tục thực hiện<br /> đề tài: So sánh hiệu quả sử dụng TĂHH thí nghiệm<br /> tự phối chế với TĂHH của một số hãng trong chăn<br /> nuôi gà broiler Kabir tại Thái Nguyên.<br /> Đề tài thực hiện nhằm xác định hiệu quả của<br /> việc sử dụng TĂHH tự phối chế chứa đậu tương<br /> và đậu nho nhe chế biến, được bổ sung methionine<br /> và lysine so sánh với sử dụng một số loại TĂHH<br /> sản xuất công nghiệp đang được sử dụng rộng rãi<br /> ở nước ta.<br /> Kết quả đề tài sẽ đóng góp một phần vào việc<br /> nghiên cứu, khai thác, tận dụng nguồn thức ăn của<br /> địa phương, sử dụng chúng hợp lí làm thức ăn cho<br /> gia cầm, nhằm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế<br /> trong chăn nuôi gà broiler ở vùng trung du miền<br /> núi phía Bắc.<br /> II. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian<br /> nghiên cứu<br /> - Đối tượng: Gà broiler Kabir 01 ngày tuổi<br /> của Xí nghiệp gà giống Châu Thành được nuôi<br /> đến 70 ngày tuổi<br /> - Vật liệu nghiên cứu: Thức ăn hỗn hợp tự<br /> phối chế từ các nguyên liệu sẵn có tại địa phương<br /> và thức ăn hỗn hợp của An Khánh, AFC,<br /> Guyomarch và Proconco.<br /> - Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Thí<br /> nghiệm được tiến hành tại một số hộ chăn nuôi<br /> thuộc tỉnh Thái Nguyên từ tháng 1 đến 7/2006<br /> <br /> 1<br /> <br /> 52(4): 99 - 104<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> III. Bố trí thí nghiệm<br /> Từ các thí nghiệm trên gà broiler Kabir đã thực<br /> hiện, chúng tôi đã lựa chọn ra 2 loại TĂHH thí<br /> nghiệm tự phối chế tốt nhất gọi là KPKB1 và<br /> KPKB2. Hai khẩu phần này có cùng một tỉ lệ<br /> met./lys.= 40,5% được phối chế từ các thành phần<br /> giàu protein thực vật là đậu tương và đậu nho nhe<br /> theo tỉ lệ 70/30, thành phần giàu năng lượng là ngô<br /> và gạo lứt theo thứ tự tỉ lệ 30/70 và 70/30 (bảng 1).<br /> Thí nghiệm so sánh hiệu quả sử dụng TĂHH tự<br /> phối chế với TĂHH cùng loại của một số hãng thức<br /> ăn chăn nuôi khác được bố trí trên đàn gà broiler<br /> Kabir, lặp lại 2 lần, bố trí 80 con/lô, gồm 6 lô (lô1,<br /> lô2, lô3, lô4, lô5 và lô6) sử dụng TĂHH lần lượt<br /> là: KPKB1, KPKB2, An Khánh, AFC, Guyomarch<br /> và Proconco.<br /> IV. Các chỉ tiêu theo dõi<br /> Các chỉ tiêu theo dõi gồm có: Tỉ lệ sống, sinh<br /> trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, tiêu tốn TĂ,<br /> tiêu tốn protein, tiêu tốn NLTĐ và chi phí thức ăn<br /> cho 1kg tăng khối lượng (KL) và khả năng cho thịt.<br /> V. Kết quả thí nghiệm<br /> 1. Sinh trưởng của đàn gà broiler Kabir<br /> Bảng 2 cho thấy:<br /> - Khối lượng cuối kỳ của gà trong 6 lô gần<br /> tương đương nhau và biến động trong khoảng<br /> 2.054,2-2.137,6 g/con. So sánh về khối lượng<br /> trung bình của 5 lô (từ lô1 đến lô 5) cho thấy sai<br /> khác thống kê không rõ rệt với mức xác suất<br /> P>0,05, duy chỉ có khối lượng của gà lô6<br /> Proconco so với các lô còn lại là có sai khác<br /> thống kê rõ rệt với mức xác suất P
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2