intTypePromotion=3

Sử dụng bản đồ khái niệm trong đánh giá hoạt động học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông

Chia sẻ: Sony Sony | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
13
lượt xem
1
download

Sử dụng bản đồ khái niệm trong đánh giá hoạt động học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc học sinh lập và quan sát bản đồ khái niệm được hiểu như là một kĩ thuật đánh giá, bởi bản đồ khái niệm là một công cụ hình ảnh, giúp người học diễn đạt mức độ hiểu biết và cách thức sắp xếp kiến thức. Từ đó, giáo viên có thể nắm được mức độ nắm vững kiến thức của học sinh, phát hiện ra những “lỗ hổng” kiến thức để có biện pháp khắc phục. Bài viết đề cập vấn đề sử dụng bản đồ khái niệm trong đánh giá hoạt động học tập của học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sử dụng bản đồ khái niệm trong đánh giá hoạt động học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông

VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 438 (Kì 2 - 9/2018), tr 44-48<br /> <br /> SỬ DỤNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRONG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG<br /> HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG<br /> Đoàn Khắc Trung Ninh - Trường Trung học phổ thông Long Khánh, tỉnh Đồng Nai<br /> Ngày nhận bài: 29/05/2018; ngày sửa chữa: 10/06/2018; ngày duyệt đăng: 26/06/2018.<br /> Abstract: Maths teachers need to evaluate how well students approach the issue and how much<br /> they master of knowledge and can apply in problem solving. Teachers need to know how students<br /> think or which difficulties they can get in learning in order to help students improve their learning.<br /> In fact, concept map used in Maths learning is possible and useful. It provides teachers and students<br /> with needed information to adjust teaching and learning activities more effectively.<br /> Keywords: Concept maps, assessments, learning activities, high school students.<br /> HS, phát hiện ra những “lỗ hổng” kiến thức để có biện<br /> pháp khắc phục. Bài viết đề cập vấn đề sử dụng BĐKN<br /> trong đánh giá hoạt động học tập của HS nhằm nâng cao<br /> hiệu quả dạy học môn Toán.<br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Khái niệm về bản đồ khái niệm<br /> Một khái niệm có thể hiểu là một ý tưởng, phản ánh<br /> những thuộc tính chung hoặc bản chất của các đối tượng.<br /> BĐKN là công cụ giúp chúng ta thấy được một phần<br /> hoặc toàn bộ các phần liên quan đến khái niệm như: hệ<br /> thống khái niệm liên quan, định lí, ví dụ,…; tổ chức, sắp<br /> xếp các ý tưởng và hiển thị cách thức liên kết giữa các<br /> nội dung có trong bản đồ.<br /> Ví dụ về BĐKN “Định nghĩa và ý nghĩa của đạo hàm”<br /> trong chương trình Đại số và Giải tích 11 (xem sơ đồ 1):<br /> <br /> 1. Mở đầu<br /> Hiện nay, để thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện<br /> GD-ĐT, hướng đến phát triển năng lực người học, bên cạnh<br /> việc đổi mới các phương pháp dạy học, cần đổi mới phương<br /> pháp đánh giá hoạt động học tập của học sinh (HS).<br /> Hoạt động đánh giá cần được sử dụng như một phần<br /> không tách rời của quá trình dạy học nhằm cải thiện việc<br /> học tập của HS và nâng cao chất lượng giảng dạy của<br /> giáo viên (GV). Một trong những công cụ đánh giá hoạt<br /> động học tập của HS một cách hiệu quả và khả thi hiện<br /> nay là lập bản đồ khái niệm (BĐKN). Việc HS lập và<br /> quan sát BĐKN được hiểu như là một kĩ thuật đánh giá,<br /> bởi BĐKN là một công cụ hình ảnh, giúp người học diễn<br /> đạt mức độ hiểu biết và cách thức sắp xếp kiến thức; từ<br /> đó, GV có thể nắm được mức độ nắm vững kiến thức của<br /> Đạo hàm<br /> <br /> Bằng định nghĩa<br /> Ý nghĩa<br /> hình học<br /> <br /> Mối quan hệ giữa<br /> sự tồn tại của đạo<br /> hàm và tính liên<br /> tục của hàm số<br /> <br /> Ý nghĩa vật lí<br /> <br /> là hệ số góc<br /> <br /> có đạo hàm<br /> <br /> của tiếp tuyến của đồ thị<br /> hàm số<br /> <br /> tại<br /> Chưa kết luận<br /> được<br /> <br /> tại<br /> <br /> thì<br /> <br /> là vận tốc tức<br /> thời của<br /> chuyển động<br /> tại<br /> thời điểm t0.<br /> <br /> Ta có phương<br /> trình tiếp tuyến<br /> <br /> liên tục<br /> <br /> tại<br /> <br /> là cường độ<br /> dòng điện tức<br /> thời tại thời<br /> điểm t0.<br /> <br /> Sơ đồ 1. BĐKN “Định nghĩa và ý nghĩa của đạo hàm” (Đại số và Giải tích 11)<br /> <br /> 44<br /> <br /> Email: trungninhk30@yahoo.com<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 438 (Kì 2 - 9/2018), tr 44-48<br /> <br /> Vào những năm 1970, Joseph Donald Novak đã<br /> nghiên cứu và phát triển BĐKN. Theo Novak: BĐKN<br /> là công cụ trực quan, thiên về hình ảnh, đồ họa, dùng<br /> để tổ chức, sắp xếp, biểu diễn các kiến thức [1]. BĐKN<br /> sử dụng khái niệm hoặc hệ thống khái niệm liên quan,<br /> các khái niệm trong bản đồ được chứa trong hình tròn<br /> hoặc hình vuông, mối liên hệ giữa các khái niệm được<br /> chỉ ra thông qua một đường nối kèm từ nối. Quá trình<br /> học tập diễn ra theo một thứ tự, đó là các khái niệm mới<br /> sẽ được đồng hóa vào khái niệm hiện tại và cách thức<br /> sắp xếp khái niệm cũ và mới với nhau được người học<br /> tự đề ra theo cách hiểu của mình. Từ đó, Novak đề ra ý<br /> tưởng dùng BĐKN để theo dõi sự thay đổi trong kiến<br /> thức và nắm được mức độ nắm vững kiến thức của<br /> người học [1].<br /> 2.2. Một số đặc điểm của một bản đồ khái niệm<br /> Không phải bản đồ có chứa các khái niệm đều được<br /> gọi là BĐKN. Một BĐKN có những đặc điểm riêng,<br /> dùng để phân biệt với các công cụ mô tả kiến thức khác.<br /> Ngoài việc chứa đựng khái niệm chính hoặc ý tưởng<br /> chính, BĐKN còn chứa hệ thống khái niệm liên quan,<br /> định lí, hệ quả, ý nghĩa, ví dụ,... nhằm làm rõ thêm cho<br /> khái niệm hoặc ý tưởng ban đầu. Bên cạnh đó, một<br /> BĐKN có chứa các đặc điểm sau (gồm: cấu trúc mệnh<br /> đề, cấu trúc phân cấp, câu hỏi trọng tâm, liên kết và liên<br /> kết chéo) [2]:<br /> - Cấu trúc mệnh đề: Một BĐKN thể hiện rõ ràng mối<br /> quan hệ giữa các khái niệm. Mối quan hệ này được mô<br /> tả thông qua các cụm từ liên kết để hình thành mệnh đề.<br /> Khi xây dựng BĐKN, cần chú ý mỗi cặp khái niệm cùng<br /> với cụm từ liên kết của chúng phải tạo thành một mệnh<br /> đề có ý nghĩa. Một BĐKN là đại diện bằng hình ảnh cho<br /> tập hợp các mệnh đề của một chủ đề, tránh việc mở rộng<br /> BĐKN sang các khái niệm không liên quan. Có nhiều từ<br /> nối được sử dụng trong BĐKN, do đó việc cho trước các<br /> từ nối đôi khi sẽ làm hạn chế sự sáng tạo của người xây<br /> dựng BĐKN.<br /> - Cấu trúc phân cấp: Trong mỗi lĩnh vực, từng kiến<br /> thức riêng biệt đều có hệ thống các khái niệm. Trong<br /> BĐKN, khái niệm chung nhất, tổng quát nhất được đặt<br /> trên cùng của bản đồ, các khái niệm liên quan được sắp<br /> xếp theo thứ bậc từ trên xuống dưới. Trong một số lĩnh<br /> vực, không nhất thiết các khái niệm phải được sắp xếp từ<br /> trên xuống, một số khái niệm trong cùng hệ thống được<br /> sắp xếp theo kiểu một chu kì tuần hoàn.<br /> - Câu hỏi trọng tâm: Là câu hỏi dùng để xác định rõ<br /> vấn đề hoặc nhiệm vụ mà BĐKN cần giải quyết.<br /> - Các liên kết chéo: Một đặc điểm quan trọng trong<br /> BĐKN là có chứa các liên kết chéo. Liên kết chéo dùng<br /> để liên kết khái niệm giữa các nhánh khác nhau trong<br /> <br /> 45<br /> <br /> cùng một bản đồ. Liên kết chéo giúp chúng ta thấy được<br /> mối liên hệ giữa các khái niệm trên các nhánh khác nhau<br /> của bản đồ, tăng khả năng sáng tạo tri thức mới cho người<br /> học. Trong quá trình xây dựng BĐKN, tính năng cấu trúc<br /> phân cấp và liên kết chéo là hai yếu tố quan trọng, tạo<br /> điều kiện thuận lợi để phát triển tư duy sáng tạo cho<br /> người học.<br /> Ví dụ 2: BĐKN về “Cực trị của hàm số” (Giải tích<br /> 12) (xem sơ đồ 2 trang bên).<br /> Một số công trình nghiên cứu của Novak đã cho thấy:<br /> kĩ thuật học tập và ghi chép bằng BĐKN tạo điều kiện<br /> cho HS học có ý nghĩa (học hiểu), kiến thức mới được<br /> sắp xếp và liên kết với kiến thức cũ, loại bỏ được cách<br /> học vẹt, sắp xếp kiến thức rời rạc [1]. Novak cũng nghiên<br /> cứu dùng BĐKN trong khám phá, đánh giá về cấu trúc<br /> và sự phức tạp trong kiến thức của HS. Một số cách thức<br /> đánh giá HS thông thường chỉ yêu cầu các em nhắc lại<br /> thông tin mà GV đã truyền đạt thông qua câu hỏi hoặc<br /> bài kiểm tra. Với BĐKN, GV có thể thực hiện theo nhiều<br /> cách khác nhau như: đặt câu hỏi và cùng HS lập BĐKN,<br /> yêu cầu lập BĐKN theo một chủ đề. Quá trình lập<br /> BĐKN sẽ khuyến khích HS chủ động, tích cực tìm kiếm<br /> câu trả lời và tìm ra mối quan hệ giữa các khái niệm xuất<br /> hiện trong câu hỏi.<br /> 2.3. Đề xuất một số biện pháp sử dụng bản đồ khái<br /> niệm trong đánh giá hoạt động học tập môn Toán của<br /> học sinh<br /> 2.3.1. Sử dụng bản đồ khái niệm trong đánh giá hoạt<br /> động học tập của học sinh<br /> Mục đích chính của đánh giá là để theo dõi quá trình<br /> học tập của HS, cung cấp thông tin phản hồi một cách<br /> liên tục, giúp GV sử dụng các thông tin đó để nâng cao<br /> hiệu quả giảng dạy và cải thiện việc học tập của HS.<br /> Dùng BĐKN như một công cụ trong hoạt động đánh<br /> giá, sau đó GV nhận xét về BĐKN mà HS lập được. GV<br /> không dựa trên BĐKN để cho điểm mà chỉ xếp loại các<br /> BĐKN của HS theo các mức độ như: tốt, đạt hoặc không<br /> đạt. Một số phương pháp đánh giá hoạt động học tập của<br /> HS thông qua sử dụng BĐKN như: - HS lập một BĐKN<br /> về chủ đề vừa học để GV đánh giá mức độ hiểu biết, cách<br /> thức sắp xếp kiến thức, các sai sót hoặc khả năng ghi nhớ<br /> của các em; - Lập BĐKN về những nội dung trọng tâm<br /> của bài giảng; - Lập BĐKN cho một chương, học kì,<br /> khóa học.<br /> Dùng BĐKN trong đánh giá hoạt động học tập của<br /> HS có một số ưu điểm so với các phương pháp khác. Về<br /> lí thuyết, BĐKN tạo điều kiện cho HS được thể hiện mức<br /> độ hiểu biết, sau đó GV quan sát và quyết định những<br /> kiến thức HS cần bổ sung. Cụ thể: - Do là công cụ thiên<br /> về hình ảnh trực quan, BĐKN giúp GV nắm được cách<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 438 (Kì 2 - 9/2018), tr 44-48<br /> <br /> HS sắp xếp, kết nối nội dung kiến thức cũ và mới với<br /> nhau; - Phát hiện các sai sót như: sắp xếp sai, hiểu sai mối<br /> liên hệ giữa các nội dung; - GV có thể nhận ra những đặc<br /> điểm khác nhau của HS, cùng một chủ đề nhưng BĐKN<br /> mà HS lập được tùy thuộc vào cách hiểu và sáng tạo của<br /> mỗi cá nhân; - Lập BĐKN theo nhóm giúp các thành<br /> viên trong nhóm phát hiện ra điểm mạnh, điểm yếu, ưu<br /> và khuyết điểm của mình, từ đó hỗ trợ nhau cùng tiến bộ.<br /> 2.3.2. Dùng bản đồ khái niệm trong đánh giá mức độ<br /> nhận biết của học sinh<br /> <br /> Về ý nghĩa, đánh giá hoạt động học tập của HS là GV<br /> thu thập thông tin chi tiết về quá trình học tập của HS để<br /> nâng cao hiệu quả giảng dạy cũng như hoạt động học tập<br /> của HS. Sau khi kết thúc một pha dạy học, tiết học, chủ<br /> đề hay một chương,..., GV cần xác định mức độ nắm<br /> vững kiến thức bài học của HS. Để nắm được HS nắm<br /> vững bài học ở mức độ nào, ngoài việc kiểm tra thông<br /> qua một số hình thức như: vấn đáp, tự luận, trắc<br /> nghiệm,… GV có thể cho HS lập BĐKN.<br /> Khả năng nhận biết kiến thức đã học của mỗi HS là<br /> khác nhau, có em nhận biết tốt (nhớ và nhắc lại những kiến<br /> <br /> Định lí 1<br /> liên tục trên<br /> thỏa mãn<br /> <br /> thỏa mãn<br /> và có đạo hàm trên K<br /> hoặc trên<br /> trên khoảng<br /> <br /> trên khoảng<br /> trên<br /> <br /> trên<br /> <br /> Định lí 2<br /> khoảng<br /> <br /> khoảng<br /> <br /> Hàm số<br /> <br /> có<br /> <br /> đạo hàm cấp 2 trên<br /> <br /> và<br /> <br /> thỏa mãn<br /> <br /> thỏa mãn<br /> <br /> thì<br /> <br /> thì<br /> CỰC TRỊ<br /> CỦA HÀM SỐ<br /> <br /> đạt cực đại tại<br /> <br /> đạt cực tiểu tại<br /> được định nghĩa<br /> <br /> thì<br /> <br /> được định nghĩa<br /> Tồn tại số h > 0 sao cho<br /> <br /> Tồn tại số h > 0 sao cho<br /> <br /> thì<br /> <br /> và<br /> <br /> và<br /> <br /> thì<br /> <br /> thì<br /> <br /> với mọi<br /> <br /> với mọi<br /> <br /> gọi là điểm cực đại của hàm số<br /> <br /> gọi là điểm cực tiểu của hàm số<br /> <br /> gọi là giá trị cực đại của hàm số<br /> <br /> gọi là giá trị cực tiểu của hàm số<br /> <br /> gọi là điểm cực đại<br /> <br /> gọi là điểm cực tiểu<br /> <br /> của đồ thị hàm số<br /> <br /> của đồ thị hàm số<br /> <br /> Sơ đồ 2. BĐKN về “Cực trị của hàm số” (Giải tích 12)<br /> <br /> 46<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 438 (Kì 2 - 9/2018), tr 44-48<br /> <br /> thức đã học khi được yêu cầu) và có em nhận biết chưa tốt<br /> (không nhắc lại được hoặc nhầm lẫn giữa các nội dung).<br /> Khi sử dụng BĐKN, GV có thể tiến hành đánh giá HS<br /> thông qua một số yêu cầu sau: - Nêu câu hỏi trọng tâm và<br /> yêu cầu HS nhắc lại, liệt kê, viết ra các khái niệm liên quan<br /> đến câu hỏi trọng tâm; - Cho một danh sách các khái niệm,<br /> yêu cầu HS chọn ra khái niệm dùng để trả lời cho câu hỏi<br /> trọng tâm; - Cung cấp cho HS một BĐKN, yêu cầu HS lấy<br /> được ví dụ minh họa cho nội dung có trong bản đồ.<br /> Ví dụ: GV yêu cầu HS sắp xếp các bài toán sau:<br /> 2 <br /> <br /> lim  3  2  ,<br /> n <br /> <br /> <br /> 1 1<br />  2 1<br /> <br /> lim  2   , lim  .  4  ,<br /> n<br /> n n<br /> n<br /> <br /> <br /> 1  4n 2<br /> 3n 2  1<br /> lim<br /> ,<br /> về đúng vị trí trong BĐKN<br /> n2  n<br /> 1  2n<br /> dưới đây:<br /> lim<br /> <br /> lẫn của các em. GV có thể thực hiện đánh giá mức độ<br /> thông hiểu của HS thông qua các thao tác: - Cho một<br /> BĐKN và các từ liên kết, yêu cầu HS điền đúng từ nối vào<br /> BĐKN; - Cho một BĐKN còn thiếu các từ liên kết, yêu<br /> cầu HS tự điền từ liên kết dựa theo cách hiểu của mình;<br /> - Cho trước các khái niệm hoặc nội dung trả lời cho câu<br /> hỏi trung tâm, yêu cầu HS xây dựng BĐKN; - Cho sẵn<br /> một BĐKN nhưng thiếu đường liên kết và từ nối, yêu cầu<br /> HS liên kết đúng và dùng đúng từ nối; - Cho câu hỏi trung<br /> tâm, các từ khóa chính, yêu cầu HS xây dựng BĐKN;<br /> - Cho câu hỏi trung tâm, yêu cầu HS xây dựng BĐKN.<br /> Ví dụ: GV tiến hành đánh giá mức độ thông hiểu kiến<br /> thức của HS về hàm số liên tục bằng cách sử dụng<br /> BĐKN dưới đây (xem sơ đồ 3) và yêu cầu các em điền<br /> vào chỗ trống các từ, cụm từ thích hợp. Từ sản phẩm của<br /> HS, GV có thể đánh giá mức độ thông hiểu của các em<br /> đối với chủ đề này.<br /> <br /> và<br /> Thì<br /> <br /> Ví dụ<br /> <br /> Ví dụ<br /> <br /> Ví dụ<br /> <br /> Ví dụ<br /> <br /> Ví dụ<br /> <br /> ?<br /> <br /> ?<br /> <br /> ?<br /> <br /> ?<br /> <br /> ?<br /> <br /> 2.3.3. Dùng bản đồ khái niệm trong đánh giá mức độ<br /> thông hiểu của học sinh<br /> Để thông hiểu kiến thức, HS cần thông qua quá trình<br /> học tập, thực hiện được những thao tác như: giải thích,<br /> liên hệ, suy diễn,… Để đánh giá được mức độ thông hiểu<br /> kiến thức của HS, GV có thể đánh giá thông qua các hoạt<br /> động như: yêu cầu HS giải thích, phân biệt, so sánh, cho<br /> ví dụ,… Các câu hỏi dùng trong đánh giá mức độ thông<br /> hiểu kiến thức nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối<br /> thông tin có trong bài học, một số cách đặt câu hỏi như:<br /> tại sao, phân tích, so sánh, liên hệ,…<br /> Dùng BĐKN trong đánh giá mức độ thông hiểu của<br /> HS có nhiều ưu điểm: giúp GV nắm được cách HS kết<br /> nối các nội dung trong bài học, phát hiện ra sai sót, nhầm<br /> <br /> 47<br /> <br /> 3. Kết luận<br /> Thực tiễn dạy học cho thấy, dùng BĐKN trong quá<br /> trình dạy học và đánh giá hoạt động học tập của HS<br /> nhằm: - Tạo hứng thú và tăng tính chủ động, tích cực của<br /> HS; - HS có thể kết nối và chia sẻ kiến thức đã học với<br /> các HS khác; - Tạo điều kiện cho HS suy nghĩ độc lập,<br /> kích thích sự sáng tạo; - Giúp HS thấy được những nội<br /> dung còn thiếu hay sai sót trong kiến thức; - Một số hạn<br /> chế của các phương pháp đánh giá truyền thống.<br /> Quá trình lập BĐKN hoặc thực hiện các thao tác liên<br /> quan tới hoạt động lập BĐKN được dùng như một kĩ<br /> thuật đánh giá hoạt động học tập của HS. Từ BĐKN, GV<br /> nắm được khả năng nhận biết, thông hiểu của HS ở mức<br /> nào. Dựa vào thông tin mà BĐKN cung cấp, GV nắm<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 438 (Kì 2 - 9/2018), tr 44-48<br /> <br /> Định lí<br /> về hàm số liên tục<br /> <br /> Định lí 1<br /> <br /> Hàm số đa thức<br /> <br /> Định lí 3<br /> <br /> Định lí 2<br /> <br /> Hàm số phân thức<br /> hữu tỉ<br /> <br /> Hàm<br /> <br /> Hàm<br /> <br /> và<br /> <br /> trên<br /> <br /> liên tục tại điểm x0<br /> <br /> ?<br /> <br /> liên tục<br /> <br /> liên tục trên<br /> <br /> ?<br /> <br /> ?<br /> <br /> ?<br /> <br /> Tập số thực R<br /> <br /> ?<br /> <br /> Ví dụ<br /> <br /> ?<br /> Hàm<br /> <br /> và<br /> <br /> Hàm<br /> <br /> liên<br /> <br /> liên tục tại<br /> <br /> ?<br /> <br /> Tồn tại ít nhất một điểm<br /> <br /> tục tại điểm x0<br /> <br /> điểm x0<br /> Ví dụ<br /> <br /> Nếu<br /> <br /> Sao cho<br /> <br /> ?<br /> <br /> ?<br /> <br /> ?<br /> <br /> Sơ đồ 3. BĐKN “Định lí về hàm số liên tục” (Đại số và Giải tích 11)<br /> được HS đã hoàn thành mục tiêu của bài học ở mức độ<br /> nào để đưa ra các hoạt động tiếp theo. Lập BĐKN cũng<br /> là một phần của quá trình giảng dạy, thông tin mà BĐKN<br /> của HS cung cấp giúp GV điều chỉnh hoạt động giảng<br /> dạy cho cho phù hợp với HS.<br /> Tài liệu tham khảo<br /> [1] Novak, J. D. - Canas, A. J. (2008). The theory<br /> underlying concept maps and how to construct and<br /> use them. Florida Institute for Human and Machine<br /> Cognition.<br /> [2] Nguyễn Danh Nam - Đoàn Khắc Trung Ninh<br /> (2015). Vận dụng bản đồ khái niệm trong dạy học<br /> môn Toán. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 6, tr<br /> 103-105.<br /> [3] Đoàn Khắc Trung Ninh (2017). Bồi dưỡng khả năng<br /> ghi nhớ kiến thức cho học sinh trong quá trình học<br /> Toán bằng cách sử dụng bản đồ khái niệm. Tạp chí<br /> Giáo dục, số 400, tr 43-45.<br /> [4] Nguyễn Phúc Chỉnh (2010). Cơ sở lí thuyết của bản<br /> đồ khái niệm. Tạp chí Giáo dục, số 210, tr 18-21.<br /> [5] Selen Turkay (2014). Concept maps as assessment<br /> tools. Harvard GraduateSchool of Education.<br /> Cambridge.<br /> <br /> 48<br /> <br /> [6] David Jenninngs (2012). The use of concept map for<br /> assessmennt. UCDTeaching and Learning, Ireland.<br /> [7] Nguyễn Bá Kim (2015). Phương pháp dạy học môn<br /> Toán. NXB Đại học Sư phạm.<br /> <br /> KÍNH MỜI BẠN ĐỌC ĐẶT MUA<br /> TẠP CHÍ GIÁO DỤC NĂM 2018<br /> Tạp chí Giáo dục ra 1 tháng 2 kì, đặt mua thuận tiện<br /> tại các bưu cục địa phương, (Mã số C192) hoặc đặt mua<br /> trực tiếp tại Tòa soạn (số lượng lớn) theo địa chỉ: TẠP<br /> CHÍ GIÁO DỤC, 4 Trịnh Hoài Đức, quận Đống Đa,<br /> Hà Nội.<br /> Kính mời bạn đọc, các đơn vị giáo dục, trường học<br /> đặt mua Tạp chí Giáo dục năm 2018. Mọi liên hệ xin<br /> gửi về địa chỉ trên hoặc liên lạc qua số điện thoại:<br /> 024.37345363; Fax: 024.37345363.<br /> Xin trân trọng cảm ơn.<br /> TẠP CHÍ GIÁO DỤC<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản