intTypePromotion=1
ADSENSE

Sự định vị và tính phản thân trong nghiên cứu định tính một tiếp cận phương pháp luận trong nghiên cứu kinh tế thị trường của người Dao ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

56
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết hướng đến thảo luận về “sự định vị” và “tính phản thân”, hai thuật ngữ quan trọng trong nghiên cứu định tính. Đây có thể coi là một thảo luận về phương pháp luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu thực địa nhằm trả lời những câu hỏi như nhà nghiên cứu là ai và ở vị trí nào trên thực địa?; Quá trình thực địa nhà nghiên cứu tương tác với đối tượng nghiên cứu như thế nào? Vấn đề đạo đức nghề nghiệp trong quá trình thực địa được thể hiện ra sao?...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sự định vị và tính phản thân trong nghiên cứu định tính một tiếp cận phương pháp luận trong nghiên cứu kinh tế thị trường của người Dao ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> <br /> KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ<br /> <br /> SỰ ĐỊNH VỊ VÀ TÍNH PHẢN THÂN TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH<br /> MỘT TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU<br /> KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DAO<br /> Ở HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI<br /> Bùi Minh Hào(1)<br /> <br /> T<br /> <br /> rong nhiều năm qua, phương pháp luận được quan tâm nhiều trong các ngành khoa học xã hội<br /> nói chung và Nhân học nói riêng. Tuy nhiên, phần nhiều các tác giả đều đặt mối quan tâm vào<br /> những công đoạn, những thao tác cụ thể. Trong khi đó, những thảo luận về phương pháp luận trên<br /> phương diện triết học rất ít khi được quan tâm. Dựa trên quá trình nghiên cứu thực địa về người Dao<br /> ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, bài viết hướng đến thảo luận về “sự định vị” và “tính phản thân”, hai<br /> thuật ngữ quan trọng trong nghiên cứu định tính. Đây có thể coi là một thảo luận về phương pháp<br /> luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu thực địa nhằm trả lời những câu hỏi như nhà nghiên cứu<br /> là ai và ở vị trí nào trên thực địa?; Quá trình thực địa nhà nghiên cứu tương tác với đối tượng nghiên<br /> cứu như thế nào? Vấn đề đạo đức nghề nghiệp trong quá trình thực địa được thể hiện ra sao?... Nói<br /> cách khác, đó là một cách tiếp cận quá trình trải nghiệm của nhà nghiên cứu trên thực địa nhằm tìm<br /> hiểu thế giới quan, nhân sinh quan của chính nhà nghiên cứu.<br /> Từ khóa: Sự định vị; tính phản thân; phương pháp nhân học; nghiên cứu định tính; người Dao<br /> ở huyện Sa Pa.<br /> Trong vài thập niên gần đây, thuật ngữ “trải<br /> nghiệm” được nhiều nhà khoa học xã hội quan tâm,<br /> đặc biệt là các nhà nhân học và hình thành cả một<br /> lĩnh vực về nhân học trải nghiệm. Khái niệm trải<br /> nghiệm được hiểu như là một quá trình tiếp xúc,<br /> tương tác với các yếu tố trong một môi trường nhất<br /> định và có ảnh hưởng đến tri thức, kỹ năng và quan<br /> điểm cuộc sống của chủ thể nhất định. Nói đến trải<br /> nghiệm là nói đến trải nghiệm của một chủ thể nhất<br /> định, không phải là một đối tượng chung chung.<br /> Chủ thể của trải nghiệm có thể là một cá nhân hoặc<br /> một cộng đồng. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên<br /> cứu về trải nghiệm tập trung vào phân tích sự trải<br /> nghiệm của đối tượng nghiên cứu của họ. Đó là trải<br /> nghiệm cá nhân của một người qua những nghiên<br /> cứu về lịch sử cuộc đời, hay trải nghiệm của một<br /> cộng đồng trong một giai đoạn nào đó qua những<br /> nghiên cứu về hồi cố. Điều này phần nào cho thấy<br /> sự quan tâm đến trải nghiệm của đối tượng mà nhà<br /> nghiên cứu tiếp cận. Sự trải nghiệm được nghiên<br /> cứu, phân tích để hướng đến lý giải các quá trình<br /> vận động của đối tượng chủ thể. Còn trải nghiệm<br /> của chính các nhà nghiên cứu thì sao? Đó vẫn còn là<br /> một khoảng trống trong quá trình nghiên cứu về lịch<br /> sử khoa học ở Việt Nam. Tại sao phải tìm hiểu sự<br /> trải nghiệm của các nhà nghiên cứu? Bởi đó là một<br /> con đường để tiếp cận thế giới quan, nhân sinh quan<br /> của nhà khoa học, là một con đường để hiểu sâu hơn<br /> về các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học.<br /> Quá trình trải nghiệm của các nhà nghiên cứu chính<br /> Ngày nhận bài: 23/5/2018; Ngày phản biện: 27/5/2018; Ngày duyệt đăng: 5/6/2018<br /> (1)<br /> Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; e-mail: buihao261@gmail.com<br /> <br /> là quá trình tương tác giữa nhà nghiên cứu với đối<br /> tượng nghiên cứu, nó ảnh hưởng nhiều đến thế giới<br /> quan, nhân sinh quan, quan điểm khoa học và cả<br /> đạo đức khoa học của nhà nghiên cứu.<br /> Bài viết này thảo luận về một số trải nghiệm<br /> của tác giả trong khoảng hơn 10 năm (2007-2018)<br /> nghiên cứu thực địa đối với nhóm người Dao ở<br /> huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Trong khoảng thời gian<br /> này đã có nhiều chuyến khảo sát với nhiều chủ đề<br /> quan tâm khác nhau và một số kết quả nghiên cứu<br /> đã được trình bày trong một số bài viết hay luận<br /> văn liên quan. Tuy nhiên, trong quá trình tiếp cận,<br /> do nhiều nguyên nhân khác nhau nên chưa thể trình<br /> bày có hệ thống những phương pháp, thao tác kỹ<br /> thuật đã vận dụng trên thực địa, đặc biệt là các<br /> phương pháp định tính-phương pháp chủ đạo được<br /> lựa chọn trong quá trình sản xuất tri thức. Điều đó<br /> cũng không phải lạ lẫm gì bởi trong truyền thống<br /> học thuật Việt Nam, các vấn đề phương pháp nghiên<br /> cứu thường được coi như là công tác hậu trường và<br /> ít khi được đưa ra để phân tích trên các công trình<br /> nghiên cứu học thuật. Nó chỉ được bàn luận nhiều<br /> trong khâu chuẩn bị cho một dự án nghiên cứu.<br /> Gần đây, các phương pháp trong nghiên cứu<br /> khoa học ở Việt Nam được nhiều người quan tâm.<br /> Khi thảo luận về vấn đề này, một nhà nghiên cứu<br /> nước ngoài nhận xét: “Việt Nam có khuynh hướng<br /> áp dụng mô hình thực chứng đã thống trị trong các<br /> thiết kế nghiên cứu thực nghiệm và thực tiễn, nên<br /> <br /> 55<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> các phương pháp định lượng được chú trọng nhiều<br /> hơn. Điều này có nghĩa là các bảng câu hỏi, khảo sát<br /> và lập bản đồ thường được ưa thích hơn các cuộc<br /> phỏng vấn bán cấu trúc, lịch sử truyền miệng, quan<br /> sát tham gia hay các phương pháp nghiên cứu cụ<br /> thể khác”1. Nhận xét này có thể đúng trong một số<br /> lĩnh vực khoa học, tuy nhiên, trong nghiên cứu dân<br /> tộc học-nhân học ở Việt Nam thì chưa hẳn chính<br /> xác. Từ khá sớm, các nhà dân tộc học Việt Nam,<br /> có thể chịu ảnh hưởng từ truyền thống dân tộc học<br /> Pháp, đã hình thành phương pháp nghiên cứu điền<br /> dã dài ngày và sử dụng nhiều phương pháp nghiên<br /> cứu định tính2. Hầu hết các công trình nghiên cứu<br /> Dân tộc học, Nhân học của nhiều học giả nổi tiểng<br /> ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX<br /> như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Từ Chi, Đặng<br /> Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật… đều là kết quả của<br /> quá trình nghiên cứu định tính. Đặc biệt là quá trình<br /> nghiên cứu thực địa và phương pháp định tính của<br /> Nguyễn Từ Chi, một người có ảnh hưởng rộng lớn<br /> về phương pháp luận đối với Dân tộc học Việt Nam<br /> nửa sau thế kỷ XX và được nhiều người xem là mẫu<br /> mực trong phương pháp luận3. Các phương pháp<br /> định lượng mới phổ biến vài thập niên gần đây<br /> trong xã hội học hay một số ngành khác. Điều đó để<br /> phần nào khẳng định rằng các phương pháp nghiên<br /> cứu định tính trong khoa học xã hội, đặc biệt trong<br /> nghiên cứu nhân học không phải là vấn đề mới. Tuy<br /> nhiên, bàn luận về các phương pháp định tính dưới<br /> góc nhìn triết học hay phương pháp luận thì lại mới<br /> được quan tâm gần đây khi xuất hiện những công<br /> trình nghiên cứu thảo luận trực tiếp về vấn đề này4.<br /> Trong khi các nhà nghiên cứu Việt Nam tập<br /> trung sự quan tâm vào các thao tác, kỹ thuật hay các<br /> Scott, Miller và Lloyd, Doing Fieldwork in Development Geography:<br /> Research Culture and Research Spaces in Vietnam. Geographical Research,<br /> March 2006, 44(1): pp 31.<br /> 2.<br /> Theo Nguyễn Duy Thiệu, Từ Chi với trường phái dân tộc học đề cao nghiên<br /> cứu thực địa. In trong “Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên<br /> cứu và đào tạo. Nxb Tri thức, 2016, Hà Nội. Trang 155-172.<br /> 3.<br /> Xem Bùi Xuân Đính, Từ Chi và nghiên cứu về làng xã-những điều ông dạy<br /> học trò. In trong “Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu<br /> và đào tạo”. Nxb Tri thức, 2016, Hà Nội. Trang 143; Lê Hồng Lý, Nhà dân<br /> tộc học Từ Chi và cách ông dạy học trò. In trong “Nhân học ở Việt Nam:<br /> Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo”. Nxb Tri thức, 2016, Hà Nội.<br /> Trang 173; Trần Hữu Sơn, Cá tính Từ Chi trong ứng xử với nghề dân tộc học.<br /> In trong “Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào<br /> tạo”. Nxb Tri thức, 2016, Hà Nội. Trang 183; Nguyễn Duy Thiệu, Từ Chi với<br /> trường phái dân tộc học đề cao nghiên cứu thực địa. In trong “Nhân học ở<br /> Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo. Nxb Tri thức, 2016,<br /> Hà Nội. Trang 155-172.<br /> 4.<br /> Xem Gillian Rose, Situating knowledges: positionality, reflexivities and<br /> otler tactics, Rrogrexx in Yuman Geography Z1,3 (1997) pp. 305-320; Scott,<br /> Miller và Lloyd, Doing Fieldwork in Development Geography: Research<br /> Culture and Research Spaces in Vietnam. Geographical Research, March<br /> 2006, 44(1):28– 40; Nairn, Munroand và Smith, A counter-narrative of a<br /> ‘failed’ interview. Qualitative Research 2005, 5, pp 221-244; Nguyễn Thu<br /> Hương, Anthropology at ‘home’ through the lens of ntersubjectivity: Countertransference while interviewing a ‘vulnerable’ Vietnamese woman. Medische<br /> Antropologie 19(1), 2007, pp 23-38; Christine Bonnin, Navigating fieldwork<br /> politics, practicalities and ethics in the upland borderlands of northern<br /> Vietnam. Asia Pacific Viewpoint, Vol. 51, No. 2, August 2010. ISSN 13607456, pp179–192; MacKenzie, Christensen và Turner, Advocating beyond the<br /> academy: dilemmas ò communicating relevant. Qualitative Research, 2015,<br /> Vol. 15(1), 105-121.<br /> 1.<br /> <br /> 56<br /> <br /> KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ<br /> phương pháp cụ thể trong nghiên cứu định tính, thì<br /> các nhà nghiên cứu nước ngoài lại quan tâm nhiều<br /> đến góc độ triết học. Trong đó, người ta thảo luận<br /> nhiều về hai khái niệm Positionality và Reflexivity.<br /> “Positinality” là một thuật ngữ trìu tượng, có thể<br /> hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong nghiên cứu<br /> nhân học, có thể tạm hiểu thuật ngữ này là “sự định<br /> vị” của nhà nghiên cứu, bao gồm dân tộc, giới tính,<br /> tôn giáo, xu thế tình dục, giai tầng, quan điểm sống<br /> (hay quan điểm chính trị), sự trải nghiệm… cũng<br /> như khả năng kết hợp, vận dụng các yếu tố này vào<br /> các trường hợp cụ thể. Trong khi đó, “reflexivity”<br /> có thể hiểu là “tính phản thân”, là quá trình tự nhận<br /> thức về bản thân nhà nghiên cứu trong sự đồng cảm,<br /> chia sẻ và tương tác với đối tượng nghiên cứu, là<br /> một quá trình hướng nội của nhà nghiên cứu trong<br /> quá trình tương tác với đối tượng nghiên cứu. Sự<br /> định vị và tính phản thân có vai trò quan trọng trong<br /> việc xác định vị thế, quá trình tiếp cận và khai thác<br /> thông tin cũng như đạo đức khoa học của người làm<br /> nghiên cứu. Nó cũng ảnh hưởng lớn đến thế giới<br /> quan, nhân sinh quan của người nghiên cứu trong<br /> các công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên,<br /> không phải ai bước vào con đường nghiên cứu nhân<br /> học cũng được trang bị những hiểu biết về sự định vị<br /> và tính phản thân trong nghiên cứu định tính. Nhất<br /> là ở Việt Nam, khi mà sự trang bị về phương pháp<br /> luận trong quá trình học tập không thật sự chu đáo.<br /> Nó được nhận thức lại từ trải nghiệm, tương tác và<br /> suy nghiệm trong quá trình tiếp cận với đối tượng<br /> nghiên cứu dựa trên nền tảng tri thức về phương<br /> pháp luận được học hỏi và đúc rút từ bản thân.<br /> Đối với các nhà nghiên cứu mới vào nghề, ban<br /> đầu chỉ là thực hành một số thao tác được gọi nôm<br /> na là “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) để tìm<br /> hiểu cuộc sống của đối tượng nghiên cứu. Dân tộc<br /> và cả quốc tịch cũng là những vấn đề ảnh hưởng<br /> đến công việc của người nghiên cứu. Là một người<br /> Kinh-dân tộc đa số ở Việt Nam, khi tiếp cận với<br /> người dân tộc thiểu số, cũng là người “ngoại tộc”<br /> nên cũng có những khó khăn. Tuy nhiên, là công<br /> dân Việt Nam thì việc tiếp cận các dân tộc thiểu số<br /> trong nước vẫn thuận lợi hơn so với các nhà nghiên<br /> cứu là người nước ngoài. Một số nhà nghiên cứu<br /> như Scott, Miller và Lloyd hay Bonnin đã kể lại<br /> cuộc hành trình gian lao về các thủ tục hành chính<br /> khi tiếp cận các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Việt<br /> Nam. Một thực tế đã qua là càng nhìn về quá khứ,<br /> quá trình tiếp cận đối tượng của các nhà nghiên cứu<br /> nước ngoài ở Việt Nam càng nhiều khó khăn. Khó<br /> khăn vì hệ thống thủ tục hành chính chồng chéo,<br /> về các mối quan tâm liên quan đến an ninh quốc<br /> gia, vì sự tương tác của người dân với người nước<br /> ngoài còn hạn chế… Tuy nhiên, cùng với quá trình<br /> hội nhập, số lượng các nhà khoa học nước ngoài<br /> đến Việt Nam nghiên cứu cũng tăng lên. Cái nhìn<br /> về học thuật của người nước ngoài ở Việt Nam<br /> cũng thay đổi. Cùng với đó là những cải cách hành<br /> <br /> Số 22 - Tháng 6 năm 2018<br /> <br /> KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> chính, những thay đổi về tư duy, suy nghĩ của người<br /> dân và các cán bộ địa phương. Những điều đó làm<br /> cho việc tiếp cận nghiên cứu của người nước ngoài<br /> được thuận lợi hơn. Dù vậy, họ vẫn gặp nhiều khó<br /> khăn mà những phản ánh của Scott, Miller và Lloyd<br /> hay Bonnin đến nay vẫn còn hiện hữu. Còn với một<br /> người Việt Nam, dù có những điều kiện thuận lợi<br /> hơn khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu, nhưng nhiều<br /> khi cũng mất nhiều thời gian đến sưu tầm tài liệu<br /> ở các cơ quan địa phương do vấn đề thủ tục. Hầu<br /> hết các nhà nghiên cứu trẻ, khi mới vào nghề còn<br /> chưa có kinh nghiệm gì về thực địa, thì mọi thứ đều<br /> rất lạ lẫm và mới mẻ. Trải qua một hành trình gần<br /> chục năm với nhiều chuyến điền dã đã tạo nên cho<br /> họ một số trải nghiệm khá thú vị. Cùng với đó là<br /> những hiểu biết mới về phương pháp luận sẽ gợi<br /> mở ra những nhận thức khác hơn về công việc của<br /> mình, nhất là nhìn lại quá trình thực địa qua những<br /> khái niệm như “sự định vị” hay “tính phản thân”.<br /> Thực ra, không phải gần đây người ta mới quan<br /> tâm đến “sự định vị” hay “tính phản thân” trong<br /> nghiên cứu điền dã dân tộc học-nhân học. Có chăng<br /> đó chính là đi sâu hơn vào phân tích, thảo luận về<br /> phương diện khái niệm và đưa những vấn đề này<br /> lên thành đối tượng nghiên cứu về phương pháp<br /> luận khoa học. Còn những giá trị của “sự định<br /> vị” và “tính phản thân” đã được nhiều nhà dân<br /> tộc học tiền bối thể hiện từ hàng chục năm trước.<br /> Trước hết, đó là nhà dân tộc học nổi danh thế giới<br /> Goerge Condominas với một diễn ngôn nổi tiếng.<br /> Năm 1948, Condominas đến Sar Luk, tiếp xúc với<br /> người Mnông Gar khởi đầu cho một sự nghiệp lẫy<br /> lừng của mình. Quá trình thực địa ở Tây Nguyên<br /> Việt Nam đã đưa ông đi đến một kết luận: “Tôi đã<br /> tìm ra chính bản thể của mình”5. Đây chính là một<br /> tuyên ngôn về “tính phản thân” trong nghiên cứu<br /> thực địa dân tộc học. Quá trình nghiên cứu thực địa<br /> không chỉ là quá trình nhà nghiên cứu tìm hiểu về<br /> đối tượng nghiên cứu, mà còn là quá trình khám<br /> phá bản thân qua sự tương tác với đối tượng nghiên<br /> cứu. Sau đó nữa, cũng một học giả nổi tiếng là<br /> Nguyễn Từ Chi đã nhấn mạnh đến sự định vị của<br /> nhà dân tộc học trong quá trình nghiên cứu thực địa<br /> khi đưa ra diễn ngôn mang tính nguyên tắc: “Dân<br /> tộc học là học dân”. Trên thực địa, với đối tượng<br /> nghiên cứu, nhà dân tộc học không phải là những<br /> nhà thông thái, càng không phải là những người cán<br /> bộ chính sách hay nhà quản lý. Ở đó, họ phải đặt<br /> mình vào nhiều vị trí khác nhau, để học được nhiều<br /> tri thức, hiểu được nhiều vấn đề. Đó cũng là lý do<br /> mà G.Condominas đã kết luận về cuộc đời làm dân<br /> tộc học của mình: “Với tôi, dân tộc học là một loại<br /> hình sống”6. Quan niệm đó cũng ảnh hưởng lớn đến<br /> Nguyễn Từ Chi sau đó. Xuyên suốt cuộc đời nghiên<br /> cứu của hai nhà dân tộc học trứ danh này là khẳng<br /> Nguyên Ngọc, Loại hình sống” Condominas. In trong “Nguyên Ngọc: Tác<br /> phẩm”. Tập 2. Nxb Hội Nhà văn, 2009, Hà Nội, trang 116.<br /> 6.<br /> Nguyên Ngọc, Loại hình sống” Condominas. In trong “Nguyên Ngọc: Tác<br /> phẩm”. Tập 2. Nxb Hội Nhà văn, 2009, Hà Nội, trang 113.<br /> 5.<br /> <br /> Số 22 - Tháng 6 năm 2018<br /> <br /> định sự định vị của nhà nghiên cứu trên thực địa. Nó<br /> đúng với tuyên ngôn của G. Condominas về công<br /> tác của nhà dân tộc học trên thực địa: “Anh vừa phải<br /> quên và làm cho mọi người trong làng quên tư cách<br /> nhà dân tộc học đến quan sát của anh đi, cố gắng<br /> không để cho sự có mặt của mình làm biến dạng<br /> cuộc sống ở đây, đồng thời anh phải cứ là một nhà<br /> dân tộc học tò mò, chăm chú, thậm chí trong từng<br /> giây phút, để quan sát, ghi chép, đánh giá. Nghĩa là<br /> vừa phải nhập vào đến tận cùng, vừa lại phải tách ra<br /> đến mức tỉnh táo”7. Điều đó cho thấy, ngay từ giữa<br /> thế kỷ XX, các nhà dân tộc học đã quan tâm đến sự<br /> định vị và tính phản thân trong nghiên cứu thực địa.<br /> Tuy nhiên, họ xem đó là những nguyên tắc mà họ<br /> thực hiện trong quá trình nghiên cứu, chứ chưa xem<br /> nó là đối tượng để nghiên cứu, để trình bày trong<br /> các nghiên cứu. Nhưng nó cũng là sự nhận thức,<br /> phát triển các nguyên tắc của các nhà dân tộc học<br /> khi tiến hành thực địa ở các cộng đồng, các nền văn<br /> hóa khác biệt.<br /> Quay lại đề tài cụ thể ở đây, khi tiến hành nghiên<br /> cứu về người Dao là bắt đầu đi vào một nền văn<br /> hóa khác biệt. Sự khác biệt là một vấn đề đáng<br /> được quan tâm trong nghiên cứu thực địa vì nó ảnh<br /> hưởng nhiều đến quá trình khai thác thông tin. Làm<br /> sao để từ sự khác biệt về nhiều yếu tố, có thể tìm<br /> và nhận được sự đồng cảm, chia sẻ và tương tác<br /> của đối tượng nghiên cứu? Bước vào cuộc sống<br /> của một cộng đồng với nền văn hóa khác cũng là<br /> một cuộc dấn thân mà ở đó, nhiều điều thú vị đang<br /> chờ khám phá nhưng cũng không thiếu những nguy<br /> hiểm mà nhà nghiên cứu phải đối diện. Nhiều tình<br /> huống không mong đợi lại xẩy ra bất ngờ và nhiều<br /> khi trở nên khó xử, trong những trường hợp, chỉ<br /> cần có một ứng xử không phù hợp có thể khiến cả<br /> cuộc điền dã bị thất bại hoàn toàn. Nhưng dù cẩn<br /> thận đến đâu thì những “thất bại” trong quá trình<br /> thực địa là không tránh khỏi. Ví dụ thực tế là có<br /> một nhà nghiên cứu trẻ đã đến điền dã dân tộc học<br /> ở Sa Pa, nhưng ngay những lần đầu tiên, khi mang<br /> sổ đến phỏng vấn các gia đình tham gia sản xuất<br /> thuốc tắm trên địa bàn thực địa, đã không thu được<br /> kết quả mong muốn. Những người phụ nữ ở đây<br /> thường nói rằng “người dân ở đây khổ lắm, phải<br /> đi làm cả ngày thôi, phải làm nhiều việc thôi…”<br /> rồi họ tập trung vào công việc. Khi nhà nghiên cứu<br /> trình bày là muốn hỏi họ về quá trình sản xuất, buôn<br /> bán thuốc tắm và thổ cẩm thì họ chỉ nói rằng họ<br /> làm theo các gia đình khác và đem bán cho khách<br /> nếu khách có nhu cầu. Và họ cũng chẳng biết nói gì<br /> thêm. Khi nhà nghiên cứu từ chối mua hàng hóa của<br /> họ thì gần như họ không muốn nói chuyện tiếp. Gần<br /> như 3 ngày đầu tiên ở thực địa, những cuộc phỏng<br /> vấn đều không thu được nhiều thông tin. Những câu<br /> hỏi đưa ra được đối tượng trả lời một cách ngắn<br /> gọn và người dân phản ứng với nhà nghiên cứu<br /> Nguyên Ngọc, Loại hình sống” Condominas. In trong “Nguyên Ngọc: Tác<br /> phẩm”. Tập 2. Nxb Hội Nhà văn, 2009, Hà Nội, trang 116-117<br /> 7.<br /> <br /> 57<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> chưa có nhiều thiện cảm vì hai bên chưa hiểu biết<br /> nhiều về nhau. Thực ra, những hành động, thái độ<br /> và cử chỉ của họ cũng là những thông tin quý giá<br /> nhưng lúc đó người thực địa chưa đủ kinh nghiệm<br /> để nhận ra được “ngôn ngữ cơ thể” của họ. Đó có<br /> thể nói là những cuộc phỏng vấn thất bại đầu đời và<br /> gợi ra nhiều suy nghĩ. Những “thất bại” trong các<br /> cuộc phỏng vấn, như phân tích của Nairm và đồng<br /> nghiệp là một thách thức với nhà nghiên cứu: “Để<br /> đặt một cuộc phỏng vấn “không thành công” làm<br /> trọng tâm của một bài báo học thuật tiềm ẩn nguy<br /> cơ bị phản bác bởi học thuật là một lĩnh vực cạnh<br /> tranh, nơi mà “thành công”, chứ không phải “thất<br /> bại”, được khen ngợi”8. Tuy nhiên, từ những nghiên<br /> cứu của mình, các tác giả này cũng nhấn mạnh vai<br /> trò của việc phân tích các cuộc phỏng vấn “thất bại”<br /> trong quá trình sản sinh tri thức của nhà nghiên<br /> cứu. Phân tích sự “không thành công” của các cuộc<br /> phỏng vấn luôn làm cho nhà nghiên cứu nhận thức<br /> sâu hơn về đối tượng của mình và về bản thân mình<br /> cũng như cách thức mà mình tiếp cận, để từ đó thay<br /> đổi chiến thuật cho những cuộc phỏng vấn tiếp theo<br /> có hiệu quả hơn. Và khi phân tích lại những “thất<br /> bại” ban đầu của mình, nhà nghiên cứu nhận thấy<br /> sự xuất hiện quá mới lạ của mình và cách đặt vấn đề<br /> trực tiếp là không hiệu quả. Do vậy cần phải chuyển<br /> sang chiến thuật làm quen, tạo mối quan hệ và bước<br /> vào câu chuyện một cách tự nhiên hơn thì kết quả<br /> thu được khả quan hơn.<br /> Định vị bản thân trên nghiên cứu thực địa tạo<br /> tâm thế cho nhà nghiên cứu vững vàng hơn trong<br /> quá trình thu thập thông tin, dữ liệu. Nó cũng giúp<br /> nhà nghiên cứu hạn chế những nguy hiểm rình rập<br /> hay tránh được sự nhầm lẫn về mục đích. Một nhà<br /> nghiên cứu điền dã dân tộc học giàu kinh nghiệm đã<br /> kết luận rằng: Đi nghiên cứu dân tộc học ở miền núi<br /> phải có tâm hồn lãng mạn một chút để luôn luôn có<br /> cảm hứng tìm tòi và có đủ nghị lực vượt qua những<br /> khó khăn trên rừng núi. Tại địa bàn thực địa, các<br /> nhà nghiên cứu trẻ dễ được các cô gái bản địa trẻ<br /> đẹp chú ý. Chẳng ai có thể cấm đoán những người<br /> thanh niên mơ mộng, nhất là khi cả hai phía đều có<br /> những sự khác biệt về văn hóa có thể chia sẻ với<br /> nhau để khám phá sự mới mẻ. Nó giống như chuyện<br /> tình rất đẹp và lãng mạn của một nhà văn nổi tiếng<br /> với một cô gái Mông ở cao nguyên Đồng Văn trong<br /> một tập bút ký nổi tiếng được nhiều nhà dân tộc học<br /> yêu thích. Tuy nhiên, là người đang làm công tác<br /> học thuật, thì những suy nghĩ “tài tử” như một nhà<br /> văn, một nghệ sĩ là chưa hợp lý. Như Max Weber<br /> lập luận: “Hầu như tất cả các ngành khoa học xã hội<br /> đều mang ơn những người “tài tử” về những nhận<br /> xét thường khá hay, đôi khi quý báu. Nhưng nếu<br /> cách làm việc tài tử trở thành nguyên tắc khoa học,<br /> thì chính nó sẽ kết liễu khoa học”9. Nếu nhà nghiên<br /> Nairn, Munroand và Smith, A counter-narrative of a ‘failed’ interview.<br /> Qualitative Research 2005, 5, pp 237.<br /> 9.<br /> Max Werber, (2010), Nền đạo đức tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư<br /> bản. (Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng, Trần Hữu Quang<br /> dịch). Nxb Tri thức, Hà Nội. Trang 64.<br /> 8.<br /> <br /> 58<br /> <br /> KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ<br /> cứu chú ý đến các cô gái bản địa (về tình cảm) thì<br /> có nghĩa là tự đặt mình vào vị trí đối thủ cạnh tranh<br /> (về mặt tình cảm) với những người con trai khác<br /> trong bản và nó sẽ gây nhiều bất lợi cho công việc,<br /> thậm chí còn nguy hiểm cho nhà nghiên cứu. Và<br /> điều đó cũng khiến cho nhà nghiên cứu phải mất<br /> thời gian xử lý những mối quan hệ nhạy cảm này<br /> để có thể làm việc lâu dài tại địa phương. Những<br /> khó khăn không chỉ xuất hiện trong giai đoạn nhà<br /> nghiên cứu mới xuất hiện ở địa bàn nghiên cứu, mà<br /> ngay cả khi nhà nghiên cứu có một quá trình thực<br /> địa lâu dài, gây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với<br /> người dân địa phương, thì vẫn còn hiện hữu nhiều<br /> khó khăn. Sự lạ lẫm, xa lạ là một hạn chế. Nhưng<br /> nhiều khi, những khó khăn lại xuất hiện từ chính sự<br /> thân thuộc giữa nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên<br /> cứu, từ tình cảm mà người dân địa phương dành cho<br /> nhà nghiên cứu. Đó là những gì được rút ra được<br /> từ sự trải nghiệm của người thực địa trong nhiều<br /> năm thực địa ở người Dao. Trong một khoảng thời<br /> gian khá dài, người thực địa chỉ ở lại trong một gia<br /> đình trên địa bàn nghiên cứu. Được mọi người trong<br /> gia đình cũng coi như một thành viên quen thuộc,<br /> là “người nhà” của họ. Nhưng rồi sự việc xẩy ra<br /> ngoài ý muốn khi người chủ nhà có một cậu con trai<br /> cũng trạc tuổi nhà nghiên cứu. Họ trở thành đôi bạn<br /> hay uống rượu và nói chuyện với nhau. Nhưng khi<br /> người này bỏ việc, sa đà vào các cuộc ăn nhậu nhiều<br /> hơn mà không quan tâm đến công việc thì người chủ<br /> nhà thường hay mắng. Trong một số câu chuyện,<br /> người chủ nhà lấy nhà nghiên cứu ra so sánh với cậu<br /> con trai như để phê phán. Điều đó làm cho cậu ta<br /> bực mình và coi nhà nghiên cứu như là một nguyên<br /> nhân mà cậu bị mắng. Nhà nghiên cứu đã mất khá<br /> nhiều thời gian trò chuyện và chia sẻ với con chủ<br /> nhà thì mối quan hệ mới tốt đẹp hơn. Nhưng sau<br /> những sự việc đó, đã xuất hiện một khoảng cách<br /> giữa họ. Nó làm cho nhà nghiên cứu không cảm<br /> thấy thoải mái trong quá trình thực địa. Mặc dù đây<br /> là tình huống ngoài dự kiến và ngoài sự kiểm soát<br /> của nhà nghiên cứu, nhưng nếu chú ý hơn và mẫn<br /> cảm hơn thì có lẽ những sự việc như vậy đã không<br /> xẩy ra. Đó là những bài học kinh nghiệm đầu tiên<br /> trong quá trình nghiên cứu thực địa giúp nhà nghiên<br /> cứu không ngừng suy ngẫm và định vị lại bản thân<br /> trong quá trình nghiên cứu. Sự định vị bản thân một<br /> cách hợp lý là điều kiện để xử lý tình huống cũng<br /> như tránh các nguy hiểm trên thực địa, những cái<br /> mà trong trường học ít khi được giảng dạy.<br /> Giới tính cũng là vấn đề ảnh hưởng đến quá trình<br /> thu thập dữ liệu trên thực địa. Không thể khẳng định<br /> được rằng nam giới thì thuận lợi hơn nữ giới trong<br /> quá trình nghiên cứu thực địa hay ngược lại, mà điều<br /> đó còn phụ thuộc vào chủ đề, địa bàn nghiên cứu,<br /> đối tượng nghiên cứu cụ thể. Nhiều người nghĩ rằng<br /> đi lên vùng dân tộc thiểu số, phải tiếp xúc với văn<br /> hóa rượu, phải đi lại nhiều thì nam giới có lợi thế. Có<br /> thể góc độ nào đó, nhận xét này cũng có lý, nhưng<br /> <br /> Số 22 - Tháng 6 năm 2018<br /> <br /> KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc <br /> nó không đúng với mọi trường hợp. Giới tính, vấn<br /> đề được Naim với cộng sự, và cả Bonin phân tích<br /> khá kỹ cả về đối tượng nghiên cứu lẫn người thông<br /> dịch. Trong đó, các tác giả không khẳng định giới<br /> tính nào thuận lợi hơn mà đi vào phân tích những<br /> khó khăn của từng giới tính trong những trường hợp<br /> cụ thể. Trường hợp cụ thể đang được phân tích ở<br /> đây, khi tiếp cận những người Dao, là nam giới nên<br /> nhà nghiên cứu có nhiều thuận lợi khi tiếp xúc với<br /> họ dễ dàng hơn qua những cuộc rượu cũng như sự<br /> cơ động trong quá trình di chuyển. Tuy nhiên, phần<br /> lớn các hoạt động thị trường của người Dao đều<br /> là phụ nữ, trong đó có nhiều lứa tuổi khác nhau.<br /> Và điều này cũng gây ra những khó khăn nhất định<br /> cho công việc của nhà nghiên cứu. Trong một lần đi<br /> phỏng vấn một người phụ nữ trẻ tham gia khá sớm<br /> vào hoạt động du lịch tại nhà (homestay) ở đây, nhà<br /> nghiên cứu được gia đình chị mời ở lại ăn cơm và<br /> trò chuyện. Vì công việc này chủ yếu liên quan đến<br /> người phụ nữ nên sau bữa cơm rượu, người vợ ra<br /> hiệu cho chồng vào trong để chị trả lời các câu hỏi<br /> mà nhà nghiên cứu đưa ra. Cuộc phỏng vấn cũng<br /> thu được nhiều thông tin thú vị, nhưng ngày hôm<br /> sau, có người cho nhà nghiên cứu biết rằng vì buổi<br /> làm việc hôm qua của ông mà vợ chồng nhà chị kia<br /> xẩy ra mâu thuẫn. Có thể anh chồng cảm thấy “tổn<br /> thương” khi không được tham gia vào câu chuyện,<br /> hay cảm thấy không hài lòng khi vợ tiếp chuyện<br /> một người đàn ông mà không cần sự hiện diện của<br /> ông… Nhà nghiên cứu đã phải suy nghĩ rất nhiều và<br /> có phần lo lắng, sợ nó sẽ ảnh hưởng đến công việc<br /> trong thời gian tiếp theo. Sau đó, ông đã nghĩ ra<br /> một cách để giải tỏa “ấm ức” cho người chồng của<br /> người phụ nữ đã phỏng vấn hôm trước bằng một<br /> buổi phỏng vấn về những công việc mà anh ta phụ<br /> trách trong gia đình nhằm làm cho các mối quan hệ<br /> trở nên tốt đẹp hơn. Câu chuyện này là một bài học<br /> kinh nghiệm quý báu khi tiến hành các cuộc phỏng<br /> vấn khác một cách khéo léo hơn và không lặp lại<br /> tình huống cũ.<br /> Khả năng kiểm soát một cuộc phỏng vấn của<br /> nhà nghiên cứu là một kỹ năng quan trọng ảnh<br /> hưởng đến công tác thực địa. Nhất là trong các cuộc<br /> phỏng vấn nhóm, phỏng vấn mở hay phỏng vấn<br /> ở những nơi công cộng. Trong những cuộc phỏng<br /> vấn, sự xuất hiện đột ngột của những người không<br /> mong đợi là một tình huống khó tránh khỏi và nó<br /> ảnh hưởng lớn đến chất lượng thông tin và kết quả<br /> phỏng vấn. Một miêu tả của Bonnin về tình huống<br /> khi bà cùng trợ lý nghiên cứu đang phỏng vấn những<br /> người buôn bán trong một khu chợ thì người quản<br /> lý thị trường (đã quen trước) xuất hiện khiến những<br /> người buôn bán dừng các câu chuyện đang trao đổi<br /> hoặc chuyển hướng sang câu chuyện khác, thái độ<br /> của họ cũng thay đổi khi người này xuất hiện. Khi<br /> biết bà có quan hệ quen biết với người quản lý thị<br /> trường thì những người buôn bán không muốn chia<br /> sẻ các thông tin với bà nữa, họ nghi ngại về mối<br /> <br /> Số 22 - Tháng 6 năm 2018<br /> <br /> quan hệ này có thể ảnh hưởng đến công việc của<br /> họ10. Những trường hợp như vậy khá phổ biến trong<br /> quá trình nghiên cứu thực địa, và kinh nghiệm của<br /> nhà nghiên cứu chưa hẳn giúp họ tránh được vấn<br /> đề này, mà chỉ giúp giải quyết vấn đề này sao cho<br /> hiệu quả nhất. Khi tiến hành phỏng vấn một nhóm<br /> gồm 6 phụ nữ tham gia câu lạc bộ Thổ cẩm Tả Phìn<br /> (nằm trên địa bàn nghiên cứu thực địa). Vấn đề nhà<br /> nghiên cứu muốn hỏi liên quan đến việc quản lý câu<br /> lạc bộ và phân chia nguồn lực, phân chia lợi nhuận<br /> nên đã cố tình không mời người phụ trách câu lạc bộ<br /> cũng là chủ tịch Hội Phụ nữ xã tham gia (trước đó<br /> đã dành riêng một buổi phỏng vấn người này). Tuy<br /> nhiên, khi mọi người đang tranh luận với nhau về<br /> việc phân chia lợi nhuận trong câu lạc bộ thì người<br /> phụ trách xuất hiện làm những người khác im lặng,<br /> họ không bàn về chuyện này nữa. Thực chất người<br /> này đến đây không phải để theo dõi hay nắm bắt<br /> thông tin phản ánh của những người trong câu lạc<br /> bộ. Bà đến vì quan tâm đến việc những người kia<br /> có giúp đỡ nhà nghiên cứu hay không. Người này<br /> còn đứng ra thuyết minh cho mọi người về mong<br /> muốn của nhà nghiên cứu và cả những gợi ý cho<br /> mọi người về việc trả lời. Điều đó khiến cho những<br /> mục tiêu đặt ra trong việc thu thập thông tin của<br /> nhà nghiên cứu cũng bị thay đổi. Tuy nhiên, những<br /> trường hợp như vậy không phải không có giá trị gì<br /> đối với nhà nghiên cứu. Bởi như đã nói, thái độ,<br /> hành động của những người được phỏng vấn cũng<br /> là những thông tin quan trọng. Những người phụ nữ<br /> được phỏng vấn có sự thay đổi khi có sự xuất hiện<br /> của chủ nhiệm câu lạc bộ thổ cẩm chứng tỏ mối<br /> quan hệ giữa họ cũng có những khoảng trống nhất<br /> định. Một vấn đề khó khăn khác trong việc kiểm<br /> soát các cuộc phỏng vấn chính là ứng xử, giải quyết<br /> mối quan hệ giữa các chủ thể của các ý kiến trái<br /> chiều với nhau. Trong một cuộc phỏng vấn nhóm<br /> 4 người về việc trồng rau sạch để bán cho các nhà<br /> hàng vào cuối năm 2011 là một trải nghiệm khác.<br /> Trong khi 3 người cho rằng việc trồng rau để bán<br /> ra thị trấn thì cũng cần phải sử dụng phân bón và<br /> thuốc bảo vệ thực vật để đảm bảo sản lượng cung<br /> cấp cho khách hàng. Vấn đề là phải làm cho hợp<br /> lý, đảm bảo an toàn cho người sử dụng như việc<br /> bón phân, phun thuốc phải cách xa ngày thu hoạch.<br /> Một người đã đứng lên phản đối ý kiến này khi<br /> cho rằng làm như vậy thì không còn là rau sạch, và<br /> không đúng với hướng dẫn của những người đứng<br /> ra xây dựng chương trình. Sau đó, người này đã rời<br /> khỏi cuộc phỏng vấn khi mà ý kiến của mình khác<br /> những người kia. Phải đến nhiều năm sau, khi thực<br /> hiện nhiều cuộc phỏng vấn nhóm và trao đổi với<br /> nhiều người hơn thì khả năng xử lý các trường hợp<br /> này cũng trở nên thuần thục hơn. Tuy nhiên, những<br /> trường hợp xẩy ra ngoài ý muốn như vậy cũng tạo<br /> ra những bài học quan trọng trong việc đặt vấn đề<br /> Christine Bonnin, Navigating fieldwork politics, practicalities and ethics in<br /> the upland borderlands of northern Vietnam. Asia Pacific Viewpoint, Vol. 51,<br /> No. 2, August 2010. ISSN 1360-7456, pp184.<br /> 10.<br /> <br /> 59<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2