So sánh quy định về xử phạt hành vi tham nhũng trong Quốc triều hình luật và Đại Minh luật

Chia sẻ: Vixyliton Vixyliton | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
13
lượt xem
0
download

So sánh quy định về xử phạt hành vi tham nhũng trong Quốc triều hình luật và Đại Minh luật

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này tập trung khảo cứu và so sánh các quy định về xử phạt hành vi tham nhũng của quan lại trong bộ Đại Minh luật và Quốc triều hình luật, thông qua đó góp phần nghiên cứu so sánh chính sách phòng chống tham nhũng trong lịch sử của các triều đại Việt Nam và Trung Quốc thời trung đại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: So sánh quy định về xử phạt hành vi tham nhũng trong Quốc triều hình luật và Đại Minh luật

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Sci., 2017, Vol. 62, No. 2, pp. 110-117<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1067.2017-0016<br /> <br /> SO SÁNH QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT HÀNH VI THAM NHŨNG<br /> TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ ĐẠI MINH LUẬT<br /> Phan Ngọc Huyền<br /> <br /> Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> Tóm tắt. Đại Minh luật và Quốc triều hình luật là hai bộ pháp điển quan trọng của vương<br /> triều Đại Minh và Đại Việt. Nghiên cứu các quy định về xử phạt hành vi tham nhũng trong<br /> bộ Đại Minh luật (thời Minh) và Quốc triều hình luật (thời Lê Sơ), có thể nhận thấy một số<br /> điểm tương đồng bên cạnh sự khác biệt về số lượng điều luật, phạm vi điều chỉnh và mức<br /> độ hình phạt. Bài viết này tập trung khảo cứu và so sánh các quy định về xử phạt hành vi<br /> tham nhũng của quan lại trong bộ Đại Minh luật và Quốc triều hình luật, thông qua đó góp<br /> phần nghiên cứu so sánh chính sách phòng chống tham nhũng trong lịch sử của các triều<br /> đại Việt Nam và Trung Quốc thời trung đại.<br /> Từ khóa: Tham nhũng, Quốc triều hình luật, Đại Minh luật, Xử phạt.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Phòng chống tham nhũng, giữ gìn sự trong sạch của chốn quan trường từ xưa đến nay luôn<br /> là một trong những vấn đề trăn trở của mỗi chính quyền nhà nước. Thời nào cũng vậy, muốn chống<br /> được tham nhũng thì trước hết phải có chế tài pháp luật. Trong bộ Quốc triều hình luật thời Lê Sơ,<br /> các quy định về xử phạt hành vi tham nhũng chiếm số lượng không ít. Điều này nếu so sánh với<br /> nội dung các quy định trong bộ Đại Minh luật thì thấy có nhiều điểm tương đồng bên cạnh những<br /> khác biệt về vị trí các điều luật và mức độ hình phạt.<br /> Cho đến nay, những nghiên cứu về quy định phòng chống tham nhũng qua từng bộ luật mới<br /> chỉ được đề cập đến qua một vài bài viết, tham luận khoa học. Chẳng hạn, khảo cứu về các quy<br /> định xử phạt hành vi tham nhũng trong Quốc triều hình luật mới có một số bài viết của Nguyễn<br /> Văn Thanh (2008) về Các quy định về phòng, chống tham nhũng trong bộ Quốc triều hình luật và<br /> những bài học cho công cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay; Phan Văn Báu (2013)<br /> về Quốc triều hình luật với việc đấu tranh phòng chống các tội phạm về tham nhũng hay Phan<br /> Ngọc Huyền (2015) về Khảo cứu về quy định chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật. . .<br /> Đặc biệt hơn, cho đến nay chưa có bài viết nào tiến hành so sánh các quy định về xử phạt hành<br /> vi tham nhũng trong hai bộ Quốc triều hình luật thời Lê Sơ và Đại Minh luật thời Minh. Thông<br /> qua bài viết này, người viết hi vọng sẽ góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu vấn đề lập pháp về<br /> phòng chống tham nhũng trong lịch sử hai vương triều Lê Sơ và Đại Minh.<br /> Ngày nhận bài: 15/10/2016. Ngày nhận đăng: 20/3/2017<br /> Liên hệ: Phan Ngọc Huyền, e-mail: huyenpn@hnue.edu.vn<br /> <br /> 110<br /> <br /> So sánh quy định về xử phạt hành vi tham nhũng trong Quốc triều hình luật và Đại minh luật<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Quy định về xử phạt hành vi tham nhũng trong Đại Minh luật<br /> <br /> Đại Minh luật (tên gọi đầy đủ là Đại Minh luật tập giải phụ lệ) là bộ pháp điển quan trọng<br /> của vương triều Đại Minh được ban hành dưới thời Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương). Bộ luật<br /> được biên soạn từ năm Ngô nguyên niên (1364) và trải qua 3 lần hiệu chỉnh vào các năm Hồng Vũ<br /> thứ 7 (1374), Hồng Vũ thứ 22 (1389) và Hồng Vũ thứ 30 (1397) mới hoàn thành. Đại Minh luật<br /> bao gồm 30 quyển, phân thành Danh lệ 01 quyển, Lại luật 02 quyển, Hộ luật 7 quyển, Lễ luật 02<br /> quyển, Binh luật 05 quyển, Hình luật 11 quyển và Công luật 02 quyển, tổng cộng có 460 điều.<br /> Các điều luật về tội tham nhũng và xử phạt hành vi tham nhũng trong Đại Minh luật khá<br /> nhiều. Luật thời Minh có kế thừa danh mục Lục tang (chỉ các quy định về 6 loại hành vi phạm tội<br /> liên quan đến tham nhũng) của luật thời Đường song đã có sự cải biến. Đường luật quy tội thụ tang<br /> (tham ô, nhận tiền của trái pháp luật) bằng 6 hình thức phạm tội như sau: thụ tài uổng pháp (nhận<br /> tiền/của làm trái pháp luật), thụ tài bất uổng pháp (nhận tiền/của nhưng không làm trái pháp luật<br /> khi xét xử), thụ sở giám lâm (nhận tiền của của quan dân ở nơi đến công tác), cường đạo (cưỡng<br /> ép người khác để lấy tiền của), thiết đạo (ngầm chiếm đoạt của công), tọa tang (tham ô của công).<br /> Đại Minh luật lại phân Lục tang ra làm 6 loại: Giám thủ tang (quan giám lâm chủ thủ tham<br /> ô, ăn trộm của công do mình quản lí), thường nhân tang (quan lại cấp thấp hoặc người thường ăn<br /> trộm/chiếm đoạt của công), thiết đạo (ngầm tham ô, chiếm đoạt của công), uổng pháp tang (tham<br /> ô, nhận tiền của làm trái pháp luật), bất uổng pháp tang (tham ô, nhận tiền của làm trái pháp luật<br /> nhưng không làm trái pháp luật), tọa tang (tham ô của công). Đáng lưu ý là Đại Minh luật đã đặt<br /> hành vi tham ô, nhận hối lộ, ăn trộm của công của các giám thủ đạo/giám lâm chủ thủ (tức các<br /> quan viên nắm chức trách quản lí ở các châu huyện) lên hàng đầu trong số Lục tang.<br /> Điều này cho thấy các quy định về phòng chống quan lại tham nhũng trong luật thời Minh<br /> rất được xem trọng với mức xử phạt nghiêm minh. Ví dụ, trong điều luật Giám thủ tự đạo thương<br /> khố tiền lương quy định: “Phàm quan giám lâm chủ thủ lấy trộm tiền lương, đồ vật của kho khố,<br /> không phân thủ tòng, đều luận tội tham tang. . . Từ 1 quan đến 2 quan 500 văn, đánh 90 trượng; 5<br /> quan, đánh 100 trượng. . . ;25 quan, đánh 100 trượng, lưu 3000 dặm; 40 quan, xử trảm” [2;37].<br /> Trong phần Hình luật, Đại Minh luật đã đặt một mục riêng gọi là thụ tang (nhận tiền của<br /> hối lộ, chiếm dụng của công trái phép) với tổng số 11 điều, bao gồm: Quan lại thụ tài (Quan lại<br /> nhận tiền của), Tọa tang chí tội (Vướng vào tang vật đưa đến tội), Sự hậu thụ tài (Nhận tiền của sau<br /> khi xong việc), Hữu sự dĩ tài thỉnh cầu (Có việc đem tiền của thỉnh cầu), Tại quan cầu sách tá hóa<br /> nhân tài vật (Quan buộc mượn hàng hóa, tài vật của người); Gia nhân cầu sách (Để người nhà sách<br /> nhiễu tiền của), Phong hiến quan lại phạm tang (Phong hiến quan lại phạm tội ăn hối lộ), Nhân<br /> công thiện khoa liễm (Nhân việc công mà tự ý bắt dân đóng góp), Tư thu công hầu tài vật (Tư ý<br /> thu lấy tài vật của công hầu), Khắc lưu đạo tang (Giữ lại tang vật ăn trộm) và Quan lại thính hứa<br /> tài vật (Quan lại hứa nhận tài vật). Trong đó, riêng quy định về Quan lại thụ tài (Quan lại nhận tiền<br /> của) đã phân biệt chế tài giữa những “người có lộc” (chỉ những người có lương tháng không được<br /> đến 01 thạch) với những người “không có lộc” (chỉ những người có lương mỗi tháng 01 thạch trở<br /> lên) như sau: “Phàm quan lại nhận tiền của thì (căn cứ) tính theo tang vật mà xử tội. Người không<br /> có lộc thì đều được giảm một bậc. Quan thì bị truy thu bằng sắc, bãi bỏ các chức danh trong quan<br /> tịch; lại thì bị bãi dịch không kể thứ bậc nào. Trường hợp nhân có việc mà mang tiền đi hối lộ thì<br /> người đó, nếu có lộc thì tội được giảm nhẹ hơn người nhận tiền một bậc, người không có lộc thì tội<br /> được giảm nhẹ (hơn người nhận tiền) hai bậc. Tội chỉ phạt 100 trượng, bắt di chuyển đi nơi khác.<br /> Trường hợp là người nhận hối lộ thì tùy theo tang vật mà xử phạt nặng” [2;83].<br /> 111<br /> <br /> Phan Ngọc Huyền<br /> <br /> Ngoài 11 điều trong mục thụ tang như trên, trong nhiều chương, phần khác của Đại Minh<br /> luật cũng còn rất nhiều điều luật liên quan đến việc xử phạt các hành vi tham ô, nhận hối lộ.<br /> Theo thống kê của người viết, Đại Minh luật có đến 95 điều luật liên quan đến vấn đề này:<br /> <br /> Quyển/<br /> Phần<br /> <br /> Bảng 1. Tổng số điều luật về hình thức xử phạt<br /> các hành vi tham nhũng của quan lại trong “Đại Minh luật”<br /> <br /> Danh<br /> lệ luật<br /> <br /> Lại luật<br /> Chức<br /> chế<br /> 1<br /> <br /> Hộ luật<br /> <br /> Công<br /> thức<br /> 1<br /> <br /> Hộ<br /> dịch<br /> 6<br /> <br /> Điền<br /> trạch<br /> 6<br /> <br /> Thương Khóa<br /> Tiền<br /> Thị<br /> khố<br /> trình<br /> triền<br /> trái<br /> Số điều<br /> 6<br /> 20<br /> 6<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> Tổng<br /> 2<br /> 41<br /> Công luật<br /> Binh luật<br /> Hình luật<br /> Quân Quan<br /> Cứu<br /> Bưu<br /> Đạo<br /> Thụ<br /> Trá<br /> Tạp<br /> Bộ<br /> Đoán<br /> Doanh<br /> chính<br /> tân<br /> mục<br /> dịch<br /> tặc<br /> tang<br /> ngụy phạm vong ngục<br /> tạo<br /> 2<br /> 2<br /> 3<br /> 7<br /> 11<br /> 1<br /> 1<br /> 3<br /> 9<br /> 3<br /> 4<br /> 3<br /> 11<br /> 35<br /> (Nguồn: “Đại Minh luật”, Hoài Hiệu Phong biên tập, Liêu Thẩm thư xã xuất bản, năm 1990)<br /> <br /> Bảng thống kê với tổng số 95 điều luật liên quan đến việc xử phạt quan lại tham nhũng cho<br /> thấy phạm vi điều chỉnh của Đại Minh luật tính toàn diện, thể hiện trên nhiều phương diện (nhân<br /> khẩu, quản lí đất đai, thuế dịch, hình ngục. . . ) và góc độ (hành chính, dân sự, quân sự) cùng với<br /> chế tài xử phạt khá nghiêm khắc. Những điều luật này trong Đại Minh luật đã trở thành văn bản<br /> có tính pháp quy rất quan trọng của triều Minh về phòng chống tham nhũng.<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Quy định về xử phạt hành vi tham nhũng trong Quốc triều hình luật<br /> <br /> Thi hành chính sách chống tham nhũng, nhất định phải có luật pháp về chống tham nhũng.<br /> Xuất phát từ nhận thức đó, Lê Thánh Tông đã nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, chế định rất<br /> nhiều các điều luật về phòng chống tham nhũng. Đầu thời Lê Sơ, để củng cố chế độ và quản lí xã<br /> hội, hoàng đế Lê Thánh Tông đã hạ lệnh biên soạn bộ pháp điển của triều đại mình. Năm Hồng<br /> Đức thứ 14 (1483), Lê Thánh Tông đã phê chuẩn việc ban hành bộ Quốc triều hình luật (còn gọi<br /> là Lê triều hình luật hay Luật Hồng Đức). Bộ luật này gồm 6 quyển, 13 chương, 722 điều bao gồm<br /> nhiều lĩnh vực như hình pháp, dân sự, hôn nhân, gia đình. . .<br /> Trong số 13 chương của Quốc triều hình luật, có không ít điều luật có nội dung liên quan<br /> đến phòng chống tham nhũng. Trừ các chương Thông gian, Đấu tụng, Bộ vong, 10 chương còn lại<br /> đều có các quy định xử phạt các hành vi tham ô, chiếm đoạt của công. Theo thống kê của người<br /> viết, trong Quốc triều hình luật có tất cả 76 điều luật có liên quan đến chế tài xử phạt các hành vi<br /> tham ô, nhận hối lộ của quan lại. Cụ thể như sau:<br /> <br /> Chương<br /> <br /> Danh<br /> lệ<br /> <br /> Điều<br /> luật liên<br /> quan<br /> <br /> 1<br /> <br /> Bảng 2. Thống kê các điều luật có nội dung liên quan đến<br /> phòng chống tham ô trong “Quốc triều hình luật”<br /> Vệ<br /> cấm<br /> <br /> Vi<br /> chế<br /> <br /> Quân<br /> chính<br /> <br /> Hộ<br /> hôn<br /> <br /> Điền<br /> sản<br /> <br /> Đạo<br /> tặc<br /> <br /> Trá<br /> ngụy<br /> <br /> Tạp<br /> luật<br /> <br /> Đoán<br /> ngục<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> 5<br /> <br /> 23<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> <br /> 4<br /> <br /> 3<br /> <br /> 3<br /> <br /> 11<br /> <br /> 9<br /> <br /> 76<br /> <br /> (Nguồn: “Quốc triều hình luật” (bản dịch), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)<br /> <br /> 112<br /> <br /> So sánh quy định về xử phạt hành vi tham nhũng trong Quốc triều hình luật và Đại minh luật<br /> <br /> Trong số hơn 70 điều luật nói trên, nội dung phản ánh về các hành vi tham nhũng của quan<br /> lại khá đa dạng, như: tổng quan về việc trừng phạt tội người nhận hối lộ, người đưa hối lộ; thượng<br /> cấp nhận hối lộ mà bao che, dung túng cho cấp dưới; hoành hành nhũng nhiễu lương dân để lấy<br /> tiền của; nhận hối lộ mà dung túng tội phạm; nhận tiền đút lót mà miễn binh dịch cho người; ăn<br /> cắp tài vật của công; vơ vét hoặc ăn bớt của công. . .<br /> Nghiên cứu cụ thể cho thấy, các điều luật liên quan đến xử phạt hành vi tham nhũng của<br /> quan lại trong Quốc triều hình luật tập trung nhiều nhất ở chương Vi chế, tiếp đến là các chương<br /> Tạp luật, Hộ hôn và Đoán ngục. Tuy không đặt riêng thành lục Thụ tang (như Đại Minh luật) song<br /> nội dung phòng chống tham ô khá phong phú, cụ thể được biểu hiện qua những khía cạnh dưới<br /> đây:<br /> Một là, xử phạt hành vi nhận hối lộ và đưa hối lộ: hình phạt nặng nhẹ tùy thuộc vào mức<br /> độ phạm tội. Đối với người nhận hối lộ, Quốc triều hình luật quy định xử phạt như sau. Điều thứ<br /> 42, chương Vi chế viết: “Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 quan đến 9 quan thì xử tội<br /> biếm hay bãi chức, từ 10 quan đến 19 quan thì xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém.<br /> Những bậc công thần quý thần cùng những người có tài được dự vào hàng bát nghị mà ăn hối lộ từ<br /> 1 quan trở lên đến 9 quan thì xử phạt tiền 50 quan, từ 10 quan đến 19 quan thì xử phạt tiền từ 60<br /> quan đến 100 quan, từ 20 quan trở lên thì xử tội đồ, những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào<br /> kho” [4;74].<br /> Không chỉ người nhận hối lộ bị xử phạt, kẻ đưa hối lộ nếu dùng tiền bạc để nhờ vả quan<br /> trên, cố ý làm trái pháp luật cũng phải chịu tội. Nếu do oan uổng thật mà vẫn phải đi hối lộ người<br /> ta thì sẽ được xem xét giảm tội. Điều thứ 44, chương Vi chế quy định: “Những người đưa hối lộ mà<br /> xét ra việc của họ trái lẽ thì theo việc của họ mà định tội. Còn người nào thật oan khổ vì muốn cho<br /> khỏi tội mà hối lộ thì được giảm tội. Người không phải việc mình mà đi hối lộ thay người khác thì<br /> xử tội nhẹ hơn người ăn hối lộ hai bậc. Những người thuộc hạ mà xúc xiểm quan trên thì cũng xử<br /> tội như thế. Của hối lộ phải nộp vào kho” [4;75].<br /> Hai là, xử phạt việc lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu, mưu đoạt lợi lộc: Đây là nội dung<br /> được phản ánh nhiều nhất trong số các điều luật liên quan đến các hành vi tham nhũng của quan<br /> lại, chiếm khoảng hơn 20 điều trong số 76 điều luật có liên quan. Quốc triều hình luật quy định<br /> rất rõ, đối với mọi biểu hiện lợi dụng uy quyền, cưỡng chiếm tài sản công của quan lại đều xử phạt<br /> không dung túng. Chẳng hạn, điều thứ 80, chương Tạp luật viết: “Các quan cai quản quân dân các<br /> hạt, vô cớ mà đi đến những làng, xã trong hạt, hay là cho vợ cả, vợ lẽ, người nhà đi lại, mượn việc<br /> mua bán làm cớ để quấy nhiễu quân dân, lấy của biếu xén thì xử tội biếm hay bãi chức. Người tố<br /> cáo đúng sự thật thì được thưởng tùy theo việc nặng nhẹ” [4;215]. Điều thứ 86 chương Tạp luật<br /> cũng viết: “Các quan cai quản quân dân cùng những nhà quyền quý mà sách nhiễu vay mượn của<br /> cải đồ vật của dân trong hạt thì khép vào tội làm trái pháp luật và phải trả lại tài vật cho dân”<br /> [4;217].<br /> Ba là, xử phạt các hành vi lợi dụng việc công để làm việc tư, chiếm đoạt/ăn bớt/ăn cắp của<br /> công: Với những hành vi này, Quốc triều hình luật thời Lê Sơ có những quy định xử phạt khá cụ<br /> thể. Với các quan viên giữ kho khố (thường hay phạm phải tội kiểu này nhất), điều thứ 11 chương<br /> Tạp luật viết: “Những quan giữ việc thu phát của công mà trái luật (trái luật như là thu vào nhiều<br /> mà phát ra ít, đáng phát thứ cũ lại phát thứ mới, đáng nhận thứ tốt lại nhận thứ xấu) thì xử biếm<br /> một tư và tính số thừa thiếu ấy bồi thường nộp vào của công. Quan chủ ti giấu không phát giác ra<br /> thì xử phạt 50 roi, quá nữa thì xử tội biếm hay phạt. Người giữ kho bắt người đến lĩnh vật gì làm<br /> giấy biên nhận, trong giấy biên nhiều mà phát cho ít thì xử tội đồ và phải bồi thường như luật”<br /> [4;199].<br /> Riêng các lại viên khi đi trưng thu thuế lương ở các địa phương xã, thôn, nếu tâu báo số<br /> 113<br /> <br /> Phan Ngọc Huyền<br /> <br /> lượng sai để ăn bớt thì lộ, huyện, xã quan đều phải căn cứ vào các tình tiết nặng nhẹ để luận tội:<br /> “Những sổ thuế tâu lên về thuế má, đầm ao đất bãi mà tâu nhiều làm ít, đất quan làm đất hoang,<br /> hạng trên làm hạng dưới, thêm bớt thay đổi để hụt của công và tổn hại cho dân thì lộ, huyện, xã<br /> quan đều phải theo việc nặng nhẹ mà trị tội và ghép vào tội giấu giếm của cải nhà nước” [4;136].<br /> Ngoài ra, trong Quốc triều hình luật, tội ăn trộm tiền của, lợi dụng chức quyền để chiếm<br /> đoạt của công cũng bị xem là hành vi tham nhũng. Bộ luật này quy định, nếu như viên quan quản<br /> kho mà ăn trộm/lấy cắp tiền của thì cũng xếp vào tội ăn cắp của công: “Quan giám lâm, người coi<br /> kho mà tự lấy trộm thì xử như tội ăn trộm thường và phải bồi thường tang vật gấp hai lần” [4;161].<br /> Đặc biệt với hành vi ăn trộm quốc khố, quân lương, luật có quy định xử phạt rất nghiêm khắc. Chỉ<br /> cần mắc tội ăn trộm quân lương, khiến cho việc quân bị ảnh hưởng thì đều xử tử theo quân pháp.<br /> Điều thứ 30 chương Quân chính quy định rất rõ ràng: “Khi hành quân mà coi việc vận lương sai<br /> kỳ hạn, để đến nỗi hết lương, thì phải xử tội theo quân pháp. Đi đường để mất lương thực hay vật<br /> dụng thì phải đền số tổn thất; ăn trộm hay giấu giếm lương thực hay vật dụng thì phải chém và<br /> phải bồi thường gấp hai. . . ” [4;109].<br /> Các quan viên trưng thu lương thuế, nếu trưng thu mãn kì mà không nhập kho, cố ý xâm<br /> hại của công, sẽ bị xử tội đồ hay lưu. Các chương Vi chế, Hộ hôn, Điền sản đều có các quy định xử<br /> phạt tội ăn trộm lương thuế của công. Chẳng hạn, điều 44 chương Hộ hôn viết: “Nếu những quan<br /> thu tiền thuế và những đồ phải thu đã thu được mà để quá kỳ không nộp vào kho, nếu quá 2 tháng,<br /> 3 tháng, cho là tội giấu giếm, quá 4 tháng trở lên cho là tội ăn trộm; tội giấu giếm thì một quan xử<br /> biếm một tư, 10 quan biếm hai tư, 30 quan biếm ba tư, 50 quan xử đồ làm khao đinh, 100 quan đồ<br /> làm tượng phường binh, 200 quan đồ làm chủng điền binh, 300 quan trở lên thì xử lưu đi châu gần,<br /> tội ăn trộm thì xử tội theo luật ăn trộm và bồi thường gấp hai” [4; 124-125].<br /> Những dẫn chứng liên quan đến các chế tài xử phạt hành vi tham ô của quan lại ở trên cho<br /> thấy, phạm vi điều chỉnh và chế tài xử phạt tội tham ô và các hành vi liên quan khá rộng. Đây là cơ<br /> sở để xem Quốc triều hình luật như một bộ luật có giá trị về phòng chống tham ô đầu tiên trong<br /> lịch sử lập pháp Việt Nam.<br /> <br /> 2.3.<br /> <br /> So sánh các quy định xử phạt hành vi tham nhũng thể hiện trong hai bộ<br /> luật<br /> <br /> Nhìn chung, Đại Minh luật với 460 điều và Quốc triều hình luật với 722 điều đều thể hiện<br /> phạm vi điều chỉnh khá rộng đối với nhiều lĩnh vực của xã hội từ hình luật, dân sự đến tố tụng. . . với<br /> đại bộ phận là các quy định liên quan đến hình luật.<br /> Tuy nhiên, về mặt kết cấu và phân loại, dễ nhận thấy Đại Minh luật có sự hoàn thiện hơn<br /> Quốc triều hình luật. Nếu so với Đường luật, việc bộ Đại Minh luật kết cấu thành Lại luật, Hộ<br /> luật, Lễ luật, Hình luật... đã thể hiện rõ tính cụ thể và sự hoàn thiện hơn một bước về trình độ lập<br /> pháp. Bộ Quốc triều hình luật của nhà Lê sơ có tham khảo “tinh thần lập pháp” của luật Đường,<br /> luật Minh nhưng chủ yếu tham khảo kết cấu luật của nhà Đường, phân làm các chương Danh lệ,<br /> Vệ cấm, Vi chế, Quân chính, Đạo tặc, Đấu tụng, Đoán ngục. Vì vậy, tính hoàn thiện về kết cấu của<br /> Quốc triều hình luật không thể ngang bằng với Đại Minh luật, đó cũng là điều dễ hiểu.<br /> Nếu so sánh về nội dung các tội danh liên quan đến hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có thể<br /> thấy Đại Minh luật quy định các tội danh Lục tang khá cụ thể. Trong phần Hình luật, Đại Minh<br /> luật đặt Thụ tang (nhận tang vật hối lộ) thành một phần riêng với tổng số 11 điều quy định mức xử<br /> phạt khác nhau đối với các hành vi khác nhau. Biên mục này trong Quốc triều hình luật không có.<br /> Về số điều luật xử phạt các hành vi tham nhũng của quan lại, cả hai bộ luật đều có khá<br /> không ít quy định liên quan. Tuy nhiên, theo con số thống kê tương quan thì tỉ lệ số điều luật về<br /> 114<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản